1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác bổ sung tài liệu của thư viện đại học chuyên ngành khoa học xã hội trên địa bàn tp hcm trong sự biến động của thị trường xuất bản phẩm từ năm 2004 đến nay

145 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác bổ sung tài liệu của thư viện đại học chuyên ngành khoa học xã hội trên địa bàn tp hcm trong sự biến động của thị trường xuất bản phẩm từ năm 2004 đến nay
Tác giả Ngô Lan Phương
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Bắc
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học Xã hội
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA THƯ VIỆN - THÔNG TIN HỌC  NGÔ LAN PHƯƠNG CÔNG TÁC BỔ SUNG TÀI LIỆU CỦA THƯ VIỆN ĐẠI HỌC CHUYÊN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA THƯ VIỆN - THÔNG TIN HỌC

NGÔ LAN PHƯƠNG

CÔNG TÁC BỔ SUNG TÀI LIỆU CỦA THƯ VIỆN ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM

TRONG SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG XUẤT BẢN PHẨM

TỪ NĂM 2004 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC THƯ VIỆN

MÃ SỐ: 60.32.20

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: ThS NGUYỄN THỊ BẮC

TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Thầy, Cô đã giảng dạy những kiến thức cho tôi trong thời gian học tại Khoa Thư viện - Thông tin học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đặc biệt, tôi xin cảm ơn ThS Nguyễn Thị Bắc đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này

Cảm ơn Ban giám đốc và nhân viên thư viện các Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Văn hóa, Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Kinh tế và Trường Đại học Luật Tp HCM đã giúp đỡ, tạo kiện kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn

Xin cảm ơn tất cả quý Thầy, Cô và các đồng nghiệp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là quá trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa công bố ở công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung của luận văn cũng như các số liệu, trích dẫn liên quan đến nội dung luận văn

Trang 4

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

 CNTT: Công nghệ thông tin

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

PHẦN MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC BỔ SUNG VÀ XUẤT BẢN 12

1.1.Vai trò của công tác bổ sung tài liệu 12

1.1.1 Một số thuật ngữ 12

1.1.1.1 Tài liệu 12

1.1.1.2 Vốn tài liệu 15

1.1.1.3 Nguồn lực thông tin 20

1.1.2 Xây dựng và phát triển vốn tài liệu 22

1.1.2.1 Xây dựng vốn tài liệu 22

1.1.2.2 Bổ sung vốn tài liệu 23

1.1.3 Tầm quan trọng của bổ sung vốn tài liệu thư viện trong các trường đại học 28

1.1.3.1 Tầm quan trọng của tài liệu, vốn tài liệu trên bình diện quốc gia 28

1.1.3.2 Tầm quan trọng của tài liệu, vốn tài liệu trên bình diện một thư viện 28

1.1.3.3 Tầm quan trọng của vốn tài liệu trong trường đại học 29

1.2 Xuất bản và quan hệ của xuất bản với công tác bổ sung của thư viện 32

1.2.1 Bản chất của xuất bản 32

1.2.1.1 Các khái niệm 32

1.2.1.2 Vị trí của xuất bản trong đời sống xã hội 33

1.2.2 Vai trò của xuất bản trong đời sống xã hội 34

1.2.3 Chức năng của xuất bản 36

1.2.3.1 Chức năng thông tin đại chúng 36

1.2.3.2 Chức năng giáo dục 36

1.2.3.3 Chức năng bảo tồn văn hóa dân tộc và giao lưu quốc tế 37

1.2.3.4 Chức năng công tác tư tưởng 37

1.3 Mối quan hệ giữa thư viện với các nhà xuất bản trong công tác bổ sung vốn tài liệu 38

1.4 Sự tác động của thị trường xuất bản đến công tác bổ sung tại các thư viện trường đại học thuộc chuyên ngành khoa học xã hội 39

Trang 6

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC BỔ SUNG TÀI LIỆU CỦA CÁC THƯ VIỆN ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KHXH TRONG MÔI TRƯỜNG

XUẤT BẢN HIỆN NAY 41

2.1 Thị trường xuất bản sách chính trị xã hội ở nước ta hiện nay 41

2.2 Hiện trạng công tác bổ sung của thư viện các trường đại học chuyên ngành khoa học xã hội trên địa bàn TP.HCM 47

2.2.1 Giới thiệu về các Thư viện đại học chuyên ngành khoa học xã hội trên địa bàn TP.HCM 47

2.2.1.1 Thư viện Đại học Sư phạm 47

2.2.1.2 Thư viện trường Đại học Văn hóa TP.HCM 48

2.2.1.3 Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 49

2.2.1.4 Thư viện Đại học Luật TP.HCM 50

2.2.1.5 Thư viện Đại học Kinh tế 51

2.2.2 Thực trạng công tác bổ sung tài liệu tại các thư viện đại học 52

2.2.2.1 Người dùng tin và nhu cầu thông tin của người dùng tại các thư viện trường đại học 52

2.2.2.2 Tổ chức công tác bổ sung ở 5 trường đại học nhóm ngành khoa học xã hội 57

2.2.3 Nghiệp vụ bổ sung 74

2.3 Nhận xét, đánh giá 76

2.3.1 Ưu điểm 76

2.3.2 Nhược điểm 78

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỔ SUNG VỐN TÀI LIỆU CÁC THƯ VIỆN ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KHXH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 82

3.1 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng xuất bản – phát hành mảng sách chính trị - xã hội 82

3.1.1 Nâng cao toàn diện chất lượng các xuất bản phẩm chính trị - xã hội 82

3.1.2 Tăng cường sự phối hợp giữa các nhà xuất bản với các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị trong các trường đại học và các học viện để làm sách chính trị - xã hội 86

3.1.3 Đa dạng hóa các hình thức phát hành và tuyên truyền sách chính trị - xã hội 87

3.1.4 Ứng dụng công nghệ thông tin để đẩy mạnh xuất bản trên mạng Internet 89

Trang 7

3.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bổ sung của các

thư viện đại học khối ngành khoa học xã hội 91

3.2.1 Xây dựng hoàn chỉnh chính sách bổ sung của các thư viện 94

3.2.2 Tăng cường kinh phí bổ sung 99

3.2.3 Chia sẻ thông tin tài liệu 100

3.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác tài liệu trong và ngoài nước 105

3.2.5 Phát triển vốn tư liệu số hóa – tài liệu điện tử 106

3.2.6 Nâng cao trình độ những cán bộ làm công tác phát triển nguồn lực thông tin 108

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 119

Phụ lục 1 Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 25 tháng 8 năm 2004 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản 119

Phụ lục 2 Chính sách bổ sung của của một thư viện 128

Thư viện Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh 128

Thư viện Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM 140

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công tác bổ sung tài liệu trong thư viện là một trong những công tác quan trọng đối với hoạt động của thư viện Chính hoạt động này quyết định chất lượng của quá trình xây dựng và phát triển NLTT của thư viện và có ảnh hưởng đến mọi công tác khác trong hoạt động của thư viện Hiệu quả phục vụ người sử dụng phụ thuộc rất nhiều vào công tác bổ sung

Thị trường XBP Việt Nam năm 2004 có những biến động đáng kể sau khi Việt Nam gia nhập công ước Bern và tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI đã thông qua luật xuất bản (sửa đổi) Hơn nữa thị trường XBP trong nước đã trở nên sôi động hơn với sự tham gia của nhiều thành phần kể cả trong nước lẫn ngoài nước, tạo nên một thị trường XBP chuyển

từ cơ chế độc quyền sang thị trường cạnh tranh gây nên những biến động về giá cả, về chất lượng và số lượng các XBP Chính những điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác

bổ sung tài liệu của các TV ĐH khi cân đối giữa khả năng bổ sung và nhu cầu bổ sung, giữa các loại hình XBP truyền thống và XBP điện tử, giữa tài liệu quốc văn và tài liệu ngoại văn trong hoàn cảnh ngân sách TV chỉ có giới hạn

TP.HCM – một địa bàn kinh tế quan trọng, một trong những trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước Nhu cầu về sách báo, tài liệu cho nghiên cứu, học tập và phục vụ đời sống của nhân dân thành phố đòi hỏi hoạt động thông tin – TV phải có những biện pháp thích ứng phù hợp với thời kỳ đổi mới đất nước TV các trường ĐH luôn giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho trình độ cao cho thành phố và các tỉnh, thành khu vực phía Nam Hiện nay, tình hình biến động của thị trường XBP đang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi TV ĐH phải thích ứng và đẩy mạnh hoạt động của mình, đặc biệt

là công tác bổ sung tài liệu

Với những lý do như vậy, tôi chọn đề tài “CÔNG TÁC BỔ SUNG TÀI LIỆU CỦA

THƯ VIỆN ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KHXH TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM TRONG SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG XUẤT BẢN PHẨM TỪ NĂM 2004 ĐẾN NAY” làm đề

tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Trang 9

Từ trước đến nay, hoạt động TV ở các trường đại học đã được nghiên cứu nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về chính sách bổ sung tài liệu trong các trường ĐH trên phạm vi cả nước cũng như trên địa bàn Tp HCM ít được chú trọng Điều này thể hiện qua số lượng công trình nghiên cứu viết về vấn đề này

Về mặt lý luận chưa có giáo trình chính thức, chỉ có một số tài ít tài liệu đề cập đến

như: “Tổ chức kho tài liệu thư viện” của Bạch Thị Thu Hiền; “Về công tác thư viện” của Nguyễn Hữu Giới; “Đăng ký tài sản thư viện” của Đào Hoàng Thúy; “Phương pháp lựa chọn và loại hủy tài liệu ở các cơ quan” của Dương Văn Khảm; “Cẩm nang nghề thư viện” của Lê Văn Viết; các bài viết “Thư viện Hải Dương với công tác bổ sung và phục vụ tài liệu địa chí quý hiếm” của Phạm Thị Lan (Tập san thư viện Số 3, 2003); “Mối quan hệ giữa ngành thư viện và ngành xuất bản trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu Giới (Tập san thư viện Số 4, 2003); “Một số vấn đề

về mối liên hệ giữa nhà xuất bản, nhà phát hành và thư viện, nhìn từ góc độ tin học hóa công tác bổ sung vốn tài liệu” của Nguyễn Văn Hành (Tập san thư viện Số 2, 2004)…

Về mặt thực tiễn có một số công trình nghiên cứu khoa học sau: “Xây dựng vốn tài

liệu đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại phân viện Hà Nội, học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh” của Nông Thị Phương; “Phối hợp bổ sung giữa các thư viện chủ chốt trên địa bàn TP.HCM” của Phạm Thị Minh Tâm; “Tăng cường công tác bổ sung

tư liệu khoa học tại Trung tâm tư liệu thuộc Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia” của Nguyễn Thị Như Tùng; “Công tác bổ sung tài liệu tiếng Việt của Viện thông tin khoa học xã hội – Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia” của Bùi Thị Thái;

“Nghiên cứu xây dựng hệ quản trị cơ sở dữ liệu bổ sung trao đổi tại thư viện Quốc gia Việt Nam” của Nguyễn Trọng Phượng; “Quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành xuất bản phẩm ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” của Kiều Bá Hùng…

Tuy nhiên, những công trình trên chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu cục bộ ở từng

cơ quan, từng một khía cạnh cụ thể của vấn đề, thiếu tính bao quát Vì vậy, đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ vấn đề bổ sung hiện nay của các thư viện đại học chuyên ngành KHXH trên địa bàn Tp.HCM

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 10

3.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài khảo sát, phân tích và đánh giá sự tác động của thị trường XBP đối với công tác bổ sung tài liệu của TV ĐH chuyên ngành KHXH trên địa bàn TP.HCM từ năm 2004 đến nay Từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác bổ sung hiện có cũng như hướng bổ sung tài liệu trong tương lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Khảo sát, phân tích và so sánh công tác bổ sung tài liệu của TV ĐH chuyên ngành KHXH ở TP.HCM

Đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác bổ sung và làm rõ mối quan hệ giữa

bổ sung với tình hình biến động của thị trường XBP hiện nay

Đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác bổ sung hiện có cũng như hướng bổ sung tài liệu trong tương lai

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thị trường XBP và công tác bổ sung tài liệu của TV ĐH chuyên ngành KHXH ở TP.HCM

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

TV của các trường ĐH chuyên ngành KHXH ở TP.HCM: ĐH KHXH&NV,

ĐH Kinh Tế, ĐH Luật, ĐH Văn hóa, ĐH Sư Phạm

5 Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học áp dụng trong lĩnh vực TV thông tin như:

 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

 Phương pháp điều tra, khảo sát

Trang 11

 Phương pháp thống kê số liệu

 Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Hướng tiếp cận tư liệu:

Quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu sẽ sử dụng hướng tiếp cận tư liệu chính sau đây:

- Nghiên cứu những công trình nghiên cứu khoa học, những đề tài luận văn sau đại học và những bài viết về thị trường XBP và công tác bổ sung tài liệu để phân tích, tổng hợp và xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

- Tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực tế tại TV ĐH chuyên ngành KHXH ở TP.HCM để thu thập dữ kiện phục vụ cho vấn đề nghiên cứu

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

7.1 Ý nghĩa khoa học:

Việc thực hiện công trình nghiên cứu này sẽ đem lại nhận thức sâu sắc hơn

về vai trò, ý nghĩa của công tác bổ sung tài liệu cũng như sự tác động của thị trường XBP đến TV và cơ quan thông tin

Công trình nghiên cứu sẽ cung cấp tư liệu, làm phong phú thêm cho quá trình nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong lĩnh vực thông tin – thư viện

8 Kết cấu của luận văn:

Trang 12

Luận văn được bố cục thành ba chương:

Chương 1. Vai trò của công tác bổ sung và xuất bản

Chương 2. Hiện trạng công tác bổ sung tài liệu của các thư viện đại học chuyên ngành khoa học xã hội trong môi trường xuất bản hiện nay

Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng bổ sung vốn tài liệu các thư viện đại học khối ngành khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC BỔ SUNG VÀ XUẤT BẢN

1.1.Vai trò của công tác bổ sung tài liệu

thông tin của bạn đọc

Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển TV cho thấy sự xuất hiện của TV là do điều kiện xã hội nhất định, với những tiền đề nhất định và điều kiện

tiên quyết là phải có tài liệu

Trong quá trình phát triển, với mong muốn giữ gìn và để lưu truyền kinh nghiệm, tri thức cho các thế hệ sau, trong từng giai đoạn, loài người đã tìm ra những vật chất thích hợp để lưu giữ thông tin như đất sét, đá, đồng, giấy papirut, mai rùa, da, xương thú, vỏ cây, gỗ, tre, lá cọ, lụa, giấy và ngày nay là các vật mang tin hiện đại, như đĩa từ, đĩa quang học (CD, VCD, DVD) Tất cả những vật

chất có lưu giữ thông tin đó được gọi chung là tài liệu

Vậy tài liệu là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về tài liệu:

Ngay từ những năm 1970, Nguyễn Hùng Cường đã đưa ra định nghