1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động giáo dục ở nam kỳ thời pháp thuộc 1862 1945

111 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời pháp thuộc 1862-1945
Tác giả Cù Thị Dung
Người hướng dẫn TS. Lê Hữu Phước
Trường học Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 20,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi đã cơ bản hoàn thành việc chinh phục bằng quân sự, thành lập chính quyền cai trị trên cả ba kỳ Bắc, Trung, Nam thực dân Pháp liền bắt tay vào công cuộc “chinh phục tinh thần”, đó là

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ HỮU PHƯỚC

TP HỒ CHÍ MINH - 2011

Trang 2

Trang

DẪN LUẬN

Chương 1 Chính sách và hệ thống giáo dục ở Việt Nam

dưới thời Pháp thuộc

1.1 Khái quát quá trình xâm lược và chính sách cai trị của thực dân

Pháp ở Việt Nam (1858-1945)

9

1.2 Vài nét về chính sách giáo dục của Pháp và ảnh hưởng của nó đối

với nền giáo dục Việt Nam

13

Chương 2 Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ từ năm 1862 đến năm 1905 và cuộc

cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906-1916)

2.1 Sơ lược tình hình giáo dục ở Nam kỳ trước khi Pháp xâm lược 27

2.2 Hoat động giáo dục ở Nam kỳ từ năm 1862 đến năm 1905 30

Trang 3

2.2.3 Giáo chức và chế độ lương bổng 44

2.3 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906-1916) 46

2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến cuộc cải cách 46

cải cách và những biến đổi của nền giáo dục ở Nam kỳ

từ năm 1930 đến 1945

3.1 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1917-1929)

60

3.1.2.1 Cải cách hệ thống giáo dục 61

3.2 Một số bổ sung sau cuộc cải cách và những biến đổi của nền giáo

dục ở Nam kỳ từ năm 1930 đến năm 1945

80

Trang 4

PHỤ LỤC 104

Trang 5

DẪN LUẬN

1.Lý do chọn đề tài

Trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, dưới các triều đại phong kiến, nền giáo dục nước ta là vốn là nền giáo dục khoa cử, thứ chữ được dùng chủ yếu là chữ Hán, chữ Nôm Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam Sau một loạt các Hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884, triều đình nhà Nguyễn đa từng bước chấp nhận sự đô hộ của người Pháp trên lãnh thổ Việt Nam Khi đã cơ bản hoàn thành việc chinh phục bằng quân sự, thành lập chính quyền cai trị trên cả ba kỳ Bắc, Trung, Nam thực dân Pháp liền bắt tay vào công cuộc “chinh phục tinh thần”, đó là xây dựng một nền giáo dục nô dịch, và ngu dân ở Việt Nam Người Pháp đã từng bước xóa bỏ nền giáo dục Nho học, thay vào đó là một nền giáo dục mới, mang đậm văn hóa phương Tây Đó là nền giáo dục mô phỏng hoàn toàn theo hệ thống giáo dục ở chính quốc từ bậc tiểu học cho đến đại học Với nền giáo dục này, người Pháp không chỉ nhằm đào tạo những công chức bản, viên chức bản xứ để làm việc cho bộ máy thống trị của thực dân Pháp, mà còn muốn chinh phục “trái tim và khối óc” của người bản địa

về một nước Pháp hoa lệ, một tương lai tốt đẹp Pháp sẽ mang lại nếu theo Pháp, làm cho người Việt tin rằng, người Pháp đến đây để mở mang dân trí Từ đó bào mòn tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam để Pháp dễ bề cai trị, chiếm đóng và vơ vét

Có thể nói, người Pháp thực thi chủ trương phát triển giáo dục để mở mang dân trí cho người bản địa không ngoài mục đích cai trị và khai thác nguồn lợi ở thuộc địa Vì thế, trong hơn 80 năm cai trị nước ta, người Pháp luôn luôn tự hào mang đến cho dân Việt một nền giáo dục tiên tiến, phát triển bậc nhất thế giới nhưng thực chất nền giáo dục Việt Nam vẫn lạc hậu so với các nước Tuy nhiên, xét về mặt tích cực của nền giáo dục này, chúng ta có thể khẳng định rằng

hệ thống giáo dục Pháp – Việt do người Pháp thiết lập ở Việt Nam đã góp phần tạo dựng nền tảng của giáo dục Việt Nam hện đại Và cũng chính nhờ vào những

Trang 6

mặt hạn chế của nó mà chúng ta có thể rút ra được những kinh nghiệm, những bài học quý báu cho công cuộc phát triển giáo dục ở nước ta trong tương lai

Với đề tài nghiên cứu “Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp thuộc 1862-1945”, học viên mong muốn tìm hiểu âm mưu nô dịch trong giáo dục của

thực dân Pháp đã thực thi ở Việt Nam, đồng thời làm rõ được bản chất của nền giáo dục này là gì và qua đó cho chúng ta một cái nhìn cụ thể về toàn bộ hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc thông qua những chính sách, hoạt động của nó Qua những tìm hiểu nghiên cứu trên, học viên cũng mong muốn rút ra những bài học thực tiễn để góp phần cho công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đề tài về hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp thuộc 1862-1945 không phải là một đề tài hoàn toàn mới Trước đây đã có rất nhiều tác phẩm viết về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc dưới dạng sách, tạp chí và báo cáo khoa học Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm này chủ yếu nghiên cứu về các cuộc cải cách giáo dục mà người Pháp đã tiến hành ở Việt Nam và nêu lên một cách khái quát về lịch sử giáo dục trên toàn lãnh thổ Việt Nam

- Trước hết luận văn điểm qua các tác phẩm viết về lịch sử Giáo dục Việt

Nam nói chung:

1 Luận án “Giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” của Nguyễn Như

Đức, trường Đại học Southern Illinois, năm 1978 Với đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của nền giáo dục do người Pháp thiết lập ở Việt Nam trong suốt quá trình cai trị từ những năm đầu đô hộ đến năm 1945

2 Sách “ Khoa cử và giáo dục Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Thắng,

Trang 7

chức giáo dục Việt Nam từ thời phong kiến và những thay đổi của nền giáo dục truyền thống qua nhiều thời kỳ lịch sử

3 Sách “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm giáo dục” của tác giả Lê Văn

Giạng, Nxb Chính trị Quốc gia- Hà Nội, 2003 Tác giả đã mô tả khái quát tình hình giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn phát triển, từ thời Nguyễn đến thời thuộc địa Pháp Tác giả đã so sánh hệ thống giáo dục truyền thống của triều Nguyễn với hệ thống giáo dục do người Pháp thiết lập ở Việt Nam

4 Sách “Lịch sử giáo dục Việt Nam” của tác giả Bùi Minh Hiền, Nxb Đại

học Sư phạm, 2008 Đề tài đi sâu nghiên cứu về hệ thống giáo dục trong bối cảnh lịch sử và những vấn đề của hệ thống giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn phát triển

5 Bài viết “Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam (1954-1974)” của TS

Nguyễn Hữu Phước (http//:www.google.com) Bài này tác giả trình bày sơ lược

về giáo dục Việt Nam từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc, và đường hướng giáo dục ở miền Nam Việt Nam từ những năm 1954-1974

- Những tác phẩm viết về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc khá phong phú, tiêu biểu là:

1.Bài viết “Bàn về Bộ Học chính Tổng quy” của tác giả Phạm Quỳnh – Tạp

chí Nam Phong năm 1918: Trong bài viết này, tác giả luận bàn về nội dung của

Bộ Học chính Tổng quy được ban hành vào ngày 21/12/1917 và mục đích của sự

ra đời Bộ Học chính này, hay nói cách khác là mục tiêu của một cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai do Toàn quyền Đông Dương khởi xướng

2 Bài viết “Vài nét về giáo dục Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất” của tác giả Nguyễn Anh – Tạp chí NCLS số

67/1967: Trong bài này tác giả cho thấy một bức tranh tổng thể về sự thay đổi của nền giáo dục Việt Nam Từ một nền giáo dục lấy chữ Hán và giáo dục Nho

Trang 8

giáo làm chủ đạo trong phương pháp giảng dạy đã dần dần thay đổi theo mô hình giáo dục của phương tây với chữ Pháp làm ngôn ngữ chính được dạy và học trong trường

3 Bài viết “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau Đại chiến Thế giới lần thứ I đến trước Cách mạng Tháng 8” của tác giả Nguyễn Anh – Tạp chí NCLS

số 68/1967: Với bài nghiên cứu này, tác giả giới thiệu về quy chế chung về giáo dục của Albert Sarraut ra ngày 21/12/1917 và sự phát triển của nền giáo dục ở Việt Nam từ sau Đại chiến Thế giới đến trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945

4 Sách “Giáo dục Việt Nam thời cận đại” của tác giả Phan Trọng Báu, Nxb

Khoa học Xã hội, 1994 Trong sách này, tác giả đã đi sâu vào phân tích tình hình giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, nhất là phân tích rất cụ thể nội dung hai cuộc cải cách giáo dục (1906-1916 và 1917-1929) Tuy nhiên, trong tác phẩm này, tác gỉa chưa nói đến nhiều về hoạt động của toàn bộ hệ thống trường Pháp và Pháp - Việt ở Nam kỳ

5 Bài viết “Vài suy nghĩ về thế hệ thanh niên tri thức Việt Nam đầu thế kỷ XX” của tác giả Nguyễn Văn Khánh và bài “Dòng giáo dục yêu nước ở Việt Nam cuối TK XIX và đầu TK XX” của tác giả Phan Trọng Báu – Tạp chí NCLS

số 5(276)/1994 : Bài viết mô tả chính sách Pháp hóa nền giáo dục Việt Nam của thực dân Pháp đã tác động đến sự hình thành các đặc điểm tâm lý và tư tưởng của thế hệ tri thức trẻ Việt Nam, là nhân tố quan trọng hình thành một tầng lớp tri thức người Việt trong những năm đầu thế kỷ XX

6 Sách “Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 - 1945” của

Nxb Giáo dục (Nguyễn Đăng Tiến làm chủ biên), 1996 Cuốn sách này đi sâu

mô tả về một nền giáo dục mới do chính người Pháp thiết lập ở Việt Nam Đặc

Trang 9

một nền giáo dục mới mang đậm bản sắc văn hóa phương tây, đồng thời củng cố,

mở rộng nền giáo dục thực dân ở Việt Nam

7 Bài viết “Giáo dục vùng dân tộc ít người ở Việt Nam thời thuộc Pháp”

của Phan Trọng Báu – Tạp chí NCLS số 7(350)/2005: Trong bài viết này, tác giả cho thấy chính sách giáo dục chung của Pháp ở Việt Nam Người Pháp ngoài việc củng cố và phát triển giáo dục vùng đồng bằng và đô thị, họ cũng rất quan tâm đến tổ chức giáo dục vùng dân tộc ít người Người Pháp đã thành lập trường lớp dạy chữ Pháp và Việt cho người dân tộc, tổ chức trường đào tạo giáo viên dạy cho các vùng dân tộc ít người

8.Bài viết “Vài nét về việc phổ biến chữ quốc ngữ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” của tác giả Phạm Như Thơm – Tạp chí NCLS số 11 (354)/ 2005: Bài viết

nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX

9 Bài viết “Nhìn lại hai cuộc cải cách giáo dục (1906 và 1917) ở Việt Nam

dục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc đã trải qua 2 cuộc cải cách quan trọng Cuộc cải cách lần thứ 1 (1906) là thiết lập một hệ thống trường lớp theo mô hình của nhà nước Pháp, với việc loại bỏ dần việc sử dụng chữ Hán và thay vào đó là chữ Pháp Trong cuộc cải cách lần 2, mục đích của chính quyền Pháp là dần dần hoàn thiện hơn hệ thống giáo dục cũng như việc truyền bá chữ Pháp trong toàn cõi Việt Nam

10 Bài viết “Giáo dục Hà Nội thời Pháp thuộc qua tài liệu lưu trữ” của tác

giả Đào Thị Diến – Tạp chí NCLS số 9+10/2008: bài viết đề cập đến tình hình giáo dục ở Hà Nội qua hai cuộc cải cách giáo dục của Pháp ở Việt Nam, thể hiện qua tổ chức và hoạt động của hệ thống các trường công và tư trong suốt thời

kỳ từ 1898 đến 1945

Trang 10

11 Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu về cải cách giáo dục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” của sinh viên Nguyễn Thị Thùy Dung, trường Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn, năm 2009 Với đề tài này, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu 2 cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam cũng như mục đích của chính sách giáo dục ngu dân của thực dân Pháp thực thi ở Việt Nam

12 Bài viết “Thi cử và nền giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” của

Trần Bích San (http//:www.google.com) Trong bài này tác giả đã nghiên cứu về

mô hình trường lớp và chế độ thi cử trong các trường ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

Những bài viết, những tác phẩm nêu trên đều có một điểm chung là đi sâu nghiên cứu về tiến trình phát triển chung của giáo dục trong toàn cõi Việt Nam,

từ Bắc kỳ, Trung kỳ đến Nam kỳ Tuy nhiên, đi sâu vào hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp thuộc thì hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào được

công bố Cho nên, đề tài “Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp thuộc 1945” của học viên là một đề tài mang tính độc lập và không có sự trùng lấp về

1862-nội dung cũng như phạm vi nghiên cứu so với những công trình đã công bố

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là: hoạt động giáo dục ở Nam

kỳ thời Pháp thuộc (1862-1945), trong đó chú trọng đến hệ thống và chính sách giáo dục thời Pháp (mục tiêu đào tạo, cách tổ chức nhà trường, chương trình học, giáo viên, ….), qua đó nhận xét về hệ quả của nền giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu

năm 1945 Học viên chọn mốc bắt đầu là năm 1862 vì đây là thời điểm thực dân Pháp ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) chính thức cai trị 3 tỉnh miền Đông Nam

kỳ Năm 1945 là mốc kết thúc của đề tài vì chính quyền đô hộ của thực dân Pháp

bị lật đổ, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập (mặc dù ở miền Nam Việt Nam đến năm 1954 chế độ thực dân Pháp mới thực sự kết thúc)

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động giáo dục theo địa

giới hành chánh của Nam kỳ trong khoảng thời gian 1862-1945

4.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tài liệu chủ yếu sử dụng trong luận văn được khai thác từ các tài liệu gốc hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, bao gồm các quyết định, công văn, báo cáo, thống kê … liên quan đến việc tổ chức, sửa đổi hệ thống giáo dục Pháp ở Việt Nam cũng như thành lập trường lớp, thống kê số lượng học sinh, giáo viên trong các trường

Bên cạnh đó là các bài viết trên tạp chí, các tác phẩm và công trình nghiên cứu về đề tài giáo dục ở Việt Nam

Ngoài ra, học viên còn tham khảo, kế thừa một số kết quả nghiên cứu về giáo dục trong các khoá luận, luận văn và các bài viết trên các trang Web

Trong quá trình nghiên cứu, học viên chủ yếu dựa trên các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để tiến hành các thao tác sưu tầm, thống kê, phân tích, so sánh… nhằm nêu lên được nội dung, mục đích nghiên cứu của đề tài, đồng thời, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho giáo dục hiện tại của Việt Nam

5 Đóng góp của đề tài

Từ những kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ cung cấp thêm một số tư liệu mới, đặc biệt là tư liệu lưu trữ giúp người đọc có cái nhìn đúng hơn về tình hình giáo dục ở Nam kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung Bên cạnh đó, luận văn cũng cố gắng nêu lên được một số nhận định, đánh giá khách quan về những mặt tiêu cực

Trang 12

và tích cực của nền giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc Từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho nền giáo dục nước nhà, nhất là trong công cuộc cải cách, đổi mới nền giáo dục hiện nay

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Chính sách và hệ thống giáo dục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

Chương 2: Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ từ năm 1862 đến năm 1905 và cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906-1916)

Chương 3: Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1917-1929), một số bổ sung sau cải cách và những biến đổi của nền giáo dục ở Nam kỳ từ năm

1930 đến năm 1945

Chương 1:

CHÍNH SÁCH VÀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC

1.1 Khái quát quá trình xâm lược và chính sách cai trị của thực dân

Pháp ở Việt Nam (1858-1945)

Ngày 01/9/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha do Phó đô đốc Rigault de Genouilly chi huy, cùng 13 chiến thuyến, 50 đại bác tấn công bán đảo Sơn Trà,

Trang 13

quyết liệt của quân dân Việt Nam, quân Pháp bị sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng Tháng 2/1859, quân Pháp chuyển hướng đánh chiếm Gia Định Nhưng một lần nữa quân Pháp bị sa lầy bởi cuộc kháng chiến của quân dân Lục tỉnh Nam kỳ, buộc phải gửi thư xin nghị hòa với triều đình Huế Trong khi đó, thay vì nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng Pháp, triều đình nhà Nguyễn chủ trương “Thủ để hòa”, chọn kế “Trì cửu”, tạo thời cơ cho quân Pháp củng cố lực lượng đánh chiếm Nam kỳ Ngày 24/2/1861, sau khi được tiếp viện, quân Pháp

mở cuộc tấn công Đại đồn Chí Hòa – thành trì cố thủ của hơn 12.000 quân nhà Nguyễn tại Gia Định Sau 2 ngày giao tranh ác liệt, quân Pháp chiếm được Đại đồn Chí Hòa, sau đó nhanh chóng tiến quân chiếm các tỉnh miền Đông Nam kỳ

Năm 1862, sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông, thực dân Pháp thiết lập Soái phủ Nam kỳ (Gouvernement des Amiraux từ năm 1861-1879) do các đô đốc Hải quân Pháp đứng đầu, có toàn quyền về hành chánh và quân sự để cai trị Nam kỳ Trong năm đầu, Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp chủ trương sử dụng người bản xứ cai trị người bản xứ dưới sự kiểm soát của các biện lý người Pháp

Vì vậy, đầu năm 1862, thực dân Pháp giao việc cai quản các huyện cho đội ngũ quan huyện người Việt và chịu sự sát của thanh tra người Pháp Song đến tháng 8/1862, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân miền Nam và thái độ bất hợp tác của tầng lớp trí thức người Việt, chủ trương cai trị gián tiếp không đạt được hiệu quả Chuẩn đô đốc Louis Adolphe Bonard phải giao phó tất cả mọi quyền hành cho các vị thanh tra người Pháp (hình thức cai trị trực tiếp), để tập trung đẩy mạnh bình định miền Nam Việt Nam Năm 1863, Đô đốc Lagrandière

hệ thống hóa hình thức cai trị trực tiếp bằng việc thiết lập chế độ thanh tra bản

xứ vụ Các thanh tra là những sĩ quan hải quân Pháp được giao đảm trách quyền hạn về hành chánh, tư pháp và tài chánh trong địa hạt quản lý

Trang 14

Đầu thập niên 70 của thế kỷ XIX, thực dân Pháp cơ bản hoàn thành bình định miền Nam, lấy đó làm bàn đạp tiến quân đánh chiếm Bắc kỳ Ngày 20/11/1873, quân Pháp do đại úy Francis Garnier chỉ huy, bất ngờ tấn công, chiếm thành Hà Nội và nhanh chóng chiếm được các tỉnh vùng châu thổ sông Hồng Song cũng như ở Nam kỳ, quân Pháp bị sa lầy bởi cuộc kháng chiến quyết liệt của nhân dân Bắc kỳ Quân Pháp buộc phải tuyên bố trả lại Bắc kỳ và yêu cầu nhà Nguyễn đàm phán Nhưng đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân, ngày 15/3/1874, triều đình nhà Nguyễn cùng Pháp ký “Hiệp ước hòa bình và liên minh” gồm 22 điều khoản, chính thức đặt Việt Nam dưới quyền bảo hộ của Pháp

và biến Nam kỳ thành đất thuộc địa

Ngày 14/5/1879, chính quyền Pháp chuyển chế độ cai trị tại thuộc địa Nam kỳ từ quân sự sang dân sự với việc bổ nhiệm chức vụ Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) Được bổ nhiệm làm Thống đốc dân sự đầu tiên,

Le Myre de Vilers tách quyền hành chánh và quyền tư pháp, thay các thanh tra bản xứ vụ bằng các tham biện, với trách nhiệm kiểm soát hành chánh, quyền tư pháp được giao cho tòa án

Năm 1882, hoàn thành việc thiết lập chế độ cai trị ở thuộc địa Nam kỳ, quân Pháp do Trung tá hải quân Henry Rivière chỉ huy từ Nam kỳ tiến đánh Bắc

kỳ lần thứ 2 Cũng như lần trước, quân Pháp gặp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân Bắc kỳ, Henry Rivière bị hạ sát Tháng 5/1883, quân Pháp cử Bouét thay Henry Rivière và tăng cường viện binh đánh chiếm Bắc kỳ Tháng 7/1883, vua Tự Đức bằng hà, triều đình Huế khủng hoảng Nhân cơ hội, quân Pháp đánh chiếm kinh thành Huế Sợ mất ngai vàng, ngày 25/8/1883, vua Hiệp Hòa cử Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp thương thuyết và ký với Cao ủy Pháp Harmand

Trang 15

(Cochinchine) là xứ thuộc địa, Trung kỳ (Annam) là xứ trực trị và Bắc kỳ (Tonkin) là xứ bảo hộ Ngày 6/6/1884, khi đã hoàn thành đánh chiếm Việt Nam, Pháp buộc triều đình nhà Nguyễn ký “Hiệp ước Patenotre” gồm 19 điều khoản nhằm hoàn chỉnh thêm những nội dung đã ký trong “Hiệp ước Quý Mùi”

Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh thành lập Phủ Toàn quyền Đông Dương do một Toàn quyền Pháp đứng đầu, cai trị Việt Nam và Cao Miên (Campuchia), mở đầu cho thời kỳ củng cố bộ máy cai trị và thời kỳ khai thác thực dân ở Việt Nam

Thực hiện chính sách cai trị căn bản là kìm hãm sự phát triển của dân tộc Việt Nam, chính quyền thực dân sử dụng đội ngũ quan lại phong kiến để cai trị dân chúng ở cấp cơ sở dưới sự giám sát của viên chức Pháp Về văn hóa, bên cạnh việc duy trì lề thói cổ hủ của xã hội phong kiến, thực dân Pháp tiêm nhiễm văn hóa “Âu học”, dùng rượu cồn và thuốc phiện đầu độc dân tộc Việt Nam Cùng với chính sách “ngu dân”, chính quyền thực dân đẩy mạnh khai thác thuộc địa, làm biến đổi xã hội Việt Nam về căn bản

Từ năm 1897, Paul Doumer được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương Bằng chính sách toàn diện, Paul Doumer làm thay đổi căn bản chính sách và hệ thống cai trị thuộc địa của Pháp ở Việt Nam Paul Doumer thay thế chế độ bảo

hộ bằng một chế độ trực trị và xóa bỏ sự thống nhất lãnh thổ của Việt Nam Đồng thời đưa việc khai thác thuộc địa lên tầm “kỹ nghệ”, Paul Doumer tăng sưu thuế và phu dịch để xây dựng cơ sở hạ tầng; tổ chức khai thác cùng kiệt tài nguyên của thuộc địa; biến Đông Dương thành thị trường độc quyền và là tiền đồn kinh tế, quân sự của tư bản Pháp

Chính sách cai trị của Paul Doumer về cơ bản được giữ nguyên cho đến năm 1945 Ngoại trừ năm 1925, sau cái chết của vua Khải Định, các quyền hạn

Trang 16

về chính trị và tư pháp cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn được chuyển giao cho Khâm sứ Pháp

Nhìn chung, chính sách cai trị thực dân của Pháp ở Việt Nam tùy vào từng giai đoạn cụ thể có những sự thay đổi cho phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa Song về cơ bản, chính sách cai trị của Pháp gồm các điểm: thực hiện chính sách chia để trị; duy trì trật tự kỷ cương xã hội theo lối phong kiến, thi hành chính sách ngu dân, khuyến khích văn hóa hủ bại; tăng cường sưu thuế, phu dịch thuế và thống nhất tài chính, độc quyền thương mại, khai thác cùng kiệt tài nguyên và hạn chế tối đa sự phát triển công –

kỹ nghệ thuộc địa Chính sách này đã tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi mọi mặt của xã hội Việt Nam Trong đó, nền giáo dục Việt Nam cũng bị tác động mạnh,

có sự thay đổi về căn bản

1.2 Vài nét về chính sách giáo dục của Pháp và ảnh hưởng của nó đối

với nền giáo dục Việt Nam

Chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam nhằm phục vụ yêu cầu hoạt động của guồng máy và chính sách cai trị thực dân Do đó, tùy vào từng thời điểm cụ thể, chính sách giáo dục của Pháp có những thay đổi phù hợp

Trong 10 năm đầu xâm lược Việt Nam, do chưa chiếm được Bắc và Trung kỳ nên chính sách giáo dục của Pháp được thực thi tập trung ở Nam kỳ và nhằm giải quyết các yêu cầu trước mắt của cuộc xâm lược Với mục tiêu giải quyết nhu cầu thông ngôn và “dạy chữ Pháp để người ta hiểu mình và đào tạo những người

Trang 17

là trường d’Adran hay còn gọi là Bá Đa Lộc [45] (theo báo cáo ngày 20/11/1886 của Giám đốc Nha Giáo dục Nam kỳ, thì trường d’Adran đã được các nhà truyền giáo nước ngoài thành lập trước khi Pháp đến Việt Nam [41] Để thu hút học sinh, ngày 01/12/1961[41], Đô đốc Bonard ký quyết định tăng mức học bổng cho trường d’Adran Nhưng cùng với cuộc kháng chiến quyết liệt, tư tưởng bài Pháp trong dân chúng Nam kỳ khiến chủ trương của Bonard bất thành Trường d’Adran không đủ học sinh tham dự Vì vậy, ngày 8/5/1862, Đô đốc Bonnard ban hành quyết định ngày thành lập Trường Thông ngôn Bản địa [41], với mục đích cung cấp những viên thông ngôn cho quân đội và hải quân

Đến năm 1863, chính sách giáo dục của Pháp có sự thay đổi, mục tiêu dưa vào sử dụng chữ Pháp và chữ La-tinh nhằm xóa bỏ chữ Nho cùng ảnh hướng của tầng lớp sĩ phu yêu nước trong dân chúng miền Nam, Đô đốc Bernard quyết định (quyết định ngày 31/3/1863)tái lập lại một số trường đào tạo đốc học, giáo thụ, huấn đạo [41] Đồng thời, xây dựng chương trình đào tạo một số học vị mới như

tú tài, cử nhân… Trong đó, học sinh sẽ được học chữ la tinh và chữ quốc ngữ trong trường Trong thời điểm phong trào kháng Pháp nổ ra mạnh mẽ, chính quyền thực dân chưa dùng chữ Pháp thay thế chữ quốc ngữ trong chương trình đào tạo Nhưng quy định bắt buộc các thi sinh phải thi bằng tiếng Pháp trong các

kỳ thi

Năm 1864, tăng cường việc dạy tiếng Pháp trong trường học, ngày 16/7/1864, chính quyền Pháp ban hành nghị định thành lập một số trường tiểu học ở các tỉnh để dạy chữ quốc ngữ, dạy toán [41] và bắt buộc học sinh học tiếng Pháp 2h/ngày Đồng thời, để khuyến khích học sinh theo học, chính quyền thực dân áp dụng “trợ cấp tiền 1 quan/ngày” và “sẽ thưởng 1 quan cho học sinh nào biết đọc, biết viết; 0,5 quan cho học sinh mới biết đọc Cho đến năm 1866, người Pháp mở được 47 trường với tổng số học sinh là 1.238 người” [41]

Trang 18

Năm 1868, các gia đình người Pháp và người Âu sinh sống và làm việc ở Nam kỳ, nhu cầu giáo dục cho con em số gia đình trên trở nên cấp thiết Vì vậy, ngày 10/2/1868, Đô đốc Lagrandière quyết định thành lập Trường Ngoại trú dành cho người Âu đặt dưới sự quản lý của Giám đốc Nha Nội chính [41]

Năm 1871, chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam có sự thay đổi căn bản Ngày 10/7/1871, Đô đốc Dupré ban hành ba văn bản quan trọng về cải tổ giáo dục Nam kỳ [41] Đầu tiên, Dupré quyết định thành lập Trường Sư phạm thuộc địa dành cho người bản xứ ở Sài Gòn do kinh phí của nhà nước thuộc địa chi trả Trường do một hiệu trưởng và ba giáo viên có bằng cấp đảm nhận việc dạy học Học sinh được nhận vào học có số tuổi tối thiểu là 16 và tối đa là 25 tuổi và học nội trú Nghị định thứ 2 quy định việc thành lập một Hội đồng có nhiệm vụ đưa ra kế hoạch giảng dạy và soạn giáo trình cho giáo viên Nghị định thứ ba quy định cụ thể về đội ngũ giáo viên Theo đó, giáo viên được tuyển sau khi đã trải qua một kỳ thi rất nghiêm ngặt Mỗi giáo viên được chia ra phụ trách

3 lớp và được nhận trợ cấp ngoài lương 1quan/ngày/lớp Giáo viên có bằng sơ học sẽ phụ trách 2 lớp thấp, có bằng cao đẳng tiểu học sẽ phụ trách lớp nhất

Nhằm thống nhất quản lý giáo dục, ngày 13/1/1873, Đô đố Dupré ban hành quyết định bổ nhiệm Hội đồng đặc biệt có nhiệm vụ nghiên cứu và trình cho Đô đốc dự thảo tổ chức Nha giáo dục Nam kỳ, tổ chức các trường, chương trình học, sách giáo khoa và cách thức triển khai chương trình giáo dục trong tất

cả các trường [41] Trên cơ sở đó, năm 1874, Dupré thực hiện cải tổ lại hoàn toàn hệ thống giáo dục Việt Nam Ngày 17/11/1874, Dupré ra quyết định ban hành bản quy chế đầu tiên cải tổ hệ thống giáo dục [41] Trong quy chế, các trường làng dạy chữ Hán bị hủy bỏ và thay vào đó là 1 trường duy nhất nằm ở

Trang 19

tại các làng để tập trung về 6 tỉnh (mỗi tỉnh có một trường): Sài Gòn, Chợ Lớn,

Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng Nhân sự của các trường này gồm một hiệu trưởng người Pháp, biết tiếng Việt và giáo viên thành thạo tiếng Pháp Sau 3 năm học, học sinh sẽ trải qua kỳ thi cuối cấp Những học sinh có học lực tốt có thể tiếp tục học tại trường Trung học bản xứ (Collège indigène) (thay cho Trường Sư phạm bản xứ) Trường Trung học bản xứ (sau một năm thành lập, được đổi tên thành trường Chasseloup – Laubat theo Nghị định ngày 6/1/1876 [41]) sẽ do một hiệu trường và các giáo viên người Âu phụ trách Trường tiếp nhận 120 học sinh nội trú và có học bổng Chương trình học ở trường kéo dài 3 năm, sau mỗi năm sẽ tổ chức 1 kỳ thi, học sinh nào không đạt sẽ phải nghỉ học Sau 3 năm học, học sinh sẽ trải qua kỳ thi lấy bằng cao đẳng Tốt nghiệp bằng cao đẳng, học sinh có thể làm việc trong các cơ quan hành chánh hoặc các trường học Bản quy chế cũng quy định chế độ giáo dục hoàn toàn miễn phí và

tự do ở Nam kỳ Đồng thời với việc quy định hệ thống các trường, bậc học ở Nam kỳ, quy chế của Dupré năm 1874 cấm việc mở các trường tư khi chưa được phép của chính quyền

Ngày 17/3/1879, Đô đốc Thống đốc Laffon đã ra quyết định về việc tổ chức lại hệ thống trường lớp và Nha giáo dục [41] Với quyết định này giáo dục

ở Nam kỳ được chia thành 3 cấp: bậc sơ cấp tiểu học (cấp I), bậc tiểu học (cấp II) và cao đẳng tiểu học (cấp III) Các trường cấp I còn được gọi là trường hàng tổng, trường cấp II còn gọi là trường hàng quận, trường cấp III còn gọi là trường trung học Mới đầu có hai trường là Chasseloup Laubat và Adran (Bá Đa Lộc) Đến năm 1880, trường trung học Mỹ Tho được thành lập theo Nghị định của Le Myre de Vilers [41] Về mặt tổ chức, các trường đặt dưới quyền quản lý của Giám đốc Nha Nội chính và Chủ tỉnh theo như bản quy chế giáo dục năm 1874

Trang 20

Sau Hiệp ước Patenotre (1884), sau khi chính thức đặt được ách thống trên trên toàn Việt Nam, chính quyền thực dân tiến hành cải tổ hệ thống giáo dục ở Bắc và Trung kỳ

Người mở đầu cho đường lối giáo dục của thực dân Pháp trong thời kỳ này là Paul Bert - một nhà giáo dục nổi tiếng của Pháp Tháng 6/1886, Paul Bert được cử giữ chức Tổng Trú sứ Trung – Bắc kỳ [2] Đến Hà Nội, không những ra những chỉ thị cụ thể để chỉ đạo công tác giáo dục, Paul Bert còn tự tay đôn đốc việc xây dựng trường sở Tháng 7/1886, với mục đích lôi kéo các sĩ phu nhằm truyền bá tư tưởng và ảnh hưởng của Pháp, Paul Bert ban hành nghị định thành lập Bắc kỳ Hàn lâm Viện Tháng 11/1886, Paul Bert vào Huế thành lập Trường Hoàng gia để dạy cho các vua quan triều Nguyễn học chữ Pháp Trong thời gian ngắn, Paul Bert đã tổ chức được một số trường Pháp – Việt ở Bắc và Trung kỳ Song khác với các đô đốc trước đây chủ trương xóa bỏ chữ Hán và chữ Quốc ngữ, Paul Bert tiếp tục duy trì dạy chữ Hán trong các trường ở Bắc và Trung kỳ Ngoài ra, trên địa bàn Bắc kỳ, Paul Bert còn tổ chức được một số trường tiểu học riêng cho nam sinh hoặc nữ sinh với chương trình học giống như các trường tiểu học ở Nam kỳ

Sau khi Paul Bert chết, chủ trương phổ biến chứ Pháp của các quan cai trị Pháp tiếp tục trở thành vấn đề trọng yếu trong phát triển giáo dục Việt Nam Năm 1896, chính quyền thực dân cho mở trường Quốc tử giám Năm 1897 mở trường Hậu bổ (1897) Năm 1898, Paul Doumer (toàn quyền năm 1897-1902)

mở trường Viễn Đông

Bước vào thế kỷ XX, chính quyền thực dân nâng cao hơn vấn đề quản lý

và chương trình giáo dục, theo hướng tập trung thống nhất về quản lý, tập trung

Trang 21

Năm 1905, Toàn quyền Đông Dương Beau ký quyết định thành lập Nha học chính Đông Dương Ngày 8-3-1906, Toàn quyền Beau ban hành nghị định thành lập một Hội đồng hoàn thiện giáo dục [26;1110]nhằm nghiên cứu những vấn đề cải tổ giáo dục cũ, cải cách các kỳ thi hương ở Bắc và Trung kỳ Ngày 16/5/1906 [276;807], Toàn quyền Beau tiếp tục ban hành nghị định hoàn chỉnh nghị định ngày 8-3, thành lập ở mỗi xứ của Đông Dương một Uỷ ban Hoàn thiện Giáo dục Cuối năm 1907, Toàn quyền Beau cho thành lập trường đại học đầu tiên ở Đông Dương với tên gọi Đại học Đông Dương Sự ra đời của trường này đánh dấu một bước phát triển mới trong hoạt động giáo dục ở Việt Nam

Về giáo dục chuyên nghiệp, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, chính quyền thực dân mở hàng loạt trường dạy nghề nhằm đào tạo thợ chuyên môn, đốc công Những năm cuối thế kỷ XIX, có các trường kỹ nghệ Sài Gòn (1898), trường Hà Nội (1898), trường Bách công ở Huế (1899) Qua đầu thế

kỷ XX có thêm các trường Thủ Dầu Một (1901), trường Biên Hòa (1903), … và đặc biệt là trường Y (1902)

Mặc dù chính quyền thực dân dùng nhiều biện pháp nhằm phát triển giáo dục tân học và xóa bỏ nền giáo dục truyền thống ở Việt Nam Song đến đầu thế

kỷ XX, ở Việt Nam cùng song song tồn tại hai hệ thống giáo dục khác biệt nhau Một bên là giáo dục phong kiến với hệ thống khoa cử lạc hậu Và cùng tồn tại với nó là hệ thống các trường làng – nơi tôi luyện truyền thống dân tộc, lòng yêu nước cho thế hệ trẻ của các sĩ phu, thầy đồ người Việt, tạo nguy cơ xấu đối với chính sách “khai sáng” thuộc địa của chính quyền thực dân Pháp Bên kia là hệ thống giáo dục “tân học” do chính quyền thực dân thiết lập gọi là giáo dục Pháp – Việt, đang vấp phải sự phản kháng của nhân dân Việt Số lượng hạn chế trường học và học sinh các trường Pháp – Việt những năm cuối thế kỷ XIX cho thấy rõ hiện tượng này

Trang 22

Số trường và học sinh trường Pháp – Việt tại Việt Nam năm 1916

Trường lớp Học sinh Trường lớp Học sinh

(*) 3 trường: Mỹ Tho, Gia Định và Chasseloup Laubat

Chính vì vậy, để đến việc thống nhất giáo dục bản xứ, năm 1917, Toàn quyền Albert Sarraut tiến hành cải cách giáo dục lần 2 Ngày 21-12-1917, Albert Sarraut ban hành nghị định quy định quy chế giáo dục ở Đông Dương bao gồm giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp[3] Về giáo dục phổ thông, mô phỏng nền giáo dục của Pháp ở Việt Nam, Albert Sarraut thiết lập hai hệ thống trường đào tạo trường Pháp và trường bản xứ Chương trình đạo tạo được chia làm 3 cấp: cấp I tức tiểu học, cấp II trung học và cấp III là Cao đẳng

Nhằm xóa bỏ hoàn toàn hệ thống giáo dục truyền thống ở Việt Nam, Albert Sarraut quy định triệt để sử dụng tiếng Pháp ngay từ bậc tiểu học Đồng thời tiến hành bãi bỏ hoàn toàn nền giáo dục phong kiến Khóa thi năm 1915 ở Nam kỳ và năm 1918 ở Trung kỳ là khóa thi cuối cùng của hệ thống giáo dục phong kiến ở Việt Nam Ngày 14-6-1919, chỉ dụ tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn các trường học chữ Nho và thay vào đó bằng hệ thống trường Pháp – Việt [3] của triều Nguyễn chính thức đặt dấu chấm hết cho nền giáo dục phong kiến ở Việt Nam

Trang 23

Như vậy, với cải cách giáo dục của Albert Sarraut, nền giáo dục Việt Nam

có sự thay đổi toàn diện, theo hướng một nền giáo dục “tân học” Tuy nhiên, cải cách của Albert Sarraut gặp phải chướng ngại lớn Chương trình đào tạo của hệ thống giáo dục mới đã không đồng nhất với sự phát triển của đội ngũ giáo viên, dẫn đến chất lượng đào tạo rất thấp Dù số trường học được mở và số lượng học sinh tăng khoảng 3 lần so với thời điểm những năm cuối thế kỷ XIX Nhưng sau

6 năm tiến hành cải cách (năm học 1922-1923), số học sinh vượt qua các kỳ thi chỉ bằng 4,8% tổng số học sinh của những năm cuối thế kỷ XIX và chiếm khoảng 2% tổng số học sinh đang theo học Nhìn chung, chương trình cải cách của Albert Sarraut đã không đạt được kết quả như mục tiêu đề ra

Trang 24

Trường Pháp

Số trường

Học sinh

Số trường

Học sinh

Số trường

Học sinh

Số trường

14.680 34.548

40

987

12.985 57.893

21

757

6.508 27.259

146 2.762

34.173 119.700

Trang 25

SỐ LIỆU THÍ SINH TRÚNG TUYỂN TRONG CÁC KỲ THI NĂM HỌC 1922-1923

Tú tài Thành

chung

Cao đẳng tiểu học Pháp – Việt

Tiểu học Pháp – Việt

Tiểu học Pháp

Sơ cấp

Trang 26

Trước thực trạng này, năm 1924-1925, Toàn quyền Đông Dương Merlin thực hiện một số cải tổ trong chương trình đào tạo của nền giáo dục Việt Nam Theo đó, 3 lớp dưới bậc tiểu học bị cắt thành bậc sơ đẳng Mà các học sinh sau khi học xong chương trình bậc sơ đẳng phải trải qua kỳ thi “sơ học” Học sinh tốt nghiệp kỳ thi này mới được thi vào học các năm sau của bậc tiểu học Riêng đối với bậc trung học, học sinh sẽ phải học 3 năm (thay vì 2 năm như trước) Từ đó, chất lượng đào tạo được nâng cao hơn Tuy nhiên do chủ trương giáo dục chỉ nhằm mục đích đồng hóa về văn hóa, biến người Việt thành người Việt thuộc Pháp (có lối sống Pháp, văn hóa Pháp và tư tưởng phục vụ chính quốc Pháp) Từ

đó tiến hành đào tạo tràn lan, dẫn đến tình trạng “thừa tri thức”

Khi đã đào tạo được một lớp người “Âu học” ở Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp thực thi nhiều biện pháp để hạn chế số học sinh ra trường, như: hạn chế mở trường tiểu học kiêm bị (đủ 6 năm), chỉ mở trường sơ đẳng; chuyển giao giáo dục tiểu học ở Trung kỳ cho triều đình nhà Nguyễn; cải tổ giáo dục trung học và cao đẳng; thẳng tay đuổi học những học sinh nào tham gia biểu tình

và hoạt động chống đối chính quyền Theo đó, việc quản lý giáo dục có sự thay đổi Ngày 10-9-1932, cho thiết lập Bộ Quốc gia Giáo dục do Phạm Quỳnh phụ trách, nhằm thực hiện chuyển giao giáo dục bậc tiểu học cho triều đình nhà Nguyễn (quá trình chuyển giao diễn ra từ tháng 5-1933 đến tháng 6-1934) Về bậc cao đẳng tiểu học và trung học về cơ bản giữ nguyên như trước, nhưng hạn chế mở thêm trường lớp Theo thống kê, sau năm 1930, ở Việt Nam có 2 trường đào tạo tú tài, thì đến năm 1935-1936, chính quyền thực dân chỉ mở thêm một trường trung học ở Huế và được giữ cho đến năm 1945 Về giáo dục cao đẳng,

Trang 27

trường, từ năm 1930, chính quyền thực dân bãi bỏ một số trường, chỉ giữ lại 3 trường: trường luật, trường y dược, trường Cao đẳng Mỹ thuật

Trong giai đoạn 1938-1945, chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam tiếp tục có sự thay đổi, tập trung vào hai bậc sơ học, tiểu học và cao đẳng, đại học

Đối với bậc sơ học và tiểu học, năm 1940, chính quyền thực dân ban hành nghị định bắt buộc mỗi làng ở Bắc và Trung kỳ phải lập một trường “hương học” bằng kinh phí của làng xã do do các “hương sư” giảng dạy

Bên cạnh giao hoàn toàn đào tạo sơ học và tiểu học cho người bản xứ, chính quyền thực dân mở rộng hệ đào tạo cao đẳng, đại học Một loạt các trường cao đẳng được nâng cấp thành trường đại học Ngày 15-10-1941, Thống sứ Pétain ban hành nghị định nâng cấp trường Y dược kiêm bị Đông Dương thành trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương và trường Cao đẳng Luật khoa thành trường Đại học Luật khoa Đông Dương Tháng 7/1941, Pétain ký sắc lệnh thành lập ở Đông Dương trường Cao đẳng Khoa học Hà Nội dạy vật lý, hóa học, khoa học tự nhiên Ngày 28/4/1941, Toàn quyền Decoux ký nghị định thành lập trường Thú y Tháng 11/1941, thành lập trường Cao đẳng Thể dục Thể thao Đông Dương Năm 1942, thành lập trường Cao đẳng Canh nông đào tạo kỹ sư canh nông nhiệt đới và kỹ sư canh nông Đông Dương

Trang 28

BẢNG THỐNG KẾ SỐ TRƯỜNG VÀ HỌC SINH BẬC GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NIÊN KHÓA 1941-1942 [3; 42]

Trang 29

BẢNG THỐNG KẾ SỐ TRƯỜNG VÀ SINH VIÊN CAO ĐẲNG – ĐẠI HỌC NIÊN KHÓA 1941-1942 [3; 42]

Trung kỳ Nam kỳ Bắc kỳ Tổng cộng

Trường Cao đẳng Khoa

Như vậy, sau khi chiếm được Nam kỳ, thực dân Pháp triển khai ngay chính sách đồng hóa văn hóa, trong đó giáo dục chiếm một vị trí quan trọng

Trang 30

Ngay từ những ngày đầu, chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam nhắm tới mục tiêu tiêm nhiễm văn hóa, tư tưởng Pháp và xóa bỏ truyền thống dân tộc, truyền thống yêu nước của các thế hệ Việt Nam Bằng biện pháp cơ bản là đưa nền giáo dục “tân học” vào thay thế giáo dục truyền thống của người Việt Cụ thể là áp dụng có “chọn lọc” nền giáo dục của Pháp vào Việt Nam, như: hạn chế đưa vào đào tạo các ngành kỹ thuật – công nghệ; tập trung đào tạo bậc phổ thông; đào tạo đội ngũ quan lại, đội ngũ nhân công phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa Đồng thời từng bước xóa bỏ chế độ khoa cử phong kiến, trong đó quan trọng là xóa bỏ hệ thống trường làng dạy chữ Nho – nơi vun đắp truyền thống, lòng yêu nước cho các thế hệ trẻ Việt Nam của các sĩ phu, thầy đồ bản xứ Tuy nhiên, do gặp phải sự phản kháng quyết liệt của dân tộc Việt Nam, nên tùy vào từng giai đoạn chính sách giáo dục của Pháp có những thay đổi linh động Song cũng chỉ tập trung xoay quanh hai nội dung: liên hiệp hoặc đồng hóa Biểu hiện cụ thể là sự tồn tại song song và đan xen của hai hệ thống giáo dục – truyền thống và tân học ở Việt Nam trong giai đoạn 1861 đến những năm đầu thế kỷ

XX Và việc xóa bỏ hoàn toàn giáo dục bản địa, xác lập duy nhất giáo dục Pháp

ở Việt Nam trong giai đoạn sau đó Chính sách giáo dục của Pháp đã tác động mạnh, làm thay đổi hoàn toàn nền giáo dục Việt Nam Giáo dục phong kiến với chế độ khoa cử, chương trình lạc hậu, dù có sự biến đổi, nhưng đã từng bước chấm dứt vai trò và nhường chỗ cho giáo dục “tân học” Chính sách giáo dục của Pháp mặc dù để lại hệ lụy là tạo ra một lớp người “lai căng, vong bản”, song cũng để lại những yếu tố căn bản cho sự phát triển nền giáo dục hiện đại ở Việt Nam trong những giai đoạn kế tiếp

Trang 31

Chương 2:

HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở NAM KỲ

TỪ NĂM 1862 ĐẾN NĂM 1905

VÀ CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC LẦN THỨ NHẤT (1906-1916)

2.1 Sơ lược về tình hình giáo dục ở Nam kỳ trước khi Pháp xâm lược

Trước khi thực dân Pháp xâm lược Nam kỳ, ở đây đã tồn tại nền giáo dục bản địa, đó là hệ giáo dục phong kiến với chữ Hán cổ văn và tư tưởng của đạo Nho là chương trình đào tạo

Giáo dục phong kiến Việt Nam chính thức được bắt đầu từ thời Lý Nhân Tông với việc thành lập Quốc Tử Giám dạy con cái vua quan, sau được mở rộng

để dạy chung cho nhiều tầng lớp nhân dân Từ đó, giáo dục phong kiến ngày càng phát triển Hệ thống trường lớp ở các địa phương được các triều đại phong kiến Việt Nam chú ý tổ chức Năm 1397, vua Trần Thuận Tông việc học ở các

lộ, phủ lớn được mở mang Đến thế kỷ XV - XVI, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển rực rỡ, các phủ, lộ đều có trường công Tại các làng xã, hệ thống trường làng dạy chữ Nho cũng ngày càng phát triển

Đối với Nam kỳ (xứ Đàng Trong) là vùng đất mới được khai phá, nên vấn

đề giáo dục phát triển chậm hơn so với lịch sử giáo dục phong kiến Việt Nam

Từ năm 1632, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã mở một số kỳ thi với nội dung là các bài thơ, văn sách của đạo Nho để kén chọn người làm quan Đến năm 1646, vấn đề khoa cử ở Đàng Trong được các chúa Nguyễn tổ chức mô phỏng hệ thống khoa cử ở miền Bắc Quy định 9 năm tổ chức một kỳ thi chia làm 2 khoa Chính

đồ và Hoa văn Ba hạng đứng đầu khoa Chính đồ gọi là Giáp, Ất, Bính được bổ nhiệm làm quan theo thứ tự Tri phủ, Huấn đạo, Lễ sinh hoặc Nhiêu học Người

Trang 32

đỗ đầu ở khoa Hoa văn cũng được chi làm ba hạng và được bộ nhiệm làm việc ở các ty Năm 1660, chúa Nguyễn mở khoa thi Đình cho những người thi đỗ Chính

đồ và Hoa văn Cùng như các triều đại phong kiến trước, các chúa Nguyễn không phát triển hệ thống trường công và để các trường làng tự do phát triển

Từ thời Gia Long trở về sau, giáo dục Nam kỳ được tổ chức thống nhất với giáo dục ở Bắc và Trung kỳ Hệ thống trường lớp cũng gồm hai loại: trường công và trường tư (trường làng) với chương trình giảng dạy là chứ Hán và tư tưởng của đạo Nho Khoa thi Hương đầu tiên ở Nam kỳ được Gia Long mở vào năm 1813 [16], tại trường Gia Định Từ năm 1813-1864, triều Nguyễn đã mở tất

cả 20 kỳ thi Hương ở Nam kỳ, tuyển chọn được 274 cử nhân

Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, giáo dục phong kiến Nam kỳ và Việt Nam nói chung đã phát triển đến đỉnh cao, trở thành hệ thống đào tạo quan lại của nhà nước phong kiến Hệ thống các trường Nho được chia thành 3 bậc Bậc thấp nhất là các trường làng Bậc thứ 2 là các trường huấn đạo và giáo thụ Bậc thứ 3 là các trường Đốc Học đặt tại các tỉnh lỵ Nhà nước phong kiến đã quan tâm hơn đến vấn đề đào tạo Để hạn chế số lượng học sinh theo học, hàng năm một cuộc thi gọi là Khảo hoa được tổ chức nhằm chọn ra các thí sinh giỏi và cấp học bổng cho theo học các trường Đốc học Cứ 3 năm một lần nhà nước tổ chức thi lấy bằng tiến sĩ, phó bảng, cử nhân, tú tài Tất cả những người có bằng cấp đều có thể làm việc trong chốn quan trường tuỳ theo cấp độ

khác nhau [39; 862, 863]

Nhìn chung, giáo dục phong kiến ở Nam kỳ và Việt Nam nói chung đều

có những đặc điểm cơ bản là không quản lý thống nhất hệ thống giáo dục mà dùng chế độ khoa cử để chi phối việc giảng dạy và học tập Trong suốt chiều dài

Trang 33

cụ thể chương trình, tài liệu giảng dạy Hệ thống trường lớp được phân hai loại: trường công do triều đình mở rất hạn chế và trường tư được hình thành tại các làng xã, do các nhà Nho, thầy đồ tự tổ chức Chương trình, tài liệu giảng dạy là

tư tưởng của Nho giáo với những sách kinh điển như Tứ thư, Ngũ kinh

Không quản lý thống nhất hệ thống trường lớp, chương trình đào tạo, nhưng các triều đại phong kiến Việt Nam ban hành quy chế về thi cử khắt khe Lấy thi cử làm tiêu chuẩn kén chọn hiền tài phục vụ đất nước Đồng thời, cũng qua chế độ khoa cử các triều đại phong kiến Việt Nam vô hình chỉ huy toàn bộ

hệ thống giáo dục Bằng việc ra đề thi, hình thức thi, các triều đại trói buộc thầy – trò phải dạy và học theo một khuôn mẫu chung Chế độ khoa cử của giáo dục phong kiến Việt Nam cơ bản gồm 3 bậc: thi hương, thi hội và thi đình Sĩ tử phải đậu cử nhân ở thi hương mới được thi hội, đậu thi hội mới được vào thi đình Nội dung thi của các kỳ thi về cơ bản không khác nhau, trình độ thí sinh được đánh giá qua khả năng thơ phú, văn chương Chính quy định chặt chẽ về khoa

cử, nhưng không phân biệt đối tượng học, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tạo ra một nền giáo dục dân chủ và được xã hội hóa cao độ Vì vậy, trong suốt quá trình lịch sử phong kiến Việt Nam, vấn đề giáo dục luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu của toàn xã hội Từ đó hình thành trong ý thức của người dân Việt quan niệm “quân – sư – phụ”, người thầy có vị trí chỉ sau vua mà hơn cả cha mẹ

Và vì vậy, dù học bằng chữ Hán, song các thế hệ Việt chưa bao giờ bị đồng hóa bởi văn hóa Hán

Về cơ bản nền giáo dục phong kiến Việt Nam là giáo dục từ chương, mang nặng tính văn chương, văn thơ phù phiếm, đồng thời gắn liền với chế độ khoa cử hướng tất cả sự cố gắng của nền giáo dục và ham muốn của xã hội vào con đường hư danh Tuy nhiên, bên cạnh đó, nền giáo dục này với mục đích truyền bá tư tưởng Nho giáo đã đóng góp tích cực trong việc củng cố nhà nước

Trang 34

và xã hội phong kiến ở giai đoạn nhà nước và xã hội này mới hình thành và đang

đi lên Tồn tại từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIX, dưới chính sách đồng hóa và cưỡng bức của thực dân Pháp, giáo dục phong kiến Việt Nam mà trước hết là ở Nam kỳ dần bị thu hẹp và biến mất

2.2 Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ từ năm 1862 đến năm 1905

2.2.1 Hệ thống giáo dục

Sau một thời gian bình định Nam kỳ, chính quyền thực dân bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên cho một nền giáo dục mới Giáo dục trong giai đoạn này nhằm mục đích phục vụ cho những chính sách cai trị của thực dân Pháp

Đầu tiên, chính quyền thực dân Pháp cho thành lập trường thông ngôn mục đích đào tạo đội ngũ thông ngôn phục vụ cho chính quyền Pháp Đến ngày 31/3/1863, Đô đốc Bernard đã ra một quyết định mới tái lập lại một số trường đào tạo các Đốc học, Giáo thọ, Huấn đạo Đồng thời tạo ra một số học vị mới như tú tài, cử nhân… Học sinh được học chữ la tinh và chữ quốc ngữ trong trường Chữ Pháp chưa bắt buộc thay thế chữ quốc ngữ trong trường Nhưng trong các kỳ thi, thí sinh bắt buộc phải thi tiếng Pháp Sau đó, tăng cường áp đặt

hệ thống giáo dục Pháp và giảng dạy tiếng Pháp ở Nam kỳ, các Nghị định năm

1864, 1866, 1871, chính quyền thực dân ban hành một loạt các nghị định thành lập các trường tiểu học Pháp, trường Sư phạm thuộc địa và một Hội đồng có nhiệm vụ nghiên cứu chương trình giảng dạy và soạn giáo trình cho giáo viên [41]

Ngày 17-11-1874 [21], Đô đốc Dupré ra quyết định cải tổ hoàn toàn hệ thống giáo dục ở Nam kỳ, đánh dấu bước chuyển hướng toàn diện hệ thống giáo dục tại đây Quyết định cải tổ giáo dục của Dupré gồm các nội dung:

Trang 35

trong trường được giao cho các giáo viên người Âu và người bản địa có bằng cấp

và đạo đức Việc mở trường phải được sự đồng ý của chính quyền Các trường tư nhân do các viên chức Pháp thành lập trước đây phải bị hủy bỏ trừ các trường công giáo như: trường Tabert, trường Adran, các trường nữ do các sơ nhà dòng Saint Paul de Charles quản lý… Đồng thời hủy bỏ các trường tiểu học dạy tiếng Hán trong các làng Các trường tiểu học này phải dạy chữ la tinh thay cho chữ Hán

Giáo dục công ở Nam kỳ bao gồm 2 bậc: tiểu học và trung học Các trường tiểu học sẽ được thành lập tại các tỉnh lỵ và trường trung học đặt tại Sài Gòn

- Giáo dục bậc tiểu học

Bậc tiểu học được đào tạo trong 3 năm Học sinh trường tiểu học học theo hình thức nội trú hoặc ngoại trú Sau khi học xong, học sinh sẽ trải qua một kỳ thi cuối cấp Nội dung thi xoay quanh chương trình học của bậc tiểu học Kỳ thi cuối cấp bao gồm 2 phần: thi viết và vấn đáp Hội đồng giáo dục thường trực sẽ

ra đề thi viết và vấn đáp Những thí sinh đậu cao sẽ được nhận học bổng vào học trường trung học Những thí sinh chỉ có số điểm trung bình, vừa đủ để vượt qua được kỳ thi cuối cấp có thể tìm được việc làm trong các nha sở của chính quyền thuộc địa với mức lương khoảng 360 quan/năm

Đội ngũ quản lý và giáo viên được quy định: Hiệu trưởng phải có bằng cử nhân, biết tiếng bản địa; Giáo viên bản địa phải biết tiếng Pháp Số lượng giáo viên sẽ dao động tùy theo nhu cầu mỗi trường

Nam kỳ thời gian này đã mở được các trường tiểu học ở các tỉnh Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng

- Giáo dục bậc trung học

Trang 36

Giáo dục bậc trung học kéo dài 3 năm Học sinh học trường trung học gồm 2 loại: nội trú và ngoại trú Học sinh nội trú là những học sinh được nhận học bổng, chi phí khoảng 20 quan/người/tháng do ngân sách nhà nước chi trả Số lượng học sinh nội trú tối đa hàng năm là khoảng 100 học sinh Kết thúc mỗi năm học, học sinh sẽ phải trải qua kỳ thi cuối năm Những học sinh nào không đạt sẽ bị đuổi học, trừ những học sinh vắng mặt trong 2 tháng vì lý do bị bệnh sẽ được phép học lại một năm Kết thúc 3 năm học, học sinh sẽ trải qua kỳ thi cuối cấp và được cấp bằng “trúng cách văn bằng” Những học sinh đậu cao ở kỳ thi này sẽ được nhận học bổng du học bên Pháp

Những học sinh nhận được bằng “trúng cách văn bằng” có thể được bổ nhiệm làm giáo viên với mức lương 600 quan/ năm, hoặc làm thư ký, thông ngôn với mức lương 1000 quan/ năm

Đến năm 1879, Dupré tiếp tục thực hiện cải tổ giáo dục ở Nam kỳ Ngày 17-3-1879 [24], Dupré ban hành nghị định chia giáo dục ở Nam kỳ thành 3 cấp: bậc sơ cấp tiểu học (cấp I), bậc tiểu học (cấp II) và cao đẳng tiểu học (cấp III)

Các trường cấp I hay còn gọi là trường hàng tổng được thành lập trong các tỉnh: Sài Gòn, Chợ Lớn Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bến Tre, Biên Hòa, Long Xuyên, Gò Công, Trảng Bàng, Cần Thơ, Trà Vinh, Sadec, Tân An, Châu Đốc, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Rạch Giá, Hà Tiên và Cái Bè

Các trường cấp II hay còn gọi là trường hàng quận, đặt dưới sự quản lý của một hiệu trưởng là giáo sư người Pháp Thời gian học của trường cấp II kéo dài 4 năm Các trường cấp II đã được thành lập trong các tỉnh sau: Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sóc Trăng và Bến Tre

Trường Trung học Chasseloup Laubat sẽ đổi thành trường cấp III Tuy

Trang 37

Tỉnh nào vừa có trường cấp I vừa có trường cấp II thì sẽ tổ chức cho 2 cấp học chung một nơi và sẽ do một hiệu trưởng quản lý Đồng thời môn tiếng Pháp

sẽ do cùng một giáo sư phụ trách dạy cả 2 cấp Trường do giáo viên Pháp phụ trách sẽ nhận các học sinh nội trú và ngoại trú Trường do giáo viên bản địa phụ trách chỉ nhận các học sinh ngoại trú

Để có thể vào học trong các trường công, học sinh phải thi trải qua kỳ thi tuyển đầu vào Kỳ thi này được quy định như sau:

+ Đối với trường cấp I

- Các thí sinh sẽ phải dự thi môn tiếng Hán, đặc biệt ưu tiên cho học sinh biết chữ quốc ngữ, đồng thời phải gởi đơn xin đi học lên văn phòng tỉnh trưởng Muốn xin được học bổng, các thí sinh phải có độ tuổi từ 10 – 14 tuổi và đạt điểm cao trong kỳ thi đầu vào

+ Đối với trường cấp II

- Các thí sinh sẽ trải qua một kỳ thi nội dung xoay quanh chương trình cấp

I Các thí sinh muốn xin học bổng phải có độ tuổi từ 12 – 17 tuổi Hình thức đăng ký đi học giống như ở cấp I

+ Đối với trường cấp III

- Kỳ thi tuyển sẽ diễn ra ở Sài Gòn Nội dung thi xoay quanh chương trình học cấp II Các thí sinh muốn xin học bổng phải có độ tuổi từ 14 – 20 tuổi Hình thức đăng ký học giống như ở cấp I

Tóm lại, dưới chính sách giáo dục của chính quyền thực dân, giáo dục phong kiến ở Nam kỳ cơ bản bị xóa bỏ, thay vào đó là nền giáo dục tân học mô phỏng nền giáo dục của chính quốc Về tổ chức nó bao gồm hai hệ thống giáo dục khác nhau: giáo dục bản địa và giáo dục Pháp

2.2.1.1 Giáo dục bản địa [41]: bao gồm

1.Các trường hàng tổng và trường làng

Trang 38

2.Các trường hàng quận

3.Một trường trung học bản địa, Cao đẳng tiểu học

4.Các trường thực nghiệm và trường nghề

5.Một trường sư phạm

+) Trường hàng tổng và trường làng: là trường sơ cấp hay còn gọi là

trường Cấp I, do quận trưởng quản lý trực tiếp về mặt hành chính tổ chức và do Nha Giáo dục quản lý về mặt sư phạm Trường sơ cấp thường xuyên được Hiệu trưởng các trường hàng quận thanh tra về mặt giáo dục Toàn bộ chi phí hoạt động, trả lương giáo viên, xây phòng học do ngân sách tỉnh chi trả Thời gian học ở trường cấp I từ 2-3 năm

Trang 39

+) Trường hàng quận (cấp II): là trường tiểu học hay còn gọi là cấp II do

giáo sư người Pháp quản lý Việc giảng dạy được giao cho các giáo sư người Pháp và giáo viên người bản địa Thời gian học ở trường hàng quận kéo dài 5 năm Để được nhận vào học, học sinh phải biết đọc, biết viết, biết làm toán, đặc biệt là biết tiếng Pháp Chương trình học được mô phỏng có sửa đổi chương trình đào tạo các lớp dự bị, sơ đẳng và các lớp trung của trường tiểu học chính quốc

BẢNG KÊ TRƯỜNG HÀNG QUẬN Ở NAM KỲ NĂM 1899 {51}

Trang 40

Trường nữ Sài Gòn 90 12

+) Trường Trung học bản địa và trường Cao đẳng tiểu học (cấp III):

Ngày đăng: 01/07/2023, 15:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w