1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp việt nam

180 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thanh Lân
Người hướng dẫn GS. TSKH. Trần Ngọc Thơm
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa doanh nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu văn hoá doanh nghiệp VHDN là một yêu cầu không chỉ đặt ra cho giới học thuật, giới làm công tác chuyên môn mà còn cho các nhà quản lý bởi trong thực tế đời sống nội bộ do

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN VĂN HOÁ HỌC

DÕE

NGUYỄN THANH LÂN

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU

VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP

VÀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 60.31.70

Hướng dẫn khoa học:

GS TSKH Trần Ngọc Thêm

TP HỒ CHÍ MINH - 2007

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, gia đình và thân hữu Tôi xin gửi lời tri ân đến:

GS.TSKH.Trần Ngọc Thêm đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ về

nhiều phương diện để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Phòng Sau đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn tất chương trình học tập và hoàn thành luận văn

Quý thầy cô đã giảng dạy chúng tôi trong suốt ba năm học cao học

Lãnh đạo và các đồng nghiệp Phòng Quản lý Khoa học – Quan hệ Quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn tất luận văn

Trân trọng biết ơn sự động viên tinh thần của gia đình

Chân thành cảm ơn sự chia sẻ, giúp đỡ của quý thân hữu, đồng nghiệp

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 01 năm 2007

Học viên

Nguyễn Thanh Lân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 : VĂN HÓA, THƯƠNG NGHIỆP VÀ DOANH NGHIỆP 11

1.1 Văn hóa và các vùng văn hố thương nghiệp 11

1.1.1 Văn hóa, vùng văn hóa, loại hình văn hóa 11

1.1.2 Lịch sử thương nghiệp vùng văn hóa Phương Tây 15

1.1.3 Lịch sử thương nghiệp vùng văn hóa Đông -Nam 16

1.1.4 Lịch sử thương nghiệp tiểu vùng văn hóa Tây - Nam 16

1.1.5 Lịch sử thương nghiệp tiểu vùng văn hóa Đông -Bắc 17

1.2 Thương nghiệp, kinh doanh và doanh nghiệp 18

1.2.1 Sự phát triển của kinh doanh và sự hình thành doanh nghiệp 18

2.1 Định nghĩa về “Văn hóa doanh nghiệp” 26

2.2 Đặc trưng và chức năng của văn hóa doanh nghiệp 30

2.3 Cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp 34

2.3.1 Các thành tố của cấu trúc văn hóa doanh nghiệp 34

2.3.2 Biểu hiện của các thành tố cấu trúc văn hóa doanh nghiệp 35

2.3.3 Vai trò của đạo đức kinh doanh trong cấu trúc văn hóa doanh nghiệp 36

2.4 Loại hình văn hóa doanh nghiệp 47

2.4.3 Loại hình văn hóa doanh nghiệp trung gian chuyển tiếp 60

2.5 Các giai đoạn hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp 73

2.5.1 Giai đoạn hình thành 74

Trang 4

CHƯƠNG 3 : VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 83

3.1 Cơ sở văn hóa - kinh tế - xã hội Việt Nam 83

3.1.1ø Không gian kinh tế - văn hóa - xã hội Việt Nam 83

3.2 Diễn trình thương nghiệp và doanh nghiệp Việt Nam 84

3.2.1 Giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây 84

3.3 Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 106

3.4 Những vấn đề về xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 112

Phụ lục 1 : Các giai đoạn phát triển của đạo đức kinh doanh 133

Phụ lục 2 : Tín điều kinh doanh của tập đoàn Johnson&Johnson 136

Phụ lục 3 : Mô hình văn hóa doanh nghiệp ở các quốc gia và vùng lãnh thổ 139

Phụ lục 5 : Cơ chế hình thành, phát triển và thay đổi văn hóa doanh nghiệp 149

Phụ lục 6 : Áp lực thay đổi và sự kháng cự thay đổi văn hóa doanh nghiệp 152

Phụ lục 7 : "Thuyền trưởng" Trương và "con tàu" Eximbank 153

Phụ lục 8 : Thay đổi các giá trị vận hành doanh nghiệp 157

Phụ lục 11: Buôn bán gian lận ở đồng bằng sông Cửu Long 163

Phụ lục 13: Triển khai và duy trì văn hóa trong doanh nghiệp Việt Nam 171

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Doanh nghiệp là một tổ chức ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển đời sống kinh tế văn hoá - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế Ngày nay, có thể thấy rõ sự giàu mạnh của một quốc gia khởi nguồn từ sự giàu mạnh của các doanh nghiệp Nhiều thành phần kinh tế ở nước ta đã dần khẳng định vị thế và vai trò của mình; nhiều loại hình doanh nghiệp đã ra đời và có những đóng góp quan trọng cho xã hội Việc nghiên cứu văn hoá doanh nghiệp (VHDN) là một yêu cầu không chỉ đặt ra cho giới học thuật, giới làm công tác chuyên môn mà còn cho các nhà quản lý bởi trong thực tế đời sống nội bộ doanh nghiệp và những mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài đã có những vấn đề mà chúng không thể hoàn toàn được giải quyết thoả đáng bằng các nhân tố thuần kinh tế

Tuy nhiên, tại Việt Nam, những nghiên cứu bài bản về VHDN chưa được tiến hành Thậm chí, nhiều người làm công tác chuyên ngành chưa thật

sự hiểu đúng về vấn đề này Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Bước

đầu tìm hiểu về Văn hoá doanh nghiệp và Văn hoá doanh nghiệp Việt Nam” để tiếp cận và nghiên cứu lĩnh vực vốn được xem là khá mới mẻ, đầy

thách thức nhưng cũng không kém phần thú vị này

2 MỤC ĐÍCH VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

2.1 Mục đích:

1

Trang 6

Luận văn nhằm đạt tới hai mục đích: (a) Góp phần tìm hiểu những vấn đề lý luận về văn hoá doanh nghiệp; (b) Góp phần tìm hiểu lịch sử VHDN Việt Nam và phương hướng xây dựng một mô hình văn hoá hiệu quả cho doanh nghiệp Việt Nam

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hoá doanh nghiệp và thực trạng, phương hướng xây dựng và phát triển VHDN Việt Nam

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:

3.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài

3.1.1 Lịch sử thuật ngữ “Văn hóa doanh nghiệp”

Thuật ngữ “Văn hoá tổ chức” (Organizational Culture) xuất hiện lần đầu

tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 Thuật ngữ “Văn hoá công

ty” (Corporate Culture) trở nên phổ biến khi tác phẩm cùng tên của Terrence

Deal và Atlan Kennedy được xuất bản năm 1982 tại Mỹ Thực ra, việc nghiên cứu văn hoá tổ chức/văn hóa công ty đã có từ lâu dựa trên nền tảng ngành nhân học và xã hội học tổ chức Từ năm 1939, Lewin, Lippitt, White đã đưa

ra những khái niệm “chuẩn mực nhóm” (group norm) và “bầu không khí”

(climate) trong các công trình nghiên cứu về tổ chức của mình Với tác phẩm

“Tâm lý xã hội của những tổ chức” (The Social Psychology of Organizations)

xuất bản lần thứ nhất (1966) và lần thứ hai (1978), Katz và Kahn đã sử dụng

lý thuyết hệ thống (system theory) và động lực hệ thống (system dynamics) để

phân tích các tổ chức và đã đặt nền tảng lý thuyết cho việc nghiên cứu văn

hoá tổ chức sau này Kart và Kahn cũng đã đề cập đến các vai trò (role) và

giá trị (value) của các nhóm, các tổ chức “Bầu không khí”, với nghĩa là

những hiện tượng văn hoá ở bề mặt của tổ chức, dễ được khám phá bằng

2

Trang 7

quan sát và tiếp cận bằng phương pháp khảo sát, đo lường trực tiếp nhưng nó chưa thể giúp các nhà nghiên cứu thấy được cách thức mà các tổ chức vận hành, thực hiện các chức năng của mình

Vào thập niên 50 và 60 của thế kỉ XX, lĩnh vực Tâm lý tổ chức (Organizational Psychology) bắt đầu khu biệt với tâm lý công nghiệp

(Industrial Psychology) bằng cách tập trung vào một đối tượng rộng hơn thay

vì chỉ tập trung vào những cá nhân Khi các nghiên cứu ngày càng tập trung

vào những nhóm làm việc và tính tổng thể tổ chức thì yêu cầu về một khái

niệm như thiết chế tổ chức để có thể mô tả một khuôn mẫu chung cho những

giá trị, chuẩn mực và quan điểm chủ đạo xuyên suốt toàn bộ tổ chức ngày càng trở nên cấp thiết Các nhà nghiên cứu và các nhà lâm sàng (clinicians)

tại Viện Tavistock đã đưa ra khái niệm những thiết chế chuẩn tắc – xã hội

(socio-technical systems) để mô tả một tập hợp thống nhất những chuẩn mực và thái độ, hành vi của tổ chức

Các môn học Tâm lý tổ chức, Hành vi tổ chức (Organizational Behavior)

đã phát triển mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ của các trường đại học dạy quản

trị kinh doanh Khi đó, nhiều nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến các hiện

tượng tổ chức và thấy cần phải có một khái niệm để giải thích: (1) những biến thể trong các mô thức hành vi của các tổ chức, và (2) mức độ tính ổn định

trong hành vi nhóm và tổ chức mà trước đó chúng chưa được chú ý nhấn mạnh Đột phá thật sự để phổ biến khái niệm văn hóa công ty bắt nguồn từ việc cố gắng giải thích vì sao các công ty Mỹ không làm ăn có hiệu quả như các công ty ở những quốc gia khác, chẳng hạn như Nhật Bản Và các nhà

nghiên cứu nhận thấy một mình khái niệm văn hoá quốc gia chưa đủ để giải

3

Trang 8

thích thoả đáng cho những sự khác biệt này Khái niệm văn hoá công ty, văn

hoá doanh nghiệp đã ra đời

Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về VHDN Dưới đây sẽ trình bày một cách khái quát về diễn tiến lịch sử các phương pháp nghiên cứu để thấy được ưu điểm, khuyết điểm của mỗi phương pháp Đồng thời, nó sẽ giúp chúng ta thấy được lịch sử nghiên cứu vấn đề rõ hơn

3.1.2 Các phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu điều tra (Survey Research) Với phương pháp

này, văn hoá được xem như là thuộc tính của những nhóm người, những tổ chức cụ thể nào đó và có thể được “lượng hoá” bằng những bảng hỏi Kết quả phân tích bảng hỏi sẽ được mô hình hoá giúp phác thảo những hình ảnh, chân dung văn hoá tổ chức cần được nghiên cứu Đại diện của phương pháp này là Hofstede (1980, 1991, 1997) Bên cạnh những đóng góp quan trọng, phương

pháp tiếp cận này có một nhược điểm là nó định sẵn kiến thức về những khía

cạnh liên quan phải được nghiên cứu Dù có được những số liệu thống kê từ

những mẫu bảng hỏi lớn thì không chắc được rằng liệu tập hợp mẫu đó có đủ

rộng hay tương thích để nói lên cái gì là đặc trưng, là chủ điểm quan trọng

trong văn hoá của tổ chức được nghiên cứu Một số nhà nghiên cứu đã “nghi ngờ” liệu một khái niệm trừu tượng như văn hoá có thể được đo lường chỉ bởi những công cụ điều tra khảo sát định lượng hay không

Phương pháp nghiên cứu mô tả phân tích (Analytical Descriptive Research) Với phương pháp mô tả phân tích, văn hoá được tách thành những

đơn vị nhỏ hơn để nó có thể được phân tích và đo lường Vì thế những câu

chuyện kể, những nghi thức, nghi lễ, những biểu tượng và những thành tố khác

được xem là những đại diện thật sự cho toàn bộ VHDN Tuy nhiên, thực tế

4

Trang 9

đời sống văn hoá doanh nghiệp đa dạng và phức tạp hơn khiến đôi lúc phương pháp mô tả phân tích không trả lời được vì sao văn hoá doanh nghiệp này là như vậy

Phương pháp nghiên cứu dân tộc học (Ethnographic Research) và phương pháp nghiên cứu nhân học (Anthropological Research) Với phương

pháp tiếp cận này, những khái niệm và những phương pháp nghiên cứu nhân học được áp dụng vào việc nghiên cứu các tổ chức nhằm mô tả một cách sinh động những gì đang thật sự diễn ra trong đời sống văn hoá doanh nghiệp, và

vì vậy nó cung cấp một sự hiểu biết đa dạng hơn về một vài hiện tượng tổ chức nào đó mà trước đó chưa được chứng minh một cách đầy đủ Phương pháp tiếp cận này giúp xây dựng một lý thuyết tốt hơn nhưng nó rất tốn công sức vì cần phải nghiên cứu nhiều trường hợp điển hình trước khi đưa ra những nhận định tổng quát trên những loại hình tổ chức khác nhau [French (nnk) 2000:129]; [Brown1998: 4]

Phương pháp nghiên cứu lịch sử (Historical Research) Phương pháp

này cũng có những giới hạn như phương pháp dân tộc học nhưng được bù đắp bằng những hiểu biết sâu sắc mà việc phân tích theo chiều dọc lịch sử của doanh nghiệp có thể cung cấp Phương pháp lịch sử nếu được kết hợp với

những phương pháp khác sẽ giúp nhà nghiên cứu thấy rõ những cơ chế hình

thành, phát triển của văn hoá tổ chức [French, W., L (nnk) 2000:129]

Phương pháp nghiên cứu mô tả lâm sàng (Clinical Descriptive Research) Với sự phát triển của tổ chức, các doanh nghiệp và những vấn đề

mà doanh nghiệp phải đối phó ngày càng gia tăng thì công việc tư vấn tổ

chức, tư vấn doanh nghiệp đã cung cấp cơ hội tốt để các nhà tư vấn, nhà

nghiên cứu được quan sát và tiếp cận những phạm vi, khía cạnh mà các nhà

5

Trang 10

nghiên cứu văn hoá doanh nghiệp theo truyền thống vốn từng bị cản trở hoặc không được phép tiếp cận (ở những cấp độ quản trị cao hơn, nơi mà những

vấn đề quan trọng như những chính sách, quyết định chiến lược và những hệ

thống bổng lộc tưởng thưởng và kiểm soát được thiết lập) Người đẩy mạnh phương pháp tiếp cận này là giáo sư Edgar H Schein Phương pháp này giúp các nhà nghiên cứu, nhà tư vấn có thể trực tiếp quan sát, theo dõi những ảnh hưởng của những can thiệp từ bên ngoài vào tổ chức và giải mã được cách thức các thành viên trong tổ chức tương tác với nhau

Nếu chỉ dựa vào việc nghiên cứu những biểu tượng, chuyện kể, huyền thoại và những tạo tác văn hoá khác đôi khi sẽ cho những kết luận sai về VHDN Các cuộc phỏng vấn, các bảng hỏi hoặc các công cụ khảo sát giúp

nhà nghiên cứu có được những giá trị được tán thành, gia trị bề nổi của văn

hoá doanh nghiệp (hiến chương, tín điều, triết lý… được tư liệu hoá, văn kiện hoá thành những qui định trong các sổ tay hướng dẫn, cẩm nang) Tuy nhiên, có khi những khía cạnh mà bảng hỏi đề cập lại không tương quan với những điểm chính yếu của kiểu VHDN cần được nghiên cứu Với sự quan sát sâu

hơn, những câu hỏi tập trung hơn của nhà tư vấn và qua hoạt động tự phân

tích sâu của các thành viên của tổ chức có động cơ tham gia, dấn thân vào cuộc nghiên cứu, nhà tư vấn mới có thể nhận biết và giải mã được những giá

trị văn hoá qui định cách thức nhận thức, suy nghĩ và vận hành doanh nghiệp

3.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam

Tại Việt Nam, do vấn đề khá mới, ít người làm công tác dịch thuật thực sự am hiểu về lĩnh vực này nên văn hoá công ty, VHDN, văn hoá kinh doanh (business culture) thường được dịch và xem như tương đồng với nhau Ví dụ,

thuật ngữ “corporate culture” do giáo sư John Kotter viết trong cuốn sách “Tư

6

Trang 11

duy lại tương lai” (Rethinking the future) đã được Vũ Tiến Phúc dịch sang

tiếng Việt là văn hoá kinh doanh thay vì văn hoá công ty [Gibson R (bt) 2004:

166 –167] Và do một số công trình nghiên cứu về VHDN thường không xác định rõ cấu trúc của văn hoá doanh nghiệp khiến người đọc thường hiểu VHDN chỉ là văn hoá tổ chức

Trong những năm gần đây, đã có nhiều bài báo, hội thảo, tham luận, sách tham khảo, nghiên cứu trong nước đề cập đến VHDN Điển hình là Hội thảo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về chủ đề “Văn hoá và kinh doanh” tại Hà Nội từ ngày 24 đến ngày 26 tháng năm 1995 Các báo cáo, tham luận

của cuộc Hội thảo này được tập hợp trong cuốn “Văn hóa và kinh doanh” do

Phạm Xuân Nam chủ biên (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998) Văn hoá

doanh nghiệp cũng được đề cập trong các tác phẩm “Văn hóa và Kinh doanh”

do Phạm Văn Thuyên, Vũ Hòa, Trần Trúc Thanh đồng chủ biên (NXB Lao

động, Hà Nội, 2001); “Văn hoá Kinh doanh và Triết lý Kinh doanh” của Đỗ

Minh Cương (NXB Chính trị Quốc gia –Hà Nội, 2001)… Đặc biệt, ba cuộc hội thảo xoay quanh chủ đề VHDN được Thời báo Kinh tế Sài Gòn và Câu

lạc bộ Doanh nhân 20-30 liên tục tổ chức trong năm 2003 (“VHDN là gì? Xây

dựng VHDN có lợi gì cho doanh nghiệp?”; “Triết lý doanh nghiệp”; “VHDN trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội”) qui tụ nhiều nhà nghiên

cứu, doanh nhân … tham dự Nhiều tổ chức xã hội đã được thành lập để nghiên cứu và phát triển văn hoá doanh nhân, VHDN (Câu lạc bộ Văn hoá Doanh nhân của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam…)

Tuy nhiên, khái niệm VHDN vẫn thường được hiểu một cách rất đơn giản Một số tác giả quy về văn hoá ứng xử (ứng xử trong công ty, ứng xử ngoài công ty, ứng xử với khách hàng, ứng xử với đối tác ) Một số người lý

7

Trang 12

giải khái niệm “VHDN” thông qua cặp quan hệ “văn hoá trong kinh doanh” và “kinh doanh có văn hoá” [Phạm Xuân Nam 1996: 133] Do chưa thấy hết

cấu trúc của văn hoá doanh nghiệp, nhiều người chỉ xét VHDN ở cấp độ biểu hiện “bề nổi”, tức chỉ ở mức độ tạo tác văn hoá (tập hợp của những biểu hiện hình thức) như khẩu hiệu, logo; cách chào hỏi, nói năng; các sinh hoạt văn hoá nghệ thuật trong doanh nghiệp như ca hát, nội san; các truyền thuyết,

huyền thoại, tín ngưỡng Quan niệm của TS Đào Duy Quát trong bài “Xây

dựng VHDN Việt Nam” (tháng 8-2004) có phần hợp lý hơn khi ông coi VHDN

là “toàn bộ hoạt động sáng tạo của toàn thể cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp nhằm tạo ra các giá trị, các sản phẩm vật chất, tinh thần ngày càng hoàn thiện theo hướng chân, thiện, mỹ, góp phần phát triển doanh nghiệp mạnh mẽ và bền vững” Và theo cách hiểu này, VHDN vẫn được quy

về một danh sách những phẩm chất quen thuộc như lòng yêu nghề, yêu công

ty, hợp tác gắn kết mọi thành viên với công ty; tinh thần ham học, cầu tiến; lao động chăm chỉ, sáng tạo; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tôn trọng kỷ luật, kỷ cương; phong cách sống công nghiệp …1

Vì vậy, với luận văn này, chúng tôi hy vọng sẽ trình bày được bức tranh tổng quan các vấn đề chính về VHDN mà các nhà nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam đã đề cập; chúng tôi cũng cố gắng bổ sung những khía cạnh

chưa bàn đến, hoặc bàn chưa rõ về VHDN dưới góc độ văn hoá học Với việc

sử dụng phương pháp hệ thống - loại hình để tiếp cận nghiên cứu văn hoá doanh nghiệp, chúng tôi sẽ phác thảo, phân tích được những kiểu/ loại hình VHDN và trên cơ sở đó đề xuất loại hình văn hoá phù hợp cho doanh nghiệp Việt Nam

1 http://www.cpv.org.vn/details.asp?topic=6&subtopic=20&leader_topic=93&id=BT280454214

8

Trang 13

Đây là việc mà lâu nay chưa thật sự được quan tâm đúng mức, khi mà khái niệm VHDN đang còn dừng ở mức độ một thứ ngôn ngữ “thời thượng” ở Việt Nam

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để tiếp cận vấn đề dưới góc độ văn hoá học, phương pháp chính được sử dụng là phương pháp liên ngành Ngoài ra, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác để bổ sung như sau:

Phương pháp Hệ thống - Loại hình được dùng để phân tích các thành tố

cấu trúc, các bình diện của VHDN, phân loại các loại hình hình VHDN

Phương pháp so sánh giúp so sánh đặc trưng, cấu trúc của các loại hình

VHDN khác nhau

Phương pháp mô hình hóa được dùng để phác họa và xây dựng mô hình

VHDN

Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê được dùng để xử lý những

dữ liệu, tư liệu điều tra xã hội học, những kết quả phỏng vấn và nghiên cứu của những công trình nghiên cứu khác có liên quan đến VHDN

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN:

Luận văn là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nhằm nghiên cứu VHDN dưới góc độ văn hoá học

Đây sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, sinh viên chuyên ngành văn hoá tổ chức, VHDN

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là cơ sở khoa học cho các nhà quản trị, nhà tư vấn, những người làm công tác chuyên ngành, các doanh nghiệp áp dụng để

9

Trang 14

xây dựng và hoàn thiện kiểu văn hoá cho doanh nghiệp của mình nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong kinh doanh

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 (Văn hoá, thương nghiệp và doanh nghiệp) phân tích các

khái niệm văn hoá, vùng văn hoá, loại hình văn hoá và lịch sử các vùng văn hoá thương nghiệp Bên cạnh đó, chương này phân tích một số khái niệm liên quan đến kinh doanh, doanh nghiệp, môi trường doanh nghiệp để làm cơ sở cho việc nghiên cứu VHDN trong Chương 2

Chương 2 (Văn hoá doanh nghiệp) giới thiệu và phân tích một số khái

niệm, định nghĩa khác nhau về VHDN và đặt trọng tâm vào việc phân tích các đặc trưng, chức năng, thành tố cấu trúc và các loại hình VHDN Phần tiếp theo sẽ phân tích các giai đoạn hình thành phát triển của VHDN, quy luật bảo tồn và phát triển doanh nghiệp làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng và phân tích những vấn đề về xây dựng VHDN Việt Nam trong Chương 3

Chương 3 (Văn hoá doanh nghiệp Việt Nam) phân tích cơ sở văn

hoá-kinh tế-xã hội Việt Nam; diễn trình thương nghiệp, doanh nghiệp Việt Nam và đồng thời khắc họa chân dung doanh nhân Việt Nam - bộ phận quan trọng của chủ thể VHDN Việt Nam trong bối cảnh môi trường kinh doanh hiện tại Từ những cơ sở trên, phần tiếp theo của Chương 3 sẽ phân tích cấu trúc loại hình VHDN Việt Nam và phân tích đề xuất những vấn đề về xây dựng VHDN Việt Nam

10

Trang 15

CHƯƠNG 1 VĂN HOÁ, THƯƠNG NGHIỆP VÀ DOANH NGHIỆP

Lao động là hoạt động kinh tế – nhằm đáp ứng một cách chủ động

những nhu cầu thiết thân nhất của con người Ngôn ngữ là một loại sản phẩm

– sản phẩm tinh thần – nhằm liên kết con người lại với nhau, tạo nên một xã

hội Vì vậy, lao động và ngôn ngữ, kinh tế và xã hội, đều là những thành tố

của một thuộc tính chung nhất khu biệt con người với con vật – đó là văn hoá

Từ chỗ phục vụ cho các nhu cầu của chính bản thân mình, hoạt động kinh

tế mở rộng ra phục vụ cho các nhu cầu của những người khác nhằm kiếm lợi

để gián tiếp phục vụ cho các nhu cầu của riêng mình Hoạt động kinh doanh

ra đời Do mục đích tối thượng của kinh doanh là kiếm lời, cho nên trong lịch sử, hoạt động kinh doanh thường để lại những ấn tượng xấu, khiến trong nhận

thức chung của nhiều dân tộc, kinh doanh thường trở nên đối lập với văn hoá

[Trần Ngọc Thêm 2005]

Như đã trình bày trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá doanh nghiệp nhưngï ít có công trình nào thật sự nhìn VHDN dưới góc độ văn hoá học Vì vậy, theo chúng tôi, việc đầu tiên là cần phải xác định được một định nghĩa về văn hoá và phân tích những đặc trưng, chức năng cũng như cấu trúc của nó để làm cơ sở cho việc nghiên cứu VHDN

1.1 Văn hoá và các vùng văn hoá thương nghiệp

1.1.1 Văn hoá, vùng văn hoá, loại hình văn hoá

11

Trang 16

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá Tuy nhiên, khi là đối tượng

của văn hoá học (culturology), văn hoá phải được hiểu theo nghĩa rộng

Nghiên cứu văn hoá theo phương pháp Hệ thống-Loại hình, Trần Ngọc Thêm

đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và

tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của

mình” [2004: 25]

Định nghĩa này đã chỉ ra hệ toạ độ ba chiều mà trong đó văn hoá tồn tại: con người là chủ thể văn hoá; môi trường tự nhiên và xã hội là không gian

văn hoá; quá trình hoạt động là thời gian văn hoá

Từ định nghĩa trên, có thể thấy bốn đặc trưng cơ bản của văn hoá là: tính

hệ thống; tính giá trị; tính nhân sinh; tính lịch sử Các đặc trưng này không chỉ

giúp để phân biệt văn hóa với những khái niệm, hiện tượng có liên quan mà

còn là cơ sở để xác định các chức năng của nó: Chức năng tổ chức xã

hội;chức năng điều chỉnh xã hội; chức năng giao tiếp và chức năng giáo dục

Đó là những chức năng cơ bản nhất của văn hoá Khi xét bất kì một tiểu

văn hoá (sub-culture) nào, nếu có các chức năng khác thì chúng đều là những

chức năng bộ phận hoặc phái sinh từ các chức năng nêu trên

Chủ thể của một nền văn hoá luôn tồn tại và hoạt động trong mối quan hệ tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình Vì vậy,

xét về cấu trúc, văn hoá là một hệ thống quy định bởi một loại hình văn hoá

nhất định, bao gồm ba thành tố là văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức và

văn hoá ứng xử (với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) [Trần Ngọc

Thêm 2004: 30]

Việc xác định loại hình văn hoá sẽ giúp nhận diện những khác biệt trong

12

Trang 17

Về kinh tế, khởi thuỷ phương Tây chủ yếu sống bằng săn bắn và chăn nuôi Trong khi đó, phương Đông chủ yếu sống bằng nông nghiệp Hai loại hình kinh tế trồng trọt và chăn nuôi đã để lại dấu ấn rất đậm nét trong truyền

thống văn hóa hai khu vực: Văn hoá trọng động và văn hoá trọng tĩnh

Tuy nhiên, nếu phân tích kĩ hơn sẽ thấy còn có một vùng trung gian

chuyển tiếp khá lớn bao gồm từ Ai Cập sang Ấn Độ, lên Xibiri và Đông Bắc

Á mang nhiều đặc trưng của cả hai loại hình văn hoá trọng động và văn hoá trọng tĩnh

Vùng chuyển tiếp lại cũng không thuần nhất bởi nó có thể được chia thành hai tiểu vùng Tây Nam và vùng Đông Bắc tương ứng với hai tiểu loại:

Trọng thế tục và Trọng tâm linh Hệ thống loại hình văn hoá với vùng chuyển

tiếp có dạng như sau [Trần Ngọc Thêm 2005]:

Tiểu vùng Đông Bắc Tiểu loại trọng thế tục Dung hoà

Vùng chuyển tiếp Tiểu vùng Tây

Nam

Loại hình trung gian Tiểu loại

trọng tâm linh Dương Phương Tây (Tây Bắc) Loại hình trọng động Sự khác biệt giữa các loại hình văn hoá được mô tả ở trên (loại hình văn hoá trọng động, loại hình văn hoá trọng tĩnh, loại hình văn hoá trung gian chuyển tiếp) thể hiện ở nhiều khía cạnh trong văn hoá nhận thức, văn hoá tổ

13

Trang 18

chức và văn hoá ứng xử của các chủ thể văn hoá Những khía cạnh này ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư duy ứng xử thương nghiệp, lịch sử thương nghiệp và quy định những loại hình VHDN đặc thù ở mỗi vùng văn hoá khác nhau

Như một qui luật, loại hình văn hoá gốc du mục thiên về tính động, dễ phát triển thương nghiệp Dân du mục sống không cố định, sáng ở đây chiều đã tới nơi khác, phải thay đổi chỗ theo mùa trong năm Trong quá trình di chuyển, họ có thể trao đổi, mua bán các sản phẩm với những vùng, địa

phương đi qua Từ đó, họ phát hiện ra sự chênh lệch giá cũng như nhu cầu

khác nhau về những mặt hàng giữa các vùng khác nhau Khởi đầu lịch sử thương nghiệp chính là việc thu mua hàng hoá ở vùng này đem lại vùng khác

bán để lấy lợi nhuận (phần chênh lệch giá)

Khi thương nghiệp lớn mạnh thì nhu cầu xây dựng đường sá, nhà kho, bãi chứa hàng, khu tập trung mua bán hàng hoá… để thương nghiệp phát triển

hơn nữa đã cho ra đời các đô thị Đây là qui luật chung của phát triển thương

nghiệp, tổ chức đô thị và hình thành xã hội công nghiệp [Trần Ngọc Thêm 2004: 38 -39]

Ngược lại, cư dân của vùng văn hoá thuộc loại hình văn hoá nông nghiệp trọng tĩnh thường gắn liền đời sống với làng, bản, ít đi lại nên không phát triển thương nghiệp Tâm lý ưa sự ổn định, trọng bảo tồn hơn là phát triển thể hiện rõ trong tư duy ứng xử với thương nghiệp

Trong khi đó, chủ thể của vùng văn hoá (trung gian) chuyển tiếp lại tiếp thu, tích hợp được những yếu tố trội của hai loại hình văn hoá trọng động và trọng tĩnh giúp phát triển thương nghiệp và VHDN

Có thể thấy rõ qui luật này khi xem xét lịch sử thương nghiệp các vùng văn hoá

14

Trang 19

1.1.2 Lịch sử thương nghiệp vùng văn hóa phương Tây

Nghề kinh doanh và mạng lưới đô thị đã phát triển khá sớm ở Phương

Tây Trong cuốn Nguồn gốc văn minh, W Durant (1990) cho biết: “Tại những

bộ lạc săn bắn và mục súc, loài bò là một đơn vị giá trị rất tiện Vào thời đại Homer ở Hy Lạp, người ta đánh giá người và vật bằng số bò: bộ binh giáp của Diomède đáng giá 9 con bò, một người nô lệ khéo tay đáng giá 4 con

Tương tự, người La Mã dùng hai danh từ gần giống nhau – pecus và pecunia –

để chỉ bò và tiền bạc” [dẫn theo Trần Ngọc Thêm 2004: 36]

Tuy nhiên, lịch sử phát triển thương nghiệp phương Tây cũng bị gián đoạn suốt một thời kỳ dài 12 thế kỷ (từ thế kỷ IV sau công nguyên đến thế kỷ XVI) Nhà thờ La Mã đã hạn chế đáng kể sự phát triển của nghề kinh doanh bởi tư tưởng muốn tới cõi vĩnh hằng, con người phải đoạn tuyệt với của cải ở

thế giới này: “Hãy bán hết của cải đi và theo ta” “Con lạc đà chui qua lỗ kim

còn dễ hơn một kẻ giàu đi vào nước Chúa” (Marc, 10, 25)

Phải đến phong trào Cải cách tôn giáo với những tư tưởng của J.Calvin

(1509-1564) và sự ra đời của đạo Tin Lành, nghề kinh doanh ở phương Tây mới bước vào cuộc hồi sinh toàn diện Chủ nghĩa Calvin và đạo Tin Lành coi

thành công về kinh tế là biểu hiện ân huệ của Chúa Trời Tư tưởng trọng

thương bắt đầu phát triển Ch.L.Montesquieu trong cuốn Tinh thần pháp luật

(1748) đã viết: “Thương mại gột bỏ những định kiến tai hại, nó làm lành mạnh những hủ tục Nó làm cho con người đỡ thô bạo hơn và mang nhiều tính người hơn” [Ballet & De Bry 2005: 16]

Không chỉ thúc đẩy nội thương, tư tưởng trọng thương còn thúc đẩy ngoại

thương phát triển mạnh mẽ Thomas Mun (1664) đã viết: “Cách thông thường… để gia tăng của cải và vàng bạc là thông qua ngoại thương, tức là

15

Trang 20

chúng ta phải tuân theo uy tắc này: hàng năm phải bán cho nước ngoài nhiều hơn, về mặt giá trị, số hàng hoá mà chúng ta mua của họ, phần của cải sẽ không trở lại với chúng ta đưới dạng hàng hoá nhất định sẽ quay lại dưới dạng vàng bạc” [dẫn theo Pressman 1990: 15]

Chủ nghĩa tư bản được xem là đỉnh cao của nghề kinh doanh nhưng bản chất của nhà tư bản là hám lợi Vì vậy, mặc dù phương Tây là khu vực có truyền thống kinh doanh lâu đời và là nơi phát triển loại hình công ty sớm nhất (thế kỉ XIII) nhưng đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp thường không được xem trọng

1.2.2 Lịch sử thương nghiệp vùng văn hóa Đông - Nam

Với truyền thống văn hoá nông nghiệp trọng tĩnh điển hình, cư dân vùng văn hoá Đông Nam chỉ sống trong những làng xã khép kín, trọng cộng đồng, trọng Danh (địa vị trong cộng đồng) hơn Lợi, tâm lý ưa ổn định, trọng nông nên không phát triển nghề kinh doanh và hệ quả là mạng lưới đô thị không phát triển

Vì vậy, trong khi ở châu Âu, thế giới Ả-rập và Trung Hoa, nghề thương nghiệp đều đã phát triển tự phát và đóng vai trò quan trọng trong tiềm lực kinh tế quốc gia từ khá lâu trước công nguyên thì ở Việt Nam, trong suốt lịch sử, thủ công nghiệp và thương nghiệp luôn rất èo uột và đóng một vai trò hết sức khiêm tốn [Trần Ngọc Thêm 2005]

1.1.3 Lịch sử thương nghiệp vùng văn hóa Tây - Nam

Vùng văn hoá Tây Nam là nơi phát triển nghề kinh doanh và đô thị khá sớm Kinh doanh đã trở thành một ngành nghề quan trọng của xã hội sớm

được pháp luật điều chỉnh Bộ luật Hammourabi ban hành khoảng năm 2.000

16

Trang 21

trước công nguyên ở Babylone đã đề cập đến những quy chuẩn thương mại như lợi tức, lương, giờ làm việc [Ballet & De Bry 2005: 10]

Trong một ngôi mộ ở Thébes niên đại vào thế kỷ XV trước công nguyên, có một bức chạm nổi hình cái cân với một bên mâm là hai con bò, còn bên mâm kia là 9 vòng kim loại Các thương nhân đã dùng những thỏi chì hay vàng đủ mọi kích cỡ dùng để đổi chác, thanh toán theo hình thức lưu thông hàng hoá bằng tiền tệ Nghề kinh doanh và sự giàu có được tôn giáo thừa nhận và đề cao: trong Kinh Thánh Genèse, Abraham được Chúa Trời yêu cầu phải giàu có để thờ cúng Trời; trở nên giàu có là làm vui lòng Trời; sự giàu có được xem là phương tiện tốt nhất để tránh bạo lực, thương lượng cho hoà bình [Attali J 2004: 20-21, 29]

1.1.4 Lịch sử thương nghiệp vùng văn hóa Đông - Bắc

Từ thời cổ đại nghề buôn bán đã phát triển ở tiểu vùng Đông Bắc Đời

Thương (thế kỷ XVII-XI trước công nguyên) đã hình thành một lớp người chuyên làm việc mua bán và họ đã biết dùng vỏ sò như là vật môi giới để trao đổi, mua bán hàng hoá

Sau khi lật đổ nhà Thương, nhà Tây Chu (西周) (thế kỉ XI -VIII trước công nguyên) bắt đem số dân nhà Thương về gần kinh đô Lạc Dương và giao cho lo việc buôn bán để phát huy sở trường và đảm bảo kế sinh nhai cho họ

Lâu dần, người ta quen gọi những người làm nghề buôn là “Thương nhân” (商人), hàng hoá là “Thương phẩm”, nghề buôn bán là “Thương nghiệp”

[Lương Triệu Tường, Lưu Văn Trí 1999: 15]

Với sự phát triển mạnh mẽ của thương nghiệp, nhiều từ có gốc “Thương”

như “Thương cổ”, “Thương vụ”, “Thương đàm”, “Thương hiệu”, đã ra đời

sau này

17

Trang 22

Nhờ có truyền thống lịch sử thương nghiệp lâu đời cộng với việc tiếp thu và dung hoà những giá trị trội của hai loại hình văn hoá trọng động và trọng tĩnh, nhiều doanh nhân, doanh nghiệp nổi tiếng của vùng văn hoá Đông Bắc đã xây dựng được những triết lý kinh doanh cao đẹp và những mô hình văn hoá doanh nghiệp độc đáo

Phần tiếp theo sẽ khái quát một số khái niệm liên quan về thương nghiệp, kinh doanh, chủ thể và đối tượng của hoạt động doanh nghiệp

1.2 Kinh doanh và doanh nghiệp

1.2.1 Sự phát triển của kinh doanh và sự hình thành doanh nghiệp

Hình thức kinh doanh kiếm lời cổ xưa nhất là buôn bán Từ xa xưa, người

Do Thái ở Tây Nam Á, rồi người nhà Thương ở Đông Bắc Á đều nổi tiếng là

giỏi buôn bán Việc kinh doanh kiếm lời thông qua sản xuất hàng hoá chỉ

thực sự nở rộ và phát đạt cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây Hiện nay, kinh doanh đã phát triển dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau

Luật Doanh nghiệp (1999) định nghĩa: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [dẫn theo Lê Văn Hưng (cb) 2001: 7]

Với định nghĩa này, hoạt động kinh doanh bao hàm tất cả những hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ… nhằm đáp ứng những nhu cầu thị trường với mục đích thu lợi nhuận về cho chủ thể làm kinh doanh

Tuy nhiên, kinh doanh không chỉ đơn thuần là hoạt động thuần kinh tế mà còn là một hoạt động xã hội

18

Trang 23

Trong tiếng Anh, “trade” và “business” là hai từ thông dụng để nói về

“nghề nghiệp” và “làm doanh nghiệp/kinh doanh” “Trade” bắt nguồn từ tiếng Anh cổ là “traden”, có nghĩa là “lối đi”, “phong cách ứng xử” Đến thế kỉ 16,

“trade” mới có thêm nghĩa là “nghề nghiệp”, “quan hệ doanh thương” và cuối cùng là nghĩa “làm kinh doanh” Từ “business” xuất hiện vào cuối thế kỉ 14, có gốc từ chữ “bisignisse” với nghĩa khởi nguyên là “lo âu vì muốn công việc

được hoàn thành tốt”

Trong tiếng Pháp, hai chữ phổ biến để chỉ “làm doanh nghiệp” hay “kinh

doanh” là “Affair” và “Commerce” “Commerce” được phổ biến từ thế kỷ XV, có nghĩa khởi thuỷ là “thiết lập quan hệ giữa người và người” Đến cuối thế kỉ

XVI, nó có thêm ý nghĩa là “giao dịch thương mại”

Trong tiếng Đức chữ “nghề nghiệp” là “beruf”, có nghĩa khởi nguyên từ

“gewerbe” (tay nghề) và “geschaft” (làm kinh doanh) Thế nhưng “beruf” lại thoát thai từ hai từ Đức cổ là “berouf” (danh tiếng) và “berufung” (sứ mệnh)

[dẫn theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm 2004: 388 -389]

Như vậy, chủ thể của hoạt động kinh doanh không đơn thuần chỉ làm

công việc mua bán, sản xuất kinh doanh kiếm lời mà còn thực hiện những sứ

mệnh, trách nhiệm xã hội nào đó

Phương Đông đã có những quan niệm tiến bộ về kinh doanh Bất cứ từ điển Hán -Việt nào cũng giải thích chữ “kinh” trong “kinh doanh” đều mang hàm nghĩa liên quan đến triết lý “kinh bang tế thế” – nghĩa là dựng nước và chăm lo cho cuộc đời - của tư duy Á Đông1

Khi tính chất, mức độ, qui mô của nhu cầu tiêu thụ hàng hoá, thụ hưởng dịch vụ của con người ngày càng tăng thì yêu cầu phải tổ chức sản xuất kinh

1 Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày 10-5-2001, tr.37

19

Trang 24

doanh nhằm đáp ứng những nhu cầu đó đã cho ra đời các loại tổ chức mà

ngày nay chúng được gọi chung là doanh nghiệp Chữ “doanh” (營) trong

“doanh nghiệp” nghĩa là ‘quản lý’, còn chữ “doanh” (贏) trong “doanh lợi” nghĩa là ‘tiền lời’ [Trần Ngọc Thêm 2005]

1.2.2 Doanh nghiệp

Trong xã hội có rất nhiều tổ chức do con người thành lập với những mục

đích khác nhau Doanh nghiệp là một trong số những loại hình tổ chức đó Theo Kreitner & Buelens thì tổ chức là “một hệ thống thiết chế những hoạt động được phối hợp một cách có ý thức của một nhóm gồm từ hai người trở lên tổ chức lại với nhau vì một mục đích cụ thể nào đó” [1999: 535]

Một tổ chức có các đặc trưng sau: Sự phối hợp nỗ lực để đạt những mục đích chung; phân công lao động, cấp bậc thẩm quyền Sự phối hợp nỗ lực chỉ đạt được thông qua kế hoạch, phương pháp và sự tuân thủ các thủ tục, qui tắc, luật lệ và chính sách Phân công lao động diễn ra khi một mục đích chung được đeo đuổi bởi các cá nhân đang thực hiện những công việc, nhiệm vụ

riêng lẻ nhưng có quan hệ với nhau Cấp bậc thẩm quyền hay dây chuyền mệnh lệnh là một cơ chế đảm bảo đúng người đúng việc và đúng lúc để đạt

hiệu quả Đối với các tổ chức kinh tế thì tính hiệu quả luôn là yêu cầu hàng

đầu

Tổ chức kinh tế (economic organization) là một tổ chức có mục đích nhằm phân bổ và sử dụng một cách có hiệu quả những nguồn lực khan hiếm, có giới hạn Nó có thể là một công ty, một đơn vị thương mại trong một công

ty, một mạng lưới hệ thống những tổ chức độc lập hay là một tổ chức phi lợi

nhuận Một tổ chức kinh doanh (business organization) có động cơ chính là lợi

nhuận và sự phát triển lớn mạnh [Dollinger 2003: 6-7]

20

Trang 25

Theo Luật Doanh nghiệp (1999) thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [dẫn theo Lê Văn Hưng (cb) 2001: 9]

Tuỳ theo hình thức sở hữu, cách thức đầu tư vốn, có thể xác định các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay gồm:

- Doanh nghiệp nhà nước

- Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị – xã hội

- Hợp tác xã

- Doanh nghiệp tư nhân

- Công ty

- Doanh nghiệp liên doanh

- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Trong phạm vi luận văn, thuật ngữ “doanh nghiệp” sẽ được dùng để chỉ bất kì một loại hình tổ chức kinh doanh nào được đề cập ở trên

Doanh nghiệp là một loại tổ chức có những đặc thù và kiểu văn hoá riêng biệt nếu so với những tổ chức khác của con người Trước khi đi vào nghiên cứu văn hoá doanh nghiệp cần phải xác định được chủ thể doanh nghiệp, khách thể và môi trường của doanh nghiệp để thấy rõ toạ độ của văn hoá doanh nghiệp

1.2.3 Doanh nhân và tinh thần doanh nghiệp

Mỗi một lớp người trong xã hội đều có những nét văn hoá đặc trưng của mình Về mặt tố chất, doanh nhân là những người có đầu óc kinh doanh, dám chấp nhận rủi ro để vươn lên làm giàu Ýù chí quyết tâm làm giàu là tố chất bẩm sinh của doanh nhân và đây cũng là điều kiện tiên quyết đối với sự

21

Trang 26

thành công của họ Mục tiêu cuối cùng của doanh nhân không phải chỉ là lợi

nhuận nhưng chính lợi nhuận là động lực mạnh mẽ, là phần thưởng cho

những nỗ lực của họ

Ai cũng có thể học kinh doanh nhưng để kinh doanh thành công thì chỉ có các doanh nhân thực thụ bởi họ luôn kiên trì đeo đuổi mục tiêu và chủ động kiểm soát công việc và chịu trách nhiệm về sự thành công, thất bại của mình Năm 1917, Konosuke Matsushita bắt đầu sự nghiệp kinh doanh đầy gian khổ Ông đã phải đem áo kimono của vợ đến hiệu cầm đồ để lấy tiền làm thí nghiệm chuẩn bị cho việc sản xuất loại đuôi bóng đèn điện mới Sau này công ty điện máy Matsushita trở nên nổi tiếng toàn cầu [Đỗ Minh Cương 2001: 207]

Đó là những tố chất chung tạo thành nếp văn hóa doanh nhân mà chúng

ta thường hay bắt gặp ở những doanh nhân chân chính, thành đạt Những tố

chất này sẽ nảy nở tinh thần doanh nghiệp (entrepreneurship) trong những

điều kiện môi trường pháp lý, môi trường kinh tế văn hóa - xã hội thuận lợi

Người chủ, người lãnh đạo doanh nghiệp, doanh nhân phải cần có tinh

thần doanh nghiệp, đó là:

Thứ nhất, phải có tinh thần luôn luôn đổi mới, luôn khám phá và sử dụng

công nghệ mới, phương pháp sản xuất sản phẩm mới, tìm kiếm thị trường

mới Khái niệm cách tân chỉ những khám phá công nghệ làm đổi mới phương

pháp sản xuất hoặc công nghệ tạo ra những sản phẩm mới Sản phẩm mới là sản phẩm chưa có trên thị trường, hoặc loại sản phẩm đã có nhưng với chất lượng cao hơn nhưng giá thành rẻ hơn Cách tân công nghệ còn bao gồm cả

việc tìm được thị trường mới, nguồn cung cấp mới, hoặc áp dụng hình thái tổ

chức mới

22

Trang 27

Thứ hai, đó là thái độ tích cực đầu tư, tinh thần mạo hiểm, sẵn sàng chịu rủi ro Phải có trí tuệ, có óc nhìn xa trông rộng mới tránh hoặc giảm được rủi

ro

Thứ ba, đó là ý thức mưu tìm lợi nhuận chứ không phải mưu tìm đặc lợi

Mưu tìm đặc lợi là lợi dụng cơ chế để mua chuộc những người có chức có

quyền nhằm kiếm được lợi lớn mà không mất nhiều công sức trong kinh doanh Người có tinh thần doanh nghiệp chỉ mưu tìm lợi nhuận chân chính từ thành quả của nỗ lực cách tân

Thứ tư, một khi kinh doanh mang đầy đủ những yếu tố trên, nhất là yếu

tố thư ba, thì đồng thời nó thể hiện rõ tính chất đạo đức trong kinh doanh của doanh nghiệp Đạo đức kinh doanh là kết quả tổng hợp của ba yếu tố kể trên [Trần Văn Thọ 2005: 279 - 287]

Vì vậy, tinh thần doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành, phát triển của doanh nghiệp và VHDN

1.2.4 Môi trường doanh nghiệp

Môi trường của doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Theo Andrew Brown [1998: 48] thì các đối tượng hữu quan (stakeholders) là những cá nhân, nhóm, tổ chức có mối quan tâm quyền lợi vào sự thành công của doanh nghiệp một cách trực tiếp hay gián tiếp

Các doanh nghiệp khác nhau có những đối tượng hữu quan khác nhau

dựa trên sứ mệnh và định hướng trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp

đó

Cổ đông Cộng đồng

23

Trang 28

Mối tương tác giữa doanh nghiệp và các đối tượng hữu quan chính yếu

[Nguồn: Bowditch & Bouno 1997: 231]

Trong kinh doanh hiện nay, hành xử của doanh nghiệp đối với môi trường của mình sẽ được các đối tượng hữu quan quan sát chặt chẽ (ví dụ, doanh nghiệp sản xuất gây ô nhiễm môi trường sẽ bị tẩy chay và lên án gay gắt) Vì vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải xem trọng những vấn đề về trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh

1.3 Tiểu kết

24

Trang 29

Trong chương này, khái niệm, định nghĩa về văn hóa, vùng văn hóa, loại hình văn hóa đã được đề cập và phân tích Đặc biệt, việc phân tích các thành tố cấu trúc của văn hoá; việc so sánh các đặc trưng của các vùng văn hoá, các loại hình văn hoá và phác hoạ lịch sử thương nghiệp các vùng văn hoá không chỉ giúp lý giải vì sao trong lịch sử thương nghiệp chỉ có thể phát triển

ở một số vùng văn hóa mà còn cho thấy được tư duy ứng xử thương nghiệp

của chủ thể vùng văn hóa khác nhau

Phần cuối của chương này phân tích một số khái niệm, định nghĩa liên quan đến kinh doanh, doanh nhân, doanh nghiệp và môi trường doanh nghiệp Các đối tượng hữu quan ngày càng đòi hỏi ở doanh nghiệp nhiều hơn Doanh nghiệp nào có những giá trị văn hoá phù hợp với môi trường của mình thì sẽ thành công và phát triển bền vững hơn

Đó cũng là những cơ sở lý luận cho việc phân tích các vấn đề về VHDN

ở những chương tiếp theo

25

Trang 30

CHƯƠNG 2

VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP

2.1 Định nghĩa về “Văn hoá doanh nghiệp”

Có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về VHDN Tuy nhiên, có thể

phân chúng thành hai loại: Định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng

Các định nghĩa kiểu miêu tả liệt kê các thành tố của VHDN, ví dụ:

“Văn hoá công ty có thể được mô tả như một tập hợp những niềm tin, tập tục, phong tục, những hệ thống giá trị, chuẩn mực hành vi, cách thức kinh doanh độc nhất của công ty mà chúng hình thành một mô thức cho những hoạt động và hành động và định rõ những mô thức hành vi, xúc cảm ẩn ngầm và rõ ràng khắc hoạ tính cách đời sống công ty” [Tunstall 1983: 15]

“Văn hoá (công ty) là biểu hiện của một tập những giá trị và cách thức suy nghĩ chung trong một cộng đồng và chúng có khuynh hướng tự tồn tại, duy trì trong một thời gian dài” [Kotter & Heskett 1992:141]

Văn hoá (doanh nghiệp) là “cách thức mọi việc diễn ra quanh đây” Nó là cái điển hình của tổ chức, những thói quen, quan điểm thịnh hành, những mô thức hành vi ứng xử đã định hình, được chấp nhận và được mong đợi” [Drennan 1992:3]

Các định nghĩa nêu đặc trưng có các khuynh hướng: (1) Xem VHDN là

những kết quả (sản phẩm) Đó có thể là những giá trị, truyền thống, chuẩn

mực, nếp sống, biểu trưng, mà chủ thể văn hoá doanh nghiệp đã sáng tạo,

kế thừa và tích luỹ (2) Xem VHDN như một quá trình Đó có thể là những

hoạt động sáng tạo, những phương thức kinh doanh để tồn tại và phát triển

Trang 31

doanh nghiệp, cách thức ứng xử với môi trường kinh doanh,…(3) Xem VHDN là những quan hệ, những cấu trúc,…

Các định nghĩa sau có thể được xếp vào loại định nghĩa nêu đặc trưng:

“Văn hoá của một xí nghiệp chính là những phong tục, cách thức suy nghĩ và làm việc truyền thống, được chia sẻ bởi thành viên của nó và các thành viên mới phải học, ít nhất cũng phải chấp nhận phần nào đó để được nhận vào làm việc Văn hoá theo nghĩa này bao gồm những hành vi; những phương thức sản xuất; các kĩ năng nghề nghiệp và kiến thức kĩ thuật; thái độ đối với kỉ luật và hình phạt; thông tục và thói quen của hành vi quản trị; những mục tiêu cần quan tâm; phong cách kinh doanh; những giá trị công việc khác nhau, những qui ước và những điều cấm kỵ được ngầm hiểu” [Jaques 1952: 251]

Từ đó, có thể thấy có hai cách hiểu về VHDN: hiểu VHDN theo nghĩa

hẹp và hiểu VHDN theo nghĩa rộng

Xét về phạm vi thì VHDN theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn

hoá tinh hoa Văn hoá tinh hoa là một tiểu văn hoá (sub-culture) của văn hoá

doanh nghiệp chứa những giá trị đáp ứng các nhu cầu bậc cao, thường thiên về tinh thần của thành viên doanh nghiệp Theo nghĩa này, văn hoá doanh nghiệp thường được đồng nhất với các loại hình, hoạt động nghệ thuật, ca hát, văn nghệ,… trong doanh nghiệp

Xét về hoạt động thì VHDN hiểu theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất

với văn hoá ứng xử Theo hướng này, VHDN thường được hiểu là cách thức

làm việc, cách nghĩ và cách đối xử với các thành viên khác Vì vậy, một số

Trang 32

tác giả quy về văn hoá ứng xử (ứng xử trong công ty, ứng xử ngoài công ty, ứng xử với khách hàng, ứng xử với đối tác )

Bên cạnh đó, một số định nghĩa xem văn hoá doanh nghiệp là một dạng

của “văn hoá tổ chức”:

“VHDN (Văn hóa công ty) là một dạng của văn hoá tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hoá mà doanh nghiệp làm ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên của nó” [Đỗ Minh Cương 2001: 85]

Lorsch cho rằng: “Văn hoá (công ty) là những niềm tin được các nhà quản trị cấp cao trong một công ty chia sẻ chung về cách thức họ nên quản trị mình và các nhân viên như thế nào, và cách họ nên làm kinh doanh ra sao Những niềm tin này thường vô hình đối với các nhà quản trị nhưng chúng lại có sức ảnh hưởng lớn lao quyết định lối suy nghĩ và hành động của họ” [1986: 95] Eldridge & Crobie định nghĩa: “Văn hoá của một doanh nghiệp là một dạng thức riêng biệt của những chuẩn mực, giá trị, niềm tin và những cách thức ứng xử mà nó đặc trưng cho phong cách của những nhóm và những cá nhân kết hợp với nhau để tiến hành công việc Tính đặc thù của một tổ chức được gắn chặt với lịch sử của nó và những ảnh hưởng của những quyết định và các nhà lãnh đạo trong quá khứ Nó được biểu thị bằng những truyền thống, tục lệ và hệ tư tưởng mà các thành viên tuân thủ theo cũng như những lựa chọn chiến lược của tổ chức” [1974: 89]

Mỗi kiểu định nghĩa đó đều có hạt nhân hợp lý riêng Tuy nhiên, các định nghĩa về VHDN nêu trên thường chỉ đề cập đến các thành tố cấu trúc

Trang 33

văn hoá doanh nghiệp ở cấp độ biểu hiện “bề nổi” (tập hợp của những biểu hiện hình thức) và chỉ nhìn văn hoá doanh nghiệp ở góc độ hẹp

Để hiểu VHDN theo nghĩa rộng thì cần phải có một định nghĩa đầy đủ cần nêu bật được bốn đặc trưng cơ bản của VHDN là: tính hệ thống; tính giá

Edgar H Schein [1998: 9] cho rằng: “VHDN là một mô hình của những giả định cơ sở – được sáng tạo, khám phá và phát triển bởi một nhóm người

khi họ học cách ứng phó và thích ứng với môi trường bên ngoài; tích hợp - cố

kết thống nhất nội bộ – được xem là phương thức hoạt động hiệu quả và có

đủ hiệu lực để truyền đạt cho những thành viên mới như là cách thức ứng xử đúng đắn để lĩnh hội, suy nghĩ, cảm nhận đối với những vấn đề tương tự” Trong bài nói chuyện chuyên đề VHDN với Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư Nước ngoài tại Hà Nội ngày 15-7-2005, GS Trần Ngọc Thêm đã nêu

định nghĩa về VHDN như sau: “VHDN là một hệ thống của các giá trị do

doanh nghiệp sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong

mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên của mình” [Trần Ngọc Thêm 2005]

Chúng tôi chọn định nghĩa của GS Trần Ngọc Thêm để làm định hướng

khi nghiên cứu của luận văn bởi nghiên cứu VHDN chính là nghiên cứu một

Trang 34

Định nghĩa trên cho thấy một hệ toạ độ ba chiều mà trong đó VHDN tồn tại: Doanh nghiệp là chủ thể văn hoá; môi trường tự nhiên và xã hội là không

gian văn hoá; quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là thời gian văn hoá Đây cũng là những cơ sở để tiếp cận cấu trúc văn hoá doanh nghiệp

và lý giải sự khác biệt giữa các loại hình văn hoá doanh nghiệp

Bên cạnh những ưu điểm vừa nêu, định nghĩa này cũng đã nêu bật được các đặc trưng và chức năng của VHDN

2.2 Đặc trưng và chức năng của văn hóa doanh nghiệp

Có nhiều ý kiến khác nhau về đặc trưng và vai trò của VHDN Theo chúng tôi, VHDN có đầy đủ các đặc trưng, chức năng của một tiểu văn hoá Bên cạnh đó, VHDN sẽ có thêm một số chức năng phái sinh đặc biệt

Tất cả các đặc trưng, chức năng này nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chủ đạo: tích hợp nội bộ và thích ứng với môi trường

2.2.1 Đặc trưng thứ nhất của VHDN là tính hệ thống Nó cho thấy

tính tổ chức của doanh nghiệp, phân biệt một doanh nghiệp có văn hoá với

một doanh nghiệp chỉ có tập hợp giá trị Tính hệ thống qui định chức năng tổ

chức của VHDN

2.2.2 Đặc trưng thứ hai của VHDN là tính giá trị Như một xã hội thu

nhỏ, mỗi doanh nghiệp có một hệ thống những chuẩn mực, giá trị định hướng

hành vi của các thành viên Những giá trị cốt lõi (core values) sẽ giúp doanh

Trang 35

2.2.3 Đặc trưng thứ ba của VHDN là tính nhân sinh Đây là đặc trưng

cơ bản về chủ thể cho phép phân biệt VHDN với các tiểu văn hoá khác Chủ

thể VHDN ở đây không phải con người nói chung, mà là doanh nghiệp như một loại chủ thể văn hoá đặc biệt (bên cạnh văn hoá làng xã, văn hoá đô thị,

) Tính đặc biệt của chủ thể doanh nghiệp thể hiện ở sự đa dạng của quy mô và loại hình doanh nghiệp: có doanh nghiệp gia đình; doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đa/xuyên quốc gia, Tính nhân

sinh tạo cho những sản phẩm (tạo tác VHDN) có giá trị biểu trưng, mang tính

biểu trưng (như màu sắc, hình ảnh, ý nghĩa tượng trưng của các logo, thương

hiệu nổi tiếng ) vốn không có sẵn trong bản thân sự vật (hiện tượng) VHDN suy cho cùng là sự phản ánh tư duy và hoạt động thực tiễn - hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể văn hoá doanh nghiệp - nó gắn liền

với con người và hoạt động của con người trong xã hội vì vậy nó có chức

năng giao tiếp

2.2.4 Đặc trưng thứ tư của VHDN là tính lịch sử Qua quá trình kinh

doanh, doanh nghiệp xây dựng kiểu văn hoá của mình Thông qua những cơ

Trang 36

Như vậy, VHDN các chức năng chính như sau có thể trình bày trong bảng sau [Trần Ngọc Thêm 2005]:

Đặc trưng văn hóa Chức năng văn hóa Chức năng VHDN

Tính hệ thống Tổ chức xã hội Tổ chức doanh nghiệp

Tính giá trị Điều chỉnh xã hội Điều chỉnh doanh nghiệp Tính nhân sinh Giao tiếp Làm cơ sở giao tiếp trong và

ngoài doanh nghiệp

doanh nghiệp Là cơ sở cho sự tồn tại ổn định

và bền vững của chủ thể (dân tộc) Làm cơ sở cho sự thành công bền vững của doanh

nghiệp

Bên cạnh đó, do doanh nghiệp là một tổ chức có những đặc thù riêng biệt nên VHDN có thêm những chức năng phái sinh sau:

2.2.5 Chức năng giảm thiểu xung đột- phối hợp và kiểm soát Đây là

chức năng bộ phận của chức năng tổ chức xã hội và chức năng điều chỉnh xã hội Nó đẩy mạnh sự nhất quán trong quan điểm và hành động của các thành

viên doanh nghiệp Nó được xem là một bộ lọc hoặc thấu kính giúp nhân

viên tập trung và lĩnh hội được diễn biến của môi trường, từ đó có được những giải pháp chia sẻ chung và giúp giảm bớt tình trạng không chắc chắn

Trang 37

2.2.6 Chức năng tạo động cơ thúc đẩy Đây là chức năng bộ phận của

chức năng giáo dục VHDN là một nguồn lực quan trọng thúc đẩy tinh thần

nhân viên vì vậy nó có tác động rõ rệt đến hiệu suất làm việc và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp VHDN giúp các thành viên doanh nghiệp xác định được sứ mệnh của mình gắn liền với sứ mệnh doanh nghiệp và họ cảm thấy mình có ý nghĩa đối với sự phát triển của doanh nghiệp và của xã hội

2.2.7 Chức năng tạo lợi thế cạnh tranh – xây dựng thương hiệu Đây là chức năng bộ phận của chức năng giao tiếp Trên nền tảng một nền văn hoá

ổn định, vững mạnh, doanh nghiệp sẽ đạt được sự nhất quán trong tư tưởng, điều hoà phối hợp và kiểm soát để giảm thiểu tình trạng bất ổn; tạo động lực để khuyến khích phát triển tối đa năng lực nhân viên Kotter cho rằng: “Để thành công bạn phải có VHDN dù bạn có muốn hay không Chỉ những doanh nghiệp thua lỗ triền miên mới không có văn hoá Chừng nào còn có nhóm người, làm việc tương đối ổn định và tương đối thành công thì ở đó còn có VHDN” [Gibson R.(bt) 2002: 273]

VHDN tác động đến việc thiết lập và thực thi chiến lược theo sơ đồ sau [Brown 1998: 243 -244]:

doanh nghiệp Bối cảnh

Lịch sử

doanh nghiệp

Thực thi Chiến lược

Thiết lập chiến lược

Cơ hội và thách thức của môi trường

Hiệu suất Động lực

văn hoá

Trang 38

VHDN, hay những động lực nó sinh ra, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thiết lập và thực thi chiến lược theo những cách thức khác nhau: VHDN đóng

vai trò là một bộ lọc nhận thức (perception filter) quyết định việc diễn giải

thông tin, thiết lập các nguyên tắc đạo đức, cung cấp những giải pháp để hành động và cách thức sử dụng quyền lực để đạt đến những quyết định chiến lược Đồng thời, nó cũng cung cấp đường lối phương hướng hành động

để thực hiện những mục tiêu, sứ mạng của doanh nghiệp Sự khác biệt về

VHDN khiến cho một số kiểu VHDN này cho phép “ứng xử và khai thác” môi trường kinh doanh một cách hiệu quả hơn những kiểu VHDN khác nhờ

chúng có tính tương thích chiến lược hơn

2.2.8 Chức năng duy trì và bảo tồn giá trị VHDN Bên cạnh việc đánh

giá về tay nghề, nghiệp vụ, kĩ năng chuyên môn, các nhà quản trị cũng xem

trọng tính tương thích văn hoá (cultural compatibility) của ứng viên để tuyển

chọn nhân viên cho doanh nghiệp Khi được tuyển chọn, nhân viên mới sẽ được giáo dục những giá trị, ý tưởng sống, triết lý hoạt động của doanh nghiệp bên cạnh việc đào tạo, huấn luyện thêm những kiến thức nghiệp vụ chuyên môn để thích ứng với môi trường làm việc mới VHDN sẽ được bảo tồn, lưu truyền theo lịch sử phát triển doanh nghiệp [Brown 1998: 55-58]

2.3 Cấu trúc của VHDN

2.3.1 Các thành tố của cấu trúc VHDN

Là một tiểu văn hoá, VHDN có cấu trúc bao gồm đủ cả ba thành tố: Văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức và văn hoá ứng xử

Văn hoá nhận thức xét theo đối tượng thì bao gồm nhận thức về vũ trụ,

về môi trường kinh doanh và con người Xét theo mức độ thì văn hoá nhận

Trang 39

thức bao gồm nhận thức khái quát, nhận thức chuyên sâu và nhận thức cảm tính

Văn hoá tổ chức chính là văn hoá quản lý trên mọi mặt hoạt động của

đời sống doanh nghiệp nhằm tạo ra sự tích hợp nội bộ để tồn tại và thích ứng với môi trường để phát triển

Văn hoá ứng xử bao gồm văn hoá ứng xử trong doanh nghiệp, văn hoá

ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tương quan của doanh nghiệp

Trong mỗi thành tố ấy đã có tính đến quan hệ bộ ba: Chủ thể – hoạt động – sản phẩm [Trần Ngọc Thêm 2005]

Nhận thức khái quát Triết lý kinh doanh, đạo đức, trách

nhiệm của doanh nghiệp

Nhận thức chuyên sâu

Các kinh nghiệm kinh doanh, tri thức nghề nghiệp mà doanh nghiệp tích luỹ được

Văn hoá

Nhận thức

Nhận thức cảm tính Tín ngưỡng và những quan niệm mang

tính tín ngưỡng (huyền thoại ) Tổ chức đời sống

tập thể Văn hoá quản lý trên mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp

Văn hoá

Tổ chức Tổ chức đời sống cá

nhân Tổ chức đời sống vật chất và tinh thần Ứng xử với môi

trường xã hội Ứng xử các đối tượng hữu quan (môi trường xã hội)

Văn hoá

Ưùng xử Ứng xử với môi

trường tự nhiên Ứng xử với môi trường tự nhiên nơi cư trú, với nguồn nguyên nhiên liệu

2.3 2 Biểu hiện của các thành tố cấu trúc VHDN

Có nhiều ý kiến khác nhau về cách phân loại những biểu hiện của các thành tố cấu thành VHDN Theo chúng tôi, có thể tạm chia chúng thành hai

Trang 40

tầng chính: Tầng các biểu hiện văn hoá bề nổi và Tầng các giá trị văn hoá

chiều sâu Sự phân chia này mang tính tương đối, bởi tất nhiên, mỗi biểu

hiện văn hoá bề nổi cũng đã bao hàm giá trị tinh thần của chủ thể doanh nghiệp

Tầng các biểu hiện văn hoá bề nổi dễ nhận thấy của VHDN là những tạo tác Brown cho rằng các từ điển định nghĩa tạo tác (artifact) là sản phẩm

Ngày đăng: 01/07/2023, 19:48

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w