Xuất phát từ nhận thức về thực trạng và yêu cầu trên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời
Trang 1-
BÙI VĂN HÂN
ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 – 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
TP HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2-
BÙI VĂN HÂN
ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 – 2010)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 – 22 – 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGÔ XUÂN TRƯỜNG
TP HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và đề tài của tôi chưa được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác
-
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, xin được chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và quý thầy – cô khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường
Xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo các sở, ngành và lãnh đạo trường Chính trị, Trung tâm đào tạo - bồi dưỡng Tại chức tỉnh Lâm Đồng đã nhiệt tình trao đổi, đàm thoại và cung cấp tư liệu cho tôi
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn TS Ngô Xuân Trường đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do khả năng còn nhiều hạn chế nên luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy – cô giáo, các nhà nghiên cứu và bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CMNV: chuyên môn nghiệp vụ
CNH – HĐH: công nghiệp hóa – hiện đại hóa
ĐBKK: đặc biệt khó khăn
ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam
DTTS: dân tộc thiểu số
HĐND: hội đồng nhân dân
HSSV: học sinh sinh viên
KTCT: kinh tế chính trị
LLCT: lý luận chính trị
QLNN: quản lý nhà nước
THCS: trung học cơ sở
THPT: trung học phổ thông
UBND: ủy ban nhân dân
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU: 08
1 Tính cấp thiết của đề tài 08
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 13
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 13
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 14
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 15
7 Kết cấu của đề tài 16
Chương 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ 17
1.1 Một số khái niệm cơ bản 17
1.1.1 Khái niệm cán bộ 17
1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số 19
1.1.3 Khái niệm cán bộ dân tộc thiểu số 20
1.1.4 Khái niệm đào tạo– bồi dưỡng cán bộ, công chức 21
1.1.5 Khái niệm sử dụng cán bộ 23
1.2 Cơ sở lý luận chung về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số 24
1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số 24
Trang 61.2.2 Chủ trương, chính sách của Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ
cán bộ dân tộc thiểu số 28
1.3 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới 34
1.4 Khái quát thực trạng đào tạo, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng giai đoạn trước đổi mới (1975 – 1985) 38
1.5 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội có ảnh hưởng đến công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng trong giai đoạn 1986 – 2010 42
1.5.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 42
1.5.2 Đặc điểm về kinh tế 44
1.5.3 Đặc điểm về văn hóa – xã hội 46
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 – 2010) 52
2.1 Quá trình lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Lâm Đồng giai đoạn 1986 – 2000 52
2.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 1986 – 2000 52
2.1.2 Quá trình triển khai công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng giai đoạn 1986 – 2000 55
2.1.3 Hiệu quả công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng trong giai đoạn 1986 – 2000 64
Trang 72.1.3.1 Hiệu quả đào tạo 64
2.1 3.2 Hiệu quả bố trí, sử dụng 68
2.2 Quá trình lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2001 – 2010 71
2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2001 – 2010 71
2.2.2 Quá trình triển khai công tác đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng giai đoạn 2001 – 2010 77
2.2.3 Hiệu quả công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng giai đoạn 2001 – 2010 87
2.2.3.1 Hiệu quả đào tạo 87
2.2.3.2 Hiệu quả bố trí, sử dụng 91
Chương 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 100
3.1 Đánh giá chung về quá trình lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Lâm Đồng giai đoạn 1986 – 2010 100
3.1.1 Những ưu điểm 100
3.1.2 Những hạn chế 102
3.1.3 Nguyên nhân của hạn chế 106
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ Lâm Đồng đối với công tác đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2011 – 2015 107
Trang 83.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao vai trò, hiệu lực lãnh đạo của Đảng bộ Lâm
Đồng đối với công tác đào tạo và sử dụng cán bộ DTTS 107
3.2.2 Nhóm giải pháp đặc thù nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số 111
3.2.3 Nhóm giải pháp đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số 118
KẾT LUẬN: 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 127
PHỤ LỤC: 137
Trang 9BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH LÂM ĐỒNG
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc nên vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng đối với sự phát triển đất nước Để thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc thì việc chú trọng phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS để đưa đồng bào thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu từng bước tiến lên hòa nhập với trình độ phát triển chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chính sách của Đảng và Chính phủ
ta đối với miền núi là rất đúng đắn Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào” [49;88] Nhận thức được vấn đề trên, bước vào thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã ưu tiên tăng cường đầu tư phát triển toàn diện cho vùng đồng bào DTTS Tuy nhiên, do nền tảng xuất phát điểm về kinh tế, văn hóa – xã hội của vùng DTTS quá thấp, đồng bào chưa đủ khả năng chủ động tiếp nhận những chính sách của Đảng và Nhà nước để tự làm chủ quá trình phát triển kinh tế – xã hội Thêm vào đó, nước
ta lại có đến 53 DTTS khác nhau về: phong tục, tập quán, ngôn ngữ, địa bàn cư trú, trình độ phát triển…khiến quá trình triển khai chính sách của Nhà nước vào vùng DTTS gặp rất nhiều khó khăn và hiệu quả đầu tư chưa cao Đến nay, đời sống của phần lớn đồng bào DTTS ở nước ta vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu so với mặt bằng chung, thậm chí trong cơ chế thị trường hiện nay đồng bào ngày càng có nguy cơ bị tụt hậu hơn nữa
Để khắc phục những khó khăn nêu trên, trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS những năm tới đây Đảng và Nhà nước ta cần đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển yếu tố con người cho vùng DTTS, mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ DTTS Đây là nhiệm vụ quan trọng vừa mang tính cấp bách và lâu
Trang 11dài Chỉ có xây dựng được đội ngũ cán bộ DTTS đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng mới tạo ra xung lực nội tại nâng cao khả năng làm chủ quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đồng bào DTTS Đồng thời, việc xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS theo từng vùng, từng dân tộc còn thể hiện sự bình đẳng trong chính sách dân tộc của Đảng để các dân tộc thiểu số ngày càng tin tưởng và trung thành vào sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới xây dựng được khối đoàn kết dân tộc bền vững
Lâm Đồng là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên hiện có hơn 40 DTTS sinh sống Khi đất nước bắt đầu đổi mới thì xuất phát điểm về kinh tế – xã hội của vùng DTTS ở Lâm Đồng thấp hơn so với mặt bằng chung cả nước nên đến nay đời sống của đồng bào không tránh khỏi tình trạng nghèo đói, lạc hậu Chính vì thế, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội cũng là một nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng hiện nay
Sau hơn 25 năm đổi mới, nhìn lại thực trạng đội ngũ cán bộ DTTS của tỉnh Lâm Đồng vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập lớn như: số lượng cán bộ DTTS quá thiếu hụt; cơ cấu cán bộ DTTS mất cân đối giữa các cấp, các ngành và các chức danh; chất lượng của đội ngũ cán bộ DTTS còn thấp những tồn tại này làm cho đội ngũ cán bộ DTTS chưa thể đóng vai trò là đầu tàu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các địa bàn vùng DTTS Để khắc phục thực trạng này, bước vào giai đoạn 2011 – 2015 và những năm tiếp theo bộ tỉnh Lâm Đồng cần chú trọng hơn nữa đến công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS Chỉ khi thực hiện tốt 02 công tác này mới là giải pháp thiết thực nhất để nhanh chóng xây dựng được đội ngũ cán bộ DTTS đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà
Trang 12Xuất phát từ nhận thức về thực trạng và yêu cầu trên tôi đã quyết định
chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2010)” làm luận văn
thạc sĩ Lịch sử (chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) với hy vọng góp phần làm rõ quá trình lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS của Đảng bộ Lâm Đồng trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua để nhìn nhận đúng thực trạng của đội ngũ cán bộ DTTS ở Lâm Đồng hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những năm trước đây đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đội ngũ cán bộ DTTS nói chung và đội ngũ cán bộ DTTS của tỉnh Lâm Đồng nói riêng Xét theo mức độ liên quan đến đề tài của luận văn về đối tượng và phạm
vi nghiên cứu có thể chia các công trình đó thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất, các công trình nghiên cứu chung về đội ngũ cán bộ
DTTS cả nước hoặc ở một số vùng của nước ta: loại hình nghiên cứu này có khá nhiều, tiêu biểu trong số đó có thể kể đến một số công trình sau:
- GS.TS Lê Hữu Nghĩa (chủ biên): Một số vấn đề xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp huyện người dân tộc ở Tây Nguyên, 2001
- GS – TS Lê Hữu Nghĩa: Xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới, 2002
- PGS.TS Tô Huy Rứa – PGS.TS Nguyễn Cúc – PGS.TS Trần Khắc
Việt (đồng chủ biên): Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các
tỉnh miền núi nước ta hiện nay, 2003
Trang 13- TS Lê Phương Thảo – PGS.TS Nguyễn Cúc – TS Doãn Hùng (đồng
chủ biên): Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Luận cứ và giải pháp, 2005
- Vũ Đình Hoè, Đoàn Minh Huấn (đồng chủ biên): Nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên hiện nay, 2008
- TS Lô Quốc Toản: Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh
miền núi phía bắc nước ta hiện nay, 2010
Nhóm công trình này mặc dù không liên quan trực tiếp đến đề tài của tác giả nhưng đã trình bày một số vấn đề cơ bản như: chủ trương, chính sách của Đảng ta đối với vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS; thực trạng chung của đội ngũ cán bộ DTTS ở nước ta hoặc một số vùng của nước ta hiện nay; vị trí, vai trò của công tác cán bộ DTTS trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở vùng DTTS; vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ DTTS đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS đây là những nội dung khái quát làm cơ sở lý luận và thực tiễn rất quan trọng để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn
Nhóm thứ hai, các công trình nghiên cứu riêng về đội ngũ cán bộ
DTTS tỉnh Lâm Đồng: cho đến nay số lượng của nhóm này còn tương đối ít, nhưng cũng có một số công trình đáng chú ý sau:
- Ban Tuyên giáo tỉnh Lâm Đồng, Đánh giá hiệu quả đào tạo và sử dụng
nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng trong 15 năm đổi mới 1986 –
2000, 2001
Trang 14- Vĩnh Các: Tăng cường các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính
quyền cấp xã cho người dân tộc bản địa Tây Nguyên, 2005
- Đỗ Thanh Bình: Một số kinh nghiệm đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số ở
Lâm Đồng, 2006
- Phan Xuân Khanh: Bước đầu nghiên cứu công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Lâm Đồng (1986 - 2005), 2006
- Kiều Sơn: Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt người dân tộc
thiểu số của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng ở cấp cơ sở 1995 – 2005, 2008
- Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng: Thực trạng và giải pháp về bố trí sử
dụng đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn ở huyện Di Linh – Tỉnh Lâm Đồng, 2010
Nhóm công trình này đã đề cập đến những vấn đề mang tính đặc thù của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở Lâm Đồng như: tác động của những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở Lâm Đồng trong thời kỳ đổi mới; chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS thời kỳ đổi mới; thực trạng đào tạo và bố trí cán bộ DTTS tỉnh Lâm Đồng trong những năm gần đây Bên cạnh đó các tác giả còn đưa ra những đánh giá chung về thực trạng của đội ngũ cán bộ DTTS của tỉnh hiện nay, xác định những nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS
Xét về mặt không gian nghiên cứu thì những công trình thuộc nhóm này có liên quan trực tiếp đến đề tài của tác giả Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS ở Lâm Đồng trong suốt giai đoạn 1986 – 2010
Trang 153 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích
Nhằm làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS trong giai đoạn 1986 – 2010 để đánh giá đúng thực trạng của đội ngũ cán bộ DTTS của tỉnh hiện nay; chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS của tỉnh trong giai đoạn 2011 – 2015 và những năm tiếp
Nhiệm vụ
- Trình bày một cách hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng vận dụng đường lối của Đảng để đề ra chủ trương, chính sách lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS và quá trình triển khai thực hiện 02 công tác này trong giai đoạn 1986 – 2010
- Đánh giá khách quan về những thành tựu và hạn chế của công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS ở Lâm Đồng giai đoạn 1986 – 2010, đồng thời xác định nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó
- Trên cơ sở thực tiễn và quá trình nghiên cứu, luận văn đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2011 – 2015
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Đảng bộ tỉnh Lâm
Trang 16Đồng về công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ cán bộ DTTS Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng kết quả nghiên cứu của một số công trình đã được công bố trước đây có liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận sử học mácxít, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là hai phương pháp chính được kết hợp với nhau để xây dựng kết cấu tổng thể, cũng như triển khai nghiên cứu từng nội dung cụ thể
Ngoài ra, để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả còn phải kết hợp sử dụng thêm các phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát thực tế: đến các cơ quan, ban ngành và các địa phương của tỉnh trực tiếp phỏng vấn, tọa đàm với những cán bộ hoạt động thực tiễn để thu thập kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu đề tài
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh tài liệu: nguồn tư liệu của luận văn chủ yếu dựa vào các văn kiện, nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng và các báo cáo hằng quý, hằng năm của các sở, ban, ngành có liên quan, đặc biệt là Trường Chính trị tỉnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Ban Dân tộc tỉnh, Ban Tuyên giáo và Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Lâm Đồng
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những quan điểm, chủ trương, chính sách và các giải pháp chỉ đạo, triển khai của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đối với công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS trong giai đoạn 1986 – 2010
Trang 17 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian: cho đến nay Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đã trải qua 09 kỳ
Đại hội, trong mỗi nhiệm kỳ Đảng bộ tỉnh đều có sự quan tâm, chỉ đạo về công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS của tỉnh Tuy nhiên, đề tài chỉ đề cập đến giai đoạn từ 1986 đến 2010, tức trong khoảng thời gian Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng trải qua 05 nhiệm kỳ: 1986 – 1990, 1991 – 1995, 1996 – 2000, 2001 – 2005 và 2006 – 2010
- Về mặt không gian: trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nhưng chỉ hạn chế trong
bộ phận cán bộ DTTS công tác trong khối Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể từ cấp tỉnh đến cấp xã (bao hàm cả cán bộ và công chức)
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm, chủ trương,
chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nói chung và của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng nói riêng về công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS nhằm tiến tới xây dựng được đội ngũ cán bộ DTTS đảm bảo cả về chất và lượng, đáp ứng được những yêu cầu của giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn miền núi hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn: góp phần cung cấp những căn cứ khoa học và thực
tiễn để Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hơn chính sách đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS trong thời gian tới
Ngoài ra luận văn còn có thể làm tư liệu cho sinh viên, học viên sau này tham khảo khi thực hiện những đề tài có liên quan, hoặc cũng có thể làm tư liệu giảng dạy khi cần vận dụng vai trò lãnh đạo của Đảng bộ ở địa phương
Trang 187 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận chung về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2010)
Chương 3: Đánh giá chung và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng giai đoạn 2011 – 2015
Trang 19Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm cán bộ
Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “cán bộ” có hai nghĩa cơ bản:
- Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước
- Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức để phân biệt với những người không có chức vụï [88;109]
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm “cán bộ” được hiểu là: “Những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị; có những trách nhiệm và quyền hạn nhất định được tổ chức và nhân dân giao phó; có năng lực và trình độ công tác đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức Cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân; sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì lợi ích tối cao của Đảng, của dân tộc” [73;16 – 17]
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 cho rằng: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung
Trang 20là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[50; chương I điều 4 khoản 1] Và “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” [50; Chương I, điều 4, khoản 3]
Qua phần định nghĩa về khái niệm “cán bộ” như trên có thể thấy rằng ở
Việt Nam hiện nay có hai cách hiểu về khái niệm “cán bộ”:
- Theo nghĩa hẹp: “cán bộ” là thuật ngữ để nói về những người được bầu hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chính trị –
xã hội thuộc hệ thống chính trị các cấp từ Trung ương tới cơ sở
- Theo nghĩa rộng:“cán bộ” bao gồm tất cả những người đảm nhiệm
những công việc cần khả năng tập hợp, vận động nhân dân hưởng ứng cùng thực hiện, không chỉ trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị mà cả trong các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội Nếu hiểu theo nghĩa này thì tất cả cán bộ, công chức, viên chức công tác trong hệ cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang và các đơn vị sự nghiệp đều được xem là “cán bộ”
Trong đề tài: “Đảng bộ Lâm Đồng lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới 1986 – 2010”, tác giả sử
dụng khái niệm “cán bộ” để chỉ bộ phận cán bộ, công chức người DTTS đang công tác trong các tổ chức Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể từ cấp tỉnh cho đến cấp xã của tỉnh Lâm Đồng, còn bộ phận cán bộ đang công tác trong lực lượng vũ trang và các đơn vị sự nghiệp tác giả chưa có điều kiện để khảo sát nên không đề cập đến trong đề tài
Trang 211.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số
“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng một cách thông dụng và phổ biến trên thế giới Các học giả phương Tây xem đây là một thuật ngữ khoa học thuộc chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic), dùng để chỉ những tộc người có dân số ít Trước đây, do sự chi phối bởi quan điểm của giai cấp thống trị, trong một số trường hợp các học giả phương Tây đánh đồng ý nghĩa của “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm phát triển”,
“dân tộc kém phát triển”
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất
phát từ nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc thì khái niệm “dân tộc thiểu số”
không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc mà chỉ biểu thị sự tương quan về mặt dân số giữa các dân tộc trong một quốc gia Địa
vị, trình độ của mỗi dân tộc không phụ thuộc vào dân số nhiều hay ít mà bị chi phối bởi những điều kiện kinh tế – xã hội – lịch sử của từng dân tộc
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan điểm Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, trong số đó dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số được quan niệm là “dân tộc đa số”, còn 53 dân tộc còn lại chiếm 13,8% dân số được gọi là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tương quan so sánh về số lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc Cần nhấn mạnh rằng, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ dùng trong một quốc gia đa dân tộc chứ không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số trên phạm vi khu vực và thế giới, vì một dân tộc có thể được xem là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác
Trang 221.1.3 Khái niệm cán bộ dân tộc thiểu số
Khái niệm “cán bộ dân tộc thiểu số” thực chất là một khái niệm kép, tập hợp của hai khái niệm “cán bộ” và “dân tộc thiểu số” Khái niệm này dùng để chỉ những người đang công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tiêu chí để phân biệt “cán bộ dân tộc đa số” hay “cán bộ dân tộc thiểu số” trong “đội ngũ cán bộ” là thành phần dân tộc xuất thân của người cán
bộ đó thuộc “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” Tiêu chí đó không có ý
nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hay địa vị xã hội của người cán bộ, vì khi đã trở thành cán bộ thì dù có xuất thân từ “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều bình đẳng, đều phải đảm nhận những công việc được giao phó và đều phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đối với mỗi cương vị công tác của mình
Từ những phân tích như trên có thể định nghĩa khái niệm “cán bộ dân tộc thiểu số” như sau: “Cán bộ dân tộc thiểu số là những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam; có trách nhiệm, quyền hạn nhất định được tổ chức và nhân dân giao phó; có trình độ và năng lực đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức cách mạng; có nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu
hy sinh vì lợi ích tối cao của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân” [73;19]
Trong thực tế còn bắt gặp khái niệm “Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số”
Đây là khái niệm dùng để chỉ một tầng lớp người trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, tầng lớp này có trình độ nhất định, có phẩm chất đạo đức cách mạng và có năng lực hoàn thành trách nhiệm được giao Nhìn chung, đội ngũ cán bộ dân
Trang 23tộc thiểu số từ cấp huyện trở lên đa số đã có trình độ học vấn cao đẳng, đại học và trên đại học Dù vậy, so với yêu cầu để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì lực lượng cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ hiện nay vẫn còn yếu về chất lượng và thiếu hụt về số lượng
1.1.4 Khái niệm đào tạo – bồi dưỡng cán bộ, công chức
Ơû một số nước, tiêu biểu như: Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore hoạt động của các cơ quan hành chính nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho đội ngũ cán bộ, công chức được diễn đạt bằng khái niệm Training (huấn luyện) Không có nước nào hiểu sang nội dung là đào tạo (Education) Ở các nước này, hoạt động đào tạo (Education) với nhiệm vụ đào tạo các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đai học là do hệ thống giáo dục quốc dân đảm trách, còn cơ quan hành chính chỉ thực hiện nhiệm vụ cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng và tổ chức cho công chức gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm thực hiện công vụ Điều này có nghĩa là khi được tuyển dụng và bổ nhiệm vào một vị trí nhất định, người công chức đã phải đáp ứng các tiêu chuẩn của vị trí đó, trong đó có tiêu chuẩn về trình độ đào tạo Còn đến khi cần nguồn nhân lực có trình độ cao hơn, họ sẽ tổ chức tuyển dụng những đối tượng đã được đào tạo trình độ họ cần mà không tổ chức hoặc cử công chức đi đào tạo
Riêng ở Việt Nam, hiện nay có hai cách hiểu cơ bản về khái niệm “đào tạo – bồi dưỡng cán bộ, công chức”:
- Cách hiểu thứ nhất: khái niệm này có 2 nội dung “đào tạo” và “bồi
dưỡng” riêng biệt, lần lượt được định nghĩa như sau:
+ Đào tạo là quá trình truyền thụ tương đối có hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời rèn luyện về phẩm chất đạo
Trang 24đức, nhân cách, chuẩn bị cho con người đi vào cuộc sống với khả năng lao động nhất định, góp phần vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh nhân loại
+ Bồi dưỡng là việc làm tăng thêm các tố chất của con người như kiến thức các mặt, kinh nghiệm trong lao động, trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ hoặc trong lãnh đạo, quản lý Bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm công tác là sự tiếp nối quá trình đào tạo trong nhà trường [45;32].
Trong cách hiểu này thì nội dung “đào tạo” được hiểu theo nghĩa (Education) là một quá trình lâu dài, có hệ thống, nhằm trang bị kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức ở các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Còn nội dung “bồi dưỡng” được hiểu theo nghĩa huấn luyện (training) tức là quá trình ngắn hạn, nhằm làm tăng thêm, hoàn thiện hơn, tinh xảo hơn về nghiệp vụ, chuyên môn mà cán bộ, công chức đang đảm nhiệm lên mức độ cao hơn nữa, mặt khác “bồi dưỡng” còn nhằm cập nhật những kiến thức mới phù hợp với xu thế phát triển nội tại của quốc gia và thế giới
Như vậy, nếu hiểu khái niệm “đào tạo – bồi dưỡng” theo hướng tách thành hai nội dung “đào tạo” và “bồi dưỡng” như trên thì có nghĩa là cơ quan hành chính nhà nước vừa thực hiện nhiệm vụ giống như giáo dục quốc dân là giảng dạy các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Đồng thời, cũng vừa tổ chức thực hiện hoạt động cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho cán bộ công chức
- Cách hiểu thứ hai: khái niệm “đào tạo – bồi dưỡng cán bộ công chức”
được hiểu là một thuật ngữ không tách rời, với nghĩa là hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị quản lý nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho cán bộ, công chức
Trang 25Khái niệm “đào tạo – bồi dưỡng” với nghĩa này được sử dụng rộng rãi trong các Nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Ví dụ, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X (về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước) đã yêu cầu: “Đổi mới phương thức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nâng cao kỹ năng hành chính Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động của cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết các yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp Thực hiện cơ chế đào tạo tiền công vụ và đào tạo, bồi dưỡng trong công vụ theo định kỳ bắt buộc hàng năm; thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm” Hoặc Luật cán bộ, công chức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2010 có các Điều 25, 47, 48, 49, 63 quy định về đào tạo – bồi dưỡng cán bộ, công chức thì khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cũng được sử dụng với nội hàm là cập nhật kiến thức trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho cán bộ, công chức [xem phụ lục 4]
Với đề tài “ Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo công tác đào tạo và sử dụng
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới 1986 – 2010”, tác giả tiếp
cận khái niệm “đào tạo, bồi dưỡng” theo cách hiểu thứ nhất, tức là tách khái niệm này ra thành hai nghĩa “đào tạo” và “bồi dưỡng” riêng biệt Trong đó, tác giả chú trọng trình bày đến nội dung đào tạo, còn nội dung bồi dưỡng tác giả chỉ đề cập khái quát
1.1.5 Khái sử dụng cán bộ
Sử dụng cán bộ là sắp xếp, bố trí cán bộ một cách khoa học và hợp lý nhằm phát huy năng lực, sở trường của từng cán bộ phù hợp với trình độ chuyên
Trang 26môn, nghiệp vụ để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao Bố trí sử dụng cán bộ là một trong những chính sách tạo động lực cơ bản trong công tác quản lý nhân sự, tác động tới các yếu tố tạo động lực như: công việc cần thực hiện, trách nhiệm và cơ hội phát triển
1.2 Cơ sở lý luận chung về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
Sinh thời, trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc, riêng vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS cũng rất được Người quan tâm Điều này được chứng minh ở trong nhiều bài nói và viết Người đã đề cập đến vấn đề này, trong đó quan điểm của Người về công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS cụ thể như sau:
Về đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm có 3 nội dung cơ bản:
Thứ nhất, đào tạo cán bộ DTTS phải linh hoạt cho phù hợp với đặc thù của từng dân tộc: nước ta là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có một điều kiện
lịch sử, phong tục tập quán và trình độ phát triển riêng nên công tác đào tạo cán bộ DTTS không thể triển khai đồng bộ, rập khuôn mà phải điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với năng lực, hoàn cảnh và tâm lý của cán bộ từng dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo, thì tuyên truyền huấn luyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải
Trang 27có sự thay đổi cho thích hợp Bởi vì đời sống, trình độ đồng bào Mèo và Thái khác nhau cho nên tuyên truyền huấn luyện phải khác” [46;496]
Đào tạo phải gắn liền với thực tiễn: Hồ Chí Minh hết sức coi trọng quan
điểm học đi đôi với hành, theo Người, đào tạo là để phục vụ cho yêu cầu thực tế, trong bài nói chuyện với cán bộ và học sinh trường Sư phạm miền núi Nghệ
An ngày 9 tháng 12 năm 1961 Người đã dặn dò: “Thế nào là học tập tốt? Học tập tốt là chính trị, văn hóa đều phải gắn liền với lao động sản xuất, không học dông dài Mục đích học là để làm kinh tế, chính trị, văn hóa đều tiến bộ…” [49;78] Để cụ thể hóa quan điểm này, Người rất quan tâm và khuyến khích các địa phương mở những trường vừa học vừa làm để đào tạo cán bộ DTTS Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi ngày 31 tháng 8 năm 1963 Bác đã nói: “Hiện nay lại có hơn 30 trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm, để đào tạo cán bộ địa phương, vừa có văn hóa, vừa có kỹ thuật, vừa giỏi lao động Loại trường đó rất tốt, cần giúp cho những trường đó phát triển đúng phương hướng…phải chú ý phát triển trường thanh niên vừa học vừa làm đó Bây giờ nhiều tỉnh đã có Những tỉnh chưa có phải cố gắng mở những trường như thế” [49;103]
Nội dung và phương pháp đào tạo phải thiết thực phù hợp với trình độ của cán bộ DTTS: theo Người thì do nhận thức đồng bào DTTS nói chung và cán bộ
DTTS nói riêng còn nhiều hạn chế nên công tác đào tạo cũng như tuyên truyền phải thiết thực và cụ thể để họ dễ hiểu và có thể hiểu được, như vậy công tác đào tạo, huấn luyện mới hiệu quả Tại Hội nghị cán bộ miền núi (ngày 31 tháng
8 năm 1963 ) người đã dạy: “Tuyên truyền cũng thế, huấn luyện cũng thế Phải làm sao dễ hiểu, nói sao để người ta hiểu được, hiểu để làm Vì thế nên tuyên truyền phải thiết thực Không phải tuyên truyền để mà tuyên truyền, huấn luyện để mà huấn luyện” [49;97] Hay Người còn căn dặn thêm: “Huấn luyện không
Trang 28nên nói trên trời dưới đất, nào là khách quan, chủ quan, nào là tích cực, tiêu cực, không đâu vào đâu…Một bên nói “hay” mà không hiểu, một bên nói dễ hiểu,
thiết thực, người ta nghe được và làm được” [49;98]
Về xây dựng cơ cấu cán bộ dân tộc thiểu số
Phải xây dựng đội ngũ cán bộ cho từng dân tộc: theo Người cần phải xây
dựng đội ngũ cán bộ cho từng dân tộc để nâng cao khả năng tự làm chủ của mỗi dân tộc, trong thư gửi đồng bào Thái – Mèo ngày 7 tháng 5 năm 1955 người viết: “Mục đích lập khu tự trị Thái – Mèo là làm cho các dân tộc anh em dần dần tự quản lý lấy mọi công việc của mình, để mau chóng phát triển kinh tế và văn hóa của mình…” [49;18] Đồng thời, việc xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS theo từng vùng, từng dân tộc còn thể hiện sự bình đẳng trong chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta, làm cho các dân tộc thiểu số ngày càng tin tưởng và trung thành vào sự lãnh đạo của Đảng, tiến đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc bền vững Trong báo cáo trước Hội hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, ngày 29 – 1 – 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Chúng ta phải cố gắng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số và giáo dục đồng bào dân tộc thiểu số, để chuẩn bị điều kiện cho việc lập dần những vùng dân tộc tự trị Việc này rất quan hệ với kháng chiến, địch dùng tự trị giả để chia rẽ dân tộc, để phá hoại kháng chiến Ta phải dùng tự trị thật để đoàn kết các dân tộc, đẩy mạnh kháng chiến”
Chú trọng củng cố tổ chức Đảng trong vùng DTTS và tăng cường kết nạp Đảng viên người DTTS: việc xây dựng, củng cố tổ chức Đảng là nhằm nâng cao
vài trò lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước ở vùng DTTS, Người đã căn dặn: "Các cấp bộ đảng phải thi hành đúng chính sách dân tộc, thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc Đời sống đồng bào các dân tộc ít
Trang 29người ở các vùng cao còn có nhiều khó khăn Để đẩy mạnh các công tác trên, cần phải củng cố và phát triển Đảng, cần phải có quyết tâm củng cố Đảng, củng
cố chi bộ, tăng cường đoàn kết nội bộ, nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, văn
hóa, nghiệp vụ cho các đảng viên, cán bộ Cần chú ý kết nạp thêm đảng viên các dân tộc và nữ đảng viên để mở rộng đội ngũ Đảng" [46; tập 9 - 444]
Phát huy vai trò của cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ DTTS: phụ nữ DTTS
đã đóng góp vai trò to lớn cho cách mạng và kháng chiến Hơn nữa dưới chế độ thực dân nửa phong kiến phụ nữ lại chịu thiệt thòi và đau khổ, chịu sự bất bình quyền với nam giới, chịu sự thống trị của thần quyền, vì vậy Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm to lớn và đặc biệt đến quyền lợi của phụ nữ DTTS Tại chuyến thăm trường Sư phạm miền núi Nghệ An (9-2-1961), khi được biết trong số học sinh người Tày Hãy không có cháu gái, Người đã dặn: "Sao không có cháu gái? lần sau phải có cháu gái" [49;77] Trong bài nói chuyện với các đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang (tháng 3 - 1961) Người dặn: “Cả tỉnh có 3 vạn chị
em có tổ chức, hơn một vạn rưỡi vào hợp tác xã, hơn 700 chị em tham gia công tác chính quyền Như thế là khá Nhưng còn phải đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục lôi cuốn phụ nữ vào tổ chức hơn nữa” [49;64] Hay trong bài nói chuyện tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi (tháng 8 năm 1963) Người đã nhắc nhở: “Cả hội nghị có hơn 200 đại biểu, thế mà chỉ có 5 phụ nữ lại không có một phụ nữ dân tộc thiểu số nào…một cuộc họp thế này mà quên mất vai trò của phụ nữ, thì chắc
ở các địa phương, các chú cũng quên mất vai trò phụ nữ” [49;95 – 96]
Cơ cấu cán bộ vùng DTTS cần có cả cán bộ bản địa và cán bộ nơi khác đến: do năng lực của đội ngũ cán bộ DTTS còn rất nhiều hạn chế nên cần thiết
phải đề bạt một bộ phận cán bộ có năng lực từ nơi khác đến để đôn đốc, uốn
Trang 30nắn từng bước giúp họ trưởng thành và tự làm chủ công việc của mình Nguyên tắc giúp đỡ của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi ngày 9/10/1961, Người đã căn dặn:
“Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lấy công việc địa phương chứ không phải bao biện làm thay” [46; tập 11- 136] Đồng thời Người còn nhắn nhở cán bộ miền xuôi: "Cán bộ xuôi lên không yên tâm công tác, muốn về Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định Như thế là không đúng Bác đã nói cán bộ là đày tớ của nhân dân, chỗ nào nhân dân cần đến mình là mình phải dấn, bất kỳ chỗ nào cũng là Tổ quốc, cũng là đất nước, cũng là cương vị công tác của cán bộ Phải nhớ rằng Đảng, Chính phủ tin cậy vào cán bộ, nơi nào khó, có cán bộ Việc gì khó, có cán
bộ Vì vậy cán bộ các nơi đến phải yên tâm, tích cực công tác, phải gương mẫu,
phải đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ cán bộ địa phương được tốt Vì vậy cán bộ địa phương cùng cán bộ nơi khác đến phải đoàn kết thương yêu nhau, làm gương cho nhân dân địa phương" [46; tập 10 – 608]
1.2.2 Chủ trương, chính sách của Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
Quán triệt chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những chủ trương, chính sách nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn cách mạng
Đầu tiên, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, tháng 8 năm 1952 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết chuyên đề về chính sách dân tộc của Đảng ta Về việc xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS,
Trang 31Nghị quyết đã nêu rõ: “Để thực hiện đầy đủ nguyên tắc các dân tộc bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, chính quyền ở xã phải gồm đầy đủ đại biểu các dân tộc trong xã Từ xã đến tỉnh, tùy theo nhân số các dân tộc ở địa phương nhiều hay ít mà định số đại biểu các dân tộc đó tham gia chính quyền Vận động nhân dân lựa chọn những phần tử tích cực trong thành phần trung, bần, cố nông vào cơ quan chính quyền; đồng thời cũng đưa một số ít thổ ty, lang đạo tương đối tiến bộ, có uy tín trong nhân dân, tham gia chính quyền Nếu cần thiết lắm thì cán bộ người Kinh mới tham gia chính quyền địa phương, còn thường thường thì chỉ nên giúp đỡ các đại biểu chính quyền địa phương và dần dần làm cho chính quyền ở địa phương đó hoàn toàn do đại biểu các dân tộc thiểu số đảm nhiệm” [26;268]
Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II tháng 1 năm
1953, Đảng ta đã đưa ra đánh giá về tình hình xây dựng đội ngũ cán bộ vùng dân
tộc thiểu số, đồng thời đưa ra những yêu cầu về vấn đề này như sau: “Vấn đề
đào tạo cán bộ miền núi – như trong chính sách cụ thể đã nói: đây là vấn đề căn bản trong việc vận động đồng bào dân tộc thiểu số, song vẫn chưa chú ý được đầy đủ, nhiều địa phương cán bộ miền xuôi còn hẹp hòi, bao biện, không phát huy được tính tích cực của các cán bộ miền núi làm cho quan hệ cán bộ xuôi ngược không được tốt đẹp Cho nên, các địa phương cần tham khảo lại chính sách cán bộ ở các miền dân tộc thiểu số Muốn được cụ thể, các ngành ở Trung ương và cả các địa phương đều phải có một kế hoạch đào tạo cán bộ miền núi, cần bổ túc văn hóa cho cán bộ kém, giáo dục chính trị cho cán bộ miền núi, cho con em họ đi học để đào tạo một lớp người làm việc sau này” [26;117 - 118]
Chỉ thị số 128 – CT/TW ngày 24 – 12 – 1959 của ban Bí thư Trung ương về đẩy mạnh hơn nữa chủ trương tăng cường công tác vùng cao đã xác định: “Ra sức bồi dưỡng và đào tạo cán bộ dân tộc địa phương, chấp hành đầy đủ các chính sách đối với cán bộ hoạt động ở vùng cao” [40;66] Đánh giá tầm quan
Trang 32trọng đặc biệt của công tác cán bộ đối với vùng cao, đó là nhân tố quan trọng góp phần quyết định mọi thắng lợi, đồng thời là nguyên nhân của mọi yếu kém của vùng cao, Chỉ thị nêu rõ: “Cần tích cực giải quyết vấn đề cán bộ vùng cao Cần phải bồi dưỡng đào tạo cán bộ vùng cao Một mặt, các địa phương cần phải dự trù và cố gắng chọn cho đủ số cán bộ cần thiết để thực hiện chế độ phụ trách xã hoặc vùng, do đó mới làm tốt công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ địa phương được Mặt khác, các ngành ở Trung ương có công tác ở vùng cao cần phải thiết thực giúp đỡ bên dưới bồi dưỡng, đào tạo cán bộ vùng cao” [40;68]
Ngày 3 – 9 – 1964, Ban Bí thư Trung ương ra chỉ thị số 84 – CT/TW về nhiệm vụ công tác giáo dục miền núi đã nêu rõ nhiệm vụ phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số là: “Trước mắt miền núi đang thiếu rất nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật, sau này nhu cầu cán bộ lại càng lớn hơn Kế hoạch đào tạo cán bộ đòi hỏi phải phải đi trước kế hoạch kinh tế và văn hóa một bước để khỏi bị động Để có điều kiện tuyển sinh vào các trường đào tạo cán bộ, một mặt cần phát triển cấp II, cấp III phổ thông, mặt khác cần tập trung cán bộ và thanh niên
ưu tú của các dân tộc để bổ túc văn hóa đến trình độ cần thiết” [40;137]
Ngày 30 – 1 – 1975, Ban Bí thư Trung ương tiếp tục ra Chỉ thị số 216 – CT/TW về chính sách cán bộ miền núi Thông qua bản Chỉ thị Đảng đã đưa ra mục tiêu chiến lược: “Thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, làm cho dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau đoàn kết chặt chẽ, bình đẳng, yêu thương và giúp đỡ nhau, chung sức phục vụ Tổ quốc Việt Nam thống nhất giàu mạnh Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị to lớn đó, một trong những khâu then chốt là phải xây dựng đội ngũ cán bộ miền núi vững mạnh” [40;159]
Về nhiệm vụ cơ bản mang tính chất chiến lược, chỉ thị số 216 – CT/TW xác định:
Trang 33- Phải xây dựng, rèn luyện một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý đủ phẩm chất và năng lực, trung thành với Đảng, gắn bó với quần chúng các dân tộc, có trình độ kiến thức các mặt ngày một nâng cao, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ to lớn ở miền núi
- Phải xây dựng một đội ngũ cán bộ khao học, kỹ thuật đông đảo, có cơ cấu phù hợp với yêu cầu, phương hướng phát triển kinh tế và văn hóa miền núi
- Phải coi trọng cả hai loại cán bộ: cán bộ dân tộc thiểu số và cán bộ dân tộc Kinh, kết hợp và đoàn kết tốt hai lực lượng ấy trong một đội ngũ thống nhất phục vụ sự nghiệp cách mạng của miền núi và của cả nước
- Phải có đội ngũ cán bộ đông đảo gồm đủ các dân tộc Việt Nam thì mới phát động được nhân dân các dân tộc thể hiện trên thực tế sự bình đẳng về chính trị và thiết thực đoàn kết các dân tộc Chú trọng xây dựng cho từng dân tộc có một số cán bộ cốt cán vững về chính trị, tuyệt đối trung thành và chấp nhận tốt đường lối, chính sách của Đảng, có năng lực lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện
- Để chuẩn bị nguồn cán bộ miền núi, cần đẩy mạnh giáo dục phổ thông, kiện toàn trường bổ túc văn hóa công nông, phát triển trường thiếu nhi vùng cao, các trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm
Có thể khẳng định bản chỉ thị 216 – CT/TW là văn kiện thể hiện sâu sắc, toàn diện, cụ thể nhất về vấn đề cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng ta từ trước tới nay Tuy nhiên, do bị chi phối bởi những sai lầm giáo điều, chủ quan, duy ý chí nên trong suốt giai đoạn 1976 – 1985 khâu tổ chức thực hiện chỉ thị này gặp nhiều khó khăn, không đạt hiệu quả cao
Bước vào thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường đầu tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số Nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng xây dựng được đội ngũ cán bộ dân tộc
Trang 34thiểu số đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã chỉ đạo: “…có quy hoạch và kế hoạch tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nhất là cán bộ dân tộc thiểu số ở vùng cao, biên giới và một số vùng ở miền Nam” [27;91]
Nghị quyết số 22/NQ - TW (ngày 27 - 11 - 1989) “Về chủ trương, chính
sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi”, Đảng đã nhìn nhận những thiếu sót
trong quá trình tổ chức và thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn trước đó Đồng thời đưa ra các quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi là: “Phát triển kinh tế – xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân, là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước…Phát triển miền núi toàn diện cả về kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế – xã hội gắn với thực hiện chính sách dân tộc của Đảng” [28; phần thứ hai, mục III] Về vấn đề cán bộ dân tộc thiểu số, Nghị quyết số 22 – NQ/TW chủ trương: “Khôi phục các lớp dành riêng cho cán bộ miền núi ở trường Đảng, trường Hành chính, các trường đoàn thể quần chúng ở trung ương và địa phương, đồng thời có chế độ thoả đáng đối với học viên các lớp trên…Thực hiện nguyên tắc ưu tiên đào tạo cán bộ dân tộc, cán bộ công tác ở miền núi, học xong trở về địa phương phục vụ đồng bào các dân tộc” [28; phần thứ hai, mục III]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 đã chỉ đạo: “Có chính sách đặc biệt để phát triển giáo dục và đào tạo ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số; mở rộng và nâng cao chất lượng các trường, lớp nội trú; coi trọng việc đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc” [27;271]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 khẳng định:“Có chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc, nâng cao năng lực
Trang 35cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo ở các cấp chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế Tăng cường cán bộ cho cơ sở Ban hành các chính sách khuyến khích cán bộ công tác ở vùng cao, vùng sâu, các cán bộ miền xuôi lên công tác ở miền núi Tổ chức các đội trí thức mới ra trường tình nguyện xuống các bản, làng giúp
đồng bào dân tộc” [27;430]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh: “Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số Động viên phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và
ở địa phương Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc ” [27;488]
Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX (2003) về công tác dân tộc đã khẳng định: “Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc Trong những năm trước mắt, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng dân tộc, nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị,
an ninh, quốc phòng; coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở; nghiên cứu sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công
tác ở vùng dân tộc và miền núi” [30;41]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số: “Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói
Trang 36của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc” [27; 656]
Những quan điểm, chủ trương của Đảng ta như trên là cơ sở để Nhà nước cụ thể hóa bằng các chủ trương, giải pháp phù hợp để xây dựng được đội ngũ cán bộ DTTS đáp ứng được yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, góp phần thực hiện tốt chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội cho đồng bào
1.3 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới
Thứ nhất, đội ngũ cán bộ DTTS là cầu nối để liên kết giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các vùng dân tộc thiểu số
Cán bộ chính là cầu nối để liên kết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [46; tập 5 - 269] Nhưng, đối với vùng DTTS vốn có nhiều đặc thù riêng biệt thì chỉ có đội ngũ cán bộ bản địa mới là người phù hợp để đảm nhiệm vai trò trên Ơû chiều hướng thứ nhất, không ai có thể hiểu rõ về đồng bào dân tộc thiểu số bằng chính cán bộ là con em của họ Vì cán bộ bản địa được sinh ra và lớn lên với cộng đồng nên họ thông thạo địa bàn, ngôn ngữ và am hiểu về phong tục, tập quán, tâm lý…của cộng đồng mình Do đó, khi triển khai những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho cộng đồng, đội ngũ cán bộ bản địa dễ nhận biết phải đưa ra những biện pháp, cách thức, hình thức vận động, tuyên truyền nào là phù hợp, hiệu quả nhất với hoàn cảnh, tâm lý và nhận thức của cộng đồng mình
Trang 37Ơû chiều hướng thứ hai, cũng chính từ sự am tường về cộng đồng, đội ngũ cán bộ bản địa sẽ nắm bắt được những phản ứng tích cực hoặc tiêu cực của cộng đồng mình đối với những chính sách của Đảng, Nhà nước Đồng thời, họ cũng nắm được tâm tư, nguyện vọng của đồng bào mình mong muốn kiến nghị những điều gì với Đảng, Nhà nước Từ đó, đội ngũ cán bộ DTTS bản địa sẽ là người báo cáo lại với Đảng, Nhà nước về tình hình mọi mặt đời sống đồng bào tại các vùng dân tộc thiểu số một cách chính xác, chân thực nhất Những thông tin đó là
cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước đưa ra hoặc bổ sung vào các chủ trương, chính sách những nội dung chỉ đạo kịp thời, đúng đắn, sát với thực tế vùng đồng bào, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước trong vùng DTTS
Thứ hai, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số giúp quá trình tập hợp, vận động, thuyết phục đồng bào được thuận lợi và hiệu quả
Do trình độ nhận thức của đồng bào DTTS hiện nay còn nhiều hạn chế nên quá trình triển khai những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào vùng DTTS trước tiên cần phải coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, tức là công tác dân vận phải được đặt lên hàng đầu để đồng bào từng bước thích nghi, không thể ngay lập tức áp đặt một cách khiên cưỡng sẽ gây phản tác dụng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn: "Muốn cải tạo phong tục tập quán được tốt, thì tuyên huấn phải làm, mà phải làm bền bỉ liên tục, làm dần dần, chứ không thể chủ quan nóng vội, muốn làm hết ngay một lúc" [46; tập 11 – 128]
Để công tác dân vận trong vùng DTTS được thuận lợi và hiệu quả cần có đội ngũ cán bộ bản địa đảm trách Bởi vì, ngoài sự am hiểu về cộng đồng cán bộ bản địa còn được kết nối tự nhiên với cộng đồng về mặt tình cảm Giữa cán bộ
Trang 38bản địa và cộng đồng là người đồng tộc, lại gắn bó lâu dài với nhau nên họ (cán bộ bản địa) được cộng đồng tin tưởng và quý mến Khi cán bộ bản địa tiến hành tuyên truyền, giáo dục những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước sẽ dễ được cộng đồng tin tưởng, thông cảm và đồng tình ủng hộ
Ngược lại, công tác dân vận trong vùng DTTS mà cho cán bộ từ nơi khác đến sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì sự khác biệt về phong tục, tập quán, ngôn ngữ…đặc biệt là về rào cản tâm lý của đồng bào Vẫn biết đồng bào DTTS ở nước ta rất thật thà, chất phác và hiền lành nhưng tâm lý của họ còn chịu ảnh hưởng nhiều của đời sống khép kín nên họ rất ngại tiếp xúc cũng như khó dành sự tin tưởng đối với người xa lạ Điều này khiến cán bộ từ nơi khác đến muốn đảm nhiệm tốt công tác dân vận trong vùng DTTS cần có quá trình tiếp xúc lâu dài, chứ không thể nhanh chóng có được sự đồng thuận, hợp tác của đồng bào Thậm chí, nếu cán bộ không kiên trì, khéo léo, mềm dẻo trong các mối quan hệ sẽ rất dễ bị đồng bào xa lánh Mà một khi đồng bào đã mất niềm tin thì dù có vận động những vấn đề đơn giản cũng khó mà thành công
Xuất phát từ đặc điểm trên, cán bộ được tăng cường từ nơi khác đến phù hợp với vai trò đôn đốc, giúp đỡ cho cán bộ bản địa dần trưởng thành về năng lực và bản lĩnh Còn vai trò trực tiếp tiếp xúc, tập hợp, vận động, thuyết phục người dân làm theo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với cán bộ bản địa hơn Do đó, trong công tác bố trí cán bộ
Trang 39DTTS cũng cần phải coi trọng sử dụng, tranh thủ già làng, trưởng bản vốn là bộ phận có uy tín nhất trong cộng đồng
Thứ ba, đội ngũ cán bộ DTTS là bộ phận thực sự đại diện quyền làm chủ quá trình phát triển kinh tế – xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số
Về mặt lý thuyết, mọi thành phần dân tộc thuộc cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều làm chủ quá trình phát triển kinh tế – xã hội của mình ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, không có sự phân biệt thời gian và không gian Tuy nhiên, trên thực tế quyền làm chủ của một cộng đồng dân tộc nào đó chỉ đúng nghĩa khi cộng đồng đó có đủ khả năng tự phát huy sức mạnh nội lực để định hướng con đường phát triển của mình phù hợp với thời đại
Trở lại với thực trạng nước ta hiện nay, hầu hết đồng bào DTTS vẫn chưa làm chủ được quá trình phát triển kinh tế – xã hội, khả năng tự vươn lên thoát khỏi nghèo đói còn hạn chế, đồng bào vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào những chính sách ưu tiên của Nhà nước Do đó, đội ngũ cán bộ DTTS hiện nay còn đóng vai trò là người đại diện quyền làm chủ quá trình phát triển kinh tế – xã hội tại vùng DTTS:
- Ơû khía cạnh thứ nhất, đội ngũ cán bộ DTTS là người trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với người đồng bào Nhưng
do nhận thức của người dân vùng DTTS hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa có đủ khả năng tiếp nhận nên chính đội ngũ cán bộ DTTS lại đóng vai trò là người thay mặt cộng đồng tiếp nhận những chủ trương, chính sách đó, bởi vì chỉ có họ mới là bộ phận đủ khả năng thấu hiểu Hay nói cách khác, đội ngũ cán bộ bản địa là bộ phận đại diện về sức mạnh trí tuệ cho cả cộng đồng để tiếp nhận, phát huy những giá trị mới từ bên ngoài để áp dụng vào thực tiễn quá trình phát triển kinh tế – xã hội cho cộng đồng
Trang 40- Ơû khía cạnh thứ hai, đa số cán bộ DTTS ở nước ta đều được sinh ra và lớn lên trên chính quê hương của họ nên sẽ cống hiến hết mình vì sự phát triển của quê hương Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, chứng kiến sự thay đổi từng ngày của thôn bản càng làm cho họ tin tưởng vào cuộc sống mới Đó chính là động lực để thôi thúc đội ngũ cán bộ DTTS phải quyết tâm vươn lên bằng ý chí, nghị lực của mình, góp phần cải tạo cuộc sống cảû về vật chất và tinh thần, để đưa cộng cộng đồng dần tiến kịp nhịp sống chung của xã hội
Tóm lại, đội ngũ cán bộ DTTS ở nước ta hiện nay tuy còn yếu về chất
lượng, thiếu về số lượng nhưng vẫn có vị trí, vai trò rất quan trọng không thể thay thế đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS, như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Phải có đội ngũ cán bộ của các dân tộc để có người tự đảm đương sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống mới Xã hội Chủ nghĩa về kinh tế, về văn hoá của dân tộc mình Không có đội ngũ cán bộ dân tộc để làm việc đó thì khó có ai làm thay Dẫu có người làm thay cũng chưa chắc đã làm tốt hơn họ” [34;146]
1.4 Khái quát thực trạng đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng giai đoạn trước đổi mới (1975 – 1985)
Về đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với một khí thế của người chiến thắng, qua 10 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12 năm 1976) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3 năm 1981) đất nước đã có những chuyển biến nhất định Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện do quá nôn nóng, muốn đốt cháy giai đoạn, muốn “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” mà