1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp hồ chí minh

139 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Nhu Cầu Tin Của Cán Bộ Nghiên Cứu Và Giảng Dạy Bậc Đại Học Thuộc Lĩnh Vực Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Trên Địa Bàn TP. Hồ Chí Minh
Tác giả Hà Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn PGS TS. Trần Thị Minh Nguyệt
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 536,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Hoạt động thông tin Khoa học xã hội trong các trường đại học tại TP. Hồ Chí (14)
    • 1.1.1 Thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước (14)
    • 1.1.2 Đặc điểm đào tạo bậc đại học thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (20)
    • 1.1.3 Hoạt động thông tin Khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (25)
  • 1.2 Đặc điểm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy (35)
    • 1.2.1 Trình độ văn hóa (35)
    • 1.2.2 Môi trường sống và làm việc (38)
  • Chương 2 Khảo sát nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (0)
    • 2.1 Nội dung nhu cầu tin (44)
      • 2.1.1 Nhu cầu về các lĩnh vực khoa học được phản ánh trong tài liệu (44)
      • 2.1.2 Nhu cầu về loại hình tài liệu (52)
      • 2.1.3 Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu (59)
    • 2.2 Tập quán sử dụng thông tin (60)
      • 2.2.1 Thói quen sử dụng thông tin (60)
    • 3.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin khoa học xã hội và nhân văn (85)
      • 3.1.1 Phát triển nguồn lực thông tin khoa học xã hội và nhân văn (85)
      • 3.1.2 Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện (92)
      • 3.1.3 Nâng cao trình độ cán bộ thông tin thư viện (96)
    • 3.2 Các biện pháp tác động trực tiếp đến người dùng tin (98)
      • 3.2.1 Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dùng tin (98)
      • 3.2.2 Nâng cao trình độ học vấn, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học (100)
      • 3.2.3 Đào tạo người dùng tin (101)
  • KẾT LUẬN (105)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (108)

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục tiêu Nghiên cứu, phát hiện nội dung nhu cầu tin và những tập quán sử dụng thông tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học trong lĩnh vực

Trang 1

HÀ THỊ THÙY TRANG

NGHIÊN CỨU NHU CẦU TIN CỦA CÁN BỘ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY

BẬC ĐẠI HỌC THUỘC LĨNH VỰC

KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : KHOA HỌC THƯ VIỆN Mã số : 60.32.20

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS TRẦN THỊ MINH NGUYỆT

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2006

Trang 2

đình và bạn bè

Trước tiên tôi xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn Trần Thị Minh Nguyệt đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình, chu đáo trong công việc Tôi xin cảm ơn các cô, thầy và các bạn đồng nghiệp trong khoa Thư viện – Thông tin học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt thời gian và sự quan tâm sâu sát trong quá trình tôi thực hiện luận văn Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu các trường, các thư viện đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu cũng như cung cấp những số liệu cần thiết trong việc thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin kính lời cám ơn tới cha mẹ, những người luôn động viên tôi; tới bạn bè, những người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi về mọi mặt như tài liệu tham khảo, quá trình phát phiếu điều tra, quá trình hình thành văn bản luận văn đánh máy,…cùng những lời động viên mà các bạn luôn dành cho tôi

Xin chân thành cảm ơn Hà Thị Thùy Trang

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU 1

NỘI DUNG Chương 1 - Hoạt động thông tin thư viện và đặc điểm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn tại TP Hồ Chí Minh 1.1 Hoạt động thông tin Khoa học xã hội trong các trường đại học tại TP Hồ Chí Minh 9

1.1.1 Thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước 9

1.1.2 Đặc điểm đào tạo bậc đại học thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 15

1.1.3 Hoạt động thông tin Khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 20

1.2 Đặc điểm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy 30

1.2.1 Trình độ văn hóa 30

1.2.2 Môi trường sống và làm việc 33

Chương 2 – Khảo sát nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 2.1 Nội dung nhu cầu tin 39

2.1.1 Nhu cầu về các lĩnh vực khoa học được phản ánh trong tài liệu 39

2.1.2 Nhu cầu về loại hình tài liệu 47

2.1.3 Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu 54

2.2 Tập quán sử dụng thông tin 55

2.2.1 Thói quen sử dụng thông tin 55

Trang 4

Chương 3 – Các giải pháp phát triển nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

3.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin khoa học xã hội và nhân văn 79

3.1.1 Phát triển nguồn lực thông tin khoa học xã hội và nhân văn 79

3.1.2 Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 86

3.1.3 Nâng cao trình độ cán bộ thông tin thư viện 90

3.2 Các biện pháp tác động trực tiếp đến người dùng tin 92

3.2.1 Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dùng tin 92

3.2.2 Nâng cao trình độ học vấn, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học 94

3.2.3 Đào tạo người dùng tin 95

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC Phụ lục 1 106

Phụ lục 2 112

Phụ lục 3 113

Phụ lục 4 115

Trang 5

CBGD Cán bộ giảng dạy

CBNC – GD Cán bộ nghiên cứu và giảng dạy

CC DVTT Cung cấp dịch vụ thông tin

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTT Công nghệ thông tin

HĐVHNT Hoạt động văn hóa nghệ thuật

HĐXH Hoạt động xã hội

KHKTTW Khoa học kỹ thuật trung ương

KHXH&NV Khoa học xã hội và Nhân văn

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển xã hội, nhu cầu tin không chỉ là yếu tố định hướng hoạt động thông tin mà còn là nhân tố kích thích, thúc đẩy tiến bộ xã hội Nhu cầu tin cũng như mọi nhu cầu khác của con người luôn biến đổi và phát triển không ngừng dưới tác động của các nhân tố xã hội

Khoa học xã hội và Nhân văn – một lĩnh vực tri thức quan trọng của con người có nhiệm vụ nghiên cứu quy luật vận động, phát triển xã hội và con người, có vai trò to lớn trong việc tổ chức các hoạt động xã hội, cải biến và phát triển xã hội

Ở nước ta, trong quá trình cách mạng, đặc biệt là từ sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, vai trò của KHXH & NV ngày càng được khẳng định và đánh giá cao trong nhiệm vụ quản lý và phát triển quốc gia Các kế hoạch, dự án kinh tế muốn đạt hiệu quả đòi hỏi phải được thẩm định, đánh giá theo quan điểm toàn diện, đa phương diện, nhưng phải chú trọng đến hiệu quả kinh tế, xã hội và hậu quả lâu dài đối với cuộc sống nhân dân và môi trường sinh thái trong khu vực Khoa học xã hội và nhân văn với chức năng của mình sẽ góp phần tích cực vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong chặng đường đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Định hướng chiến lược KHXH & NV đã được Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam

lần thứ IX chỉ rõ “Khoa học xã hội và nhân văn hướng vào việc giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng con người, phát huy những di sản văn hóa dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hóa mới của Việt Nam” [ 2,

tr.112]

Trang 7

Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, trong đó có đội ngũ cán bộ khoa học xã hội và nhân văn có trình độ cao cho đất nước là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong giai đoạn hiện nay, đồng thời cũng là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến giáo dục đào tạo, coi “giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu” trong đó giáo dục, đào tạo đại học là nòng cốt

Hệ thống các trường đại học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã và đang góp phần tích cực trong việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao ở nước ta hiện nay Trước yêu cầu đổi mới và hội nhập thế giới, các trường đại học trên địa bàn thành phố đang từng bước đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Yếu tố quan trọng nhất đảm bảo chất lượng đào tạo của một trường đại học là trình độ của đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy

Trong thời đại ngày nay, xã hội thông tin đang hình thành, nền kinh tế tri thức phát triển trên phạm vi toàn cầu, xu hướng giao lưu và hội nhập phổ biến trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người, thước đo trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học chính là ở khả năng nắm bắt và khai thác và xử lý thông tin khoa học đang ngày càng gia tăng Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi trung tâm thông tin - thư viện trong các trường đại học hiện nay là nghiên cứu nắm bắt nhu cầu tin của người dùng tin, đặc biệt người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy, nhằm tổ chức tốt hoạt động thông tin, không chỉ đáp ứng và phát triển nhu cầu tin của đối tượng này Từ những lý do trên, căn cứ vào những yêu cầu đối với một luận văn cao học cũng như khả năng nghiên cứu của bản thân, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:

“Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Thư viện học, với mong muốn đóng

Trang 8

góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc phát triển hoạt động thông tin – thư viện tại các trường đại học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đúng hướng và có hiệu quả

II Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu

Nghiên cứu, phát hiện nội dung nhu cầu tin và những tập quán sử dụng thông tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nhu cầu tin của nhóm người dùng tin này

- Nhiệm vụ

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: + Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

+ Khảo sát nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

+ Phát hiện các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

+ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Trang 9

IV Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tại Việt Nam trong những năm đã qua, nhiều thư viện và cơ quan thông tin ở Trung ương và địa phương đã tiến hành nghiên cứu nhu cầu tin với những mức độ và phương pháp khác nhau để nâng cao chất lượng phục vụ và đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin

Thư viện Quốc gia Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu nhu cầu người đọc bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phải kể đến hai đợt nghiên cứu người đọc vào năm 1976 và 1979 bằng phương pháp trưng cầu ý kiến Kết quả các nghiên cứu này được phản ánh trong luận án “Vấn đề hoàn thiện việc phục vụ cán bộ khoa học và các nhà chuyên môn trong các thư viện khoa học tổng hợp lớn”(1977) và các bài báo “Thư viện Quốc gia nâng cao chất lượng phục vụ cán bộ khoa học và chuyên môn”(1977), “Nghiên cứu nhu cầu người đọc ở thư viện Quốc gia Việt Nam”(1981) của TS Hà Thu Cúc (Nguyên Phó giám đốc thư viện Quốc gia)

Những nghiên cứu tương tự cũng được tiến hành ở Thư viện Khoa học Kỹ thuật trung ương qua hình thức “Trưng cầu ý kiến”, hội nghị bạn đọc nhằm thu thập ý kiến bạn đọc về nguồn bổ sung tài liệu, chất lượng tài liệu, hệ thống mục lục, tổ chức phục vụ của thư viện Mục tiêu của các nghiên cứu này là xác định các biện pháp nhằm cải tiến hệ thống thông tin – thư viện phục vụ người đọc, các biện pháp tổ chức hợp lý kho tài liệu và sử dụng nó một cách có hiệu quả, bảo đảm thoả mãn nhanh chóng, đầy đủ hơn nhu cầu ngày càng tăng của người đọc và liên kết với các thư viện khác trong phục vụ đội ngũ cán bộ KHKT của cả nước

Ở thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội cũng tiến hành một số đề tài nghiên cứu tương tự Thư viện Quốc gia, Thư viện KHKTTW

Trang 10

Từ năm 1976 trở đi, nhiều thư viện tỉnh đã tiến hành điều tra nghiên cứu người đọc của thư viện mình, ví dụ “Điều tra trình độ, thành phần người đọc và mục đích đọc” của thư viện tỉnh Thái Bình (1978), “Điều tra nhu cầu bạn đọc” của thư viện khoa học tổng hợp TP Hồ Chí Minh (1995),… [1] Đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin của sinh viên trường ĐH KHXH & NV thuộc ĐHQG Hà Nội” (1997) của tác giả Nguyễn Văn Hành đã tiến hành nghiên cứu nhu cầu tin của sinh viên, trên cơ sở đó nêu một số kiến nghị về việc đào tạo người dùng tin và việc tổ chức công tác Thông tin – Thư viện trong trường ĐH KHXH & NV (Đại học Quốc gia Hà Nội)

Một số công trình nghiên cứu của học viên Khoa Sau đại học trường đại học Văn hóa Hà Nội trong vài năm trở lại đâyđã đề cập đến vấn đề nghiên cứu nhu cầu tin trong các cơ quan thông tin thư viện, ví dụ như: Th.S Đặng Bảo Khánh với đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu đọc và việc thỏa mãn nhu cầu đọc của cán bộ viện Xã hội học” năm 1995; Th.S Nguyễn Lan Hương với đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu tin ở Ngân hàng nhà nước trung ương trong công cuộc đổi mới đất nước” năm 2000; Th.S Lưu Mai Thanh với đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu tin ở trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ trong thời kỳ đổi mới đất nước” năm 2001; Th.S Đỗ Thúy Hằng với đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu tin trong hoạt động thông tin ở Phân viện báo chí và tuyên truyền (thuộc học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh)”; ThS Nguyễn Hữu Nghĩa với đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy trường đại học văn hóa Hà Nội” năm 2002; Th.S Dương Thị Vân với đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin tại trường Đại học Cần Thơ” năm 2003;… Tuy nhiên hầu hết các đề tài kể trê n đều đi sâu nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại một cơ quan thông tin, thư viện cụ thể, nơi các tác giả đang công tác Cho tới thời điểm này, chưa có một công trình nào đề cập đến một cách trực tiếp đến nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học

Trang 11

công lập tham gia đào tạo về lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn tại TP Hồ Chí Minh - một vấn đề đang ngày càng trở nên rất cần thiết trong bối cảnh của

yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay

V Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc

đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

- Phạm vi nghiên cứu: Phù hợp với yêu cầu luận văn cao học cũng như điều

kiện của người thực hiện đề tài, luận văn giới hạn phạn vi nghiên cứu trong nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học công lập trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến 2006

VI Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê số liệu

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp điều tra xã hội học: điều tra bằng phiếu và phỏng vấn trực tiếp Tác giả luận văn đã phát 250 phiếu theo phương pháp ngẫu nhiên cho các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu tại 4 trường đại học đã được chọn Kết quả thu được

215 phiếu trả lời, đạt tỷ lệ 86%

- Phương pháp chọn mẫu: Tác giả luận văn đã chọn 4 trường tiêu biểu trong số 7 trường đại học công lập đào tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh để tiến hành khảo sát Đó là các trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Kinh tế, Đại học Luật và Đại học Ngân hàng Các trường còn lại là Đại học Ngoại thương, Đại học Sư phạm có các

Trang 12

chuyên ngành đào tạo tương tự các trường Đại học Kinh tế và Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; trường Đại học Văn hóa mới được thành lập, không tiến hành điều tra

VII Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (Đóng góp của luận văn)

* Ý nghĩa khoa học

Trên cơ sở khảo sát, phân tích nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học công lập trên đại bàn TP Hồ Chí Minh, luận văn làm rõ các đặc trưng nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy trong các trường đại học, làm

phong phú thêm lý luận về nghiên cứu người dùng tin

* Ý nghĩa thực tiễn

- Từ mối quan hệ giữa người dùng tin và nhu cầu tin, hoạt động thông tin thư viện và nhu cầu tin, góp phần đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy, đánh giá chất lượng hoạt động thông tin thư viện trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP Hồ Chí

Minh

- Các thư viện có thể tham khảo kết quả nghiên cứu của luận văn làm cơ sở nâng cao chất lượng phục vụ thông tin nhằm thỏa mãn và phát triển nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc lĩnh vực KHXH & NV

VIII Hướng tiếp cận tư liệu

- Tài liệu chỉ đạo (văn bản pháp quy) của Đảng, Nhà nước về hoạt động thông tin thư viện từ nguồn công báo

- Tài liệu liên quan đến đề tài từ nguồn: sách, tạp chí, luận văn, cơ sở dữ liệu,…

- Số liệu thống kê về nguồn lực thông tin từ các trường đại học công lập tham gia đào tạo trong lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn

Trang 13

- Tư liệu thực tế thu thập được thông qua việc sử dụng các phương pháp khảo sát khác nhau

IX Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1 – Hoạt động thông tin thư viện và đặc điểm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại TP Hồ Chí Minh

Chương 2 – Khảo sát nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Chương 3 – Các giải pháp phát triển nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Trang 14

CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN VÀ ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI DÙNG TIN LÀ CÁN BỘ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THUỘC LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN TẠI TP HỒ CHÍ MINH

1.1 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI TP HỒ CHÍ MINH

1.1.1 Thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước

1.1.1.1 Khái quát về TP Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh - Sài Gòn là một thành phố trẻ, với hơn 300 năm hình thành và phát triển, thành phố có rất nhiều công trình kiến trúc cổ, nhiều di tích và hệ thống bảo tàng phong phú

Sài Gòn cổ xưa được thành lập từ năm 1623, nhưng tới năm 1698, Chúa Nguyễn mới cử Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất phương Nam, khai sinh ra thành phố Sài Gòn Năm 1911, Sài Gòn là nơi Hồ Chủ tịch vĩ đại ra

đi tìm đường cứu nước, khi đất nước thống nhất, Quốc hội khóa VI họp ngày 2.7.1976 đã chính thức đổi tên Sài Gòn là TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý khoảng 100 10’ – 100 38’ vĩ độ bắc và 1060 22’ – 1060 54’ kinh độ đông Phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

TP Hồ Chí Minh có tổng diện tích là 2.095.239 km2, tổng dân số dân số là 5.630.192 người (2004) bao gồm các dân tộc Việt, Hoa, Khơme, Chăm,… với 17 quận và 5 huyện trực thuộc

Nằm cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, ở vị trí ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ đông sang Tây, cách bờ biển Đông

Trang 15

50km đường chim bay, TP Hồ Chí Minh trở thành một trong những đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ giao lưu quốc tế

Với vị trí địa lý thuật lợi, Sài Gòn – nơi được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” đã trở thành trung tâm thương mại và là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh

em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hóa riêng góp phần tạo nên một nền văn hóa đa dạng, phong phú Văn hóa Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh có cội rễ, điểm tựa, vốn liếng là nền văn hóa Việt Nam có bề dày 4000 năm lịch sử Tuy nhiên

do những nét đặc thù của môi trường tự nhiên và quá trình lịch sử TP Hồ Chí Minh có những nét văn hóa đặc thù Đặc trưng văn hóa của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hóa phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối sống, tính cách con người Sài Gòn Đó là những con người thẳng thắng, bộc trực, phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm,…

Năng động và sáng tạo, TP Hồ Chí Minh luôn đi đầu cả nước trong các phong trào xã hội, nơi đầu tiên trong cả nước được công nhận hoàn thành phổ cập giáo

dục trung học [38]

Bên cạnh đó, hơn một trăm năm thống trị của chủ nghĩa thực dân đã để lại những hậu quả nặng nề về nhiều mặt trong đời sống tinh thần của cư dân thành phố, đồng thời là một thành phố trẻ, có sức thu hút lớn, có cơ cấu dân cư phức tạp nhất đất nước Những yếu tố đó đòi hỏi các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn phải chú ý và đầu tư nghiên cứu đúng mức

1.1.1.2 Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình đổi mới đất nước

Từ sau đại hội VI của Đảng (1986) đề ra đường lối đổi mới đến nay đã tròn 20 năm, trong quá trình đó thành phố đã triển khai thực hiện và giành được nhiều thành tựu to lớn trong mọi mặt

Trang 16

Về chính trị: Thành phố luôn giữ vững ổn định chính trị, kể cả trong những

thời điểm tình hình trong nước có nhiều khó khăn và thế giới có những diễn biến phức tạp, góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn định chung của đất nước Hệ thống chính trị được củng cố; năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền được nâng lên, dân chủ được mở rộng hơn; sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng phát huy Bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị nói chung và tổ chức Đảng nói riêng từng bước được kiện toàn Đó là một trong những thành tựu nổi bật, vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của ổn định và phát triển kinh tế – xã hội suốt 20 năm qua

Về kinh tế: Nền kinh tế được khôi phục và không ngừng phát triển trong

những năm đổi mới Kinh tế thành phố đã trải qua những bước thăng trầm, có lúc tình thế chung của cả nước và riêng thành phố gặp khó khăn nghiêm trọng Từ khi có đường lối đổi mới của Đảng, sức sáng tạo của nhân dân trong sản xuất – kinh doanh được khởi động mạnh mẽ, các điển hình tiên tiến tiếp tục được nhân rộng, kích thích kinh tế tăng trưởng nhanh, mô hình quản lý mới được hình thành, các thành phần kinh tế có những chuyển biến tích cực Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm liền tăng hai con số; các loại thị trường từng bước hình thành và phát triển; hợp tác kinh tế với một số địa phương trong và ngoài nước được mở rộng; đóng góp ngày càng lớn vào quá trình tăng trưởng kinh tế của cả nước (GDP tăng từ 13% năm 1985, đến nay tăng lên 20%, thu ngân sách tăng 10 lần) Đến nay, từ một thành phố tiêu thụ, các tệ nạn xã hội và thất nghiệp tràn lan, cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu phục vụ chiến tranh, đã trở thành một thành phố kinh doanh với lớp người lao động mới, một trung tâm kinh tế lớn của cả nước, cơ sở hạ tầng không ngừng được cải thiện, phục vụ tốt hơn cho phát triển kinh tế và đời sống nhân dân

Trang 17

Trong thời gian 5 năm trở lại đây (2001 – 2005) kinh tế trên địa bàn thành phố đạt tốc độ tăng trưởng cao; các nguồn nội lực được phát huy; cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng hướng; các loại thị trường từng bước phát triển và mở rộng Cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh (cơ khí, nhựa – cao su, dịch vụ tài chính – ngân hàng – bảo hiểm, khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế,…)

Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển Kinh tế nhà nước được sắp xếp lại theo chương trình trọng điểm do Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VII đề ra, hoạt động có hiệu quả hơn Kinh tế tập thể từng bước được củng cố Kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng khá

Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tăng dần qua từng năm, đạt khoảng 200.000 tỷ đồng (13 tỷ USD) và đạt mức bình quân 35% GDP Chủ trương xã hội hóa đầu tư được thực hiện có kết quả, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm khoảng 17% tổng đầu tư của xã hội; các hình thức huy động vốn đa dạng; khai thác có hiệu quả các nguồn thu ngân sách ngoài thuế và phí Thị trường vốn trên địa bàn thành phố phát triển nhanh và lành mạnh

Xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 14,5%/năm Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm đạt 41 tỷ USD; thị trường xuất khẩu được mở rộng, nhất là thị trường mới ở Bắc Mỹ, châu Âu Tỉ trọng sản phẩm công nghiệp (không kể dầu thô) trong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng tăng

Môi trường kinh doanh và đầu tư được cải thiện Sự năng động, sáng tạo trong đời sống kinh tế thành phố tiếp tục được phát huy, đóng góp tích cực vào sự phát triển thành phố và một số địa phương thông qua quan hệ hợp tác Vị trí vai trò trọng tâm kinh tế của thành phố đối với khu vực và cả nước tiếp tục được khẳng định

Trang 18

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm lực, sức cạnh tranh còn hạn chế; chưa tận dụng thời cơ, chủ động đón đầu để đổi mới công nghệ, đầu

tư vào các ngành công nghệ cao; quy hoạch còn lúng túng; còn mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanh, bền vững với hạ tầng kinh tế kỹ thuật và xã hội yếu kém Đây là bài học sâu sắc về nắm và vận dụng quy luật khách quan, về bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề về văn hóa – xã hội trong quá trình xây dựng và bảo vệ thành phố

Giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ có tiến bộ đã qui hoạch hệ thống

giáo dục phổ thông, dạy nghề, giáo dục thường xuyên đến năm 2010, quy hoạch phát triển hạ tầng các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Quy mô đào tạo ở các cấp học (mầm non, phổ thông, cao đẳng, đại học,…) tăng dần qua từng năm và có những bước phát triển mới, nâng cao mặt bằng học vấn của nhân dân thành phố, giảm dần khoảng cách giữa nội thành và ngoại thành Chương trình phát triển nguồn nhân lực đã thực hiện có kết quả bước đầu, trong đó nổi lên chương trình đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ; chương trình bồi dưỡng kiến thức về hội nhập cho cán bộ quản lý Nhà nước và doanh nghiệp; chương trình đào tạo công nhân lành nghề

Đầu tư của nhà nước cho giáo dục tăng dần, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục; mở rộng hoạt động các trung tâm học tập cộng đồng, khuyến học, khuyến tài, góp phần tích cực vào việc xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập

Khoa học và công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng trong phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng sức cạnh tranh Sự gắn kết giữa khoa học với phát triển kinh tế – xã hội có bước tiến bộ mới, tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học ngày càng tăng Khoa học xã hội và nhân văn bám sát cuộc sống hơn, góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội và cung

Trang 19

cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chủ trương, giải pháp quản lý, phát triển thành phố Vai trò nghiên cứu, tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội khoa học – kỹ thuật được chú trọng

Hoạt động văn hóa xã hội ngày càng phong phú Đời sống văn hóa của thành

phố từng bước được nâng lên Những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc như lòng nhân ái, nghĩa tình, giúp đỡ người nghèo, năng động, sáng tạo được chú ý phát huy Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai rộng khắp Thành phố là nơi khởi xướng và thực hiện tốt các phong trào xóa đói, giảm nghèo; đền ơn đáp nghĩa; xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương; chương trình bảo trợ bệnh nhân nghèo; đem lại nụ cười cho trẻ thơ; phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng,… mang lại kết quả thiết thực, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội rộng lớn và có sức lan tỏa, thể hiện sinh động bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, chương trình mục tiêu ba giảm, đặc biệt là giảm người nghiện ma túy đã đem lại kết quả tích cực Báo chí, xuất bản có những đóng góp tích cực trong việc thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nguyện vọng của nhân dân; góp phần phản biện xã hội, tham gia đấu tranh chống tiêu cực

Sự nghiệp văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, thể thao, văn học nghệ thuật, báo chí – xuất bản không ngừng phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống tinh thần với nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân Mặt khác, thành phố còn có những yếu kém, tồn tại và khuyết điểm Hệ thống chính trị chưa đủ manh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, chất lượng giáo dục – đào tạo còn thấp; tiềm năng khoa học và công nghệ chưa được phát huy đúng mức, hiệu quả xã hội của các đề tài nghiên cứu khoa học còn hạn chế, đầu

tư cho khoa học vừa thấp, vừa dàn trải, nhiều bức xúc về văn hóa – xã hội chậm

được khắc phục…; [11]

Trang 20

1.1.2 Đặc điểm đào tạo bậc đại học thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

1.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 7 trường đại học công lập đào tạo các chuyên ngành Khoa học Xã hội & Nhân văn, góp phần quyết định vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao ở các lĩnh vực KHXH&NV cho các tỉnh phía Nam của đất nước

Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của các trường đại học thuộc lĩnh vực KHXH&NV trên địa bàn TP Hồ Chí Minh là:

- Đào tạo và bồi dưỡng, phát triển đội ngũ chuyên gia có trình độ cao trong các lĩnh vực hoạt động KHXH&NV cho các tỉnh phía Nam, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế

- Thực hiện các hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực KHXH&NV tương ứng với các lĩnh vực được đào tạo trong nhà trường, tiếp thu các thành tựu khoa học và tinh hoa văn hóa thế giới, nâng cao chất lượng giảng dạy đồng thời phát triển lĩnh vực KHXH&NV ở Việt Nam theo hướng hội nhập quốc tế

Tùy theo nhiệm vụ cụ thể được nhà nước giao phó, cũng như điều kiện cơ sở vật chất, mỗi trường đại học lại có những nét đặc thù riêng biệt trong chức năng và nhiệm vụ của mình

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh có tiền thân là trường Đại học Văn khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn được thành lập năm 1955 Sau khi đất nước thống nhất, tháng 4/1977 trường Đại học Văn khoa hợp nhất với trường Đại học Khoa học thành trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh – Đây là Trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản lớn nhất các tỉnh phía Nam Tháng 3/1996 theo Quyết định số 1233/GD-ĐT của

Trang 21

Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo về việc sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh tách ra thành hai trường: Đại học Khoa học tự nhiên và Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, trực thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Từ đó đến nay trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học nhân văn lớn nhất các tỉnh phía Nam Hiện nay trường đang phấn đấu vươn lên trở thành trường đào tạo về Khoa học xã hội và Nhân văn đạt thứ hạng cao trong Khu vực Đông Nam Á và Quốc tế

Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh thành lập năm 1996, trên cơ sở hợp nhất trường Đại học Tài chính kế toán TP Hồ Chí Minh với khoa Kinh tế trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh thành Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Tháng 10/2000 trường tách khỏi Đại học Quốc gia

TP Hồ Chí Minh và vẫn giữ tên Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh là một trong 10 trường đại học trọng điểm quốc gia, là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học kinh tế có uy tín trong cả nước Chức năng, nhiệm vụ của trường là đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp cho xã hội các nhà hoạch định chính sách kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp và các chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực kinh tế, có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ kinh tế) Đội ngũ chuyên gia kinh tế có trình độ cao do trường đào tạo là nguồn lực quan trọng, đóng góp vào quá trình chuyển đổi nền kinh tế, hướng tới nền kinh tế tri thức

Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh nguyên là trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng – cơ sở II, được thành lập ngày 16.12.1976 tại TP Hồ Chí Minh Là cơ sở chuyên đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống Ngân hàng và các định chế tài chính khác Ngày 20/08/2003 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 174/2003/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh trên cơ

Trang 22

sở Phân viện TP Hồ Chí Minh thuộc Học viện Ngân hàng Chức năng, nhiệm vụ đào tạo của Trường Đại học Ngân hàng cụ thể là: Đào tạo các chuyên gia cao cấp về tài chính – ngân hàng; Đào tạo các nhà quản trị các định chế tài chính; Đào tạo các nhà kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán và các dịch vụ tài chính khác; Tư vấn đào tạo và chuyển giao công nghệ mới cho đội ngũ nhân sự đang làm việc tại các định chế tài chính; Thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản, ứng dụng và phát triển công nghệ về lĩnh vực tài chính – ngân hàng và vấn đề kinh tế – xã hội có liên quan; Thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ về quản trị kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 1234/GD-ĐT ngày 30/06/1996 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & đào tạo trên cơ sở phân hiệu Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Trường có vị trí và vai trò quan trong trong việc đào tạo cán bộ pháp luật cho các địa phương khu vực phía Nam, nhất là đối với Tây Nguyên và một số vùng sâu ở đồng bằng Sông Cửu Long

1.1.2.2 Quy mô và hình thức đào tạo

Phần lớn các trường đại học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh là trung tâm đào tạo cán bộ khoa học và nghiên cứu khoa học của các tỉnh phía Nam, bởi vậy các trường đều có quy mô đào tạo tương đối lớn so với các trường đạo học khác trong nước, đồng thời có các hình thức đào tạo đa dạng, phù hợp với điều kiện cụ thể của giáo dục đào tạo ở các tỉnh phía Nam

Các ngành đào tạo của các trường tương đối phong phú và đa dạng, đáp ứng hầu hết các yêu cầu về các loại ngành, nghề trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong thực tiễn Ví dụ về các lĩnh vực đào tạo ở một số trường đại học lớn trong thành phố:

Trang 23

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đào tạo bậc đại học 20 khoa/bộ môn: Bộ môn Công tác xã hội, bộ môn Giáo dục thể chất, bộ môn Nhân học, bộ môn Quan hệ quốc tế, bộ môn Văn hóa học, khoa Địa lý, khoa Đông phương học, khoa Giáo dục học, khoa Lịch sử, khoa Ngữ văn Anh, khoa Ngữ văn và Báo chí, khoa Ngữ văn Đức, khoa Ngữ văn Nga, khoa Ngữ văn Pháp, khoa Ngữ văn Trung Quốc, khoa Triết học, khoa Truyền thông thông tin, khoa Thư viện – Thông tin, khoa Việt Nam học, khoa Xã hội học

Trường Đại học Luật có 5 khoa, với 5 chuyên ngành đào tạo: Luật hành chính, Luật hình sự, Luật Quốc tế, 1 tổ bộ môn: Chính trị- Tâm lý -Ngoại ngữ - Thể dục Trường Đại học Kinh tế có 12 khoa/ban, gồm: Khoa Tin học quản lý, khoa Kinh tế phát triển, khoa Thương mại du lịch, khoa Ngân hàng, khoa Quản trị kinh doanh, khoa Tài chính doanh nghiệp, khoa Kế toán Kiểm toán, khoa Toán Thống kê, khoa Kinh tế – chính trị, khoa Luật Kinh tế, khoa Sau đại học và ban Triết – Xã hội học

Trường Đại học Ngân hàng có 7 khoa, gồm: Khoa tín dụng, khoa Kế toán – Kiểm toán, khoa ngân hàng quốc tế, khoa Thị trường chứng khoán, khoa quản trị kinh doanh, khoa Công nghệ thông tin và khoa ngoại ngữ

Số lượng sinh viên được đào tạo hàng năm ở các trường cũng tương đối lớn, trường có số lượng ít nhất là 7000 (Đại học Ngân hàng); trường có số lượng cao

nhất là 46000 sinh viên ( Đại học Kinh tế) ( Xem bảng 1.1 )

Để đáp ứng yêu cầu về đội ngũ cán bộ có trình độ cao trong giai đoạn đổi mới đất nước, các trường đều có xu hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo cho phù hợp với điều kiện của những người có nhu cầu được đào tạo Ngoài hình thức đào tạo bậc đại học hệ chính quy tập trung, các trường đều phát triển hình thức đào tạo tại chức, đào tạo từ xa, với số lượng tương đương với đào tạo chính quy tập trung Ngoài ra, hình thức đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn nhằm cập nhật tri thức

Trang 24

thường xuyên cho đội ngũ cán bộ cũng được chú ý triển khai thường xuyên Đào tạo sau đại học cũng là vấn đề quan trọng đang từng bước được mở rộng và phát triển ở các trường đại học lớn trong thành phố

Đội ngũ cán bộ giảng dạy tại các trường được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau (trong và ngoài nước)và có trình độ cao Các nguồn đào tạo cụ thể như: các

cơ sở đào tạo tại các trường, viện trong nước, các quốc gia khác nhau trên thế giới như Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Trung Quốc,… Nhiều giảng viên đã tham dự các khóa tu nghiệp ngắn hạn và thỉnh giảng tại nhiều trường đại học trên

thế giới

Bảng 1.1 – Số lượng sinh viên (bậc đại học) theo học hàng năm tại các trường

(Nguồn: Các trường cung cấp)

Hình thức đào tạo Tên trường Tổng

số/năm Chính

quy

Không chính quy

Khoa, bộ môn, chuyên ngành (CN) đào tạo

Trang 25

nhất (1/76,6), tiếp đến là trường Luật (1/63,3) Trường có mật độ SV/GV thấp

nhất trong các trường được khảo sát là trường ĐH KHXH&NV là 1/48,6 (Xem

bảng 1.2) Thiếu giảng viên là tình trạng chung của các trường Đại học hiện nay,

dẫn đến việc giảng viên dạy quá tải (25 – 30 giờ / tuần không phải là hiếm, kể cả

giờ dạy trong trường, ngoài trường, dưới nhiều hình thức khác nhau, dạy “liên

kết” ở các địa phương, dạy tư, luyện thi,…), không còn thời gian tự học, tự bồi

dưỡng, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Đây chính là một

khó khăn lớn trong tình trạng giáo dục Đại học ở nước ta hiện nay, gây trở ngại

lớn cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy Sự quá

tải trong công tác giảng dạy khiến cho thời gian dành cho việc học tập, nghiên

cứu nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ giảng dạy sẽ bị rút ngắn

lại, ảnh hưởng khá lớn tới chất lượng giảng dạy

Bảng1.2 – Số lượng CBGD – NC tại các trường được khảo sát

Trường Tổng số CBNC - GD Số sinh viên Tỷ lệ GV/SV

1.1.3 Hoạt động thông tin Khoa học xã hội và Nhân văn tại các trường đại

học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

1.1.3.1 Nguồn lực thông tin

Hiệu quả hoạt động của cơ quan thông tin thư viện trước hết phụ thuộc vào

chất lượng và sự đầy đủ, đa dạng của nguồn lực thông tin tư liệu Vì vậy, việc tạo

nguồn lực thông tin, tăng cường công tác bổ sung thông tin tư liệu trên cơ sở phát

Trang 26

triển mạnh công tác bổ sung thông tin tư liệu – là nền tảng thúc đẩy hoạt động thông tin thư viện

Các thư viện đại học thuộc loại hình thư viện khoa học chuyên ngành, có chức năng chung là tổ chức, xây dựng và quản lý vốn tài liệu văn hóa, khoa học, công nghệ phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học trong các trường đại học Để thực hiện chức năng này, các thư viện có nhiệm vụ xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin theo diện đào tạo và nghiên cứu khoa học của từng trường, phục vụ cho những nhu cầu, những lĩnh vực đã được xác định

Tại TP Hồ Chí Minh, xem xét nguồn lực thông tin được xây dựng và phát triển qua 30 năm (kể từ khi giải phóng miền Nam cho đến nay) của các thư viện đại học tương đối lớn, mỗi trường đại học có từ 20 đến 40 ngàn bản sách Đây là kết quả của sự nỗ lực, sự cố gắng lớn trong điều kiện thị trường, đồng thời xuất bản sách ở Việt Nam còn hạn chế, kinh phí đầu tư của các trường đại học cho các

thư viện còn ít ỏi ( Xem bảng 1.3)

Trong những năm qua, thư viện các trường đều đã trải qua các đợt thanh lý sách không còn giá trị sử dụng hoặc sách bị hỏng trong quá trình phục vụ Cho đến nay, theo số liệu mới nhất, Thư viện ĐH KHXH&NV và Thư viện Đại học Kinh tế là 2 thư viện có vốn tài liệu lớn hơn hẳn so với các trường khác do nhiều nguyên nhân:

- Khi mới thành lập có tiếp nhận một lượng tài liệu nhất định của các trường dưới chế độ cũ để lại

- Có mối liên hệ quốc tế với nhiều tổ chức quốc tế hoặc các trường đại học ở nước ngoài Các mối quan hệ này đã tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn bổ sung của thư viện Có nhiều tài liệu nhận được từ nguồn tặng biếu trao đổi

Trang 27

Tuy số lượng tài liệu lớn nhưng xét về số lượng tên sách (nhan đề) thì lại không lớn Ví dụ thư viện Kinh tế có khoảng 20000/80000 bản, thư viện Ngân hàng 2500/30000 bản

Bảng 1.3: Số lượng tài liệu của thư viện các trường được khảo sát

(tính đến cuối năm 2005)

Tài liệu điện tử Thư viện

trường

Sách (tên; bản)

Báo, Tạp chí

Luận văn, luận án CSDL Đĩa

14 * 289 35 tên báo, t.chí 153 tên sách

185 luận văn, luận

864 tên 2000 3 bộ sưu tập

chuyên đề

*: CSDL dùng chung với Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia TP.HCM

**: CSDL mua của nước ngoài

Các loại hình tài liệu trong các thư viện tương đối phong phú, đa dạng Báo, tạp chí có tính cập nhật thông tin cao, phục vụ kịp thời cho nghiên cứu, học tập trong các trường đại học Chính vì vậy hầu như tất cả các thư viện đại học đều chú trong bổ sung đầy đủ các loại báo, tạp chí chuyên ngành đến mức cao nhất trong phạm vi kinh phí cho phép

Trong các thư viện được khảo sát, thư viện ĐH KHXH&NV đứng đầu về số lượng báo, tạp chí, kể cả tiếng Việt và ngoại văn (492 loại), sau đó là Thư viện

ĐH Kinh tế (140), thư viện ĐH Luật (>80), thấp nhất là thư viện ĐH Ngân hàng (50 tên)

Về tài liệu điện tử: Thư viện có số lượng CSDL nhiều nhất là thư viện ĐH KHXH&NV, tiếp đến là thư viện ĐH Kinh tế, thư viện ĐH Luật và cuối cùng là

Trang 28

thư viện ĐH Ngân hàng, nhưng số lượng CD – ROM nhiều nhất là thư viện ĐH Kinh tế (2744) và thư viện ĐH Ngân hàng (2000)

Nội dung vốn tài liệu quốc văn của hầu hết các thư viện này về cơ bản bao gồm khá đầy đủ các môn loại tri thức theo diện đào tạo của từng trường Tuy nhiên vốn tài liệu ngoại văn còn nghèo nào so với nhu cầu nghiên cứu và đào tạo của giảng viên và sinh viên, đặc biệt là các giảng viên có trình độ cao

Vốn tài liệu của các thư viện được khảo sát bao gồm nhiều thể loại: tài liệu chỉ đạo, tài liệu nghiên cứu khoa học, sách giáo khoa, giáo trình, sách hướng dẫn thực hành, các loại tài liệu tra cứu, tài liệu phổ thông,… chủ yếu là các tài liệu được công bố

Đặc thù của thư viện đại học - vốn tài liệu giáo trình và tham khảo đều tập trung ở các nội dung:

- Tài liệu dành cho các môn học chung bắt buộc cho tất cả các ngành học không phân biệt chuyên ngành đào tạo: các môn về chủ nghĩa Mác – Lenin, tin học, ngoại ngữ

- Tài liệu dành cho các môn chuyên ngành hẹp được đào tạo trong nhà trường Các thư viện đều chú ý đúng mức đến việc bổ sung đầy đủ sách giáo khoa, giáo trình cho các môn học chung và chuyên ngành Ngoài ra tùy theo đặc điểm của từng trường, các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ và luận án Tiến sỹ bảo vệ tại trường cũng được thu thập đầy đủ Riêng đối với vốn tài liệu tham khảo, mức độ bổ sung của các trường rất khác nhau tùy thuộc vào khả năng kinh phí và trình độ của cán bộ bổ sung

Bảng 1.4 – Số liệu về nguồn kinh phí hàng năm của các thư viện

Thư viện Kinh phí của trường cấp Kinh phí bổ sung tài liệu

Trang 29

Trước sự gia tăng nhanh chóng của khối lượng tài liệu trên thế giới, đặc biệt là tạp chí khoa học, các thư viện đại học trên thế giới đều hướng tới việc tạo nên sự tiếp cận tới thông tin thông qua các tài liệu điện tử với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và các công nghệ hiện đại khác Các nhà nghiên cứu, các giảng viên và sinh viên thông qua máy tính của mình có thể tiếp cận tới mạng của thư viện các trường đại học, viện nghiên cứu, mạng khu vực, mạng quốc gia, mạng quốc tế Tuy nhiên nguồn lực thông tin hiện nay của các thư viện chủ yếu tập trung ở các vật mang tin truyền thống (bằng giấy) Nguồn tài liệu trên CD – ROM và mua trực tuyến trên internet chưa đáng kể trong khi nguồn tài liệu này là rất lớn và có giá trị thông tin cao

Nhìn chung các thư viện đại học lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đều nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin Tuy nhiên trong thực tiễn, việc xây dựng và phát triển nguồn lực này còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí, về trình độ cán bộ làm công tác bổ sung,…

1.1.3.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị thư viện

Cơ sở vật chất kỹ thuật của thư viện đại học bao gồm trụ sở, diện tích, các trang thiết bị của thư viện, là một trong những yếu tố thể hiện bộ mặt của nhà trường Cơ sở vật chất kỹ thuật tốt tạo điều kiện cho người đọc tiếp xúc tốt hơn với các nguồn thông tin trong nước và trên thế giới Với một trụ sở thư viện khang trang, được đặt ở địa điểm thuận lợi, diện tích rộng rãi, các trang thiết bị hiện đại, cách bố cục bên trong hợp lý sẽ bảo đảm tiện nghi cho người sử dụng, sẽ nâng cao chất lượng tiếp nhận, trao đổi thông tin Cán bộ thư viện có điều kiện cung cấp cho người dùng tin các dịch vụ có chất lượng cao, tạo uy tín tốt đối với xã hội

Trang 30

Hầu hết trụ sở các thư viện đại học được khảo sát chưa đạt tiêu chuẩn kiến trúc thư viện đại học Các trường đều tập trung đầu tư cho các giảng đường, phòng học và tận dụng các tòa nhà, phòng ốc có sẵn để làm thư viện, vì vậy gây trở ngại cho cách tổ chức cơ cấu thư viện, sự phân chia không gian bên trong của thư viện

Tuy vậy phần lớn các thư viện đều cố gắng tạo điều kiện tốt nhất cho người đọc tiếp cận trực tiếp với tài liệu bằng cách bố trí kho sách và không gian đọc cạnh kho sách hoặc ngay trong kho sách, như vậy một số lượng người đọc nhất định có thể đi lại, tìm kiếm giữa các giá sách và đọc tại chỗ (tùy thuộc vào diện tích từng thư viện)

Bảng 1.5 - Diện tích sử dụng của thư viện các trường (tính đến năm 2005)

Thư viện trường Diện tích sử dụng

- Các kho tài liệu thường chật chội, không đạt chuẩn, việc bố cục giá sách trong các kho để khai thác sử dụng còn khó khăn (kể cả các thư viện có diện tích lớn nhất trong số thư viện được khảo sát) Ví dụ: bộ phận kho tài liệu lưu trữ của thư viện đại học KHXH&NV

Trang 31

- Các kho tài liệu chưa thích ứng về nhiệt độ và độ ẩm, không thuận tiện cho việc bảo quản tài liệu

Tuổi thọ của tài liệu trong thư viện vì vậy không đảm bảo yêu cầu

Diện tích dành cho phục vụ bạn đọc đọc tại chỗ không đủ đáp ứng nhu cầu của người dùng tin Trong các trường được khảo sát, chỉ có trường Đại học Kinh tế là có phòng đọc dành riêng cho giảng viên, các trường khác hoàn toàn không có loại phòng đọc này

Bảng1.6 - Trang thiết bị thư viện

Thư viện trường Máy tính, máy in, máy scan máy đọc mã vạch Máy photocopy, Thiết bị khác

Máy lạnh, hút bụi

ĐH NGÂN HÀNG 50 Máy quay phim kỹ thuật số, đầu ghi, máy in,

máy scan, máy photocopy siêu tốc, máy hút bụi

Các thư viện được khảo sát đều được trang bị các thiết bị hiện đại như máy vi tính, máy scan, máy photocopy,… Số lượng lớn các máy tính trong các thư viện được kết nối với mạng Internet, tạo điều kiện cho người dùng tin truy cập và tìm kiếm thông tin trên mạng Trường ĐH Kinh tế và Trường ĐH KHXH&NV có tổ chức phòng máy tính dành riêng cho việc tìm kiếm, khai thác các nguồn tin điện tử online, offline

Bàn ghế của các thư viện sử dụng kích cỡ rất khác nhau, chẳng hạn: bàn 1 chỗ ngồi, 4 chỗ ngồi, 8 chỗ ngồi,… Hầu hết là bàn ghế đóng theo kiểu dáng mới hiện nay

1.1.3.3 Cán bộ thư viện

Trang 32

Cán bộ thư viện là yếu tố quyết định chất lượng hoạt động của thư viện Họ là người thu thập, giữ gìn, phát triển nguồn lực thông tin của thư viện, tạo điều kiện tối ưu cho người đọc khai thác có hiệu quả tài liệu và các nguồn tin

Trong các thư viện được khảo sát, số cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 59 người, chiếm tỷ lệ xấp xỉ 79,7%, trong đó đa số là đại học chuyên ngành thư viện – thông tin Số cán bộ có trình độ tiến sỹ đến thời điểm hiện nay là 1 người, trình độ thạc sỹ là 3 người

Bảng 1.7 - Số liệu về nguồn nhân lực của các thư viện đại học

(tính đến năm 2005)

Trình độ Thư viện trường

Số lượng

Tiến sỹ

Thạc sỹ

Cử nhân

Cao đẳng

Trung cấp

Phổ thông

Bắt đầu năm 2003, khi trường ĐH KHXH&NV - TP Hồ Chí Minh mở thêm bậc đào tạo cao học chuyên ngành Thư viện, trừ Thư viện Đại học Ngân hàng, các thư viện còn lại đều cử cán bộ tham gia học tập nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Đặc biệt là Ban giám đốc Thư viện trường Đại học KHXH&NV rất tích cực và tạo điều kiện thuận lợi cho số cán bộ trẻ của thư viện tham gia học tập nâng cao trình độ

Số cán bộ ở lứa tuổi trung niên phần lớn đã có gia đình riêng, được đào tạo trong những năm trước đây để làm việc trong môi trường thư viện truyền thống, kiến thức của họ đã bị lạc hậu, việc phấn đấu vươn lên để theo kịp thời đại gặp rất nhiều khó khăn về hoàn cảnh kinh tế, gia đình, thời gian Nhiều người trong

Trang 33

số họ trở thành các cán bộ làm việc một cách thụ động, đối phó, ngại học, ngại thay đổi, thích lề lối làm việc cũ Ngoài ra các yếu tố khác như chế độ lương, thu nhập thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn cũng ảnh hưởng đến tâm tư và tính tích cực lao động của cán bộ thư viện…

Kết quả khảo sát cho thấy công tác cán bộ trong các thư viện còn nhiều bất cập cần phải giải quyết

1.1.3.4 Sản phẩm và dịch vụ

Phương thức hoạt động của các thư viện đại học được khảo sát là phương thức hoạt động của thư viện khoa học chuyên ngành theo kiểu truyền thống kết hợp hiện đại

Bên cạnh hệ thống mục lục phiếu truyền thống, trong các trung tâm thông tin- thư viện của các trường đại học thuộc khối Khoa học xã hội và Nhân văn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã tiến hành xây dựng các CSDL trên máy tính điện tử, thiết lập hệ thống tra cứu điện tử phục vụ người dùng tin trong nhà trường Ví dụ như:

Thư viện Trường ĐH KHXH&NV có các cơ sở dữ liệu Sách (sau 1975) của thư viện với khoảng 30000 biểu ghi; cơ sở dữ liệu tên báo –tạp chí; cơ sở dữ liệu luận văn cao học và luận án tiến sỹ Hiện thư viện đang xây dựng cơ sở dữ liệu Sách (trước 1975) và cơ sở dữ liệu bài trích báo – tạp chí theo các chủ đề

Thư viện ĐH Luật đã xây dựng được cơ sở dữ liệu toàn văn 3 tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Tòa án, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Luật học), và cơ sở dữ liệu luận án sau đại học (khoảng 200 biểu ghi) Các CSDL này được cập nhật thường xuyên

Thư viện ĐH Kinh tế đã xây dựng mục lục điện tử sử dụng phầm mềm The Library Information System, bao gồm cơ sở dữ liệu thư mục toàn bộ kho sách của thư viện; cơ sở dữ liệu thư mục các bài trích tạp chí gồm khoảng 20.000

Trang 34

biểu ghi Bạn đọc có thể dễ dàng tra cứu trực tuyến các mục lục này thông qua website của thư viện

Thư viện trường ĐH Ngân hàng đang xây dựng các bộ sưu tập tài liệu theo chuyên đề dựa trên phầm mềm mã nguồn mở Greenstone

Một số thư viện đại học đã và đang tiến hành biên soạn các Tổng mục lục tạp chí hàng năm; các thư mục chuyên đề theo yêu cầu bạn đọc và các thư mục thông báo sách mới hàng tháng như Thư viện ĐH KHXH&NV và Thư viện ĐH Kinh tế Do vốn tài liệu của các thư viện đại học được chuyên biệt hóa nhằm đáp ứng các yêu cầu chuyên môn cụ thể theo chuyên ngành hẹp của NDT, nên việc phục vụ thông tin thư mục của thư viện các trường phải chú trọng vào việc biên soạn các thư mục chuyên đề Tuy nhiên trong thực tế các thư viện này chủ yếu vẫn dừng lại ở việc biên soạn thư mục thông báo tài liệu mới, các thư mục chuyên đề ít được biên soạn

Hầu hết các thư viện đều tổ chức các dịch vụ phục vụ đọc tại chỗ và mượn về nhà, sao chụp tài liệu Một số thư viện đã phục vụ theo phương thức kho mở Việc phục vụ bạn đọc tổ chức theo phương thức mở, tạo điều kiện cho mọi người tiếp xúc trực tiếp với tài liệu của thư viện

Sau một thời gian thực hiện tin học hóa, ngoài việc mượn, đọc theo phương thức thủ công truyền thống hoặc bán tự động theo mã vạch, bạn đọc có thể khai thác trên máy tính và tiếp cận với các cơ sở dữ liệu do các thư viện xây dựng Một số thư viện đã triển khai các dịch vụ tra cứu qua mạng, tra cứu trả lời các câu hỏi của bạn đọc như các trường ĐH KHXH&NV; ĐH Kinh tế và ĐH Luật Đây là các dịch vụ đơn giản, không tốn nhiều công sức của cán bộ thư viện khi toàn bộ các dữ liệu được nhập vào máy Các dịch vụ khác như phổ biến thông tin chọn lọc, dịch vụ tìm tin offline/online, dịch vụ dịch, tư vấn, trao đổi thông tin, đều chưa được thực hiện

Trang 35

Công tác tuyên truyền, giới thiệu tài liệu đã được chú ý Hình thức chủ yếu là triển lãm sách mới, triển lãm sách theo chuyên đề

Như vậy tại các thư viện này việc phục vụ bạn đọc chuyển theo hướng tích cực với phương châm hướng về người sử dụng

1.2 ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI DÙNG TIN LÀ CÁN BỘ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY

1.2.1 Trình độ văn hóa

Người dùng tin là cán bộ nghiên cứu giảng dạy bậc đại học có trình độ cao, tham gia nghiên cứu và giảng dạy trong một ngành, một lĩnh vực cụ thể Đặc thù nghề nghiệp của họ là vừa làm công tác giáo dục, vừa là những người tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học Điều này đã tạo ra một đặc điểm rất đặc trưng của người cán bộ nghiên cứu và giảng dạy – đó là sự cẩn trọng và tính chính xác trong việc tiếp thu những kiến thức mang tính “hàn lâm”, cộng với sự chủ động trong quá trình tiếp cận và tiếp thu kiến thức để tạo ra tri thức mới (khả năng nghiên cứu khoa học) trong chính ngành nghề / lĩnh vực mà mình tham gia đào tạo Từ đó đòi hỏi về chất lượng và yêu cầu đáp ứng những nhu cầu thông tin khoa học về chuyên môn hẹp của NDT là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy là rất cao

Tính chất lao động nghề nghiệp của họ là lao động trí tuệ, tinh thần Bởi vậy, ngoài những yếu tố thông thường như lứa tuổi, giới tính, và những điều kiện khách quan từ môi trường sống, yếu tố chủ yếu chi phối nhu cầu tin của họ là trình độ văn hóa và đời sống tinh thần của mỗi người dùng tin

Quá trình hội nhập về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trên phạm vi toàn cầu hiện nay tác động không nhỏ tới mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy phải luôn phấn đấu hoàn thiện mình, trang bị đầy đủ lượng kiến thức, thông tin cập nhật để có thể trở

Trang 36

thành lực lượng giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Người dùng tin là cán bộ giảng dạy bậc đại học thường có trình độ văn hóa cao Theo quy chế chung, họ phải có trình độ từ Cử nhân trở lên trong chuyên ngành / lĩnh vực đang giảng dạy

+ Trình độ học vấn

Nhìn chung, các trường đào tạo bậc đại học về lĩnh vực KHXH&NV tại TP Hồ Chí Minh luôn tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao trình độ kiến thức của đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy nhằm đáp ứng những nhu cầu xã hội đặt ra Nhiều cán bộ giảng dạy được đào tạo nâng cao trình độ ở trong và ngoài nước Những khóa bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trẻ cũng được tổ chức thường xuyên Cho đến thời điểm này các trường đã có một đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tương đối vững vàng, trẻ về độ tuổi, có trình độ chuyên môn cao

Kết quả khảo sát cho thấy, số lượng CBNC - GD có trình độ cử nhân chiếm tỷ lệ cao nhất (45%), tiếp đến là trình độ thạc sỹ (36%), trình độ tiến sỹ (19%) So với mặt bằng trình độ chung của Việt Nam hiện nay - CBNC - GD bậc ĐH có trình độ cử nhân trong cả nước chiếm 60% [11], thì trình độ học vấn hiện nay của

CBNC – GD tại các trường khảo sát ở mức tương đối cao (Xem bảng 1.8)

Bảng 1.8 – Trình độ học vấn của đội ngũ CBNC - GD

99 17% 264 44% 237

40%

ĐH LUẬT 30 25% 50 41% 42 34%

Trang 37

TỔNG SỐ 239 19% 442 36% 549 45%

+ Trình độ ngoại ngữ

Trong xu thế hội nhập toàn cầu và sự biến đổi nhanh chóng của xã hội, cán bộ

nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học phải sử dụng được ngoại ngữ để tham khảo

tài liệu và thu thập thông tin, chủ động tiếp thu tri thức mới trong thời đại toàn

cầu hóa

Tài liệu ngoại văn, nhất là tài liệu tiếng Anh rất phong phú, đa dạng, đồng

thời chiếm tỷ lệ cao trong tổng số vốn tài liệu của các cơ quan thông tin thư viện

ở Việt Nam Việc nắm vững ngoại ngữ, đặt biệt là tiếng Anh tạo điều kiện thuận

lợi cho người dùng tin có thể tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại, mở rộng

quan hệ quốc tế, nâng cao kiến thức chuyên môn và chất lượng bài giảng

Hiện nay, điều kiện tối thiểu về ngoại ngữ để tuyển dụng tại các trường đại

học là phải biết ít nhất một ngoại ngữ trình độ B Tuy nhiên, trong quá trình khảo

sát điều tra trên 200 CBNC – GD tại các trường đại học thuộc lĩnh vực

KHXH&NV cho thấy chỉ có 92% trong tổng số có nhu cầu sử dụng tài liệu ngoại

ngữ

+ Trình độ tin học

Bảng 1.9 – Khả năng sử dụng tin học của CBNC – GD

Tổng số người trả

lời

Số phiếu trả lời 213 100% 194 100 % 19 100 %

Soạn thảo văn bản 213 100% 194 91% 19 100%

Tra cứu CSDL trên máy 156 73% 142 67% 16 84%

Trang 38

Ngày nay công nghệ thông tin đang thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người Vì vậy, cán bộ giảng dạy đại học không chỉ biết sử dụng máy vi tính trong các công việc soạn thảo văn bản thông thường, mà phải biết cách sử dụng nó như một công cụ để khai thác nguồn thông tin trên mạng, các cơ sở dữ liệu điện tử và các tài liệu đa phương tiện khác

Trong những năm gần đây, sự đột phá trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, góp phần nâng cao chất lượng đời sống con người Trong lĩnh vực giáo dục, việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng đem lại hiệu quả to lớn Quá trình điều tra trên 200 CBGD của 4 trường ĐH cho thấy tỷ lệ CBGD sử dụng máy tính với các chức năng: soạn thảo văn bản chiếm 100%, tra cứu website trên internet: 98%, tra cứu CSDL trên máy: 73%, công việc khác: 31% (cụ thể là sử dụng các ứng dụng tin học hỗ trợ cho công việc giảng dạy, nghiên cứu như biên soạn các giáo trình điện tử, các bài giảng trên máy,…) Có thể thấy trình độ tin học trong đội ngũ CBNC - GD ngày càng được nâng cao, việc khai thác thông tin trên mạng cũng như sử dụng các phần mềm tiên tiến phục vụ cho công việc nghiên cứu ngày càng được đẩy mạnh Đây là một tín hiệu rất đáng mừng trong quá trình đổi mới phương pháp và nâng cao cao chất lượng giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực KHXH & NV

1.2.2 Môi trường sống và làm việc

+ Hoạt động nghiên cứu khoa học

Với hoạt động nghề nghiệp có tính chất đặc thù – vừa làm công tác nghiên cứu, vừa làm công tác giảng dạy – nhiều năm qua giảng viên các trường thuộc lĩnh vực KHXH&NV ở TP Hồ Chí Minh đã tham gia và đạt được nhiều thành tựu trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học Trong từng trường đều có chế độ khuyến khích mọi giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học, góp ý vào

Trang 39

chương trình đào tạo, biên soạn và xuất bản giáo trình Hiện nay thông tin về kết

quả nghiên cứu hàng năm, các sách giáo khoa giáo trình xuất bản đều được cập

nhật thường xuyên trên website của các trường Mức độ tích cực trong công tác

giảng dạy và nghiên cứu khoa học của NDT là CBNC – GD là yếu tố tác động

chính đến nhu cầu tin của họ

Bảng 1.10 - Hoạt động nghiên cứu khoa học

Kết quả khảo sát cho thấy, 100% giảng viên các trường đều tham gia hoạt

động nghiên cứu khoa học, trong đó, số lượng tham gia các đề tài khoa học cấp

trường chiếm 98%, cấp bộ (14%), cấp ngành (12%), cấp quốc gia (8%) (Xem

bảng 1.10)

Kết hợp kết quả khảo sát với việc theo dõi những kết quả và thành tựu đạt

được trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các trường cho thấy

trường ĐH Kinh tế là trường đi đầu cả về quy mô lẫn chất lượng trong công tác

nghiên cứu khoa học, kế đến là trường ĐH KHXH&NV, trường ĐH Luật và

trường ĐH Ngân hàng

+ Đời sống kinh tế và nguồn thu nhập chính

Cùng với những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước, sự đổi mới

và phát triển của thành phố, đời sống vật chất và tinh thần của NDT là CBNC –

GD bậc đại học thuộc lĩnh vực KHXH&NV tại các trường trên địa bàn TP Hồ

Chí Minh có nhiều bước thay đổi tích cực

Trang 40

Đa số cán bộ nghiên cứu và giảng dạy có đời sống kinh tế trung bình đủ sống: 93% Một số ít có mức sống cao, dư giả: 1% Tỷ lệ gia đình có mức sống thấp: 5% Phần lớn cán bộ nghiên cứu và giảng dạy là trụ cột kinh tế trong gia đình: số gia đình dựa vào nguồn thu nhập chủ yếu từ bản thân chiếm 89%; tiếp đến là

nguồn thu nhập từ vợ hoặc chồng: 21% (Xem bảng 1.11)

Đời sống kinh tế ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ, cũng như nhu cầu tin của họ Một cuộc sống đầy đủ về kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận hết sức thuận lợi cho người cán bộ tập trung vào công tác chuyên môn và từ đó thúc đẩy nhu cầu tin phát triển, kiến thức chuyên môn được cập nhật, trình độ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy được nâng cao, có nhiều cải tiến, sáng kiến trong công việc giảng dạy và học tập

+ Đời sống tinh thần

Bên cạnh những điều kiện kinh tế, các hứng thú hoạt động tinh thần cũng có tác động rất lớn đến nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy Trong những năm qua, đời sống tinh thần của đa số cán bộ nghiên cứu và giảng dạy đã được nâng cao rõ rệt Họ dành nhiều thời gian để tham gia vào nhiều lĩnh vực khác ngoài chuyên môn của mình như hoạt động văn hóa, thể thao hay hoạt động xã hội

Kết quả điều tra cho thấy, người dùng tin là CBNC - GD thuộc lĩnh vực KHXH&NV tại TP HCM ngoài thời gian làm việc còn tham gia nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, đặc biệt hứng thú đọc sách, báo của họ rất cao: chiếm 93% trong các hoạt động ngoài giờ làm việc Sau hoạt động đọc sách báo, nghỉ ngơi, giải trí là hoạt động chiếm tỷ lệ cao với 70%, tiếp đó là hứng thú hoạt động thể thao chiếm 35%, hoạt động xã hội: 13%, hoạt động văn hóa, nghệ thuật: 12%

(Xem bảng 1.12)

Ngày đăng: 01/07/2023, 15:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.12 - Hứng thú hoạt động ngoài giờ làm việc - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 1.12 Hứng thú hoạt động ngoài giờ làm việc (Trang 43)
Bảng 2.1a  – Nhu cầu về nội dung thông tin. Phân chia theo trường - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.1a – Nhu cầu về nội dung thông tin. Phân chia theo trường (Trang 47)
Bảng 2.1b – Nhu cầu về nội dung thông tin. Phân chia theo nhóm người dùng tin - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.1b – Nhu cầu về nội dung thông tin. Phân chia theo nhóm người dùng tin (Trang 48)
Bảng 2.1c – Nhu cầu về nội dung thông tin. Phân chia theo lứa tuổi và giới tính - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.1c – Nhu cầu về nội dung thông tin. Phân chia theo lứa tuổi và giới tính (Trang 50)
Bảng 2.2 a – Nhu cầu về loại hình tài liệu. Phân chia theo trường - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.2 a – Nhu cầu về loại hình tài liệu. Phân chia theo trường (Trang 52)
Bảng 2.2 b – Nhu cầu về loại hình tài liệu. Phân chia theo nhóm người dùng tin - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.2 b – Nhu cầu về loại hình tài liệu. Phân chia theo nhóm người dùng tin (Trang 54)
Bảng 2.2 c – Nhu cầu về loại hình thông tin. Phân chia theo lứa tuổi và giới tính - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.2 c – Nhu cầu về loại hình thông tin. Phân chia theo lứa tuổi và giới tính (Trang 56)
Bảng 2.4a – Thời gian dành để khai thác và tìm kiếm thông tin hàng ngày. - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.4a – Thời gian dành để khai thác và tìm kiếm thông tin hàng ngày (Trang 60)
Bảng 2.4 d  – Thời gian dành để khai thác và tìm kiếm thông tin hàng ngày - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.4 d – Thời gian dành để khai thác và tìm kiếm thông tin hàng ngày (Trang 64)
Hình dịch vụ này lại cao: 80%, chỉ xếp sau tỷ lệ nhu cầu mượn tài liệu về nhà. - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Hình d ịch vụ này lại cao: 80%, chỉ xếp sau tỷ lệ nhu cầu mượn tài liệu về nhà (Trang 70)
Bảng 2.6a  – Khả năng ứng dụng tin học tìm kiếm thông tin - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.6a – Khả năng ứng dụng tin học tìm kiếm thông tin (Trang 71)
Bảng 2.7a và biểu đồ 2.7c) - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.7a và biểu đồ 2.7c) (Trang 77)
Bảng 2.9 - Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, dịch vụ thông tin. - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Bảng 2.9 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, dịch vụ thông tin (Trang 80)
Hình thức phục vụ - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Hình th ức phục vụ (Trang 116)
Hình thức khác (xin ghi cụ thể): .......................  ...................................................... - Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tp  hồ chí minh
Hình th ức khác (xin ghi cụ thể): ....................... (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm