1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng văn hóa việt qua cách định danh một số sản phẩm ẩm thực (lớp từ ngữ chỉ bánh, mứt, xôi, chè) (sơ bộ so sánh phương ngữ nam bộ với phương ngữ bắc bộ)

180 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng văn hóa Việt qua cách định danh một số sản phẩm ẩm thực (lớp từ ngữ chỉ bánh, mứt, xôi, chè) (sơ bộ so sánh phương ngữ Nam Bộ với phương ngữ Bắc Bộ)
Tác giả Trần Thị Mai Hồng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Công Đức
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 858,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu vấn đề đặc trưng văn hóa dân tộc của một số tên gọi các món ẩm thực bánh, mứt, xôi, chè qua cách định danh và khả năng hành chức của nó trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao với t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh

Mã số: 5.04.27

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2006

Trang 2

QUI ƯỚC VIẾT TẮT

- CBH : Cái biểu hiện

- CĐBH : Cái được biểu hiện

Trang 3

3 Phương pháp, tư liệu nghiên cứu 8

4 Đối tượng, nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 8

6 Bố cục của luận văn 10

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẶC TRƯNG

VĂN HÓA DÂN TỘC CỦA NGÔN NGỮ 1.1.Văn hóa và đặc trưng dân tộc của văn hóa 12

1.1.2 Đặc trưng dân tộc của văn hóa 13

1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ 15

1.2 Đặc trưng văn hóa dân tộc qua sự chia cắt hiện thực khách quan 16

1.3 Đặc trưng văn hóa dân tộc qua cách định danh 19

1.3.2 Đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh ngôn ngữ 19

1.4 Đặc trưng văn hóa dân tộc qua ý nghĩa từ và sự chuyển nghĩa của từ 22

1.4.2 Sự chuyển nghĩa của từ 27

Trang 4

1.4.2.1 Nguyên nhân của hiện tượng chuyển nghĩa từ 27

1.4.2.2 Những hiện tượng chuyển nghĩa từ 28

CHƯƠNG 2

ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA DÂN TỘC

CỦA TÊN GỌI MỘT SỐ MÓN ẨM THỰC (BÁNH, MỨT, XÔI, CHÈ)

2.1.2 Các tên gọi trong PNNB có nghĩa sở chỉ

rộng hơn nghĩa sở chỉ của tên gọi tương ứng trong PNBB 36

2.1.3 Các tên gọi trong PNNB có nghĩa sở chỉ

hẹp hơn nghĩa sở chỉ của tên gọi tương ứng trong PNBB 38

2.2 Đặc điểm định danh các loại bánh, mứt, xôi, chè 43

2.2.1 Đặc điểm định danh các loại bánh, mứt, xôi, chè

xét từ góc độ nguồn gốc tên gọi 43

2.2.1.1 Tên gọi thuần Việt và tên gọi vay mượn 43

Trang 5

2.2.1.2 Tên gọi trực tiếp và tên gọi gián tiếp (do chuyển nghĩa) 45

2.2.2 Đặc điểm định danh các loại bánh, mứt, xôi, chè

xét từ góc độ kiểu ngữ nghĩa 45

2.2.2.3 Những đặc trưng được chọn làm cơ sở để định danh 49

2.3 So sánh cách định danh các loại bánh, mứt, xôi, chè

Trang 6

3.1.1 Khái niệm tín hiệu 72

3.1.2 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ 73

3.1.3 Đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ 74

3.2 Hình thức ngôn ngữ của THTM bánh, mứt, xôi, chè

trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao của người Việt 78

3.2.1 Khả năng hành chức của các THTM bánh, mứt, xôi, chè

trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 78

3.2.2 Về cấu trúc của các THTM bánh, mứt, xôi, chè

trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 79 3.2.2.1 Về chức năng của TH trong cụm danh từ 80

3.2.3 Kiểu sử dụng các tên gọi bánh, mứt, xôi, chè

trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 86 3.2.3.1 Sử dụng các tên gọi đơn tiết, đa tiết để tạo vần thơ, nhịp thơ 86 3.2.3.2 Sử dụng các tên gọi đơn tiết, đa tiết tương đương

3.3 Nghĩa biểu trưng của các THTM bánh, mứt, xôi, chè

trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao của người Việt 90

Trang 7

3.3.1 Khái niệm 90

3.3.2 Đối tượng phản ánh của văn học và đối tượng biểu thị

của các tên gọi bánh, mứt, xôi, chè trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 90

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Mối quan hệ giữa văn hóa – ngôn ngữ – tư duy và đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ đang là vấn đề ngày càng thu hút mạnh mẽ sự chú ý không chỉ riêng các nhà văn hóa học, ngôn ngữ học hay tâm lý học, mà còn cả các nhà triết học, dân tộc học, xã hội học Tuy nhiên, việc nghiên cứu đặc trưng văn hóa – dân tộc trong ngôn ngữ ở Việt Nam cũng chỉ mới được bắt đầu từ sau Hội nghị nghiên cứu về những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam do Hội Ngôn ngữ học Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, tháng 7 năm 1992

Nghiên cứu vấn đề đặc trưng văn hóa dân tộc của một số tên gọi các món

ẩm thực bánh, mứt, xôi, chè qua cách định danh và khả năng hành chức của

nó trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao với tư cách là những THTM - VC, từ trước tới nay xem ra còn rất ít Luận văn của chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này, bởi vì: Thứ nhất, chúng là đối tượng có khả năng phản ánh rõ nét những đặc trưng có tính chất loại hình đơn lập của tiếng Việt cũng như một số ngôn ngữ khác ở phương Đông ; Thứ hai, trường từ vựng này hàm súc về ngữ nghĩa và sử dụng phong phú trong lời nói ; Thứ ba là trường từ vựng này là trường có giới hạn rõ ràng nên tương đối khép kín, thuận lợi cho việc nghiên cứu ; Thứ tư là trường từ vựng được chọn làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn này ít được giới ngôn ngữ chú ý nghiên cứu khảo sát một cách toàn diện Giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần làm sáng tỏ bản chất cách định danh các món ẩm thực trong tiếng Việt về mặt lý thuyết Mặt khác, đối với

Trang 9

tiếng Việt, những vấn đề như sử dụng nó như thế nào trong văn học nói chung, trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao nói riêng, trong giảng dạy ở nhà trường, trong giao tiếp hàng ngày, trong nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc anh

em trong cộng đồng người Việt để có hiệu quả cao trong sử dụng là một vấn

đề cần thiết hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Những tiền đề lý luận

Có thể nói, bắt đầu từ năm 1945, khi nước ta giành được độc lập, khi tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thức của cả nước, cũng là lúc ngành ngôn ngữ học Việt Nam lật sang một trang sử mới Các nhà Việt ngữ học đã vận dụng hầu như tất cả các lí thuyết hiện đại của ngôn ngữ học thế giới vào miêu tả tiếng Việt Nếu như trước đây do ảnh hưởng của truyền thống ngôn ngữ học châu Âu, việc

nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói riêng, ngôn ngữ học nói chung, còn khá đơn

điệu, chủ yếu dựa trên sự mô phỏng, thì bước sang thời kỳ này, Việt ngữ học đã

có những bước tiến vượt bậc Nếu như trước đây người ta chỉ quan tâm nghiên cứu nghĩa của từ thì ngày nay đã chú ý nhiều đến nghĩa của câu Những vấn đề

cú pháp về ngữ nghĩa đã được đặt ra như : cấu trúc đề – thuyết, cấu trúc vị từ –

tham tố, ngữ trị, diễn tố; các vai nghĩa như: người hành động, người tác động, người thể nghiệm, người nhận, người hưởng lợi, đã được nghiên cứu Phong cách học từ chỗ chỉ chuyên khảo sát các thủ pháp tu từ (mĩ từ pháp), đã bước

thêm một bước tiến dài khi đề cập đến phong cách chức năng của tiếng Việt; từ nghiên cứu các phong cách chức năng đã mở rộng ra vấn đề của ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thơ, phong cách tác giả, phong cách học văn bản, Ngành

nghiên cứu mới là ngữ dụng học cũng đã được vận dụng vào thực tế tiếng Việt

Trang 10

Liên quan đến ngữ dụng học là các ngành ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học

tâm lí, ngôn ngữ – văn hóa học

Các công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học, không ít thì nhiều cũng đề cập đến các vấn đề có liên quan về văn hóa – ngôn ngữ học Bởi, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu có mối quan hệ tương sinh mật thiết với văn hóa Ngôn ngữ thúc đẩy sự hình thành văn hoá nhân loại, đồng thời, ngôn ngữ bao hàm những nguyên tắc về hành vi và nhận thức của con người với thế giới Ngôn ngữ không chỉ là một phần của văn hóa, đồng thời còn là phương tiện chuyển tải chủ yếu của văn hóa Các hiện tượng văn hóa thường phải nhờ vào ngôn ngữ mới có thể được bảo tồn, duy trì và truyền bá, đồng thời, ngôn ngữ cũng là cơ sở phát triển của văn hóa Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, nó và các hành vi xã hội của con người hòa nhập với nhau và là con đường tất yếu để văn hóa sản sinh, phát triển, và được kế thừa Do vậy, nhìn từ góc độ tổng thể, ngôn ngữ có thể phản ánh toàn bộ lịch sử phát triển, cũng như văn hóa, tín ngưỡng, v.v… của một dân tộc Mỗi hệ thống ngôn ngữ đều ẩn chứa các nhân tố văn hóa của từng dân tộc những quan niệm giá trị, chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, phương thức sống… Do đó, nhiều nhà Việt ngữ học đã khảo sát mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, sự phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ…

Những nghiên cứu khởi đầu của việc nghiên cứu đặc trưng văn hóa dân tộc trong tiếng Việt nói riêng, văn hóa – ngôn ngữ học nói chung bắt đầu từ những nghiên cứu từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt Các nhà từ vựng học như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành,v.v… luôn chú ý đến đặc trưng văn hóa – dân tộc của tiếng Việt Đó là cách phản ánh hiện thực, cách phân cắt thực tại của tiếng Việt khác với các ngôn ngữ khác

Trang 11

Theo nhiều nhà Việt ngữ học, mỗi ngôn ngữ đều phân cắt thực tại theo cách riêng của mình Cách gọi tên sự vật, hiện tượng trong tiếng Việt cũng thể hiện rõ

sự khác biệt của người Việt so với các dân tộc khác Chẳng hạn, người Việt gọi

là trái chút chít, thì người Anh căn cứ vào màu sắc mà gọi là red weed (nghĩa là

hồng thảo) [36, 376] Ngay cả trong cùng một dân tộc, vào những thời điểm khác

nhau, ở những địa phương khác nhau, cũng có những tên gọi khác nhau Chẳng

hạn, người miền Bắc gọi là bao diêm thì người miền Nam gọi là hộp quẹt Những đối tượng mà ngôn ngữ toàn dân gọi là ớt chỉ thiên, mít dai, chuối tây… thì các địa phương khác gọi là ớt hiểm, mít ráo, chuối mốc… Tất cả những hiện

tượng trên đều bắt nguồn từ cách định danh khác nhau, tức là cách gắn cho kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm phản ánh đặc trưng nào đó của đối tượng Công

trình Từ vựng học tiếng Việt, và công trình Từ và nhận diện từ tiếng Việt của

Nguyễn Thiện Giáp là hai trong số những công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề này

Ngôn ngữ là thành tố của văn hóa, cho nên mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ được nhiều nhà nghiên cứu chú tâm Mặt khác, nhu cầu giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng thúc đẩy việc nghiên cứu mối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa, bởi dạy ngoại ngữ phải cung cấp cho người học toàn bộ tri thức cần thiết về đất nước, về các điều kiện thiên nhiên, địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội, cấu trúc chính trị xã hội và văn hóa tinh thần…của ngôn ngữ Việt cho người nước ngoài học tiếng Việt

Năm 1992, Hội thảo quốc gia Việt Nam – những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa được tổ chức Hàng loạt các vấn đề về lí luận về mối quan hệ giữa văn hóa

và ngôn ngữ được quan tâm Trần Ngọc Thêm đã đề xuất cần phải có một môn học giáp ranh giữa ngôn ngữ và văn hóa học, là văn hóa – ngôn ngữ học (culturo

Trang 12

linguistics) Tác giả cũng đã phân biệt văn hóa – ngôn ngữ học trong phạm vi

một dân tộc với văn hóa – ngôn ngữ học trong phạm vi nhiều dân tộc Theo Trần

Ngọc Thêm, văn hóa – ngôn ngữ học trong phạm vi một dân tộc nghiên cứu

những vấn đề như văn hóa ngôn ngữ học lịch sử với vấn đề tính cách và nguồn

gốc văn hóa dân tộc, văn hóa – ngôn ngữ học từ vựng, văn hóa – ngôn ngữ học

ngữ âm, ngữ pháp… Còn văn hóa – ngôn ngữ học nhiều dân tộc nghiên cứu

những vấn đề như nghệ thuật ngôn từ với loại hình ngôn ngữ văn hóa, tiếp xúc

ngôn ngữ và văn hóa, đa ngôn ngữ và đa văn hóa, văn hóa ngôn ngữ học và

phương pháp dạy tiếng…

Đỗ Hữu Châu, trong Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ (2000), thì có tham

vọng vạch ra một đề cương phương pháp luận chưa đầy đủ cho việc nghiên cứu

ngôn ngữ văn hóa học Đỗ Hữu Châu tiếp nhận quan điểm của Ward

Goodenough về văn hóa Theo ông, trong các ý nghĩa liên hội, có giá trị văn hóa,

nhất là những liên hội có tính đánh giá theo hai thang độ tốt và xấu Thái độ văn

hóa đối với các sự vật, hiện tượng, trạng thái… tự nhiên và xã hội được thể hiện

qua các ý nghĩa tốt – xấu theo một chuẩn văn hóa nào đấy do các hiện tượng,

trạng thái đó gợi ra Cũng trong tác phẩm trên, Đỗ Hữu Châu cho rằng ẩn dụ là một bộ phận của văn hóa Qua hệ thống hóa các ẩn dụ chúng ta

có thể phát hiện ra những hiểu biết, những tín điều, những tình cảm mà chúng ta

không ý thức được đầy đủ về những phương diện nhất định của đời sống xã hội

Trịnh Kim Ngọc, trong Ngôn ngữ văn hóa: tri thức nền và việc giảng dạy

tiếng nước ngoài (1999), cũng đã giới thiệu những quan niệm của một số học giả

Nga, từ đó trình bày những suy nghĩ của mình qua ba vấn đề lớn: tri thức nền

trong ngôn ngữ và giáo học pháp, dạy tri thức nền và thành tố văn hóa dân tộc

Trang 13

trong ngữ nghĩa các đơn vị ngôn ngữ, hình tượng dân tộc ổn định qua ngôn từ, v.v…

2.2 Những nghiên cứu chuyên sâu

Công trình Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở

người Việt của Nguyễn Đức Tồn là chuyên khảo được đánh giá khá chuyên sâu

về vấn đề ngôn ngữ văn hóa Công trình này được tiến hành theo hướng lí thuyết tâm lý ngôn ngữ học tộc người Với độ dày 390 trang, tác giả đã trình bày cơ sở

lí luận, phương pháp nghiên cứu và những kết quả thu nhận được Xét về lí luận, tác giả tiếp nhận quan điểm của A.A Lêônchev để tìm hiểu những đặc trưng văn hóa dân tộc ở những mặt sau: đặc trưng văn hóa dân tộc trong nghĩa của từ, đặc trưng văn hóa dân tộc trong sự phạm trù hóa hiện thực, đặc trưng văn hóa qua cách định danh, đặc trưng văn hóa trong sự chuyển nghĩa và nghĩa biểu trưng Trong công trình này, Nguyễn Đức Tồn đã nêu lên đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ người Việt so với ngôn ngữ của một số dân tộc khác

Một số vấn đề giao tiếp giao văn hóa của Nguyễn Quang cũng được xem

là một chuyên luận được giới Việt ngữ học đánh giá cao về mặt phương pháp

luận Theo Lược sử Việt ngữ học [36], công trình này là sự kế tục và phát triển dựa trên đề tài luận án Một số khác biệt giao tiếp lời nói Việt- Mỹ trong cách

thức khen và tiếp nhận lời khen và dựa vào công trình nghiên cứu Giao tiếp và giao tiếp giao văn hóa Tác giả không chỉ dừng lại ở phần ngôn ngữ mà còn mở

rộng sang cả phần giao tiếp, không chỉ xét hoạt động giao tiếp dựa trên những thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ học mà còn chủ tâm sử dụng các kết quả nghiên cứu của các bộ môn quan yếu…

Lý Toàn Thắng trong các bài viết của mình đã đề cập rất nhiều đến vấn đề

đặc trưng văn hóa – ngôn ngữ dân tộc Công trình Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí

Trang 14

thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt đã trình bày những vấn đề lí thuyết về

ngôn ngữ học tri nhận, nguyên lý dĩ nhân vi trung của mô hình thế giới, định hướng không gian và những cách biểu đạt chúng trong ngôn ngữ…

Gần đây, có một số luận án mới được bảo vệ, dưới những góc độ khác nhau, cũng đã chú ý đến đặc trưng văn hóa của tiếng Việt Có thể nêu tên một vài công trình như sau:

+ Bình diện cấu trúc – ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Công

Đức (Luận án Phó tiến sĩ, bảo vệ tại Viện Ngôn ngữ học, 1996)

+ Đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu

với tiếng Nga) của Nguyễn Thúy Khanh (Luận án Phó tiến sĩ, bảo vệ tại Viện Ngôn ngữ học, 1996)

+ Các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện hành động thỉnh cầu trong tiếng Anh và

trong tiếng Việt của Nguyễn Văn Độ (Luận án phó tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà

Nội, 1999)

+ Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúng (trên tư

liệu điển cố Nga, Anh, Việt) của Nguyễn Văn Chiến (Luận án Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002)

+ Tìm hiểu đặc trưng văn hóa ngôn ngữ của nhóm từ chỉ động thực vật trong

tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) của Nguyễn Thanh Tùng (Luận án tiến sĩ, Đại

học Quốc gia TP.HCM, 2003)

+ Chuyên khảo Phương ngữ Nam Bộ của Trần Thị Ngọc Lang có thể xem là

công trình rất có giá trị về đặc điểm ngôn ngữ của phương ngữ Nam Bộ Công trình đã trình bày khá cặn kẽ những đặc điểm cơ bản của phương ngữ Nam Bộ

về phương diện từ vựng – ngữ nghĩa qua sự so sánh với phương ngữ Bắc Bộ Trần Thị Ngọc Lang đã tiến hành khảo sát sự khác biệt trong cách xưng hô của

Trang 15

hai miền, những nhóm từ có liên quan đến sông nước, các yếu tố chỉ mức độ của tính từ, vấn đề từ láy, ngữ khí từ trong phương ngữ Nam Bộ… Tác giả cũng đã

đề cập sơ bộ đến tên gọi một số loại bánh trái – đối tượng nghiên cứu có liên quan đề tài nhưng không khai thác sâu vào các đặc trưng văn hóa – ngôn ngữ, phương thức cấu tạo

3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này, người viết đã sử dụng kết hợp các phương pháp: 3.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của ngôn ngữ học truyền thống và hiện đại về các lĩnh vực: từ vựng, ngữ pháp, phân tích văn bản, ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội, v.v…để tiếp cận được đối tượng nghiên cứu

3.2 Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích cấu trúc và phân tích ngữ nghĩa, phương pháp so sánh đối chiếu, lập mô hình, biểu bảng, v.v…để xem xét các bình diện, để tìm ra sự giống và khác nhau của các đối tượng được nghiên cứu

3.3 Luận văn còn vận dụng thi pháp, phương pháp nghiên cứu phong cách học, ngôn ngữ học tâm lý, v.v… để khảo sát những liên hệ ngữ nghĩa giữa các từ ngữ được nghiên cứu trong hệ thống từ vựng

Ngữ liệu thu thập từ việc thống kê trong các từ điển, tạp chí, sách báo, các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học có liên quan đến đề tài và từ việc khảo sát thực tế đời sống, vốn sống của bản thân

4 Đối tượng, nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ khảo sát đặc trưng văn hóa dân tộc qua cách định danh một số

món ẩm thực như bánh, mứt, xôi, chè, có sự so sánh phương ngữ Nam Bộ với

Trang 16

phương ngữ Bắc Bộ, đồng thời khảo sát sự hành chức của các từ ngữ là tên gọi

chỉ bánh, mứt, xôi, chè, với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ văn chương

Trong phạm vi đề tài, luận văn giới hạn nghiên cứu phương thức định

danh các loại bánh, mứt, xôi, chè với các nội dung: tìm hiểu về nguồn gốc tên

gọi, về những đặc trưng được chọn để gọi tên, về mối tương quan của những đặc trưng được chọn làm cơ sở gọi tên, để từ đó, làm rõ nét đặc trưng văn hóa của người Việt Đồng thời, luận văn cũng bước đầu tìm hiểu, đối chiếu so sánh cách định danh các món ẩm thực giữa PNNB với PNBB

Ngoài ra, luận văn còn khảo sát đặc trưng văn hóa dân tộc qua cách sử dụng các tín hiệu thẩm mỹ (THTM) bánh, mứt, xôi, chè trong thành ngữ, tục ngữ

và ca dao người Việt, khả năng hành chức của các THTM bánh, mứt, xôi, chè; cấu trúc của các THTM bánh, mứt, xôi, chè; kiểu sử dụng các tên gọi bánh, mứt,

xôi, chè; nghĩa biểu trưng của các tín hiệu thẩm mỹ bánh, mứt, xôi, chè trong

thành ngữ, tục ngữ, ca dao

5 Ý nghĩa và đóng góp của luận văn

5.1 Về mặt lý luận : Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm

sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại:

1) Đặc điểm tri nhận thực tế khách quan của người Việt về bức tranh hiện thực;

2) Cách chọn đặc điểm làm cơ sở cho tên gọi khi định danh ở người Việt; 3) Sự phản ánh của ngôn ngữ qua tiếng Việt về một số phạm vi văn hóa ứng

xử với môi trường tự nhiên là nghệ thuật ẩm thực của người Việt v.v

Trang 17

Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn còn góp phần làm sáng tỏ một đôi điều lí luận về lí luận tín hiệu thẩm mĩ trong sáng tác và phân tích văn chương có liên quan đến cách đặt tên và sử dụng tên gọi

5.2 Về ý nghĩa thực tiễn : Các kết quả của luận văn có thể phục vụ thiết

thực cho việc giảng dạy những vấn đề lí luận ngôn ngữ học và Việt ngữ học, trong việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng như trong phân tích, bình giảng khi dạy văn học trong nhà trường v.v…

6 Bố cục của luận văn

Luận văn có 3 chương chính (chương 1, chương 2 và chương 3), ngoài phần

Mở đầu và Kết luận Phần Mở đầu trình bày các vấn đề: Lí do chọn đề tài; Lịch

sử nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu; Ý nghĩa và những đóng góp của đề tài; Bố cục của luận văn

Phần nội dung đề cập đến những vấn đề sau:

- Chương 1 trình bày Một số vấn đề lý luận cơ bản về đặc trưng văn hóa dân tộc

của ngôn ngữ Chương này có các nội dung chính là: Văn hóa và đặc trưng dân

tộc của văn hóa; Đặc trưng văn hóa dân tộc qua sự chia cắt hiện thực khách quan; Đặc trưng văn hóa dân tộc qua cách định danh; Đặc trưng văn hóa dân tộc qua nghĩa từ và sự chuyển nghĩa của từ

- Chương 2 trình bày Đặc trưng văn hóa người Việt qua tên gọi một số món ẩm

thực (bánh, mứt, xôi, chè) với các nội dung cơ bản là: Đặc điểm chia cắt hiện

thực khách quan để định danh các loại bánh, mứt, xôi, chè; Đặc điểm định danh các loại bánh, mứt, xôi, chè; So sánh cách định danh các loại bánh, mứt, xôi, chè qua hai phương ngữ Nam Bộ và Bắc Bộ

Trang 18

- Chương 3 trình bày Đặc trưng văn hóa dân tộc qua cách sử dụng các tín hiệu

thẩm mỹ bánh, mứt, xôi, chè trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao của người Việt

Chương này đưa ra kết quả khảo sát khả năng hành chức của các tín hiệu thẩm

mỹ bánh, mứt, xôi, chè; Cấu trúc của các THTM bánh, mứt, xôi, chè; Kiểu sử dụng các tên gọi bánh, mứt, xôi, chè; Nghĩa biểu trưng của các tín hiệu thẩm mỹ

bánh, mứt, xôi, chè,v.v…, tất cả đều xét ở phạm vi ngữ liệu là thành ngữ, tục

ngữ, ca dao của người Việt nói chung và người Việt Nam Bộ nói riêng

Trang 19

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA DÂN TỘC CỦA

NGÔN NGỮ

1.1.Văn hóa và đặc trưng dân tộc của văn hóa

1.1.1 Văn hóa

Văn hóa là gì? Đây là câu hỏi không chỉ riêng các nhà văn hóa học quan

tâm mà cả các nhà ngôn ngữ học, tâm lí học, triết học, dân tộc học, xã hội học…

cũng đặc biệt chú ý Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa

Văn hóa, theo R.A Hudson: “Thuật ngữ này được các nhà nhân học sử

dụng khác nhau nhưng bao giờ cũng nhằm vào một đặc tính nào đấy của một cộng đồng, đặc biệt là những đặc tính nhờ chúng cộng đồng này phân biệt với cộng đồng khác” Và tiếp nhận quan điểm của Ward Goodnough, R.A Hudson cho rằng: “Văn hóa của một xã hội, theo tôi quan niệm, bao gồm tất cả những cái

gì mà một người phải biết và phải tin để có thể hành xử theo cách sao cho được các thành viên khác trong cộng đồng chấp nhận… Văn hóa, vốn là những cái mà con người phải học mới có được, khác với vốn tài sản thừa kế sinh vật học của mình, suy cho đến cùng là những hiểu biết – sản phẩm của sự học tập, theo cách

hiểu chung nhất của thuật ngữ này” (R.A Hudson, Sociolinguistics, Cambridge University Press, 1980) [Dẫn theo 14,1] Còn F.Boas thì định nghĩa văn hóa như

một tổng các mặt phi sinh vật của đời sống con người V Gudinaf lại coi văn hóa không phải là hiện tượng vật chất, mà là một tổng thể nhất định các tri thức hoặc

mô hình giải thuyết cái mà con người nói ra và làm ra [Dẫn theo 87, 16]

