HỒ CHÍ MINH HUỲNH KIM TƯỚC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHÍ VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG ĐÁNH GIÁ, TH
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VA VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI NHÂN VĂN TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH KIM TƯỚC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHÍ
VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ
(NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG ĐÁNH GIÁ, THẨM ĐỊNH CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHAN MINH TÂN
TP.HCM, THÁNG 4 NĂM 2007
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ sự kính trọng và biết ơn đến:
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Minh Tân, người thầy hướng dẫn trực tiếp và
hỗ trợ tôi
Thầy Hiệu trưởng, Thầy Phụ trách khoa, các Thầy, Cô giảng dạy, thầy Giáo vụ của khoa Quản lý KH&CN, phòng Quản lý Sau đại học hai trường đại học KHXH&NV Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh
Cảm ơn lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Đào Minh Đức, Trưởng phòng Sở hữu trí tuệ, Sở KH&CN thành phố Hồ Chí Minh đã vui lòng trả lời các buổi phỏng vấn cũng như hướng dẫn
và giúp đỡ về nghiệp vụ
Các đồng nghiệp,
Gia đình và cha, mẹ hỗ trợ và động viên tôi trong suốt khoá học
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 30 Tháng 03 Năm 2007
HUỲNH KIM TƯỚC
Trang 3CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
THẨM ĐỊNH, GIÁM ĐỊNH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
5
1.1.1 Định nghĩa “khoa học” và “công nghệ” 5 1.1.2 Nghiên cứu khoa học – phân loại loại hình nghiên
cứu
7
1.1.3 Phát triển công nghệ – sản phẩm nghiên cứu 14
1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ 17 1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ
17 1.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý khoa học và công nghệ 18 1.2.3 Quản lý nhà nước kết quả nghiên cứu R&D 19
Trang 41.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ, THẨM ĐỊNH PHỔ BIẾN 22 1.3.1 Đối tượng đánh giá, phương pháp đánh giá, tổ chức
đánh giá
22
1.3.3 Phương pháp hội đồng khoa học 23 1.3.4 Phương pháp công bố trên tạp chí, hội nghị khoa
học
23
1.3.5 Phương pháp đăng ký bảo hộ quyền SHTT 24
CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC & PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
26
2.1 PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM 26 2.1.1 Hệ thống văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ 26 2.1.2 Cấu trúc Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 28 2.1.3 Các Điều ước quốc tế về SHTT mà Việt Nam tham
gia
30
2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về SHTT 31 2.1.5 Nội dung quản lý nhà nước về SHTT 32
2.2 CÁC ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN TỚI CÁC KẾT QUẢ
CỦA HOẠT ĐỘNG R&D
33
2.2.1 Quyền tác giả và quyền liên quan đối với các tác
phẩm khoa học công nghệ
33
2.2.2 Các đối tượng sở hữu công nghiệp có thể vận dụng
vào việc bảo hộ các kết quả R&D
35
2.2.3 Giống cây trồng – một kết quả nghiên cứu trong lĩnh
vực công nghệ sinh học
39
2.3 QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ
THÀNH QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG R&D
41 2.3.1 Nội dung (phạm vi) bảo hộ của các quyền sở hữu trí 41
Trang 5tuệ
2.3.3 Quyền của tác giả và đồng tác giả 49
CHƯƠNG III : NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
THẨM ĐỊNH SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG ĐÁNH GIÁ VÀ XÁC
LẬP QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CHO CÁC KẾT QUẢ R&D
3.2 NHẬN DIỆN CÁC ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU TRÍ TUỆ PHÁT SINH TRONG
MỘT QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
55
3.2.1 Quá trình hình thành sản phẩm nghiên cứu khoa
học và công nghệ
55
3.2.2 Phân tích sự nảy sinh các đối tượng SHTT trong
một đề tài nghiên cứu do Nhà nước cấp kinh phí
58
3.3 XÁC LẬP QUYỀN SHTT VỚI SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU CƠ BẢN 58
3.3.2 Xác lập hình thức SHTT của sản phẩm nghiên cứu
cơ bản
59
3.4 XÁC LẬP QUYỀN SHTT VỚI SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI 60 3.4.1 Sản phẩm nghiên cứu triển khai 60 3.4.2 Xác lập hình thức SHTT của sản phẩm nghiên cứu
triển khai
61
3.5 VẤN ĐỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU VÀ PHÂN CHIA LỢI ÍCH GIỮA
3.5.2 Khai thác và phân chia lợi ích 68
3.6 QUY TRÌNH ĐĂNG KÝ, THẨM ĐỊNH, GIÁM ĐỊNH 58
Trang 63.7 CÁC ĐỀ XUẤT & KIẾN NGHỊ
3.7.1 Về quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG & SƠ ĐỒ
Bảng 3: Phân biệt giữa phát minh –phát hiện và sáng chế 17
Bảng 4: Các loại hình công bố tác phẩm nghiên cứu khoa học 23
Bảng 5: Các văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ 27
Bảng 6: Các dạng SHTT phát sinh trong quá trình nghiên cứu 57
Bảng 7: Các sản phẩm của nghiên cứu cơ bản
59
Bảng 8: Các dạng SHTT của nghiên cứu cơ bản 59
Bảng 9: Các sản phẩm của nghiên cứu triển khai
60
Bảng 10: Các dạng SHTT của nghiên cứu triển khai
60
Bảng 11: Tóm tắt các dạng SHTT của nghiên cứu R&D 62
Sơ đồ 1: Phân loại loại hình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Sơ đồ 2: Quá trình hình thành sản phẩm nghiên cứu
Trang 8DANH SÁCH CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯớC : QLNN
Sở hữu trí tuệ: SHTT
Khoa học và Công nghệ KH&CN
Kinh tế – xã hội: KT-XH
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu khoa học và công nghệ là một nội dung quan trọng trong hoạt động khoa học và công nghệ ở cấp quốc gia cũng như ở địa phương Sản phẩm của nghiên cứu có giá trị to lớn trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội
và môi trường của một quốc gia Các sản phẩm này được con người tìm kiếm
từ thế giới tự nhiên, từ xã hội loài người, và loài người liên tục kế thừa, tiếp tục tìm kiếm những phát minh, sáng chế để phục vụ cuộc sống Trong quá trình sáng tạo đó, việc làm sáng tỏ và xác định đóng góp cá nhân, tập thể trong tìm kiếm ra tính mới của các công trình nghiên cứu là hết sức quan trọng cho cả hai phương diện: nhà quản lý và cá nhân-tập thể sáng tạo nên sản phẩm nghiên cứu Ơû góc độ cá nhân-tập thể, quyền được xem xét và công nhận công trình nghiên cứu của mình cần được pháp lý hoá, ở góc độ quản lý nhà nước, thẩm định, giám định thành tựu khoa học và công nghệ là một nghiệp vụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước Thẩm định và giám định thành tựu KH&CN là quá trình đánh giá toàn diện ý nghĩa khoa học, trình độ công nghệ và ý nghĩa ứng dụng của một công trình khoa học, thông qua đó công nhận vai trò cá nhân-tập thể người nghiên cứu trong việc tạo nên kết quả nghiên cứu
Trong thực tế, trong khi việc thẩm định, giám định thành tựu KH&CN là một phạm trù rộng và chưa được tổ chức rõ nét thì trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ(SHTT), sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học và công nghệ (dưới đây gọi tắt là sản phẩm R&D) đã được tổ chức thẩm định, giám định bằng các công cụ chặt chẽ và đặc biệt có tính pháp lý cao mà kết quả của chúng là việc xác lập quyền bảo hộ cho các đối tượng SHTT và xử lý các tranh chấp khi có sự xung đột quyền Bản thân hoạt động thẩm định, giám định theo quy trình nghiệp vụ SHTT có thể không bao quát như quá trình thẩm định, giám định thành tựu KH&CN, nhưng khi áp dụng vào việc đánh giá kết quả của hoạt động R&D sẽ đáp ứng được mục tiêu cho cả hai đối tượng:
Trang 10 Đối với tập thể/cá nhân tạo nên thành tựu từ nghiên cứu khoa học: được pháp lý công nhận quyền SHTT và các quyền lợi khác
Đối với nhà nước : giúp quản lý, thống kê, giải quyết tranh chấp … các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu, quyền tác giả của các công trình… Trong phạm vi đđược biết của người nghiên cứu, cho đến nay, chưa có đề tài nghiên cứu nào xem xét việc vận dụng phưong pháp luận của pháp luật SHTT sở hữu trí tuệ vào việc đánh giá kết quả của kết quả hoạt động R&D
Từ đó, trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp cao học, người nghiên cứu tập trung khai thác chủ đề trên để góp phần cung cấp thêm một phương pháp thẩm định, giám định đối với thành tựu khoa học và công nghệ
So với đề cương nghiên cứu ban đầu và thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng, để đảm bảo mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã
để xác lập các quyền, thủ tục, quy trình giám định
Do kiến thức cá nhân còn hạn chế, đặc biệt một rào cản lớn đó là: rất khó trong thời gian ngắn hiểu biết rõ ràng cả hai lĩnh vực quản lý KH&CN và SHTT Do vậy, đề tài chắc chắn còn nhiều sai sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các Thầy, Cô của Hội đồng khoa học nhằm giúp tôi có kiến thức tốt hơn trong nhiệm vụ công chức đang thực thi
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 113 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỤ THỂ
- Nghiên cứu tổng quan: các vấn đề liên quan đến sản phẩm nghiên cứu khoa học công nghệ, cơ sở lý luận và thể chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực SHTT và KH&CN cùng các hình thức đánh giá, công nhận các công trình nghiên cứu khoa học hiện có
- Tìm hiểu các đối tượng SHTT có liên quan đến hoạt động KH&CN, kết quả của hoạt động R&D cùng phuơng pháp thẩm định để xác lập quyền SHTT cho các đối tượng đó ;
- Đề xuất phương pháp vận dụng pháp luật SHTT trong thẩm định, giám định kết quả của nghiên cứu R&D cùng các vấn đề liên quan
4 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung xem xét các loại hình nghiên cứu theo cách phân loại phổ biến, không nghiên cứu các hoạt động khoa học, công nghệ khác như sản phẩm các cuộc khi KH&CN hàng năm, ngân hàng ý tưởng … Đối với hệ thống văn bản, đề tài phân tích các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý khoa học công nghệ và SHTT
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Khách thể nghiên cứu chỉ tập trung vào các công trình nghiên cứu khoa học trong nước Các công trình này bao gồm các nghiên cứu cơ bản, các nghiên cứu ứng dụng và các triển khai, không phân biệt các thành phần nghiên cứu, nguồn kinh phí …
6 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Công cụ và hình thức nào phù hợp cho việc đánh giá, công nhận quyền của người nghiên cứu đối với sản phẩm nghiên cứu? Cách thức vận dụng phương pháp luận SHTT vào việc đánh giá, thẩm định, giám định các sản phẩm nghiên cứu khoa học của từng loại hình nghiên cứu và qua đó xác lập quyền sở hữu cho các kết quả nghiên cứu đó ?
Trang 127 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu khoa học là một loại hình tài sản trí tuệ Tài sản này
do một cá nhân, một tập thể, một tổ chức hoặc một nhóm hỗn hợp các đối tương trên cùng tham gia tạo ra Tài sản trí tuệ này có thể mới hoàn toàn hoặc được kế thừa và phát triển Do vậy, tài sản này phải được tổ chức xem xét, thẩm định và công nhận quyền sở hữu một cách hợp lý cho các cá nhân, tập thể hoặc tổ chức liên quan theo các loại hình nghiên cứu khác nhau với các sản phẩm đầu ra khác nhau
8 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các loại hình nghiên cứu khoa học, các sản phẩm nghiên cứu khoa học của từng loại hình ;
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về khoa học công nghệ ;
- Nghiên cứu lý luận chung về hoạt động thẩm định, giám định ;
- Nghiên cứu tổng quan về pháp luật SHTT hiện hành ;
- Nghiên cứu các đối tượng SHTT liên quan đến hoạt động R&D cùng các thủ tục thẩm định, giám định để bảo hộ các đối tượng SHTT này ;
- Nghiên cứu sự phát sinh các đối tượng SHTT trong quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và cơ sở đánh giá tính mới của quá trình nghiên cứu
- Xác lập phương pháp SHTT phù hợp cho các loại hình nghiên cứu khác nhau
9 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật để nắm bắt sâu hơn bản chất pháp lý của vấn đề ;
- Phương pháp thu thập thông tin nhằm tìm kiếm và nghiên cứu các phương pháp, nghiệp vụ liên quan ;
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (on desk) nhằm tìm hiểu các phương pháp, cách thức tương tự ;
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia ;
- Phương pháp so sánh
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THẨM ĐỊNH, GIÁM ĐỊNH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Định nghĩa khoa học” và “công nghệ”ä
Trang 14a/ Khoa học : là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và
sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Cần chú ý khái niệm hệ thống tri thức khoa học khác hệ thống tri thức kinh nghiệm Như vậy, khái niệm khoa học giúp nhà quản lý trong đánh giá một vấn đề đưa ra có mang tính khoa học hay không, có phải vấn đề khoa học để nghiên cứu hay không, hay là một kế hoạch, một tác nghiệp
b/- Công nghệ : hiện nay có rất nhiều định nghĩa về công nghệ Mỗi định nghĩa đưa ra tùy thuộc vào quan điểm, mục tiêu Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu một số định nghĩa phổ biến:
1) F.R Root: công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới,
2) R.Jones, 1970: Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa
3) J.Baranson, 1976: Là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các
kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện, sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh
4) J.R Dunning,1982: Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiẹu quả sản xuât và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới
5) E.M.Graham, 1988: Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được và có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ
6) P.Strunk 1986: Là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách sử lý một cách có hệ thống và có phương pháp
7) Tổ chức PRODEC1982: Công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị
và phương pháp được sử dụng trong công nghiệp, chế biến và dịch vụ 8) Ngân hàng thế giới 1985: Là phương pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm , gồm 3 yếu tố(1) thông tin về phương pháp, (2) phương tiện,
Trang 15công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa (3) sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao
9) UNCTAD 1972: Là một đầu vào cần thiết cho sản xuất bao gồm các dạng:
tư liệu sản xuất, nhân lực, thông tin
10) Sharif 1986: Bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những
kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu
tố đầu vào bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa Cụ thể, công nghệ là một tập hợp bao gồm 4 thành phần: dạng vật thể: vật liệu sản xuất + thiết bị, dạng con người (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), dạng ghi chép (bí quết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp được mô tả trong tài liệu, dạng thiết chế tổ chức(dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn,
cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp…
11) Luật KHCN 2000: Là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
12) Vũ Cao Đàm, 1997: Là quá trình sử dụng hệ thống các thành phần (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức) chế biến vật chất, thông tin thành sản phẩm
13) ESCAP1988: Là công cụ chuyển đổi các nguồn lực tự nhiên, bán thành phẩm thành nguồn lực sản xuất, gồm 4 thành phần
…
Vấn đề thành phần của công nghệ là gì tùy thuộc vào quan điểm và mục tiêu đánh giá Các định nghĩa về công nghệ phản ánh kinh nghiệm của các tác giả/tổ chức thực hiện trong quá trình thực hiện mục tiêu riêng Điều này cũng đồng nghĩa với việc không nên áp dụng quá máy móc các định nghĩa khi chưa xác định mục tiêu công việc
Điểm chung các định nghĩa: đều xem công nghệ có bản chất là tri thức cần có để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm theo một quy trình nhất định
Trang 16Điểm khác biệt giữa các định nghĩa là ỡ chỗ có xem những vật mang tri thức công nghệ như thiết bị, sản phẩm trung gian, lao động KH-CN
có nằm trong phạm trù công nghệ hay không Các khái niệm này sẽ làm
mở rộng đối tượng ngành hoặc làm làm giảm phạm vi nghiên cứu, xem xét, đánh giá
Rõ ràng, trong các định nghĩa trên, tính khoa học đóng vai trò quan trọng nhằm làm sáng tỏ và phân biệt rõ ràng với các họat động mang tính thủ công, truyền thống, vốn tổ chức sản xuất dựa trên hệ thống kiến thức kinh nghiệm
và rời rạc
Các định nghĩa được đưa ra còn tùy thuộc vào định hướng, giao dịch công nghệ ở các nước khác nhau trên thế giới Đối với các nước phát triển, giao dịch công nghệ chủ yếu là “phần mềm” như patent, licence, thông tin, bí quyết… và xem thiết bị như một sản phẩm thương mại Trong khi đó, các nước đang phát triển thì có xu hướng xem công nghệ bao gồm cả thiết bị hay
Quá trình rủi ro Quá trình tin cậy
Hoạt động không lặp lại Hoạt động theo chu kỳ
Sản phẩm tồn tại vĩnh viễn Liên tục đổi mới/công nghệ cũ tiêu vong
1.1.2 Nghiên cứu khoa học:
Có hai xu hướng định nghĩa khái niệm “nghiên cứu khoa học” sau đây:
a) Định nghĩa
Trang 17Theo Luật Khoa học và Công nghệ:
Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
Như vậy, theo luật KH&CN, triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm thuộc phạm vi phát triển công nghệ (khoảng 4,5,6,7 điều 2 chương I, luật Khoa học và Công nghệ)
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ
Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm tòi, khám phá bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc sáng tạo phương pháp mới, kỹ thuật mới nhằm cải tạo thế giới
Theo định nghĩa này, nghiên cứu khoa học bao gồm:
Nghiên cứu cơ bản: bao gồm nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu
cơ bản định hướng (bao gồm : nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề) Đặc điểm của loại hình này là: chỉ “chi” mà không có “thu” hoặc nguồn thu không đáng kể, không định giá được thong tin, chịu nhiều rủi ro
Nghiên cứu ứng dụng: (applied research-AR)
Triển khai (triển khai thực nghiệm): bao gồm triển khai trong labô và triển khai bán đại trà Nguồn thu hồi do bán các sản phẩm triển khai cho người tiêu dùng (≠ bán patent và licence cho người sản xuất) rất nhỏ so với giá thành
Mua bán patent và licence không thuộc phạm trù R&D nữa, mà thuộc phạm trù thương mại
Theo Vũ Cao Đàm, nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi khám phá bản chất các sự vật hoặc hiện tượng vốn tồn tại trong tự nhiên và xã hội và sáng tạo các sự vật, hiện tượng mới dựa trên các phương pháp khoa học
Trang 18Nghiên cứu khoa học là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt trong đó sản phẩm của nghiên cứu là một sự vật hoàn toàn mới, không được biết trước, thậm chí trong hoạt động nghiên cứu có thể gặp rủi ro
Cần lưu ý thói quen sử dụng cụm từ nghiên cứu khoa học, công nghệ và hiểu từ D trong nhóm R&D là nghiên cứu triển khai chứ không là nghiên cứu –phát triển
b) Đặc điểm của nghiên cứu khoa học:
Một công trình nghiên cứu phải có các thuộc tính sau đây:
- Tính mới: hướng đến những phát hiện hoặc sáng tạo mới, không lặp lại Đây là thuộc tính quan trọng số một của nghiên cứu khoa học
- Tính tin cậy: kết quả nghiên cứu có được từ một phương pháp khoa học, được kiểm chứng
- Tính thông tin: dù được thể hiện dưới hình thức nào, sản phẩm nghiên cứu cũng chứa thông tin, những thông tin về quy luật, về cấu trúc, …
c) Sản phẩm của nghiên cứu khoa học
Theo Vũ Cao Đàm, kết quả nghiên cứu khoa học có bản chất thông tin Kết quả nghiên cứu khoa học dù thể hiện dưới dạng nào cũng là những tri thức khoa học, nghĩa là các thông tin chứa đựng tri thức khoa học Ví dụ: thông tin về quy luật sự vật, thông tin về nguyên lý công nghệ, thông tin về một vật liệu mới Các thông tin này được con người tiếp nhận thông qua vật mang tri thức khoa học
Có 3 loại vật mang tri thức khoa học:
- Vật mang vật lý:
các loại bài báo, báo cáo khoa học
mẫu vật thu được từ các công cuộc tìm kiếm, điều tra
Trang 19 mẫu vật thu được từ các di chỉ khảo cổ
băng âm, băng hình, đóa âm, đóa hình
- Vật mang công nghệ: là những hình mẫu thu được từ kết quả triển khai thực nghiệm, chẳng hạn:
mẫu của vật liệu mới
mẫu của sản phẩm mới
mẫu của một công cụ, máy móc, phương tiện mới
mẫu của một nguyên lý công nghệ mới
…
- Vật mang xã hội: có thể là chuyên gia, người thợ có tay nghề,…
Trong xem xét, đánh giá, thông thường người ta thường quan tâm đến vật mang vật lý, vật mang công nghệ
Khái niệm bản chất và vật mang chủ yếu để trong quá trình đánh giá, xem xét quyền sở hữu trí tuệ, chúng ta tập trung xem xét, bóc tách phần thông tin khoa học trong một sản phẩm nghiên cứu ra khỏi phần vật mang tri thức khoa học
Do bản chất có tính thông tin này, các sản phẩm đó trong thực tế rất dễ được sao chép, nhân bản, phổ biến, phân phối …, khiến cho sự cảm nhận về tính tài sản của chúng và quyền sở hữu đối với chúng ít nhiều bị giảm đi độ xác thực Tâm lý này hiện vẫn khá phổ biến và chi phối cách thức ứng xử, không chỉ của giới nghiên cứu hàn lâm, mà cả của giới sản xuất công nghiệp
và giới quản lý hoạt động khoa học công nghệ Do vậy, một trong những vấn
đề đầu tiên cần làm rõ là tính chất tài sản của các thông tin đó có thể được xác lập như thế nào ?
d) Phân loại nghiên cứu khoa học
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học Mỗi cách phân loại sẽ có kiểu sản phẩm nghiên cứu tương ứng Tuy nhiên, cách thường được sử dụng trong quản lý là phân chia nghiên cứu khoa học theo tính chất sản phẩm nghiên cứu Hiện nay, cách phân chia đề tài nghiên cứu theo R, R-D và P là cách phân chia đề tài theo sản phẩm
Trang 20Phân loại theo chức năng nghiên cứu:
Bao gồm các loại hình sau đây:
- Nghiên cứu mô tả: bao gồm mô tả hình thái, mô tả cấu trúc hay mô
tả động thái của sự vật Một số hình thức khác như mô tả tương tác, mô
tả các tác nhân, hậu quả, mô tả quy luật chung, các mô tả này bao gồm thuộc tính mô tả định tính và mô tả định lượng
- Nghiên cứu giải thích: bao gồm giải thích nguồn gốc, hình thái, cấu trúc, động thái , tương tác…
- Nghiên cứu dự báo
- Nghiên cứu giải pháp: trong loại hình nghiên cứu này, giải pháp được đề cập bao gồm các phương pháp và phương tiện, bao gồm, công nghệ mới, vật liệu mới, sản phẩm mới, giải pháp kinh tế, xã hội…
Như sẽ xem xét ở Chương II, với cách phân loại này, các kết quả đầu ra
có thể được xem xét bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm (tác phẩm khoa học, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm văn học) trong 3 loại hình trên ; và bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp (sáng chế, giống cây trồng, kiểu dáng công nghiệp …) cho loại hình nghiên cứu giải pháp
Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu:
Đây là hình thức phổ biến trong công tác quản lý, bao gồm các loại hình :
- Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học Ví dụ: luật hấp dẫn vũ trụ, quy luật giá trị thặng dư, nghiên cứu cơ bản phân thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản có định hướng
Nghiên cứu cơ bản thuần túy là những nghiên cứu về bản chất sự vật
để nâng cao kiến thức chưa đặt mục tiêu ứng dụng
Nghiên cứu cơ bản có định hướng:là những nghiên cứu có dự kiến trước kết quả, mục đích ứng dụng ví dụ các hoạt động điều tra tài
Trang 21nguyên, kinh tế, xã hội, khí tượng thủy văn, các nghiên cứu trạng thái của vật chất như tia X, bức xạ vũ trụ, gene, cấu trúc hạt …
Như sẽ xem xét ở Chương II, các nghiên cứu cơ bản có thể xem xét quyền SHTT dưới góc độ quyền tác giả-tác phẩm hoặc bí mật kinh doanh (thông tin điều tra mang lại lợi ích kinh doanh) và ít có khả năng tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, sở hữu công nghiệp hay giống cây trồng Bản chất chính vẫn là các phát minh, phát hiện
- Nghiên cứu ứng dụng (applied research) là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống Giải pháp ở nghĩa rộng nhất, bao gồm giải pháp công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý Một số giải pháp công nghệ có thể trở thành sáng chế Các kết quả nghiên cứu ứng dụng phải qua nghiên cứu triển khai mới đưa vào cuộc sống được
- Triển khai: thường được gọi tắt bằng từ development, nhưng không nên dịch là phát triển Là sự vận dụng các quy luật từ nghiên cứu cơ bản và các nguyên lý từ nghiên cứu ứng dụng để đưa ra các hình mẫu, các quy trình kỹ thuật với những tham số khả thi về mặt kỹ thuật, nghĩa là sản phẩm không có rủi ro về mặt kỹ thuật chưa quan tâm đến những tính khả thi khác như tài chính, môi trường…, hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: tạo vật mẫu – prototype, triển khai nhằm tạo ra một sản phẩm mẫu, chưa nghiên cứu đến quy trình sản xuất ra sản phẩm và quy mô áp dụng Thông thường sản phẩm được tạo ra từ phòng thí nghiệm
Giai đoạn 2: tạo quy trình sản xuất (pilot) nhằm xây dựng quy trình sản xuất sản phẩm mẫu, được tiến hành trong xưởng thực nghiệm (pilot workshop), vườn thực nghiệm, nhà kính
Giai đoạn 3: sản xuất thử (lô số 0) là giai đoạn tử nghiệm cuối cùng nhằm khẳng định khả năng thực thi quy trình sản xuất, chế tạo và áp dụng vào sản xuất
Trang 22Lưu ý, khái niệm triển khai được áp dụng cả trong lĩnh vực xã hội, kinh
tế
Sơ đồ mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu
Nghiên cứu cơ bản thuần
túy
Nghiên cứu cơ bản định
hướng
Nghiên cứu chuyên
đề Nghiên cứu ứng
dụng
Tạo vật mẫu Triển khai
Tạo quy trình Sản xuất thử
Ngoài ra, một cách phân chia sản phẩm nghiên cứu theo góc độ thống
kê như sau:
Bảng 2: Phân loại sản phẩm nghiên cứu dưới góc độ thống kê
Mẫu (Model, market) Qui trình công nghệ Báo cáo phân tích
Vật liệu Tiêu chuẩn Tài liệu dự báo
Dây chuyền công nghệ Đề án, qui hoạch triển
Trang 23e) Đề tài khoa học:
Đề tài khoa học là hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học với nhiệm vụ đặc trưng là nghiên cứu một vấn đề khoa học nào đó Có các hình thức tương tự đề tài với các quy mô, mục tiêu khác nhau như dự án, đề án, chương trình
Đề tài khoa học khác với các loại hình mang tính tác nghiệp khác như lập
kế hoạch, lập chương trình, triển khai hệ thống Đây cũng là đặc điểm để xác lập một vấn đề có phải là đề tài khoa học hay không
f) Sản phẩm nghiên cứu khoa học được thể hiện như một tác phẩm
Theo Lê Tử Thành, các loại hình sản phẩm nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới các hình thức sau đây :
- Tóm tắt khoa học
- Tổng luận khoa học
- Nhận xét khoa học
- Bài báo khoa học
- Báo cáo khoa học
- Luận án, tiểu luận, luận văn
Trang 24a) Triển khai thực nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới
b) Sản xuất thử nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống
Như vậy khái niệm phát triển công nghệ của Luật Khoa học và Công nghệ tương đối giống hình thức triển khai Khái niệm phát triển công nghệ ở đây có khác biệt với khái niệm phát triển công nghệ theo xu hướng hiện đang sử dụng phổ biến Đó là quá trình diễn ra trong sản xuất, tức là quá trình diễn ra sau D (hay sau P) (triển khai) và T (chuyển giao tri thức) không phải trong khu vực nghiên cứu, gồm:
- Mở rộng công nghệ hiện hữu (extensive development)
- Nâng cấp công nghệ hiện hữu (upgrading = intensive development)
Hiện nay, phân loại của Bộ KH&CN cũng như các Sở KH&CN chủ yếu phân chia theo 3 hình thức R, R-D và P Cần chú ý khái niệm R&D nhằm chỉ hoạt động bao gồm nghiên cứu khoa học R(AR+FR) và triển khai D Dĩ nhiên,
về cơ bản, không phải cách đặt ký tự là gì mà nội dung nghiên cứu và sản phẩm là gì Cách phân chia này cần lưu ý hai vấn đề:
- Cần làm rõ thế nào là một đề tài khoa học, thế nào là một kế hoạch, tác nghiệp của một đơn vị
- Cần xác định rõ loại hình nghiên cứu Hiện nay, trong quá trình tổ chức xét duyệt và nghiệm thu đề tài, vẫn còn lẫn lộn giữa các loại đề tài R-D, R,
P, sẽ khó khăn trong đánh giá, quản lý đề tài khi có sự lẫn lộn này (không xác định rõ sản phẩm thì áp dụng thang điểm, yêu cầu sản phẩm không phù hợp)
- Chưa triển khai các hoạt động phát triển công nghệ (theo nghĩa của nguyên lý phát triển công nghệ), đây chính là nguyên nhân dẫn đến giảm khả năng thương mại hóa sản phẩm khoa học
Trang 25- Cần triển khai công tác thẩm định kết quả nghiên cứu, sản phẩm nghiên cứu Đây là nhiệm vụ mang tính pháp lý hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phục vụ các yêu cầu đa dạng như hội thi sáng tạo kỹ thuật, khen thưởng, tranh chấp, kinh doanh, chuyển giao… Việc thẩm định không giới hạn đối với các công trình nghiên cứu từ ngân sách mà cho toàn bộ các thành phần xã hội, các công trình nghiên cứu từ nhiều nguồn
01/2007/TT-Các giải pháp kỹ thuật dạng sản phẩm có thể là : sản phẩm dạng vật thể (dụng cụ, máy mĩc, thiết bị, linh kiện, mạch điện …), sản phẩm dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm …) hoặc sản phẩm dạng vật liệu sinh học (gen, thực vật hoặc đơng vật biến đổi gen …) ; các giải pháp kỹ thuật dạng quy trình như : quy trình sản xuất, quy trình gia công, phương pháp kiểm tra, phương pháp xử lý …
Theo quy định tại khoản 12, Điều 4 Luật Sở hữu Trí tuệ, sáng chế (invention) là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Cịn việc phát hiện ra các quy luật tự nhiên, theo cách hiểu được thừa nhận rộng rãi tại Việt Nam hiện nay, được gọi là sự phát minh (discovery) Như vậy, để có thể đi sâu hơn vào bản chất vấn đề, trước hết cần phân biệt kỹ hơn 2 khái niệm : “sáng chế” và “phát minh”
Sáng chế (tiếng Anh & tiếng Pháp: invention, tiếng Nga: izobretennijie) là giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được Theo đó, sáng chế là kết quả của hoạt động phát triển công nghệ Mặt khác, mặc dù cũng tìm ra
Trang 26mô hình và triển khai ứng dụng nhưng các mô hình quản lý, giáo dục, kinh tế… không được công nhận sáng chế
Phát minh hoặc Phát hiện (tiếng Anh: discovery, tiếng Pháp: découverte, tiếng Nga: otkrưtije) là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người Như vậy, một phát minh thường là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học
Bản chất của phát minh hay phát hiện là tìm ra điều tồn tại khách quan và do đó, phát minh, phát hiện không trực tiếp mang lại giá trị thương mại như sáng chếù
Bảng3 : Phân biệt giữa phát minh-phát hiện – sáng chế
Phát minh/Phát hiện Sáng chế
Bản chất
Nhận ra vật thể hoặc quy luật xã hội vốn tồn
tại
Tạo ra phương tiện mới
và nguyên lý kỹ thuật, chưa có trước đó Khả năng ứng dụng
Khả năng ứng dụng
vào sản xuất/cuộc
sống
Không trực tiếp mà phải thông qua các giải pháp vận dụng
Có (trực tiếp hoặc phải qua thực nghiệm)
Giá trị thương mại Không Thể hiện qua mua bán
patent và licence
Bảo hộpháp lý
Bảo hộ tác phẩm theo luật Quyền tác giả, không bảo hộ bản thân các phát hiện-phát
Trang 271.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC & PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Chương 6 Luật Khoa học và Công nghệ xác định cụ thể nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ như sau:
Điều 49 Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ bao gồm:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về khoa học và công nghệ;
3 Tổ chức bộ máy quản lý khoa học và công nghệ;
4 Tổ chức, hướng dẫn đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ, qũy phát triển khoa học và công nghệ;
5 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;
6 Quy định việc đánh giá, nghiệm thu, ứng dụng và công bố kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chức vụ khoa học; giải thưởng khoa học và công nghệ và các hình thức ghi nhận công lao về khoa học và công nghệ của tổ chức cá nhân;
7 Tổ chức, quản lý công tác thẩm định khoa học và công nghệ;
8 Tổ chức chỉ đạo công tác thống kê, thông tin khoa học và công nghệ;
9 Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về khoa học và công nghệ;
10 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về khoa học và công nghệ; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong hoạt động khoa học
và công nghệ; xử lý các vi phạm pháp luật về khoa học và công nghệ.
1.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý khoa học và công nghệ
Bộ KH&CN là cơ quan đại diện Chính phủ quản lý nhà nước về KH&CN Chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước về KH&CN được cụ thể hóa trong luật KH&CN và tại Nghị định Chính phủ 15/NĐ-CP/2003
Trang 28Ởû các địa phương có các sở KH&CN quản lý nhà nước trên địa bàn và tham mưu cho địa phương về khoa học và công nghệ
Trung tâm Khoa Học Tự Nghiên Và Công Nghệ Quốc Gia là đơn vị quản lý nghiên cứu triển khai và quản lý hệ thống nghiên cứu chuyên ngành
Trung tâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Quốc Gia là cơ quan quản lý hệ thống nghiên cứu chuyên ngành xã hội và nhân văn
Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan đại diện Chính phủ quản lý nhà nước
về hoạt động KH&CN tại các cơ quan giáo dục và đào tạo
Các Vụ KH&CN thuộc các bộ là đơn vị quản lý hoạt động KH&CN thuộc phạm vi bộ ngành
Ngoài ra, hệ thống các trường, viện thuộc các tổng công ty, tập đoàn, …
1.2 3 Quản lý Nhà nước các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ
Như đã đề cập, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm 4 loại hình hoạt động chính sau đây:
- Nghiên cứu –triển khai
- Chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ, đào tạo, truyền bá
- Phát triển công nghệ
- Dịch vụ KH&CN
Cũng có các hình thức phân chia khác, ví dụ như xếp chuyển giao công nghệ thuộc dịch vụ KH&CN, hoặc chỉ có ba nội dung, không có các hoạt động đào tạo
Ngoài ra, còn phải kể đến :
- Các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật cấp Trung ương và tỉnh ;
- Việc tổ chức đăng ký các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ
- Các loại hình giao dịch khoa học và công nghệ (ngân hàng ý tưởng, sàn giao dịch, chợ công nghệ, …)
Mỗi loại hình hoạt động đều có một quy trình thực hiện riêng biệt Theo Đào Minh Đức, mỗi bước hoặc công đoạn trong một quy trình đều có thể tạo
Trang 29ra sản phẩm R&D chứ không phải chỉ là các kết quả thu được ở cuối quy trình và phương pháp tốt nhất để lượng hóa các kết quả đó là xem xem mỗi ý tuởng mới, tri thức mới, sản phẩm mới, phương pháp mới … đó có thỏa điều kiện bảo hộ của một đối tượng sở hữu trí tuệ nào hay không ? Nếu có, có thể xúc tiến ngay việc đăng ký hoặc thực hiện các hành vi bảo hộ phù hợp để làm
cơ sở xác lập quyền sở hữu tại thời điểm mà tài sản trí tuệ đó được bắt đầu hình thành Các đối tượng sở hữu trí tuệ sẽ được xem xét chi tiết sau ở Chương 2 còn tại đây, liên quan tới việc quản lý kết quả nghiên cứu khoa học
và công nghệ, có thể thấy pháp luật khoa học công nghệ và pháp luật sở hữu trí tuệ cũng có những quy định khá rõ ràng :
Điều 25 Luật Khoa học Công nghệ - Đăng ký, hiến, tặng, lưu giữ kết quả nghiên cứu khoa học
1 Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và phải được lưu giữ tại cơ quan lưu trữ nhà nước
2 Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước có thể được đăng ký hoặc hiến tặng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được lưu giữ tại cơ quan lưu trữ nhà nước
Đi sâu hơn vào vấn đề sở hữu các kết quả R&D, Luật SHTT quy định :
Điều 86 Luật Sở hữu Trí tuệ - Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1 Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:
a) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức và chi phí của mình;
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định tại khoản 2 Điều này
2 Chính phủ quy định quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra do sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước
Trang 30Theo đó, Điều 9 Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22.9.2006 của Chính Phủ (Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí của Nhà nước) hướng dẫn:
1 Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở Nhà nước đầu tư toàn bộ kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật, quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thuộc về Nhà nước Tổ chức, cơ quan nhà nước được giao quyền chủ đầu
tư có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký nĩi trên
2 Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở Nhà nước gĩp vốn (kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật), một phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ gĩp vốn thuộc về Nhà nước Tổ chức, cơ quan nhà nước là chủ phần vốn đầu tư của Nhà nước có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện phần quyền đăng ký nĩi trên
3 Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở hợp tác nghiên cứu - phát triển giữa tổ chức, cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân khác, nếu trong thoả thuận hợp tác nghiên cứu
- phát triển không có quy định khác thì một phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ đóng gĩp của tổ chức, cơ quan nhà nước trong việc hợp tác đó, thuộc về Nhà nước Tổ chức,
cơ quan nhà nước tham gia hợp tác nghiên cứu - phát triển có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký nĩi trên
4 Tổ chức, cơ quan nhà nước thực hiện quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này đại diện nhà nước đứng tên chủ Văn bằng bảo hộ và thực hiện việc quản lý quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng đó, có quyền chuyển nhượng phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí của Nhà nước cho tổ chức, cá nhân khác với điều kiện tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng phần quyền đăng ký phải trả cho Nhà nước một khoản tiền hoặc các điều kiện thương mại hợp lý khác so với tiềm năng thương mại của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí đó
Trang 31Như vậy, nhu cầu thẩm định để ghi nhận kịp thời và đầy đủ các kết quả của hoạt động R&D đòi hỏi phải có tính khách quan, mạch lạc, không dừng ở việc đánh giá đúng phạm vi của các “điểm mới” vừa phát sinh trong hoạt động nghiên cứu phát triển, mà cả phạm vi quyền sở hữu của các bên có liên quan
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ, THẨM ĐỊNH PHỔ BIẾN
1.3.1 Đối tượng đánh giá - phương pháp đánh giá –tổ chức đánh giá
Trong thực tế, phổ biến các đối tượng có nhu cầu đánh giá sau đây:
- Đề án của cá nhân hay nhóm nghiên cứu
- Đề tài sau khi hoàn thành nghiên cứu
- Đánh giá thành tựu khoa học sau khi áp dụng
- Đánh giá một tổ chức, một cá nhân nghiên cứu
Và đã có các phương pháp đánh giá phổ biến sau đây:
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp hội đồng khoa học
- Các công bố trên tạp chí, hội nghị khoa học
- Các công nhận văn bằng tiến sỹ, thạc sỹ…
- Các hình thức đăng ký sở hữu trí tuệ
Về mặt tổ chức đánh giá, cũng có các hình thức sau đây:
- Cơ quan chủ trì tự tổ chức đánh giá
- Cơ quan quản lý tổ chức đánh giá
- Cơ quan sử dụng kết quả nghiên cứu đánh giá
Mỗi phương pháp có mục tiêu và có giá trị riêng và do vậy, cũng có điểm
ưu và hạn chế như sau:
1.3.2 Phương pháp chuyên gia :
Ưu điểm:
- Vận dụng được kiến thức và kinh nghịệm chuyên sâu
Trang 32- Kết quả đánh giá được bảo đảm bởi uy tín của các chuyên gia được mời đánh giá, phản biện
Hạn chế:
- Thiếu tính tương tác giữa người đánh giá và người được đánh giá
- Nguồn thông tin đối chiếu, kiểm chứng không được công khai và có thể
và các điểm kế thừa trong kết quả R&D
- Chưa có các thể chế liên thông với các quy ước, thông lệ quốc tế, có thể phát sinh các tranh chấp về sở hữu trí tuệ với các tổ chức, cá nhân khác
1.3.4 Phương pháp công bố trên tạp chí, hội nghị khoa học
Có thể tóm tắt các loại hình công bố trong bảng sau đây:
Bảng 4: Các loại hình công bố kết quả nghiên cứu phổ biến
5 loại bài báo Vấn đề Luận điểm Luận
cứ
Phương pháp
Trang 33Công bố kết quả nghiên
cứu
Trong thực tế, việc đăng tải trên các tạp chí khoa học, đặc biệt là các tạp chí, chuyên san chuyên ngành, báo cáo trước các hội nghị khoa học cũng là một hình thức công nhận quyền tác giả công trình nghiên cứu Phương pháp này có những ưu khuyết sau đây:
Ngoài ra, một số hình thức công nhận khác như khoá luận tốt nghiệp ví
dụ như Luận án tiến sỹ, … cũng được xem xét ở các góc độ và sự công nhận, giá trị khác nhau
Ưu điểm:
- Được chuyên gia trong ngành tiếp cận, so sánh và đánh giá
- Được công nhận nhất định về quyền tác giả
Hạn chế :
- Không bảo hộ được nội dung chuyển tải trong bài viết, đặc biết nếu đó là các nội dung có liên quan đến khía cạnh công nghệ (như sáng chế, giống cây trồng mới )
1.3.5 Phương pháp xúc tiến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Đây là phương pháp phổ biến của các chuyên gia công nghệ, chuyên gia R&D trong các tập đoàn công nghiệp nước ngoài Mọi ý tưởng mới sẽ :
Hoặc được nộp đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng mới, nếu là giống cây trồng ;
Hoặc được nộp đơn đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp, nếu là giải pháp cấu trúc một chip bán dẫn ;
Hoặc được nộp đơn đăng ký sáng chế/giải pháp hữu ích, nếu là các giải pháp kỹ thuật khác ;
Hoặc được xác lập quyền tác giả cho tác phẩm hay quyền liên quan đối với các bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng …;
Trang 34 Hoặc được bảo vệ như một bí mật kinh doanh
Mỗi đối tượng được bảo hộ trên đây đều có những tiêu chuẩn bảo hộ nhất định mang tính pháp lý Các tiêu chuẩn này vừa giúp sàng lọc các điểm, các yếu tố có tính kế thừa, vừa đánh giá tính mới hoặc tính sáng tạo của các điểm được thừa nhận là do (các) người nghiên cứu tạo ra, vừa giúp xác lập phạm vi sở hữu của (các) người nghiên cứu liên quan
Ưu điểm:
- Xây dựng một hệ thống công cụ rõ ràng, minh bạch
- Phù hợp với thông lệ quốc tế
- Rõ ràng và tách bạch giữa cái kế thừa và cái mới (đóng góp mới) …
- Sự công nhận sở hữu trí tuệ có giá trị pháp lý
- Tất cả các quyền liên quan đến tài sản đều được xem xét và có đầy đủ thủ tục thực hiện
Hạn chế:
- Không quan tâm đến mức độ giá trị của công trình khoa học, đặc biệt với các công trình nghiên cứu cơ bản ví dụ như giá trị của một lý thuyết, nguyên lý…
- Sản phẩm nghiên cứu ngày càng đa dạng, phức tạp, cơ sở lý luận của
sở hữu trí tuệ chưa theo kịp những phát sinh này để giải thích, mô tả
và xác lập, ví dụ như những vấn đề trong sinh học hay trên không gian mạng …
Kết luận :
Mỗi phương pháp đánh giá, thẩm định có một mục tiêu riêng, không thể phát triển một phương pháp này để thay thế các phương pháp khác Tuy nhiên, từ những phân tích trên đây, có thể thấy việc nghiên cứu vận dụng phương pháp thẩm định, giám định SHTT vào việc đánh giá kết quả nghiên cứu KH&CN sẽ giúp bổ sung một công cụ đánh giá hữu ích khác vào hệ thống các phương pháp đang được sử dụng, nâng cao tính chặt chẽ và tính pháp lý của hoạt động đánh giá Việc này được bắt đầu trước hết bằng việc tìm hiểu những vấn đề liên quan trong pháp luật SHTT tại Chương 2
Trang 35CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ LIÊN QUAN TỚI NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC & PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
2.1 PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM
2.1.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật SHTT
Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt nam trước hết được quy định tại Phần Thứ sáu Bộ Luật Dân sự Việt Nam sửa đổi năm 2005, bao gồm 3 Chương : Chương 24 về Quyền tác giả và Quyền liên quan, Chương 25 về Quyền Sở hữu công nghiệp và Quyền đối với giống cây trồng, Chương 26 về Chuyển giao công nghệ
Có thể thấy rõ ràng rằng, việc xác lập quyền sở hữu đối với các kết quả nghiên cứu sẽ liên quan chặt chẽ với Chương 24 và 25, trong khi việc thương mại hóa các kết quả này sẽ liên quan nhiều đến Chương 26 Theo đó, Quốc Hội đã ban hành Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006
Liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,
rõ ràng là kết quả của chúng sẽ chỉ thật sự có ý nghĩa khi đó là các tài sản có thể bảo hộ pháp lý Điều 163 Bộ Luật Dân sự định nghĩa : “Tài sản bao gồm
vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” và Điều 163 Bộ Luật Dân sự
tiếp tục xác định : “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể
chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”
Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chi tiết hóa các khía cạnh khác nhau của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm :
Bảng 5: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ
Trang 36TT Văn bản
Cơ quan ban hành
tài sản dân sự
2 Luật Sở hữu
trí tuệ Quốc hội 29/11/2005
Điều chỉnh một cách có hệ thống mọi vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
3 Nghị định
100/CP/NĐ-CP
Chính Phủ 21/9/2006
Quy đđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và các quyền liên quan
4 Nghị định
103/CP/NĐ-CP
Chính Phủ 22/9/2006
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Sở hữu trí tuệ về
sở hữu công nghiệp
5 104/CP/NĐ-CP Nghị định Chính Phủ 22/9/2006
Quy đđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Sở hữu trí tuệ
về giống cay trồng
6 Nghị định
105/CP/NĐ-CP
Chính Phủ 22/9/2006
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền SHTT và QLNN về SHTT
7 Nghị định
106/CP/NĐ-CP
Chính Phủ 22/9/2006
Quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp
Hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp
Trang 372.1.2 Cấu trúc Luật Sở hữu Trí tuệ 2005
Các vấn đề chi tiết về sở hữu trí tuệ được quy định đầy đủ hơn trong Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam năm 2005, bao gồm 6 phần như sau :
Phần thứ nhất : Những quy định chung
Phần thứ hai : Quyền tác giả và quyền liên quan, bao gồm 3 Chương :
Chương I : Điều kiện bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan ;
Chương II : Nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan ;
Chương III : Chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan ;
Chương IV : Chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan ;
Chương V : Chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan;
Chương VI : Tổ chức đại diện, dịch vụ, tư vấn quyền tác giả, quyền liên quan
Phần thứ ba : Quyền sở hữu công nghiệp (SHCN), bao gồm 3 Chương :
Chương VII : Điều kiện bảo hộ quyền SHCN ;
Chương VIII : Xác lập quyền SHCN đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý ;
Chương IX : Chủ sở hữu, nội dung và giới hạn quyền SHCN ;
Chương X : Chuyển giao quyền SHCN ;
Chương XI : Đại diện SHCN
Phần thứ tư : Quyền đối với giống cây trồng, bao gồm 3 Chương :
Chương XII : Điều kiện bảo hộ quyền đối với giống cây trồng ;
Chương XIII : Xác lập quyền đối với giống cây trồng gồm ;
Chương XIV : Nội dung và giới hạn quyền đối với giống cây trồng ;
Chương XV : Chuyển giao quyền đối với giống cây trồng
Trang 38 Phần thứ năm : Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm 3 Chương :
Chương XVI : Quy định chung về bảo vệ quyền SHTT ;
Chương XVII : Xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp dân sự ;
Chương XVIII : Xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp hành chính và hình sự, kiểm sốt hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT
Phần thứ sáu : Điều khoản thi hành
Phần mở đầu Luật Sở hữu Trí tuệ đưa ra các khái niệm hết sức có ý nghĩa đối với kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ :
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh - Luật này quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó
Điều 2 Đối tượng áp dụng - Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngồi đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Điều 3 Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
1 Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hố
2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống
Theo đó, trước hết, có thể thấy rằng, thành quả nghiên cứu sáng tạo của người Việt Nam hoặc người nứơc ngoài đều được bảo hộ như nhau và đó là
Trang 39cơ sở tạo bình đẳng cho mọi giao kết về hợp tác nghiên cứu, chuyển giao kết quả dưới dạng tài sản trí tuệ giữa mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
Kế đến, có thể xem như Luật Sở hữu Trí tuệ cấu thành từ 3 mảng lớn: mảng liên quan đến Quyền tác giả và Quyền liên quan đối với các tác phẩm; mảng liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và mảng liên quan đến giống cây trồng Mỗi mảng đều hàm chứa rất nhiều loại hình khác nhau của kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hố, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng, vật liệu nhân giống …, được gọi chung là các đối tượng sở hữu trí tuệ được tìm hiểu chi tiết hơn sau đây
2.1.3 Các Điều ước quốc tế về Sở hữu Trí tuệ mà Việt Nam tham gia
Đến nay, Việt Nam đã ký kết tham gia các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ sau đây :
- Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp
- Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật 1886
- Công ước Stockholm 1967 thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
- Hệ thống Madrid gồm Thoả ước Madrid 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu hàng hóa và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước
- Hiệp ước hợp tác bằng sáng chế (PCT) 1970
- Công ước GENEVE về bảo hộ nhà xuất bản ghi âm 1971
- Công ước Brussel về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá 1971
- Hiệp định Việt Nam – Hoa kỳ 1997 về thiết lập quan hệ quyền tác giả
- Hiệp định Việt Nam-Thụy sỹ 1999 về sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Trang 40- Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa kỳ 2000
- Hiệp định TRIPS trong khuôn khổ WTO
Ngoai ra, Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định chi tiết tại Điều 5 Áp dụng pháp luật như sau:
1 Trong trường hợp có những vấn đề dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ không được quy định trong Luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân
2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý sở hữu trí tuệ
Điều 11, luật Sở hữu trí tuệ quy định:
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
2 Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hố - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thơn thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp
Bộ Văn hố - Thông tin trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thơn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng
3 Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hố - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thơn,
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
4 Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền