Thuận lợi và khó khăn của tỉnh Gia Lai trong triển khai nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chương 2: Những quan điểm cơ bản của Đảng, nhà nước và sự lãnh đạo củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯU THỊ XUÂN HƯƠNG
ĐẢNG BỘ TỈNH GIA LAI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
(1991 – 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Chuyên nghành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 60 22 56
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ KIM VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh, 8 – 2012
Trang 2MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Mở đầu
Chương 1: Vài nét về đặc điểm tự nhiên và xã hội tỉnh Gia Lai
1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Gia Lai
1.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội của tỉnh Gia Lai
1.3 Thuận lợi và khó khăn của tỉnh Gia Lai trong triển khai nhiệm vụ xóa
đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Chương 2: Những quan điểm cơ bản của Đảng, nhà nước và sự lãnh
đạo của Đảng bộ Gia Lai đối với công tác xóa đói giảm
nghèo (1991-2000)
2.1 Các chủ trương, đường lối của Đảng và nhà Nước về chính sách dân
tộc và công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số
(1991- 2000)
2.2 Đảng bộ tỉnh Gia Lai lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo vùng
đồng bào dân tộc thiểu số (1991-2000)
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Gia Lai lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo
vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai (2001-2010)
3.1 Chủ trương đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xóa đói
giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số (2001 – 2010)
3.2 Đảng bộ tỉnh Gia Lai lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo vùng
đồng bào dân tộc thiểu số (2001-2010)
3.3 Giải pháp và kiến nghị đề xuất đối với công tác lãnh đạo xóa đói giảm
nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 3THCN : Trung học chuyên nghiệp
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
ĐBKK : Đặc biệt khó khăn
HTX : Hợp tác xã
UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
Trang 4hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc Trong đó, Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ
hộ nghèo rất cao (38%), chỉ đứng sau vùng Tây Bắc (42%) [5, tr.29]
Gia Lai là một tỉnh vùng cao ở phía Bắc Tây Nguyên, có 14 huyện, 2 thị
xã và 1 thành phố Toàn tỉnh có 222 xã, phường, trong đó có 68 xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) và 309 làng ĐBKK thuộc xã vùng II [58, tr.1] Theo kết quả điều tra (chuẩn nghèo đói giai đoạn 2006 - 2010), đến tháng 8-2010 tỉnh Gia Lai có 50.105 hộ nghèo, chiếm 10,82% tổng số hộ trong toàn tỉnh Dù kết quả trên đã giảm nhiều so với năm năm trước (29,82% năm 2005) nhưng kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm so với tổng số hộ thoát nghèo còn cao Hơn nữa, những hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nông thôn, trên 95% trong số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số (DTTS), trong đó hầu hết là hai dân tộc tại chỗ: Gia Rai và Ba Na [61, tr.2]
Đối với Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng, tỉ lệ đói nghèo tập trung trong khu vực đồng bào các dân tộc không chỉ làm cho kinh tế - xã hội địa phương gặp nhiều khó khăn như ở những vùng miền khác, mà đó còn là một trong những nguyên nhân căn bản gây mất ổn định chính trị Từ năm 2001 -
2010, giai đoạn mà luận văn dành nhiều thời gian tập trung nghiên cứu, ở Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên đã diễn ra 2 cuộc bạo loạn lớn Một trong những nguyên cớ để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động gây bạo loạn là tình trạng đói nghèo trong đồng bào các DTTS
Trang 5Nhằm giải quyết tân gốc vấn đề đói nghèo và ngăn chặn kẻ thù lợi dụng vấn đề này để kích động, trong 20 năm qua, Đảng bộ và chính quyền các địa phương Tây Nguyên, trong đó có Gia Lai đã triển khai nhiều chủ trương biện pháp để xoá đói giảm nghèo (XĐGN), tập trung vào khu vực đồng bào các DTTS tại chỗ
Nhiệm vụ XĐGN mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu tính đồng bộ, thống nhất cả về nhận thức và hành động, chưa tìm ra những giải pháp thiết thực phù hợp với đặc điểm tình hình riêng của một tỉnh miền núi, dân tộc Thực trạng đói nghèo ở vùng đồng bào DTTS vẫn đang là một vấn đề bức xúc, cần được quan tâm giải quyết Vì vậy, việc nghiên cứu lý giải một cách có hệ thống, đánh giá đúng thực trạng về đói nghèo, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện có hiệu quả XĐGN ở vùng đồng bào DTTS vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết
định chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Gia Lai lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số (1991-2010)” làm luận văn thạc sĩ của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề XĐGN ở nước ta nói chung và XĐGN vùng đồng bào DTTS ở tỉnh Gia Lai nói riêng là một nội dung có ý nghĩa chiến lược lâu dài, được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành cũng như nhiều cơ quan, nhà khoa học kinh tế và xã hội quan tâm nghiên cứu
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều công trình khoa học, bài viết liên quan đến vấn đề XĐGN được công bố
Những tài liệu liên quan trực tiếp đến đề tài phải kể đến là các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ của tỉnh, các địa phương và các ngành liên quan
như: Lịch sử Đảng bộ Gia Lai (1945-2005), Nxb, Chính trị Quốc gia, 2009
Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện, thể hiện đầy đủ những quan điểm chỉ đạo, các chương trình của trung ương, địa phương và kết quả thực hiện
Trang 6những chương trình đó cho đến năm 2005, trong đó có những nội dung chỉ đạo
và kết quả thực hiện công tác XĐGN ở địa phương Ngoài ra, đến nay hầu hết các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh cũng đã ấn hành các cuốn sách viết về
lịch sử đảng bộ địa phương, lịch sử các ngành… Đây là những công trình
nghiên cứu cung cấp cho tác giả luận văn những tư liệu quý Bên cạnh đó, tác giả còn học tập được ở đây những vấn đề thuộc về phương pháp luận, cách xử
lý thông tin và triển khai đề tài để đạt được hiệu quả tối ưu
Một nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng đối với luận văn là báo cáo của các
sở, ban, ngành liên quan ở địa phương như: Cục thống kê tỉnh, Ban dân tộc tỉnh;
Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Lao động thương binh và xã hội…
và nguồn tài liệu từ Ban chỉ đạo Tây Nguyên; tư liệu khảo sát, điền dã của tác giả
Vì đề tài nghiên cứu tập trung vào vùng đồng bào DTTS nên tác giả cũng rất quan tâm đến những công trình nghiên cứu về dân tộc học, về chính sách của Đảng và nhà nước đối với vùng đồng bào các DTTS cùng một số chuyên ngành thuộc nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau như: Đặng nghiêm Vạn
(chủ biên) với Các dân tộc tỉnh Gia Lai- Công Tum, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,1981; Chính sách dân tộc những vấn đề lí luận và thực tiễn Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1990; Ngô Văn Lý và Nguyễn Văn Diệu, Tây Nguyên tiềm năng và triển vọng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,1992…; Những công trình trên chủ
yếu đề cập đến đời sống kinh tế và cơ cấu xã hội của các dân tộc Tây Nguyên, giúp chúng ta hiểu thêm về nguyên nhân đói nghèo trong vùng các dân tộc để
đề xuất những giải pháp phù hợp với từng nhóm dân tộc địa phương, các cộng đồng dân cư Cũng từ nguồn tư liệu này, giúp tác giả hiểu thêm về những chính sách mà Đảng và nhà nước đã ban hành và mức độ đi vào đời sống của các chính sách chủ trương đó… làm cơ sở cho tác giả có những nhận định, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn
đề đói nghèo trong vùng đồng bào các DTTS của tỉnh
Trang 7Bên cạnh đó, tác giả luận văn cũng quan tâm đến những công trình nghiên cứu không liên quan trực tiếp đến địa phương nhưng có thể vận dụng vào đề tài
về phương pháp nghiên cứu, cách thức giải quyết vấn đề như: PTS Đỗ Thị
Bình, Lê Ngọc Hân, Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường,
Nxb Chính trị quốc gia, 1996 Trong cuốn sách này, tác giả đã nêu các quan niệm
về phân hóa giàu nghèo và tình trạng đói nghèo ở nước ta và trên thế giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn và yêu cầu của phụ nữ nghèo nông thôn; đưa ra các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách XĐGN, giúp
phụ nữ nghèo nông thôn vươn lên; cuốn Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, của tác giả Nguyễn Thị Hằng, do Nxb Chính trị quốc gia ấn
hành năm 1997 đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và
biện pháp XĐGN ở nông thôn nước ta đến năm 2000; cuốn Kinh tế thị trường
và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, của PGS.TSKH Lê Du Phong và PTS Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), do
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, ấn hành năm 1999 Các tác giả của công trình này đã đánh giá những thành tựu về kinh tế - xã hội qua hơn 10 năm đổi mới và tiềm năng ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta
Cùng trong mạch nguồn tư liệu này còn có: Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sỹ kinh tế của Trần Thị
Hằng, Học Viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000; TS Lê Xuân Bá (cùng
tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001; Vũ Minh Cường, Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang, Luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; Báo cáo nghiên cứu chính sách
của Ngân hàng thế giới, Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo, Nxb Văn hóa- thông tin, 2004; Hoàng Thị Hiền, Xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc ít người tỉnh Hòa Bình - thực trạng và giải pháp, Luận
văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005…
Trang 8Ngoài ra, nhiều bài báo viết về vấn đề XĐGN cũng cung cấp cho luận văn
những tư liệu quý như: Thất Sơn, Xóa đói giảm nghèo ở Gia Lai, từ quyết tâm đến hiện thực, báo Nhân dân ngày 17/09/1999; ThS Bùi Hồng Quang, Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở miền Trung và Tây Nguyên, tạp chí con số và sự kiện số 5/2003; TS.Tạ Thị Lệ Yên, Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tạp chí Ngân hàng số 11/2005; tác giả Trịnh Quang Chinh, Một số kinh nghiệm từ chương trình xóa đói, giảm nghèo ở Lào Cai, tạp chí Lao Động và Xã hội số
272 tháng 10/2005; TS Đàm Hữu Đắc, Cuộc chiến chống đói nghèo ở Việt Nam thực trạng và giải pháp, tạp chí Lao động và Xã hội số 272 tháng 10/2005
Lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy, các công trình nghiên cứu về nghèo đói và XĐGN ở nước ta rất phong phú, cung cấp những luận chứng và luận cứ khoa học cho việc xây dựng, triển khai công tác XĐGN trên toàn quốc và các địa phương mà tác giả có thể chọn lọc và kế thừa
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập về công cuộc xóa đói giảm nghèo của đồng bào DTTS ở Gia Lai một cách có hệ thống Thực hiện đề tài này tác giả sẽ tổng hợp về cơ bản những tư liệu về tình trạng đói nghèo và XĐGN trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai từ đó đề
ra các giải pháp cơ bản để các cơ quan chức năng có thể tham khảo, giải quyết vấn đề đói, nghèo trong vùng đồng bào các DTTS ở địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào DTTS tỉnh Gia Lai
Trang 94 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của đề tài
Trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin và Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc, các chính sách của nhà nước về XĐGN, tác giả nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Gia Lai về thực trạng đói nghèo và quá trình xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào DTTS trong 20 năm từ 1991-2010, mà trọng tâm là giai đoạn 2001-2010, qua đó đưa ra các nhận định, đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần vào mục tiêu của tỉnh giảm tỷ lệ đói nghèo xuống mức thấp nhất
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài cần:
+ Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội truyền thống để chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của đồng bào DTTS tỉnh Gia Lai
+ Nghiên cứu thực trạng đói nghèo vùng đồng bào DTTS tỉnh Gia Lai từ năm 1991-2000 và kết quả của công tác XĐGN trên địa bàn giai đoạn này để làm cơ sở so sánh, phân tích những chuyển biến kinh tế- xã hội mà trọng tâm là kết quả công tác XĐGN trong 10 năm tiếp theo
+ Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và địa phương đề ra để giải quyết vấn đề đói nghèo và thực trạng XĐGN vùng đồng bào DTTS ở Gia Lai trong 10 năm (2001-2010) để thấy được những thành tựu cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới
+ Làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong quá trình lãnh đạo công tác XĐGN vùng đồng bào DTTS từ năm 1991-2010
+ Đề xuất những phương hướng và giảp pháp cụ thể góp phần giải quyết tốt hơn những vấn đề XĐGN, nhằm nâng cao đời sống vùng đồng bào DTTS; nâng cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân chống lại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng tình trạng đói nghèo trong vùng đồng bào các DTTS gây mất ổn định chính trị địa phương
Trang 105 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện Đảng; các văn bản của nhà nước về xây dựng và phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, XĐGN Đồng thời kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học đi trước cùng những tư liệu điều tra thực tế
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Về phương pháp luận: đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Về phương pháp cụ thể: để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê
6 Đóng góp của đề tài
- Trình bày tương đối có hệ thống và cụ thể quá trình XĐGN vùng đồng bào DTTS, trong đó tập trung vào vùng đồng bào DTTS tại chỗ ở Gia Lai dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm1991 đến năm 2010
- Đánh giá những mặt tích cực và những hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Gia Lai tác động đến quá trình XĐGN vùng đồng bào DTTS trong 20 năm 1991-2010
- Qua nghiên cứu quá trình XĐGN vùng đồng bào DTTS, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm XĐGN cho vùng đồng bào các dân tộc của tỉnh, là cơ sở khoa học để Đảng bộ địa phương và các cấp có thẩm quyền tham khảo, giải quyết tốt hơn nữa vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc tỉnh Gia Lai Sau khi hoàn thành, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các cơ quan nghiên cứu, hoạch định chính sách của Trung ương (TW), địa phương và làm tài liệu học tập nghiên cứu, giảng dạy tại hệ thống trường đảng và các trường chuyên nghiệp của tỉnh
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục viết tắt, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3 chương và 8 tiết Cụ thể là: Chương 1: Vài nét về đặc điểm tự nhiên và xã hội tỉnh Gia Lai
Chương 2: Những quan điểm cơ bản của Đảng, nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng bộ Gia Lai đối với công tác XĐGN (1991-2000) Chương 3: Đảng bộ tỉnh Gia Lai lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai (2001-2010)
Trang 12Chương 1 VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI TỈNH GIA LAI
1.1 Đặc điểm tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Gia Lai là một tỉnh miền núi biên giới ở Bắc Tây Nguyên, có tọa độ địa lý
từ 12058’40”đến 14037’00” độ vĩ Bắc, từ 107027’23” đến 108054’40” độ kinh
Nguyên và chiếm tỉ lệ khoảng 4,7% diện tích của cả nước [6, tr.21] Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum; Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; Nam giáp tỉnh Đăk Lăk; Tây giáp tỉnh Rotanah Kiri (thuộc vương quốc Campuchia) với đường biên giới chung dài trên 90 km
Toàn tỉnh hiện có 411 km quốc lộ : quốc lộ 14 là tuyến đường dọc chạy theo hướng Bắc Nam Các tuyến đường ngang chạy theo hướng Đông Tây : quốc lộ 19 và quốc lộ 25
Quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh): chạy theo hướng Bắc- Nam, là con đường huyết mạch của Tây Nguyên Trên đất Gia Lai quốc lộ này có tổng chiều dài gần 120 km Từ tỉnh Gia Lai ra Bắc, Quốc lộ 14 nối khu vực với thành phố Đà Nẵng và khu công nghiệp Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam, Quảng Ngãi) Về phía Nam, quốc lộ này nối Gia Lai với các tỉnh Nam Tây Nguyên (Đak Lăk, Đak Nông…), miền Đông Nam Bộ đến thành phố
Hồ Chí Minh với chiều dài 540 km
Quốc lộ 19: chạy theo hướng Đông – Tây, quốc lộ này được hình thành trên cơ sở con đường giao thương cổ giữa bộ phận cư dân ở vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ với các tỉnh Bắc Tây Nguyên Chạy về phía Đông quốc
lộ này đi qua 4 huyện Mang Yang, Đắc Đoa, Đăk Pơ, An Khê nối thành phố Pleiku (tỉnh Gia Lai) với thành phố Quy Nhơn (Bình Định) với tổng chiều dài
180 km Về phía Tây, quốc lộ 19 kéo dài đến Đông Bắc vương quốc Campuchia thông qua cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh của huyện Đức Cơ
Trang 13Quốc lộ 25: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai quốc lộ này có chiều dài 111 km, bắt đầu từ quốc lộ 1 (tỉnh Phú Yên) qua 3 huyện của tỉnh Gia Lai là: Krông Pa, Ayun Pa, Chư Sê nối Gia Lai với quốc lộ 14 rồi vào trung tâm phố Pleiku Đây cũng là tuyến đường quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các tuyến đường liên tỉnh, đường huyện,
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói chung và công tác XĐGN nói riêng Tỉnh Gia Lai đã đầu tư xây dựng 11 tuyến tỉnh lộ đi qua địa bàn huyện và mạng lưới đường liên huyện, đường liên thôn, liên xã nối 17 đơn vị hành chính nội tỉnh với 222 trung tâm các xã, phường với nhau tạo thành mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh nối với mạng lưới đường quốc gia với các tuyến đường trong Tam giác phát triển 3 nước Việt Nam - Lào - Cămpuchia
Xe buýt: Hiện nay, đã có tuyến xe buýt đến tất cả các điểm thuộc thành phố Pleiku và từ thành phố Pleiku đi đến trung tâm hầu hết các huyện trong tỉnh góp phần đáng kể vào việc đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân
Đường hàng không: Bằng máy bay cỡ trung A320, hàng ngày có các chuyến bay từ Gia Lai đi Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và ngược lại Cụm cảng Hàng không Pleiku vẫn đang tiếp tục được đầu tư xây dựng hệ thống sân bãi và cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu là cửa ngõ duy nhất nối khu vực Bắc Tây Nguyên với mạng lưới hàng không của cả nước
Vị trí địa lý của Gia Lai cùng hệ thống giao thông huyết mạch tạo cho tỉnh
vị thế đặc biệt quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng đối với các tỉnh Tây Nguyên, vùng Duyên hải miền Nam Trung Bộ và cả nước Đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất, giao lưu trao đổi hàng hóa của nhân dân trong tỉnh góp phần XĐGN nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 141.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Gia Lai là tỉnh có địa hình tương đối đa dạng với phần lớn diện tích nằm trên sườn Tây dãy Trường Sơn Bao gồm các hệ thống đồi núi, cao nguyên và các miền trũng thung lũng xen kẽ
Địa hình núi ở Gia Lai phân cách mạnh, phần lớn nằm ở phía Bắc Từ
dãy Kông Kah King thuộc địa bàn huyện Kbang, chạy về phía Nam núi chia thành 2 hệ
Hệ núi thuộc dãy An Khê: là dãy núi khá đồ sộ với chiều rộng từ 30 km-
40 km chạy dọc phía Đông tỉnh từ sông Trà Khúc đến tận thung lũng sông Ba dài 175 km tạo thành dải phân cách tự nhiên giữa Gia Lai với các tỉnh tiếp giáp ven biển miền Trung với các đỉnh Kông (núi) Mroui (cao 1.251 m), Kông Gbang (1.096 m) rồi thấp dần với các đỉnh dưới 1.000 m và bị đứt gẫy đột ngột tại đèo An Khê (500 m), tiếp đó được nâng lên ở phía Nam tạo vành đai viền lấy cách đồng An Khê tại huyện Kông Chro với các đỉnh Kông Hde (1.017 m), Kông Kdlong (1.029 m), Kông Wang La Xiom (1.309 m) và thấp dần khi vào vùng đồng bằng Ayun Pa, Krông Pa
Hệ núi thuộc dãy Chư Gu (Mang Yang): có những đỉnh cao như Kông Lak
(1.720 m), Kông Bôria (1.568 m), Kông Yor Gauan (1.333 m) bị đứt gẫy tại đèo Mang Yang (830 m) và lại vút cao ở dãy Kông Chiêng với các đỉnh trên dưới 1.500 m, chia Gia Lai thành 2 phần là Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn với những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng khác biệt
Cao nguyên: Nếu phía Bắc Gia Lai là vùng núi cao thì từ trung tâm về
phía Nam Gia Lai lại là cả một vùng cao nguyên khá bằng phẳng và màu mỡ, nằm trong đới kiến tạo chung của khối Kon Tum cổ với nền mácma axit vững chắc
Cao nguyên Kon Hà Nừng ở phía Đông Trường Sơn, có diện tích khoảng
địa bàn huyện Kbang Địa hình cao ở phía Bắc (900 m) thấp dần xuống phía
Trang 15Nam (500 m) Bề mặt tương đối bằng phẳng với độ cao tương đối từ 50-80 m
Cao nguyên Pleiku là một cao nguyên hình vòm, cao ở trung tâm và giảm
dần ra phía rìa, đỉnh là núi Hàm Rồng (cao 1.028 m) Toàn bộ cao nguyên có
Cao nguyên này cũng có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, với phần trung tâm là khu vực thành phố Pleiku và vùng phụ cận kéo dài từ Nam thị xã Kon Tum xuống tận khối Chư Păh (922 m) và từ chân đèo Mang Yang sang tận biên giới Việt Nam - Campuchia Bề mặt cao nguyên được phủ một lớp bazan Vì bazan ở đây có cấu trúc dạng khối nên rất dễ bị phá hủy và thường tạo thành lớp
vỏ phong hóa dày hàng chục mét, hình thành trên đó những lớp đất dày, tơi xốp, màu mỡ Còn ở phía trong thì nhấp nhô dấu tích của những ngọn núi lửa đã tắt
mà tiêu biểu là ngọn núi Chư Hđrung (hay còn được gọi là núi Hàm Rồng), Chư
Á, Chư Prông…
Các miền trũng: hầu hết đều nằm ở phía Đông của tỉnh như cánh đồng
An Khê, vùng trũng Cheo Reo- Phú Túc Hiện nay, vùng thung lũng này là khu
vực phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, thuốc lá, vừng, đậu và bông của tỉnh Gia Lai
Vùng trũng An Khê rộng 15 km, dài 45 km với diện tích 1.312 km2, kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Ranh giới phía Đông và Tây của vùng là
2 hệ núi chạy qua đèo An Khê và đèo Mang Yang Phía Bắc giáp cao nguyên Kon Hà Nừng, Nam giáp vùng trũng Cheo Reo- Phú Túc và vùng núi thấp Chư Trian Do hoạt động hoạt động xâm thực của sông Ba và phụ lưu mà bề mặt địa hình tương đối bằng, thường cắt thành vách vào các bề mặt san bằng cổ hơn với độ dốc trung bình từ 8 - 150
Vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc nằm trọn trong địa hào sông Ba với diện
tỉnh Cũng như vùng trũng An Khê, địa hình của vùng cũng là kiểu địa hình
Trang 16đồng bằng tích tụ - bóc mòn với các dạng địa hình bậc thềm và bãi bồi chiếm diện tích chủ yếu
Đất đai tỉnh Gia Lai có 26 loại đất, gồm 7 nhóm chính Theo kết quả nghiên cứu dự án SMCN/2002/085 do Viện Khoa học Kỹ thuật khảo sát [30, tr.21] Đất đai của tỉnh được phân loại như sau:
- Nhóm đất phù sa: có diện tích 64.218 ha, chiếm 4,5% diện tích tự nhiên,
phân bố ở nơi có địa hình bằng phẳng, gần nguồn nước, tầng đất dày, phù hợp cho phát triển cây nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa nước và cây hoa màu lương thực
- Nhóm đất xám: có diện tích 364.638 ha, chiếm 23,5% diện tích tự nhiên,
được hình thành trên nền phù sa cổ, đá mác ma axít và đá cát, đất có thành phần
cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, khả năng giữ chất dinh dưỡng kém nên nghèo dinh dưỡng, thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày hoặc trồng rừng để bảo
vệ đất Loại đất này bổ dọc theo sông Ba, sông Ayun, An Khê, Đak Pơ, Ayun
Pa
- Nhóm đất mùn vàng đỏ: diện tích 164.751 ha, chiếm 5,8% tổng diện tích
tự nhiên Đây là nhóm có nhiều loại đất có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là loại đất đỏ trên đá bazan, phân bố chủ yếu ở vùng núi cao phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày: chè, cà phê…
- Nhóm đất đỏ vàng: là loại đất chiếm diện tích lớn nhất với 765.433 ha,
chiếm 48,8% tổng diện tích tự nhiên Đất đỏ vàng tập trung ở các huyện trên cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hơ Nừng Đây là nhóm đất rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, yêu cầu độ phì cao như cà phê, chè, cao su và cây công nghiệp ngắn ngày, hoa màu, lương thực
- Nhóm đất đen và nhóm đất thung lũng dốc tụ: chiếm 6,8% diện tích tự
nhiên, ở độ cao 300-700 m Phân bố chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Chư
Trang 17Prông, Chư Sê và Đức Cơ Thích hợp cho việc trồng lúa nước, hoa màu và các loại rau
- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: diện tích 164.751 ha, chiếm 10,60% diện
tích tự nhiên Do đất bị xói mòn nhiều nên tầng mặt bị trơ ra những lớp đá hoặc lớp kết vón Nhóm đất này tập trung ở các huyện thị: An Khê, Ayun Pa, Phú Thiện, Krông Pa Đất không có khả năng cho sản xuất nông nghiệp, cần giữ rừng và khoanh nuôi bảo vệ đất
Tài nguyên đất ở Gia Lai đã được khai thác và sử dụng từ lâu, trước kia là khai thác tự nhiên phục vụ cho nhu cầu sinh sống của đồng bào dân tộc tại chỗ, ngày nay nguồn tài nguyên này đặc biệt được chú trọng khai thác và đưa vào sản xuất nông – lâm nghiệp, hình thành những vùng chuyên canh với quy mô lớn và là nguồn thu nhập chính của bà con DTTS nơi đây
Tài nguyên nước: Tuy là một vùng núi và cao nguyên, nhưng do có kiến tạo địa hình khá đặc biệt nên ở Gia Lai, đặc biệt ở khu vực phía Bắc của tỉnh có
phân bố trên các hệ thống sông Ba, sông Sê San và phụ lưu hệ thống sông Srê Pôk [31, tr.62]
Hệ thống sông Ba: chảy gần như theo hướng Bắc-Nam từ Kon Tum tới
Cheo Reo Từ Cheo Reo sông chuyển hướng Đông - Nam rồi đổ ra biển Đông ở cửa biển Tuy Hòa Sông Ba là con sông dài thứ hai (304 km) trên Tây Nguyên, phát nguồn từ núi Ngok Rô ở độ cao 1.240 m trên dãy Ngok Linh, sông Ba chảy theo sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, qua các huyện Kbang, An Khê, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa và Krông Pa của tỉnh Gia Lai Sông Ba có nhiều nhánh phụ như A yun, Ia Krông, Hnông Phù sa của dòng sông này đã tạo nên vùng trũng Ayun Pa màu mỡ và nhiều cánh đồng nhỏ dọc theo sông ở các
lưu vực sông rộng lớn nhất Tây Nguyên Riêng ở tỉnh Gia Lai, diện tích lưu vực
Trang 18của sông là 11.450 km2 Đây là nguồn chính cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho các huyện phía Đông Gia Lai
Hệ thống sông Sê San: ở phía Tây Bắc tỉnh, có một phần dòng chính Pô
Kô (Pô Cô) là ranh giới giữa tỉnh Gia Lai và Kon Tum Sê San bắt nguồn từ những đỉnh cao nhất của dãy Trường Sơn: núi Tiêu (1.988 m), Ngọk Linh (2.598 m) Thượng nguồn sông Sê San hoàn toàn chảy trong vùng núi và cao nguyên Tây Trường Sơn Sông Sê San có 2 nhánh lớn là sông Đăk Bla, Pô Kô
và một nhánh nhỏ đổ về phía hạ lưu là sông Sa Thầy Trên 80% diện tích lưu vực của sông nằm trên độ cao 450 m và gần một nửa diện tích có độ cao trên 600
m tạo nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với nhiều công trình đã được xây dựng và đưa vào sử dụng như: Thủy điện Ia Ly, Sê San 3, Sê San 3A, Sê San 4, Sê San 4A
Các nhánh của sông Srê Pôk : với hai nhánh chính là sông Đnăng và sông
Ia Lốp đều bắt nguồn từ dãy núi Hđrung trên cao nguyên Pleiku Lưu vực của
nó chiếm toàn bộ diện tích huyện Chư Prông, một phần phía Tây huyện Chư Sê
và tạo nên vùng trũng Ia Lâu, Ia Mơr Do bắt nguồn từ một vùng đồi trọc nên lượng sinh thuỷ ít, nhưng vì nằm trong vùng mưa lớn của tỉnh nên cũng là nguồn cung cấp nước quan trọng cho các huyện phía Tây Nam của tỉnh như Chư Prông, Chư Sê, Chư Pứ
Ngoài ba con sông lớn trên, Gia Lai còn có nhiều sông suối, một số hồ tự nhiên và nhân tạo cung cấp nguồn nước quan trọng cho sinh hoạt và sản xuất
Dự trữ nước mặt lớn nhất trên cao nguyên Pleiku là Biển Hồ với diện tích mặt
nước 240 ha Ngoài ra, tiềm năng nước ngầm của Gia Lai với trữ lượng khá lớn,
chất lượng tốt, phân bố chủ yếu trong phức hệ nước phun trào bazan có tổng trữ lượng cấp A + B là 26.894 m3/ngày, cấp C1 là 61.065 m3/ngày và cấp C2 là
nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của tỉnh [32, tr.15]
Gia Lai nằm trong đới khí hậu gió mùa á xích đạo và thuộc á đới có mùa
khô dài Do ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc mà lại chịu tác động mạnh của gió tín phong vào mùa đông, cho nên nhiệt độ các tháng trong năm đều lớn
Trang 19tạo nên nét đặc thù của khí hậu nơi đây: vừa có những yếu tố chung của khí hậu vùng nhiệt đới, gió mùa của phía Nam Việt Nam, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên
Tổng nhiệt độ/năm ở Gia Lai là 8.000-9.0000C, ánh sáng dồi dào, nhiệt độ trung bình năm từ 21-230C Tuy nhiên, nếu như chênh lệch giá trị trung bình của nhiệt độ các tháng không lớn (giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất
ngày có khi tới trên 150C
Lượng mưa Gia Lai khá lớn (từ 2.100 – 2.450 mm/năm), nhưng chủ yếu
tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, còn trong suốt mùa khô kéo dài
từ tháng 12 đến tháng 3 thì rất ít mưa Gió Tây khô nóng thường xuất hiện vào những tháng đầu hè ở những vùng có độ cao từ 500 m trở xuống Ngoài ra, tỉnh Gia Lai còn có các hiện tượng như sương mù và mưa đá Đây là hiện tượng về thời tiết không phổ biến của tỉnh nhưng lại tác động mạnh đến tình trạng đói nghèo của đa số bà con nơi đây
Hướng gió ở Gia Lai thay đổi theo mùa rất rõ Mùa đông, hướng gió
chiếm ưu thế là hướng Đông Bắc Mùa hè, thịnh hành gió có hướng Tây và Tây Nam Tốc độ gió trung bình là 3m/s và ít thay đổi qua các tháng, các mùa nhưng lại có sự khác nhau giữa các vùng do ảnh hưởng của địa hình
Do bị địa hình chi phối nên khí hậu Gia Lai phân hóa khá rõ rệt Hàng năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, nhưng cũng có năm bắt đầu hoặc kết thúc sớm muộn hàng vài tuần đến 1 tháng, riêng vùng Đông Trường Sơn, mùa mưa đến muộn và kết thúc muộn hơn khoảng một tháng, lượng mưa trong thời gian này chiếm từ 80-90% cả năm Đặc biệt, nơi mưa nhiều, lượng mưa tháng có thể gấp 2- 3 lần nơi ít mưa trong khi chúng chỉ cách nhau chưa đầy 100 km Mùa khô kéo dài 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau), độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, lượng bốc hơi lớn, mực nước ngầm tụt sâu gây khô hạn nghiêm trọng
Trang 20Gia Lai có tiềm năng rất lớn về rừng và môi trường sinh thái Độ che
phủ rừng 47% và là tỉnh có độ che phủ rừng cao thứ hai trong cả nước Diện tích đất lâm nghiệp là 1.112.452,8 ha, chiếm 72% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp cho rừng đặc dụng là 61.364,6 ha (chiếm 5,5% diện tích đất lâm nghiệp); diện tích đất lâm nghiệp cho rừng phòng
hộ là 277.613,5 ha (chiếm 23,5% so với diện tích đất lâm nghiệp); diện tích đất lâm nghiệp cho rừng sản xuất là 773.447,7 ha (chiếm 69,5% so với diện tích đất lâm nghiệp) [33]
Do trải rộng trên nhiều vùng khí hậu nên các hệ sinh thái rừng Gia Lai phong phú và đa dạng với khoảng 500 loài cây thuộc 100 họ khác nhau, trong
số đó có những loại gỗ quý như cẩm lai, giáng hương, cà te, trắc, huỳnh đường, sao, táu Trong rừng còn có nhiều lâm sản quý như trầm hương, nhựa thông, song, mây nhiều dược liệu giá trị như mật ong, quế, hà thủ ô… [29, tr.25] Cùng với hệ thực vật, rừng Gia Lai là cả một khu vực sinh sống rộng lớn cho nhiều loài chim, thú rất phong phú và đa dạng cả về giống, loài và số lượng cá thể: gấu, trâu rừng, bò tót, hươu, nai, lợn rừng và cả các loài thú quý, hiếm như bò tót, hổ, voi, sói đỏ, mèo gấm, gấu ngựa, vượn đen, voọc ngũ sắc, khướu tai hung, sóc bay …
Khoáng sản ở Gia Lai tương đối giàu về số lượng, nhưng trữ lượng nhiều
hơn cả là nguyên vật liệu xây dựng, bô-xít, vàng và đá quý
Quặng bôxít đã có 2 mỏ được phát hiện là: Mỏ bôxit Kon Hà Nừng (Kbang) đã được thăm dò, đánh giá trữ lượng cấp C2 là: 210,5 triệu tấn với hàm
trên địa bàn tỉnh còn có các điểm khoáng hóa bôxit ở Lệ Thanh, Lệ Cần, Thanh Giáo, Bàu Cạn và Plei Me Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện một số điểm có vàng
ở các huyện Kông Chro, Kbang, Ayun Pa
Ngoài bôxit và vàng, Gia Lai còn có các khoáng sản kim loại khác: mỏ sắt
ở An Phú (thành phố Pleiku), huyện Kbang; kẽm ở An Trung (huyện Kông Chro)
Trang 21Khoáng sản phi kim loại có nhiều nhất ở Gia Lai là đá granit, đá vôi,
đolomit (đá hoa), đất sét, cát và sạn sỏi để sản xuất vật liệu xây dựng
Đá granit được phân bố ở 8 điểm trong tỉnh với trữ lượng lớn Trong đó,
mỏ đá Bắc Biển Hồ, thuộc địa bàn thị trấn Phú Hòa (huyện Chư Păh) và mỏ đá
là những mỏ giàu về trữ lượng, tốt về chất lượng, dễ khai thác và vận chuyển
Đá vôi đã phát hiện được 6 điểm, nhưng triển vọng nhất là mỏ đá vôi Chư
Sét ở Gia Lai có trữ lượng khá phong phú và phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất là ở các huyện như: An Khê, Ajun Pa, Krông Pa Khoáng làm vật liệu xây dựng, làm móng, rải đường có nhiều như đá bazan xây dựng ở đèo Chư Sê, Pleiku, Chư Păh; đá granit có trữ lượng 90,1
Như vậy, với tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên của mình, Gia Lai hoàn toàn có thể trở thành một trong những tỉnh có tiềm năng, lợi thế về phát triển kinh tế- xã hội bền vững Nhưng để khai thác tốt những lợi thế ấy, tỉnh cần
có những chính sách đầu tư và khai thác thế mạnh một cách hợp lý góp phần phát triển kinh tế, đặc biệt là nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào các
DTTS vùng sâu vùng xa
1.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội của tỉnh Gia Lai
1.2.1 Đặc điểm dân số, dân tộc
- Dân số - dân tộc: Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009,
dân số tỉnh Gia Lai có 1.274,412 người (28,59% dân số thành thị, còn lại 71,4% dân số nông thôn), mật độ 82,02 người/km2. [4, tr.22-24] Bao gồm 38 cộng
đồng dân tộc cùng sinh sống Trong đó, người Việt (Kinh) chiếm 55,98% dân
số, dân tộc Gia Rai (29,4%), Ba Na (11,8%), còn lại là các dân tộc khác chiếm
tỷ lệ không đáng kể [4, tr.37] Tỷ lệ tăng dân số và lao động hàng năm khá cao, năm 2009 tăng 103,963 hộ, chiếm 54,75% so với 10 năm trước đây Bình quân
Trang 22mỗi năm dân số ở Gia Lai tăng khoảng 5%, đứng thứ 2 so với các tỉnh trong
khu vực Tây Nguyên (sau Đắc Lắc) [41, tr.8] (xem thêm phụ lục 1 và 2)
Cư dân Gia Lai có thể chia làm 2 bộ phận: Bộ phận cư dân đã sinh sống từ lâu đời ở Gia Lai (còn gọi là cư dân tại chỗ) gồm có dân tộc Gia Rai (Jrai) và dân tộc Ba Na (Bahnar); Bộ phận cư dân mới đến gồm người Việt (Kinh) và các dân tộc ít người khác
- Cư dân tại chỗ
Dân tộc Ba Na: là một trong những dân tộc thuộc ngữ hệ Môn – Khmer và
là dân tộc có số dân đông nhất trong những dân tộc nói tiếng Môn - Khmer miền Nam Trung Bộ Nếu tính về mặt dân số thì dân tộc Ba Na là dân tộc lớn thứ ba ở Tây Nguyên sau dân tộc Gia Rai và Êđê (không tính người Việt) Còn nếu chỉ tính trong số các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khmer ở Tây Nguyên, thì người Ba Na là dân tộc có số lượng dân cư đông nhất Hiện nay tỉnh Gia Lai có 150.416 người Ba Na chiếm 11,8 % dân số toàn tỉnh và 66,1 % tổng số người
Ba Na tại Việt Nam (227.716 người năm 2009) [4, tr.37] Khu vực cư trú tập trung của người Ba Na là địa bàn các huyện phía Đông Bắc của tỉnh như: Mang Yang, Đăk Đoa, Đak Pơ, Kông Chro, Kbang
Cũng như người Gia Rai, tuy có nhiều nhóm địa phương khác nhau, người
Ba Na vẫn có một nét văn hóa chung Người Ba Na sinh sống nhờ nông nghiệp, chủ yếu là làm rẫy Cùng với trồng trọt, từng gia đình thường có nuôi gia cầm, gia súc như trâu, bò, dê, lợn, gà Hầu như mỗi làng đều có lò rèn Một số nơi biết làm đồ gốm đơn giản, phụ nữ dệt vải tự túc đồ mặc trong gia đình Đàn ông đan chiếu, lưới, các loại gùi, giỏ, mủng Việc mua bán theo nguyên tắc hàng đổi hàng, xác định giá trị bằng gà, rìu, gùi thóc, lợn hay nồi đồng, ché, chiêng, cồng, trâu
Dân tộc Gia Rai là một dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo Xét về số
lượng dân số, người Gia Rai là dân tộc lớn nhất hiện nay trong các DTTS ở Tây Nguyên và sống tập trung trên một địa bàn rộng lớn nhất so với địa bàn cư trú của các dân tộc khác trong khu vực Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm
Trang 232009, dân số của dân tộc này tại Việt Nam là 411.275 người Trong số này có khoảng 372.302 người cư trú ở tỉnh Gia Lai, chiếm 29,2 % dân số toàn tỉnh và 90,5 % tổng số người Gia Rai tại Việt Nam [4, tr.37] Khu vực cư trú chính của người Gia Rai là các huyện Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, thành phố Pleiku (thuộc phía Tây cao nguyên Pleiku) và vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc ở phía Tây Nam tỉnh
Người Gia Rai không chỉ có số dân đông mà còn là một tộc người đã có cả một quá trình phát triển lịch sử lâu dài Đây là dân tộc duy nhất ở Tây Nguyên
đã có một tổ chức xã hội tiền nhà nước với hai thủ lĩnh lớn: Yang Pơtao Ia (thần Nước) và Pơtao Apui (thần Lửa) Ngoài ra, ở một số vùng còn có thêm Yang Pơtao Angin (thần vua gió) Trong thực tế, những người này được cộng đồng coi như thần linh, họ có thể thay mặt cộng đồng giao tiếp với những vị
Người Gia Rai sống thành từng làng (plơi hay bôn) và chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng trọt trên nương rẫy; lúa tẻ là cây lương thực chính Công cụ canh tác của người Gia Rai giản đơn, chủ yếu là con dao chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất và cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống Chăn nuôi trâu, bò, lợn, chó, gà phát triển Xưa kia, người Gia Rai có đàn ngựa khá đông và còn nuôi cả voi Đàn ông thạo đan lát các loại gùi, giỏ… đàn bà giỏi dệt khố váy, mền đắp, vải may áo cho gia đình Săn bắn, hái lượm, đánh cá là những hoạt động kinh
tế phụ khác có ý nghĩa đáng kể đối với đời sống của họ xưa và nay
Các dân tộc Ba Na, Gia Rai trong quá trình tồn tại và phát triển đã hình thành nên những bản sắc văn hoá vừa mang đặc trưng riêng của cộng đồng dân tộc, vừa mang đặc trưng chung của khu vực, của quốc gia đa tộc người Những bản sắc văn hoá riêng của người Ba Na, Gia Rai ở Gia Lai rất phong phú và đa dạng được thể hiện trên các lĩnh vực văn hoá sản xuất, văn hoá đảm bảo đời sống, văn hoá chuẩn mực xã hội Những bản sắc văn hoá riêng đó đã trở thành nếp sống, trở thành các chuẩn giá trị được đồng bào giữ gìn và lưu truyền từ thế
hệ này qua thế hệ khác Tuy nhiên, đứng trước những thay đổi và yêu cầu mới,
Trang 24những giá trị văn hoá truyền thống của người Ba Na, Gia Rai bên cạnh mặt tích cực cũng bộc lộ những mặt tiêu cực như: tâm lý tự ti, bảo thủ, cục bộ địa phương… gây cản trở không nhỏ đến việc triển khai và thực hiện đường lối chính sách của Đảng và nhà nước vùng đồng bào DTTS hiện nay Do đó, việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá Ba Na, Gia Rai của vùng đất này là rất quan trọng, nhưng đồng thời cũng phải đề ra những giải pháp để hạn chế những tư tưởng tiêu cực trên góp phần đưa sự nghiệp “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” vùng nông thôn, vùng đồng bào DTTS sớm trở thành hiện thực
Trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc, đồng bào Ba Na Và Gia Rai ở Gia Lai đã nêu cao vai trò đấu tranh bất khuất, trung dũng và thuỷ chung sâu sắc Dưới chế độ phong kiến, từ vùng đất này, nhiều cuộc đấu tranh của đồng bào các DTTS đã liên tiếp nổ ra Vùng rừng núi Trường Sơn ở Gia Lai, trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ là căn cứ của các huyện đồng bằng của tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên Đồng bào các dân tộc đã cung cấp lương thực, thực phẩm, bảo vệ an toàn khu căn cứ, đóng góp sức người, sức của cho việc nuôi dưỡng, phát triển lực lượng vũ trang giải phóng Nhiều nơi đồng bào đói chỉ ăn sắn, ăn rau còn lúa gạo làm ra đều để giành cho kháng chiến Nhiều đơn vị và cá nhân anh hùng tiêu biểu cho các dân tộc Ba Na, Gia Rai như: Anh hùng Núp, anh hùng Wừu, nhà giáo Nay Đer, anh hùng Kpa Ó, anh hùng Kpui Thu… đã cùng với nhân dân cả nước lập nên kỳ tích vĩ đại - giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước vào năm 1975
- Các dân tộc thiểu số khác không thuộc nhóm cư dân tại chỗ
Cùng với quá trình di cư có tổ chức theo kế hoạch của Nhà nước, làn sóng
di cư tự do đến Tây Nguyên và Gia Lai bắt đầu hình thành vào đầu thập kỷ 80
và diễn ra ồ ạt từ giữa thập kỷ 80 (thế kỷ XX) cho đến những năm gần đây Sự sôi động của làn sóng di cư tự do vào Gia Lai là một hiện tượng xã hội đặc biệt bởi quy mô của nó lớn và kéo dài Sau người Kinh, bộ phận di cư tự do đông nhất vào tỉnh là một số dân tộc thiểu số phía Bắc: Tày, Nùng, Thái, Dao,
Trang 25Mông Bà con thường vào sâu trong các khu vực rừng đầu nguồn, rừng phòng
hộ, các khu bảo tồn thiên nhiên để phá rừng, chiếm đất trái phép, lập các khu dân cư, khu sản xuất tự phát
Như vậy, tính đến ngày 1/4/2009, trên địa bàn tỉnh Gia Lai có 38 dân tộc
cùng sinh sống là người Việt (Kinh) chiếm 55,98%, Gia Rai (29,4%), Ba Na
(11,80%), còn lại các tộc người khác như: Tày (8.036 người), Nùng (5.472),
Sự có mặt của các dân tộc khác cùng với bộ phân dân cư tại chỗ vừa tạo nên một bức tranh kinh tế- xã hội sống động chung của khu vực, vừa mang những nét đặc trưng riêng của tỉnh Gia Lai Đồng thời cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng đói nghèo cũng như công tác XĐGN của địa phương
1.2.2 Đặc điểm về văn hoá- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Nói đến văn hóa- xã hội truyền thống Gia Lai trước hết phải nói đến nền văn hóa- xã hội mang đậm nét đặc trưng của cư dân tại chỗ, từ bao đời nay đồng bào nơi đây đã tạo dựng nên một nền văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng, với những di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể độc đáo và đồ sộ
Làng: là từ dùng phổ thông để chỉ một địa điểm cư trú của các DTTS
như làng của người Việt Tên làng thường chỉ có 1 ý nghĩa nhất định Làng đặt theo tên nguồn nước như: Plơi Phin (có suối Phin), Bôn Broăi (co mỏ nước Broăi), Bôn Ama HBu (làng cha nàng Hbu)… Có những làng mang tên của người lập làng và giữ mãi tên đó, nhưng cũng có những làng có số dân đông, đất canh tác không đủ nên thường được tách ra Buôn làng bao giờ cũng được định vị hợp lý theo tập quán cổ truyền đều có nguyên tắc chung là gần nguồn nước sạch, cao ráo, thoáng đãng Phân bố cư trú của các tộc người theo đặc điểm địa hình, chủ yếu là 2 dạng: Khu vực cư trú ở những nơi có nhiều rừng, tập trung ở vùng cao, vùng xa và hẻo lánh Khu cư trú ở vùng thấp: gồm các địa hình cao nguyên, thung lũng, các dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải nơi cư trú của đồng bào Gia rai, Êđê, Bana, Cơho
Trang 26Làng có chiều hướng tiệm cận dần về phía nguồn nước: Ðường vào > cổng làng > đường làng nhà Rông > nhà sàn > nhà kho >ruộng > sông và một số thành phần kiến trúc phụ trợ khác Hướng Nam và hướng Ðông thường được quan niệm là có ý nghĩa tốt cho sự sống; hướng Tây thường là vị trí đặt nghĩa địa Mỗi làng có hai cổng: cổng trước dùng để giao tiếp với người sống, cổng sau giao tiếp với thế giới người chết [65, tr.757] Nếu ở những khu vực sông suối nhà phân bố dọc theo chiều của dòng chảy; nếu ở sườn đồi thì nhà phân bố hàng ngang triền dốc và quay mặt xuống phía dưới; những chỗ bằng phẳng thì những căn nhà rìa ngoài thường mở cửa chính hướng vào trong làng…
Nét nổi bật trong thiết chế xã hội của các DTTS Gia Lai là đời sống xã hội mang tính cộng đồng cao và đậm dấu ấn của công xã thị tộc Trong thiết chế cổ truyền còn lưu lại đến nay, buôn làng là những đơn vị cơ sở xã hội duy nhất và
cao nhất Theo tiếng địa phương, người Ba Na gọi làng là plei (pơlei, đe, kon), người Gia Rai gọi làng là plơi hay bon, buôn Ở nhiều nơi đã hình thành những liên minh làng gọi là tring và những liên minh lớn hơn là char Đây là hình thức
tổ chức xã hội cao nhất tương đối hoàn chỉnh, độc lập và khép kín Những tổ chức xã hội này cũng là cơ sở hình thành các tầng lớp trong xã hội Gia Rai, Ba
Na cổ truyền [62, tr.278] Mỗi làng có nơi cư trú và nơi canh tác riêng, có bến nước và nghĩa địa riêng, mặc nhiên được các buôn làng khác thừa nhận Làng được xem như đơn vị hành chính mang tính bao quát và cụ thể, chi phối mọi hoạt động trong đời sống xã hội Mỗi buôn làng của đồng bào đồng bào Gia Rai
và Ba Na có một đơn vị tự quản riêng biệt và tương đối hoàn chỉnh là tập thể già làng Tập thể già làng do một già làng có uy tín nhất trong cộng đồng đứng đầu điều khiển công việc trong làng theo luật tục đã được xác định từ xa xưa Tập thể già làng còn có nhiệm vụ quản lý, điều hành mọi công việc về mặt dân
sự, an ninh, thần quyền, đối ngoại Trong số các già làng còn có những người điều hành toà án phong tục, phụ trách việc cúng bái, tế tự - là những người có kinh nghiệm và uy tín về đạo đức, được trưởng làng coi trọng Bên cạnh đó, còn
Trang 27phải kể đến vai trò của những người am hiểu về luật tục, người hoạt động tín ngưỡng hoặc chủ đất của các dòng họ
Ở hầu hết các tộc người ở Tây Nguyên, trước 1945 đang ở trong giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy Người Gia Rai theo chế độ mẫu hệ, ở đây người phụ nữ làm chủ gia đình, chủ nhân của bếp lửa, là người phân công lao động, thực hiện một số nghi lễ quan trọng, con cái mang họ mẹ, quyền thờ cúng
tổ tiên thuộc con gái út; người đàn bà có vai trò quyết định trong tang ma, cưới xin, làm nhà… Nhưng có đặc điểm rất đặc biệt là dù theo chế độ mẫu hệ nhưng Già làng, trưởng thôn luôn luôn là người đàn ông Ở người Ba Na, đồng bào đã
chuyển sang song hệ Tuy nhiên: “gia đình phụ hệ hay mẫu hệ chỉ phân biệt cơ bản theo nguyên tắc tính dòng huyết thống theo cha hoặc theo mẹ, mà cái đó thì khó có thể nói lên cái nào tiến bộ hơn và phù hợp hơn Vấn đề cơ bản là ở chỗ cách thức tổ chức và quan hệ giữa các thành viên như thế nào cho phù hợp với trào lưu của xã hội mới” [19, tr 236-237] Như vậy, có thể nói sự tồn tại của
thiết chế mẫu hệ hay song hệ trong các tộc người chỉ là sự phát triển khác nhau của biện chứng lịch sử Hệ thực ra là tập tục quy định cách tính tử hệ (tính dòng họ); quyền thừa kế tài sản, quyền sở hữu, kế vị chức vụ xã hội và gắn với nó là các tập tục trong hôn nhân, gia đình Hệ tuyệt nhiên không phải là thước đo đánh giá sự phát triển văn minh hay lạc hậu và kinh tế - xã hội của các DTTS, cho dù dân tộc đó theo cấu trúc mẫu hệ, phụ hệ hay song hệ
Tuy nhiên, thiết chế xã hội của đồng bào DTTS ở Gia Lai cũng có những hạn chế nhất định Chủ nghĩa bình quân là đặc điểm nổi bật Đứng trước thiên nhiên đa dạng, “đất còn rộng, người còn thưa”, người dân tại chỗ vùng miền núi nhìn chung đều “an phận thủ thường” trong điều kiện nền kinh tế tự cấp tự túc Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường họ cũng không hối hả, năng động như các vùng khác Thiếu kiến thức thị trường và kinh doanh đã kìm hãm
sự phát triển kinh tế - xã hội của họ Khi đứng trước những xung đột lợi ích trong nội bộ cộng đồng hay giữa các dân tộc, họ thường phản ứng lại một cách thụ động: hoặc nhường nhịn, hoặc co cụm, hoặc lùi xa để tự vệ và đến khi
Trang 28không thể lùi được nữa thì con đường tốt nhất mà họ lựa chọn là dời đi nơi khác Sự phát triển chậm về xã hội dẫn đến tình trạng: tính chất dân chủ, nhân
ái rất đáng quý của đồng bào DTTS chưa phải là dân chủ của một xã hội văn minh Bản chất thuần phác, ý thức giai cấp và cộng đồng quốc gia dân tộc chưa
rõ rệt nên dễ bị kẻ thù lợi dụng Sự giao lưu văn hóa giữa các vùng, các DTTS còn hạn hẹp, thiếu tri thức, thiếu thông tin nên trong chừng mực nhất định hạn chế dân chủ, vì thế không khuyến khích sáng tạo, độc lập suy nghĩ của cá nhân,
có thể dẫn tới hành vi sai của cả tập thể hay cộng đồng Ngoài ra, một số phong tục lạc hậu, tàn dư của chế độ cũ vẫn còn tồn tại như: tục nối dây, mê tín dị đoan, một số quy định trong luật tục của các dân tộc xử phạt người phụ nữ rất nặng (đối với tội ngoại tình, loạn luân hay quan hệ tình dục trước hôn nhân)… đây cũng là nguyên nhân làm cho xã hội của họ trì trệ hơn
Từ những vấn đề trên, đặt ra yêu cầu cần phát huy các yếu tố tích cực trong thiết chế xã hội truyền thống của đồng bào các DTTS Một trong những biện pháp đó là phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng Họ có thể là cán bộ xã, trưởng thôn, già làng, thầy cúng Đây chính là “cầu nối” rất tốt giữa Đảng và Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội với người dân, làm cho việc giải quyết các vấn đề được “thấu tình đạt lý”
Nhà ở của người Gia Rai và Ba Na thuộc loại hình nhà sàn Trước đây khi
chế độ gia đình lớn còn thịnh hành, ở vùng người Ba Na sinh sống thường có những căn nhà dài hàng trăm mét, tuy nhiên hiện nay chế độ gia đình lớn không còn nữa, mô hình các gia đình nhỏ với những căn nhà sàn gọn gàng xuất hiện ngày càng nhiều Nhà sàn hiện nay thường dài từ 7 m đến 15 m, rộng từ 3 m- 4
m, cao từ 4 m-5 m, sàn cách mặt đất từ 1 m đến 1,5 m Họ cư trú trên nhà sàn, cửa ra vào mở về phía hông hoặc đầu hồi (tùy vào từng nhóm địa phương) Trên nóc nhà, hai đầu đốc thường có trang trí hình sừng (đặc điểm đặc trưng của nhà cổ truyền Ba Na là nhà nóc hình mai rùa hoặc chỉ còn là hai mái chính với hai mái phụ hình khum - dấu vết của nóc hình mai rùa) ở giữa làng được xây cất một ngôi nhà công cộng - nhà làng, nhà rông với hai mái vồng và cao
Trang 29vút Ðó là nhà khách của làng, nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án
Nhà rông của đồng bào các dân tộc thiểu số Gia Lai là cả một tác phẩm
nghệ thuật lớn bao gồm điêu khắc, hội họa, trang trí… đặc biệt là sự thể hiện không gian thiêng liêng, sức mạnh cộng đồng và niềm kiêu hãnh dân tộc, là linh hồn của làng Nhìn vào nhà Rông, có thể đánh giá được khả năng hội họa và điêu khắc cùng với sự giàu nghèo của buôn làng đó Nhà Rông được xây dựng chủ yếu bằng các vật liệu của chính núi rừng Tây Nguyên như cỏ tranh, tre, gỗ,
lồ ô Đồng bào thường chọn những thứ gỗ là các chân cột chôn dù lâu năm dưới đất cũng không bị ải mục như gỗ trắc, gụ, mật, giổi xanh… Nhà rông là một công trình kiến trúc khá đồ sộ so với nhà ở của đồng bào Tây Nguyên Tuy nhiên mỗi địa phương, mỗi dân tộc có kiểu nhà rông riêng, phong cách kiến trúc, trang trí hoa văn cũng có sự khác biệt Chẳng hạn đối với nhà rông của người Ba Na, dù bộ nóc rất cao nhưng chiều ngang của nhà tương đối rộng (có nơi rộng đến 15 m), góc của mái tam giác đầu hồi lớn nên làm giảm thế vươn lên của nó Còn đối với nhà rông người Gia Rai có chiều hướng thu chiều dài lại nâng chiều cao lên (có những ngôi nhà cao tới 18 m) với một dáng vẻ mạnh
mẽ, với qui cách đó làm cho nhà rông người Gia Rai thêm bề thế, hoành tráng hơn Nhà Rông được xây cất trên một khoảng đất rộng, nằm ngay tại khu vực trung tâm của làng Nhà Rông hùng vĩ vươn lên bầu trời biểu hiện cho sức mạnh của một cộng đồng làng, thể hiện tinh thần thượng võ, đầy uy quyền, như
là chế ngự không gian và thời gian để khẳng định chủ quyền, lãnh địa của làng
Vì thế nếu làng là một không gian văn hóa thì nhà rông chính là một không gian tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây Nhà rông là một thiết chế văn hóa tiêu biểu, độc đáo có ý nghĩa quan trọng trong văn hóa tinh thần, trong đời sống xã hội và trong tín ngưỡng, tâm linh của đồng bào các dân tộc Tây
Nguyên: “đó là trung tâm sinh hoạt chính trị, văn hóa và xã hội của cả làng”
[23, tr.128] Giữ được nhà Rông, giữ được "trái tim" của làng, nơi cất giữ những huyền thoại trong sử thi cổ, cũng là nơi nhen nhóm lửa sáng tạo những
Trang 30"huyền thoại mới", đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sẽ giữ được cho mình một đời sống tinh thần phong phú và đa dạng, bắt rễ sâu vào truyền thống nhưng cũng vươn tới những giá trị mới phù hợp với xu thế phát triển đi lên của
xã hội
Về trang phục: Trang phục của người Ba Na và Gia Rai thường là các
kiểu váy choàng quấn, áo chui đầu và các loại khố Tuy nhiên, nó khác nhau ở phong cách mỹ thuật trang trí hoa văn, bố cục trên áo váy Cũng giống như mọi dân tộc nào biết dệt vải, may trang phục; các dân tộc ở Gia Lai chế tác sợi từ quả cây bông Việc tạo ra các sắc màu cho sợi là cả một quá trình kinh nghiệm của mỗi dân tộc Qua những trang phục như váy áo, khố hoa đã chứng tỏ năng khiếu thẩm mỹ, tài dệt vải, cách sử dụng màu sắc của tộc người Xưa kia, hầu như tất cả phụ nữ Ba Na, Gia Rai đều biết dệt Trước đây, các em bé học dệt từ 13-14 tuổi Đặc biệt họ có truyền thống chế “thuốc nhuộm” từ các thảo mộc có trong thiên nhiên.Trên màu nền chủ đạo là đen hoặc chàm, màu đỏ trong trang phục của người Gia Rai, Ba Na chiếm một tỷ lệ khá đậm nét, còn màu vàng, màu trắng thường được coi như nét điểm xuyết, tạo nên sắc thái hài hoà theo thẩm mỹ của họ Ở váy của phụ nữ thì việc trang trí tập trung vào phần chân váy và miếng đắp ở phía sau mông Còn người Ba Na thường dành phần chính
ở giữa thân áo và váy với diện tích hơn một nửa áo, váy cũng như hai ống tay
để trang trí hoa văn (chủ yếu là màu trắng đỏ) Trong cộng đồng các dân tộc Gia Lai, mỗi dân tộc đều có những trang phục riêng phong phú và rất độc đáo Trang phục luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống của họ, là dấu hiệu thông tin để nhận biết tộc người sau ngôn ngữ Nó không chỉ phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà còn thể hiện tập quán, nếp sống, trình độ thẩm mỹ và nền văn hóa của các dân tộc nơi đây
Phương thức sản xuất: Canh tác nương rẫy là một trong những loại hình hoạt động kinh tế truyền thống của đồng bào các dân tộc Trường sơn – Tây Nguyên Tuỳ theo phong tục tập quán, địa bàn cư trú mà mỗi dân tộc có hình thức canh tác khác nhau Trong hoạt đồng kinh tế trước đây, người đồng bào
Trang 31Gia Lai chỉ biết canh tác trên rẫy, không biết đến ruộng và cũng không quen canh tác trên ruộng Mãi đến nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự xuất hiện của của các giáo sĩ người Pháp thì loại hình canh tác ruộng nước và chăn nuôi mới bắt đầu phát triển
Canh tác rẫy của người đồng bào chủ yếu là hình thức quảng canh Khi họ
khai phá được một mảnh rẫy, họ chỉ canh tác trên đó từ 2 - 3 vụ, sao đó bỏ hoang và đi khai phá mảnh rẫy khác, cũng chỉ canh tác từ 2 – 3 vụ lại bỏ hoang
và tiếp tục khai phá Đến khi cây cỏ ở rẫy đầu tiên mọc trở lại um tùm, với thời gian khoảng 6 – 8 năm, họ lại quay về khai phát để canh tác tiếp Điều đặc biệt
ở các tộc người này là không tranh giành đất đai và có một qui định bất hành văn, nhưng được ngầm hiểu là khi mảnh rẫy của một gia đình, dòng họ nào đang được hoang hóa, những gia tộc khác cũng không được đụng đến vì đất đó
đã có chủ Miếng đất đó sẽ trở thành tài sản kế thừa của những thành viên trong gia đình khai phát đầu tiên
Kỹ thuật canh tác: Trước đây, đồng bào sử dụng công cụ rất thô sơ chủ
yếu dùng cành cây nhọn, dao, rựa… nên năng suất rất thấp Ngày nay, với sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh Gia Lai nhiều chương trình, chính sách đã giúp bà con tiếp cận với những tiến bộ khoa hoc kỹ thuật: máy cày, máy tuốt lúa, xe cơ giới… trực tiếp ứng dụng vào đời sống sản xuất làm cho năng suất lao động tăng đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của bà con cũng được cải thiện rõ rệt Ngày nay ở Gia Lai, mỗi hộ DTTS đều sở hữu từ 4 – 10 sào đất, có hộ còn
sở hữu gần 2 ha đất rẫy Ngoài những loại cây truyền thống, sản phẩm được trồng trên rẫy phong phú và đa dạng hơn như: bắp lai, khoai môn, mía, khoai
mì, su su…
Như vậy, dù nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán khác nhau, cư trú ở Gia Lai vào những thời điểm khác nhau, nhưng đồng bào các DTTS Gia Lai luôn giữ vững truyền thống đoàn kết, tương trợ vốn có của người Việt Nam nói chung và tinh thần cố kết cộng đồng của các dân tộc trong tỉnh nói riêng Hơn nữa, mỗi cư dân ở mỗi hoàn cảnh chịu sự tác động của các điều kiện lịch sử
Trang 32khác nhau nên đã sớm có ý thức tự giác, chung sống trong một quốc gia dân tộc Hiện nay, các dân tộc tại chỗ ở Gia Lai không còn cư trú theo lãnh thổ tộc người riêng biệt mà sinh sống xen kẽ, đan xen nhau, có sự giao lưu về văn hóa với người Kinh và các dân tộc từ miền Trung, miền Bắc đến sinh cơ lập nghiệp Trong quá trình chung sống cận kề, các cộng đồng dân cư tuy thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau nhưng cơ bản có sự hoà hợp, đoàn kết, không phân biệt Kinh-Thượng, người tại chỗ và người nơi khác đến, cơ bản đều thống nhất trong một chỉnh thể chung Đoàn kết đã trở thành truyền thống tốt đẹp, chuẩn mực đạo đức là nhân tố quan trọng bậc nhất tạo nên sức mạnh của cộng đồng các DTTS trước rất nhiều biến thiên của lịch sử, cùng “chung lưng đấu cật” xây dựng và bảo vệ miền đất Gia Lai giàu đẹp
Tín ngưỡng dân gian: Yếu tố bản địa rõ nét nhất trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Gia Lai là tín ngưỡng của người Ba Na và Gia Rai Nó lắng sâu trong tâm thức và thể hiện trong đời sống hàng ngày, từ lễ thức gắn với đời người đến sinh hoạt cộng đồng, gia đình và xã hội
Người Gia Rai và Ba Na vẫn chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” Trong đó, Yàng là một vị thần có mọi quyền lực chi phối đến con người, gia đình và cộng đồng Người Ba Na, Yàng được gọi một cách tôn kính là ông Bok, bà Yã Trong đó Bok Kêi Đêi, Yã Kung Ké được coi là hai vị thần quan trọng nhất, là những vị thần sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài Bên cạnh những vị thần quan trọng, người Ba Na còn thờ kính các vị thần như Bok Kla (thần Cọp), Yàng Đăk (thần nước), Yàng Kông (thần núi) Ở người Gia Rai cũng thờ rất nhiều thần linh và các vị thần khác như thần đất, thần sét (yang ktăn), thần lúa (yang hri), thần ruộng rẫy (yang hma), thần núi (yang chư), thần cây đa (yang phun bơnú), tù trưởng lớn (yang pơtao), thần khổng lồ hình người (yang plin), thần chiến tranh (yang blah), thần người sinh ra dòng họ (yang prin tha), thần vòng tay hoặc vòng chân (yang kông) Trong đó, vị thần được coi trọng nhất như thần nhà (Yàng Sang), thần làng (Yàng Ala bôn), thần nước (Yàng Pên
Trang 33Ia) Đồng bào quan niệm đó là những vị thần gần gũi, giúp người dân có nhà
ở, bảo vệ mùa màng, làng mạc
Chính những yếu tố văn hóa này đã làm cho tín ngưỡng của cư dân Gia Lai nhiều màu sắc, hơn thế nữa, nó tạo nhịp cầu cho tâm linh của các cư dân gắn kết với nhau Yếu tố tâm linh xuất hiện trong tín ngưỡng dân gian của các tộc người Gia Lai không phải là phép cộng mà là một sự hòa nhập nhịp nhàng tạo nên sự hòa hợp “cân bằng sinh thái tâm linh” trong tín ngưỡng dân gian của
cư dân trên mảnh đất này Bên cạnh tín ngưỡng cổ truyền, một bộ phân đồng bào DTTS Gia Lai đã tiếp nhận một số tôn giáo mới du nhập như: Đạo Công giáo và Tin Lành
Đạo Công giáo: Việc truyền giáo cho đồng bào Tây Nguyên bắt đầu từ
năm 1850, khi Giám mục Cuenot Thể (giám mục đại diện Tông toà Đàng Trong) trao bài sai cho Thầy Sáu Do mở đường lên Tây Nguyên, sau đó là các
tu sĩ dòng Chúa Cứu thế Đoàn đến nơi truyền giáo đầu tiên thuộc khu vực Bắc Gia Lai và Nam Kon Tum vào năm 1851, tại đây các thừa sai đã thành lập được một số trung tâm truyền giáo như: Plei Rơhai cho bộ tộc Ba Na; Kon Trang truyền giáo cho bộ tộc Xơ Đăng; Plei Chư truyền giáo cho dân tộc Gia Rai Kon Tum trở thành xứ truyền giáo đầu tiên của khu vực Tây Nguyên thuộc giáo phận Đàng Trong (Quy Nhơn) của giáo hội Công giáo Việt Nam Vùng Kon Mơhar thuộc phần đất của huyện Chư Pah và Đak Đoa hiện nay là nơi tiếp nhận
và truyền giáo đầu tiên của tỉnh Gia Lai Đến tháng 4 năm 2009 tỉnh Gia Lai có: 9,01% đông bào theo đạo Công giáo [4, tr.37] Những tư tưởng hạt nhân cốt lõi như: Truyền thống thờ phụng ông bà, tổ tiên; lòng biết ơn, thủy chung đối với mọi yếu tố liên quan đến việc hình thành và phát triến cộng đồng; thái độ nhân ái, quan tâm đến sự sống của mọi người đó là những giá trị kết đọng trong tín ngưỡng dân gian cần được duy trì và phát triển thành giá trị xã hội Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp chính quyền Gia Lai, nhiều giáo dân người đồng bào DTTS đã góp phần không nhỏ vào công cuộc
Trang 34đổi mới của tỉnh Đặc biệt là tích cực tham gia các công tác xã hội: hoạt động từ thiện, chăm sóc người già, trẻ mồ côi…
Đạo Tin Lành: Đạo Tin lành xâm nhập vào Gia Lai từ những năm 1930 -
1931 cùng với sự hiện diện của giáo sĩ thuộc Hội truyền giáo Phúc âm Liên hiệp Mỹ (CMA) Đến năm 1975 đạo Tin lành có sự phát triển khá rộng và bám
rễ khá sâu trong vùng đồng bào DTTS Sau năm 1975 đạo Tin lành ở Tây Nguyên nói chung, tỉnh Gia Lai nói riêng do nhiều nguyên nhân mà có sự suy giảm Nhưng đến những năm 1980, đạo Tin lành ở đây bắt đầu phục hồi và phát triển cả về bề rộng và chiều sâu ở nhiều dân tộc và nhiều vùng khác nhau (trước năm 1975 có 1.732 tín đồ ở 8/9 huyện, thị) Đến năm 2000 Tin lành đã phát triển 53.941 tín đồ ở 10/13 huyện, thị và trên 104/171 xã, phường) và hiện nay
ở tỉnh Gia Lai có 05 hệ phái Tin lành gồm: Hội thánh Tin lành Miền Nam, Hệ phái Liên Hữu Cơ Đốc, Hệ phái Ngũ Tuần, Hệ phái Cơ Đốc truyền giáo và Hệ phái Cơ Đốc Phụ Lâm Trong đó hệ phái Tin lành Miền Nam chiếm số lượng đông nhất và cũng là hệ phái duy nhất được pháp luật Việt Nam công nhận tư cách pháp nhân
Do địa bàn Gia Lai luôn bị các thế lực thù địch, đế quốc tìm mọi cách để tách khỏi lãnh thổ Việt Nam, trong quá trình thực hiện ý đồ đó các thế lực phản động luôn triệt để khai thác lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc trên địa bàn tạo nên sự bất ổn định về chính trị - xã hội Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Gia Lai, các vấn đề trên đều đã được giải quyết một cách mềm dẻo, khôn khéo… thuyết phục bà con trở về với cuộc sống thường ngày, chăm lo làm ăn, từng bước giảm nghèo nâng cao chất lượng cuộc sống Qua các phong trào thi đua yêu nước, đã có nhiều cá nhân và hộ gia đình là đồng bào các tôn giáo trên toàn tỉnh được chọn biểu dương về thành tích gia đình sản xuất giỏi và công tác xã hội tốt
Lễ hội dân gian: Đồng bào các DTTS ở Gia Lai được hình thành chủ yếu
trên nền kinh tế nông nghiệp nương rẫy, tự cấp tự túc phụ thuộc vào thiên nhiên Do đó, ngoài lễ hội trong vòng đời người thì không thể không nhắc đến
Trang 35những lễ hội trong chu kỳ canh tác nương rẫy Đây cũng chính là hai thống lễ hội chính của cư dân tại chỗ nơi đây
Lễ hội trong vòng đời người gồm nghi lễ cầu sức khỏe cho bà mẹ và thai
nhi Quy mô tiến hành nghi lễ trong thời kỳ này thường không lớn, lễ vật thường chỉ có gà và rượu Hành động và nội dung lời khấn thể hiện việc cầu thần tốt phù hộ, đuổi ma xấu ra khỏi cơ thể người mẹ Các lễ hội được tiến hành theo từng giai đoạn từ khi đứa bé sinh ra đến khi con người về với thế giới
“ông- bà” gồm: lễ thổi tai, lễ trưởng thành, lễ cầu sức khỏe, lễ tạ ơn thần linh mang lại sức khỏe cho người già (tương đương như lễ mừng thọ) và lễ hội sau khi chết: tang ma, cúng tháng, bỏ mả (pơthi)
Những lễ hội trong chu kỳ canh tác nương rẫy được tiến hành từ khi chọn
đất phát cây, gieo trỉa chăm sóc, khi lúa trổ bông, cho đến khi hoàn thành việc thu hoạch Tùy theo ý nghĩa của từng nghi lễ mà đồng bào dâng lễ vật cúng theo hình thức trao đổi (hiến sinh) Lễ vật cúng thường là trâu, bò, heo, dê, gà… chính là “linh hồn” làm nên thành công cho buổi lễ Đối với các lễ hội lớn, đặc trưng như: lễ mừng thắng lợi, lễ mừng được mùa, lên nhà rông mới… thì vật hiến sinh thường là con trâu, nếu không có “ăn trâu” thì chưa được gọi là một lễ quan trọng Trâu là vật hiến sinh giá trị nhất trong các lễ hội ở Tây Nguyên… Trong phạm vi gia đình, người ta cũng hiến sinh trâu để cầu thần linh phù hộ cho các thành viên của gia đình khỏe mạnh, mùa màng tốt tươi; trâu cũng là lễ vật trong lễ bỏ mả để chia của cho người thân đã chết… Bên cạnh đó, việc hiến sinh trâu còn hàm ý phô trương sự giàu sang của chủ nhà [62, tr.34]
Ngoài ra, với đồng bào DTTS Gia Lai, cồng chiêng và văn hoá cồng
chiêng là tài sản vô giá Những bộ cồng chiêng này không phải do bản thân họ đúc, mà xét về nguồn gốc có xuất xứ từ Lào, Campuchia (chiêng Kur) hoặc là chiêng do người Kinh đúc (chiêng Yoăn) Những bộ cồng chiêng sau khi mua
về được điều chỉnh lại tuỳ theo từng tộc người ở từng địa phương khác nhau Mỗi bộ cồng chiêng luôn có 2 phần: phần tiết tấu được thể hiện bằng những chiếc cồng (có núm); phần giai điệu được thể hiện bằng những chiếc chiêng
Trang 36(không có núm) Ngoài ra, biên chế đủ để thể hiện âm nhạc cồng chiêng còn có lục lạc, chũm chọe và trống
Đồng bào Gia Lai tin rằng tiếng chiêng chính là ngôn ngữ con người dùng
để giao tiếp với thần linh, với tổ tiên, với siêu nhiên Tiếng chiêng đánh dấu những chặng đường đời, gắn bó với vòng đời của một con người, từ khi đứa trẻ mới sinh ra nó được cộng đồng thừa nhận bằng lễ "thổi tai" với âm thanh của một chiếc chiêng cổ nhất của làng Đứa trẻ lớn lên đến tuổi trưởng thành, nam giới đánh chiêng cồng và nữ giới múa theo trong các nghi lễ cộng đồng như lễ gieo hạt, lễ cầu an cho lúa, lễ cốm mới, lễ gặt mùa, lễ đóng cửa kho lúa Tiếng chiêng cồng ngày cưới, tiếng chiêng cồng lên nhà mới Đến khi con người nằm xuống và trở về với đất, trong lễ bỏ mả vẫn tiếng chiêng cồng đưa dẫn linh hồn trở về với cộng đồng tổ tiên Chiêng cồng có mặt trong mọi nghi lễ quan trọng của con người và cộng đồng Dòng cồng chiêng quyện với dòng đời người chính là như vậy
Nếu trong các buôn làng ngày xưa, cồng chiêng thường chỉ được sử dụng trong các ngày lễ lớn của gia đình, dòng tộc hoặc buôn làng thì ngày nay không gian địa lý để cho chiêng cất lời đã trở nên phổ biến tại những đô thị, với các lễ hội mà yếu tố hội hè hầu như chiếm phần lớn Tuy nhiên, dù trong bất cứ không gian nào thì cồng chiêng Gia Lai vẫn còn nguyên giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật đặc sắc, độc đáo Chính vì vậy mà nghệ thuật cồng chiêng đã trở thành một trong những di sản văn hóa được UNESCO công nhận là "kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại" vào ngày 25-11-2005
Văn học- Nghệ thuật dân gian
Sử thi Gia Lai chính thức được biết đến khi cuốn sách H’mon Đăm Noi
sưu tầm ở người Ba Na (Kông Chro) được công bố năm 1982 Đây là một trong những di sản văn học dân gian đặc sắc nhất của cư dân tại chỗ ở Gia Lai: ”Sử thi là đỉnh cao của sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật Tây Nguyên” [18, tr.198] Đến nay đã thêm nhiều sử thi khác của người Ba Na được tìm thấy và công bố như:
Sử thi Ba Na Konkđeh tập 1, Hơamon Dyông Dư, Hơamon Atâu So Hle Kơne
Trang 37Gơseng, Hơamon Bia Brâu, Hơmon Diơ hao jrang… và được các cấp chính quyền địa phương và ngành chức năng gìn giữ, phát huy giá trị Hầu hết các sử thi đều được biên dịch và xuất bản song ngữ Trong đó số lượng sử thi của
người Ba Na (hơmon) nhiều hơn hẳn so với số lượng sử thi của người Gia Rai (akhan hay hri)
Ngoài ra văn hóa dân gian các tộc người Gia Lai còn được làm phong phú thêm bởi các truyện cổ, truyện thơ, ca dao, dân ca, câu đố… với hình ảnh tượng trưng là các con vật thông minh, hóm hỉnh và một kết thúc có hậu dành cho những nhân vật hiền lành, tốt bụng Điều đó đã phản ảnh khá toàn diện về sự tồn tại và phát triển của cộng đồng người đầy tính nhân văn sâu sắc của các dân tộc Gia Lai
Nghệ thuật dân gian Gia Lai có nhiều loại hình như: làm con rối; trang trí
nhà mồ, nhà rông, các điệu múa truyền thống… đặc biệt điêu khắc gỗ là một nghệ thuật độc đáo và nổi bật của các vùng Tây Nguyên được hâm mộ và ca ngợi nhất Ðó là sự kết hợp giữa trang trí và hội hoạ… mang đậm phong cách dân gian và đầy tính nhân văn cao cả: “có tượng ngồi ôm mặt khóc đặt quanh
mả, tượng đàn ông hoặc đàn bà đội mâm thức ăn dâng cho người chết, tượng người đàn ông búi tóc đánh trống, tượng phụ nữ giã gạo, tượng người đóng khố cưỡi voi được chế tác bằng công cụ sản xuất đơn giản thông dụng trong lao động hằng ngày của địa phương như, rìu, rựa, dao” [5, tr.100] Mỗi tộc người ở mỗi vùng Tây Nguyên có phong cách trang trí khác nhau, có thể chia thành 2 nhánh: trang trí ở các dân tộc Bắc Tây Nguyên và trang trí ở các dân tộc Nam Tây Nguyên Nhưng nhìn chung, các trang trí này từ dạng đơn giản (khắc chìm trên thân nỏ, cán rìu, chuôi dao, ống đựng tên, tẩu thuốc) đến phức tạp hơn là trên cột nhà, cầu thang, mái nhà, hiên, quá giang, nhà mồ) Mái (từ lưng chừng mái trở lên) cũng là một không gian rất quan trọng, không gian thần linh, nơi định vị bàn thờ, bao che toàn bộ phần kết cấu và thân nhà Ngoài ra, ở các cầu thang, sàn nhà của đồng bào đều có những hình điêu khắc có ý tượng trưng,
Trang 38phản ánh một kiểu tư duy hồn nhiên của người đồng bào dân tộc Gia Lai, phản ánh ước mơ, nguyện vọng về sự phồn vinh, giàu có, ấm no
Trong quá trình phát triển, tỉnh Gia Lai đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, công tác nghiên cứu bản sắc văn hóa các DTTS luôn được tỉnh đầu tư, quan tâm đúng mức trong suốt hơn 30 năm qua Tỉnh đã xuất bản được nhiều công trình có giá trị như : Kỷ yếu nghệ thuật cồng chiêng, hoa văn các dân tộc Gia Rai – Ba Na, nhạc khí dân tộc, nhà mồ và tượng nhà mồ Bắc Tây Nguyên Biên soạn và giảng dạy song ngữ (Việt – Ba Na và Việt – Gia Rai) ở bậc học THPT và các trường dân tộc nội trú Những năm gần đây, tỉnh tiếp tục chỉ đạo biên soạn giáo trình và tổ chức giảng dạy tiếng Gia Rai – Ba Na cho cán bộ công chức trong tỉnh, góp phần quan trọng trong việc duy trì và phát triển ngôn ngữ của các tộc người
Nằm trên địa bàn chiến lược, Gia Lai là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đa dạng về thành phần cư dân và nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc độc đáo của đồng bào các DTTS Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Gia Lai Tuy nhiên, tập quán và tâm lý xã hội của các DTTS cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống vốn đã đầy rẫy những khó khăn của họ Nhiều hộ đồng bào chi tiêu thiếu kế hoạch theo tập quán, sử dụng tiền bạc, lương thực, trâu bò vào những sinh hoạt lễ hội quá dài ngày hoặc bán đất… để mua xe máy, ti vi…khiến họ lại rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo Ngoài ra, tư tưởng bình quân cộng đồng cũng gây trở ngại không nhỏ đối với những chính sách đầu tư cho các đối tượng thuộc diện nghèo đồng thời có nguy cơ triệt tiêu động lực của người lao động [41, tr.13]
Do đó, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá Gia Lai trong thời kỳ mới phải hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc Khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hoá của các dân tộc, giữ gìn, kế thừa, và phát huy những nhân tố tích cực,
Trang 39đồng thời sự cần thiết phải khắc phục những yếu tố lạc hậu, lỗi thời để vươn lên xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc, không còn đói nghèo, lạc hậu
1.3 Thuận lợi và khó khăn của tỉnh Gia Lai trong triển khai nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Điều kiện tự nhiên và xã hội Gia Lai đã tạo cho vùng đất này nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội cũng như quá trình triển khai và thực hiện nhiệm vụ XĐGN trong khu vực đồng bào DTTS của tỉnh
Với điều kiện tự nhiên vừa có những cao nguyên bazan bằng phẳng, rộng lớn xen kẽ núi đồi, lại vừa có những cách đồng giữa núi, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế nông- lâm nghiệp Gia Lai hỗ trợ nhau phát triển Tài nguyên khoáng sản tuy không lớn nhưng khá đa dạng, phong phú tạo điều kiện cho việc phát triển nghành khai khoáng nhỏ, nhất là sản xuất vật liệu xây dựng Tỉnh đã có chính sách ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp có lợi thế so sánh như: công nghiệp điện năng, công nghiệp chế biến nông lâm sản, ưu tiên phát triển những sản phẩm có lợi thế cạnh trạnh và hiệu quả cao như chè, cà phê, cao su,
hồ tiêu… trong đó chú ý kết hợp nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm theo yêu cầu của thị trường để phù hợp với khả năng tham gia của từng cơ sở sản xuất cũng như từng hộ dân ở những vùng khác nhau Hiện nay, tỉnh đã thành lập được các vành đai kinh tế gắn với các thị trấn huyện
lỵ quan trọng Các vùng kinh tế ngày càng được hình thành rõ nét hơn Ở Tây Trường Sơn đã hình thành các vùng cà phê, cao su; Đông Trường Sơn hình thành vùng lúa Ayun Hạ, mía đường Ayun Pa; An khê; điều ở Krông Pa, Kông Chro Thị xã Pleiku được nâng cấp lên thành phố, đang vươn lên làm tốt hơn vai trò trung tâm chính trị- kinh tế- văn hóa của cả tỉnh
Hệ thống giao thông cũng là một trọng những lợi thế của tỉnh Với cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, công trình đường Hồ Chí Minh, hệ thống đường bộ với quốc lộ 14, 19 và hệ thống đường tỉnh, đường huyện, đường hàng không với các chuyến bay đến một số trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, thành
Trang 40phố Hồ Chí Minh… đã tạo cho Gia Lai một lợi thế trong giao lưu kinh tế- xã hội với cả nước cũng như với các tỉnh miền Trung, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia Kết cấu hạ tầng tại các thị trấn cũng được nâng cấp trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của các huyện; là đầu mối giao lưu kinh tế văn hóa xã hội giữa vùng động lực với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS Gia Lai có nguồn nhân lực dồi dào, đó là những cư dân tại chỗ đã thích nghi với điều kiện tự nhiên có tinh thần cố kết cộng đồng, đôn hậu thật thà, yêu người mến khách…cùng với những con người từ khắp mọi miền đất nước đến đây lập nghiệp mang theo lòng nhiệt tình, cần cù, chịu thương, chịu khó, đoàn kết tương trợ lẫn nhau Họ coi vùng đất này là quê hương thứ hai và cùng bộ phận cư dân tại chỗ khai thác, bảo vệ làm giàu cho quê hương mới Đảng bộ Gia Lai đã có những chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở thiểu thủ công nghiệp vùng sâu, vùng xa (cơ khí sửa chữa và công cụ sản xuất) góp phần giải quyết việc làm và nâng cao tay nghề cho người lao động, thu hút lao động tại chỗ, xây dựng đồng bộ chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công
để đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế vùng nông thôn và đồng bào DTTS Công cuộc XĐGN luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, Nhà nước đã ban hành các chính sách đúng đắn và kịp thời trong từng thời kỳ và trong từng giai đoạn phát triển đất nước Chính phủ phê duyệt nhiều chương trình, dự án nhằm huy động nhiều nguồn lực để đẩy nhanh chương trình giảm nghèo Tỉnh ủy đã có nghị quyết chuyên đề về công tác XĐGN, trên cơ sở đó, cấp uỷ Đảng và HĐND các cấp đã có chủ trương và cụ thể hóa bằng những chương trình hành động cho từng thời kỳ để đẩy nhanh tốc độ XĐGN Mặt trận
tổ quốc, hội đoàn thể các cấp xác định rõ vai trò của công tác XĐGN nên đã tích cực vận động các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện chương trình giảm nghèo Đại bộ phận dân cư hiểu rõ tầm quan trọng của công tác giảm nghèo, bản thân từng gia đình đã tự tổ chức sản xuất nâng cao thu nhập vươn lên thoát nghèo
Với những thuận lợi đó, tỉnh Gia Lai đã đạt được một số kết quả quan