Trang 20

Nói đến khái niệm văn hóa, sở dĩ có nhiều cách định nghĩa khác nhau là vì tính đa diện của nó, nhưng – dù hiểu rộng hay hẹp – trong định nghĩa của nó bao giờ cũng chú trọng đến “nét riêng biệt” về mặt tinh thần, về mặt tâm lý giữa các dân tộc ; hay nói cụ thể hơn đó là “ lối nghĩ riêng”, “ cách tư duy riêng” của một dân tộc về các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, xã hội và con người ở

một đất nước, một lãnh thổ Theo Từ điển bách khoa Xô-viết: “Văn hóa là một

tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được con người tạo ra và được phát triển

theo lịch sử, khác với các đối tượng của tự nhiên” Như vậy, văn hóa là một hiện

tượng xã hội, bao gồm giá trị vật chất và tinh thần đã và đang được một cộng đồng người tích lũy [87, 16]

1.1.2 Đặc trưng dân tộc của văn hóa

Từ điển Tiếng Việt [68, 247] định nghĩa dân tộc (d.) là: 1 Cộng đồng

người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một

ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách Dân tộc Việt Dân

tộc Nga 2 Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ,

lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc Việt

Nam là một nước có nhiều dân tộc Đoàn kết các dân tộc để cứu nước 3 (kng.)

Dân tộc thiểu số (nói tắt) Cán bộ người dân tộc 4 Cộng đồng người ổn định

làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu

tranh chung Dân tộc Việt Nam

Vậy, dù hiểu theo khía cạnh nào thì dân tộc và văn hóa luôn có mối quan

hệ không thể tách rời

Trang 21

Nghiên cứu đặc điểm dân tộc của một nền văn hóa nào đó cần có sự đối chiếu với một hay nhiều nền văn hóa khác Để giải quyết vấn đề này, cần tìm

hiểu khái niệm văn hóa cục bộ của E.C Makarian Thuật ngữ văn hóa cục bộ

biểu thị các đặc trưng của một hệ thống văn hóa bất kì được xem xét trong sự liên tục về không gian – thời gian nhất định, vô can với qui mô và số lượng đặc

điểm được tách ra của nó Văn hóa cục bộ lại bao gồm hai nền văn hóa cục bộ nhỏ thành phần là bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Bất kì một nền văn hóa cục

bộ nào cũng là một thể thống nhất giữa cái có tính nhân loại và cái có tính đặc

thù dân tộc Những đặc trưng tiêu biểu của một nền văn hóa cục bộ cụ thể, chính

là cái riêng, cái đơn nhất Có thể nói, trong kho tàng của mỗi nền văn hóa hiện

nay, đều có chứa những bộ phận chung cho tất cả mọi nền văn hóa cục bộ và cả

những bộ phận mang sắc thái đặc trưng dân tộc [87, 17]

Đặc điểm dân tộc của một nền văn hóa, về cơ bản, được nhận biết trong

quá trình trao đổi trực tiếp hay gián tiếp giữa các đại diện thuộc các nền văn hóa

cục bộ khác nhau Sự tác động lẫn nhau giữa các nền văn hóa hiện nay đã là một

đặc trưng không thể phủ định của bất cứ nền văn hóa nào Do vậy, “Chỉ có sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác, so sánh cái của mình với cái của người khác mới cho phép coi những yếu tố nào đó của một nền văn hóa có địa vị đặc trưng khu biệt”[87, 20]

Ở bài viết Đặc điểm dân tộc của giao tiếp như một vấn đề liên ngành Đối

tượng, nhiệm vụ và phương pháp của ngôn ngữ học tâm lý trong cuốn “Đặc điểm

văn hóa dân tộc của hành vi ngôn ngữ” của A.A Lêônchev (1977), tác giả cho rằng: Đặc trưng dân tộc của văn hóa gồm các thành tố sau:

- Các truyền thống, phong tục, nghi lễ

- Tập quán sinh hoạt, đời sống văn hóa

Trang 22

- Các thái độ, cử chỉ, hành vi

- Hiện tượng được gọi là “bức tranh dân tộc về thế giới” – đó là sự phản ánh những đặc điểm tri giác hiện thực khách quan thông qua đặc điểm tâm lý và

tư duy dân tộc của những người thuộc về nền văn hóa nào đó

- Nghệ thuật cũng chỉ ra đặc trưng của nền văn hóa dân tộc, bởi vì nguồn gốc của nghệ thuật gắn liền với nguồn gốc của nền văn hóa dân tộc

V.I Lênin từng khẳng định “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” Ngôn ngữ, từ lâu đã được coi là nơi bảo tồn tin cậy các giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc Ngay từ khi chữ viết chưa được hình thành trong lịch sử loài người thì các giá trị tri thức của nhân loại vẫn được bảo lưu và phát huy nhờ ngôn ngữ truyền miệng (văn hóa dân gian, trong đó có văn học dân gian) Đây cũng chính là lí do để chúng tôi đi tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc thông qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao

1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ

Xưa nay, giới nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa đều có một quan điểm chung, thống nhất là: giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ hữu cơ Viện sĩ B.A Serennikop đã khẳng định: “Điều có ý nghĩa lớn đối với việc hiểu ngôn ngữ

là những người nói phải có nếp sống xã hội thống nhất, có những phong tục, đạo đức, thói quen chung đã được tạo ra do cùng chung sống trên một lãnh thổ xác định ”[87, 9] Ngôn ngữ là công cụ của văn hóa, bởi vì không có ngôn ngữ thì không một hoạt động văn hóa nào có thể diễn ra được[14, 4] Như đã nói ở trên, ngôn ngữ là một trong những thành tố đặc trưng nhất của bất cứ một nền văn hóa dân tộc nào Đó là một hệ thống kí hiệu có mối quan hệ tương sinh mật thiết với văn hoá Ngôn ngữ thúc đẩy sự hình thành văn hoá nhân loại, đồng thời, ngôn

Trang 23

ngữ bao hàm những nguyên tắc về hành vi và nhận thức của con người với thế giới Ngôn ngữ không chỉ là một phần của văn hoá, mà còn là phương tiện chuyển tải chủ yếu của văn hoá Các hiện tượng văn hóa thường phải nhờ vào ngôn ngữ mới có thể được bảo tồn, duy trì và truyền bá, đồng thời ngôn ngữ cũng là cơ sở phát triển của văn hoá Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, nó và các hành vi xã hội của con người hoà nhập với nhau và là con đường tất yếu để văn hoá sản sinh, phát triển, và được kế thừa Do vậy, nhìn từ góc độ tổng thể, ngôn ngữ có thể phản ánh toàn bộ lịch sử phát triển, cũng như văn hoá, tín ngư-ỡng v.v… của một dân tộc Mỗi hệ thống ngôn ngữ đều ẩn chứa các nhân tố văn hoá của từng dân tộc những quan niệm giá trị, chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, phương thức sống…Tóm lại, ngôn ngữ là yếu tố văn hóa quan trọng mang sắc thái dân tộc rõ nhất Để tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc trong ngôn ngữ, cần phải có sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về đời sống và về nền văn hóa vật chất cũng như tinh thần của dân tộc bản ngữ

1.2 Đặc trưng văn hóa dân tộc qua sự chia cắt hiện thực khách quan

Muốn tìm hiểu đặc thù văn hóa – dân tộc trong ngôn ngữ, cần tìm hiểu trên ba phương diện sau:

1) Tìm hiểu cách thức chia cắt thế giới khách quan và ý niệm hóa thế giới khách quan ở trong ngôn ngữ đó

2) Tìm hiểu cách thức phạm trù hóa thế giới khách quan

3) Tìm hiểu cách thức mô tả thế giới khách quan

Tìm hiểu cách thức chia cắt thế giới khách quan, các nhà nghiên cứu nhận

ra rằng: thế giới khách quan là một thể liên tục (continuum), mà các ngôn ngữ có cách chia cắt không giống nhau Có thể tìm ra vô số sự kiện chứng tỏ thể liên

Trang 24

tục của thế giới khách quan trong các ngôn ngữ được chia cắt theo kiểu khác nhau và được biểu hiện một cách khác nhau bằng ngôn ngữ Cùng một sự vật, hiện tượng có thể được biểu hiện trong ngôn ngữ khác nhau với mức độ phân hóa khác nhau Một sự vật nào đó trong ngôn ngữ này có thể được thể hiện có tính nhất thể, nghĩa là không được phân chia nhỏ hơn, nhưng trong ngôn ngữ khác lại có thể được thể hiện theo kiểu được phân cắt thành những bộ phận nhỏ

hơn Thí dụ: Các ngôn ngữ châu Âu có thể dịch những từ như lúa, thóc, gạo,

cơm, xôi, nếp…đơn giản chỉ bằng một từ rice (tiếng Anh), riz (tiếng Pháp), puc

(tiếng Nga) Nhưng tiếng Việt thì khác, trong một kết quả nghiên cứu của Đào Thản về những từ ngữ tiếng Việt có liên quan đến cây lúa và mọi sản phẩm làm

ra từ lúa, gạo, Đào Thản đã chia chúng thành 10 nhóm với 139 đơn vị Và tác giả còn cho rằng: “Mười nhóm từ ngữ trên đây thật ra chỉ là những nhóm từ ngữ tiêu biểu nhất Còn có thể kể rộng ra nhiều nhóm khác nữa (…) Chỉ mới 10 nét chấm phá như trên cũng đủ hình dung một bức tranh tổng quát và số lượng đặc biệt lớn các từ ngữ được dùng cho lúa gạo, so với nhiều ngôn ngữ khác” [76,44-45]

Nguyên nhân của sự phân chia thể liên tục của thế giới khách quan trong các ngôn ngữ theo cách khác nhau có thể không như nhau Giả thuyết về tính tương đối ngôn ngữ học của E Sapir – B L Whorf cho rằng, trong các ngôn ngữ dân tộc có nhiều trường hợp đã bộc lộ thực sự “cách phân cắt thế giới” khác nhau Một bộ phận nào đó của từ vựng trong ngôn ngữ này không tương đương với bộ phận tương ứng trong ngôn ngữ kia, vì nó chỉ biểu thị những đối tượng chỉ vốn có trong lịch sử, đời sống văn hóa tinh thần của riêng một dân tộc, hoặc

là khác biệt căn bản với những cái tương tự trong văn hóa đời sống của dân tộc kia Do vậy, trong các ngôn ngữ này không có các tương ứng từ vựng ổn định, đồng nhất một đối một [87,32]

Trang 25

Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra một số hệ thống từ vựng ngữ nghĩa như hệ thống đại từ xưng hô, hệ thống từ vựng chỉ cây lúa, hệ thống từ vựng chỉ sông nước… trong tiếng Việt có độ phân bố từ vựng phong phú và đa dạng hơn các ngôn ngữ khác Chẳng hạn như ví dụ về cây lúa đã dẫn ở trên Từ bao đời nay, cây lúa sống gắn bó, là lẽ sống, là máu thịt của con người Việt Nam, nên cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của người Việt đối với cây lúa, hạt gạo đã ăn sâu vào

cả tiếng nói, chữ nghĩa “Giải thích điều này, người ta thường hay nhắc tới lí thuyết ngôn ngữ về mảng hiện thực được tri nhận thông qua việc định danh từ vựng – ngữ nghĩa trên cơ sở hệ quy chiếu hiện thực mà cộng đồng ngôn ngữ đó cảm nhận Nói rõ hơn, hễ dân tộc nào nhận thức về một mảng hiện thực nào đó sâu sắc thì hệ thống từ vựng định danh tương ứng bao giờ cũng phong phú” [72,35] Vậy là việc ngôn ngữ gắn với địa bàn, chính là nguyên nhân của cái riêng trong phân cắt hiện thực

Như vậy, sau khi tri giác, phân cắt hiện thực khách quan phục vụ nhu cầu nhận thức, quá trình tiếp theo là biểu hiện kết quả đó bằng ngôn ngữ Đây chính

là quá trình định danh hay là đặt tên gọi cho các khúc đoạn hiện thực, các tính chất, quá trình…[87, 33] Có thể nói, con người tạo ra ngôn ngữ bằng hai thao tác chủ yếu: gọi tên hiện thực và ghép các tên gọi đó lại thành câu, thành lời Kết quả của thao tác thứ nhất là tạo ra các đơn vị từ vựng; kết quả của thao tác thứ hai là tạo ra các từ tổ tự do và câu Cơ chế của thao tác thứ nhất là cơ chế định danh; cơ chế của thao tác thứ hai là cơ chế tạo tổ hợp cú pháp Chúng tôi quan tâm đến cơ chế định danh bởi cơ chế định danh là một nội dung quan trọng của môn cấu tạo từ Cấu tạo từ như thế nào, tức là định danh hiện thực như thế nào,

là tiêu chí quan trọng để phân chia các loại hình ngôn ngữ

Trang 26

Chính vì vậy, khi nghiên cứu đặc trưng văn hóa – dân tộc, chúng ta cần phân tích đặc điểm định danh của ngôn ngữ qua việc xem xét từ nguyên và hình thái bên trong của tên gọi

1.3 Đặc trưng văn hóa dân tộc qua cách định danh

1.3.1 Khái niệm định danh

Định danh là một trong bốn chức năng cơ bản của từ Thuật ngữ định danh (nomination) được sử dụng khá phổ biến Thế nhưng cách hiểu về thuật ngữ này đôi khi khác nhau giữa các nhà ngôn ngữ học Ở đây, chúng tôi hiểu theo quan niệm của G.V Kolsanxki: Định danh là “ sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm – biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) – các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó, các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” G.V Кolsanxki cũng khẳng định rằng “Bất kì kí hiệu ngôn ngữ nào cũng biểu thị những thuộc tính đã được trừu tượng hóa của các sự vật cụ thể, và do vậy, bao giờ cũng được gắn với một lớp đối tượng hay với một loạt hiện tượng v.v…”[Dẫn theo 87,34]

1.3.2 Đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh ngôn ngữ

Đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh ngôn ngữ được biểu hiện trước hết

ở việc lựa chọn đặc trưng của đối tượng để làm cơ sở cho tên gọi của nó Trong quá trình tạo ra các từ, vấn đề có ý nghĩa lớn lao là chọn đặc trưng nào, “ đặc trưng nào đó đập vào mắt mà tôi lấy làm đại diện cho đối tượng” (theo V.I

Lênin trong Bút kí triết học, tập 29,trang 87, 88) [Dẫn theo 87,34] để làm cơ sở

gọi tên đối tượng

Trang 27

Các đối tượng tham gia quá trình định danh bao gồm: chủ thể định danh và đối tượng được định danh Tâm lí lựa chọn đặc trưng định danh sự vật được diễn

ra theo quá trình như sau: Trước một khách thể mới, con người xem xét để tìm ra một loạt những đặc trưng của khách thể đó Để định danh, con người sẽ chọn đặc trưng nào tiêu biểu, dễ khu biệt với đối tượng khác, và như vậy, khách thể mới

đã có tên gọi trong ngôn ngữ Về việc nên lựa chọn đặc trưng nào, có một số nhà ngôn ngữ cho rằng chỉ nên lựa chọn những đặc trưng quan trọng và căn bản Nhưng trong thực tế, rất nhiều tên gọi được lựa chọn từ những đặc trưng không phải là quan trọng và cơ bản Bởi vì, khi định danh các đối tượng có chung những thuộc tính cơ bản nào đó trong “chất” của mình, chỉ khác nhau ở thuộc tính không căn bản , người ta sẽ không thể chọn đặc trưng cơ bản được nữa mà phải chọn đến loại đặc trưng “không cơ bản”, nhưng có giá trị khu biệt, để làm

cơ sở cho tên gọi Suy cho cùng, cái gọi là “đặc trưng không cơ bản” ấy vẫn là đặc trưng cơ bản, đặc trưng chất của mỗi sự vật

Vai trò của việc lựa chọn này bị quy định bởi một loạt nhân tố như đặc điểm sinh lí của con người, các chức năng và cơ chế của lời nói Do vậy, đặc trưng được chọn sẽ khác nhau và đối tượng cũng sẽ có tên gọi không giống nhau Đó không phải là sự liên tưởng ngẫu nhiên mà là có lí do của nó Lí do chọn đặc trưng này chứ không phải đặc trưng kia phụ thuộc vào thiên hướng quan sát của chủ thể định danh Đó chính là cái làm nên đặc trưng riêng cho ngôn ngữ của từng dân tộc Song, đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh ngôn ngữ được biểu

lộ rõ ràng hơn cả ở những liên tưởng trong việc tạo tên gọi các hiện tượng đặc tồn trong một ngôn ngữ khó có thể dịch sang một ngôn ngữ khác… [87, 45-46] Như trên đã đề cập đến tính có lí do của tên gọi, việc lựa chọn đặc trưng làm

cơ sở định danh đối tượng đã biểu hiện mối tương quan giữa khách thể được

Trang 28

định danh và chủ thể định danh Theo V.G.Gak, khi tách một đối tượng ra khỏi những đối tượng khác, đã diễn ra sự “xoay” các mặt khác nhau của nó về phía chủ thể Con người nhìn thấy các mặt, các phía này, nhưng không phải thấy chúng ở mức độ rõ ràng như nhau Còn G.V Kolsanxki thì cho rằng: Cùng một đối tượng có thể được gọi tên trong các ngôn ngữ theo cách khác nhau phụ thuộc vào đối lập kiểu nào về tâm lí, lịch sử, dân tộc và xã hội đã làm cơ sở cho sự định danh [Dẫn theo 87, 47] Chúng tôi đồng tình với quan điểm trên, sự đối lập làm cơ sở cho sự định danh, phụ thuộc vào chủ thể định danh Việc chọn đặc trưng làm cơ sở cho tên gọi cũng làm nên đặc trưng văn hóa – dân tộc của từ

vựng trong một ngôn ngữ nhất định, qui định hình thái bên trong của từ

Do vậy, khi nói về định danh ở phương diện đặc trưng văn hóa – dân tộc, cần phải lưu ý rằng hai từ của hai ngôn ngữ thoạt nhìn tưởng có vẻ tương đương, biểu hiện những ý nghĩa từ vựng đồng nhất, vẫn có thể có cái không đồng nhất, bởi vì trong các từ ấy còn hàm chứa cả những “quan điểm” khác nhau được lưu giữ lại ở hình thái bên trong của từ Thậm chí, ngay trong một ngôn ngữ, hai từ tưởng như đồng nhất hoàn toàn về ý nghĩa (…) vẫn có thể khác nhau ở phương

diện này (chẳng hạn: xương chậu – cách nhìn đối tượng theo hình dáng của nó,

và xương hông – cách nhìn theo vị trí) [87, 49]

Song, đặc trưng văn hóa – dân tộc của định danh ngôn ngữ, được biểu hiện không chỉ ở việc tách chọn đặc trưng để làm cơ sở gọi tên đối tượng, mà còn

biểu hiện cả cách qui loại sự vật (chẳng hạn, bánh trôi và chè trôi nước) ở “kĩ

thuật ngôn ngữ” (thuật ngữ của B.A.Serennikop) trong việc định danh B.A.Serennikop cho rằng có những cách định danh nhờ ngôn ngữ sau:

1) Sử dụng tổ hợp ngữ âm biểu thị đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng của đối tượng

Trang 29

2) Mô phỏng âm thanh (tức là tượng thanh)

3) Phái sinh

4) Ghép từ

5) Cấu tạo các biểu ngữ đặc ngữ

6) Can-ke (hay sao phỏng)

7) Vay mượn

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm cho rằng cần phải bổ sung thêm

vào danh sách trên một phương thức định danh nữa là sự chuyển nghĩa của từ Cách định danh này thường được gọi là định danh thứ sinh (hay là thứ cấp) Bởi

vì, khi đặt tên cho khách thể mới, chủ thể định danh sử dụng những yếu tố ở bình

diện biểu hiện và bình diện nội dung đã có trong ngôn ngữ Việc sử dụng những

hình thức đã biết để biểu hiện một nội dung mới diễn ra hoặc là bằng cách tổ chức lại các đơn vị đó để tạo lập đơn vị mới từ những yếu tố đã có sẵn, theo mô hình nhất định (như ở cấu tạo từ), hoặc bằng cách chuyển nghĩa (chẳng hạn: ẩn

A.I Smirnitxki thì định nghĩa: “Nghĩa của từ là sự phản ánh rõ ràng của sự vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức (hay là sự cấu tạo tâm lý, tương đồng về tính chất, hình thành trên sự phản ánh những yếu tố riêng biệt của thực tế) nằm trong kết cấu của từ với tư cách là mặt bên trong của từ, và so với nghĩa, thì ngữ

Trang 30

âm hiện ra như là một cái vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu thị và trao đổi với người khác, mà còn cần thiết cho sự nảy sinh, sự hình thành, sự tồn tại và phát triển của nó” [Dẫn theo 34,64] Hay một gợi ý định nghĩa đơn giản của

Nguyễn Đức Tồn: Nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc

mọi người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy [90,120]

Như vậy, nghĩa của từ có thể coi như là một nội dung tồn tại khách quan của từ trong hệ thống ngôn ngữ Đó là tri thức chung của xã hội được đúc kết, tàng trữ dưới dạng nghĩa của một từ nào đó Tuy nhiên, “nghĩa của từ không thể được xem là chính bản thân cái sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất v.v tồn tại ngoài thực tế khách quan mà từ biểu thị Tất cả những cái đó chỉ có thể được

coi như là “tiêu bản”, hay là cái đại diện được phản ánh vào trong nhận thức của

con người thành nghĩa của từ” [90,120]

Hiện nay, ngôn ngữ học hiện đại chia nghĩa của từ ra thành hai thành

phần: nghĩa sở biểu và nghĩa sở chỉ Theo Nguyễn Đức Tồn, nghĩa sở biểu bao

gồm những nét đặc trưng của sự vật Nó phản ánh nội hàm của khái niệm Thí dụ: CÁ – có nghĩa sở biểu: “Động vật có xương sống / ở dưới nước / thở bằng mang / bơi bằng vây” (nghĩa sở biểu của từ CÁ phản ánh 4 nét đặc trưng trong

nội hàm của khái niệm “CÁ”) Nghĩa sở chỉ phản ánh biểu tượng chung của sự

vật Nó phản ánh ngoại diên của khái niệm, tức biểu thị một chủng loại sự vật Thí dụ: Nghĩa sở chỉ của từ CÁ là biểu tượng chung của chúng ta về loại động

vật này, dù là cá chép, cá mè, cá trê, cá chuối hay cá đuối, cá thu v.v.đều là cá cả

[90,121]

Nguyễn Thiện Giáp cũng quan niệm nghĩa sở biểu (hay còn gọi là nghĩa

biểu niệm) bao gồm những nét đặc trưng của sự vật Đó là quan hệ của từ với ý,

tức là với khái niệm hoặc biểu tượng mà từ biểu hiện Khái niệm hoặc biểu

Trang 31

tượng có quan hệ với từ được gọi là cái sở biểu, và quan hệ giữa từ với cái sở

biểu được gọi là nghĩa sở biểu Nghĩa sở chỉ (hay còn gọi là nghĩa biểu vật) phản

ánh biểu tượng chung của sự vật “Đó là mối quan hệ của từ với đối tượng mà từ biểu thị Đối tượng mà từ biểu thị không phải chỉ là những sự vật, mà còn là các quá trình, tính chất, hoặc hiện tượng thực tế nào đó Những sự vật, quá trình, tính

chất, hoặc hiện tượng mà từ biểu thị được gọi là cái sở chỉ của từ Mối quan hệ

của từ với cái sở chỉ được gọi là nghĩa sở chỉ [39,79]

Chúng ta có thể hiểu nôm na về các thành phần ý nghĩa trong từ như sau: (1) Ý nghĩa biểu vật: Những sự vật, hoạt động, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị, được gọi là ý nghĩa biểu vật của từ Hay nói cách khác,

ý nghĩa biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ

(2) Ý nghĩa biểu niệm:

Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan có các thuộc tính, các thuộc tính đó phản ánh vào tư duy hình thành các khái niệm Hay nói cách khác, khái niệm là một phạm trù của tư duy, được hình thành từ những hiểu biết trong thực

tế Ðấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng Các thuộc tính đó phản ánh vào ngôn ngữ, hình thành các nét nghĩa Tập hợp của các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ, hình thành ý nghĩa biểu niệm Như vậy, ý nghĩa biểu niệm, một mặt thông qua các ý nghĩa biểu vật mà liên hệ với hiện thực khách quan, mặt khác, lại có quan hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với hiện thực ngoài ngôn ngữ

Các nét nghĩa bắt nguồn từ các thuộc tính của các sự vật trong thực tế Tuy nhiên, ngôn ngữ của mỗi dân tộc chỉ chọn một số thuộc tính cơ bản có tác dụng xác lập ý nghĩa của từ trong hệ thống

Trang 32

- Phân loại các nét nghĩa:

a Nét nghĩa phạm trù (phạm trù vị): Là nét nghĩa lớn nhất, không thuộc một loại nét nghĩa nào lớn hơn

b Nét nghĩa loại (loại vị): Sự phân hóa tiếp theo của phạm trù vị là loại

vị Ðây là nét nghĩa cũng có ở nhiều từ nhưng nhỏ hơn phạm trù vị Hay nói cách khác, loại vị là sự cụ thể hóa của phạm trù vị

c Biệt vị: Tương tự sự phân hóa ở loại vị, biệt vị là sự biệt loại hóa của loại vị Có 2 loại biệt vị:

+ Biệt vị tận cùng: Kết quả của sự phân hóa một loại vị nào đó ở mức thấp nhất

+ Biệt vị đặc hữu: Những nét nghĩa thấp nhất chỉ xuất hiện ở một từ, không phải là sự phân hóa của loại vị

Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu vật của từ Chính vì ý nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm

Giữa ý nghĩa biểu niệm và khái niệm có sự khác biệt rất rạch ròi Cụ thể: Khái niệm là sản phẩm của tư duy, do đó là chung cho mọi dân tộc còn ý nghĩa của từ là riêng cho từng ngôn ngữ Chính vì vậy, có những ý nghĩa biểu niệm chỉ có trong ngôn ngữ này mà không có trong ngôn ngữ kia Thí dụ, ý

nghĩa của các từ ghép đẳng lập phi cá thể ( chợ búa, con cái, gà qué, ) hay ý nghĩa của các từ ghép chính phụ sắc thái hóa ( xanh lè, đỏ au, ) có trong tiếng

Việt mà không có trong tiếng Nga, tiếng Pháp

Trang 33

Khái niệm có chức năng nhận thức nên tiêu chuẩn đánh giá nó là tính chân

lí, chính vì vậy cho nên những dấu hiệu trong khái niệm là những dấu hiệu phản ánh các thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Đồng thời, mỗi khái niệm chỉ ứng với một và chỉ một loại sự vật, hiện tượng trong thực tế mà thôi Còn ngôn ngữ có chức năng giao tiếp và tư duy nên tiêu chuẩn đánh giá nó là sự phù hợp hay không phù hợp với hệ thống ngôn ngữ của từng dân tộc Nghĩa biểu niệm tiếp nhận những nét nghĩa nào cần thiết để lập nên cấu trúc nghĩa của từ trong mối quan hệ với toàn bộ từ vựng, do đó, nó chấp

nhận cả hiện tượng nhiều nghĩa, đồng nghĩa Ví dụ, cắt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ với các từ chặt, chém, cưa, thái, hái, xẻ, ; đồng thời, cắt không những chỉ có thể diễn đạt được những hoạt động có tính chất vật

lí, mà còn có thể diễn đạt được những hoạt động xã hội mang tính chất trừu

tượng (trong cắt hộ khẩu, cắt quan hệ, )

Nhìn chung, ý nghĩa biểu niệm và khái niệm vừa giống nhưng cũng vừa khác nhau Cả hai cùng sử dụng những sản phẩm tinh thần mà tư duy con người đạt được Song, nếu khái niệm bị chi phối bởi các quy luật của nhận thức thì ý nghĩa biểu niệm lại bị chi phối bởi quy luật của giao tiếp và tư duy Có thể nói, khái niệm quan hệ với ý nghĩa biểu niệm ở chỗ nó cung cấp những sản phẩm tinh thần để ngôn ngữ xây dựng nên ý nghĩa biểu niệm theo những quy tắc cấu trúc của mình Do đó, dù mọi dân tộc đều biết tư duy, nhưng hệ thống từ vựng về ngữ nghĩa của các dân tộc vẫn khác nhau

Trang 34

(3) Ý nghĩa biểu thái:

Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ bao gồm những phương tiện giúp

thể hiện sự đánh giá, như: to nhỏ, mạnh, yếu, cảm xúc, như: dễ chịu, khó chịu,

sợ hãi, thái độ, như: trọng, khinh, yêu, ghét, mà từ gợi ra cho người nói và

người nghe

1.4.2 Sự chuyển nghĩa của từ

1.4.2.1 Nguyên nhân của hiện tượng chuyển nghĩa từ

Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng chuyển nghĩa từ (sự biến đổi ý nghĩa của từ) rất đa dạng, phức tạp Vì môi trường trong đó ngôn ngữ diễn biến là môi trường xã hội, nên những nguyên nhân có tính chất xã hội đóng vai trò quan trọng [Xem 39,81-88] Hiện tượng thay đổi môi trường sử dụng của các từ là một nguyên nhân làm cho nghĩa từ thay đổi, mà yếu tố tâm lí xã hội cùng với sự phát triển của hiện thực, là những nguyên nhân có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thay đổi môi trường sử dụng của các từ Xã hội phát triển mạnh về phương diện nào thì những sự vật, khái niệm ở phương diện đó gây ấn tượng mạnh mẽ vào tâm lí con người, dẫn đến tình trạng các từ biểu thị những sự vật, khái niệm

ấy chuyển nghĩa để biểu thị những sự vật, khái niệm trong phương diện khác Tuy vậy, “bản thân các từ có thể chuyển nghĩa được hay không còn do mối quan

hệ giữa âm thanh và ý nghĩ của từ qui định” [39,83]

Quá trình chuyển nghĩa không chỉ có tính phổ biến, quốc tế, mà còn có cả cái đơn nhất có tính đặc thù dân tộc Đặc trưng văn hóa – dân tộc của sự chuyển nghĩa còn được biểu hiện ở chỗ một số dạng chuyển nghĩa nào đó chỉ tồn tại trong ngôn ngữ này mà không có trong ngôn ngữ khác Thí dụ, cách chuyển nghĩa hoán dụ dựa trên quan hệ giữa âm thanh phát ra và hành động phát ra âm thanh đó: “nhổ toẹt một cái xuống nền nhà”, “bịch mấy bịch vào ngực…” chỉ có

Trang 35

trong tiếng Việt mà không thấy có trong tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp Đặc trưng văn hóa – dân tộc được thể hiện rõ ràng nhất chính ở quá trình tạo ra các nghĩa chuyển

1.4.2.2 Những hiện tượng chuyển nghĩa từ

Ngữ nghĩa học đã phát hiện những xu hướng và phương thức chủ yếu trong sự chuyển nghĩa từ Đó là xu hướng mở rộng và thu hẹp ý nghĩa và phương thức chuyển nghĩa do ẩn dụ và hoán dụ

Mở rộng ý nghĩa là một quá trình phát triển ý nghĩa từ cái riêng đến cái

chung, từ cái cụ thể đến cái trừu tượng Ý nghĩa được hình thành nhờ quá trình

này được gọi là nghĩa rộng Thu hẹp ý nghĩa là quá trình ngược lại Ý nghĩa của

từ phát triển từ cái chung đến cái riêng, từ cái trừu tượng đến cái cụ thể Như vậy, sự mở rộng ý nghĩa của từ xảy ra khi từ chuyển từ chỗ biểu hiện khái niệm

hẹp sang biểu hiện khái niệm rộng, từ chỗ biểu hiện khái niệm chủng sang biểu hiện khái niệm loại; còn thu hẹp nghĩa là quá trình từ chuyển từ biểu hiện khái

niệm rộng sang biểu hiện khái niệm hẹp, từ biểu hiện khái niệm loại sang biểu hiện khái niệm chủng

Phương thức chuyển nghĩa chủ yếu là ẩn dụ và hoán dụ

Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện

tượng được so sánh ngầm với nhau Sự giống nhau thường được căn cứ vào: hình thức, cách thức, màu sắc, chức năng, vị trí, âm thanh, thuộc tính, tính chất, đặc điểm, v.v

Hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang

sự vật hoặc hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ lô gích và quan hệ gần nhau

giữa chúng trong không gian và thời gian

Trang 36

Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ có các dạng dựa vào các mối quan hệ sau: Giữa bộ phận và toàn thể; Giữa vật chứa đựng và vật bị chứa hay lượng vật chất được chứa; Giữa nguyên liệu với hoạt động hoặc sản phẩm được chế ra từ nguyên liệu đó; Giữa đồ dùng hoặc dụng cụ và người sử dụng hoặc ngành hoạt động sử dụng dụng cụ đó; Giữa cơ quan chức năng và chức năng; Giữa tư thế cụ thể và hành vi hoặc trạng thái tâm - sinh lí đi kèm; giữa tác giả và tác phẩm hoặc giữ tên địa phương, sản phẩm của địa phương, hoặc ngược lại

Tiểu kết chương 1

Trên đây là những vấn để lí thuyết chung về đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ Trong xu thế đổi mới và hội nhập của đất nước, chưa bao giờ vấn đề văn hóa – dân tộc lại được quan tâm, chú ý như hiện nay Tùy theo góc nhìn mà vấn đề bản sắc văn hóa – dân tộc được nghiên cứu ở những phương diện khác nhau Luận văn này đi tìm hiểu chúng như một yếu tố cấu thành trong mối quan

hệ liên ngành ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Như chúng ta đều biết, ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, không chỉ là công cụ để tư duy của con người, mà còn là quan niệm của chính con người với tư cách là chủ thể tri nhận và phân cắt hiện thực khách quan bằng cái mã của mỗi ngôn ngữ Vậy, tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ qua sự chia cắt hiện thực khách quan, qua cách định danh ngôn ngữ, qua nghĩa từ và sự chuyển nghĩa của từ trên cơ sở lí luận, là điều hết sức cần thiết

Từ những vấn đề có tính chất lí luận cơ bản ở chương này, ở những chương sau, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu một “mảng hiện thực” trong “bức tranh

thế giới khách quan” rộng lớn, đó là Đặc trưng văn hóa dân tộc của các tên gọi

Trang 37

một số món ẩm thực( bánh, mứt, xôi, chè) và khả năng hành chức của nó trong

thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt (có so sánh các phương ngữ Nam Bộ

và phương ngữ Bắc Bộ)

Trang 38

CHƯƠNG 2

ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA DÂN TỘC CỦA

TÊN GỌI MỘT SỐ MÓN ẨM THỰC

(BÁNH, MỨT, XÔI, CHÈ) (Có so sánh các PNBB và PNNB)

Trong phạm vi chương này, ở một chừng mực và phương diện nghiên cứu nhất định, chúng tôi chỉ đi vào khảo sát và hệ thống hóa một số cách định danh

của bánh, mứt, xôi, chè, đi tìm hiểu về nguồn gốc tên gọi, về những đặc trưng

được chọn để gọi tên, về mối tương quan của những đặc trưng được chọn làm cơ

sở gọi tên để từ đó làm rõ nét đặc trưng văn hóa của người Việt, và qua đó, bước đầu tìm hiểu, đối chiếu so sánh cách định danh các món ẩm thực giữa PNNB với PNBB

2.1 Đặc điểm chia cắt hiện thực khách quan để định danh các loại bánh, mứt, xôi, chè

2.1.1 Các tên gọi khác nhau giữa PNNB và PNBB có nghĩa sở chỉ trùng nhau

Trang 39

PNNB PNBB Giải thích

bánh cốm bánh bỏng

Món ăn làm bằng thóc rang nổ bung lớp trấu, sàng sạch trấu đem bỏng nổ (nẻ) ngào với đường thắng hoặc kẹo mạch nha nắm tròn lại hoặc ép vào khuôn

bánh

dùng bánh chay

Món ăn làm bằng bột nếp, viên tròn, nhân đậu xanh, luộc chín rồi thả vào nước đường sánh

bánh gai bánh quy gai

Món ăn làm bằng bột mì trộn với trứng và đường, để vào khuôn ép, nướng trong lò, bánh hình khúc dài có gai ở bề mặt

bánh giò bánh tẻ / bánh lá Món ăn làm bằng bột gạo tẻ, có nhân thịt, hành, mộc nhĩ, gói bằng lá chuối thành hình củ ấu, luộc chín bánh ít

/bánh ếch

bánh nếp / bánh rợm

Món ăn làm bằng bột gạo nếp, có nhân thịt hoặc đậu xanh, gói bằng lá chuối, luộc chín

bánh in bánh khảo Món ăn làm bằng bột gạo nếp hay bột đậu xanh rang trộn với đường, nén vào khuôn bánh

khoai

lang bí

bánh khoai lang

Món ăn làm bằng khoai mì / sắn tươi nạo sợi hoặc xay thành bột, có thể rán hoặc nướng

bánh kẹp bánh quế

Món ăn làm bằng bột gạo tẻ xay ướt, trộn đường và bột thơm mùi quế, đổ vào khuôn kẹp, nướng trên lò và cuộn thành ống

Món ăn làm bằng bột mì, hình tròn dẹp, trên mặt có rắc vừng, nướng trong lò

Trang 40

Món ăn làm bằng bột mì có thấm đường bên ngoài, cuộn chéo hai thỏi bột lại giống như cái quai chèo thuyền

bánh tai

heo

bánh tai voi

Món ăn làm bằng bột mì với đường, sữa, hình tai voi / heo, nướng chín

bánh tét bánh tày Món ăn làm bằng gạo nếp, có nhân đậu xanh và thịt mỡ, gói bằng lá thành hình trụ to và dài, luộc kĩ bánh tiêu bánh quẩy tròn Món ăn làm bằng bột mì trộn ít đường, bột khai, nước tro tàu…,có hình tròn, trên mặt có rắc vừng, rán vàng

bánh

tráng bánh đa

Món ăn làm bằng bột gạo tẻ hoặc bột mì, khoai lang, khoai tây, khoai mì hòa nước, tráng mỏng trên khuôn bằng vải hấp chín, lấy ra phơi khô, khi ăn thì nướng

bánh

tráng

nhúng

bánh đa nem

Món ăn làm bằng bột gạo tẻ, tráng rất mỏng trên khuôn bằng vải, hấp chín, lấy ra phơi khô, dùng để cuốn nem

bánh

trung thu

bánh nướng

Món ăn làm bằng bột mì có nhân thập cẩm, vị ngọt, ở ngoài có bao lớp áo bột mỏng, nướng chín trong lò, dùng nhiều vào dịp tết Trung thu

bánh tro bánh gio / bánh âm

Món ăn làm bằng gạo nếp ngâm nước tro và nước vôi, rồi dùng lá tre non hoặc lá dong gói lại, luộc trong nước có pha chất nước tro ngâm nếp, có màu vàng trong , ăn với đường hoặc mật

bánh ú bánh nếp Món ăn làm bằng gạo nếp, gói bằng lá thành hình tháp nhỏ có bốn góc, luộc chín bánh ướt bánh cuốn Món ăn làm bằng gạo tẻ xay ướt, tráng mỏng, hấp chín rồi cuộn nhỏ lại, thường có nhân thịt hoặc hành mỡ bánh sùng bánh tằm Món ăn làm bằng bột gạo, bột năng, có hình sợi ngắn thon nhỏ hai đầu như hình con tằm / sùng

Ngày đăng: 01/07/2023, 19:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, (1978), Để hiểu nghĩa từ cần biết từ nguyên, T/c Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu nghĩa từ cần biết từ nguyên
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1978
2. Phạm Thị Kim Anh, (2002), Hình thức ngôn ngữ và ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ “liễu” trong thơ mới, T/c Ngôn ngữ, số7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức ngôn ngữ và ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ “liễu” trong thơ mới
Tác giả: Phạm Thị Kim Anh
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 2002
3. Phạm Thị Kim Anh, (2004), Một số ý kiến về những ưu thế và hạn chế của tín hiệu văn chương, T/c Ngôn ngữ, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về những ưu thế và hạn chế của tín hiệu văn chương
Tác giả: Phạm Thị Kim Anh
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 2004
4. Phạm Thị Kim Anh, (2005), Về hai bình diện của tín hiệu văn chương – thơ ca, T/c Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hai bình diện của tín hiệu văn chương – thơ ca
Tác giả: Phạm Thị Kim Anh
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 2005
5. Phạm Thị Kim Anh, (2005), Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, ĐHSP, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Kim Anh
Nhà XB: ĐHSP
Năm: 2005
6. Võ Bình, (1985), Vần trong thơ lục bát, T/c Ngôn ngữ, Số phụ 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần trong thơ lục bát
Tác giả: Võ Bình
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1985
7. Diệp Quang Ban, (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, 2 tập, ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: ĐH và THCN
Năm: 1989
8. Hoàng Thị Châu, (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, ĐHQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: ĐHQG
Năm: 2004
9. Đỗ Hữu Châu, (1981), Từ vựng ngữ nghĩa của tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa của tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
10. Đỗ Hữu Châu, (2001), Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
11. Đỗ Hữu Châu, (1973), Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng, T/c Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1973
12. Đỗ Hữu Châu, (1974), Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật, T/c Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1974
13. Đỗ Hữu Châu, (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1987
14. Đỗ Hữu Châu, (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, T/c Ngôn ngữ, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 2000
15. Đỗ Hữu Châu, (1990), Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, T/c Ngôn ngữ, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1990
16. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, (2001), Đại cương ngôn ngữ học, Tập 1, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, Tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
17. Nguyễn Văn Chiến, (2002), Nước – một biểu tượng văn hóa đặc thù trong tâm thức người Việt và từ “nước” trong tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước – một biểu tượng văn hóa đặc thù trong tâm thức người Việt và từ “nước” trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 2002
18. Lê Văn Chương, (2004), Dân ca Việt Nam, những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Việt Nam, những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp
Tác giả: Lê Văn Chương
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
19. Việt Chương, (1998), Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao Việt Nam, quyển thượng, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao Việt Nam, quyển thượng
Tác giả: Việt Chương
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1998
20. Việt Chương, (1998), Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao Việt Nam, quyển hạ, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao Việt Nam, quyển hạ
Tác giả: Việt Chương
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w