1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh gia lai lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (1996 2006)

161 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng bộ tỉnh Gia Lai lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (1996 2006)
Tác giả Võ Thị Ái
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Kim Vân
Trường học Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 13,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một vùng đất có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vị trí quan trọng về an ninh - quốc phòng, là nơi cư trú của 32 dân tộc anh em, nên vấn đề phát triển kinh tế - xã hội cho địa phươn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VÕ THỊ ÁI

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

(1996 – 2006)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VÕ THỊ ÁI

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

(1996 – 2006)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Mã số : 60 - 2 - 56 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ KIM VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2009

Trang 3

MỤC LỤC

Phần mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

3 Đối tượng nghiên cứu 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Giới hạn của đề tài 6

7 Đóng góp của đề tài 7

8 Kết cấu của luận văn 7

Phần nội dung 9

Chương 1: THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH GIA LAI TRƯỚC NĂM 1996 9

1.1 Đặc điểm tự nhiên 9

1.1.1 Về vị trí địa lý 9

1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 10

1.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội 17

1.2.1 Đặc điểm dân cư, dân tộc 17

1.2.2 Thiết chế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số 21

1.2.3 Đặc điểm văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số 24

1.3 Thực trạng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai trong 5 năm đầu tái lập tỉnh (1991- 1995) và những vấn đề cấp bách đặt ra 39

1.3.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Gia Lai về phát triển kinh tế - xã hội trong những năm đầu tái lập tỉnh 39

1.3.2 Kết quả phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai ( 1991-1995) 41

1.3.3 Kết quả phát triển văn hoá - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai (1991-1995) 46

Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH GIA LAI LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ ( 1996 - 2006) 53

2.1 Chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 1996 - 2006 53

2.1.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 1996 -2006 53

2.1.2 Các chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Gia Lai về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (1996 - 2006) 58

Trang 4

2.2 Quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Gia Rai,

Ba Na ở Gia Lai dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh ( 1996 - 2006) 66

2.2.1 Những chuyển biến về kinh tế 67

2.2.2 Những chuyển biến về văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng giai đoạn 1996 - 2006 78

2.2.3 Hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong qúa trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai (1996 -2006) 92

2.3 Nhận xét, khuyến nghị và giải pháp đề xuất 103

2.3.1 Đặc điểm và quy luật vận động 103

2.3.2 Giải pháp cụ thể nhằm giải quyết vấn đề cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Gia Rai, Ba Na ở Gia Lai 105

2.3.3 Một số khuyến nghị 128

KẾT LUẬN 132

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

PHẦN PHỤ LỤC 143

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Gia Lai là một tỉnh nằm ở phía Bắc Tây Nguyên Đây là một vùng đất

có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vị trí quan trọng về an ninh - quốc phòng, là nơi cư trú của 32 dân tộc anh em, nên vấn đề phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương này nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước ta cùng Đảng bộ và các cấp chính quyền tỉnh Gia Lai rất quan tâm

Các dân tộc cùng chung sống trong tỉnh Gia Lai có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, trong đó hai dân tộc bản địa là Gia Rai và Ba

Na có xuất phát điểm kinh tế - xã hội rất thấp Trình độ kinh tế - xã hội thấp kém của đồng bào luôn là yếu tố để các thế lực thù địch tìm cách lợi dụng, kích động gây mất ổn định về nhiều mặt

1996 - 2006 là giai đoạn đã diễn ra tình trạng bất ổn nghiêm trọng về mặt chính trị ở một số khu vực trong vùng đồng bào các dân tộc bản địa tỉnh Gia Lai nói riêng, Tây Nguyên nói chung Đảng bộ và chính quyền địa phương đã từng bước xác định được nguyên nhân sâu xa của vấn đề và triển khai nhiều chủ trương, biện pháp để phát triển kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm giải quyết tận gốc vấn đề Những giải pháp được triển khai thực hiện trong thời gian qua, tuy đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, song trên thực tế, chúng ta vẫn nhận thấy sự lúng túng của Đảng bộ và chính quyền địa phương khi đối mặt với nhiều vấn đề cụ thể

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Gia Rai và Ba Na hiện nay ở tỉnh Gia Lai, đặt ra yêu cầu phải có một công trình

Trang 7

nghiên cứu đánh giá kịp thời những mặt được và chưa được trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Bộ tỉnh, để làm cơ sở khoa học giúp cho Đảng bộ và chính quyền địa phương khắc phục những hạn chế, vướng mắc cả về quan điểm chỉ đạo cũng như giải pháp cụ thể, nhằm đưa kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là bộ phận các dân tộc bản địa phát triển đúng hướng, hợp quy luật trong thời kỳ hội nhập theo chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Những vấn đề trên chính là lý

do để tác giả chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Gia Lai lãnh đạo phát triển

luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là trong vùng đồng bào Gia Rai và Ba Na ở tỉnh Gia Lai là một nội dung có ý nghĩa chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới Đây cũng là vấn đề mang tính thời sự và thực tiễn sâu sắc, được nhiều công trình nghiên cứu, điều tra, đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau

Trước hết là những công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ của địa

phương, các huyện, thành phố, thị xã và các đoàn thể trong tỉnh như: “Lịch sử

Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945- 2005)”, Nxb Chính trị Quốc gia, 2009; “Thị xã Pleiku 60 năm đấu tranh và xây dựng”, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1991;

“Lịch sử Đảng bộ huyện An Khê”, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1993;

“Lịch sử Đảng Bộ huyện Mang Yang (1945-1995”), Nxb Chính trị Quốc Gia,

Hà Nội, 1999; “Gia Lai 30 năm xây dựng và phát triển (1975-2005)”, do Cục Thống kê tỉnh Gia Lai biên soạn, năm 2005; “Lịch sử Mặt trận tổ quốc Việt

Nam tỉnh Gia Lai (1930-2005)”, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006…

hoặc những công trình viết về kinh tế - xã hội địa phương ở những giai đoạn trước

Trang 8

năm 1996 như:“Tây Nguyên tiềm năng và triển vọng”, của Ngô Văn Lý,

Nguyễn Văn Diệu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992; “Tây Nguyên trên

trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006; Kinh tế - xã hội Tây Nguyên (2007-2008), do

Văn phòng Ban chỉ đạo Tây Nguyên biên soạn năm 2008; “Đến với lịch sử -

văn hoá Bắc Tây Nguyên”(2007), Nxb Đà Nẵng và “Chuyển biến kinh tế - xã hội Bắc Tây Nguyên (1945-1995)”( 2008), Nxb Đà Nẵng, của Nguyễn Thị

Kim Vân Những công trình này, bên cạnh việc cung cấp nhiều tư liệu quý báu, tác giả còn tìm thấy ở đây những vấn đề về phương pháp nghiên cứu, triển khai đề tài

Những công trình nghiên cứu về dân tộc học và các chuyên ngành

thuộc nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau như: “Các dân tộc tỉnh Gia

Lai - Công Tum (1981), do Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội; “Những vấn đề xã hội hiện nay ở Tây Nguyên” (1989) trong

“Tây Nguyên trên đường phát triển”, của Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Chính sách dân tộc những vấn đề lý luận và thực tiễn”

(1990), của nhiều tác giả, Nxb Sự thật, Hà Nội; Hội thảo khoa học Luật tục - Hương ước và những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở làng buôn các dân

tộc Tây Nguyên, của tác giả Khổng Diễn;“Tây Nguyên tiềm năng và triển

vọng”(1992), của tác giả Ngô Văn Lý và Nguyễn Văn Diệu, Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh; “Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở

miền núi” (1996), do Bế Viết Đẳng (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội; “Góp phần nghiên cứu kinh tế xã hội ở Tây Nguyên” (2001), “Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên”

(2005), do Trương Minh Dục biên soạn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Những công trình trên đã thống kê, lý giải và cung cấp cho tác giả tư liệu về nhiều vấn đề khác nhau, giúp cho người viết hiểu sâu thêm về văn hóa, xã hội,

Trang 9

kinh tế của các dân tộc bản địa Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng làm

cơ sở cho những nhận định, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai trong giai đoạn tiếp theo

Bên cạnh những công trình nghiên cứu đã được công bố, tác giả còn đặc biệt quan tâm đến những tư liệu được đăng tải trên các báo địa phương,

và trung ương như: “Thủy lợi Ia Grai cần đầu tư chiều sâu”, Báo Gia Lai, ngày 25/9/1999; “Kbang cà phê đang lấn rừng”, Báo Gia Lai, ngày 25/5/1999; “Báo cáo đánh giá tình hình 5 năm (1996-2000) và kế hoạch phát

triển từ (2001-2005) ngành công nghiệp tỉnh Gia Lai”, của Sở Công nghiệp

Gia Lai, 2001; “Năm 2006 kinh tế - xã hội của tỉnh có bước phát triển mới”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Gia Lai, số 1, 2007; “Gia Lai tự tin thực hiện

nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2006”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Gia

Lai, số 2, 2006…Những số liệu trong Niên giám thống kê được công bố hàng năm của Ban chỉ đạo Tây Nguyên và Chi cục thống kê Gia Lai, Tổng cục thống kê và báo cáo tổng kết các chương trình của chính phủ và địa phương giành cho Gia Lai, báo cáo tổng kết hàng năm, 5 năm, 10 năm của Đảng bộ tỉnh, Uỷ ban Nhân dân (UBND) tỉnh, các cơ quan ban ngành có liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số

Lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy, đến nay đã có nhiều công trình, bài viết phân tích làm rõ về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc; tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh Tây Nguyên nói chung…đó là những tài liệu quý báu để tác giả luận văn kế thừa hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về qúa trình chuyển biến kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn

(1996 - 2006) Chính vì vậy, đề tài “Đảng bộ tỉnh Gia Lai lãnh đạo phát

Trang 10

triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (1996 – 2006)” mà

tác giả lựa chọn vẫn là một đề tài còn mới mẻ, cần phải tìm tòi, nghiên cứu,

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu qúa trình chuyển biến kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Gia Lai Tuy nhiên, trong

số 32 dân tộc thiểu số hiện đang cư trú trên địa bàn tỉnh Gia Lai, dân tộc Gia Rai và Ba Na được coi là những dân tộc bản địa và chiếm số lượng gần như tuyệt đối Đây cũng là khu vực nảy sinh nhiều “vấn đề” trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội cần giải quyết, nên tác giả sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu những chuyển biến kinh tế - xã hội trong vùng hai dân tộc này

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích của đề tài

Trên cơ sở quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dân tộc, tác giả nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Gia Lai về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó tập trung vào khu vực đồng bào Gia Rai và Ba Na trong 10 năm (1996 - 2006), qua đó đưa ra nhận định, đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp để Đảng bộ và các cấp có thẩm quyền tham khảo trong thời gian tới

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài cần: + Nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Gia Rai

và Ba Na ở Gia Lai từ 1991-1995 để làm cơ sở so sánh, phân tích những chuyển biến kinh tế - xã hội trong 10 năm tiếp theo được nghiên cứu ở chương 2 của đề tài

+ Nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Gia Rai

và Ba Na ở Gia Lai trong 10 năm (1996 - 2006) để thấy được những thành tựu đạt được cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới

Trang 11

+ Làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ 1996 - 2006, củng cố

và tăng cường sức mạnh đoàn kết các dân tộc trên địa bàn tỉnh vì mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

+ Đề xuất những phương hướng và khuyến nghị cụ thể để các cấp có thẩm quyền tham khảo nhằm giải quyết tốt hơn những vấn đề kinh tế - xã hội địa phương với mục tiêu không chỉ đưa nền kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc Gia Rai, Ba Na phát triển đúng hướng, hợp quy luật; mà còn làm ổn định xã hội và củng cố, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên bước đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện Đảng; các văn bản của Nhà nước về xây dựng và phát huy đại đoàn kết dân tộc Đồng thời, kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài và

tư liệu điều tra thực tế

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Về phương pháp luận: đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

+ Về phương pháp cụ thể: để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm

vụ nghiên cứu, đề tài còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hồi cố và thống kê

6 Giới hạn của đề tài

- Về không gian nghiên cứu: nghiên cứu qúa trình chuyển biến kinh tế

- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai, mà trọng tâm là khu vực

cư dân bản địa (Gia Rai, Ba Na) được giới hạn trong phạm vi hành chính tỉnh

Trang 12

Gia Lai hiện nay

- Về thời gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu qúa trình chuyển biến kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Gia Rai và Ba Na ở Gia Lai dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong 10 năm đổi mới (1996 - 2006)

7 Đóng góp của đề tài

- Trình bày tương đối có hệ thống và cụ thể quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Gia Rai và Ba Na ở Gia Lai dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh (1996 - 2006)

- Đánh giá những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Gia Lai tác động đến sự chuyển biến kinh tế -

xã hội ở vùng đồng bào dân tộc Gia Rai và Ba Na trong 10 năm (1996 - 2006)

- Qua nghiên cứu qúa trình chuyển biến kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó tập trung vào vùng đồng bào dân tộc Gia Rai,

Ba Na, luận văn đưa ra một số ý kiến tham khảo về phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào dân tộc bản địa của tỉnh để các cấp có thẩm quyền xem xét trong hoạch định chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới Đồng thời, đề xuất những giải pháp cụ thể, góp phần cùng Đảng bộ địa phương và các cấp có thẩm quyền giải quyết tốt hơn nữa về vấn đề dân tộc

và đoàn kết dân tộc ở tỉnh Gia Lai trong thời đại toàn cầu hóa Có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy lịch sử Đảng và lịch sử địa phương trong thời kỳ đổi mới

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục viết tắt, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 2 chương 6 tiết Trong đó:

Chương 1 của luận văn đề cập đến thực trạng kinh tế - xã hội vùng

Trang 13

đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai trước năm 1996

Chương 2 của luận văn làm sáng tỏ quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Gia Rai, Ba Na ở Gia Lai dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh (1996 -2006)

Trang 14

Phần nội dung

Chương 1 THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO

DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH GIA LAI TRƯỚC NĂM 1996

Địa danh Gia Lai có từ năm 1932 Tên của tỉnh Gia Lai là biến âm từ

tộc danh Gia Rai (Jarai) mà thành Trong Sổ tay địa danh Việt Nam, Đinh Xuân Vịnh cũng viết:"Đạo Gia Lai ở Tây Nguyên thành lập năm 1932, tách

từ tỉnh Kon Tum ra, đầu tiên gọi là đạo Trà Cú, Pháp gọi là Pleiku, lấy tên lỵ

sở đạo mà gọi, sau đổi tên là đạo Gia Lai, lấy tên dân tộc thượng Gia Rai"

[61, tr.200] Án ngữ trên đỉnh cao nguyên Pleiku hùng vĩ, Gia Lai như nóc nhà của đồng bằng Bình Định, Phú Yên, Campuchia và là giao điểm của 3 tuyến quốc lộ quan trọng trong khu vực với tổng chiều dài 503 km, gồm: Quốc lộ 19 bắt đầu từ quốc lộ 1 (đoạn qua tỉnh Bình Định) Trên đất Gia Lai, quốc lộ này có chiều dài 196 km, qua hai đô thị lớn của tỉnh là thị xã An Khê (Đông Trường Sơn) và thành phố Pleiku (Tây Trường Sơn) nối với cửa khẩu

Lệ Thanh ở huyện Đức Cơ, qua vùng Đông Bắc Campuchia sang Lào và Thái

Trang 15

Lan Quốc lộ 14 đoạn qua tỉnh Gia Lai dài 112 km, chạy theo hướng Bắc - Nam, là con đường huyết mạch nối Gia Lai với Đông Nam Bộ vào thành phố

Hồ Chí Minh có tổng chiều dài là 540 km Quốc lộ 25 bắt đầu từ quốc lộ 1, (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) nối vào quốc lộ 14 tại Mỹ Thạch (Chư Sê) Chiều dài đoạn quốc lộ 25 trên địa bàn tỉnh Gia Lai là 111 km, qua các huyện Đông Nam của tỉnh như Krông Pa, Ayun Pa, Phú Thiện và Chư Sê Sân bay Pleiku đến nay vẫn là cửa ngõ duy nhất nối khu vực Bắc Tây Nguyên với mạng lưới hàng không của cả nước Vị trí địa lý cùng với hệ thống mạch máu giao thông tạo cho Gia Lai vị thế đặc biệt quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng đối với các tỉnh Tây Nguyên, vùng Duyên hải miền Nam Trung Bộ và cả nước

Ngoài các quốc lộ, Gia Lai còn đầu tư xây dựng 11 tuyến tỉnh lộ quan trọng với tổng chiều dài 473 km nối liền với 16 đơn vị hành chính nội tỉnh toả đến các trung tâm của 215 xã phường, thị trấn, thuận lợi cơ bản cho việc giao lưu và sản xuất của nhân dân tỉnh nhà

1.1.2.Tài nguyên thiên nhiên

Gia Lai nằm trên một phần của nền đá cổ rộng lớn, phần lớn diện tích tự nhiên nằm ở sườn Tây của dãy Trường Sơn Độ cao trung bình của tỉnh từ 700m - 800 m, Kon Ka Kinh có độ cao 1.761m là đỉnh cao nhất, thuộc huyện Kbang Địa hình toàn tỉnh có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, thoải dần từ đỉnh (là trục đường 14) sang hai phía Đông và Tây với các đồi núi, cao nguyên

và thung lũng xen kẽ nhau khá phức tạp

- Núi ở Gia Lai phần lớn nằm ở phía Bắc Từ Kon Ka Kinh (1761m)

thuộc địa bàn huyện Kbang, chạy về phía Nam núi chia thành 2 hệ

Hệ núi thứ nhất (qua đèo An Khê-thuộc dãy An Khê): chạy dọc phía

Đông tỉnh tạo thành dải phân cách tự nhiên giữa Gia Lai với các tỉnh tiếp giáp ven biển miền Trung bị đứt gẫy đột ngột tại đèo An Khê (500 m), rồi lại được

Trang 16

nâng lên ở phía Nam tại Đông huyện Kông Chro và thấp dần khi vào vùng đồng bằng Ayun Pa, Krông Pa

Hệ núi thứ hai (qua đèo Mang Yang): chia Gia Lai thành 2 phần là

Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn với những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, môi sinh khác biệt

Ngoài hai hệ núi trên, bề mặt các dạng địa hình khác của Gia Lai như các cao nguyên, những đồng bằng cũng đều rải rác có núi

Vùng núi của Gia Lai, thung lũng thường hẹp, rừng nhiều, đất trồng trọt

ít và phân tán, dân cư thưa thớt Tuy nhiên, đây lại là khu vực có độ che phủ lớn, là đầu nguồn của nhiều sông suối có ảnh hưởng quan trọng đến môi trường sinh thái của Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải miền Trung và Đông Bắc Campuchia Núi Gia Lai còn bảo lưu được nhiều loài động, thực vật quý, hiếm

- Cao nguyên là địa hình phổ biến và quan trọng của Gia Lai Toàn

tỉnh có hai cao nguyên

Cao nguyên Kon Hà Nừng ở phía Đông Trường Sơn, có diện tích

khoảng 1.250 km2, trải dài từ Nam huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) và chiếm gần trọn địa bàn huyện Kbang Toàn bộ bề mặt cao nguyên được phủ bởi tổ hợp nham bazan màu xám xanh, thấp dần từ Bắc xuống Nam với độ dốc trung bình từ 120 - 180

rộng lớn nhất Tây Nguyên Cao nguyên này kéo dài từ Nam thị xã Kon Tum xuống tận khối Chư Pah và từ đèo Mang Yang sang biên giới Việt Nam - Campuchia Cao nguyên Pleiku có hình vòm, đỉnh ở Chư Hdrung (núi Hàm Rồng) cao 1.028 m Phía Bắc và Đông Bắc cao từ 750 - 800 m, về phía Nam

độ cao chỉ còn 400m Nền địa chất của cao nguyên Pleiku tương đối đồng nhất, chủ yếu là đá bazan màu xám đen, lớp đất dày, tơi xốp, màu mỡ

Trang 17

- Các miền trũng của Gia Lai là những vùng sớm được con người khai

thác, có vị trí rất quan trọng trong việc cung cấp lương thực cho cư dân địa phương Hầu hết các vùng trũng này nằm ở phía Đông của tỉnh như: Cánh đồng An Khê, vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc (nay thuộc các huyện Ayun

Pa, Ia Pa và Krông Pa)

Bắc, Tây Nam Phía Bắc giáp cao nguyên Kon Hà Nừng, Nam giáp vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc và vùng núi thấp Chư Trian, ranh giới phía Đông

và Tây của vùng là 2 hệ núi chạy qua đèo An Khê và đèo Mang Yang

Vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc nằm trọn trong địa hào sông Ba với

diện tích 1.474 km2, tiếp nối vùng trũng An Khê về phía Đông Nam tỉnh Vùng trũng này có cấu tạo đá khá phức tạp bao gồm 2 nhóm đá chính là bồi tích, phù sa và trầm tích hỗn hợp

- Đất đai tỉnh Gia Lai có 26 loại, gồm 7 nhóm chính Theo kết quả

nghiên cứu dự án SMCN/2002/085 do Viện Khoa học Kỹ thuật khảo sát [46, tr.21] phân loại như sau:

Nhóm đất phù sa có diện tích 64.218 ha, chiếm 4,5% diện tích tự nhiên,

phân bố ở nơi có địa hình bằng, gần nguồn nước (sông hay suối lớn), tầng đất dày Đây là loại đất tốt, thích hợp với việc trồng lúa, các loại rau, hoa màu lương thực

Nhóm đất xám có diện tích 364.638 ha, chiếm 23,5% tổng diện tích đất

đai toàn tỉnh, được hình thành trên phù sa cổ, đá macma axit và đất cát, nên nghèo dinh dưỡng Nhóm đất này thường phân bố tập trung thành vùng dọc theo sông Ba, sông Ayun ở Tây Nam huyện Chư Prông và các huyện, thị: An Khê, Đak Pơ, Ayun Pa, Ia Pa Loại đất này thích hợp với những loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, vừng, sắn, thuốc lá, đậu đỗ các loại, hoặc trồng rừng để bảo vệ đất

Trang 18

Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất trong các nhóm đất của tỉnh,

với 756.433 ha, chiếm 48,8% tổng diện tích tự nhiên, tập trung ở các huyện trên cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hà Nừng Đây là nhóm đất rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, yêu cầu độ phì cao như

cà phê, chè, cao su và cây công nghiệp ngắn ngày, hoa màu, lương thực

Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi có diện tích 90.481 ha chiếm 5,8%

tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu trong vùng núi cao phía Bắc và Đông Bắc tỉnh, ở độ cao từ 1.000m trở lên, địa hình dốc, chia cắt mạnh Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp

Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích 164.751ha, chiếm 10,6% diện

tích tự nhiên toàn tỉnh, tập trung ở các huyện thị: An Khê, Ayun Pa, Phú Thiện, Krông Pa Do đất bị xói mòn nhiều nên tầng mặt bị trơ ra những lớp đá hoặc lớp kết vón Địa hình đồi hoặc núi thấp, nhưng lượn sóng và chia cắt sâu, ở độ cao từ 800m trở xuống Nhóm đất này không có khả năng khai thác

để phát triển nông nghiệp mà chỉ thích hợp trồng rừng để bảo vệ đất

Nhóm đất đen và nhóm đất thung lũng dốc tụ chiếm 6,8 % Nhóm đất

đen phân bố chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Chư Prông, Chư Sê và Đức

Cơ Trên diện tích này cần trồng rừng, khôi phục thảm thực vật bề mặt để bảo

vệ đất Nhóm đất thung lũng dốc tụ có diện tích ít nhất, phân bố chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Chư Sê, vùng Ayun Pa và quanh thành phố Pleiku, thích hợp cho việc trồng lúa nước, hoa màu và rau các loại

- Tài nguyên nước ở Gia Lai có tổng trữ lượng khoảng 23 tỉ m3, phân

bố trên các hệ thống sông chính là: hệ thống sông Ba, hệ thống sông Sê San

và hệ thống sông Srê Pôk [47, tr.62]

Hệ thống sông Ba là con sông dài thứ hai (304 km) trên Tây Nguyên

Nó bắt nguồn từ núi Ngok Rô ở độ cao 1.240 m trên dãy Ngok Linh, sông Ba chảy theo sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, qua các huyện Kbang, An

Trang 19

Khê, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa và Krông Pa của tỉnh Gia Lai Lưu vực sông chiếm diện tích 13.000 km2 và là lưu vực sông rộng lớn nhất Tây Nguyên với diện tích 11.450km2, bồi đắp phù sa màu mỡ cho các cánh đồng ven sông.Đây là nguồn chính cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho các huyện phía Đông tỉnh Gia Lai

Hệ thống sông Sê San ở phía Tây Bắc tỉnh Sông Sê San có 2 nhánh lớn

là Đak Bla, Pôkô và một nhánh nhỏ đổ về phía hạ lưu là sông Sa Thầy Qua tỉnh Gia Lai, lưu vực sông Sê San chiếm phần lớn ở phía Tây các huyện Chư Pah, Ia Grai, Đức Cơ và phía Bắc huyện Đak Đoa Đây là dòng sông có tiềm năng thuỷ điện rất lớn với nhiều công trình đã và đang được xây dựng như: Ia

Ly, Sê San 3, Sê San 4, Sê San 3A

Các nhánh của sông Srê Pôk như Ia Đrăng, Ia Lốp ở phía Tây Nam

tỉnh đều bắt nguồn từ phía Tây núi Hdrung, lượng sinh thuỷ ít, nhưng vì nằm trong vùng mưa lớn của tỉnh nên lưu vực của nó chiếm toàn bộ diện tích huyện Chư Prông, một phần phía Tây huyện Chư Sê và tạo nên vùng trũng Ia Lâu, Ia Mơr

Ngoài hệ thống sông suối, Gia Lai còn có một số hồ tự nhiên và nhân

tạo, đặc biệt là tiềm năng nước ngầm của Gia Lai với trữ lượng khá lớn, chất

lượng tốt, phân bố chủ yếu trong phức hệ nước phun trào bazan, góp phần cung cấp đủ nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của tỉnh [48, tr.15]

- Khí hậu, thời tiết Gia Lai có tính chất đặc thù, vừa có những yếu tố

chung của khí hậu vùng nhiệt đới, gió mùa của phía Nam Việt Nam, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên

độ trung bình năm từ 210C - 230C Nhiệt độ giữa các tháng chênh lệch không lớn (giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trên dưới 50C) Nhưng dao động nhiệt độ ban ngày và ban đêm khá cao (trung bình từ 90C - 100C) Đặc biệt

Trang 20

trong những tháng mùa đông biên độ nhiệt ngày có khi tới trên 150C

Lượng mưa trung bình năm ở Gia Lai từ 2.100 mm - 2.200 mm, cao

hơn so với những tỉnh lân cận nên có sự tương phản rất sâu sắc giữa 2 mùa và

có sự biến động, phân hóa cao theo địa hình

Hướng gió thịnh hành ở Gia Lai thay đổi theo mùa rất rõ rệt Chế độ

gió mang sắc thái gió mùa khu vực Đông Nam Á Tốc độ gió trung bình là 3m/s và ít thay đổi qua các tháng, các mùa nhưng lại có sự khác nhau giữa các vùng do ảnh hưởng của địa hình Những vùng thung lũng thấp và kín gió, tốc

độ gió nhỏ hơn ở các cao nguyên

Căn cứ vào nhiệt độ và lượng mưa, có thể chia toàn tỉnh thành 2 tiểu vùng khí hậu: Tiểu vùng khí hậu núi - cao nguyên phía Bắc: mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm Tiểu vùng khí hậu thung lũng thấp phía Nam gồm vùng trũng An Khê và vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc, khí hậu khô có nhiệt độ cao hơn Ở Gia Lai có một số hiện tượng về thời tiết không phổ biến Gió Tây khô nóng thường xuất hiện vào những tháng đầu hè ở những vùng có độ cao từ 500m trở xuống Trung bình, hàng năm Gia Lai có trên dưới 100 ngày có sương mù vào mùa hạ Dông và mưa đá thường xuất hiện vào đầu mùa mưa gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân

Dựa vào sự đa dạng của đặc điểm khí hậu Gia Lai có thể bố trí một tập đoàn cây trồng, vật nuôi phong phú, thuận lợi cho sự đa dạng hóa sinh học Khí hậu Gia Lai thích hợp cho sự phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, chè, cây ăn trái các loại, một số cây trồng hàng năm như: bông vải, mía, ngô, sắn và có thể kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp

và chăn nuôi đại gia súc [29, tr.3]

- Rừng Gia Lai có độ che phủ lớn, chiếm 47% và là tỉnh có độ che phủ

rừng cao thứ hai trong cả nước Diện tích đất lâm nghiệp là 1.112.452,8 ha, chiếm 72% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Trong đó, diện tích đất lâm

Trang 21

nghiệp cho rừng đặc dụng là 61.364,6 ha (chiếm 5,5% diện tích đất lâm nghiệp); diện tích đất lâm nghiệp cho rừng phòng hộ là 277.613,5ha (chiếm 23,5% so với diện tích đất lâm nghiệp); diện tích đất lâm nghiệp cho rừng sản xuất là 773.447,7 ha (chiếm 69,5% so với diện tích đất lâm nghiệp)

Rừng Gia Lai có nhiều loại gỗ quý rất nổi tiếng như: trắc, hương, cẩm lai, hoàng đàn, pơ mu…nhiều lâm đặc sản dưới tán rừng có giá trị kinh tế cao gồm các loại cây thân gỗ, thân thảo, thân dây, thân ngầm như thổ phục linh, cốt toái,

sa nhân, mã tiền… và các loại cây cho dầu, nhựa Đặc biệt, rừng Gia Lai còn có nhiều loài thú quý, hiếm như bò tót, hổ, voi, sói đỏ, mèo gấm, gấu ngựa, vượn đen, voọc ngũ sắc…Các loại chim hạc cổ trắng, công, trĩ sao, gà lôi vằn, gà tiền mặt đỏ Đặc biệt, khướu tai hung là loài mới được phát hiện trên địa bàn tỉnh (trong khu bảo tồn Kon Ka Kinh)

Những năm qua, các cấp lãnh đạo địa phương và các ngành chức năng

đã có nhiều biện pháp quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái Song do nhu cầu của cuộc sống, dưới áp lực của việc gia tăng dân số và tác động của kinh tế thị trường mà con người thường xuyên khai thác tài nguyên thiên nhiên mang tính tự phát, làm cho môi trường ngày càng bị đe dọa Nhiều loại động thực vật đã suy giảm nhanh chóng về số lượng, một số loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng

Do các hoạt động phát rừng làm rẫy, lấn chiếm rừng để mở rộng đất nông nghiệp, khai thác gỗ và các lâm đặc sản quá mức cho phép, săn bắn và kinh doanh các loại động vật hoang dã và sự cố cháy rừng dẫn đến hậu quả hàng năm tỉnh bị mất khoảng 8.000 ha rừng Việc mất diện tích rừng còn là nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc điều tiết nước trên các hệ thống sông hồ của tỉnh [49]

- Khoáng sản ở Gia Lai tương đối nhiều về số lượng, những loại có trữ

lượng nhiều hơn cả là nguyên vật liệu xây dựng, bô-xít, vàng và đá quý

Trang 22

Quặng bôxít đã có 2 mỏ được phát hiện là: mỏ bôxit Kon Hà Nừng (Kbang) có trữ lượng cấp C2 là: 210,5 triệu tấn với hàm lượng AL2O3 = 33,76

- 51,75%; mỏ bôxit Đức Cơ được thăm dò có trữ lượng SiO2 = 14,04% Ngoài

ra, trên địa bàn Gia Lai còn có các điểm khoáng hóa bôxit ở Lệ Thanh, Lệ Cần, Thanh Giáo, Bàu Cạn và Plei Me

Vàng được phát hiện ở một số điểm thuộc các huyện Kông Chro, Kbang , Ayun Pa

Gia Lai còn có mỏ sắt ở An Phú, thành phố Pleiku; kẽm ở An Trung, huyện Kông Chro; asen và vonfram ở Pleiku

Khoáng sản phi kim loại có nhiều nhất ở Gia Lai là đá granit, đá vôi, đolomit (đá hoa), đất sét, cát và sạn sỏi để sản xuất vật liệu xây dựng

Vị trí địa lý đã tạo nên một Gia Lai hùng vĩ với địa thế hiểm trở nhưng rất đa dạng và phong phú về tiềm năng kinh tế Gia Lai là cửa ngõ phía Bắc của Tây Nguyên, là giao điểm của nhiều tuyến giao thông trọng yếu Cần có chính sách đầu tư, khai thác đúng mức góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội

1.2.1 Đặc điểm dân cư, dân tộc

- Dân số - dân tộc: tính đến ngày 31-12- 2006, tỉnh có 1.167.700 người

đến 31-12-2007 dân số Gia Lai có 1.187.822 người với 32 thành phần dân tộc, trong đó người Kinh đông nhất chiếm 54,43%, dân số toàn tỉnh, còn lại là

31 dân tộc thiểu số chiếm 45,57% dân số toàn tỉnh (trong đó, dân tộc Gia Rai chiếm 30,06%, Ba Na chiếm 12,35%, các dân tộc thiểu số khác chỉ chiếm tỷ

lệ 3,16% dân số), dân số nông thôn chiếm 72% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 17,94%0, tỷ lệ sinh là 22,5%0, tỷ lệ phát triển dân số là 2,25% Tốc độ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 1991-2000 là 3,6%/năm, giảm xuống

Trang 23

2,65%/năm trong giai đoạn 2001-2006 Qua hơn 16 năm (1991-2006), dân số của tỉnh tăng gấp 1,71 lần, tăng bình quân 3,2 %/năm, mật độ dân 76,45 người/km2 [5, tr.1] (Xem thêm phụ lục, bảng 1 và 2)

Cư dân Gia Lai có thể chia làm 2 bộ phận: Bộ phận cư dân đã sinh sống

từ lâu đời ở Gia Lai (còn gọi là cư dân tại chỗ hay cư dân bản địa) gồm có dân tộc Gia Rai (Jrai) và dân tộc Ba Na (Bahnar); Bộ phận cư dân mới đến gồm người Việt (Kinh) và các dân tộc thiểu số khác

- Cư dân bản địa:

Dân tộc Ba Na (Bơhnar, Bahnar): Họ là dân tộc có số dân đông nhất

trong những dân tộc nói tiếng Môn - Khmer miền Nam Trung Bộ Địa bàn cư trú chủ yếu của người Ba Na là Nam tỉnh Kon Tum, Bắc và Đông tỉnh Gia Lai Ngoài ra, còn có một bộ phận người Ba Na sống rải rác ở các huyện phía Tây của tỉnh Bình Định, Phú Yên

Trên địa bàn tỉnh Gia Lai, tính đến cuối năm 2006 đầu năm 2007, người

Ba Na có 146.725 người (chiếm 12,35% dân số toàn tỉnh) [56, tr.111] Người

Ba Na sống tập trung chủ yếu ở các huyện Đak Đoa, Kông Chro, Mang Yang, Kbang, An Khê, Đak Pơ, gồm có các nhóm địa phương sau:

Ba Na Gơlar (Roh - người trên núi), địa bàn sinh sống của họ chủ yếu

thuộc huyện Mang Yang và Đak Đoa ngày nay Đây là nhóm Ba Na có số lượng dân cư đông

Ba Na Bơnâm sống ở vùng rừng già (phần lớn thuộc các xã Lơ Ku,

Krong huyện Kbang hiện nay), phương thức canh tác chủ yếu là đốt nương làm rẫy Do địa hình cách trở nên họ ít giao lưu với những bộ phận cư dân khác Đến giữa thế kỷ XX họ còn bảo lưu nhiều yếu tố văn hóa cổ xưa Đây là những vùng căn địa cách mạng trong những năm kháng chiến

Ba Na Tơlô sống ven sông Ba (Pa), trên những vùng đất khá bằng và rộng

thuộc huyện Kông Chro Trước năm 1975, họ canh tác chủ yếu trên những rẫy

Trang 24

cuốc Nhóm này có số lượng dân cư đông và tự cho mình là nhóm Ba Na gốc

Ba Na Kon Kơđeh (có nghĩa là người vùng thấp - Ala kông) có thể xem

là phân nhóm trung gian giữa nhóm Ba Na Bơnâm và Ba Na Tơlô, sinh sống chủ yếu ở Đak Pơ và phía Nam huyện Kbang

Người Ba Na ở Gia Lai có truyền thống cách mạng từ lâu đời Trong những năm chiến tranh giải phóng, Tỉnh uỷ Gia Lai chọn khu vực cư trú của người Ba Na để xây dựng vùng căn cứ cách mạng của tỉnh, nên ảnh hưởng của cách mạng đến với người Ba Na khá sớm Người Ba Na đã sản sinh ra anh hùng Núp, anh hùng Wừu không chỉ là niềm tự hào của đồng bào Tây Nguyên, mà còn là niềm kiêu hãnh của cả dân tộc Việt Nam Vun đắp tình cảm, niềm tin để người Ba Na luôn hướng về Bác Hồ và Đảng, đoàn kết với các dân tộc anh em là nhiệm vụ luôn được các cấp Đảng, chính quyền và các

tổ chức chính trị - xã hội quan tâm trong suốt những năm chiến tranh giải phóng cũng như trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Dân tộc Gia Rai (Jơrai, Jarai, Jrai) là một trong 5 tộc người Mã Lai - Đa

Đảo (Malayo-Polinesien) hiện đang sinh sống trên vùng đất Nam Trường Sơn- Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Trung Bộ nước ta Địa bàn cư trú của người Gia Rai là từ Nam Kon Tum đến Bắc tỉnh Đăk Lăk (theo chiều Bắc

- Nam) và từ Tây Bắc tỉnh Phú Yên đến vùng biên giới tiếp giáp với Campuchia (theo chiều Đông - Tây) “Trong khu vực cư trú này, Gia Lai là địa bàn người Gia Rai sinh sống đông nhất với 357.012 người, chiếm 30,06% trong tổng dân

số toàn tỉnh” [56, tr.11] Khu vực cư trú chính của người Gia Rai là phía Tây cao nguyên Pleiku và Tây Nam tỉnh Những huyện có số người Gia Rai nhiều nhất trong tỉnh là Chư Sê, Krông Pa, Ayun Pa (bao gồm cả huyện Phú Thiện mới chia tách), gồm có 5 nhóm địa phương:

Nhóm Gia Rai Chor (còn gọi là Cheo Reo hay Phun) cư trú trong khu

vực thung lũng lòng chảo Cheo Reo (nay thuộc 2 huyện Ayun Pa và Ia Pa)

Trang 25

Chor (Chuôr) là thung lũng lòng chảo hay cánh đồng; Cheo Reo là phiên âm

từ tên của hai tù trưởng Gia Rai nổi tiếng cuối thế kỷ XIX Chu và Chreo; còn

Phun (Pơphun) có nghĩa là gốc vì còn mang nhiều đặc điểm điển hình của tộc

người Gia Rai

Nhóm Gia Rai Hdrung (gồm cả 2 nhóm nhỏ Chon và HơBau) cư trú ở

khu vực từ núi Hdrung đến Đông Bắc thị xã Pleiku, Nam tỉnh Kon Tum, huyện Chư Pah, nửa phía Đông huyện Chư Prông và Tây huyện Đak Đoa Nhóm địa phương này mang tên Hdrung vì họ tụ cư quanh ngọn núi cùng tên nằm ở ngã ba quốc lộ 14 và 19, cách trung tâm thành phố Pleiku 8 km về phía Nam Đây là dấu tích của một núi lửa đã tắt mà người Việt gọi là Hàm Rồng

Nhóm Gia Rai Aráp cư trú ở khu vực Tây Bắc thành phố Pleiku, Tây

Nam tỉnh Kon Tum, một phần huyện Chư Pah Aráp là tên con voi 4 ngà trong truyền thuyết của đồng bào Do cư trú gần người Ba Na nên nhóm Gia Rai này mang nhiều nét văn hoá đặc trưng của người Ba Na

Nhóm Gia Rai Tbuăn (puôn) cư trú ở phía Tây huyện Chư Prông,

huyện Đức Cơ, trên dải đất dọc biên giới Việt Nam - Campuchia

Nhóm Gia Rai Mthur cư trú ở khu vực tiếp giáp giữa người Gia Rai, Ê

Đê và Chăm Tại Gia Lai, nhóm địa phương này sinh sống chủ yếu ở huyện Krông Pa [55, tr.55-56]

Với số lượng dân cư chiếm ưu thế trong cộng đồng các dân tộc thiểu số; ý thức về tộc người và vùng lãnh thổ tộc người khá rõ; lại sinh sống trên địa bàn án ngữ các huyết mạch giao thông nối khu vực Bắc Tây Nguyên với các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ nên người Gia Rai chiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng Gia Rai là dân

tộc duy nhất ở Tây Nguyên có tổ chức xã hội tiền nhà nước với Yang Pơtao là

những người được cộng đồng tôn trọng coi như thần linh, có thể thay mặt cộng đồng giao tiếp với những vị thần khác để cầu mưa, giải hạn Đây là bộ

Trang 26

phận dân cư đã có những đóng góp quan trọng trong trong lịch sử hình thành

và phát triển của tỉnh Trong những năm chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong thời kỳ xây dựng đất nước, tên những người ưu tú của dân tộc Gia Rai như: nhà giáo Nay Đer, anh hùng Kpă KLơng, Kpă Ó, anh hùng Kpui Thu đã đi vào lòng đồng bào Tây Nguyên và cả nước

- Các dân tộc thiểu số khác không thuộc nhóm cư dân bản địa

Gia Lai còn tiếp nhận một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số từ miền Bắc và khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên di cư đến Hiện nay, ở Gia Lai có 37.603 người là đồng bào các dân tộc thiểu số không thuộc bộ phận cư dân tại chỗ, chiếm 3,16% dân số toàn tỉnh Trong các dân tộc thiểu số mới đến Gia Lai, trừ người Tày có 6.596 người, người Nùng có 6.375 người, và người Mường có 4.304 người những tộc người còn lại chỉ có số dân sống ở Gia Lai dưới 3.000 người Trong đó, có 10 dân tộc chỉ có số dân dưới 10 người Đến 31-12- 2007, trên địa bàn tỉnh Gia Lai có 31 dân tộc thiểu số đã và đang sát cánh cùng người Kinh đoàn kết xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, giàu đẹp [56, tr.112]

1.2.2 Thiết chế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài chỉ khai thác những đặc điểm về thiết chế xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại

chỗ, hay còn gọi là cư dân bản địa Gia Lai

Cư dân bản địa có tập quán sống thành từng làng Làng là “tổ chức xã

hội cao nhất trong xã hội cổ truyền của Tây Nguyên Làng cũng là một đơn vị

cơ bản về kinh tế và văn hoá của xã hội cổ truyền Tây Nguyên” [27, 259] Ở thời điểm hiện nay, theo ngôn ngữ người Gia Rai làng được gọi là

tr.258-plơi hay bon, buôn; người Ba Na gọi làng là plei (pơlei, đe, kon) Trước khi

người Pháp đặt ách thống trị lên Tây Nguyên, ở nhiều tộc người, nhiều vùng

trong khu vực đã hình thành những liên minh làng gọi là t’ring và những liên

Trang 27

minh lớn hơn t’ring là char do một già làng lớn tuổi có uy tín nhất trong cộng

đồng đứng ra trông nom cùng với những người giúp việc được cả làng đồng thuận giao lo việc chung Mỗi làng có một già làng có uy tín nhất trong cộng đồng điều hành công việc theo luật tục Già làng không có đặc quyền, đặc lợi nào khác ngoài sự bình đẳng với nhau, không có phân biệt thứ bậc trên dưới, ít

có sự truyền nối địa vị theo huyết thống Những tổ chức t’ring này chưa phải là

một tổ chức chính trị thật sự hay tôn giáo ở trên làng “Hiện nay, khái niệm

T’ring được dùng để chỉ huyện (t’ring Ayun Pa), và khái niệm Char được dùng

để chỉ tỉnh (char Gia Lai”) [57,287] Họp thành làng là những nhóm thân

thuộc gia đình “Những làng tồn tại như một đơn vị tách biệt trong cùng khu vực, dù đồng tộc hay khác tộc thường liên minh với nhau trong việc xác lập quan hệ hôn nhân, trao đổi hàng hoá, lương thực, tổ chức giải trí, và trong việc cùng bảo vệ chống kẻ thù bên ngoài hay cùng tổ chức chiến tranh với các làng khác cùng tộc hay khác tộc” [55, tr.42] Vì vậy làng là một tập hợp xã hội tiền giai cấp, tiền nhà nước, một tập hợp đồng đẳng của các gia đình mở rộng, tự vận hành theo luật tục, truyền thống và kinh nghiệm Quan hệ xã hội bình đẳng hồn nhiên, rất tôn trọng người già và lệ tục, chưa quen với tổ chức nhà nước, hành chính và pháp luật

Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thúc đẩy

sự cố kết dân tộc, làm cho các dân tộc liên minh lại, nhất là liên minh với dân tộc Kinh đấu tranh chống kẻ thù chung là thực dân, đế quốc xâm lược Từ thập niên 30 - 40 của thế kỷ XX, ở các thị trấn, thị xã thuộc tỉnh Gia Lai đã hình thành một tầng lớp người buôn bán, tiểu công chức dân tộc; ở những đồn điền xuất hiện những người vô sản - những phu đồn điền người địa phương Quan hệ giữa những trí thức người dân tộc Gia Rai, Ba Na, với buôn làng, với những người đồng tộc rất gắn bó Nhiều người trong số họ như: Nay Đer, Nay Phin, Rơchom Briu, Ksor Krơn, Rơchom Thép, Ksor Ní đã sớm tiếp nhận

Trang 28

được ánh sáng cách mạng, góp phần phát triển mạnh mẽ phong trào đấu tranh cách mạng ở các buôn làng

Hiện nay, ở Gia Lai cư dân nói ngôn ngữ Malayo - Polynesia (trong đó

có người Gia Rai) vẫn theo truyền thống mẫu hệ, còn cư dân nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me (Ba Na) đã chuyển sang song hệ, phần đông đang trong quá trình chuyển sang chế độ phụ hệ ở những mức độ khác nhau Thực tế, cho thấy không phải cư dân theo chế độ mẫu hệ thì chậm tiến hơn cư dân theo chế

độ phụ hệ Việc theo chế độ phụ hệ hay mẫu hệ của các cư dân bản địa ở Gia Lai chỉ là sự phản ánh mặt truyền thống văn hoá đặc thù của mỗi dân tộc là hoàn toàn phù hợp với nhận định: “gia đình phụ hệ hay mẫu hệ chỉ phân biệt

cơ bản theo nguyên tắc tính dòng huyết thống theo cha hoặc theo mẹ, mà cái

đó thì khó có thể nói cái nào tiến bộ hơn và phù hợp hơn Vấn đề cơ bản là ở chỗ cách thức tổ chức và quan hệ giữa các thành viên như thế nào cho phù hợp với trào lưu của xã hội mới” [ 28, tr.236-237]

Các plơi, plei là hình thức tổ chức xã hội tương đối hoàn chỉnh, độc lập

và khép kín Thiết chế xã hội này được cộng đồng tôn trọng, coi là điều thiêng liêng buộc mọi người phải tuân theo với những qui định về ranh giới lãnh thổ, quyền sử dụng đất riêng được xác định, các luật tục, lễ thức gắn liền với plơi, plei Hình thái cư trú phổ biến của gia đình lớn mẫu hệ thường là ngôi nhà sàn dài, nhưng hiện nay, xu thế chuyển sang nhà trệt đang phổ biến Ở đó, người phụ nữ chủ gia đình có quyền điều khiển mọi sinh hoạt của gia đình, nhưng trách nhiệm của họ cũng rất nặng nề Họ vừa là lao động chính sản xuất ra lương thực, thực phẩm, vừa làm nội trợ và nuôi dạy con cái Hiện nay, ở Gia Lai, hình thức gia đình nhỏ mẫu hệ đang có chiều hướng phát triển ở đồng bào dân tộc Gia Rai, Ba Na Các gia đình nhỏ được tách ra từ cộng đồng kinh

tế chung của gia đình lớn, có thể vẫn cư trú chung trong một ngôi nhà dài hoặc làm riêng một ngôi nhà nhỏ bên cạnh ngôi nhà lớn, nên vẫn chịu ảnh

Trang 29

hưởng sâu đậm về tập quán truyền thống, nếp sống của gia đình lớn Đây là bước phát triển trong quan hệ gia đình, góp phần giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế tư hữu của gia đình nhỏ phát triển Trong các gia đình nhỏ này, người vợ vẫn giữ vai trò người chủ, nhưng vai trò của người đàn ông trong gia đình cũng đã bắt đầu được khẳng định về một số quyền và trách nhiệm nhất định trong sản xuất, đặc biệt là trong hoạt động xã hội

Trong hai dân tộc bản địa, Gia Rai là dân tộc duy nhất có tổ chức xã hội

tiền nhà nước với các Yàng Pơtao: Pơtao Ia (vua nước), Pơtao Apui (vua lửa)

và Pơtao Angin (vua gió) Trong thực tế những người này được cộng đồng coi như thần linh, có thể thay mặt cộng đồng giao tiếp với những vị thần khác để cầu mưa, giải hạn [57, tr.112]

Sau khi được giải phóng khỏi ách thống trị của Mỹ - ngụy (1975), đồng bào dân tộc Gia Rai, Ba Na trong tỉnh cùng cả nước bước vào thời kỳ xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phần lớn những người Gia Rai, Ba Na sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt có thể coi là những nông dân với việc sở hữu đất rừng đã được xác nhận Những người Gia Rai, Ba Na tham gia vào buôn bán, hay làm công chức, viên chức ngày càng chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu giai tầng Không ít người trong số họ giữ những cương vị quan trọng trong các mặt đời sống xã hội từ địa phương đến Trung ương Các khu công nghiệp, các thị trấn, các nông - lâm trường, thu hút ngày càng đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều thanh niên đã trở thành những công nhân thực thụ Đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số cũng ngày càng phát triển cả

về số lượng và chất lượng (xem phụ lục, tr.156 -159)

1.2.3 Đặc điểm văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Gia Lai là địa bàn cư trú từ lâu đời của các dân tộc Gia Rai, Ba Na Bộ phận người Việt và các dân tộc thiểu số phía Bắc có mặt ở Gia Lai muộn, đến vùng đất mới về cơ bản họ vẫn mang theo những nét văn hóa đặc trưng của

Trang 30

quê hương Vì vậy, nói đến bản sắc văn hóa Gia Lai là nói đến vốn văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc bản địa xét cả dưới góc độ vật thể và phi vật thể

- Văn hoá vật thể:

Làng (plei, plơi) không chỉ là đơn vị kinh tế mà còn là đơn vị văn hoá

cơ bản của xã hội cổ truyền Tây Nguyên Làng của người Gia Rai và Ba Na

thường lập ở gần nguồn nước, thuận tiện cho việc sinh hoạt và sản xuất Quy

mô của làng lớn hay nhỏ tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống

cụ thể gắn với cảnh quan địa hình và trình độ kinh tế

Làng Gia Rai cổ truyền thường bố trí các ngôi nhà quây quần gần nhau theo định hướng Bắc - Nam Khác với người Gia Rai, làng người Ba Na lại không được sắp xếp theo một hình mẫu nhất định nào Nhà cửa trong làng được dựng tuỳ theo thế đất, dựa vào địa hình tại chỗ nhưng cũng theo một số quy định có thể xem như tập quán: nhà không mở cửa về hướng Tây; nếu ở lưu vực sông suối thì nhà cửa phân bố dọc theo dòng chảy; ở sườn dốc thì nhà bao giờ cũng ở ngang triền dốc, quay mặt xuống dưới; ở chỗ bằng thì những căn nhà ở rìa làng bao giờ cũng mở cửa hướng vào làng

Làng Gia Rai, Ba Na cổ truyền thường có hàng rào bao quanh và có 2 cổng Cổng trước để giao tiếp với thế giới của người sống (dân làng ra ngoài làng và đón khách vào làng), còn cổng phía sau để giao tiếp với thế giới người chết (cổng ra nghĩa địa) [56, tr.757] Ngoài khu vực đất cư trú, người Gia Rai

và Ba Na bắt buộc phải có khu đất - rừng dành cho sản xuất, đất nghĩa địa, đất chăn thả gia súc

Mỗi làng Gia Rai, Ba Na đều có tên riêng và mang một ý nghĩa nhất định Tên làng Gia Rai thường được đặt theo tên nguồn nước trong khu vực, hoặc tên người lập làng, cũng có khi được đặt dựa theo một truyền thuyết cụ thể

Trang 31

Ở người Ba Na, rất phổ biến cách lấy tên một loại cây có nhiều hoặc

điển hình ở vùng được chọn lập làng để làm tên làng như: Kon Jri (Jri: Cây

đa); Kon Hra (cây sung) Tên làng cũng có thể là từ chỉ hình thù hoặc một

đặc điểm tự nhiên của vùng đất mà làng cư trú như: Kon Vong (ở xã Đak

Rong, Kbang) là rẻo đất hẹp hình tam giác Trong nhiều trường hợp, tên làng

Ba Na là một tên sông hoặc suối như: Đe Tul (ở xã Đak Sơmei, Đak Đoa), là một dòng nước cụt, hoặc làng Groi (vùng đất cao/đồi) Việc dùng tên người làm

tên làng ở người Ba Na không phổ biến như người Gia Rai [57, tr.268-269]

Nhà sàn là nhà ở của cư dân bản địa Nhà sàn của người Gia Rai và Ba

Na cũng có sự khác nhau Trước kia, khi chế độ gia đình lớn còn phổ biến, người Ba Na thường làm một nhà dài hàng trăm mét cho cả họ cùng ở chung, mỗi tiểu gia đình ở một gian riêng Cả một nhà chỉ có một cái cửa chính ra vào, trổ ở mặt Bắc hay mặt Nam tuỳ ý và khép mở chỉ có một tấm phên làm theo lối cửa đẩy, nên trong nhà không được sáng sủa lắm [47, tr.754] Trước cửa có một cái sân gác làm bằng gỗ thấp hơn sàn nhà một chút, trên có mái che hoặc để trống; phía trước sân có một cái thang lên xuống làm bằng gỗ hoặc bằng tre đục ra từng bậc Nhà ở cao chừng bốn, năm mét, chiều dài khoảng sáu, bảy mét và chiều rộng ba, bốn mét, từ mặt đất lên sàn nhà cao độ một mét Trong nhà được ngăn chia thành ba khu vực: Phía đầu hồi hướng

Đông - theo quan niệm của người Ba Na: phía của sự sống, là gian (lăm,

lươm) của vợ chồng chủ nhà; gian giữa (amin, hnga) là nơi tiếp khách ở đây

có bếp lửa to và là nơi ngủ của con gái lớn sắp lấy chồng và những thành viên

nữ khác; còn gian phía Tây là nơi ở của con trai nhỏ chưa đến tuổi ra nhà rông (13 tuổi) và các cặp vợ chồng, con cái Để tránh hoả hoạn, họ cất một chòi chứa thóc ở xa nhà hoặc ở trên rẫy

Nhà sàn của người Gia Rai trông có phần thoáng đãng hơn, vì có cửa chính, cửa phụ, và cửa sổ Ngoài cửa sổ hướng Tây, họ còn làm một cái sàn

Trang 32

phụ có chức năng như một cái sân để phụ nữ giã gạo và dệt vải vào các buổi sáng Cầu thang bước lên nhà được đẽo từ một thân cây, đặt ngay từ cửa vào xuống mặt đất Nhà ở của họ chia thành 2 loại: nhà dài (Ayunpa) và nhà sàn nhỏ (Vùng Pleiku) Trong ngôi nhà dài được bố trí 2 phần: phần đầu hồi bên

phải của nhà gọi là mang mang dùng để sinh hoạt và đón khách; phần đầu hồi bên trái gọi là mang ôk cửa quay về hướng Bắc - hướng chính của nhà, giành

cho sinh hoạt của cả nhà, khách lạ không được vào gian nhà này Vợ chồng

chủ nhà ở gian chính của mang ôk Mỗi gia đình nhỏ người Gia Rai đều có

bếp riêng và những đồ gia dụng riêng Đặc biệt, họ không bao giờ dùng chung

đồ của người khác sợ mắc bệnh sà rơn Hiện nay, nhiều vùng người Gia Rai

đã biết làm kho lúa, chứa nông cụ và chuồng nuôi gia súc riêng bên cạnh nhà

để giữ gìn vệ sinh [47, tr.758-759]

“Nhà ở cổ truyền của người Gia Rai và Ba Na đều có đặc điểm giống nhau là: trên sàn người ở, dưới sàn nuôi gia súc” [47, tr.754,757]

Nhà rông là biểu tượng văn hoá của cư dân bản địa ở Gia Lai Người

Ba Na và những nhóm Gia Rai trên cao nguyên Pleiku ngay từ khi lập làng đã chọn một khu đất dành riêng cho việc xây dựng ngôi nhà chung của làng mà

đồng bào gọi là nhà rông Nhà rông mỗi làng to hay nhỏ phản ánh điều kiện

kinh tế của dân cư trong làng Đây là nơi dân làng tổ chức những lễ hội, lễ nghi tín ngưỡng của cộng đồng Nhà rông như là một trường học của thanh niên, là câu lạc bộ của buôn làng, hay nói một cách khác “đó là trung tâm sinh hoạt chính trị, văn hoá và xã hội của cả làng” [40, tr.128] Nhà rông là công trình điển hình thể hiện tài năng và nghệ thuật kiến trúc của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên với mái lá cao vút vươn lên giữa trời xanh và vô vàn họa tiết trang trí độc đáo Riêng 2 nhóm Gia Rai Chor và Gia Rai Mthur ở khu vực Cheo Reo - Phú Túc không có nhà rông Ngoài ra, ở các cầu thang, sàn nhà của đồng bào đều có những hình điêu khắc có ý tượng trưng, phản ánh một

Trang 33

kiểu tư duy hồn nhiên của người đồng bào dân tộc Tây Nguyên Đấy cũng là

sự phản ánh nét tín ngưỡng phồn thực, nguyện vọng về sự phồn vinh, giàu có,

ấm no

Trang sức các loại như vòng cổ, vòng tay, vòng chân, những hoa văn,

màu sắc trang trí trên y phục tạo nên nét duyên dáng và khoẻ mạnh của người vùng cao

Phương thức sản xuất trong vùng đồng bào dân tộc Gia Rai, Ba Na phổ biến nhất hiện nay vẫn là canh tác trên nương rẫy và ruộng Trong nền kinh tế truyền thống, rẫy canh tác theo chu kỳ khép kín Mỗi gia đình thường

có một diện tích đất rừng lớn, đủ để họ quay vòng sản xuất Một đám rẫy thường chỉ sử dụng nhiều nhất là 3 vụ rồi bỏ hóa và chuyển sang canh tác trên đám đất mới, cứ như vậy khoảng từ 8 -10 năm người ta mới quay lại canh tác trên đám rẫy ban đầu

Trong quá trình sống gần người Kinh, chịu ảnh hưởng từ phương thức sản xuất của người Kinh, cư dân tại chỗ đã biết làm ruộng nước, biết gieo mạ

và cày bừa Hiện nay, họ đã được các khuyến nông viên hướng dẫn cách trồng lúa mới của Chính phủ cấp đem lại năng suất cao và ổn định hơn

Kỹ thuật canh tác của người Gia Rai, Ba Na còn thấp, công cụ lao

động cũng đơn giản Người Gia Rai, Ba Na dùng những chiếc rìu, rựa để phát, dọn rẫy; cây nhọn chọc lỗ tra hạt Tuy nó đem lại năng suất cây trồng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nhưng những dụng cụ lao động đó phản ánh một trình độ phát triển kỹ thuật nhất định của đồng bào dân tộc bản địa, trước khi được áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào sản xuất Hiện nay, trong khu vực Ayun Pa, nhiều hộ gia đình người Gia Rai đã có máy cày, máy suốt lúa, xe công - nông chuyển chở và đã biết sản xuất từ 2-3 vụ lúa nước trong 1 năm

Trang 34

Chăn nuôi của người Gia Rai, Ba Na không chỉ là vì vấn đề kinh tế, mà

còn có ý nghĩa văn hoá cộng đồng Việc nuôi trâu, bò vẫn chủ yếu để phục vụ các lễ nghi và sử dụng như vật ngang giá trong trao đổi những đồ dùng được coi là quý giá nhất thể hiện sự giàu có của mình như: chiêng, cồng bằng đồng, ché để đựng rượu cần Người Gia Rai, Ba Na hiện nay vẫn nuôi heo theo phương thức nửa chăm sóc, nửa thả rông Hiện nay, đồng bào dân tộc địa phương không chỉ nuôi heo, gà để làm vật hiến sinh trong các lễ thức tín ngưỡng mà còn dùng để đổi lấy những vật dụng cần thiết khác hoặc buôn bán khá phổ biến; riêng chó nuôi chủ yếu để giữ nhà và đi săn

Phân công lao động trong gia đình gắn với đặc điểm giới tính và tuổi

tác rất rõ ràng Nam chặt cây phát rẫy, đi săn thú, đánh cá, dựng nhà, đan lát Phụ nữ và trẻ em giã gạo, lấy nước, lấy củi, nấu cơm, nuôi con, trông nom gia súc, hái lượm Trước kia người Gia Rai, Ba Na có hai hình thức săn bắn khá phổ biến là săn tập thể và săn cá nhân bằng phương tiện phổ biến nhất là sử dụng ná (nỏ) và bẫy để bắt chim, thú Thú săn được nếu là thú lớn như hươu, nai, heo rừng thường được đem về chia đều cho dân làng Đây là, đặc điểm văn hoá thể hiện tính nhân văn của cư dân bản địa, mọi người trong xã hội

đều gắn bó với nhau, giúp đỡ, tương trợ và yêu thương nhau: “Con trâu còn

sống là của nhà, con trâu chết lại là của làng” [39, tr.40] Ngày nay, với ý

thức của cả cộng đồng về bảo tồn động vật hoang giã, quý hiếm, nên hình thức săn tập thể không còn nữa

Trong nền kinh tế tự cấp, tự túc tồn tại lâu đời của người Gia Rai, Ba

Na thể hiện những nét văn hoá vật thể độc đáo cần nghiên cứu để hiểu rõ hơn

về cuộc sống của họ, tìm ra những giải pháp thích hợp để bảo tồn và phát huy trong thời đại mới Chính những giá trị ấy là một nguồn lực nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc địa phương trong nền kinh tế thị trường hiện nay Trong đó, cần lưu ý một số nghề thủ công khá phổ biến như dệt thổ cẩm, đan lát, mộc, rèn nhưng còn ở tình trạng rất sơ khai

Trang 35

- Văn hoá phi vật thể:

Tín ngưỡng dân gian của cư dân bản địa đã thể hiện nổi bật nét văn hoá

mang đậm bản sắc dân tộc Người Gia Rai, Ba Na tin rằng, trong thế giới tự nhiên muôn hình muôn vẻ, có một lực lượng vô hình luôn tác động đến mọi

mặt đời sống của đồng bào Lực lượng vô hình ấy được gọi chung là yang

(thần)

Đối với người Ba Na, bok Kei Dei (thần nam) và yă Kung Keh (thần

nữ) là 2 vị thần tối cao sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài được người Ba Na

kính trọng Bok Glăih (thần sấm sét) cũng là vị thần mà người Ba Na kính sợ Ngoài ra còn có yă Pôm (nữ thần) là con bok Kei Dei và yă Kung Keh giàu

lòng nhân ái, thường hay cứu giúp những người nghèo khổ nên được người

Ba Na rất yêu mến và thường khấn tên bà trong những buổi tế lễ; Yang Hri (thần lúa) còn có tên là yang Dai (hay yang Pơdai) là vị thần coi giữ lúa gạo

và bếp núc; Yang Đak (thần nước); Yang Kông (thần núi)

Người Gia Rai có yang hma (thần ruộng rẫy), yang ktăn (thần sét),

yang pin Ia (thần bến nước), yang chư (thần núi), yang phun bơnú (thần cây

đa), yang plin (thần khổng lồ hình người), yang sang (thần nhà), yang bôn (thần làng), yang kông (thần vòng tay hoặc vòng chân), yang blah (thần chiến tranh), yang hri (thần lúa), yang pơtao (tù trưởng lớn), yang prin tha (thần

người sinh ra dòng họ)

Trong số những yang trên, người Gia Rai xem trọng hơn cả là yang

sang (thần nhà), yang bôn và yang pin ia (thần làng và thần bến nước), yang Bhet tơngia và yang Pơtao (thần bản mệnh trẻ em và thần gọi mưa) Trước

đây, người Gia Rai luôn nhắc đến các vị thần này trong tất cả các lễ cúng hàng năm hoặc nhiều năm theo định kỳ

Ngoài những thần cao siêu, người Gia Rai, Ba Na còn quan niệm có những thần là động vật, cây cối, đồ dùng mà con người có thể kết thân

Trang 36

được Họ cũng tin rằng, xung quanh mình có cả ma (atâu) là hồn của những người đã chết

Trong đời sống cổ truyền, quan hệ giữa con người với các thần linh chi phối cuộc sống của từng người, từng nhóm người, từng làng buôn Gia Rai, Ba

Na Đó là quan hệ của kẻ yếu cần sự che chở, giúp đỡ Con người luôn phải tôn trọng những tập quán mà họ cho rằng thần linh đã định, như Lênin đã khẳng định: “Sự bất lực của con người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu ” [36, tr.169] Đúng vậy, “tín ngưỡng cổ truyền của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên phản ánh thế giới quan sơ khai - đó là quan niệm vạn vật hữu linh- giai đoạn đầu của sự phát triển tôn giáo” [13, tr.164] Tín ngưỡng cổ truyền của cư dân bản địa phản ánh mối quan hệ giữa con người đang sống với thần linh, giữa thế giới tự nhiên với thế giới siêu nhiên, ở đó thần linh có thể bảo đảm cho cuộc sống hiện tại của mình Họ chỉ cầu xin thần linh những điều rất thực tế như: sức khoẻ, đời sống được yên ổn, sản xuất và chiến đấu bảo vệ làng có kết quả Chính vì vậy, cho nên tín ngưỡng của cư dân bản địa khác cơ bản với những tôn giáo khác: “Chưa có nơi thờ cúng thường xuyên; chưa phải là một nhu cầu tâm linh; chưa có hình tượng nhân dạng của thần linh; chưa có lớp người chuyên hành nghề tôn giáo” [27, tr.102] Và do chưa có tầng lớp thống trị, cơ cấu làng chưa phải là cơ cấu quyền lực chính trị, mà chỉ là một cơ cấu của quan hệ đồng đẳng tự nhiên, nên ở đây chưa xuất hiện một cơ cấu thần quyền chặt chẽ phục vụ cho quyền lực của kẻ thống trị

Hiện nay, các tôn giáo độc thần dần dần thay thế cho hệ thống tín ngưỡng đa thần ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Theo thống kê của Ban tôn giáo tỉnh, Gia Lai đang tồn tại năm tôn giáo được hoạt động hợp pháp là: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài vµ B’Hai chiÕm kho¶ng 23,5% d©n sè trong tØnh [52, tr.1] Trong đó, có 2 tôn giáo ảnh hưởng lớn đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số là Công giáo và Tin lành

Trang 37

Đạo Công giáo ở Gia Lai: có mặt đầu tiên ở vùng Kon Mơhar lúc đó

thuộc tỉnh Kon Tum (nay là xã Hà Đông, huyện Đak Đoa và xã Hà Tây huyện Chư Pah tỉnh Gia Lai) từ nửa cuối thế kỷ XIX rồi lan nhanh ra những vùng lân cận đến những năm đầu thế kỷ XX Đến cuối năm 2006, Gia Lai có 90.767 người theo đạo Công giáo, trong đó có 25.500 người là đồng bào dân tộc thiểu

số [9, tr.53]

Chính quyền địa phương luôn quan tâm đến đời sống tâm linh của giáo dân Nhiều cơ sở thờ tự của Công giáo được tiếp tục hoàn thiện và tu sửa ngày một khang trang Vùng đồng bào dân tộc Gia Rai, Ba Na theo Công giáo đã

có những thay đổi sâu sắc về văn hoá, phong tục tập quán, hạn chế được những hủ tục lạc hậu, góp phần hạn chế được nhiều tệ nạn xã hội Đội ngũ chức sắc và tín đồ nguyện chấp hành tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm tốt nghĩa vụ công dân, sống "tốt đời đẹp đạo" và hành đạo theo đường hướng đồng hành cùng dân tộc Nhiều giáo dân người dân tộc thiểu số và linh mục đã tham gia tích cực vào công tác xã hội như xoá đói giám nghèo, mở trường giáo dục mầm non, chăm sóc trẻ em mồ côi

Đạo Tin lành ở Gia Lai: Tôn giáo này có mặt ở nước ta từ cuối thế kỷ

XX, do Hội liên hiệp Cơ đốc và Truyền giáo (The Christian and Missionnary Alliance of America - CMA) truyền vào Việt Nam và thâm nhập địa bàn Gia Lai từ sau năm 1954

Do tính tổ chức không chặt chẽ như đạo Công Giáo, đơn giản hóa các luật lệ, lễ nghi, được duy trì trong mọi điều kiện, thậm chí khi chưa có giáo sĩ, chưa có nhà thờ nên tôn giáo này được bộ phận cư dân bản địa tiếp nhận nhanh chóng

Những thập niên gần đây, đạo Tin lành phát triển nhanh trên địa bàn Gia Lai Năm 1998 toàn tỉnh có 50.392 tín đồ theo đạo Tin lành Tính đến cuối năm 2006, Gia Lai có 09 hệ phái Tin lành đang hoạt động tại 440 làng,

Trang 38

113/215 xã phường, thị trấn của 16 huyện, thị xã và thành phố với 88.072 tín

đồ Trong đó, có 76.000 tín đồ là người dân tộc thiểu số Hệ phái Tin lành Việt Nam miền Nam chiếm số lượng đông nhất (82.613 người), là hệ phái duy nhất hiện nay được công nhận pháp nhân tôn giáo được hoạt động hợp pháp ở Gia Lai [52, tr.1]

Tin lành đã hình thành được những tập quán và nội dung sinh hoạt tôn giáo phù hợp ở mức độ đáng kể với điều kiện, đặc điểm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Ngoài ra, họ xây dựng được hội thánh địa phương mang màu sắc dân tộc Bắc Tây Nguyên, do người dân tộc quản lý, phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo và sinh hoạt xã hội của đồng bào dân thiểu số Do vậy, đạo Tin lành

đã trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng theo đạo là người dân tộc bản địa ở tỉnh Gia Lai Các lễ hội của các tôn giáo mới có mặt trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: Noel, Phục sinh (của Kitô giáo); Phật đản, Vu lan (của Phật giáo) đã làm tăng thêm loại hình lễ hội ở Gia Lai

Lễ hội dân gian cư dân bản địa: tỉnh Gia Lai có nhiều lễ hội dân gian

liên quan đến cộng đồng, gia đình hay từng dòng họ Trong đó, có hai hệ thống chính: lễ hội trong vòng đời người và lễ hội trong chu kỳ canh tác

nương rẫy (thường tính theo chu kỳ canh tác lúa rẫy)

Lễ hội trong vòng đời người gồm nghi lễ cầu sức khỏe cho bà mẹ và

thai nhi trong thời kỳ người phụ nữ mang thai Nghi lễ được tiến hành trong thời kỳ này thường không lớn, lễ vật thường chỉ có gà và rượu Hành động và lời khấn thể hiện việc cầu thần tốt phù hộ, đuổi ma (atau) xấu ra khỏi cơ thể người mẹ Lễ hội từ khi đứa bé sinh ra đến khi con người về với thế giới “ông

- bà”có: lễ thổi tai, lễ trưởng thành, lễ cầu sức khỏe, lễ tạ ơn thần linh mang lại sức khỏe cho người già (tương đương như lễ mừng thọ) Lễ hội sau khi chết: tang ma, cúng tháng, bỏ mả (pơthi)

Trang 39

Những lễ hội trong chu kỳ canh tác nương rẫy được tiến hành từ khi chọn

đất phát cây, gieo hạt, lúa trổ bông, cho đến khi hoàn thành việc thu hoạch

Cư dân thuộc vùng văn hóa Trường Sơn -Tây Nguyên, đặc biệt là đối với bộ phận dân cư sinh sống ở khu vực Bắc Tây Nguyên, thì những lễ hội có trâu làm vật hiến sinh được coi là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội cổ truyền,

như: lễ hội mừng chiến thắng; lễ cầu xin sự yên bình cho dân làng sau nhiều

mùa vụ thất bát; lễ khánh thành nhà rông…Đối với họ con trâu không phải

là đầu cơ nghiệp”, chuyên lo kéo cày như ở đồng bằng, mà nó được nuôi như một biểu tượng của sự giàu sang, người ta dùng trâu như vật ngang giá để đổi lấy những vật dụng mà họ cho là quý như: chiêng, ché và đặc biệt trâu là vật hiến sinh giá trị nhất trong các lễ hội Tây Nguyên Trong phạm vi gia đình, người ta cũng hiến sinh trâu để cầu thần linh phù hộ cho các thành viên của gia đình khỏe mạnh, mùa màng tốt tươi; trâu cũng là lễ vật trong lễ bỏ mả để chia của cho người thân đã chết…Bên cạnh đó, việc hiến sinh trâu còn hàm ý phô trương sự giàu sang của chủ nhà [57, tr.338]

Đặc biệt, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (trong đó có Gia Lai) đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại từ ngày 25-11-2005 Tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai, ngày 28-3-2006, Bộ Văn hoá thông tin đã phối hợp với UBND tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên tổ chức long trọng lễ đón nhận bằng công nhận di sản Cồng chiêng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người Gia Rai

và Ba Na Nó có mặt trong mọi nghi lễ của cộng đồng cũng như của từng gia đình, từ lễ hội liên quan đến cá nhân, buôn làng cho đến những lễ hội trong một mùa trồng tỉa của cư dân nông nghiệp Với người dân Tây Nguyên cồng chiêng không đơn thuần chỉ là một loại nhạc cụ mà còn là một linh khí, là phương tiện giúp con người giao tiếp với thần linh, đồng thời cũng là phương tiện chuyển tải thông tin nhanh nhất đến dân làng Trước đây, đồng bào chỉ

Trang 40

đánh cồng chiêng khi có việc Nghe tiếng chiêng, những người trong làng, trong vùng hiểu rằng ở phía có tiếng chiêng đang có việc gì để đến chia buồn hoặc chung vui

Mỗi bộ cồng chiêng của người Gia Rai và Ba Na luôn có 2 phần: phần tiết tấu được thể hiện bằng những chiếc cồng (có núm); phần giai điệu được thể hiện bằng những chiếc chiêng (không có núm) Ngoài ra, biên chế đủ để thể hiện âm nhạc cồng chiêng còn có lục lạc, chũm chọe

Người Gia Rai biên chế các loại cồng chiêng thành những bộ có tên gọi riêng để phục vụ cho những công việc, những lễ hội cụ thể Thông thường, một bộ chiêng chỉ được sử dụng trong những nghi lễ có cùng tính chất: Chiêng tơnăh, kơđơ mỗi bộ có từ 8 - 9 chiếc (thường 3 cồng, 5 chiêng) được biên chế với một trống có đường kính mặt trên dưới 1 mét, chỉ dùng trong những lễ hội vui; chiêng Aráp mỗi bộ có từ 12-13 chiếc trở lên Trong vùng người Ba Na hoặc Gia Rai ở phía Tây Trường Sơn, đồng bào có thể dùng bộ cồng chiêng này trong mọi lễ hội (vui hoặc buồn) nhưng người ta phân biệt được tính chất và loại hình các lễ hội bằng những bài chiêng khác nhau Nhưng ở vùng Cheo Reo, đồng bào thường chỉ dùng chiêng aráp trong những nghi lễ liên quan đến tang ma (khi có người chết hay trong lễ bỏ mả) Bộ chiêng Mơtrum (trum) Kơbăo gồm 3 cồng có núm biên chế cùng 1 hoặc 2 trống vỗ, chỉ dùng trong những lễ hội có trâu làm vật hiến sinh; nhiều gia đình, dòng họ giàu có người Gia Rai còn có những bộ chiêng riêng để sử dụng trong tất cả những nghi lễ của gia đình, dòng họ

Các tộc người ở Gia Lai đánh cồng chiêng xung quanh trung tâm biểu tượng thiêng như cây nêu, nhà mồ hoặc con trâu hiến sinh Mỗi nghệ nhân chỉ

sử dụng một chiếc, đi thành hàng một, theo vòng tròn giúp cho tiếng chiêng của từng cái chiêng cồng đều đến được trung tâm thiêng là gơng kơbâo (cột lễ buộc trâu để đâm trong lễ hội có hiến sinh trâu), nơi các thần linh bay về ngự

Ngày đăng: 01/07/2023, 19:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồng Anh (2008), “liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật với vai trò tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ”, Khoa học & Công nghệ, số 2, tr.22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật với vai trò tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ”, "Khoa học & Công nghệ
Tác giả: Hồng Anh
Năm: 2008
5. Ban dân tộc tỉnh Gia Lai (2008), Báo cáo tình hình thực hiện công tác dân tộc (1991-2008) trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Lưu tại Văn phòng Ban dân tộc tỉnh Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện công tác dân "tộc (1991-2008) trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Tác giả: Ban dân tộc tỉnh Gia Lai
Năm: 2008
6. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945-2005), Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai "(1945-2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai
Năm: 2009
7. Trần Văn Bính chủ biên (2006), Đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số "trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Trần Văn Bính chủ biên
Năm: 2006
8. Trần Văn Bính chủ biên (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên thực trạng và những vấn đề đặt ra, Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.517 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên thực "trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính chủ biên
Năm: 2004
9. Nguyễn Thành Cam chủ nhiệm đề tài (2006), Tìm hiểu thực trạng vấn đề tôn giáo và dân tộc trong phát triển hiện nay ở Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thực trạng vấn đề
Tác giả: Nguyễn Thành Cam chủ nhiệm đề tài
Năm: 2006
10. Cục thống kê Gia Lai (2005), Gia Lai 30 năm xây dựng và phát triển (1975- 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Lai 30 năm xây dựng và phát triển (1975-
Tác giả: Cục thống kê Gia Lai
Năm: 2005
13. Trương Minh Dục(2005), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và "quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên
Tác giả: Trương Minh Dục
Năm: 2005
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời "kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -"xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần "thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1996
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trưng ương khoá VIII, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban Chấp "hành Trưng ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần "thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận-"thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996-1999, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghị quyết của Trung ương Đảng "1996-1999
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
23. Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1992), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ X. Lưu tại Ban Tuyên giáo tỉnh Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần "thứ X
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Gia Lai
Năm: 1992
24. Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1995), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XI. Lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần "thứ XI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Gia Lai
Năm: 1995
25. Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XII. Lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần "thứ XII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Gia Lai
Năm: 2000
26. Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2005),Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XIII, Lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ "XIII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Gia Lai
Năm: 2005
27. Nguyễn Tấn Đắc (2005), Văn hoá xã hội và con người Tây Nguyên, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá xã hội và con người Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w