1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đại học quốc gia tp hồ chí minh

170 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đại học quốc gia tp hồ chí minh
Tác giả Nguyễn Thị Thiết
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Hồng Sinh
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học thư viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (11)
  • 2. Sơ lƣợc tình hình nghiên cứu (12)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (16)
    • 3.1 Mục đích nghiên cứu (16)
    • 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu (16)
  • 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (17)
    • 4.1 Đối tƣợng nghiên cứu (17)
    • 4.2 Đối tƣợng khảo sát (17)
    • 4.3 Phạm vi nghiên cứu (17)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (17)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn (22)
    • 6.1 Ý nghĩa khoa học (22)
    • 6.2 Ý nghĩa thực tiễn (22)
  • 7. Kết cấu của đề tài (22)
  • CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ TÀI LIỆU SỐ (24)
    • 1.1 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ tài liệu số (24)
      • 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến dịch vụ tài liệu số (24)
      • 1.1.2 Phân loại dịch vụ tài liệu số (29)
      • 1.1.3 Vai trò của tài liệu số và dịch vụ tài liệu số trong thƣ viện và cơ quan thông (30)
      • 1.1.4 Đánh giá dịch vụ tài liệu số (33)
      • 1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ tài liệu số (35)
    • 1.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài liệu số trong các trường đại học trên thế giới và ở Việt Nam (42)
    • 2.1 Giới thiệu về Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (52)
      • 2.1.1 Khái quát lịch sử (52)
      • 2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ (53)
      • 2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nhân sự (54)
      • 2.1.4 Nguồn tài nguyên thông tin (55)
      • 2.1.5 Cơ sở vật chất - trang thiết bị (56)
      • 2.1.6 Tài chính (57)
      • 2.1.7 Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện (58)
    • 2.2 Đặc điểm về người dùng tin và nhu cầu tin (59)
      • 2.2.1 Đặc điểm về người dùng tin (59)
      • 2.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin (61)
    • 2.3 Phân tích thực trạng và đánh giá chất lƣợng các dịch vụ tài liệu số tại Thƣ viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (68)
      • 2.3.1 Nhóm dịch vụ cung cấp thông tin số (68)
      • 2.3.2 Dịch vụ giải đáp người dùng tin (80)
      • 2.3.3 Nhóm dịch vụ tƣ vấn, huấn luyện về thông tin số (83)
    • 2.4 Kỳ vọng của người dùng tin đối với dịch vụ tài liệu số (88)
      • 2.4.1 Kỳ vọng của NDT về phát triển các loại hình dịch vụ tài liệu số mới (88)
      • 2.4.2 Các ý kiến, đề xuất của người dùng tin về các biện pháp phát triển dịch vụ tài liệu số (89)
    • 2.5 Đánh giá về thực trạng và khả năng phục vụ dịch vụ tài liệu số (91)
  • CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI LIỆU SỐ PHỤC VỤ CÁN BỘ NGHIÊN CỨU TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (23)
    • 3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện dịch vụ tài liệu số hiện có (100)
      • 3.1.1 Dịch vụ truy cập internet (100)
      • 3.1.2 Dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến (101)
      • 3.1.3 Dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện (102)
      • 3.1.4 Dịch vụ phổ biến thông tin số chọn lọc (103)
      • 3.1.5 Dịch vụ giải đáp cho người dùng tin (103)
      • 3.1.6 Dịch vụ tƣ vấn thông tin số (104)
      • 3.1.7 Dịch vụ huấn luyện thông tin số (105)
    • 3.2 Nhóm giải pháp phát triển/tạo lập mới các dịch vụ tài liệu số (106)
      • 3.2.1 Dịch vụ huấn luyện thông tin số trực tuyến (106)
      • 3.2.2 Dịch vụ bao gói cơ sở dữ liệu theo yêu cầu (108)
      • 3.2.3 Dịch vụ diễn đàn điện tử (109)
    • 3.3 Nhóm giải pháp đảm bảo duy trì và phát triển dịch vụ tài liệu số (111)
      • 3.3.1 Tăng cường các nguồn lực hỗ trợ phát triển dịch vụ tài liệu số (111)
      • 3.3.2 Nâng cao chất lượng đào tạo người dùng tin (121)
      • 3.3.3 Tăng cường hoạt động tuyên truyền, quảng bá dịch vụ tài liệu số (124)
      • 3.3.4 Mở rộng quan hệ hợp tác với các thƣ viện (126)
  • KẾT LUẬN (128)
  • PHỤ LỤC (135)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN HỌC ************ NGUYỄN THỊ THIẾT PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI LIỆU SỐ PHỤC VỤ CÁ

Sơ lƣợc tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về DVTT-TV là một nội dung quan trọng trong hoạt động TT-

Nhiều nghiên cứu, bài báo khoa học và luận văn thạc sĩ đã được thực hiện về các khía cạnh khác nhau của DVTT-TV, cho thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, quản lý và những người làm việc tại các CQTT-TV, TVĐH đối với nội dung này.

Trên toàn cầu, nhiều nghiên cứu và bài báo khoa học đã được công bố về dịch vụ thư viện truyền thống và hiện đại trong môi trường thư viện số và điện tử Các chủ đề nổi bật bao gồm mối quan hệ giữa dịch vụ thư viện truyền thống và các cơ quan thư viện điện tử, cũng như các đối tượng phục vụ đặc biệt của dịch vụ thư viện.

Một số bài viết nổi bật về mối quan hệ giữa các dịch vụ thư viện truyền thống (DVTT-TV) với người dùng thư viện (NDT) và các cơ quan thư viện truyền thống (CQTT-TV) bao gồm nghiên cứu của Xia (2003) về "Dịch vụ thư viện số: Nhận thức và kỳ vọng của cộng đồng NDT và chuyên viên thư viện trong thư viện đại học New Zealand" Ngoài ra, nghiên cứu của Stejskal và Hajek cũng đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này.

Năm 2015 đã chứng minh rằng các dịch vụ thư viện số không chỉ mang lại lợi ích cho người dùng mà còn hỗ trợ quyết định trong các tổ chức công cộng Bài viết của Roopa và Krishnamurthy (2015) không chỉ trình bày xu hướng nghiên cứu dịch vụ thư viện số trong thế kỷ 21 mà còn phân tích tầm quan trọng của thư viện số và sự phát triển của các dịch vụ số Hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu khác đã tập trung vào việc nghiên cứu đối tượng phục vụ đặc biệt của các dịch vụ thư viện trong môi trường số.

The National Library of Armenia provides digital services tailored for patrons with disabilities, addressing various challenges while implementing effective measures These services include online reference support for remote learners and those engaged in online education, ensuring accessibility and inclusivity for all users.

The article discusses the integration of reference services within digital libraries, highlighting key projects and studies It references Sloan's 1998 report on the "Ready for Reference" project, which emphasizes the importance of digital reference services Pomerantz's 2003 work on integrating digital reference services into the digital library environment is also noted Additionally, Vatnal, Mathapati, and Prakash's 2004 study focuses on developing library and information services for e-learning environments The challenges and solutions related to digital services for patrons with disabilities at the National Library of Armenia are examined, alongside Abdullah's insights on reference services in Malaysian universities Finally, Mills' 2013 research on mobile library services for distance learning students is discussed, showcasing the evolving landscape of library services in the digital age.

Các nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của dịch vụ truyền thông trực tuyến (DVTT-TV) trong môi trường số, đặc biệt là dịch vụ truyền dẫn dữ liệu (TLS), giúp các đối tượng người dùng tiếp cận và sử dụng thông tin phù hợp với nhu cầu của họ Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập đến những cơ hội và thách thức mà cơ quan truyền thông có thể gặp phải khi cung cấp dịch vụ này Tại Việt Nam, nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về DVTT-TV, cho thấy sự phát triển và tiềm năng của lĩnh vực này.

Giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện” của Trần Mạnh Tuấn (1998) cung cấp cái nhìn tổng quan về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện Bài viết của Vũ Duy Hiệp (2015) tập trung vào phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ thư viện - thông tin trong các trường đại học, hướng tới mô hình đại học nghiên cứu Nghiên cứu này dựa trên kinh nghiệm và xu hướng phát triển của các thư viện đại học trên thế giới, nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm trong việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện phục vụ đào tạo và nghiên cứu tại các trường đại học hiện nay Bài viết của Vũ Duy Hiệp (2014) cũng nghiên cứu mô hình hệ thống sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện tại thư viện đại học Victoria, New Zealand, và rút ra bài học cho các thư viện đại học Việt Nam.

SP&DVTT-TV đang được chuẩn hóa và hiện đại hóa tại TVĐH Victoria, New Zealand Qua đó, bài viết đề xuất một số bài học kinh nghiệm cho các TVĐH Việt Nam trong việc nghiên cứu, xây dựng mô hình và phát triển hệ thống SP&DVTT-TV trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Ngoài ra, có các tài liệu tập huấn về dịch vụ thông tin – thư viện, bao gồm bài giảng “Các dịch vụ trao đổi thông tin” của tác giả Trần Đức Phương.

