Hiện nay, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và những định hướng phát triển kinh tế của Đảng, hầu hết các tỉnh thành trên cả nước cũng đã bắt đầu quá trình CNH, thu hút vốn FDI để phát
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 60 - 22 – 56
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2009
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số : 60 - 22 - 56
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2009
Trang 4BẢN ĐỒ VỊ TRÍ TỈNH BÌNH DƯƠNG
Nguồn: Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Bình Dương(1999), Thủ Dầu Một –
Bình Dương, đất lành chim đậu, Văn Nghệ, Tp HCM
Trang 5BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH BÌNH DƯƠNG
Nguồn:http://photosvietnam.com/photos/binhduong/Binh%20Duong%20Map.jpg
Trang 6NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7MỤC LỤC
Trang DẪN LUẬN 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 3
3 Mục đích, nhiệm vụ 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
6 Các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
7 Những đóng góp của luận văn 7
8 Bố cục luận văn 7
Chương 1: Khái lược về tỉnh Bình Dương và thực trạng công nghiệp Bình Dương (1986 – 1996) 8
1 1 Khái lược về tỉnh Bình Dương 8
1.1.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm hành chính 8
1.1.1.1 Lịch sử hình thành 8
1.1.1.2 Đặc điểm hành chính 10
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 13
1.1.2.1 Vị trí địa lý, địa hình và thổ nhưỡng 13
1.1.2.2 Tài nguyên và khí hậu 161.1.3 Đặc điểm kinh tế – xã hội 21.1.3.1 Đ
Trang 81.3 Thực trạng công nghiệp Bình Dương trước khi tái lập tỉnh
(1986 – 1996) 28
Chương 2 : Đảng bộ Bình Dương lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghiệp (1997 – 2007) 35
2.1 Đảng bộ Bình Dương lãnh đạo phát triển ngành kinh tế công nghiệp (1997 – 2007) 35
2.1.1 Đường lối phát triển công nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá .35
2.1.2 Đảng bộ tỉnh Bình Dương vận dụng đường lối phát triển công nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam(1997 – 2007) 40
2.2 Thành tựu và hạn chế của công nghiệp Bình Dương giai đoạn 1997 – 2007 57
2.2.1 Thành tựu 57
2.2.2 Hạn chế 119
2.3 Một số kiến nghị và kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo phát triển công nghiệp của Đảng bộ Bình Dương giai đoạn 1997 – 2007 125 2.3.1 Một số kiến nghị 125
2.3.1 Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo phát triển công nghiệp của Đảng bộ Bình Dương giai đoạn 1997 – 2007 129
KẾT LUẬN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
PHỤ LỤC 154
Trang 9DẪN LUẬN
1 Lí do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 được Đại hội Đảng lần thứ IX(4/2001) thông qua, Đảng ta đặt mục tiêu “đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[58, tr.159]
Đó cũng là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân ta, đồng thời, mở ra hướng đi mới cho các địa phương tiến hành chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong
đó trọng tâm là phát triển công nghiệp Nghiên cứu CNH để tìm ra những kinh nghiệm thành công, những hạn chế, đưa ra những kiến nghị nhằm phát triển nhanh công nghiệp của từng địa phương, thực hiện mục tiêu định hướng của Đảng là một đề tài sôi động, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong
đó, sự phát triển của công nghiệp tỉnh Bình Dương được coi là một điển hình tiêu biểu cho sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Sự năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã làm nên một điểm sáng trên bản
đồ công nghiệp Việt Nam, sự kiện này cần được nghiên cứu và nhân rộng
Trước kia, khi nhắc tới Bình Dương, chúng ta nghĩ ngay tới một vùng đất miệt vườn của miền Đông Nam Bộ với những vườn cây ăn trái xum xuê hay những rừng cao su, tiêu, điều…bạt ngàn xanh ngát Giờ đây, Bình Dương được biết đến bởi sự phát triển nhanh của nền công nghiệp, bởi sự chuyển mình mạnh mẽ Bình Dương đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong
tứ giác kinh tế, thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Tp HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương) và đang cùng cả nước vươn mình ra biển lớn, bước vào kỷ nguyên CNH – HĐH như mục tiêu của Đảng đề ra
Từ một tỉnh nghèo, lợi thế vốn có là nông nghiệp, Bình Dương đã vươn lên trở thành một tỉnh có ngành công nghiệp phát triển Giá trị công nghiệp năm 2007 chiếm tới 64.4% GDP Tốc độ tăng trưởng công nghiệp trung bình 34.1%/năm Thành tựu đó đã đưa công nghiệp Bình Dương trở thành ngành
Trang 10kinh tế chủ lực, đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng kinh tế, vào thu hút vốn đầu tư, giải quyết việc làm và thu ngân sách của tỉnh
Hiện nay, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và những định hướng phát triển kinh tế của Đảng, hầu hết các tỉnh thành trên cả nước cũng đã bắt đầu quá trình CNH, thu hút vốn FDI để phát triển công nghiệp Điều đó đã tạo ra cho các nhà đầu tư rất nhiều lựa chọn, đồng thời, cũng tạo ra cơ hội CNH cho các địa phương Thế nhưng, Bình Dương vẫn là điểm sáng trong thu hút các
dự án FDI, là một trong năm địa bàn thu hút vốn FDI lớn nhất của cả nước, là một trong 5 địa phương đứng đầu cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp (Tp HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương) và nộp ngân sách Nhà nước hàng năm
So về lợi thế, Bình Dương không phải là một trung tâm kinh tế – chính trị lâu đời như Tp HCM hay Hà Nội, không có bề dầy lịch sử phát triển công nghiệp như Đồng Nai, không có vị trí thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi như
Bà Rịa – Vũng Tàu, nhưng lại đạt được những thành tựu khả quan trong một thời gian ngắn Đó có thể ví như một “sự thần kỳ”, một điển hình về phát triển kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Những nhân tố nào đã khiến công nghiệp tỉnh Bình Dương phát triển nhanh? Sự phát triển đó để lại những kinh nghiệm gì? Còn những hạn chế nào cần khắc phục để Bình Dương phát triển hơn nữa, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Đó là những vấn đề cần được làm sáng tỏ
Trong tình hình “nhà nhà làm công nghiệp” như hiện nay, có những tỉnh đã thành công, có những tỉnh còn đang loay hoay tìm hướng đi cho mình, thì việc một tỉnh thuần nông như Bình Dương đã chuyển mình thành công là một bài học lớn Do vậy, nghiên cứu, tổng kết để tìm ra những kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo phát triển kinh tế, đặc biệt là công nghiệp ở Bình
Trang 11Dương, trở thành một vấn đề cấp thiết, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn
Trong chuyến làm việc tại Bình Dương ngày 10 và 11/9/2005, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh lưu ý “giờ là thời điểm Bình Dương phải bắt đầu chú ý tới chất lượng phát triển” Tổng Bí Thư đã chỉ đạo “Bình Dương cần tổng kết kinh nghiệm, không chỉ cho riêng mình mà cho cả nước khi bước vào ngưỡng cửa công nghiệp hoá, có thể từ thực tiễn nâng lên thành lý luận, góp phần tăng nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung, nên tiếp tục nghiên cứu vị trí, vai trò của mình và biết khai thác các tiềm năng, thu hút trí tuệ, công nghệ hiện đại”[148]
Đó là những lý do mà học viên chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Bình Dương
lãnh đạo phát triển công nghiệp giai đoạn 1997 – 2007” làm luận văn Thạc
sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Qúa trình lãnh đạo phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ 1997 đến 2007”
Nhằm phục vụ cho đối tượng nghiên cứu, chúng tôi còn điểm lại thực trạng công nghiệp của tỉnh Sông Bé từ 1986 đến 1996 làm cơ sơ so sánh
3 Mục đích, nhiệm vụ
- Làm rõ vai trò của Đảng bộ Bình Dương trong việc lãnh đạo phát triển công nghiệp tỉnh nhà giai đoạn 1997 – 2007
Bước đầu tổng kết, rút ra một số kinh nghiệm, đưa ra những kiến nghị nhằm phát triển công nghiệp ở Bình Dương mạnh mẽ và bền vững hơn
Thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ phải giải quyết những vấn
đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu lịch sử hình thành, đặc điểm tự nhiên, kinh tế –
xã hội, qua đó làm rõ những lợi thế của Bình Dương trong việc phát triển
Trang 12công nghiệp, đồng thời điểm lại thực trạng công nghiệp tỉnh Sông Bé giai đoạn 1986 –1996 để làm cơ sở so sánh
Thứ hai, trên cơ sở trình bày những chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về phát triển công nghiệp, luận văn tập trung phân tích các chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ
1997 đến 2007
Thứ ba, làm rõ những thành tựu và hạn chế của công nghiệp Bình Dương từ 1997 đến 2007, qua đó tổng kết những kinh nghiệm, đưa ra những kiến nghị, giúp cho Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Bình Dương có những chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp tỉnh nhà mạnh mẽ và bền vững trong những năm tiếp theo
1986 đến trước khi tái lập tỉnh
Về lĩnh vực nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu về kinh tế công nghiệp của tỉnh Bình Dương
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bình Dương là một vùng đất được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trên rất nhiều các lĩnh vực, các khía cạnh khoa học Trước giải phóng đã có khá nhiều công trình, luận văn, luận án viết về Bình Dương Trong mấy năm gần đây, khi Bình Dương nổi lên như một điểm sáng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có khá nhiều công trình, sách, báo, chuyên khảo, luận văn, luận án nghiên cứu về Bình Dương
Trang 13Về sách có “Sông Bé – Tiềm năng kinh tế, những triển vọng đầu tư
và du lịch” ra mắt độc giả năm 1992, chủ yếu đề cập đến tiềm năng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gốm sứ, sơn mài…Năm 1995, tập sách “Sông
Bé – Tiềm năng và phát triển”được xuất bản Ngoài việc đề cập những tiềm
năng tập sách trước đã khẳng định, tập sách này còn giới thiệu những tiềm năng công nghiệp và đầu tư, giới thiệu các dự án mời gọi đầu tư, các doanh nghiệp đang hoạt động ở Bình Dương …
Năm 1998, lần đầu tiên Thư viện Bình Dương cho ra mắt tập tài liệu
“Bình Dương – Đất nước – con người” Đây là tập tài liệu sưu tầm các bài
viết về Bình Dương, trong đó có đề cập đến công nghiệp, thu hút đầu tư, các
KCN…Cũng trong năm 1998, cuốn kỷ yếu hội thảo “Thủ Dầu Một – Bình Dương 300 năm hình thành và phát triển” ra mắt độc giả, với nhiều bài
viết của các học giả, các nhà nghiên cứu, các vị lãnh đạo tỉnh Bình Dương đã tham gia hội thảo do Tỉnh uỷ, UBND tổ chức Các bài viết chủ yếu đề cập đến con người, tiềm năng phát triển…
Năm 1999, Sở Văn hoá – Thông tin Bình Dương cho ra mắt cuốn “Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu” Trong đó, dành riêng chương
Năm 2002, Hiệp hội đầu tư và phát triển các doanh nghiệp tỉnh Bình
Dương (BECAMEX) cho ra mắt cuốn sách “Bình Dương thời đổi mới”
Cuốn sách này tập hợp những bài viết của các vị lãnh đạo tỉnh Bình Dương,
và một số tác giả khác viết về Bình Dương đã được đăng trên các báo, tạp chí Tháng 8/2003, Công ty cổ phần Thông tin Kinh tế đối ngoại đã cho ra
mắt độc giả cuốn “Bình Dương – Thế và lực mới trong thế kỷ XXI” Nội
dung chủ yếu của cuốn sách này phản ánh về quá trình phát triển kinh tế – xã hội của Bình Dương trong thời kỳ đổi mới, tổng kết, đúc rút những bài học thành công và cả những vấn đề mới nảy sinh của địa phương
Trang 14Những ấn phẩm kể trên không phải là những công trình chuyên khảo về công nghiệp mà là những công trình tổng hợp, đan xen nhiều mặt từ tự nhiên, con người, văn hoá, kinh tế…
Về luận văn, luận án có: Luận văn thạc sĩ kinh tế của Phạm Văn Sơn
Khanh với đề tài “Thực trạng và giải pháp chiến lược phát triển KCN tỉnh Bình Dương (đến năm 2010), bảo vệ thành công năm 2000 tại trường
Đại học Kinh tế Tp HCM; luận văn thạc sĩ kinh tế của Bùi Minh Trí với đề
tài “Xây dựng giải pháp phát triển các KCN Bình Dương đến năm 2010” bảo vệ thành công năm 2002 tại trường Đại học Kinh tế Tp HCM
Năm 2005, có 3 luận văn viết về Bình Dương bảo vệ thành công tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM, đó là: Luận văn của
Huỳnh Đức Thiện với đề tài “Qúa trình hình thành và phát triển các KCN
ở tỉnh Bình Dương (1993 – 2003)”; luận văn của Nguyễn Văn Hiệp với đề tài “Những chuyển biến về kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương 1986 – 2005”, luận văn được phát triển thành luận án Tiến sỹ, bảo vệ thành công năm 2007; luận văn của Nguyễn Thị Nga với đề tài “Sự phát triển của công nghiệp Bình Dương trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 2003”
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết, công trình, luận văn viết về Bình Dương, chúng tôi xin phép được trình bày ở phần tài liệu tham khảo
Nhìn chung, các công trình viết về Bình Dương mà học viên đã tiếp
cận, chưa có công trình nào nghiên cứu về “Quá trình lãnh đạo phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997 – 2007”
Trong quá trình nghiên cứu, ngoài việc tham khảo những tài liệu gốc trình bày ở phần các nguồn tư liệu, chúng tôi xin phép được kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước
6 Các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
6.1 Các nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu gốc luận văn sử dụng để nghiên cứu là:
Trang 15Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ tỉnh Bình Dương
về phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn 1997 – 2007
Báo cáo tổng kết của UBND tỉnh Sông Bé, UBND tỉnh Bình Dương, Ban quản lý các KCN, Sở Công nghiệp Bình Dương…
Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương, tỉnh Sông Bé, từ 1986 đến nay Ngoài ra, để hoàn thành luận văn, học viên cũng tham khảo sách, báo, tạp chí, chuyên khảo, luận văn, luận án có liên quan đến đề tài, được nêu trong phần tài liệu tham khảo
Để có tài liệu hoàn thành luận văn, học viên đã trực tiếp liên hệ những nơi lưu trữ như: các Sở, Ban ngành có liên quan, Văn phòng Tỉnh uỷ, Văn phòng UBND, Ban Tuyên giáo, Phòng nghiên cứu lịch sử Đảng, Trung tâm lưu trữ Bình Dương, các Thư viện… đồng thời, học viên còn đi nghiên cứu điền dã ở các KCN trong tỉnh
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó, hai phương pháp luôn sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu là phương pháp Lịch sử và phương pháp Logic
Ngoài ra, học viên còn sử dụng các phương pháp như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phương pháp liên ngành…để thấy được sự vận động, tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu
7 Những đóng góp của luận văn
Với dung lượng và yêu cầu của một luận văn Thạc sỹ, đề tài của chúng tôi mong muốn làm sáng tỏ hơn những nội dung sau:
Vai trò của Đảng bộ tỉnh Bình Dương đối với sự phát triển công nghiệp của Bình Dương từ 1997 đến 2007
Tổng kết những kinh nghiệm, chỉ ra những hạn chế, kiến nghị một số giải pháp giúp cho Đảng bộ tỉnh Bình Dương có những chủ trương, chính
Trang 16sách đúng đắn trong lãnh đạo phát triển công nghiệp Các Đảng bộ khác cũng
có thể tham khảo kinh nghiệm của Bình Dương để có chủ trương phù hợp với địa phương mình
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những nhà
8 Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được bố cục thành 2 chương, 5 tiết
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG (1986 – 1996)
1.1 Khái lược về tỉnh Bình Dương
1.1.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm hành chính
1.1.1.1 Lịch sử hình thành
Cùng với Đồng Nai và Tp HCM, Bình Dương cũng đã hơn 300 năm tuổi, tính từ khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý lập nên Phủ Gia Định năm 1698 đến nay(2007) Thời gian và những biến động chính trị khiến cho địa lý hành chính của Bình Dương có nhiều thay đổi
Dưới thời các chúa Nguyễn, Bình Dương là vùng đất thuộc tổng Bình
An, tỉnh Biên Hòa Năm Gia Long thứ 2(1803), tổng Bình An được nâng lên thành huyện Bình An, gồm có 10 tổng Địa bàn của huyện nằm trên các vùng đất: Bến Cát, Dầu Tiếng, Lộc Ninh, Lái Thiêu, Hớn Quản và một phần đất của huyện Ngãi An(Thủ Đức), huyện lỵ đặt tại Phú Cường Năm 1837, huyện Bình An được chia thành hai huyện là Bình An(Thủ Dầu Một) và Ngãi An(Thủ Đức)
Năm 1867, bằng nhiều thủ đoạn, Pháp đã chiếm được Nam Kỳ lục tỉnh Đến 1876, Pháp chia vùng đất này thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu
Trang 17vực lại chia ra làm các tiểu khu (có khoảng 20 tiểu khu) Thủ Dầu Một là một trong 5 tiểu khu trực thuộc khu hành chính lớn Sài Gòn
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Pháp đổi tiểu khu thành tỉnh, tiểu khu Thủ Dầu Một được đổi thành tỉnh Thủ Dầu Một Về vị trí địa lý, tỉnh Thủ Dầu Một nằm trên tả ngạn sông Sài Gòn và trên địa phận của huyện Bình An trước đây cộng thêm với tổng Dương Hòa Hạ(vùng Dầu Tiếng ngày nay)
Ngày 22 tháng 10 năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra sắc lệnh 143–NV, trong đó có việc giải thể tỉnh Thủ Dầu Một để thành lập 2 tỉnh Bình Dương, Bình Long và một số xã nhập vào tỉnh Phước Long Bình Dương trở thành một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập Tỉnh lị đặt tại Thủ Dầu Một, nhưng được đổi thành Phú Cường Tỉnh Bình Dương bao gồm 5 quận, 10 tổng, 60 xã (ngày 30/8/1957):
Quận Châu Thành, có 3 tổng là Bình Điền, Bình Phú, Bình Thiện; quận
lỵ đặt tại Phú Cường
Quận Lái Thiêu, có 1 tổng là Bình Chánh; quận lị đặt tại Tân Thới Quận Bến Cát, có 2 tổng là Bình An, Bình Hưng; quận lỵ đặt tại Mỹ Phước
Quận Dầu Tiếng, có 1 tổng là Bình Thạnh Thượng; quận lỵ đặt tại Định Thành
Quận Củ Chi, có 3 tổng là Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung, Long Tuy Thượng; quận lị đặt tại Tân An Hội Quận Củ Chi trước đây thuộc tỉnh Gia Định, đến năm 1963 chuyển sang tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập
Năm 1959, chính quyền Sài Gòn cắt một phần đất của Bình Dương, cùng với phần đất của 2 tỉnh Biên Hòa và Phước Long lập ra tỉnh Phước Thành Tỉnh này tồn tại đến năm 1965 thì giải thể
Về phía cách mạng, tháng 5/1951, do yêu cầu thống nhất chỉ đạo chiến trường, tỉnh Thủ Dầu Một được nhập với tỉnh Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên,
Trang 18đến tháng 1 năm 1955, chia tách lại như cũ Tháng 9/ 1960, hai tỉnh này được sát nhập lần thứ 2, đến tháng 6/1961 chia tách và thành lập thêm 2 tỉnh mới là Bình Long và Phước Long
Năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Trung ương cục quyết định thành lập 5 phân khu Thủ Dầu Một nằm trong phân khu 5, một phần (Bến Cát, Dầu Tiếng) thuộc phân khu 1 Tháng 5/1971, phân khu 5 giải thể thay vào đó là phân khu Thủ Biên Ngày 30/8/1972, Thường vụ Trung ương cục ra chỉ thị 08/CT giải thể các phân khu
và lập lại các tỉnh Tỉnh Thủ Dầu Một được tái lập 2 tháng sau đó
Ngày 20/9/1975, Trung ương cục ra quyết định số 16/QĐ.75 giải thể các khu và phân khu, thành lập lại các tỉnh Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập trên cơ sở sát nhập Thủ Dầu Một với 2 tỉnh Bình Long và Phước Long
Ngày 02/7/1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hợp nhất tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước (gồm hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũ) cùng với 4 xã của Thủ Đức là Bình An, An Bình, Đông Hòa, Tân Đông Hiệp thành tỉnh Sông Bé Tỉnh Sông Bé gồm có 9 huyện, thị là Bình Long, Phước Long, Tân Uyên, Bù Đăng, Lộc Ninh, Đồng Phú, Bến Cát, Thuận An và thị xã Thủ Dầu Một
Ngày 6/11/1996, Quốc hội ra Nghị quyết tách 8 tỉnh, trong đó có Sông
Bé Tỉnh Sông Bé được tách ra thành 2 tỉnh là Bình Dương và Bình Phước Ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Dương chính thức được tái lập với diện tích 2,718.5 km², dân số 646,317 người (tính cả 4 xã và thị trấn của huyện Đồng Phú của tỉnh Bình Phước chuyển sang), gồm thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An
“Tháng 8 năm 1999, thực hiện Nghị định số 58/CP của Chính phủ, Bình Dương tái lập 3 huyện và thành lập thêm 2 xã mới”[53, tr 8] Cơ cấu hành chính của tỉnh Bình Dương lúc này “gồm 7 huyện, thị, 79 xã, phường, thị trấn”[53, tr 8]
Trang 19Trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, đến năm 1999, địa giới hành chính Bình Dương mới cơ bản ổn định Đó cũng chính là một yếu tố để Bình Dương vững bước trên con đường đổi mới
1.1.1.2 Đặc điểm hành chính
Theo Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương đến năm 2007, Bình Dương
có 01 thị xã, 6 huyện, 88 xã, phường, thị trấn Tỉnh lỵ là thị xã Thủ Dầu Một – trung tâm hành chính – kinh tế – văn hoá của tỉnh Bình Dương
Thị xã Thủ Dầu Một– trung tâm tỉnh lỵ của Bình Dương, có diện tích
hành chính cấp xã, phường (năm 2007 gồm có 6 xã và 6 phường) Đây là đô thị loại bốn, nằm trong chùm đô thị của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Với vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao lưu với các huyện trong tỉnh và cả nước qua QL 13, đường Bắc – Nam, cách Tp HCM 30 km, Thủ Dầu Một đã
và đang chuyển biến sâu rộng trong các mặt kinh tế – xã hội góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh
Huyện Thuận An với trung tâm là thị trấn Lái Thiêu nổi tiếng về gốm
liệu năm 2007), gồm 8 xã và 2 thị trấn Là huyện phía Nam của tỉnh Bình Dương, Thuận An tiếp giáp với quận Thủ Đức và quận 12 của Tp HCM, được coi là địa bàn trọng điểm để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ và nông nghiêp Đồng thời cũng là huyện đi đầu trong sự nghiệp CNH của tỉnh với các KCN như VSIP I, Việt Hương…
Huyện Dĩ An nằm ở trung tâm khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp 2 thành phố công nghiệp lớn là Biên Hòa và Tp HCM, gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và cụm cảng Sài Gòn, có ga xe lửa Dĩ An, Sóng Thần
và đường QL 1A đi qua Do đó, Dĩ An có đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội, nhất là phát triển công nghiệp, dịch vụ Đây cũng là huyện đi đầu trong phát triển công nghiệp của Bình Dương với 5 KCN đã đi
Trang 20vào hoạt động Diện tích tự nhiên của huyện là 60.10km2, dân số 185,422 người (số liệu năm 2007), gồm có 6 xã, 1 thị trấn
Huyện Bến Cát nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam của
tỉnh Bình Dương, gồm có 15 đơn vị hành chính cấp xã (14 xã và 1 thị trấn),
Trung tâm huyện cách thị xã Thủ Dầu Một 20km, cách Tp HCM khoảng 50km, có QL 13 đi qua với bề rộng mặt đường 6 làn xe Trên địa bàn huyện
có trữ lượng lớn khoáng sản phi kim loại như: cao lanh, đất sét, đất làm gạch ngói, sỏi đỏ; nguồn nước mặt và nước ngầm phong phú với 2 con sông Sài Gòn và Thị Tính chảy qua Hệ thống giao thông đường thuỷ, đường bộ phát triển, nối liền các tỉnh trong vùng và Tp HCM Bến Cát còn có tiềm năng lớn
về đất đai để phát triển trồng trọt các loại cây công nghiệp, cây ăn trái và quy hoạch xây dựng các KCN, cụm công nghiệp, là tiền đề thuận lợi để phát triển sản xuất công nghiệp Hiện nay, Bến Cát đang trong quá trình CNH mạnh mẽ với nhiều KCN đã triển khai xây dựng và đi vào hoạt động như Mỹ Phước I,
II, III, An Điền, Rạch Bắp, Thới Hòa, Việt Hương II Tốc độ đô thị hóa diễn
ra khá nhanh, làm thay đổi bộ mặt của một vùng đất vốn trước đây là căn cứ cách mạng với những thảm rừng bạt ngàn
Huyện Tân Uyêncó diện tích tự nhiên là 613.44 km2, nằm về phía Đông Nam tỉnh Bình Dương, bao gồm 20 xã và 2 thị trấn, dân số năm 2007 là 162,586 người Đây là vùng đất gắn với lịch sử của chiến khu Đ anh hùng, nay cũng đang chuyển mình mạnh mẽ Tân Uyên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như công nghiệp, dịch vụ, như: đất đai mầu
mỡ, giầu khoáng sản như; đất sét, cao lanh… Tân Uyên cũng đang trong quá trình CNH mạnh mẽ, với sự hình thành các khu, cụm công nghiệp như Thái Hòa, Nam Tân Uyên, Đất Cuốc
Huyện Phú Giáo nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, cách thị xã Thủ Dầu
Trang 21bão lụt ít xảy ra nên rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp, nhất là các loại cây công nghiệp dài ngày Trong đó, nông nghiệp được coi là ngành kinh
tế mũi nhọn, là nền tảng để huyện phát triển đi lên Cơ cấu kinh tế được xác định là nông nghiệp – công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – thương mại dịch
vụ, tỷ trọng tương ứng năm 2001 là: 71.8% – 15% – 13.2%
Huyện Dầu Tiếng có diện tích 721.39 km2, dân số năm 2007 là 101,661 người, gồm có 11 xã, 1 thị trấn Với lợi thế khí hậu ổn định, đất đai màu mỡ và nguồn lao động khá dồi dào, huyện Dầu Tiếng đã phát triển kinh
tế theo hướng lấy nông nghiệp làm trọng tâm, nhất là các cây công nghiệp dài ngày như cao su và các loại cây ăn trái lâu năm khác, gắn trồng trọt với chăn nuôi để đạt hiệu quả kinh tế cao Tổng diện tích gieo trồng hằng năm là 6,287.56 ha Riêng cây cao su, được xác định là cây kinh tế chiến lược hàng đầu, nên huyện chủ trương tăng diện tích trồng lên trên 42 ngàn ha, sản lượng bình quân khoảng 35 ngàn tấn mủ/năm, vừa cung cấp mủ cho các nhà máy chế biến, vừa cung cấp gỗ nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ Ngoài ra, huyện còn có gần 14 ngàn ha cây ăn trái
Về tiềm năng du lịch, huyện có hồ Dầu Tiếng với diện tích 2,560 ha, có
phòng hộ Đây là điều kiện lý tưởng để huyện phát triển kinh tế du lịch sinh thái và dịch vụ, tạo thu nhập đáng kể cho ngân sách địa phương
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1 Vị trí địa lý, địa hình và thổ nhưỡng
Vị trí địa lý
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, được thành lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở chia tách tỉnh Sông Bé, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX ngày
diện tích cả nước và xếp thứ 42/63 về diện tích tự nhiên) “Vị trí trung tâm
Trang 22của tỉnh ở vào tọa độ địa dư 10050’27” – 11024’32” vĩ độ Bắc, 106020’ –
“Xét về vị trí địa lý, Bình Dương nằm lọt vào giữa vùng Đông Nam Bộ: Bắc giáp tỉnh Bình Phước, Nam giáp Tp HCM, Đông giáp tỉnh Đồng Nai, còn Tây giáp tỉnh Tây Ninh”[124, tr.249 ] và Tp HCM Trung tâm tỉnh
là thị xã Thủ Dầu Một “chỉ cách Tp HCM có 30 km, gần đến nỗi việc đi lại giữa hai nơi có cảm giác như chẳng phải là liên tỉnh, mà là nội tỉnh” [124, tr.249 ]
Bình Dương có một vị trí thuận lợi, cách sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn 30 km về phía Nam, cách cảng biển Vũng Tàu hơn 100km, sân bay mới Long Thành hơn 60 km và nằm trên các trục giao thông quan trọng của vùng cũng như của cả nước Trong đó phải kể đến: QL 1A; đường sắt Bắc – Nam chạy qua địa bàn huyện Dĩ An; QL 13 nối Tp HCM với Bình Phước, lên biên giới Campuchia, Thái Lan, chạy dọc theo chiều dài của tỉnh, được nâng cấp với 6 làn xe chạy, là con đường huyết mạch của tỉnh; QL 14 đi các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên cũng đang được nâng cấp mở rộng; dự án đường sắt xuyên Á tương lai cũng chạy qua tỉnh Bình Dương
Ngoài ra, Bình Dương còn có “hệ thống đường ô tô phân bố theo kiểu nan quạt từ Thủ Dầu Một tới tất cả các xã, các vùng, gắn các huyện với tỉnh
lỵ, nông thôn với đô thị” [124, tr.249 ] Trong đó phải kể đến: liên tỉnh lộ 1A nối Thủ Dầu Một với Phước Long; liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phú Giáo…Hệ thống đường nội tỉnh cũng được chú ý đầu tư xây dựng, đảm bảo cho ô tô đến được 100% số xã trong tỉnh
Bình Dương còn có 2 ga hàng hóa đường sắt là ga Sóng Thần và ga Dĩ
Tho để chuyên chở hàng hóa, trái cây từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ về các tỉnh miền Đông Nam Bộ
Trang 23Các sông lớn chảy qua Bình Dương như: Sài Gòn, Đồng Nai, Sông Bé
và các chi lưu, tạo nên một mạng lưới giao thông thủy thuận tiện, nhờ đó,
“Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía Nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long” [3, tr.14] Đó cũng là lợi thế để Bình Dương phát triển giao thông đường thủy trên cơ sở các cảng sông như; Bà Lụa, Bình An và bến Lái Thiêu Ngoài ra, các con sông trên còn cung cấp một
và sản xuất Vị trí địa lý này đã tạo cho Bình Dương những lợi thế để phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp
Địa hình
Bình Dương nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung
Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, nên địa hình tương đối bằng phẳng, có nhiều sông suối và hồ nhỏ Dạng địa hình chủ yếu là những đồi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù
sa cổ nối tiếp nhau với độ cao trung bình 20 – 25m so với mặt biển, độ dốc từ
Giữa địa hình bằng phẳng cũng có một vài đồi núi thấp nhô lên như: núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m; núi Ông cao 284.6m; núi La Tha cao 198m;
Từ phía Nam lên phía Bắc, theo độ cao có các vùng địa hình:
Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, Sài Gòn và sông Bé Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, trung bình cao từ 6 đến 10m so với mặt biển
Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp vùng thung lũng bãi bồi, địa
với mặt biển
Trang 24Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu, nằm trên các nền phù sa cổ,
Với địa hình cao trung bình từ 6 – 60m so với mặt biển, trừ một vài vùng thung lũng dọc sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, đất đai ở Bình Dương ít
bị lũ lụt, ngập úng
Tóm lại “địa hình Bình Dương tương đối bằng phẳng, nền địa chất ổn định vững chắc, vắng hẳn một số suối sâu , đèo cao như một số tỉnh khác nên rất thuận tiện cho việc phát triển các công trình công nghiệp và giao thông vận tải, tạo điều kiện cho Bình Dương nối với các tỉnh bạn trong hệ thống giao thông xuyên Việt và xuyên Á trong tương lai[119, tr.32]
Thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 269,522 ha Trong đó đất ở: 7,690 ha, đất nông nghiệp: 203,743 ha, đất lâm nghiệp: 12,534 ha, đất chuyên dùng: 31,325 ha, đất chưa sử dụng: 792 ha, còn lại là các loại đất khác(số liệu năm 2007) Các nhà thổ nhưỡng đã tìm thấy ở Bình Dương 7 nhóm đất chính, nhưng chủ yếu là đất xám và đất đỏ vàng thuộc loại phù sa cổ, “tất nhiên kém phì nhiêu hơn loại phù sa mới của đồng bằng châu thổ, nhưng khả năng thoát nước lại tốt hơn”[124, tr.249], độ chịu nén cao (2kg/cm²)
Theo kết quả tổng điều tra đất năm 2000, hai loại đất này chiếm 76.5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trong đó, đất xám chiếm 52.45% diện tích tự nhiên, đất đỏ vàng 24%, đất dốc tụ 12.09%, đất phù sa 5.79%, các loại đất khác chiếm tỷ lệ không đáng kể
Điều kiện thổ nhưỡng của Bình Dương rất thích hợp với việc trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và phù hợp với việc phát triển công nghiệp,
1.1.2.2 Tài nguyên và khí hậu
Tài nguyên
Trang 25– Tài nguyên khoáng sản
“Bình Dương là tỉnh giàu về của “chìm”, ít nhất là so với các tỉnh khác
ở Nam Bộ”[ 119, tr.39] Trải qua hơn 2 trăm triệu năm với các hoạt động kiến tạo, phong hóa, xâm thực, bào mòn, rửa trôi, lắng đọng, tích tụ, phun trào của núi lửa đã làm lắng đọng lại trong lòng đất Bình Dương một trữ lượng khoáng sản tương đối đa dạng, nhất là khoáng sản phi kim loại có nguồn gốc magma, trầm tích và phong hoá đặc thù Đây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho những ngành công nghiệp truyền thống của tỉnh như; gốm sứ, vật liệu xây dựng, khai khoáng…
Kết quả thăm dò địa chất ở 82 vùng mỏ lớn nhỏ cho thấy, Bình Dương
có 9 loại khoáng sản, trữ lượng lớn nhất là: caolanh; sét; các loại đá xây dựng (gồm đá phun trào andezit, đá granit và đá cát kết); cát xây dựng; cuội sỏi; than bùn
Thị Tính với trữ lượng khoảng trên 3,000,000 tấn, nhiệt lượng thấp, tro cao,
do đó thích hợp cho việc chế biến phân bón vi sinh hơn là dùng làm chất đốt
– Cao lanh: Có 23 vùng mỏ, với tiềm năng từ 300 – 320 triệu tấn, có 15 vùng mỏ đang được khai thác, cung cấp nguyên liệu cho ngành gốm sứ và làm chất phụ gia công nghiệp cho các cơ sở sản xuất trong và ngoài tỉnh Những mỏ có trữ lượng lớn là Đất Cuốc, Chánh Lưu, Bình Hoà Cao lanh Bình Dương có chất lượng trung bình do hàm lượng sắt cao, hàm lượng nhôm thấp
Dương có nguồn gốc từ trầm tích và phong hoá, phần lớn có chất lượng tốt được phân bố nhiều nơi trong tỉnh
Trang 26Sét thường được dùng để sản xuất gạch ngói thông thường và các loại sản phẩm có giá trị cao hơn như; gạch ngói trang trí, gạch lát sàn, bột màu, làm phối liệu cho ngành gốm sứ, chất độn cho nhiều ngành sản xuất khác.
Hiện có một số doanh nghiệp khai thác ở quy mô công nghiệp tại các
mỏ Mỹ Phước, Tân Phước Khánh, Phước Thái, Khánh Bình bên cạnh đó vẫn còn phổ biến khai thác nhỏ, khai thác tận thu trong dân
và có thể phát hiện thêm ở một số nơi khác Đá xây kết trong hệ tầng Dray Linh đã được thăm dò và khai thác ở Tân Uyên
khu vực cù lao Rùa, cù lao Bình Chánh Trong đó, 20% có thể dùng cho xây dựng, 80% dùng cho san nền
– Tài nguyên rừng:
Do ảnh hưởng của chiến tranh và việc khai thác bừa bãi sau ngày miền Nam giải phóng nên những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn ven các QL, đường giao thông lớn không còn nữa, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp
lớn nhất là rừng phòng hộ núi Cậu với 3,905 ha Rừng tự nhiên hiện còn chủ yếu là rừng non tái sinh, phân bố rải rác ở phía Bắc tỉnh, chưa đáp ứng được vai trò bảo vệ môi trường, phòng hộ và cung cấp lâm sản
Do tích cực trồng rừng tập trung và trồng cây phân tán trong nhân dân, phủ xanh đất trống đồi trọc bằng cây lâm nghiệp và cây công nghiệp dài ngày, đến năm 2006, độ che phủ của tỉnh đạt tỷ lệ 54.5% diện tích
– Tài nguyên nước
Trang 27Nước mặt, có 3 sông chính thuộc hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai
chảy qua địa phận tỉnh Bình Dương:
Sông Bé dài 350km, bắt nguồn từ vùng núi phía tây của Nam Tây
Bình Phước, phần hạ lưu chảy qua Phú Giáo dài khoảng 80km rồi đổ vào sông Đồng Nai
Do lòng sông hẹp, lưu lượng dòng chảy không đều, mùa khô kiệt nước, mùa mưa nước chảy xiết, nên ít có giá trị về giao thông vận tải, nhưng có giá trị về thủy lợi trên một số nhánh phụ lưu như suối Giai đồng thời là nguồn
bổ sung nước ngầm cho vùng phía Bắc của tỉnh
Sông Đồng Nai dài 635km, diện tích lưu vực 44.100km2, tổng lượng
nguyên Lang Biang, ở độ cao 1,700m, chảy qua địa phận các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Tp HCM Đoạn sông chảy qua địa phận Bình
độ dốc 4.6% Sông Đồng Nai có giá trị lớn về giao thông vận tải, khoáng sản, cung cấp nước cho KCN, đô thị, du lịch, sản xuất nông nghiệp
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ Campuchia, chảy qua vùng đồi núi phía
Tây Bắc huyện Lộc Ninh (Bình Phước) ở cao độ 200 – 250m, với chiều dài
từ Dầu Tiếng đến Lái Thiêu dài 143km Ở thượng lưu sông hẹp, nhưng đến Dầu Tiếng, sông mở rộng 100m và đến thị xã Thủ Dầu Một là 200m Với lưu lượng bình quân 85m/s, độ dốc 0.7%, nên sông Sài Gòn có nhiều giá trị về vận tải, nông nghiệp, thủy sản và du lịch sinh thái
Ngoài ra còn có sông Thị Tính (chi lưu của sông Sài Gòn), rạch Bà Lô,
Bà Hiệp, Vĩnh Bình, rạch cầu Ông Cộ Mật độ kênh rạch trong tỉnh từ 0.4 –
Trang 28sông suối lớn, còn kênh rạch ở vùng cao có mực nước thấp, thường khô kiệt vào mùa khô, ảnh hưởng tới cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
Bình Phước với diện tích mặt nước là 27,000 ha, 45.6 km² đất nửa ngập nước, dung tích chứa 1.58 tỷ m³ Đây là hồ nhân tạo lớn hàng thứ ba trên cả nước
cả nước Hồ được khởi công xây dựng ngày 29/4/1981, hoàn thành vào ngày 10/1/1985, vừa có giá trị thủy lợi, vừa là nguồn cung cấp nước dồi dào cho sinh hoạt và sản xuất không chỉ cho Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước mà
cả Tp HCM
Với hệ thống kênh rạch chằng chịt, Bình Dương có tiềm năng nước mặt khá dồi dào, nhưng do chịu ảnh hưởng của chế độ mưa và chế độ gió mùa nên dòng chảy mặt cũng phân theo hai mùa: mùa lũ và mùa kiệt Đây là một vấn
đề bất lợi cho việc sử dụng nguồn nước mặt phục vụ sinh hoạt và phát triển sản xuất của tỉnh
Nước ngầm: Bình Dương “có nguồn nước ngầm với trữ lượng lớn,
chất lượng tốt và dễ khai thác đem lại lợi thế to lớn cho nền kinh tế công nông nghiệp cũng như cho sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh”[119, tr.38] Nước ngầm ở Bình Dương tồn tại dưới 2 dạng là lỗ hổng và khe nứt, luôn được bổ sung và chia làm 3 khu vực:
Khu vực giàu nước ngầm phân bố ở phía Tây huyện Bến Cát đến sông Sài Gòn, có những điểm ở Thanh Tuyền mực nước có thể đạt đến 250l/s Khả năng tàng trữ và vận động nước tốt, tầng chứa nước dày từ 15–20m
Khu giàu nước trung bình phân bố ở huyện Thuận An (trừ vùng trũng phèn), với bề dày tầng chứa nước từ 10 – 12m
Trang 29Khu nghèo nước phân bố ở vùng Đông và Đông Bắc Thủ Dầu Một và rải rác các thung lũng ven sông Sài Gòn, Đồng Nai thuộc trầm tích đệ tứ Lưu lượng giếng đào là 0.05 – 0.40l/s thường gặp là 0.1 – 0.2l/s
Khí hậu
Khí hậu Bình Dương mang đặc điểm nhiệt đới cận xích đạo, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 – 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau
Mùa mưa ở Bình Dương thường đến sớm hơn, lượng mưa cao hơn, trung bình hàng năm từ 1,800 – 2,000mm Số ngày có mưa là 120 ngày Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335mm, năm cao nhất có khi lên đến 500mm Tháng ít mưa nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa
năm lên tới 2,700 giờ
Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão
và áp thấp nhiệt đới Mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông – Bắc Mùa mưa gió thịnh hành chủ yếu là hướng Tây, Tây – Nam Tốc độ gió bình quân khoảng 0.7m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s, thường là Tây, Tây – Nam
Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80–90% và biến đổi theo mùa Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây Nam trong mùa mưa Do đó, độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa Độ ẩm trong năm ít biến động
Với khí hậu nhiệt đới mang tính cận xích đạo, nền nhiệt độ cao quanh năm, độ ẩm cao và nguồn ánh sáng dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp Khí hậu Bình Dương tương đối
Trang 30hiền hoà, ít thiên tai như bão, lụt cũng là một lợi thế cho phát triển công nghiệp, dịch vụ.
1.1.3 Đặc điểm kinh tế – xã hội
1.1.3.1 Đặc điểm kinh tế
Cũng như bao vùng đất khác, xuất phát điểm của Bình Dương là một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước Tuy nhiên, với địa hình lượn sóng, đất đai Bình Dương có nhiều gò đồi thấp, cộng với loại đất chủ yếu là đất phù sa cổ, nên từ rất sớm ở Bình Dương đã hình thành loại hình kinh tế vườn, trồng các loại hoa màu và cây ăn trái Loại hình kinh tế này lúc đầu mang tính phụ trợ cho kinh tế nông nghiệp lúa nước, nhưng dần dần đã vượt qua tính tự cấp, tự túc, trở thành nhân tố đầu tiên cho việc hình thành thị trường buôn bán trao đổi giữa Bình Dương và các vùng lân cận
Bên cạnh lợi thế về nông nghiệp, Bình Dương còn có lợi thế về thủ công nghiệp Với các nguồn tài nguyên phong phú như cao lanh, đất sét và nguồn gỗ phong phú từ rừng nhiệt đới, nghề thủ công ở Bình Dương sớm xuất hiện và ngày càng phát triển, hình thành các làng nghề thủ công truyền thống như; gốm sứ, mộc, điêu khắc gỗ, sơn mài Ngay đầu thời Pháp thuộc, các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài, điêu khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế và xuất khẩu sang Pháp cũng như nhiều nước trong khu vực Đây là một tiền đề quan trọng để Bình Dương phát triển công nghiệp cũng như hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Vì vậy, sau khi thôn tính xong 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ, ngoài việc lập các đồn điền trồng cao su, cà phê…ở Bình Dương, thực dân Pháp còn cho
nghề nhằm làm ra những sản phẩm thủ công phục vụ xuất khẩu Hệ thống giao thông cũng được thực dân Pháp đầu tư mở rộng Các nhà máy chế biến sản phẩm từ nông nghiệp cũng được đầu tư xây dựng
Trang 31
Mặc dù chưa hình thành một cách rõ nét nhưng từ 1862 đến 1945, cùng với sự phát triển mạnh của nông nghiệp đồn điền, thủ công nghiệp, các cơ sở công nghiệp ở Bình Dương cũng đã xuất hiện và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế thuộc địa của tỉnh
So với nhiều vùng trong cả nước, kinh tế công nghiệp ở Bình Dương xuất hiện khá sớm, dù đó chỉ là một nền công nghiệp thuộc địa, với những cơ
sở nhỏ lẻ Nhưng qua đó, phần nào thấy được tiềm năng công nghiệp của Bình Dương mà chính người Pháp đã sớm nhận ra
Giai đoạn 1954 – 1975, cơ cấu kinh tế miền Nam cũng như Bình Dương vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp Công nghiệp có bước phát triển nhưng chủ yếu là công nghiệp phục vụ chiến tranh Lợi thế của Bình Dương vẫn là những đồn điền cao su, mía, tiêu, điều các vườn cây ăn trái và những xí nghiệp, nhà máy chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp
Sở dĩ như vậy là do “các nhà đầu tư trong, ngoài nước không dám mạnh dạn đầu tư vào một nước mà ở đó chiến tranh diễn ra liên miên Vì vậy, chỉ những ngành công nghiệp phục vụ nhu cầu chiến tranh mới có điều kiện phát triển Cơ cấu ngành công nghiệp bị biến dạng[77, tr.161]
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất(1957–1961) cũng như kế hoạch
5 năm lần thứ 2 (1962–1966), chính quyền Sài Gòn chủ trương phát triển các ngành công nghiệp ngắn hạn, có lợi nhanh Khi đế quốc Mỹ
mở rộng quy mô chiến tranh, khối lượng viện trợ hàng hóa của đế quốc
Mỹ tăng lên thì chỉ những ngành công nghiệp phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho chiến tranh mới phát triển, các ngành khác không có sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu nên đã suy yếu dần Đến kế hoạch kinh
tế 4 năm (1971–1972), chính quyền Sài Gòn kêu gọi các nhà tư bản trong và ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp, khuyến khích địa chủ đầu tư vào các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp, sử dụng nhiều nhân công và nguyên liệu địa phương[77, tr.165]
Trang 32Đến năm 1975, công nghiệp Bình Dương vẫn còn nhỏ bé, toàn tỉnh có
614 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp(không kể hộ cá thể), trong đó có 18 xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh Trong những năm 1976–1985, dưới chủ trương cải tạo kinh tế – xã hội chủ nghĩa của Đảng, công nghiệp Bình Dương phát triển mạnh về mặt quy mô Nhiều xí nghiệp quốc doanh được hình thành và đi vào hoạt động, song phần lớn không đạt hiệu quả Hầu như tất cả đều tồn tại dựa vào cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp là chính Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 1979 đạt 13.79 tỷ đồng, đến năm 1985 tăng lên 62.05 tỷ đồng(giá cố định năm 1989) Kết quả sản xuất công nghiệp thời kỳ 1976–1980 mỗi năm tăng 23%, trong thời kỳ 1981–1985, mỗi năm tăng 14%
Mặc dù có tiềm năng để phát triển công nghiệp nhưng do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, do tác động của chiến tranh và những sai lầm trong đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ 1975–
1985 nên trong một thời gian dài, công nghiệp Bình Dương vẫn chỉ là ngành thứ yếu trong cơ cấu kinh tế so với nông, lâm nghiệp
1.1.3.2 Đặc điểm xã hội
Dân cư, dân tộc
Là vùng đất mới, trong lịch sử hình thành của mình, Bình Dương liên tục đón nhận những luồng di dân Từ một vùng rừng thiêng nước độc, với một ít cư dân bản địa là người Stiêng, Châu ro, Mạ, Mơ nông …sinh sống, đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, những lưu dân người Việt bắt đầu đến khai phá vùng đất này Cùng với quá trình Nam tiến của những lưu dân người Việt, một bộ phận người Hoa chạy sang nước ta sau sự kiện Mãn Thanh đánh bại nhà Minh(1679) và hòa ước Thiên Tân(1885)cũng đã đến vùng đất Bình Dương sinh sống, trở thành một bộ phận cư dân ở nơi đây
Ngoài những lưu dân tự nguyện và tránh loạn, còn một bộ phận cư dân
bị bắt vào đây để làm việc trong các nhà máy, đồn điền, họ là những thanh
Trang 33niên trai tráng của các tỉnh miền Bắc, miền Trung, được tuyển mộ, hay bắt(bắt phu) rồi trở thành cư dân của tỉnh
Năm 1954, sau khi Hiệp định Giơ–ne–vơ được ký kết, thực dân Pháp
đã dụ dỗ đồng bào công giáo miền Bắc di cư vào Nam, một bộ phận đồng bào
di cư đã chọn mảnh đất Thủ Dầu Một để làm nơi lập nghiệp mới
Sau năm 1975, với chính sách kinh tế mới, Bình Dương lại đón nhận những đợt di dân mới đến đây lập nghiệp
Mấy năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của công nghiệp, Bình Dương đã đón nhận hàng trăm ngàn lao động nhập cư Đây chính là nguồn lực hết sức quan trọng góp phần phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Tính đến hết năm 2007, dân số Bình Dương là 1,075,457 người
Trong các thời kỳ, lưu dân liên tục đến với Bình Dương để lập nghiệp, chứng tỏ đây là vùng “đất lành chim đậu” và cũng chính đặc điểm của dân cư nêu trên đã tạo cho người dân Bình Dương tinh thần dám nghĩ, dám làm Một nhân tố tạo nên thành công của Bình Dương trong những năm qua
Về dân tộc: Trên địa bàn Bình Dương có 17 dân tộc cùng nhau sinh sống,
nhưng đông nhất là người Kinh và sau đó là người Hoa (gần 20,000 người), còn lại khoảng 7,700 người thuộc các dân tộc Khơ Me, Chăm, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Sán Dìu, Sán Chỉ, Stiêng, Châu ro, Tà ôi, Ê đê, Raglai,
Mạ, Mơ nông
Văn hóa
Thuở xưa, Bình Dương là một phần của đất Gia Định, nên đến nay(2007) đã có trên 300 năm lịch sử, với những di sản văn hoá đặc sắc, tiêu biểu là đờn ca tài tử Ca nhạc tài tử sau này nở rộ ở nhiều tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng cái nôi sản sinh thì vẫn là Gia Định, trong đó có Bình Dương
Trang 34Bình Dương còn là đất của nhiều làng nghề truyền thống như: điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài với các nghệ nhân bàn tay vàng Đây vừa là một nghề thủ công, vừa là nét văn hóa độc đáo của Bình Dương
Bình Dương cũng có nhiều đình chùa cổ, nhiều cảnh quan đẹp và nhiều
di tích lịch sử, lễ hội dân gian, trong đó phải kể đến lễ hội chùa Bà của người Hoa vào ngày 15 tháng Giêng hàng năm Nơi đây, còn là vùng đất có nhiều tôn giáo như: đạo Phật, Cao Đài, Công Giáo, Tin lành và các tín ngưỡng dân gian khác Đặc điểm văn hóa trên đã tạo cho Bình Dương một sắc màu văn hóa đa dạng, vừa tô điểm cho nền văn hóa dân tộc thêm phong phú, vừa phục
vụ cuộc sống tinh thần cho cư dân trong tỉnh
1.2 Những lợi thế của Bình Dương trong phát triển công nghiệp
Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội đã đem lại cho Bình Dương rất nhiều lợi thế trong việc phát triển kinh tế – xã hội cũng như công nghiệp, những lợi thế đó là:
Bình Dương tiếp giáp 2 thành phố công nghiệp lớn với bề dày phát triển đó là Biên Hòa và Tp HCM Sở dĩ gọi đó là một lợi thế vì đây là hai địa bàn có hoạt động sản xuất công nghiệp từ rất sớm, đến một mức độ nào đó khả năng cung ứng đất đai, nhân công sẽ bị thu hẹp Chủ trương di dời các nhà máy, xí nghiệp ra khỏi nội thành cũng là một yếu tố khiến các nhà đầu tư tìm đến những vùng lân cận, khi đó Bình Dương sẽ là lựa chọn đầu tiên, bởi Bình Dương chỉ cách Tp HCM có 30 km Vị trí địa lý này còn đặt Bình Dương vào vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam, là một khu vực phát triển năng động, dẫn đầu cả nước về tốc độ phát triển kinh tế, đóng góp trên 54.39% sản lượng công nghiệp cả nước (2006) Đồng thời, đây cũng là khu vực có khả năng cung cấp 10 tỷ Kwhđiện/năm và là nơi có sức tiêu thụ sản phẩm lớn nhất nước
Tiếp giáp Tp HCM, một trung tâm kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, là đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế của
Trang 35phía Nam, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học – công nghệ, Bình Dương có thể tận dụng lợi thế này để đẩy nhanh tốc độ phát triển
Bình Dương nằm trên những trục giao thông quan trọng, gần sân bay, cảng biển, có đủ các loại hình giao thông như; đường bộ, đường sắt, đường thủy Hạ tầng giao thông cũng được tỉnh chú ý đầu tư, các tuyến đường huyết mạch như QL 13, 14, các đường tạo lực, đường liên tỉnh đã và đang được đầu
tư nâng cấp, tạo nên một hạ tầng giao thông thuận lợi, không chỉ cho việc đi lại mà còn thuận lợi cho việc trung chuyển hàng hóa, khiến cho Bình Dương
có ưu thế hơn các vùng khác
Với địa hình kiểu lượn sóng yếu, chủ yếu là những đồi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, độ cao trung bình chỉ khoảng 20
Bình Dương có địa hình tương đối lý tưởng cho việc xây dựng hạ tầng giao thông cũng như các KCN Với địa hình như vậy, việc xây dựng các công trình giao thông, hạ tầng các KCN rất thuận tiện, không phải tốn nhiều chi phí, công sức cho việc san lấp mặt bằng Hầu như chỉ cần giải tỏa xong là mặt bằng cũng xong Độ chịu nén của đất thuộc loại cao, tạo cho các công trình xây dựng sự vững chắc mà không phải gia cố nhiều Điều này làm tiết kiệm được khá nhiều chi phí cho các nhà đầu tư, một thuận lợi mà ngay cả Tp HCM cũng không thể có được
Bình Dương có một quỹ đất khá dồi dào phục vụ cho việc phát triển công nghiệp trong khi quỹ đất của Tp HCM ngày càng thu hẹp Diện tích đất chuyên dùng của Bình Dương là 22,563ha, chiếm xấp xỉ 8.4% diện tích tự nhiên Ngoài ra, Bình Dương còn có 12,879ha đất chưa sử dụng, 215,476ha đất nông nghiệp có thể chuyển đổi sang phát triển công nghiệp mà không ảnh hưởng nhiều đến an ninh lương thực, vì đất nông nghiệp Bình Dương không phù hợp lắm cho cây lúa
Trang 36Bình Dương nằm trong khu vực giàu tài nguyên như; dầu khí (Vũng Tàu), Bô–xít (Đồng Nai, Lâm Đồng), tài nguyên rừng (Bình Phước, Tây Nguyên), lúa gạo (Đồng bằng sông Cửu Long)… Không những thế, Bình Dương còn là tỉnh được đánh giá giàu về của “chìm”, ít nhất là so với các tỉnh khác ở Nam Bộ, với các loại khoáng sản có trữ lượng tương đối lớn như; than bùn, cao lanh, sét, cát, sỏi, đá…Đó cũng là một lợi thế, một nguồn lực cho việc phát triển công nghiệp Bên cạnh “của chìm”, Bình Dương cũng có khá nhiều của nổi, đó là; tài nguyên rừng, cung cấp gỗ, mủ nguyên liệu; nguồn nước mặt dồi dào đủ phục vụ cho cả nhu cầu sinh hoạt và sản xuất… cũng là những lợi thế mà thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng đất này
Khí hậu ôn hòa, nắng ẩm mưa nhiều, ít bị ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, cũng là một lợi thế thu hút các nhà đầu tư đến với Bình Dương
Bên cạnh những lợi thế do thiên nhiên ưu đãi, Bình Dương còn có những lợi thế mang tính nhân văn, đó là;
Từ lâu ở Bình Dương đã xuất hiện các nghề thủ công với quy mô sản xuất tương đối lớn, sản phẩm thủ công Bình Dương sớm tham gia vào thị trường giao lưu quốc tế Sau khi thôn tính xong Nam kỳ, thực dân Pháp cũng
đã chọn Bình Dương để xây dựng các nhà máy chế biến, ga xe lửa, mở trường đào tạo nghề Điều này chứng tỏ tiềm năng phát triển của vùng đất Bình Dương, đồng thời cũng là một nền tảng cho Bình Dương đi lên sau này
Giá thuê đất, giá nhân công, chi phí đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thấp cũng là một lợi thế “Giá thuê đất xây dựng kết cấu hạ tầng KCN của Bình Dương chỉ bằng khoảng 30% so với Tp HCM, 80% so với Đồng Nai và 50% so với Long An Đây là một lợi thế so sánh cạnh tranh trong đầu tư mà các nơi khác ít có, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài”[4, tr.13] Đây không phải là một kiểu cạnh tranh không lành mạnh hay chạy theo số lượng đầu tư mà do địa hình mang lại Với địa hình bằng phẳng, không phải tốn nhiều chi phí san lấp khiến cho giá thuê đất Bình Dương thấp hơn nơi khác
Trang 37Cơ chế một của được hình thành từ khá sớm, khiến cho việc xét duyệt
và cấp phép đầu tư diễn ra thuận lợi, nhanh chóng “Các nhà đầu tư khi có nhu cầu đầu tư tại Bình Dương chỉ cần đến liên hệ tại một cơ quan đầu mối để được hướng dẫn và giải quyết các thủ tục đầu tư”[119, tr.340]
Bình Dương là môt trong những tỉnh đầu tiên đưa ra chính sách thu hút vốn và nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội với khẩu hiệu “trải chiếu hoa đón nhân tài, trải thảm đỏ đón nhà đầu tư” Với chính sách này, tỉnh
đã tạo nhiều thuận lợi và ưu đãi cho các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, khiến cho Bình Dương trở thành địa chỉ đỏ của các nhà đầu tư
Nếu so sánh về lợi thế phát triển công nghiệp, Bình Dương không phải
là vùng đất có quá nhiều lợi thế, không có nguồn tài nguyên dồi dào như các địa phương khác, không có cảng biển, cửa khẩu như nhiều tỉnh khác, nhưng hiện nay, Bình Dương đã trở thành tỉnh “mang dáng dấp rất rõ nét của một tỉnh công nghiệp”, có tên trên bản đồ công nghiệp Việt Nam Cái tên Bình Dương đã trở nên quen thuộc với các nhà đầu tư, với người dân trong cả nước Kết quả này không chỉ do những lợi thế về điều kiện tự nhiên đem lại,
mà còn phải nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ tỉnh Bình Dương, sự năng động, chủ động, sáng tạo đề ra những chủ trương,
cơ chế, chính sách phù hợp, với tinh thần dám nghĩ, dám làm của các cấp, các ngành trong tỉnh Bình Dương
1.3 Thực trạng công nghiệp Bình Dương trước khi tái lập tỉnh (1986 – 1996)
Trước yêu cầu mới của lịch sử, tháng 12/1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp Đại hội lần thứ VI Sau khi tổng kết những thành tựu, hạn chế của 10 năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Đại hội đã
đề ra đường lối đổi mới đất nước, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 38Đường lối đổi mới tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh tại các Đại hội VII(6/91), Đại hội VIII(6/96), Đại hội IX(4/2001), Đại hội X(4/2006) của Đảng, đã mở ra hướng đi mới cho kinh tế – xã hội nước ta, một bước ngoặt lịch sử trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho các địa phương chủ động phát triển kinh tế – xã hội dựa trên việc khai thác tối đa những lợi thế, tiềm năng và thế mạnh của mình
Thực hiện đường lối của Đảng, ngay trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới, Đại hội Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ IV(1986)đã chủ trương:
Phát triển công nghiệp địa phương, đẩy mạnh công nghiệp quốc doanh, đồng thời chú trọng thích đáng tiểu thủ công nghiệp Cố gắng sản xuất hàng tiêu dùng, đáp ứng cho nhu cầu địa phương và cho xuất khẩu, mở rộng quan hệ với các tỉnh, thành phố trong khu vực và nếu có
Trong 5 năm tới, tập trung và khai thác, chế biến nông sản, khoáng sản không kim loại và ngành nghề ưu thế, từng bước hình thành các cụm kinh tế kỹ thuật Phấn đấu đến năm 1990 đạt giá trị tổng sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là 1,400 triệu đồng…[49, tr.36]
Trên cơ sở những thành tựu đạt được và hạn chế của công nghiệp trong
5 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông
Bé lần thứ V (12/1991) đã đề ra phương hướng phát triển công nghiệp trong 5 năm (1991 – 1995) là:
Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, trước hết là chế biến nông – lâm sản, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị để xuất khẩu và tiêu dùng Mở rộng quy mô đi đôi với nâng chất lượng làm hàng gia công xuất khẩu với nước ngoài (may mặc, lắp ráp điện tử…) Chú trọng bảo đảm và nâng chất lượng hàng thủ công mỹ nghệ; như sơn mài, gốm sứ, điêu khắc, hàng mộc cho xuất khẩu Phát triển sản xuất
Trang 39vật liệu xây dựng có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xây dựng trong, ngoài tỉnh Đẩy mạnh công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và các Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ IV(1986), lần thứ V (1991), kinh tế Sông Bé có những chuyển biến tích cực, nhất là trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Giá trị tổng sản lượng công nghiệp không ngừng được tăng lên qua các năm Năm 1986, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tỉnh Sông Bé ước đạt 710 triệu đồng Năm 1987, tăng 2.7% so với năm 1986, đạt 729 triệu đồng Đến cuối nhiệm kỳ IV(1990), giá trị tổng sản lượng công nghiệp đạt 61,632 triệu đồng
Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh tỉnh Sông Bé lần thứ V(1991-1995), công nghiệp Sông Bé có bước phát triển mạnh, “giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương năm 1991 đạt 90.6 tỷ đồng, tăng 47% so với năm 1990”[180, tr.3], đến “năm 1996 ước thực
hiện 2,473.5 tỷ đồng (Giá cố định 1994), tăng 51.5% so với năm 1995, vượt
23.7% kế hoạch”[177, tr.3] Giá trị tổng sản lượng thời kỳ 1991– 1995, bình quân hàng năm tăng 37.87%
Trong 10 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới (1987–1996), giá trị tổng sản lượng công nghiệp tỉnh Sông Bé tăng từ 729 triệu đồng (năm 1987) lên 2,473.5 tỷ đồng (năm 1996) Trong đó, công nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng phát triển, đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển của ngành công nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế của tỉnh
Về sản phẩm công nghiệp: Trong những năm đầu thời kỳ đổi mới, sản phẩm công nghiệp của Sông Bé chủ yếu gắn với việc chế biến nông–lâm–khoáng sản như; dầu phộng, đậu xuất khẩu, dầu cao su, đường, hột điều, thuốc lá, rượu trái cây, nước giải khát, bánh mứt, kẹo, gạch, ngói, gốm sứ, chế
Trang 40biến mủ cao su và hóa chất, dép xốp, tấm lợp cao su, săm lốp các loại, mực
in, nông cụ cải tiến, công cụ chế biến màu lương thực, thực phẩm, sửa chữa nhỏ, vừa và lớn các loại ô–tô, máy kéo…Đến năm 1996, cơ cấu sản phẩm công nghiệp đã có sự thay đổi đa dạng hơn Ngoài những sản phẩm truyền thống, bắt đầu xuất hiện những sản phẩm công nghiệp mới như; thịt hộp, mì
ăn liền, bia, quần áo, giầy dép, xà phòng các loại, thuốc chữa bệnh, kem đánh răng, thức ăn gia súc, ống nhựa, hạt nhựa… Theo niên giám thống kê tỉnh Sông Bé năm 1996, sản phẩm công nghiệp của tỉnh đạt con số 59 sản phẩm
Năm 1989, tỉnh chỉ có một dự án đầu tư FDI, với số vốn là 1,200 ngàn USD, đến năm 1996, số dự án FDI đăng ký lên tới 52 dự án, với tổng số vốn 497,730 ngàn USD Từ 1989 đến 1996, tỉnh Sông Bé thu hút được 112 dự án FDI, với số vốn đăng ký là 950,627 ngàn USD Trong 112 dự án FDI được cấp phép và còn hiệu lực đến 1996, có 107 dự án đầu tư vào công nghiệp, tập trung chủ yếu ở hai địa bàn là Thuận An (79 dự án) và Thị xã Thủ Dầu Một (13 dự án) Về quy mô dự án, chủ yếu ở quy mô từ 1,000,000 USD đến 10,000,000 USD (70/112 dự án)