Quá trình sinh sống và khai thác vùng biển đảo này tuy chỉ trên dưới 300 năm nhưng người Việt ở Kiên Giang đã tạo nên một nền văn hóa biển với những nét đặc thù.. Nhưng qua khảo sát của
Trang 1NGƯỜI VIỆT Ở KIÊN GIANG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ S Ố: 60.31.70
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
HUỲNH CHI
NGƯỜI VIỆT Ở KIÊN GIANG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ S Ố: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐINH THỊ DUNG
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự
của cá nhân dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đinh Thị Dung
Trong quá trình thực hiện chúng tôi có tham khảo và sử dụng các tài liệu liên quan từ các ấn phẩm, các trang web và các tư liệu sưu tầm qua nghiên cứu thực địa ở
tỉnh Kiên Giang
Tác giả luận văn
Hu ỳnh Chi
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến TS Đinh Thị Dung đã tận tâm và nhiệt tình hướng dẫn cho tôi ngay từ bước đầu chọn đề tài, phương pháp thực hiện cũng như hướng nghiên cứu cụ thể, nhờ đó mà tôi có thể hoàn thành luận văn trong khả năng tốt
nhất
Kế đến, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy - cô trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, đặc biệt là quý thầy - cô khoa Văn hóa học đã hết lòng truyền đạt nhiều
kiến thức và kỹ năng hữu ích trong suốt những năm tôi ngồi trên ghế nhà trường
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến sự hỗ trợ nhiệt tình của những cán bộ thư
viện tỉnh Kiên Giang, cảm ơn gia đình các làng nghề ở Phú Quốc, Hà Tiên, Vĩnh Thuận… cùng với người dân nơi đây đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin vô cùng quý báu và hữu ích cho luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè - những người đã giúp đỡ tôi trong
những lúc khó khăn, ủng hộ tinh thần tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Mặc dù luận văn đã được hoàn thành với rất nhiều sự cố gắng cũng như nỗ lực
hết mình của bản thân nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sự cảm thông, chia sẻ và chỉ bảo của quý thầy cô để tôi có thể ngày càng hoàn thiện kiến thức của mình hơn
Học viên thực hiện
Hu ỳnh Chi
Trang 5MỤC LỤC
M ỤC LỤC 1
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
7 Bố cục của luận văn 10
CH ƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Tiếp cận từ góc độ Địa Văn hóa 12
1.1.2 Tiếp cận từ Sử - Văn hóa 17
1.1.3 Ti ếp cận từ góc độ giao lưu và tiếp biến văn hóa 25
1.2 C ơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Đặc điểm cư dân vùng 28
1.2.2 Đặc điểm bối cảnh địa lý - xã hội 32
CHƯƠNG 2 36
BIỂN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN KIÊN GIANG 36
2.1 D ấu ấn của biển trong văn hóa ẩm thực 36
2.2 D ấu ấn của biển trong văn hóa trang phục 42
2.3 Dấu ấn của biển trong văn hóa cư trú 45
2.4 Dấu ấn của biển trong văn hóa giao thông 50
2.5 D ấu ấn của biển trong văn hóa ngành nghề 54
Trang 6CH ƯƠNG 3: BIỂN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT KIÊN
GIANG 80
3.1 Trong ngh ệ thuật ngôn từ 80
3.2 Trong ngh ệ thuật diễn xướng 95
3.2.1 Hò 95
3.2.2 Vè 98
3.2.3 Lý 101
3.3.Trong tín ng ưỡng – tôn giáo 104
3.3.1 Tín ng ưỡng 104
3.3.2 Tôn giáo 114
3.4 Trong phong tục – lễ hội 117
3.4.1 Phong tục 117
3.4.2 L ễ hội 121
KẾT LUẬN 127
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 132
A-TÀI LI ỆU SÁCH-BÁO-TẠP CHÍ 132
B-TÀI LI ỆU INTERNET 137
C-TÀI LIỆU CD ROM 139
PHỤ LỤC 140
PH Ụ LỤC HÌNH ẢNH 154
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nằm ở vị trí eo biển cực Tây Nam Tổ quốc, Kiên Giang là tỉnh có lợi thế bờ biển dài nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long với hơn 200 km đường bờ biển Ngay từ khi khai phá vùng đất này, người Việt đã chú trọng khai thác các tiềm năng về biển đảo
để phát triển đa dạng nền kinh tế của tỉnh bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp Đến nay,
biển Kiên Giang được xác định là một trong những ngư trường trọng điểm của cả nước Quá trình sinh sống và khai thác vùng biển đảo này tuy chỉ trên dưới 300 năm nhưng người Việt ở Kiên Giang đã tạo nên một nền văn hóa biển với những nét đặc thù Biển đã đi sâu vào đời sống văn hóa người dân Kiên Giang từ phong tục tập quán, văn hóa ẩm thực, văn hóa sản xuất và ảnh hưởng đến cả tính cách con người
Theo Trần Ngọc Thêm: “Trong toàn cõi Việt Nam duy nhất chỉ có một khu vực từ
Đà Nẵng đến Bà Rịa – Vũng Tàu là thực sự có văn hóa biển, mà chủ yếu cũng chỉ là văn hóa biển cận duyên” [Trần Ngọc Thêm 2012: 37] Nhiều nhà nghiên cứu khác
cũng cho rằng văn hóa biển phía Nam nói chung nhạt hơn so với văn hóa biển các vùng khác Nhưng qua khảo sát của chúng tôi, một đất nước với khoảng 3260 km đường bờ
biển như Việt Nam, biển đã và đang giữ vai trò quan trọng trong suốt lịch sử phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng cư dân nơi đây, đồng thời sự hình thành văn hóa biển trong đời sống văn hóa các cộng đồng cư dân này là tất yếu Tuy nhiên, ở mỗi khu vực, đặc trưng văn hóa biển khác nhau tùy theo hoàn cảnh lịch sử văn hóa và địa lý của mỗi vùng
Biển Kiên Giang cùng với lịch sử kiến tạo lâu dài đã hình thành nên những đặc trưng văn hóa riêng và độc đáo cho vùng Ngoài đặc trưng văn hóa của vùng biển, qua
luận văn chúng tôi muốn phát họa một cách rõ nét những ảnh hưởng của biển đối với đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của vùng đất Kiên Giang Qua đó ta có thể thấy
Trang 8được vai trò của biển để từ đó góp phần đưa ra định hướng chiến lược cho việc giữ gìn
và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của môi trường biển và có văn hóa ứng xử hài hòa, hợp lý với môi trường biển nhằm phát huy được thế mạnh mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho người dân Kiên Giang
Cùng với lòng tự hào là một người con đất biển Kiên Giang, người viết chọn đề
tài “Bi ển trong đời sống văn hóa người Việt ở Kiên Giang” làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn của mình
2 Lịch sử vấn đề
Vùng biển Việt Nam nói chung và quan hệ giữa con người và biển nói riêng được ghi chép ở nhiều khía cạnh khác nhau trong nhiều các tác phẩm nghiên cứu Ở lĩnh vực văn hóa, công trình đầu tiên mà chúng tôi tiếp cận có đề cập đến mối quan hệ của
người Việt với biển là Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh Trong đó, tác giả
đã nêu ra những ảnh hưởng của biển đối với đời sống văn hóa người Việt Tuy nhiên tác giả cũng chỉ đưa ra nhận định một cách khái quát chứ chưa đi vào phân tích cụ thể Trong tác phẩm Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Trần Quốc Vượng đã
phác họa mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn biển của Việt Nam, tác giả cho
rằng do vị trí chiến lược cũng như vị thế địa văn hóa xã hội nên “tính chất bán đảo” của
Việt Nam rất nổi bật, đã từng có những giai đoạn phát triển văn hóa biển, kinh tế biển
rất phồn thịnh thông qua các huyền thoại, huyền tích xưa và thực tiễn khảo cổ học tiền
sử và sơ sử Việt Nam
Ngô Đức Thịnh cho rằng người Việt trước khi giao lưu tiếp xúc với văn hóa cư dân Nam Đảo thì không có truyền thống biển, hoạt động của họ chủ yếu là ở tầm biển
cận duyên trong Văn hóa dân gian làng ven biển (2000) Trong tác phẩm Văn hóa vùng
và phân vùng văn hóa ở Việt Nam (2004), Ngô Đức Thịnh cũng đề cập đến biển trong
đời sống người Việt nhưng chưa đi sâu vào văn hóa biển
Trang 9C ộng đồng ngư dân ở Việt Nam của Nguyễn Duy Thiệu (2002) là một công trình
biên soạn công phu thông qua việc khảo sát một số làng chài trên cả nước Từ đó ông đưa ra quá trình hình thành các nhóm ngư dân và việc tổ chức đời sống tín ngưỡng của
họ Công trình này cũng đa phần nghiên về cộng đồng ngư dân ở Bắc Bộ và Trung Bộ Bài viết Văn hóa biển miền Trung trong mối quan hệ với văn hóa biển Đông Nam
Á của tác giả Mai Ngọc Chừ (2008) giới thiệu sơ lược về văn hoá biển Đông Nam Á Trong bài viết, ông có bàn về văn hoá biển miền Trung trong mối quan hệ với văn hoá
biển Đông Nam Á xét về mặt lịch sử, những yếu tố bất lợi về khí hậu và thiên tai của
biển Đông Nam Á tác động đến biển miền Trung và vài nét về chiến lược biển và môi trường văn hoá biển miền Trung
Tác giả Dư Văn Toán cũng có bài Lịch sử, văn hóa tại vùng biển và hải đảo Việt
cộng đồng dân cư Việt ven biển trên trang vanhoahoc.edu.vn Trong đó, tác giả cho
rằng các tỉnh miền Trung nhất là khu vực Nam Trung bộ, tính chất biển có thể nói là
rất đậm đặc trong văn hóa của người Việt Bởi thế mà trong cộng đồng ngư dân sinh
sống tại khu vực Trung bộ, nhất là cực Nam Trung bộ đã hình thành được một nếp
sống văn hóa biển
Hội thảo khoa học quốc gia về văn hóa biển đảo do Bộ Văn Hóa Thông Tin Du
lịch phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa trong khuôn khổ Festival “Nha
biển và văn hóa biển đã công bố kết quả nghiên cứu cùng nhiều tài liệu, tư liệu nói về
biển Việt Nam với 50 báo cáo tập trung vào 3 chủ đề chính: Văn hóa biển đảo và văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa, Quần đảo Trường Sa ở Khánh Hòa, và Du lịch biển đảo ở Khánh Hòa Có 24 báo cáo đã được trình bày và thảo luận tại Hội thảo
Trang 10Riêng về vùng biển Kiên Giang, Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí
có nhắc đến vai trò của biển và những ứng xử với biển của người dân Trấn Hà Tiên (một trong những khu vực của tỉnh Kiên Giang sau này)
quá trình vua Tiêm-la đem binh thuyền vây đánh Hà Tiên bằng dường biển đã phản ánh được giao thông đường biển ở khu vực này đã khá thuận lợi vào giai đoạn đầu thế kỷ XVIII, tuy nhiên yếu tố biển được nhắc tới hết sức ít ỏi, chưa đầy một trang giấy khổ 13 x
19
Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa có đề cập
đến vùng biển từ Cà Mau đến Hà Tiên với đặc điểm địa hình là bên ngoài biển khá sâu,
có đảo Phú Quốc lớn nhất, giao thông biển thuận lợi và ông xếp đây là khu vực văn hóa biển ở mức độ nhạt hơn so với khu vực từ Đà Nẵng đến Vũng Tàu
Biển Kiên Giang phần lớn được nhắc đến với vai trò là một thế mạnh của ngành
du lịch biển hay là nơi có nền kinh tế thủy sản giàu mạnh nhất đồng bằng sông Cửu Long trong Kiên Giang điểm hẹn (2000) Tác phẩm cũng đã nêu khái quát về vị trí địa
lý và những tiềm năng mà vùng biển Kiên Giang sở hữu
Tác giả quyển Người Việt với biển (2011) nhấn mạnh tầm quan trọng của dòng họ
Mạc trong việc khai phá ra vùng đất Hà Tiên và cảnh non nước hữu tình nơi đây
Trong Ngư cụ thủ công chủ yếu và nghề cá ở Kiên Giang, Đoàn Nô đã nêu khá cụ
thể về những họ nghề đánh bắt chủ yếu, những kinh nghiệm đánh bắt và nuôi trồng
thủy sản ở Kiên Giang cũng như một số truyền thuyết liên quan đến biển của vùng Do
trọng tâm của tác phẩm là nghiên cứu về nghể đánh bắt thủy sản ở Kiên Giang nên
những nhận định chỉ mang tính tổng kết và thống kê lại dựa trên tài liệu thực tế nên
yếu tố văn hóa biển không được đề cập trong tác phẩm
Trang 11Gần đây nhất và nêu cụ thể nhất về văn hóa biển Kiên Giang là tác phẩm thuộc
Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Viện nghiên cứu văn hóa, Sở văn hóa thông tin
Quảng Ngãi, Hội văn học nghệ thuật Kiên Giang 2008: Văn hóa biển miền Trung và
văn hóa biển Tây Nam Bộ, trong đó Kiên Giang được nhắc đến như một tiêu biểu cho
văn hóa biển của toàn vùng biển Tây Nam Bộ, thế mạnh về du lịch được khai thác khá
rõ trong tác phẩm Nhiều nhà nghiên cứu như Phan Thị Yến Tuyết, Trương Thanh Hùng, Đoàn Nô, Nguyễn Thanh Lợi… đã nêu ra những nghiên cứu về văn hóa biển, văn hóa du lịch Tây Nam Bộ nói chung và Kiên Giang nói riêng Tuy nhiên do tập sách
là kỷ yếu của hai cuộc hội thảo về văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam
Bộ nên những trình bày tham luận còn ở mức chung chung chưa đi vào cụ thể
Ngoài ra còn có các luận văn, đề án nghiên cứu về biển như Biển trong văn hóa
văn hóa biển Việt Nam Trong công trình trình bày yếu tố biển của miền Bắc, miền Trung và miền Nam Do đối tượng nghiên cứu rộng nên luận văn chưa nêu bật được
những yếu tố đặc trưng của văn hóa biển từng vùng miền Gần đây nhất còn có Văn
cao học 2010) Do đây là công trình về văn hóa ứng xử với biển nên chủ yếu nêu lên cách ứng xử với biển của người dân Tây Nam Bộ, chưa thể hiện được rõ nét vai trò của
biển trong đời sống văn hóa
Bên cạnh đó còn có các bài viết ngắn trên tạp chí, báo, một số phóng sự trên truyền hình về biển đảo Việt Nam
Nhìn chung, việc nghiên cứu về biển rất nhiều nhưng khảo sát dưới góc độ văn hóa và quan hệ giữa tự nhiên và con người qua từng vùng (biển) chưa thật nhiều Tài
liệu nước ngoài nghiên cứu văn hóa biển Việt Nam rất hiếm, tài liệu nghiên cứu về văn hóa biển chủ yếu tập trung ở miền Bắc và miền Trung, phần lớn các tác giả đều chỉ đặt
vấn đề này một cách tổng quát hoặc đi vào một số khía cạnh nhỏ lẻ trong phạm vi các
Trang 12địa phương có yếu tổ biển mạnh mẽ như khu vực từ Đà Nẵng đến Bà Rịa – Vũng Tàu Bên cạnh đó còn nhiều quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu dẫn đến việc nhìn
nhận yếu tố biển trong văn hóa còn chưa thỏa đáng Riêng đối với văn hóa biển Nam
Bộ, đặc biệt là văn hóa biển Kiên Giang có rất ít công trình nghiên cứu Vấn đề về biển Kiên Giang không mới nhưng có thể thấy việc nghiên cứu về biển đảo Kiên Giang chỉ
dừng ở việc giới thiệu nó như một đại diện của cảnh đẹp vùng biển tiêu biểu cho khu
vực đồng bằng sông Cửu Long và lịch sử khai phá vùng đất giàu đẹp này
Mặc dù chưa đề cập một cách cụ thể đến văn hóa biển Kiên Giang, nhưng những tài liệu trên có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp tài liệu tham khảo để người viết thực
hiện đề tài Đề tài luận văn “ Biển trong đời sống văn hóa người Việt Kiên Giang”
mong muốn nghiên cứu một cách khái quát, hệ thống về văn hóa biển của người Việt Kiên Giang dưới góc độ địa văn hóa, sử văn hóa và giao lưu tiếp biến văn hóa nhằm làm rõ những giá trị văn hóa về vật chất và tinh thần mà người Việt đã xây dựng nên trong quá trình sinh sống ở vùng biển Kiên Giang
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm tìm hiểu đời sống văn hóa biển của người Việt ở Kiên Giang để từng bước làm rõ những đặc trưng của văn hóa biển nơi đây một cách
có hệ thống Bên cạnh đó, với cách tiếp cận địa văn hóa, sử văn hóa và giao lưu tiếp
biến văn hóa, người viết cũng muốn giới thiệu đến những người quan tâm góc nhìn khác trong nghiên cứu về đặc trưng văn hóa biển của người Việt ở Kiên Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Vì tên đề tài là Biển trong đời sống văn hóa người Việt ở Kiên Giang nên đối tượng nghiên cứu chính là đời sống văn hóa của người Việt trong quá trình tương tác
với môi trường biển Kiên Giang
Trang 13Phạm vi nghiên cứu:
+ Chủ thể: người Việt ở Kiên Giang
+ Không gian: vùng biển Kiên Giang từ rạch Tiểu Dừa giáp ranh với tỉnh Cà Mau đến biên giới Campuchia
+ Thời gian: văn hóa biển Kiên Giang được hình thành từ khi người Việt đến khai phá, mở mang miền đất ngày càng đông đảo từ thế kỷ XVII cho đến nay Trong quá trình ấy, văn hóa miền đất này chịu sự chi phối mạnh của bối cảnh lịch sử - xã hội ngay
tại vùng đất Tây Nam Bộ, cả Nam Bộ và rộng hơn nữa là bối cảnh lịch sử - xã hội chung của nền văn hóa Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Đề tài sẽ góp phần cung cấp thêm những tài liệu về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Kiên Giang, qua đó bổ sung thêm cho mảng nghiên cứu về văn hóa biển và văn hóa biển Kiên Giang Ngoài ra đề tài nếu được
thực hiện tốt, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo về văn hóa vùng biển Kiên Giang
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần vào việc định hướng những chính sách về kinh tế- xã
hội của nhà nước, đặc biệt là những chính sách kinh tế - xã hội liên quan trực tiếp đến
biển Kiên Giang
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Để giải quyết các yêu cầu của luận văn Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp
nghiên cứu liên ngành văn hóa học Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như:
Phương pháp hệ thống cấu trúc là phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ đề tài để tiếp cận văn hóa như một hệ thống, trong đó văn hóa ứng xử của con người với môi trường biển là một thành tố của hệ thống văn hóa
Trang 14Phương pháp lịch sử và phương pháp logic giúp nhận thức đúng quá trình phát sinh, phát triển của văn hóa Kiên Giang trong tiến trình văn hóa Việt Nam, đồng thời
nắm được bản chất và quy luật của văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của con người
Phương pháp so sánh văn hóa giúp phân biệt sự khác biệt và tương đồng trong văn hóa biển của người Việt ở Kiên Giang so với văn hóa biển của người Việt ở các vùng Trung Bộ và Bắc Bộ, từ đó nhận diện được bản sắc văn hóa, đặc trưng của văn hóa biển mỗi vùng
Phương pháp khảo sát điền dã sẽ bổ sung những tư liệu thực tế giúp chỉ ra, làm rõ
và chứng minh các luận cứ đã đưa ra, giúp cho đề tài mang tính thực tiễn cao hơn
internet
Ngoài ra còn có những kiến thức, kinh nghiệm thực tế của bản thân trong những năm tác giả sinh hoạt, lao động sản xuất tại quê nhà
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương chính
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Đây là chương xác lập cơ sở để làm tiền đề lý luận nghiên cứu cho các chương sau Ở phần cơ sở lý luận, chúng tôi trình bày các hướng tiếp cận từ góc độ địa văn hóa, sử văn hóa và giao lưu tiếp biến văn hóa để làm rõ nét văn hóa biển đặc trưng của Kiên Giang Phần cơ sở thực tiễn, người viết xác định rõ địa bàn nghiên cứu cụ thể là vùng biển Kiên Giang với đặc điểm cư dân vùng và đặc điểm bối cảnh địa lý - xã hội Chương 2: Biển trong đời sống văn hóa vật chất của Kiên Giang
Trang 15Trình bày các dấu ấn của biển trong đời sống vật chất của người dân Kiên Giang thông qua các hoạt động trong văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn hóa cư trú, văn hóa giao thông và các hoạt động khai thác biển, du lịch biển đảo
Chương 3: Biển trong đời sống văn hóa tinh thần của Kiên Giang
Trình bày các dấu ấn của biển trong đời sống tinh thần của người dân Kiên Giang thông qua nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật ngôn từ và các tín ngưỡng - tôn giáo, phong tục – lễ hội nơi đây
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tiếp cận từ góc độ Địa Văn hóa
Quá trình thích nghi lâu dài với môi trường tự nhiên dần dần sẽ hình thành nên
những lối ứng xử, tập quán sinh sống để con người hòa hợp và phát triển trong môi trường đó, từ đó tạo nên những nét đặc trưng văn hóa của không gian, môi trường sống
đó Từ góc nhìn địa văn hóa, con người và tự nhiên có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời, vì con người tồn tại trong tự nhiên và chịu tác động bởi tự nhiên; ngược lại, con người không hoàn toàn thụ động mà biết thích nghi và cải biến tự nhiên để phục vụ cho chính mình Sự tương tác hai chiều này đã góp phần làm nên những nét văn hóa đặc trưng Vì vậy, để tiếp cận và nghiên cứu bất kỳ nền văn hóa nào cũng cần phải nghiên cứu con người nói chung, văn hóa nói riêng trong quan hệ với môi trường sống,
cụ thể là môi trường tự nhiên
Trên thế giới, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự nhiên và con người đã có
mầm mống từ thời cổ đại khi con người luôn muốn tìm lời giải thích cho câu hỏi: tại sao con người ở những vùng đất khác nhau lại có tính cách, lối sống khác nhau? Từ đó các nhà địa lý học đã đưa ra quan điểm về yếu tố địa lý tự nhiên dẫn đến sự khác biệt
về tính cách, lối sống: Hippocrates – học giả người Hy Lạp đã khái quát tính cách người Châu Âu ngược lại với người Châu Á; Aristotle gọi những người Bắc Âu là gan
dạ nhưng thiếu suy tính, thiếu kỹ năng và thiếu khả năng tổ chức chính trị và do đó không thể cai trị những người láng giềng của họ; Herodotus lại nghĩ rằng người Bắc
Âu sinh sống ở một miền đất quá lạnh cho các hoạt động đầu óc, người Châu Phi phía Nam của Ai Cập cũng không có được sự tiến bộ bởi vì thời tiết quá nóng,… Nhìn chung cho đến hết thế kỷ XIX, yếu tố địa lý – tự nhiên được coi là có ý nghĩa quyết
Trang 17định, dẫn đến sự khác biệt về tính cách, lối sống Quan điểm này gọi chung là quyết định luận địa lí, đây không chỉ là quan điểm của nhiều học giả thời cổ đại mà đồng thời cũng là quan điểm của nhiều nhà khoa học nổi tiếng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Thập niên 1980 xuất hiện thuyết địa văn hóa mới với các trường phái địa lý của Đức, Pháp, Mỹ cùng những cái tên tiêu biểu như Alexander Von Humbotdt, Paul Vidal
de la Blache, Carl Ortwin Sauer, Theo Sauer: “Văn hóa là tác nhân chính của sự biến đổi tự nhiên Bởi thế nó quan trọng hơn bất cứ sự thay đổi thời tiết nào có thể xuất
2009: 20] Giai đoạn này địa văn hóa thật sự thoát khỏi tiếng vang của quyết định luận địa lý, có những đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu văn hóa của nhân loại mà tập trung là quan hệ tương tác giữa con người và tự nhiên Môi trường tự nhiên không quyết định tất cả các hoạt động của con người mà chỉ giúp cho việc xác định các cơ hội
của con người [Đinh Thị Dung: Bài giảng địa văn hóa – các vùng văn hóa Việt Nam]
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, địa hình lãnh thổ lại đa dạng Chính trong môi trường tự nhiên đa dạng đó, con người đã có những hoạt động, những chiến lược thích hợp tùy theo bối cảnh tự nhiên dẫn đến sự đa dạng về văn hóa, tạo nên các vùng văn hóa với những đặc trưng riêng biệt Việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam thông qua
việc phân vùng văn hóa đã được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm Có rất nhiều quan niệm và nhiều cách phân vùng văn hóa ở Việt Nam Mỗi vùng sẽ có những sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử - xã hội, điều kiện địa lý – tự nhiên… dẫn đến sự khác
biệt về văn hóa.Trong đó địa lý tự nhiên là một trong những yếu tố cơ bản tác động
trực tiếp đến đặc trưng văn hóa vùng Do đó để làm nổi rõ đặc trưng của mỗi vùng,
miền trong tính thống nhất đa dạng của văn hóa Việt Nam thì phân vùng văn hóa dựa trên điều kiện tự nhiên về địa lý là một trong nhiều tiêu chí được nhiều nhà nghiên cứu
lựa chọn
Trang 18Ở Việt Nam, Đào Duy Anh được cho là người tiên phong trong hướng tiếp cận địa văn hóa Dấu vết của Quyết định luận địa lý được thể hiện khá rõ nét trong việc ông
lý giải các hiện tượng văn hóa trong Việt Nam văn hóa sử cương, ông cho rằng : “Cách
nhân của sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc: “Vì lẽ gì mà văn hóa các dân tộc lại
khác nhau như thế? Dù rằng cách sinh hoạt của các dân tộc không giống nhau Chính
13,14]
Trần Quốc Vượng đã có một số công trình nghiên cứu văn hóa dựa trên tinh thần
của thuyết Địa văn hóa Theo ông: “Thiên nhiên Việt Nam là điểm xuất phát của văn
con người những thử thách, những thách đố Văn hóa là sản phẩm của con người, là
Quốc Vượng 2008: 279]
Theo đó, chúng tôi tiếp cận Tây Nam Bộ với tư cách là một vùng văn hóa riêng
biệt từ góc nhìn địa văn hóa Theo Đinh Thị Dung: “Xét các tiêu chí cơ bản, Tây Nam
văn hoá và không gian này mang những đặc trưng chung xét trên bình diện môi trường
Đông Nam Bộ” [ Đinh Thị Dung: Tây Nam Bộ với tư cách là một vùng văn hóa và các
tiểu vùng của nó, www.vanhoahoc.vn] Đồng thời chúng tôi dựa trên cách phân vùng
văn hóa Tây Nam Bộ thành 5 tiểu vùng với những đặc điểm địa hình khác nhau của
Trang 19và là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Có thể khẳng định cùng với văn hóa lúa nước thì người Việt ở Kiên Giang cũng có những đặc trưng văn hóa gắn
liền với biển
Tuy nhiên, văn hóa biển không phải nơi nào cũng giống nhau mà trong sinh thái
biển bao gồm nhiều tầng lớp, các tiểu hệ sinh thái khác nhau với những những đặc
điểm địa hình và khí hậu khác nhau Cụ thể, “biển đại dương khác nhiều so với biển
văn hóa tương ứng.” [Ngô Dức Thịnh 2010: Truyền thống văn hóa biển cận duyên của
người Việt, Tạp chí VHNT số 317]
Chính vì thế văn hóa biển cũng khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực Riêng ở
Việt Nam, biển trong đời sống văn hóa cộng đồng dân cư người Việt cũng tồn tại và
thể hiện ở các mức độ khác nhau Các nhà nghiên cứu trong nước đã dùng “độ đậm
nhạt” để đánh giá mức độ ảnh hưởng của biển đến đời sống dân cư tại các vùng Trong công trình này, chúng tôi sử dụng cách phân chia vùng văn hóa biển của Ngô Đức
Thịnh Ông tạm chia nước ta thành 2 vùng, ở đó có những sắc thái đậm nhạt khác nhau
về truyền thống biển :
1 Tác giả đề xuất chia tây Nam Bộ thành 5 itểu vùng: tiểu vùng Đồng lũ kín, tiểu vùng Đồng lũ hở, tiểu vùng Phù
sa ngọt, tiểu vùng Giồng duyên hải và tiểu vùng ngập mặn
Trang 20- Đối với bộ phận người Việt từ Móng Cái tới Nghệ Tĩnh: yếu tố biển trong văn hóa truyền thống không thật đậm nét Việc khai thác nguồn tài nguyên biển chưa thật
mạnh, đây đó đều thấy sự kết hợp khá chặt chẽ giữa nông nghiệp và ngư nghiệp trong
từng cộng đồng dân cư Điều này có thể cắt nghĩa từ nhiều nguyên nhân: thứ nhất, biển
vịnh Bắc Bộ là biển nông, biển nội địa, ít có dòng hải lưu lớn, do vậy mật độ cá tập trung không cao; thứ hai, nguồn gốc cư dân ven biển nơi đây chủ yếu là dân nông nghiệp di cư từ trung du và đồng bằng tới, mang theo truyền thống của người làm nông nghiệp để ra khai thác biển; và thứ ba, ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trước kia người Hoa cùng với người Việt khai thác, do vậy, chỉ một lượng nhỏ cư dân Việt làm nghề này cùng với người Hoa là đã đủ lượng hải sản cung cấp cho cư dân nông nghiệp trong đất
liền rồi Từ sau 1978, người Hoa di cư đi nhiều thì người Việt đã thay thế và chiếm lĩnh địa bàn khai thác nguồn hải sản này
- Đối với bộ phận cư dân ven biển của người Việt từ Nghệ Tĩnh vào nam: truyền
thống biển trong văn hóa đậm nét hơn Hơn thế nữa, các làng ngư nghiệp ở vùng này cũng thuần nhất hơn, việc khai thác thủy hải sản chiếm tỷ lệ cao hơn so với nông nghiệp Điều này có thể giải thích bằng nhiều nguyên nhân:thứ nhất, vùng biển này sâu hơn (khoảng trên 200m), có hải lưu nóng và lạnh đi qua nên tập trung nhiều động vật phù du, khiến đàn cá hội tụ với mật độ cao, do vậy sản lượng đánh bắt lớn hơn so với
vịnh Bắc Bộ; thứ hai, người Việt vào nơi đây đã tiếp thu truyền thống khai thác biển
của người Chăm; và thứ ba, đây là vùng biển gần như độc chiếm của người Việt, họ đứng ra cáng đáng việc cung cấp nguồn sản phẩm biển (hải sản, muối) cho cư dân nông nghiệp trong đất liền [Ngô Đức Thịnh 2010: Truyền thống văn hóa biển cận duyên của người Việt, http://vhnt.org.vn]
Như vậy, với điều kiện tự nhiên đặc thù là vùng đất cửa sông giáp biển với rừng đước mặn ven biển trên nền đất phù sa nên nền văn hóa biển được đan xen bên cạnh
yếu tố nông nghiệp tạo nên sự thống nhất trong đa dạng Văn hóa biển Kiên Giang
Trang 21được xem là một trong những vùng đặc trưng cho văn hóa biển của toàn vùng Tây Nam Bộ
1.1 2 Tiếp cận từ Sử - Văn hóa
Yếu tố địa lý – tự nhiên không quyết định tất cả, vai trò của con người trong hoàn
cảnh xã hội – lịch sử cụ thể trên nền không gian văn hóa cũng góp phần tạo nên đặc trưng văn hóa vùng Việc tiếp cận văn hóa từ góc nhìn sử văn hóa giúp chúng ta hiểu
một cách đầy đủ về tiến trình lịch sử của văn hóa bởi bất kỳ nền văn hóa nào cũng hình thành và phát triển trong những hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định “Nói đến văn hóa
văn hóa đều đánh dấu một bước tăng tiến khả năng con người tác động đến ngoại giới,
Đào Duy Anh cũng đã nói về quan niệm nghiên cứu sử văn hóa của ông như sau:
Tiếp cận lịch sử văn hóa chúng ta phải tiến hành phân kỳ lịch sử văn hóa Theo
Ngô Đức Thịnh, việc phân kỳ lịch sử văn hóa : “Là một thời kỳ lịch sử mà ở đó trong
Đức Thịnh 2005: Một cách tiếp cận về lịch sử văn hóa Việt Nam, huc.edu.vn]
Trang 22Do đặc điểm của lịch sử Kiên Giang chỉ mới hình thành hơn 300 năm tính từ đầu
thế kỷ XVII, quá trình chuyển tiếp văn hóa lại gắn liền với các sự kiện về chính trị xã
hội của vùng Nên các mốc chuyển giai đoạn trong lịch sử văn hóa gần như tương ứng
với các mốc chuyển trong phân kỳ lịch sử của tỉnh Đồng thời trong phân kỳ văn hóa
biển Kiên Giang, chúng tôi chú trọng các giai đoạn mà yếu tố biển trong đời sống người Việt có những bước chuyển tiếp rõ nét Theo chúng tôi thì đối với thời gian văn hóa Kiên Giang có thể chia làm 4 thời kỳ lịch sử chính:
- Văn hóa Óc Eo
Vào khoảng thế kỷ I đến thế kỷ VI sau Công nguyên đã có cư dân cổ sinh sống ở đây, hiện còn nhiều dấu vết trong lòng đất Các kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy văn hóa Óc Eo từng tồn tại và chủ nhân của nó đã có một trình độ khá cao về tổ chức
xã hội và hoạt động kinh tế Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì tên gọi Óc Eo vốn lấy tên từ một cửa/cảng và biển cũ nay thuộc tỉnh Kiên Giang và một hệ đảo nay chìm trong vịnh Thái Lan [Trần Quốc Vượng 2000: 520] Họ chính là người đầu tiên chiếm lĩnh đồng bằng sông Cửu Long ngay khi biển rút đi Giao thương về đường biển khá phát triển trong giai đoạn văn hóa Óc Eo “Các cư dân ven biển ở châu thổ sông Cửu
Long đã tiếp xúc với các thuơng nhân bên ngoài từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên
tràn sang phía tây đến tận bờ biển Châu Phi, và phía bắc, đến tận Trung Hoa Họ đem
Sau nhiều thế kỷ tồn tại, nền văn hóa Óc Eo đã suy tàn vào khoảng cuối thế kỷ VII Khoảng thời gian sau đó cả vùng đất Nam Bộ trở thành vùng đất hoang vu cho đến
thế kỷ thứ X Biển rút dần để lộ những giồng đất lớn như Giồng Riềng, Trà Cú, Sóc Trăng Từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ XVI, quốc gia Ăng co ra đời và trở thành một nhà nước quân chủ chuyên chế Trung ương tập quyền mạnh, sự đàn áp và bóc lột dã
Trang 23man của đế chế Ăng co đối với nhân dân Khmer đã tạo một làn sóng di cư chậm rãi về phía Đồng bằng sông Cửu Long Tiếp sau đó với sự sụp đổ của quốc gia Ăng co,
những làn di dân lớn lại tiếp tục tràn về khu vực này Riêng vùng đất Hà Tiên – Rạch Giá hình thành ba trục dân Khmer Nam Bộ: Rạch Giá, Rạch Tía (Gò Quao) và Chắc Băng (Vĩnh Thuận) Họ chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, làm nghề thủ công
Họ quan hệ với nhau rất lõng lẻo do giao thông cách trở
Có thể đánh giá vào giai đoạn này sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực đồng
bằng sông Cửu Long và khu vực Hà Tiên Rạch Giá trước thế kỷ XVII là rất chậm
chạp So với cư dân Óc Eo trước đây sự tiến triển của tộc người Khmer Nam Bộ về mặt
cải tạo thiên nhiên, tổ chức xã hội chưa có chuyển biến lớn Vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn là vùng đất hoang vu cho đến thế kỷ XVII Về mặt hành chính vẫn chưa có
hệ thống chính quyền nào quản lý Vì cư dân chủ yếu của giai đoạn này là người Khmer với nền kinh tế tự nhiên, chủ yếu là hoạt động nông nghiệp Đất đai thừa thãi nên họ sống bằng nghề trồng lúa nước, làm các nghề thủ công, đánh bắt cá đồng Yếu
tố biển chưa có nhiều ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của họ
- Thời gian văn hóa Kiên Giang giai đoạn từ 1708 - 1867
Tr ấn Hà Tiên dưới thời các chúa Nguyễn (1708 – 1801)
Thế kỷ XVII đánh dấu cho những bước chân đầu tiên của người Việt đến vùng đồng bằng sông Cửu Long Buổi đầu là những cuộc di dân tự nhiên tới Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc Đất rộng người thưa, lại chưa có hệ thống chính quyền nào quản lý về
mặt hành chính Mãi đến năm 1698, chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) sai Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý vùng Đồng Nai – Gia Định, thiết lập chính quyền Việt Nam đầu tiên tại đây Phủ Gia Định được thành lập gồm huyện Phước Long (Đồng Nai với dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) với dinh Phiên
Trấn Lúc bấy giờ thế lực của Chúa Nguyễn đang mạnh và ảnh hưởng lớn đến khu vực
Trang 24Đồng bằng sông Cửu Long Ở vùng Kiên Giang, lưu dân người Việt đang là lực lượng
chủ lực khai phá vùng đất này
Trấn Hà Tiên chính thức trở thành một đơn vị hành chính của nhà nước phong
kiến Việt Nam ở Đàng Trong vào năm 1708 Việc chính quyền được thành lập trong điều kiện vùng đất mới đã kích thích sự quy tụ của dân cư bởi chính sách ruộng đất hợp
lý là miễn địa tô, các Chúa Nguyễn đã dành cho Trấn Hà Tiên một quy chế phù hợp
với đặc điểm phát triển của vùng trong giai đoạn đó
Được sự giúp đỡ và yểm trợ của chính quyền chúa Nguyễn, dưới sự điều hành
của Mạc Thiên Tứ, trấn Hà Tiên phát triển nhảy vọt Đặc biệt là việc mở rộng thương
cảng cho thuyền buôn các nước như Campuchia, Trung Quốc, Mã Lai, Indonesia, Xiêm, Ấn Độ,…cập bến Hàng hóa thường là các loại hải sản của vùng như cá khô, tôm khô, đồn đột và các loại nông lâm sản Về thủ công nghiệp lúc bấy giờ có nhiều nghề thủ công truyền thống như: nghề ăn ong và khai thác lông chim ở U Minh
Thượng; khai thác dầu mít, chế biến nước mắm ở Hòn Rái, Hòn Tre, Phú Quốc Vùng ven biển đánh bắt hải sản, làm tôm khô, cá khô, đồn đột, mắm ruốc,…Tuy nhiên do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, là nơi biên viễn Cùng với tình trạng chiến tranh liên miên bởi sự tranh chấp về chính trị, quân sự của các nước trong khu vực Trấn Hà Tiên
vẫn chưa thể phát triển mạnh Đạo Kiên Giang (vùng Rạch Giá ngày nay) cùng với khu dân cư thưa thớt chưa đóng vai trò quan trọng lắm Truyền thống đấu tranh chống áp
bức, chống ngoại xâm cũng diễn ra sôi nổi vào giai đoạn này do sự thống trị hà khắc
của triều đình, sự xâm lược của phong kiến Xiêm,…
Tr ấn Hà Tiên dưới triều Nguyễn (1802 -1867)
Dưới thời Gia Long, trên địa bàn toàn trấn đã có các khu dân cư người Việt với
những đơn vị hành chính được vạch định rõ ràng Dân cư tập trung từ vùng nội địa, ven
biển và tới cả hải đảo Do người dân Phú Quốc đã hết lòng cưu mang, ủng hộ Nguyễn Ánh trong quá trình chịu sự truy đuổi của quân Tây Sơn nên sau khi lập lại vương
Trang 25quyền, vua Gia Long đã có nhiều chính sách ưu đãi đảo Phú Quốc, người dân được
miễn sưu thuế giao dịch, ghe thuyền buôn bán hay đánh cá cũng được miễn thuế,… Tới
giữa thời Tự Đức, 2 huyện Hà Châu (huyện Hà Tiên ngày nay) và Kiên Giang gồm 9
tổng, 129 xã, thôn và bang phố
Do bị kìm hãm bởi chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn nên
đô thị Hà Tiên trở nên tiêu điều Chợ Rạch Giá (tên chữ là chợ Sái Phu), huyện lỵ Kiên
Giang được sử sách đương thời khen là quán xá liên tiếp, thuyền buôn tấp nập [Sở văn
hóa thông tin Kiên Giang 2000: 162] Năm 1841, Thiệu Trị cho đắp đồn đất (gọi là bảo huyện Kiên Giang) tại khu vực Ủy ban nhân dân tỉnh bây giờ để bảo vệ cửa biển này Nghề biển phát triển mạnh, hải sản không chỉ đủ cung cấp cho vùng Kiên Giang
mà còn trở thành hàng hóa xuất khẩu quan trọng như cá khô, bong bóng cá, vây cá, đồn
đột, yến sào,… Theo Trịnh Hoài Đức, “tôm đỏ ở biển, phơi khô bán cho ghe buôn, duy
(hải sâm) thì “ở Hà Tiên có 2 loại trắng và đen, mỗi năm sản xuất hơn 5000 cân” [Sở
văn hóa thông tin Kiên Giang 2000: 162] Các Hòn Rái, Hòn Tre sản xuất dầu rái, nước
mắm hòn Riêng về dầu rái, Trịnh Hoài Đức cho biết “tổng cộng số dầu có 2.000.000
cân, dùng để trẻ ghe thuyền, làm đèn đuốc được nhiều tiện lợi” (số liệu cho toàn vùng
Gia Định) [Sở văn hóa thông tin Kiên Giang 2000: 163]
Ngoài việc xây dựng cơ sở hạ tầng, triều đình nhà Nguyễn còn đẩy mạnh hình
thức khẩn hoang bằng việc kiến lập đồn điền và dinh điền Đây là một hình thức rất thích hợp cho vùng ven biển Hà Tiên - Rạch Giá Tuy nhiên song song với điều đó, triều Nguyễn cũng đánh nhiều thứ thuế như: điền thổ, thân, đinh, thuế cảng, thuế quan tân, thuế lấy lông chim,… làm cho cuộc sống người dân ngày càng cơ cực
Đầu thế kỷ 19, thực dân Pháp bắt đầu chú ý tới vị trí địa lý rất quan trọng của Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam Chính phủ Pháp cần có một căn cứ ở biển Đông để làm chỗ dựa cho thuyền bè Pháp trên các vùng biển Thái Bình Dương Thực dân Pháp
Trang 26mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng năm 1858, với việc
ký hiệp ước Nhâm Tuất ngày 5/6/1862, triều đình Huế đã chuyển nhượng đất đai ba
tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cùng đảo Côn Lôn cho thực dân Pháp Việc
“cắt đất cầu hòa” này đã gây ra nhiều phẫn nộ đối với nhân dân Nam Kỳ, vì vậy một làn sóng tị địa tản cư (bỏ quê mà đi) ra khỏi ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường về các tỉnh phía bờ tây sông Hậu, trong đó Hà Tiên Rạch Giá là một trong
những điểm dừng của làn sóng di dân này Tháng 6/1867, thực dân Pháp tiếp tục thâu tóm ba tỉnh miền tây Nam Bộ (Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên)
- Thời gian văn hóa Kiên Giang giai đoạn (1867 – 1945)
Về mặt xã hội, cũng giống như những nơi khác trong nước giai đoạn này, xã hội Kiên Giang phân hóa rõ rệt: giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân, giữa người chủ đất
và người khai thác đất Quan hệ điền chủ - tá điền xuất hiện ở Rạch Giá thời Pháp thuộc không hoàn toàn giống với quan hệ điền chủ - tá điền dưới thời Nguyễn trước đây Nếu như trong chế độ phong kiến Việt Nam, quan hệ điền chủ - tá điền hình thành
dần dần cùng với việc phát triển chế độ ruộng tư trong lịch sử thì ở Rạch Giá quan hệ điền chủ - tá điền ra đời trực tiếp từ chính sách khai thác kinh tế của thực dân Pháp, được chế độ thực dân nuôi dưỡng để kết hợp sự bóc lột theo chủ nghĩa thực dân với bóc lột theo kiếu phong kiến nhằm bỏ vốn ít nhất mà thu lợi nhuận nhiều nhất Trước hoàn cảnh đó, nhân dân Kiên Giang đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh, tiêu biểu có cuộc
khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực
Thực dân Pháp ra sức bóc lột người dân Kiên Giang thông qua việc thuế đoan và thuế độc quyền ở các mặt hàng xuất nhập khẩu và các mặt hàng công quản Đáng chú ý
là 3 loại công quản: rượu, muối, thuốc phiện Trong đó việc độc quyền muối của thực dân Pháp là một tai họa thật sự đối với người dân nơi đây bởi ngoài việc ảnh hưởng
trực tiếp đến những những người kinh doanh ruộng muối, mà còn ảnh hưởng đến các
Trang 27ngành kinh tế biển của Hà Tiên, Phú Quốc, Rạch Giá như: đánh bắt cá, làm nước mắm, làm khô, làm mắm,…
Về văn hóa – giáo dục, chủ trương của Pháp là khiến người dân Kiên Giang “ngu dân về giáo dục, đầu độc về văn hóa” Do đó, chính sách giáo dục tuân thủ nguyên tắc đào tạo một lớp người có trình độ học vấn vừa phải, triệt để khai thác nội dung của nền giáo dục phong kiến, lạc hậu,… Với những người dân lao động, việc cho con em đến trường vốn rất khó khăn do họ phải è lưng ra kiếm sống và kiếm tiền đóng thuế, nghề đánh cá lại là nghề cha truyền con nối nên họ cũng không mặn mà việc học hành của con cái Chính những điều đó đã dẫn đến việc 95% dân số của tỉnh không biết chữ Đồng thời, thực dân Pháp còn khuyến khích tư tưởng phong kiến lạc hậu, các tệ nạn cờ
bạc, nghiện hút, mê tín dị đoan,… để đầu độc người dân Tuy nhiên, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3.2.1930), chính quyền cách mạng đã nỗ lực vận động phong trào chống dốt và kiểm soát gắt gao các tệ nạn
Trong hai đợt khai thác thuộc địa của Pháp, kinh tế vùng Hà Tiên - Rạch Giá bị chi phối mạnh mẽ bởi tình hình thời sự, động lực kinh tế chủ yếu là để tồn tại và trốn tránh thực dân Pháp hơn là để làm giàu Thực dân Pháp ra sức chiếm đoạt, tư hữu
ruộng đất bởi nông nghiệp là ngành đầu tư ít vốn mà dễ dàng thu được nhiều lợi nhuận Ngư nghiệp phát triển, nhất là ở các đảo Hầu hết cư dân người Việt ở các đảo đều làm nghề chài lưới hoặc những ngành nghề liên quan như làm nước mắm, chế biến cá, hải sâm,… Thực dân Pháp không đầu tư vào lĩnh vực này, chỉ đánh thuế ngư trường, thuế
muối, thuế thuyền bè Mọi hoạt động đánh bắt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm đúc kết, thuyền bè còn rất thô sơ vì vậy ngư dân không thể đánh bắt xa bờ
Vai trò của cảng biển Rạch Giá ngày càng trở nên quan trọng, là trung tâm thương nghiệp của các tỉnh miền Tây Sơn Nam miêu tả về cảng Rạch Giá như sau:
“Tàu bu ồm Hải Nam ra vào cửa Rạch Giá tấp nập Vào tháng gió chướng nhiều khi 20
Trang 28yếu so với Rạch Giá Cảng Hà Tiên là thương cảng của những sản phẩm biển và hàng hóa phục vụ cho vùng trồng tiêu và nghề biển
- Th ời gian văn hóa Kiên Giang từ sau 1954 đến nay
Sau năm 1954, Mỹ và chính quyền Sài Gòn chiếm đóng và đặt ách cai trị lên toàn vùng và các đảo Giai đoạn này do có sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, phương tiện đánh bắt thủy hải sản tiến bộ hơn nên năng suất cũng cao hơn Hệ thống giao thông cũng phát triển hơn Dân số của tỉnh, đặc biệt là đảo Phú Quốc tăng nhanh do Mỹ đưa quân đội và gia đình họ lên đảo, nhất là trại giam tù binh và bộ máy quản lý tù binh ở
An Thới Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, mảnh đất và con người Kiên Giang đã góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh oai hùng của dân tộc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Hà Tiên đã anh dũng vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, xây dựng lực lượng vũ trang, bám trụ đánh địch tạo nên những chiến công oanh liệt
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, hòa cùng không khí chung của cả nước, người dân Kiên Giang tiến hành xây dựng củng cố nền kinh tế của tỉnh với các ngành mũi nhọn là nông nghiệp, ngư nghiệp và dịch vụ Trong đó với chủ trương tập trung phát triển kinh tế biển, hải đảo theo chiến lược Biển của Chính phủ, tỉnh đã tập trung xây dựng kinh tế trọng điểm ven biển Rạch Giá – Hà Tiên – Phú Quốc Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ - du lịch và công nghiệp mũi nhọn Cơ cấu theo thành phần kinh tế của tỉnh cũng có sự chuyển biến tích cực Với chủ trương khuyến khích đầu tư nước ngoài, trong nền kinh tế của tỉnh đã có sự tham gia của thành phần kinh tế nước ngoài và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP của tỉnh Đời sống của người dân Kiên Giang từ việc ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, y tế đến giải trí, thể dục thể thao đã được cải thiện đáng kể Bắt đầu từ giai đoạn này người dân Kiên Giang đã biết vận
dụng nhiều ngành nghề đánh bắt khác nhau để nâng cao sản lượng khai thác thủy hải
sản, đồng thời nghề nuôi trồng hải sản cũng được áp dụng ở các vùng ven biển
Trang 29Hiện nay tỉnh Kiên Giang bao gồm một thành phố ( Rạch Giá – đô thị loại 3), 1
thị xã (Hà Tiên), 10 huyện đất liền: Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành,
Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng; 2 huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải Thế mạnh về nền kinh tế biển đã có những ảnh hưởng không
nhỏ đến đời sống văn hóa của người nơi đây Đặc biệt là cộng đồng người Việt – chủ
thể đại diện của văn hóa biển Kiên Giang
1.1.3 Tiếp cận từ góc độ giao lưu và tiếp biến văn hóa
Tiếp cận địa văn hóa chỉ là một cách tiếp cận trong văn hóa học Để khảo sát
yếu tố biển trong đời sống văn hóa người Việt Kiên Giang, cần kết hợp với những cách
tiếp cận khác như tiếp cận từ góc độ giao lưu và tiếp biến văn hóa Theo Ngô Đức
Thịnh: “Về các nhân tố góp phần tạo nên vùng văn hóa, chúng ta nhấn mạnh một cách
đúng mức hơn vai trò môi trường tự nhiên trong mối quan hệ tác động qua lại với con người, chú ý tới nhân tố nguồn gốc tộc người, những tương đồng về trình độ phát triển
giáo, đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của giao lưu ảnh hưởng văn hóa trong việc tạo
hóa văn hóa các dân tộc khác vừa vẫn giữ gìn, phát huy được bản sắc văn hóa truyền
2Ngô Đức Thịnh: Nghiên cứu vùng văn hóa khuynh hướng và các vấn đề, Tạp chí văn hóa dân gian; 3/1989, trang 17
Trang 30th ống của dân tộc mình theo hướng “hòa mà không tan” trong tiến trình phát triển của văn hóa dân tộc [Huỳnh Quốc Thắng 2003: 41 - 42]
Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Kiên Giang nói riêng là vùng đất mới so
với chiều dài lịch sử của dân tộc Những cư dân từ khắp nơi quy tụ về đã tạo nên quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa vô cùng sôi động Trong quá trình sinh sống, người
Việt đã có sự giao lưu văn hóa với các tộc người khác trong vùng như người Khmer, người Hoa, người Chăm và cả phương Tây sau này Do đó bên cạnh vai trò của người
Việt thì các dân tộc ấy cũng có những đóng góp quý báu trên mọi phương diện, đặc
biệt về văn hóa
Có nhiều giả thuyết cho rằng vùng đất Kiên Giang (cụ thể là đảo Phú Quốc) đã
từng có cư dân cổ sinh sống lâu đời dựa vào những di chỉ khảo cổ và dấu tích một thời
của nền văn hóa Óc Eo Chúng ta không thể khẳng định được cụ thể về mặt thời gian
bởi nền văn hóa giả thuyết ấy đã đột ngột kết thúc và vùi sâu trong lòng châu thổ Từ
thế kỷ XVII, vùng đất Nam Bộ nói chung mới bắt đầu xuất hiện lớp cư dân mới
Hiện nay Kiên Giang là tỉnh có nhiều tộc người sinh sống, trong đó có 3 tộc người đông dân là người Việt, người Khmer và người Hoa Theo trình tự thời gian thì người Việt là lớp cư dân thứ ba đến vùng đất Kiên Giang sau người Khmer và người Chăm, tiếp đến là người Hoa
Người Hoa ở Kiên Giang chiếm 2,16% dân số tỉnh và tập trung nhiều ở Rạch Giá, Châu Thành Ngoài ra, ở thị xã Hà Tiên và các huyện như Kiên Lương, Gò Quao,
Giồng Riềng, Vĩnh Thuận, Phú Quốc cũng có khá đông người Hoa sinh sống Họ chủ
yếu làm nghề nông, thương nghiệp, thủ công nghiệp Khác với các vùng khác, ẩm thực
của người Hoa không có nhiều chỗ đứng trong văn hóa ẩm thực Kiên Giang Bởi ẩm
thực người Hoa vốn tương đối cầu kỳ và nhiều công đoạn chế biến, cần nhiều nguyên
liệu, trong khi đó, người Việt di cư đến vùng đất này đa số thuộc thành phần dân nghèo, tập quán ăn uống vốn đã rất đạm bạc, lại thêm buổi đầu khẩn hoang phải lao
Trang 31động vất vả nên họ không giành nhiều thời gian cho việc chế biến thức ăn, các món ăn
vốn lấy từ nguồn lợi thủy hải sản thiên nhiên nên rất tươi ngon, chỉ cần chế biến đơn
giản Dấu ấn văn hóa Trung Hoa trên đất biển Kiên Giang khá rõ ở lĩnh vực đời sống tinh thần, đặc biệt là tục thờ bà Thiên Hậu – vị nữ thần được xem là người che chở cho ngư dân Kiên Giang qua nhiều thế kỷ
Người Khmer chiếm tỉ lệ 12,19% sống thành phum, sóc ven các sông rạch hoặc các đường giao thông xen kẽ với các thôn ấp người Việt Người Khmer tập trung nhiều
ở huyện Châu Thành và Gò Quao Ngoài ra các huyện Giồng Riềng, Hòn Đất, An Biên cũng có khá đông người Khmer cư trú Họ chủ yếu trồng lúa nước và các loại hoa màu
Ở một số vùng ven sông, biển người Khmer cũng làm nghề đánh bắt cá nhưng chủ yếu
là cá đồng, cá sông Phật giáo Nam Tông chi phối sâu sắc đời sống của người Khmer trong vùng, các lễ hội truyền thống của họ cũng trở thành những ngày hội chung cho người dân Kiên Giang cùng tham gia sôi nổi Ảnh hưởng lớn nhất của văn hóa Khmer đến văn hóa biển Kiên Giang có lẽ là trên lĩnh vực ẩm thực với việc sử dụng khá phổ
biến sả, nghệ, ngải, nước cốt dừa để chế biến thức ăn
Người Chăm chiếm số lượng ít nên những ảnh hưởng văn hóa đến đời sống văn hóa người Việt Kiên Giang không nhiều như với người Hoa và người Khmer Tuy nhiên, yếu tố Chăm trong văn hóa biển Kiên Giang khá rõ vì lưu dân Việt đã hấp thu từ văn hóa Chăm ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Chăm trên bước đường khai phá của người Việt từ miền Bắc, miền Trung để vào miền Nam trong môi trường văn hóa mới đã làm cho tín ngưỡng và tập tục trở nên
Việt hóa hoàn toàn trên vùng đất Nam bộ
Văn hóa phương Tây du nhập vào Kiên Giang khá sớm qua con đường giao thương và sau đó là qua con đường xâm lược Để thuận tiện hơn cho việc thu phục và
vơ vét, Pháp cũng như Mỹ đã tiến hành những đường lối chính sách về kinh tế, quân sự trên vùng đất Nam bộ nói chung Bên cạnh đó thực dân Pháp cũng rất chú ý đến lĩnh
Trang 32vực giáo dục và văn hóa tinh thần Kiên Giang có điều kiện tiếp xúc với các yếu tố văn hóa phương Tây từ rất sớm như: đạo Thiên chúa, chữ quốc ngữ, báo chí, tiểu thuyết, thơ mới, Âu phụ, Tuy nhiên, do chủ yếu khai thác ở lĩnh vực nông nghiệp nên kết
quả của quá trình giao lưu với văn hóa phương Tây chủ yếu là việc hình thành ý thức
về hoạt động du lịch biển của người dân Kiên Giang Song song đó, cơ sở hạ tầng, giao thông toàn tỉnh và đảo Phú Quốc cũng được phát triển do Pháp, Mỹ đặt nhà tù và mang gia đình, người thân ra đảo
Người Việt – chiếm 85,59% dân số của tỉnh – được coi là chủ thể văn hóa chính
của toàn tỉnh Kiên Giang Trong quá trình giao lưu văn hóa, người Việt ngày càng chiếm số đông và có nhiều đóng góp tích cực trong hoạt động văn hóa và kinh tế nên
tiếng Việt được sử dụng như ngôn ngữ giao tiếp chính của vùng Nhiều hoạt động sinh
hoạt hàng ngày như cách ăn, mặc, xây nhà, phong tục,… của người Việt cũng chịu ảnh hưởng của người Hoa, người Khmer và người Chăm Tuy nhiên, sự tiếp thu này trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc giúp cho nền văn hóa của người Việt ở Kiên Giang đã được nâng lên, phong phú hơn và nhiều nét đặc sắc, khu biệt với văn hóa của người
Việt ở những vùng khác, đặc biệt là vùng văn hóa miền Trung với văn hóa biển vốn được coi là cái nôi của văn hóa biển Nam bộ
1.2 C ơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm cư dân vùng
Người Việt sớm trở thành cư dân đa số ở Kiên Giang qua các cuộc di dân Quá trình di dân diễn ra liên tục và càng được đẩy mạnh hơn bởi chủ trương tiến về phương Nam của các chúa Nguyễn Là vùng đất thuộc một trong ba vùng khẩn hoang lớn nên
tập trung nhiều dân phiêu tàn từ miền Bắc, miền Trung (Đàng Trong, Đàng Ngoài) với nhiều lý do và thành phần khác nhau Theo Huỳnh Lứa trong Lịch sử khai phá vùng
đất Nam Bộ thì “Ngoài số nông dân nghèo thất sở, xiêu tán, trong lớp người Việt đến đây còn phải kể đến những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày,
Trang 33nh ững binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo… kể cả những người vốn đã giàu có nhưng muốn tìm nơi đất mới để mở rộng công việc làm ăn” [
Huỳnh Lứa 1987: 42] Từ 1658 đến 1669, do nhu cầu cần tập trung sức mạnh, gấp rút xây dựng khu biệt để chống lại Đàng Ngoài nên chúa Nguyễn dùng mọi biện pháp, từ khuyến khích dụ dỗ tới cưỡng bức, “đẩy” người vào cực Nam để khai hoang Ai tình nguyện đi khai hoang thì được miễn sưu thuế Đến năm 1954, Mỹ Diệm đưa hơn bốn mươi ngàn dân Thiên chúa vào Rạch Giá Trong đó 3000 người được đưa sang Phú
Quốc So với các tộc người khác, tộc người Việt là tộc người di cư đều đặn hàng năm đến vùng đất Kiên Giang, để dần dần trở thành tộc người có số lượng đông đảo và cùng
với việc khai khẩn đất đai, lập làng lập xóm, vai trò của người Việt ngày càng quan
trọng
Do buổi đầu khai phá, nơi đây vẫn còn hoang sơ và nguy hiểm, thiên nhiên lại
khắc nghiệt nên những người mới đến thường cư trú theo từng nhóm (thường là đồng hương hoặc cùng vùng, miền), tập trung theo mô hình làng xã Đây cũng là nét truyền
thống họ mang từ miền Bắc và Trung vào Tuy nhiên qua hành trình từ Bắc vào Nam,
lại do địa giới chưa vạch định rõ, dân cư lại thưa thớt nên làng người Việt ở Kiên Giang nói riêng, Nam bộ nói chung là những làng mở, luôn luôn biến động về quy mô, dân cư và dân số Làng xóm cũng như cơ cấu xã hội không chặt chẽ như ở nông thôn
miền Bắc bởi đây là vùng đất mới do dân tứ xứ đến khai phá, họ chưa chắc rằng nơi đây sẽ là vùng đất họ có thể bám suốt đời, họ sẵn sàng rời làng quê cũ để đi đến những nơi dễ làm ăn hơn Giai đoạn đầu cư dân đều là tiểu chủ, ruộng đất trong làng đại bộ
phận là đất tư, quan hệ giữa các cư dân trong làng đa số là quan hệ láng giềng Đấy là
một xã hội bình đẳng, dân chủ, rộng mở và rất năng động Bảy làng của trấn Hà Tiên: Hương Úc (Vũng Thơm), Kom-pông-xôm, Trũng Kè (hay còn gọi là Lũng Kỳ hay
Luống Cày), Cần Bột (còn gọi là Cần Một hay Kam-pốt), Giá Khê (Rạch Giá), Phú
Quốc và Hà Tiên tập trung ở những nơi cao ráo, chỉ nằm rải rác dọc theo bìa bờ đông
vịnh Thái Lan với một chiều sâu nội địa hết sức hạn hẹp Trong bốn làng Phú Quốc, Hà
Trang 34Tiên, Rạch Giá và Cà Mau Trừ Hà Tiên, cư dân 3 làng còn lại sinh sống chủ yếu bằng nghề cá biển, nghề trồng lúa nước
Bên cạnh việc khai phá trên khu đất hẹp ven biển, cư dân các đảo Phú Quốc, Thổ Chu cũng đã tiến hành khai hoang vỡ đất phục vụ cho canh tác nông nghiệp song song
với việc kiếm sống chính bằng cách đánh bắt cá trên kênh rạch và trên biển cả
Do cùng là người tứ xứ mưu cầu cuộc sống nơi vùng đất mới nên người Việt luôn đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Khi xung quanh không nguồn cội thân thích thì quan hệ láng giềng được coi trọng với phương châm “bán anh em xa mua láng giềng gần” nên họ rất quý mến bạn bè Đồng thời do việc bắt đầu cho cuộc sống
mới cần nhiều trợ giúp về sức lao động, lại hoạt động nghề biển nên tính cộng đồng lại càng cao Việc giúp đỡ nhau trái ớt quả cà, tối lửa tắt đèn có nhau là chuyện thường tình Việc tụ họp anh em lại nhậu nhẹt sau chuyến đánh cá trên biển của ngư dân Kiên Giang nói chung có lẽ một phần bắt nguồn từ những buổi nói chuyện tâm tình, chia nhau món ngon bắt được từ biển… Dần dà trở thành một thói quen, cứ sau những buổi lao động, đánh bắt cá trên biển là họ thường tụ tập để ăn nhậu, kể chuyện rừng, chuyện
biển,…
Nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách của người Việt miền Tây Nam Bộ nói chung và người Việt ở Kiên Giang nói riêng Do phải lao động để bắt đầu một cuộc sống mới trên vùng đất
mới nên người Việt luôn giữ nếp cần cù, chịu khó trong lao động vốn có của những cư dân miền Trung Bên cạnh nguồn gốc của thành phần di tán thì môi trường sống và lao
động cũng ảnh hưởng rất lớn : “Kẻ sĩ biết chữ, dân siêng làm ăn, quá nữa là nghề buôn
bán kĩ nghệ tầm thường ở gần biển thì làm nghề lưới đáy, cắm đăng để bắt cá; ở gần
1778] Quá trình di dân bằng đường biển cộng với quá trình lao động trên biển, sóng to gió lớn nên khi nói chuyện họ phải hét to, nói lớn … nên dần dần cách nói chuyện đó
Trang 35trở thành nét đặc trưng Bên cạnh đó, người Việt ở Kiên Giang cũng rất bình dị và chất phác bởi thành phần di cư đa số là nông dân nghèo thất học, dù vậy nhưng giai đoạn này rất ít xảy ra các tệ nạn trộm cướp: “Người quân tử hay chuộng điều nghĩa, siêng
Nam nhất thống chí, quyển 2, 2012: 1779] Tuy nhiên cũng chính vùng đất mới đã tạo nên tính cách phóng khoáng đặc trưng cho cư dân biển Kiên Giang Điều này có thể lý
giải bởi mặc dù phải lao động vất vả nhưng thiên nhiên Kiên Giang vốn rất ưu đãi
những lưu dân mới đến đây Chỉ tính riêng về những sản vật từ biển mà họ đánh bắt được cũng khiến họ có được cuộc sống no đủ Vì luôn trong thế “làm chơi ăn thật”, ngư dân Việt Kiên Giang luôn sống thoải mái, phóng khoáng trong cư xử hàng ngày
Mỗi khi đánh được nhiều cá hay cá to họ đều đem chia cho mọi người trong xóm Đất Kiên Giang còn là nơi sản sinh ra những con người hết lòng phấn đấu vì quê hương xứ sở Ngay từ thế kỷ XVII, những người Việt đầu tiên đến đấy đã phải đoàn
kết nhau mà đánh “giặc Hà Tiên” (hải tặc, quân Xiêm La, quân Cao Miên) Rồi đến thế
kỷ cuối thế kỷ XIX lại chung sức chung lòng trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Có biết bao tên tuổi đã làm nên lịch sử cho quê hương Kiên Giang như: Nguyễn Trung Trực, Đinh Sâm, Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự, Phan Thị Ràng,… Tấm lòng yêu nước của những con người nơi đây vốn đã có sẵn nền tảng truyền thống yêu nước lâu đời của dân tộc Việt Nam Đồng thời họ là những người người tha phương cầu thực với tâm lý bất mãn cao Qua thời gian khai hoang mở đất,
họ phải đổ mồ hôi nước mắt để xây dựng cuộc sống trên vùng đất mới này Được thiên nhiên nơi đây ưu đãi nên người dân Kiên Giang vô cùng gắn bó thiết tha với quê hương, luôn ra sức bảo vệ mảnh đất họ đã cưu mang họ, quyết sống chết với kẻ thù xâm lược
Trang 361.2.2 Đặc điểm bối cảnh địa lý - xã hội
Xét về địa hành chính Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính (13 huyện, 1 thị xã và
một thành phố) thì đã có 9 đơn vị có bờ biển Vùng biển rộng 63.290km2
gấp hơn mười
lần diện tích đất liền và chiếm 21% diện tích vịnh Thái Lan Ba quần đảo Nam Du, Phú
Quốc, Thổ Chu với 105 hòn đảo lớn nhỏ, bằng 1/10 diện tích mặt đất của tỉnh Đặc điểm địa hình tiêu biểu như trên cùng với điều kiện khí hậu có những điểm thuận lợi cơ
bản như: ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp đã giúp Kiên Giang phát triển các loại hình khai thác kinh tế đa dạng như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, du lịch,… Bên cạnh đó hệ văn hóa làng nghề với nguyên liệu từ biển hoặc phục vụ cho kinh tế biển như làng nghề làm nước mắm, làm khô, làm cần xé, thủ công mỹ nghệ,… cũng khá phát triển và tạo nên đặc trưng văn hóa vùng như nước mắm Phú Quốc, nghề làm đồi mồi Hà Tiên, đan cần xé Vĩnh Thuận,…
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang (nguồn: http://thienquyloc.com/, ngày đăng: 22/10/2013)
Trang 37Vị thế của biển Kiên Giang cũng tạo điều kiện cho giao thương đường biển Cảng
biển Kiên Giang phát triển từ khá sớm, đô thị Hà Tiên đã sầm uất ngay từ đầu thế kỷ XVIII Tiếp đến là sự phát triển phồn thịnh của trung tâm Rạch Giá, giữ vai trò đầu
mối cho cả khu vực miền Tây trong thời kỳ thuộc Pháp Sự đa dạng của những sản
phẩm khai thác được tất yếu sẽ nảy sinh những luồng mậu dịch để trao đổi theo quy
luật cung – cầu Câu tục ngữ “gạo Rạch Giá, cá Hà Tiên, tiền Phú Quốc” đã nói lên sự phát triển của kinh tế hàng hóa vùng đất này Đồng thời vị trí địa lý của tỉnh cũng rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế mở cửa, giao lưu văn hóa do có cảng biển, sân bay
và có khoảng cách tới các nước ASEAN tương đối ngắn Đây còn là vùng dễ tiếp nhận ảnh hưởng từ bên ngoài hơn các vùng khác
Nét đặc trưng của vùng là biển hiện diện khắp nơi trong những yếu tố tưởng
chừng như chẳng liên quan gì đến biển, chẳng hạn như Rừng Kiên Giang không như
rừng ở Trung Bộ và Bắc Bộ bởi nơi đây tập trung chủ yếu là các loại rừng ven biển như rừng tràm, rừng ngập mặn Rừng ngập mặn nằm dọc theo ven biển từ rạch Tiểu
Dừa đến biên giới Campuchia với các các loại cây chủ yếu là mắm, đước, vẹt và dừa nước Đây là nơi cung cấp chất đốt, vật liệu xây dựng, chất nhuộm và cũng là nơi sinh
sống, nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng cho nhiều loại cá, tôm và nhiều loại giáp xác
Rừng ngập mặn của Kiên Giang có vai trò lớn trong bảo tồn, cải tạo đất và lấn biển
Rừng tràm là rừng đặc trưng của vùng đất phèn Trước đây rừng tràm U Minh bao gồm
cả một vùng từ Nam sông Cái Lớn đến tỉnh Bạc Liêu, nay chỉ còn trong một số xã của
ba vùng An Biên, An Minh và Vĩnh Thuận Vài khu vực ở Hà Tiên, Hòn Đất cũng còn
rải rác Rừng đã mang tới những đặc điểm văn hóa đặc sắc trong văn hóa mưu sinh, ẩm
thực và cư trú cho cư dân vùng Quá trình sinh sống và lao động đã giúp người Việt tận
dụng tốt những ưu thế của rừng mang lại, đồng thời cũng có những ứng phó kịp thời qua kinh nghiệm sinh sống
Trang 38Tuy thế so với các vùng khác của Đồng bằng sông Cửu Long thì thiên nhiên của Kiên Giang đa dạng, phức tạp và biến động hơn do là vùng tiếp giáp Núi, biển và quá trình bồi đắp vẫn đang tiếp tục Biển mang đến cho người dân lợi thế về ngư nghiệp nhưng cũng tạo ra những bất lợi cho nông nghiệp Do là tỉnh ven biển lại có nhiều kênh
rạch, kênh đào, chế độ thủy văn của Kiên Giang bị chi phối bởi các yếu tố: chế độ dòng
chảy của sông Hậu, chế độ thủy triều của vịnh Thái Lan và chế độ mưa nội vùng Mỗi năm ở Kiên Giang khi lưu lượng của sông Mê Kông tăng cao hơn khả năng chuyển tải
của dòng chính cộng với mưa nội vùng gây ra tình trạng úng lũ trên hầu hết diện tích
của vùng Tứ giác Long Xuyên, bán đảo sông Hậu và bán đảo Cà Mau Hằng năm vào đầu mùa khô hạn, vùng tứ giác Long Xuyên lũ thường về muộn cuối tháng 8 và đầu tháng 9, kết thúc vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 Mức ngập giảm dần theo hướng từ Đông sang Tây, tức từ phía giáp tỉnh An Giang ra biển Từ tháng 7 đến tháng 10, mặn xâm nhập vào nội vùng qua các kênh trục chính và hệ thống sông Cái Lớn, Cái Bé
Mức độ ngập mặn không gay gắt như vùng ven biển Đông, vùng bán đảo Cà Mau bị xâm nhập mặn nặng nhất, bắt đầu từ tháng 11, tháng 12 đến đầu tháng 5, hầu hết các kênh rạch đều bị nhiễm mặn Vùng Tứ giác Long Xuyên xâm nhập mặn diễn ra từ tháng 4 đến tháng 6, đầu tháng 7 Trong đó tháng 4 có mức độ nặng nhất, những năm bình thường, mặn xâm nhập sâu từ 7 – 8 km, những năm hạn nặng, mặn xâm nhập vào sâu từ 11 – 12 km Vùng Tây sông Hậu, mặn xâm nhập qua sông cái Lớn, Cái Bé tới các kênh trục vào sâu từ 2 - 3 km, thời gian nhiễm mặn ngắn, từ 2 đến 3 tháng Các vùng khác ven biển như Hà Tiên – Hòn Đất nước ngọt trở nên thiếu thốn, chẳng những cho nông nghiệp mà còn cho đời sống con người Tình hình đất nhiễm mặn, thiếu nước
ngọt trong mùa khô cũng ảnh hưởng khá lớn đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân nơi đây, chủ yếu ở các huyện ven biển như An Minh, An Biên, Kiên Lương, Hòn Đất và thị xã Hà Tiên
Cấu trúc cảnh quan môi trường sinh thái này đã tạo thành sự linh hoạt trong ứng
xử với môi trường của người Việt ở đây: tận dụng nguồn nước mưa trữ lại để sử dụng
Trang 39trong mùa khô, chuyển trồng lúa sang nuôi tôm, cua biển, thủy sản nước mặn,… Đồng
thời quá trình đương đầu với thiên nhiên nhiều biến động ở biển đã hình thành nên hoạt động tín ngưỡng tâm linh đặc trưng vùng biển Những hoạt động tâm linh nơi đây vốn được người Việt mang từ vùng biển Trung Bộ vào, hòa cùng những tín ngưỡng và tôn giáo mới, trong môi trường mới nên có phần khác biệt hơn
Ti ểu kết
Chúng ta có thể khẳng định sự có mặt của người Việt ở vùng đất Kiên Giang đã góp phần làm thay đổi toàn bộ diện mạo của vùng đất này Hơn 300 năm là một quá trình không dài so với lịch sử phát triển của các vùng khác trên cả nước nhưng xuyên
suốt quá trình khai mở vùng đất ven biển này, yếu tố địa - văn hóa, hoàn cảnh lịch sử -
xã hội của Kiên Giang cùng với quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa đã góp phần hình thành một văn hóa biển Kiên Giang mang những nét tương đồng nhưng cũng có những đặc trưng khác biệt so với văn hóa biển ở những vùng khác trên đất nước
Vì đây là vùng đất mới, lại có điều kiện tiếp xúc, giao lưu với nhiều luồng văn hóa ngoại lai nên về đời sống tinh thần lẫn đời sống vật chất của người Việt nơi đây đa
dạng và có nhiều khác biệt hơn so với người Việt ở miền Bắc và miền Trung Chúng ta
không phủ nhận những thế mạnh tạo nên những giá trị trong hoạt động nông nghiệp và khai thác thủy sản của người Việt đã tạo dựng qua hàng ngàn năm Nhưng vùng đất Kiên Giang với điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử ra đời của mình cũng ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa nơi đây Đồng thời vùng biển này hầu như được khai thác
chủ yếu bởi người Việt nên yếu tố biển trong văn hóa người Việt ở Kiên Giang mang nhiều giá trị mới được tích lũy trên vùng biển Kiên Giang
Trang 40CHƯƠNG 2 BIỂN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA
NGƯỜI VIỆT KIÊN GIANG
2.1 Dấu ấn của biển trong văn hóa ẩm thực
Ăn uống và văn hóa ẩm thực là đề tài muôn thưở đối với các nhà nghiên cứu vì phong cách ăn uống sẽ phản ánh khả năng tận dụng, ứng phó với môi trường tự nhiên
của cư dân một vùng Trong quá trình khai mở vùng đất mới, sản phẩm của môi trường
cư trú ảnh hưởng rất lớn đến ẩm thực của người Việt ở Kiên Giang và đã hình thành
khẩu vị ăn uống rất đặc trưng dựa trên sản vật địa phương Mặt khác, do quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người, ẩm thực Kiên Giang còn mang cả hương vị đậm đà của
miền Trung, thơm béo hài hòa của người Hoa và hơi ngọt của người Khmer
Bữa ăn của người Việt ở Kiên Giang vẫn theo cơ cấu thông dụng của người Việt Nam nói chung là cơm – rau – cá Ngoài gạo là thành phần cơ bản, thức ăn thường chỉ
có một đến hai món trong bữa ăn Bữa ăn từ bốn món trở lên rất ít ngoại trừ trong các
lễ tiệc Món thông dụng nhất là món mặn (thường là món kho) Để tiết kiệm thời gian, thay vì nấu canh rau thì chỉ cần rau sống hay dưa leo ăn kèm để đảm bảo chất xơ cho cho cơ thể Các loại thực vật ở Kiên Giang đa phần đều giống với thực vật các tỉnh khác ở Nam bộ, duy chỉ có nấm tràm là một món ăn đặc sản của Kiên Giang bởi nó được sinh trưởng và phát triển trong điều kiện tự nhiên nóng ẩm của cây tràm vùng ven
biển Kiên Giang Nấm tràm là một loại nấm trên thân cây tràm – loại cây mọc nhiều ở khu vực giáp giới U Minh Thượng – U Minh Hạ, rừng tràm Phú Quốc và rừng tràm thuộc xã Vĩnh Điều huyện Kiên Lương Đây còn là một vị thuốc dùng để giải nhiệt nên người dân thường nấu canh nấm tràm ăn lúc thời tiết nóng bức