2003 , bài giảng “Các dịch vụ cung cấp thông tin” của tác giả Vũ Anh Tuấn

Vào năm 2003, tác giả Trần Mạnh Tuấn đã có nhiều bài viết trên tạp chí, như “Dịch vụ cung cấp thông tin theo chuyên đề: nội dung và một số kiến nghị”, “Về hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin”, và “Một số vấn đề về sự phát triển của sản phẩm và dịch vụ thông tin” Những bài viết này đều tập trung vào việc xây dựng và triển khai dịch vụ thông tin – thư viện tại Việt Nam.

Nghiên cứu về dịch vụ thông tin thư viện (DVTT-TV) đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả trong các luận văn của họ Đặc biệt, luận văn của Đỗ Văn Châu năm 2006 với đề tài “Phát triển dịch vụ Thông tin - Thư viện của các thư viện đại học công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh” là một ví dụ tiêu biểu Ngoài ra, luận văn của Nguyễn Thị Kim cũng góp phần vào lĩnh vực này.

Cương (2006) đã nghiên cứu về việc "Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện" trong Hệ thống Thư viện Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh Luận văn này tập trung vào việc cải thiện và mở rộng các dịch vụ thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng.

Nguyễn Thị Trúc Hà (2016) đã nghiên cứu về "Phát triển dịch vụ thông tin - thư viện tại trường Đại học Tài chính - Marketing TP HCM." Luận văn của Huỳnh Thị Kim cũng đề cập đến các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực này.

Năm 2017, nghiên cứu với đề tài “Phát triển dịch vụ thông tin - thư viện tại trường Cao đẳng kinh tế - công nghệ TP.HCM” đã tiến hành khảo sát hiện trạng dịch vụ thông tin - thư viện (DVTT-TV) Từ kết quả khảo sát, các tác giả đã đánh giá chất lượng DVTT-TV tại các trường đại học và cao đẳng, đồng thời đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển DVTT-TV tại đây.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu

Dịch vụ TLS phục vụ cán bộ nghiên cứu

Đối tƣợng khảo sát

Cán bộ nghiên cứu bao gồm: Giảng viên, nhà nghiên cứu và HVSĐH.

Phạm vi nghiên cứu

Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng 03 phương pháp nghiên cứu lớn chia làm 03 giai đoạn như sau:

Giai đoạn Thực hiện Kết quả đạt đƣợc

- Tìm kiếm, phân tích, tổng hợp thông tin phù hợp, liên quan đến dịch vụ TLS

- Hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu 1

- Hệ thống hóa các nội dung liên quan đến việc phục vụ TLS làm cơ sở lý luận cho đề tài

2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

- Sử dụng phương pháp điều tra/khảo sát bằng bảng hỏi

- Đối tượng khảo sát: Giảng viên, nhà nghiên cứu và HVSĐH tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM

- Cỡ mẫu: Kích cỡ mẫu của đề tài dựa theo công thức tính mẫu của Yamane 1967-1986)

- Sử dụng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 20.0 để xử lý số liệu

Nghiên cứu thực trạng và nhu cầu của cán bộ nghiên cứu về dịch vụ TLS tại Thư viện là cần thiết để hiểu rõ kỳ vọng của họ Qua đó, chúng ta có thể xác định những điểm mạnh và tồn tại trong dịch vụ này, từ đó cải thiện chất lượng phục vụ và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng.

3 Phương pháp nghiên cứu định tính

3.1 Phương pháp phỏng vấn sâu:

- Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn bán cấu trúc;

- Đối tượng được phỏng vấn: tổng cộng 16 người bao gồm 05

Ban Giám đốc và 05 CVTV công tác tại các bộ phận khác nhau Thư viện

- Hình thức: quan sát không tham dự theo cách công khai ;

- Nội dung quan sát: thực tế sử dụng các dịch vụ TLS tại Thư viện của các đối tượng NDT

- Góp phần làm rõ các số liệu thu thập được từ phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi;

- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát triển dịch vụ TLS tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM

- Kiểm chứng lại các số liệu thu thập được thông qua khảo sát cũng như những điều kiện thực tế diễn ra các dịch vụ TLS

Bước 1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Xác định nguồn tài liệu từ các bản giấy và điện tử tại Thư viện ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM, cũng như Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Ngoài ra, có thể tìm kiếm trên Google Scholar và các website học thuật khác.

+ Tìm kiếm, phân tích, tổng hợp thông tin phù hợp, liên quan đến dịch vụ TLS để làm luận cứ cho luận văn

Tài liệu ngành thư viện về dịch vụ TLS cung cấp cơ sở lý luận quan trọng cho việc phát triển các dịch vụ này, bao gồm các bài viết từ tạp chí chuyên ngành, sách, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ liên quan đến công tác phát triển dịch vụ TLS.

 Tài liệu nội bộ của Thư viện gồm: Báo cáo tổng kết, phương hướng hoạt động, chính sách phát triển Thư viện…

- Kết quả đạt được: Phần Tổng quan và Cơ sở lý luận của luận văn

Bước 2 Phương pháp nghiên cứu định lượng:

- Cụ thể là phương pháp điều tra/khảo sát bằng bảng hỏi

Đối tượng khảo sát bao gồm những nhà đầu tư (NDT) sử dụng thư viện, trong đó có cán bộ, nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học tại Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM.

Kích cỡ mẫu của đề tài dựa theo công thức tính mẫu của Yamane 1967- 1986): n = N

1+ N (e) 2 Trong đó: n là cỡ mẫu

N là số lượng tổng thể e là sai số cho phép

Tại thời điểm nghiên cứu, số lượng nhà đầu tư (NDT) thuộc thành phần cán bộ, nhà nghiên cứu và giảng viên là 5444 Với sai số cho phép là ± 5 và độ tin cậy 95%, số lượng mẫu cần xác định cho nghiên cứu được tính toán theo công thức 1.

Vậy cỡ mẫu khảo sát cần thiết đảm bảo tính đại diện cho đề tài này tối thiểu cần có 372 phiếu

Phiếu khảo sát được phát ngẫu nhiên cho đối tượng khảo sát trong thời gian một tháng Mỗi người tham gia chỉ được điền một lần vào phiếu khảo sát, và các trường hợp trùng lặp sẽ bị loại trừ trong quá trình phát phiếu.

Kết quả thu được: Số lượng phiếu phát ra là 400 phiếu, trong đó 192 phiếu phát cho cán bộ/nhà nghiên cứu/giảng viên và 208 phiếu phát cho

HVSĐH Số phiếu thu về là 374 phiếu đạt 93.5%)

Số phiếu thu được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 20.0, nhằm phục vụ cho công tác phân tích thống kê Phần mềm này sẽ tính toán tần suất, thứ hạng, tỷ lệ phần trăm, trị số trung bình và độ lệch chuẩn, tạo cơ sở cho việc phân tích và thảo luận dữ liệu thu thập từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.

Bước 3 Phương pháp nghiên cứu định tính:

Phương pháp phỏng vấn sâu

- Cụ thể là phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc hình thức phỏng vấn dựa trên bảng liệt kê các câu hỏi đã được định trước

- Đối tượng được phỏng vấn: Tổng cộng 16 người bao gồm 05 GV, 05

HVSĐH, 01 Đại diện Ban Giám đốc và 05 CVTV công tác tại các bộ phận khác nhau của Thư viện

- Thời gian phỏng vấn: Theo thỏa thuận giữa tác giả và đối tượng được phỏng vấn

Địa điểm phỏng vấn nên được chọn ngẫu nhiên, đảm bảo phù hợp với yêu cầu về không gian phỏng vấn, nhằm tạo cảm giác thoải mái cho ứng viên và giảm thiểu tác động từ các yếu tố bên ngoài trong suốt quá trình phỏng vấn.

- Nội dung phỏng vấn: Tùy thuộc vào từng nhóm đối tượng, sẽ có số lượng câu hỏi cũng như vấn đề cụ thể cần phỏng vấn (Xem Phụ lục 3.1)

Cách thức phỏng vấn bao gồm việc giới thiệu thông tin, mục đích phỏng vấn, và các câu hỏi dành cho đối tượng phỏng vấn Tác giả có thể trao đổi và đặt thêm câu hỏi phụ để làm rõ câu trả lời và phát hiện những ý kiến mới Nội dung phỏng vấn sẽ được ghi âm với sự đồng ý của người tham gia.

Sau khi phỏng vấn, cần xử lý thông tin thu được bằng cách gỡ băng phỏng vấn và áp dụng phương pháp ẩn danh cho người được phỏng vấn Các bảng phỏng vấn sẽ được mã hóa theo một cách nhất định để bảo đảm tính bảo mật và riêng tư.

+ Đối với đối tượng phỏng vấn là giảng viên bao gồm GV01, GV02, GV03, GV04, GV05;

+ Đối với đối tượng phỏng vấn là HVSĐH bao gồm HV01, HV02, HV03, HV04, HV05;

+ Đối với đối tượng phỏng vấn là đại diện Ban Giám đốc Thư viện, được mã hóa là BGĐ và CVTV bao gồm CV01, CV02, CV03, CV04, CV05

Phân tích kết quả phỏng vấn giúp hiểu rõ quan điểm, đánh giá và kỳ vọng của các đối tượng được phỏng vấn Dữ liệu này làm sáng tỏ thông tin thu thập từ phương pháp bảng hỏi, củng cố luận điểm nghiên cứu Từ đó, các giải pháp phù hợp được đề xuất nhằm phát triển dịch vụ TLS tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM.

- Hình thức quan sát: quan sát không tham dự (theo cách công khai);

Tác giả thông báo cho đối tượng nghiên cứu về đề tài nghiên cứu và quá trình quan sát việc sử dụng dịch vụ TLS của NDT, đồng thời mô tả các điều kiện thực tế diễn ra các dịch vụ TLS tại các bộ phận liên quan của Thư viện.

- Thời gian quan sát: sau khi thu thập và phân tích các số liệu khảo sát bảng hỏi;

Kết quả quan sát cho thấy việc kiểm chứng thông tin từ khảo sát và các dẫn chứng thực tế là cần thiết để tăng cường tính thuyết phục cho các nhận định Điều này sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng các dịch vụ tại Thư viện.

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Luận văn này làm rõ vai trò và ý nghĩa của dịch vụ cung cấp TLS, đồng thời khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết phải phát triển dịch vụ TLS tại các trường đại học.

Ý nghĩa thực tiễn

Lãnh đạo Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM cần đánh giá chính xác thực trạng dịch vụ Thư viện số (TLS) hiện tại và xác định hướng phát triển cho tương lai.

Áp dụng các giải pháp từ luận văn vào thực tiễn hoạt động của Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM sẽ giúp phát triển dịch vụ TLS, từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của đội ngũ cán bộ nghiên cứu.

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, HVSĐH, giảng viên, cán bộ nghiên cứu ngành Thông tin Thư viện.

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ tài liệu số

Chương này trình bày lý thuyết về dịch vụ TLS, bao gồm khái niệm và vai trò của dịch vụ TLS trong các trường đại học (TVĐH), cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ này Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ chia sẻ kinh nghiệm phát triển dịch vụ TLS tại các TVĐH trên thế giới và ở Việt Nam Những nội dung này sẽ là cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu đề tài.

Chương 2: Đánh giá hiện trạng dịch vụ tài liệu số hỗ trợ cán bộ nghiên cứu tại Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Bài viết trình bày thực trạng và phân tích kết quả khảo sát công tác phát triển dịch vụ Thư viện số (TLS) tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM Tác giả tổng hợp ý kiến từ Ban Giám đốc, cán bộ thư viện và người dùng về tình hình và định hướng phát triển dịch vụ này Dựa trên những thông tin thu thập được, tác giả khái quát các điểm mạnh, tồn tại, cơ hội và thách thức liên quan đến dịch vụ TLS tại Thư viện.

Chương 3 trình bày các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cho cán bộ nghiên cứu tại Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Các giải pháp này bao gồm việc nâng cao chất lượng tài liệu số, cải thiện hạ tầng công nghệ thông tin, và tăng cường đào tạo kỹ năng sử dụng tài liệu số cho cán bộ nghiên cứu Mục tiêu là tạo ra một môi trường nghiên cứu hiệu quả và thuận lợi, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng.

Dựa trên kết quả khảo sát hiện trạng và định hướng phát triển dịch vụ Thư viện số (TLS) trong tương lai, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TLS tại Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ TÀI LIỆU SỐ

Cơ sở lý thuyết về dịch vụ tài liệu số

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến dịch vụ tài liệu số

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong xã hội, bao gồm cả hoạt động thư viện - thông tin (TT-TV) Sự xuất hiện của nhiều loại hình xuất bản phẩm hiện đại, đặc biệt là tài liệu số (TLS), đã làm thay đổi cách thức hoạt động của các cơ quan thư viện - thông tin (CQTT-TV).

Trên toàn cầu, nhiều thuật ngữ được sử dụng để chỉ TLS, bao gồm tài liệu số, tài liệu sinh ra từ số, và tài liệu kỹ thuật số Một số quan điểm nổi bật đã được đưa ra khi thảo luận về ý nghĩa của các thuật ngữ này liên quan đến TLS.

Theo Cẩm nang bảo quản số của Đại học Garden thuộc Đại học Tổng hợp Glasgow, Anh, TLS là tài liệu số hóa, bao gồm các tài liệu được chuyển đổi từ định dạng khác sang dạng số để xử lý bằng máy tính TLS cũng có thể là tài liệu được tạo ra hoàn toàn ở dạng kỹ thuật số mà không có bản giấy tương đương (born-digital) (Digital Preservation Handbook, 2005).

According to Chatterjee and Maity (2013), TLS digital documents encompass various formats such as e-books, electronic journals, databases, CD-ROMs, and DVDs, which are collected in libraries.

Harvey và Weatherburn (2018) định nghĩa TLS digital materials bao gồm: "dữ liệu - bất kỳ thông tin nào ở dạng số nhị phân, các đối tượng và cơ sở dữ liệu số; đối tượng số - dạng đơn giản như tệp văn bản, hình ảnh, âm thanh, ký hiệu nhận dạng và siêu dữ liệu liên quan; dạng phức tạp là cấu trúc kết hợp nhiều đối tượng số khác nhau như websites; cơ sở dữ liệu - bộ sưu tập có cấu trúc của các biểu ghi hoặc dữ liệu được lưu trữ trong một hệ thống máy tính" (tr 9).

Tại Việt Nam hiện nay, cũng có nhiều quan điểm về khái niệm TLS, từ khái quát đến cụ thể, điển hình như:

Theo Lê Văn Năng (2015), Giám đốc Trung tâm Tin học – Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, cho biết rằng TLS là vật mang tin, trong đó thông tin được tạo lập thông qua phương pháp sử dụng tín hiệu số, hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Theo Phạm Văn Hùng (2009), TLS là các tài liệu được lưu trữ trên máy tính thông qua hai kênh: kênh đầu tiên là tạo lập tài liệu gốc bằng cách xử lý các file văn bản, hình ảnh, bảng biểu, và kênh thứ hai là chuyển đổi định dạng các tài liệu đã được tạo lập ở dạng khác như scan hay ghi âm Tóm lại, TLS có thể được hiểu là tất cả các tài liệu được trình bày dưới dạng số mà máy tính có khả năng đọc được.

Theo Lại Thế Trung, TLS là tài liệu hoặc vật mang tin, trong đó thông tin được biểu diễn dưới dạng nhị phân và lưu trữ dưới dạng các bit/byte Những dữ liệu này có thể được khai thác thông qua các công cụ tra cứu điện tử, với sự hỗ trợ của thiết bị chuyên dụng, phần mềm và hệ thống mạng máy tính, bao gồm sách điện tử, báo điện tử, cơ sở dữ liệu điện tử, các chương trình máy tính, tài nguyên trên trang web và blog.

Theo Nguyễn Thị Khanh (2015), TLS là thông tin được mã hóa và lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ, cho phép người dùng truy cập qua các thiết bị điện tử Điều này bao gồm cả dữ liệu trực tuyến và dữ liệu điện tử trên các vật mang tin vật lý khác nhau.

TLS là các tài liệu được mã hóa dưới dạng tín hiệu số, cho phép lưu trữ và truy cập qua máy tính và mạng máy tính, đồng thời dễ dàng trao đổi và chia sẻ trong môi trường mạng.

1.1.1.2 Dịch vụ tài liệu số

Dịch vụ TLS là một loại dịch vụ truyền thông và truyền hình (DVTT-TV), do đó nó sở hữu đầy đủ các đặc điểm, yêu cầu và tính chất của DVTT-TV Trước khi tìm hiểu định nghĩa về dịch vụ TLS, cần nắm rõ khái niệm về DVTT-TV.

 Dịch vụ thông tin – thư viện:

DVTT-TV là những hoạt động không thể thiếu đối với CQTT-TV đặc biệt là TVĐH Hiện nay có nhiều định nghĩa về DVTT-TV:

Dịch vụ thư viện là thuật ngữ chung chỉ tất cả các hoạt động và chương trình mà thư viện cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng, theo định nghĩa từ điển Anh - Việt về thư viện học và tin học.

Dịch vụ thông tin, theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư quốc tế về thư viện và thông tin học, bao gồm cả lý thuyết và thực tiễn trong việc cung cấp các dịch vụ nhằm kết nối người tìm kiếm thông tin với các nguồn tin Định nghĩa này được trích dẫn bởi Đỗ Văn Châu.

Dịch vụ thông tin, theo Theo Sutton (2003), là những dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của tổ chức hoặc cá nhân Những dịch vụ này yêu cầu mối quan hệ chặt chẽ giữa người thực hiện dịch vụ và khách hàng, đồng thời cung cấp thông tin chọn lọc để thỏa mãn yêu cầu của họ.

Theo Trần Mạnh Tuấn, dịch vụ thông tin và truyền thông (DVTT-TV) bao gồm các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người dùng trong các cơ quan truyền thông nói chung.

Kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài liệu số trong các trường đại học trên thế giới và ở Việt Nam

Nhằm hỗ trợ và thúc đẩy nghiên cứu, giảng dạy, học tập, các thư viện đại học trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam, đã triển khai hệ thống dịch vụ thư viện hiện đại và chuyên nghiệp, giúp người dùng tiếp cận tài nguyên mọi lúc, mọi nơi.

Nhóm dịch vụ cung cấp thông tin số:

 Dịch vụ tra cứu số: là dịch vụ tra cứu dựa trên nguồn thông tin số, liên kết

Dịch vụ tra cứu số tại các thư viện, bao gồm cả ở Việt Nam và quốc tế, cung cấp nhiều phương thức hỗ trợ cho người dùng (NDT) NDT có thể trao đổi trực tuyến với cán bộ phụ trách qua phần mềm như Zopim hoặc Zigzag, hoặc gửi yêu cầu qua email và nhận phản hồi sau một thời gian Tại các thư viện như TVĐH Delhi và TVĐH Illinois, dịch vụ chủ yếu được thực hiện qua email, điện thoại hoặc chat trực tuyến Ở trong nước, Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ và TVĐH Hoa Sen cũng cung cấp dịch vụ tra cứu số, hỗ trợ kỹ thuật và trả lời các câu hỏi của NDT qua nhiều hình thức như trực tiếp, điện thoại, email hoặc chat online Đặc biệt, các thư viện ở Việt Nam còn cung cấp dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện và truy cập vào các cơ sở dữ liệu toàn văn, giúp NDT dễ dàng tìm kiếm thông tin cần thiết.

 Dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc (SDI) tự động hóa:

Dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc cung cấp thông tin với nội dung và hình thức đã được xác định trước, một cách chủ động và định kỳ đến người dùng Hiện nay, dịch vụ này đang được triển khai rộng rãi trong các cơ quan thông tin.

Một số thư viện đại học (TVĐH) hiện nay cung cấp dịch vụ thông tin chọn lọc tự động (SDI) để hỗ trợ nghiên cứu Tại TVĐH Giáo dục Hồng Kông, dịch vụ SDI cho phép các nhà nghiên cứu điền thông tin vào mẫu yêu cầu, từ đó tạo và lưu hồ sơ tìm kiếm Thông tin liên quan sẽ được gửi tự động qua email mà người dùng đã đăng ký Tương tự, TVĐH Sains Islam Malaysia cũng cung cấp dịch vụ SDI cho tất cả người dùng, giúp họ cập nhật thông tin mới nhất trong lĩnh vực chuyên môn của mình.

Dịch vụ SDI tự động hóa cho phép NDT lưu lại các từ khóa tìm kiếm để sử dụng trong tương lai và nhận kết quả qua email Tại Trung tâm học liệu Đại học Đà Nẵng, dịch vụ thông tin chọn lọc tự động cung cấp thông tin theo chủ đề đã đăng ký từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau Qua hệ thống SDI, NDT có thể gửi phản hồi về chất lượng thông tin cho Trung tâm học liệu.

Nhóm dịch vụ cung cấp thông tin số đang được các tổ chức và doanh nghiệp tại Việt Nam và trên thế giới chú trọng đầu tư và phát triển.

Nhóm dịch vụ hỗ trợ trao đổi thông tin số:

Các hội nghị, hội thảo, tọa đàm là hình thức tổ chức định kỳ của các TVĐH, giúp NDT dễ dàng tham gia và cập nhật thông tin về các vấn đề quan trọng trong cộng đồng Trong những năm gần đây, nhiều hội nghị và hội thảo đã được tổ chức, như Hội thảo “Bản quyền tài liệu số và học liệu mở” vào 12/4/2017, Hội thảo “Xây dựng học liệu nội sinh dùng chung” vào 30/10/2017, và Hội nghị thường niên AUNILO lần thứ 14 về “Xu hướng học liệu số trong TVĐH” từ 02-04/07/2018 Các sự kiện này thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, nhằm phát triển và đổi mới hoạt động thư viện trong thời kỳ mới, như Hội thảo “Phát triển và đổi mới hoạt động thư viện” vào 05/12/2018 và Hội thảo “Kết nối, chia sẻ tài nguyên và dịch vụ thư viện” vào 23/08/2019 Các hội thảo trực tuyến cũng được tổ chức, như “Số hóa Giáo dục thời COVID” vào 19/08/2020, thể hiện sự thích ứng của ngành giáo dục trong bối cảnh hiện tại.

Các TVĐH tổ chức hội nghị bạn đọc hàng năm để lắng nghe ý kiến đóng góp của NDT, từ đó cải tiến chất lượng phục vụ của thư viện Đây cũng là cơ hội để thư viện hiểu rõ hơn về đối tượng phục vụ và giúp NDT nắm bắt thông tin về các hoạt động tương lai của thư viện (Đỗ Văn Châu, 2006, tr.87).

Dịch vụ diễn đàn điện tử là một công cụ hỗ trợ trao đổi thông tin hiệu quả, tiện lợi và tiết kiệm, ngày càng được nhiều người sử dụng Theo Đỗ Văn Châu (2006), diễn đàn điện tử cho phép người dùng liên hệ và trao đổi thông tin về các vấn đề quan tâm thông qua môi trường ảo Người tham gia có thể chọn xem thông tin theo từng chủ đề và đồng thời cung cấp thông tin, từ đó trở thành cả người khai thác và cung cấp thông tin Hình thức này giúp các thư viện nhận phản hồi từ người dùng, cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động Nhiều thư viện tại các trường đại học trong và ngoài nước, như Thư viện Đại học Monash, Đại học Queensland, và Thư viện Đại học Toronto, đã triển khai dịch vụ này.

Nhóm dịch vụ tƣ vấn, huấn luyện thông tin số:

Các trường đại học trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam, đang cung cấp chương trình đào tạo kiến thức thông tin đa dạng từ cơ bản đến nâng cao, với các phương thức học trực tiếp và trực tuyến Tại trường đại học Saint Francis ở Hoa Kỳ, chương trình kiến thức thông tin được thiết kế phù hợp với từng đối tượng người dùng tại thư viện, cho phép các nhà nghiên cứu tự đăng ký các chủ đề học tập và tự học qua các nội dung như tổng quan về quá trình nghiên cứu, cách đánh giá thông tin, trích dẫn, tránh đạo văn và xuất bản Tương tự, trường đại học Manchester ở Anh cũng cung cấp các bài giảng trực tuyến hỗ trợ người học.

NDT dễ dàng tự học với nhiều nội dung hấp dẫn như kỹ năng nghiên cứu, quản lý tài liệu tham khảo, và cách tìm kiếm thông tin hiệu quả Tại TVĐH James Cook Australia, phương thức đào tạo kết hợp giữa bài giảng và thực hành, với các hoạt động sinh động để thu hút người học Thư viện cung cấp hướng dẫn trực tuyến và tài liệu phù hợp, giúp sinh viên tự học hiệu quả CVTV phối hợp chặt chẽ với giảng viên để xây dựng chương trình giảng dạy, xác định kỹ năng cần thiết cho từng ngành Thư viện cũng thường xuyên đánh giá hiệu quả đào tạo để cải tiến chương trình Tại Việt Nam, các TVĐH đã nỗ lực nâng cao trình độ sử dụng thư viện thông qua các lớp hướng dẫn cho sinh viên năm nhất và cải tiến nội dung đào tạo, tạo sự linh hoạt cho người tham gia.

Tại Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ, chương trình huấn luyện thông tin trực tuyến được triển khai trên website, cho phép người dùng truy cập mọi lúc, mọi nơi Nội dung bao gồm video hướng dẫn tìm tài liệu trên OPAC, CSDL và các công cụ tìm kiếm như Google Trung tâm cũng cung cấp hướng dẫn về cách trích dẫn và quản lý tài liệu tham khảo, giúp người dùng tôn trọng quyền tác giả và truy tìm nguồn tài liệu gốc cùng các tài liệu liên quan.

Tại TVĐH Hoa Sen, thư viện tổ chức các lớp hướng dẫn tra cứu thông tin cho giảng viên và sinh viên, bao gồm hướng dẫn theo lớp, nhóm và cá nhân Thư viện kết hợp với chương trình “Giáo dục Tổng quát” để đưa nội dung hướng dẫn vào môn “Phương pháp học đại học”, bao gồm kiến thức thông tin, bản quyền, chống đạo văn, và phương pháp lập danh mục tham khảo Ngoài ra, thư viện còn phát triển chương trình huấn luyện kiến thức thông tin trực tuyến với nhiều module, giúp sinh viên nắm vững các khái niệm thông tin, đánh giá nguồn tài nguyên internet, và kỹ năng trích dẫn Chương trình này hỗ trợ hiệu quả cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên.

Cùng với các dịch vụ trên, các dịch vụ hỗ trợ giảng dạy, hỗ trợ nghiên cứu cũng được các TVĐH chú trọng phát triển

Nhiều trường đại học ở Châu Âu và Châu Mỹ đã phát triển mô hình liên lạc viên liên lạc hoặc liên lạc viên chủ đề, như tại Đại học Newcastle, nơi mỗi khoa có các CVTV chịu trách nhiệm tư vấn thông tin liên quan đến chủ đề của mình và các chương trình đào tạo kỹ năng thông tin Các liên lạc viên này tham gia các cuộc họp để thảo luận về vấn đề thư viện và giải quyết thắc mắc của người dùng Tại Đại học Công nghệ Delft, thư viện tổ chức nhiều dịch vụ hỗ trợ cho nhà nghiên cứu, bao gồm tư vấn tìm tài liệu, hỗ trợ xuất bản và tổ chức hội thảo nhằm nâng cao hiệu quả tìm kiếm và phổ biến thông tin Đặc biệt, thư viện đã xây dựng cổng nghiên cứu hỗ trợ nhà nghiên cứu trong tất cả các giai đoạn của chu trình nghiên cứu Tại Châu Úc, các trường đại học cũng chú trọng phát triển mô hình liên lạc viên thư viện, với các CVTV phụ trách từng lĩnh vực để cung cấp hỗ trợ cho người dùng đạt được mục tiêu học tập và nghiên cứu Ví dụ, tại Đại học Sydney, các liên lạc viên thư viện cung cấp hỗ trợ nghiên cứu, quản lý tài liệu tham khảo, và tư vấn về chiến lược quản lý dữ liệu nghiên cứu, đồng thời phối hợp với khoa để thiết kế chương trình giảng dạy về kỹ năng thông tin phù hợp với từng chuyên ngành.

Tại các trường đại học ở Châu Á, mô hình liên lạc viên thư viện đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sinh viên và giảng viên Tại Thư viện Trung tâm của Đại học Quốc gia Kyungpook, mỗi khoa có từ một đến hai liên lạc viên phụ trách, những người này thu thập yêu cầu từ giáo sư và sinh viên để bổ sung tài liệu và cung cấp dịch vụ thư viện như nhận yêu cầu mua tài liệu, khảo sát và cung cấp tài liệu tham khảo cho các bài thuyết trình, luận văn và dự án nghiên cứu Họ cũng tư vấn về cách tìm kiếm thông tin và sử dụng cơ sở dữ liệu học tập Tương tự, tại Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore, các liên lạc viên theo các lĩnh vực như Khoa học xã hội, Khoa học Tự nhiên, Thông tin và Truyền thông, Kinh doanh và Kỹ thuật, hỗ trợ sinh viên trong việc sử dụng tài nguyên thông tin và định hướng nghiên cứu.

Như vậy, qua tìm hiểu dịch vụ TLS của một số TVĐH trên thế giới và Việt

Giới thiệu về Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM, có hơn 60 năm hình thành và phát triển, được thành lập vào năm 1955 với tiền thân là Thư viện Trường Đại học Văn Khoa thuộc Đại học Sài Gòn Vào tháng 04/1977, Thư viện hợp nhất với Thư viện Trường Đại học Khoa học, trở thành Thư viện Trường Đại học Tổng hợp TP HCM, phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các tỉnh phía Nam Đến tháng 03/1996, theo quyết định số 1233/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường được đổi tên thành Trường ĐH KHXH&NV thuộc hệ thống ĐHQG-HCM, và Thư viện được tách ra từ Thư viện Đại học Tổng hợp.

Từ năm 1997, Thư viện đã chuyển sang phương thức phục vụ mở và tin học hóa, giúp giảng viên, HVSĐH và sinh viên dễ dàng tiếp cận nguồn tài liệu phong phú Thư viện đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức của Trường ĐH KHXH&NV ĐHQG-HCM, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại 28 Khoa/Bộ môn Vốn tài liệu của Thư viện được cập nhật theo các chuyên ngành đào tạo, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cán bộ, giảng viên, HVSĐH và sinh viên, cũng như của NDT từ các cơ quan khác trong và ngoài TP.HCM.

Trong những năm qua, Thư viện đã nỗ lực đầu tư vào nguồn tài nguyên thông tin, đặc biệt là tài nguyên điện tử, nhằm phục vụ người dùng mọi lúc, mọi nơi Thư viện hướng tới việc trở thành một thư viện điện tử, kết nối và hòa mạng ngân hàng dữ liệu với các thư viện trong và ngoài hệ thống ĐHQG-HCM Đồng thời, Thư viện cũng cải tiến và triển khai các dịch vụ thông tin thư viện, đặc biệt là dịch vụ tra cứu, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của Trường.

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ

Cung cấp tri thức và thông tin cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của Trường Đồng thời, tổ chức và quản lý các nguồn tài nguyên thông tin, bao gồm việc thu thập, bảo quản và bổ sung, cũng như hướng dẫn và quản lý công tác quyền sở hữu trí tuệ của Trường.

Nhiệm vụ chính của Thư viện bao gồm:

Nghiên cứu và đề xuất các phương hướng, chủ trương, kế hoạch nhằm phát triển nguồn tài nguyên thông tin trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Đồng thời, đảm bảo trách nhiệm trong việc bảo quản và duy trì nguồn tài nguyên thông tin này.

Tổ chức cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà nghiên cứu, HVSĐH và sinh viên khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin do Thư viện quản lý Cần xây dựng và hoàn thiện bộ máy tra cứu điện tử để người dùng tìm kiếm tài liệu nhanh chóng Đồng thời, tổ chức các hình thức tuyên truyền và giới thiệu rộng rãi về tài liệu, sách báo, tạp chí và các nguồn tin điện tử.

- Có quy hoạch, kế hoạch đào tạo đội ngũ CVTV trở thành các chuyên gia thông tin để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả phục vụ;

Thiết lập quan hệ đối ngoại với các thư viện quốc tế nhằm trao đổi tài liệu và kinh nghiệm chuyên môn Tăng cường hợp tác quốc tế với các thư viện đại học nước ngoài.

Trường xuất bản và thu nhận các ấn phẩm, bao gồm luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, được bảo vệ bởi sinh viên hoặc cán bộ của Trường.

- Phối hợp chặt chẽ với các khoa/bộ môn, các phòng ban chức năng trong Trường để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Để hoàn thành tốt chức năng và nhiệm vụ, Thư viện cần phát triển dịch vụ SP&DVTT-TV, đặc biệt là dịch vụ TLS, với chất lượng ngày càng cao Điều này nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của người dùng, đặc biệt là đội ngũ nhà nghiên cứu tại Trường.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nhân sự

Thư viện được tổ chức theo sơ đồ như sau:

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Bảng 2.1 Nguồn nhân lực của Thư viện Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Tổng Ghi TV-TT CNTT Ngoại chú ngữ Khác

Tổng 25 02 - 03 30 Đội ngũ CVTV không những đảm bảo về số lượng, mà trình độ còn tương đối cao, có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng Đội ngũ nhân sự được đào tạo bài bản đảm bảo đáp ứng mọi yêu cầu của công việc Tuy nhiên, trình độ về CNTT vẫn còn thấp, trong khi đó xây dựng và phát triển dịch vụ TLS đòi hỏi nhiều về lĩnh vực CNTT để xử lý các tình huống phức tạp liên quan đến máy móc, phần mềm, đường truyền Điều này đòi hỏi Thư viện phải có giải pháp đào tạo đội ngũ CVTV có khả năng thực hiện tốt các dịch vụ TLS của Thư viện đáp ứng mọi NCT của NDT

2.1.4 Nguồn tài nguyên thông tin

Thư viện sở hữu nguồn tài nguyên thông tin phong phú với nhiều hình thức đa dạng Số lượng tài nguyên điện tử, bao gồm cơ sở dữ liệu trực tuyến, tài liệu điện tử được số hóa, luận văn, luận án và tài liệu dạng CD-ROM, đang ngày càng gia tăng.

Tính đến ngày 15/06/2019, Thư viện có các CSDL thư mục như: CSDL sách:

Trong tổng số 86.648 biểu ghi, có 188.974 bản sách được phản ánh Cơ sở dữ liệu luận văn ghi nhận 5.027 biểu ghi, tương ứng với 8.232 bản Cơ sở dữ liệu đề tài NCKH có 1.231 biểu ghi, phản ánh 2.021 bản Cuối cùng, cơ sở dữ liệu tài liệu điện tử chứa 2.795 biểu ghi, tương ứng với 3.995 bản.

CSDL toàn văn tài liệu nội sinh trực tuyến hiện có 16.063 nhan đề, tương đương 4.397.678 trang tài liệu Hệ thống cũng cung cấp 3.840 nhan đề tài liệu đa phương tiện, cùng với 02 tạp chí điện tử chuyên ngành từ Sage Publications thuộc Đại học Stanford, Hoa Kỳ, tập trung vào các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Ngoài ra, có 448 sách điện tử chuyên ngành, trong đó có 34 nhan đề tiếng Anh và 414 nhan đề tiếng Việt.

20 CSDL điện tử truy cập trực tuyến dùng chung của Hệ thống Thư viện ĐHQG

TP HCM cung cấp nhiều nguồn tài nguyên học thuật như ProQuest, ScienceDirect, Springer Link, Springer Open, Emerald, IG Publishing, MIT OCW, OECD, các khóa học tiếng Anh, và các tạp chí điện tử chuyên ngành trong nước, cùng với CSDL Khoa học và Công nghệ của NASATI.

Mặc dù nguồn tài nguyên điện tử của Thư viện chưa phong phú và đa dạng, nhưng nó là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ TLS Nguồn tài nguyên này giúp phát triển dịch vụ TLS một cách nhanh chóng và dễ dàng, mang lại diện mạo và sắc thái mới cho các dịch vụ thư viện.

2.1.5 Cơ sở vật chất - trang thiết bị

Bảng 2.2 Trang thiết bị của Thƣ viện

Máy tính Thiết bị số hóa

Đặc điểm về người dùng tin và nhu cầu tin

2.2.1 Đặc điểm về người dùng tin

NDT tại Thư viện bao gồm toàn bộ cán bộ, giảng viên, sinh viên, HVSĐH trong và ngoài ĐHQG-HCM đã qua lớp hướng dẫn sử dụng Thư viện

Số lượng NDT của Thư viện tính đến tháng 6/2019 được thể hiện qua biểu đồ 2.1:

Biểu đồ 2.1 Thành phần người dùng tin tại Thư viện

NDT của Thư viện có thể chia thành 02 nhóm sau:

Nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ nghiên cứu và giảng viên là một bộ phận quan trọng, mặc dù số lượng không lớn Họ thực hiện chức năng quản lý, nghiên cứu khoa học và giảng dạy tại Trường, đồng thời có khả năng tạo ra nguồn thông tin mới qua các công trình nghiên cứu và bài giảng Do đó, nhu cầu thông tin của nhóm này rất phong phú, yêu cầu thông tin phải đầy đủ, chính xác, cô đọng và chuyên sâu Với cường độ lao động cao, phương pháp phục vụ chủ yếu là từ xa, cung cấp thông tin tận nơi và theo yêu cầu cụ thể của từng cá nhân.

Nhóm sinh viên HVSĐH là nhóm nhà đầu tư (NDT) đông đảo và thường xuyên thay đổi Mục đích chính của nhóm này là sử dụng thông tin để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu.

Cán bộ, lãnh đạo quản lý, cán bộ quản lý, giảng viên

Nhóm NDT là HVSĐH thường phải cân bằng giữa công việc và việc học, do đó họ không có nhiều thời gian đến Thư viện Họ chủ yếu sử dụng Thư viện khi cần thiết cho việc học tập và nghiên cứu Thông tin mà họ tìm kiếm thường mang tính chuyên ngành, chuyên sâu, phù hợp với chương trình đào tạo, đề tài và dự án mà họ đang thực hiện.

Đối với sinh viên là nhà đầu tư, thông tin cần thiết chủ yếu bao gồm kiến thức cơ bản từ sách giáo trình, sách tham khảo và các loại báo tạp chí, nhằm phục vụ trực tiếp cho môn học và ngành học mà họ đang theo đuổi.

2.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin Để có cơ sở đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ TLS tại Thư viện, đề tài thực hiện khảo sát NDT qua bảng câu hỏi Đối tượng khảo sát là cán bộ/nhà nghiên cứu/giảng viên, HVSĐH Với 400 phiếu phát ra, trong đó

Trong nghiên cứu, đã phát 192 phiếu cho cán bộ, nhà nghiên cứu và giảng viên, cùng với 208 phiếu cho HVSĐH Số phiếu thu về đạt 374, tương ứng với tỷ lệ 93.5% Kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 2.4.

Bảng 2.4 Thống kê người dùng tin tham gia khảo sát

Tiêu chí Số lƣợng Tỉ lệ (%)

Cán bộ/Giảng viên/Nhà nghiên cứu 172 46

Từ những dữ liệu thu được, tác giả phân tích NCT của NDT tại Thư viện như sau:

 Mục đích sử dụng Thƣ viện

Kết quả khảo sát về mục đích sử dụng Thư viện của NDT được trình bày trên biểu đồ 2.2:

Biểu đồ 2.2 Mục đích sử dụng Thư viện của người dùng tin

Đối tượng NDT, bao gồm cán bộ, giảng viên và nhà nghiên cứu, sử dụng Thư viện chủ yếu cho mục đích nghiên cứu, chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp theo là học tập và giảng dạy Kết quả cho thấy nhóm NDT này có nhu cầu lớn về tài liệu phục vụ nghiên cứu, học tập và giảng dạy hơn là các mục đích khác Do đó, Thư viện cần có giải pháp cung cấp tài liệu và nguồn TLS phù hợp với nhu cầu của nhóm NDT này.

 Mức độ sử dụng Thƣ viện

Mức độ sử dụng Thư viện của NDT được khảo sát thể hiện qua biểu đồ 2.3 sau:

Học tập Phục vụ giảng dạy Phục vụ nghiên cứu Giải trí Mục đích khác

Biểu đồ 2.3 Mức độ sử dụng Thư viện của người dùng tin

Dữ liệu cho thấy, cán bộ/giảng viên, HVSĐH chủ yếu sử dụng Thư viện với tần suất “thỉnh thoảng”, cho thấy họ ít có thời gian đến Thư viện trực tiếp Tuy nhiên, do công việc yêu cầu tài liệu cho nghiên cứu và giảng dạy, họ cần một phương thức tiếp cận Thư viện thuận tiện hơn Điều này đặt ra yêu cầu cho Thư viện cần có giải pháp giúp NDT tiết kiệm thời gian và công sức trong việc tìm kiếm tài liệu, đồng thời tạo điều kiện để họ dễ dàng tiếp cận và sử dụng nguồn tài liệu.

 Mức độ sử dụng nội dung tài liệu

NCT theo nội dung tài liệu của NDT được khảo sát thể hiện qua biểu đồ 2.4:

Thỉnh thoảng (1-2 lần/tháng Ít khi Không sử dụng

Biểu đồ 2.4 Nội dung thông tin người dùng tin thường sử dụng

Nhu cầu thông tin của NDT về tài liệu không có sự chênh lệch lớn, cho thấy sự quan tâm đồng đều đến các lĩnh vực chuyên môn Thư viện ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM, với vai trò là thư viện chuyên ngành về KHXH&NV, cung cấp nguồn tài liệu phong phú Các lĩnh vực có mối quan hệ tương tác, do đó NDT không chỉ tìm kiếm tài liệu trong ngành của mình mà còn mở rộng nghiên cứu sang các lĩnh vực liên quan Xu hướng đào tạo và NCKH hiện nay nhấn mạnh việc kết hợp giữa chuyên sâu và tư duy liên ngành, đa ngành, tạo điều kiện cho NCT của NDT tiếp cận đa dạng nguồn tài liệu.

Việc lựa chọn loại hình tài liệu của NDT được thể hiện qua biểu đồ 2.5

Lịch sử Chính trị xã hội Địa lý -

Công nghệ Kinh tế Văn hóa

Tâm lý học Ngoại ngữ Các lĩnh vực khác

Biểu đồ 2.5 Loại hình tài liệu người dùng tin thường sử dụng

Dữ liệu cho thấy rằng tất cả các loại hình tài liệu tại Thư viện đều được người dùng (NDT) sử dụng, với tài liệu in là loại hình được ưa chuộng nhất Điều này phản ánh thực tế rằng nguồn tài nguyên chủ yếu của Thư viện là tài liệu in, chiếm phần lớn trong tổng số tài liệu Do đó, thói quen của NDT tại Thư viện là sử dụng tài liệu in, trong khi số lượng người biết và sử dụng tài liệu điện tử vẫn còn hạn chế.

Ngôn ngữ tài liệu của NDT được khảo sát thể hiện ở biểu đồ 2.6 sau:

Sách in Báo - tạp chí Luận án, luận văn

Biểu đồ 2.6 Ngôn ngữ tài liệu người dùng tin thường sử dụng

Tiếng Anh là ngôn ngữ tài liệu NDT phổ biến, bên cạnh tiếng Việt, để tìm kiếm và sử dụng thông tin Với các ngành đào tạo như Ngữ Văn Anh, Đông Phương học, Quan hệ quốc tế, và Việt Nam học, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ bắt buộc Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp chính trong nhiều lĩnh vực, dẫn đến nhu cầu cao về tài liệu tiếng Anh tại Thư viện Xu hướng đào tạo và nghiên cứu hiện nay yêu cầu sự kết hợp giữa chuyên sâu và tư duy liên ngành, trong khi nguồn tài liệu tiếng Việt chưa đáp ứng đủ Ngoài ra, NDT cũng cần tài liệu bằng các ngôn ngữ khác như tiếng Trung và tiếng Nhật.

 Kênh thu thập thông tin

Các kênh thu thập thông tin của NDT được thể hiện ở biểu đồ 2.7 sau:

Tiếng Việt Tiếng Anh Hán -

Biểu đồ 2.7 Kênh thu thập thông tin của người dùng tin

Phần lớn nhà đầu tư (NDT) chủ yếu sử dụng các kênh thông tin truyền thống như "Hỏi trực tiếp cán bộ tư vấn viên" và "Thông qua lớp hướng dẫn sử dụng thư viện".

Hình thức "Tra cứu qua website" là một phương pháp thu thập thông tin nhanh chóng và hiệu quả, nhưng chưa được nhiều NDT sử dụng Do đó, Thư viện cần đưa ra các giải pháp hợp lý để NDT nhận biết và sử dụng các kênh thu thập thông tin khác nhau Đối với cán bộ nghiên cứu, họ có trình độ cao và nhu cầu thông tin đa dạng, phong phú, bao gồm cả các lĩnh vực chuyên sâu Tuy nhiên, do kiêm nhiệm nhiều công việc, họ không có nhiều thời gian để đến Thư viện tìm kiếm tài liệu Vì vậy, Thư viện cần đổi mới hoạt động, đặc biệt là phát triển các dịch vụ TLS, nhằm giúp NDT tìm kiếm tài liệu phục vụ cho hoạt động NCKH, học tập và giảng dạy một cách hiệu quả và thuận tiện nhất.

Việc hiểu rõ đặc điểm và nhu cầu của người dùng thư viện (NDT) sẽ giúp xác định các tiêu chí đánh giá và nguyên nhân gây ra tình trạng hiện tại của dịch vụ thư viện (TLS) trong giai đoạn nghiên cứu tiếp theo.

Qua các lớp hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỏi trực tiếp chuyên viên thư viện

Qua bạn bè, đồng nghiệp

Phân tích thực trạng và đánh giá chất lƣợng các dịch vụ tài liệu số tại Thƣ viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Dịch vụ TLS của Thư viện được đánh giá dựa trên các tiêu chí như chất lượng thông tin, tính kịp thời, tính thuận tiện và mức độ chuyên nghiệp của đội ngũ CVTV Các tiêu chí này sẽ được phân chia thành những tiêu chí chi tiết hơn tùy theo từng dịch vụ TLS cụ thể để đảm bảo đánh giá chính xác Việc đánh giá dựa vào thông tin từ NDT thông qua phiếu khảo sát, cùng với thông tin thu được từ phỏng vấn đại diện Ban giám đốc Thư viện, CVTV phụ trách dịch vụ, NDT và quan sát thực tế.

2.3.1 Nhóm dịch vụ cung cấp thông tin số

Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM hiện đang cung cấp một loạt dịch vụ thông tin số, bao gồm dịch vụ truy cập internet, khai thác tài liệu trực tuyến, khai thác tài liệu đa phương tiện và dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc.

2.3.1.1 Dịch vụ truy cập internet

Thư viện cung cấp dịch vụ truy cập internet tại các phòng tra cứu dữ liệu và phòng tra cứu đa phương tiện, với tổng cộng 144 máy tính được phân bổ ở 2 cơ sở Thời gian phục vụ của hai phòng là từ 8h đến 11h30 sáng và 13h30 đến 17h chiều Đặc biệt, phòng tra cứu đa phương tiện tại cơ sở Thủ Đức mở cửa đến 20h vào các ngày thứ 2, 4, 6 Người dùng chỉ cần xuất trình thẻ thư viện, thẻ sinh viên, thẻ HVSĐH hoặc thẻ cán bộ/giảng viên để sử dụng dịch vụ Phí dịch vụ truy cập internet là 2.000 đồng mỗi giờ.

Dưới đây là kết quả khảo sát NDT về dịch vụ internet:

❖ Mức độ sử dụng dịch vụ

Về mức độ sử dụng dịch vụ internet của NDT được thể hiện ở Bảng 2.5 như sau:

Bảng 2.5 Mức độ sử dụng dịch vụ internet Mức độ sử dụng dịch vụ Số lƣợng Tỉ lệ (%) Đã sử dụng

Thường xuyên 2-3 lần/tuần 47 12.5 Thỉnh thoảng 1-2 lần/tháng 121 32.5

Số lượng người dùng đã sử dụng dịch vụ internet của Thư viện đạt 74.7%, nhưng tỷ lệ sử dụng thường xuyên chỉ là 12.5% Nguyên nhân có thể là do mạng internet hiện nay đã phủ sóng rộng rãi, cho phép người dùng dễ dàng truy cập thông qua máy tính cá nhân và các thiết bị điện tử thông minh.

 Chất lượng của dịch vụ

Các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ truy cập internet bao gồm thời gian phục vụ, số lượng máy tính, tốc độ đường truyền, điều kiện và thủ tục sử dụng, cách hướng dẫn và thái độ phục vụ của nhân viên, cùng với giá dịch vụ Kết quả khảo sát từ 280 người dùng đã sử dụng dịch vụ này được thể hiện trong bảng 2.6.

Bảng 2.6 Đánh giá của người dùng tin về chất lượng dịch vụ internet

Hài lòng Tương đối hài lòng

Số lượng máy tính phục vụ truy cập

58 20.7 105 37.5 117 41.7 280 100 Điều kiện, thủ tục sử dụng dịch vụ

Cách hướng dẫn, thái độ phục vụ của

Dữ liệu cho thấy dịch vụ truy cập internet của Thư viện đã phần nào đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của NDT, nhưng vẫn tồn tại một số ý kiến phản hồi về chất lượng dịch vụ, như tốc độ đường truyền chậm và hệ điều hành máy tính cũ Chi phí mở rộng băng thông và nâng cấp hạ tầng mạng còn hạn chế, trong khi CVTV phụ trách dịch vụ internet thiếu kỹ năng CNTT và tìm kiếm thông tin Hơn nữa, do kiêm nhiệm nhiều công việc, việc hướng dẫn NDT sử dụng dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn.

Quá trình quan sát tại phòng tra cứu dữ liệu của Thư viện cho thấy nhiều NDT chưa biết cách khai thác thông tin từ các CSDL điện tử truy cập trực tuyến của Hệ thống Thư viện ĐHQG-HCM như ProQuest, ScienceDirect, và Springer Link Một số NDT còn chưa nắm vững các phương pháp tra cứu đơn giản để tìm kiếm thông tin cần thiết Đồng thời, Thư viện chưa cung cấp đủ hướng dẫn và hỗ trợ cần thiết, dẫn đến việc NDT gặp khó khăn trong việc tự tìm kiếm và khai thác thông tin, từ đó hạn chế hiệu quả sử dụng internet của họ.

2.3.1.2 Dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến

Dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến của Thư viện cung cấp tài khoản cho người dùng để truy cập vào nguồn tài liệu trực tuyến.

+ Đối với nguồn tài liệu toàn văn do Thư viện tạo lập, NDT được Thư viện hướng dẫn cách đăng ký tài khoản truy cập;

Thư viện cung cấp quyền truy cập vào các cơ sở dữ liệu trực tuyến thông qua tên đăng nhập và mật khẩu có sẵn trên website, kèm theo hướng dẫn chi tiết cho người dùng Ngoài ra, người dùng còn có thể truy cập vào các nguồn tài liệu từ thư viện quốc gia Đài Loan và các nguồn học liệu mở trên website của thư viện.

Thư viện Trung tâm quản lý và mua quyền truy cập các CSDL dùng chung của Hệ thống Thư viện ĐHQG-HCM, hướng dẫn người dùng cách đăng ký tài khoản để sử dụng các CSDL này qua hai phương thức.

Cách 1: Vào website Thư viện Trung tâm trực tiếp đăng ký tài khoản

Để đăng ký tài khoản sử dụng các cơ sở dữ liệu chung của Hệ thống Thư viện ĐHQG-HCM, người dùng cần đăng ký tại Thư viện Sau khoảng 1-2 tuần, Thư viện Trung tâm sẽ gửi email cung cấp tài khoản truy cập cho người dùng.

Dưới đây là kết quả khảo sát NDT về dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến:

❖ Mức độ sử dụng dịch vụ

Về mức độ sử dụng dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến của NDT được thể hiện ở bảng 2.7 sau:

Bảng 2.7 Mức độ sử dụng dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến của người dùng tin

Mức độ sử dụng dịch vụ Số lƣợng Tỉ lệ (%) Đã sử dụng

Thường xuyên 2-3 lần/tuần 168 44.9 Thỉnh thoảng 1-2 lần/tháng 137 36.6

Dữ liệu cho thấy rằng số lượng nhà đầu tư (NDT) sử dụng dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến đang ở mức cao Tuy nhiên, vẫn còn một số NDT chưa áp dụng dịch vụ này do một số lý do nhất định.

“Không biết thư viện có dịch vụ này”

❖ Chất lượng của dịch vụ

Trong số 328 nhà đầu tư (NDT) đã sử dụng dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến, một cuộc khảo sát đã được tiến hành để đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên các tiêu chí như mức độ đầy đủ, chính xác, tin cậy, phù hợp, cập nhật và kịp thời của thông tin, tính thân thiện và thuận tiện của dịch vụ, chi phí, cũng như thái độ của cán bộ thực hiện dịch vụ Kết quả khảo sát cho thấy

Bảng 2.8: Đánh giá của người dùng tin về dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến

Hài lòng Tương đối hài lòng

Mức độ đầy đủ của thông tin

Mức độ chính xác, tin cậy của thông tin

Mức độ phù hợp của thông tin

Mức độ cập nhật và kịp thời của thông tin

Tính thân thiện, thuận tiện của dịch vụ

Thái độ phục vụ của

Dữ liệu từ bảng 2.8 cho thấy chất lượng dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến được NDT đánh giá tương đối tốt, nhưng mức độ đầy đủ, tính cập nhật và kịp thời của dịch vụ chưa được đánh giá cao Điều này cho thấy nguồn tài nguyên điện tử của Thư viện chưa đáp ứng nhu cầu của NDT Việc xử lý nội dung tài liệu tại Thư viện hiện nay chỉ dừng lại ở việc định chủ đề và từ khóa, dẫn đến tình trạng nhiễu tin và sót tin Thư viện sử dụng hai phần mềm quản lý gây khó khăn và mất thời gian trong quá trình tìm kiếm tài liệu, khiến NDT phải truy cập từng phần như mục lục trực tuyến OPAC, CSDL toàn văn, sách điện tử và tạp chí trực tuyến Một số NDT không tìm được tài liệu cần thiết và chia sẻ khó khăn khi sử dụng dịch vụ, như đường truyền mạng không ổn định, yêu cầu cài đặt phần mềm Adobe Flash, và CSDL toàn văn thường bị lỗi không truy cập được.

2.3.1.3 Dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện

Dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện của Thư viện được tổ chức trong phòng tra cứu dữ liệu và phòng đa phương tiện, nơi có tủ kính trưng bày đĩa CD, VCD, DVD phân loại theo lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Thư viện cũng trang bị máy tính, tivi, đầu đọc đĩa và tai nghe để phục vụ nhu cầu sử dụng tài liệu Người dùng có nhu cầu sẽ liên hệ với cán bộ phụ trách để chọn tài liệu phù hợp và được hướng dẫn cách sử dụng tài liệu và thiết bị nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Dưới đây là kết quả khảo sát NDT về dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện:

❖ Mức độ sử dụng dịch vụ

Về mức độ sử dụng dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện của NDT được thể hiện ở bảng 2.9 sau:

Kỳ vọng của người dùng tin đối với dịch vụ tài liệu số

2.4.1 Kỳ vọng của NDT về phát triển các loại hình dịch vụ tài liệu số mới

Kỳ vọng của NDT về phát triển các loại hình dịch vụ TLS mới được thể hiện ở bảng 2.19 sau:

Bảng 2.19 Kỳ vọng của người dùng tin về phát triển các loại dịch vụ tài liệu số

Dịch vụ TLS Ý kiến đánh giá Số lƣợng Tỉ lệ (%)

Dịch vụ huấn luyện thông tin số trực tuyến

Dịch vụ bao gói CSDL theo yêu cầu

Dịch vụ diễn đàn điện tử

Theo dữ liệu, 95.7% người dùng mong muốn Thư viện phát triển “Dịch vụ huấn luyện thông tin số trực tuyến” Bên cạnh đó, 92.2% người dùng kỳ vọng Thư viện mở rộng “Dịch vụ bao gói CSDL theo yêu cầu” và 88.9% mong muốn có “Dịch vụ diễn đàn điện tử”.

2.4.2 Các ý kiến, đề xuất của người dùng tin về các biện pháp phát triển dịch vụ tài liệu số Ý kiến, đề xuất của NDT về các biện pháp phát triển dịch vụ TLS được thể hiện ở bảng 2.20 sau:

Bảng 2.20 Ý kiến, đề xuất của người dùng tin để nâng cao chất lượng dịch vụ tài liệu số Ý kiến đánh giá

Số lƣợng Tỉ lệ (%) Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại 256 68.4

Bổ sung nguồn TNTTS ngày càng phong phú đa dạng, đặc biệt là CSDL về các chuyên ngành đào tạo

Hoàn thiện và nâng cao các loại hình dịch vụ

TLS hiện có 323 86.4 Đầu tư kinh phí xây dựng và phát triển thêm các dịch vụ TLS mới 338 90.4

Hỗ trợ, hướng dẫn NDT sử dụng các loại hình dịch vụ TLS 350 93.6

Tăng cường hoạt động marketing về dịch vụ

Nâng cao năng lực, trình độ của CVTV thực hiện dịch vụ chuyên nghiệp hơn 136 36.4

Thường xuyên khảo sát nhu cầu và lắng nghe ý kiến của NDT 202 54

Hợp tác cung cấp dịch vụ TLS với các thư viện khác 190 50.8

Dữ liệu cho thấy NDT rất quan tâm đến dịch vụ TLS của Thư viện, với phần lớn NDT đề xuất phát triển dịch vụ này 100% NDT mong muốn Thư viện bổ sung các nguồn tài liệu điện tử, đặc biệt là cơ sở dữ liệu về các chuyên ngành đào tạo 93.6% NDT muốn Thư viện hỗ trợ và hướng dẫn sử dụng các loại hình dịch vụ TLS, trong khi 90.4% mong muốn đầu tư kinh phí cho các dịch vụ TLS mới Cuối cùng, 86.4% NDT cho rằng Thư viện cần hoàn thiện và nâng cao các loại hình dịch vụ TLS hiện có.

Bên cạnh đó, đối với từng loại dịch vụ, NDT và CVTV cũng có các ý kiến như:

Nhóm dịch vụ cung cấp thông tin số đề xuất rằng thư viện cần phát triển dịch vụ bao gói cơ sở dữ liệu (CSDL) theo yêu cầu, nhằm giúp cán bộ, giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả trong việc tìm kiếm thông tin và tài liệu cho đề tài của họ Đồng thời, cần tích cực liên kết với các khoa, bộ môn và các thư viện khác để làm phong phú thêm CSDL trực tuyến của thư viện.

Dịch vụ giải đáp NDT cung cấp danh sách câu hỏi thường gặp, giúp NDT dễ dàng lựa chọn và tìm kiếm câu trả lời nhanh chóng (CV02, CV03) Đồng thời, đội ngũ CVTV chuyên trách cũng được đào tạo để thực hiện dịch vụ này hiệu quả (HV03).

Nhóm dịch vụ tư vấn và huấn luyện về thông tin số đang liên kết với các thư viện khác trong Hệ thống Thư viện ĐHQG-HCM để triển khai dịch vụ ASK Librarian Đồng thời, nhóm cũng phát triển dịch vụ huấn luyện thông tin số trực tuyến nhằm tạo điều kiện cho nhiều đối tượng người dùng khác nhau tiếp cận nguồn tài liệu số của Thư viện Ngoài ra, cần tổ chức các lớp nâng cao về tìm kiếm thông tin trong các lĩnh vực khác nhau và cách trích dẫn tài liệu.

Các kỳ vọng, ý kiến và đề xuất của NDT về phát triển dịch vụ TLS tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng giải pháp phát triển dịch vụ TLS, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của NDT.

CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI LIỆU SỐ PHỤC VỤ CÁN BỘ NGHIÊN CỨU TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngày đăng: 01/07/2023, 16:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Nguồn nhân lực của Thư viện Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn, - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.1. Nguồn nhân lực của Thư viện Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn, (Trang 55)
Bảng 2.2. Trang thiết bị của Thƣ viện - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.2. Trang thiết bị của Thƣ viện (Trang 56)
Bảng 2.3. Kinh phí bổ sung tài liệu giai đoạn 2016 – 2019 - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.3. Kinh phí bổ sung tài liệu giai đoạn 2016 – 2019 (Trang 58)
Bảng 2.5. Mức độ sử dụng dịch vụ internet  Mức độ sử dụng dịch vụ  Số lƣợng  Tỉ lệ (%) - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.5. Mức độ sử dụng dịch vụ internet Mức độ sử dụng dịch vụ Số lƣợng Tỉ lệ (%) (Trang 69)
Bảng 2.6. Đánh giá của người dùng tin về chất lượng dịch vụ internet - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.6. Đánh giá của người dùng tin về chất lượng dịch vụ internet (Trang 70)
Bảng 2.7. Mức độ sử dụng dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến của - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.7. Mức độ sử dụng dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến của (Trang 72)
Bảng 2.8: Đánh giá của người dùng tin về dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.8 Đánh giá của người dùng tin về dịch vụ khai thác tài liệu trực tuyến (Trang 73)
Bảng 2.10. Đánh giá của người dùng tin về dịch vụ khai thác tài liệu - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.10. Đánh giá của người dùng tin về dịch vụ khai thác tài liệu (Trang 76)
Bảng 2.12. Đánh giá của người dùng tin về chất lượng dịch vụ phổ biến - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.12. Đánh giá của người dùng tin về chất lượng dịch vụ phổ biến (Trang 78)
Bảng 2.13. Mức độ sử dụng dịch vụ giải đáp người dùng tin - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.13. Mức độ sử dụng dịch vụ giải đáp người dùng tin (Trang 81)
Bảng 2.16. Đánh giá của người dùng tin về dịch vụ tư vấn thông tin số - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.16. Đánh giá của người dùng tin về dịch vụ tư vấn thông tin số (Trang 84)
Hình  thức - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
nh thức (Trang 87)
Bảng 2.21. Tổng hợp mức độ sử dụng các loại hình dịch vụ tài liệu số của - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
Bảng 2.21. Tổng hợp mức độ sử dụng các loại hình dịch vụ tài liệu số của (Trang 92)
BẢNG TỔNG HỢP PHỎNG VẤN SÂU DÀNH CHO ĐẠI DIỆN - Phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn   đại học quốc gia tp  hồ chí minh
BẢNG TỔNG HỢP PHỎNG VẤN SÂU DÀNH CHO ĐẠI DIỆN (Trang 157)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm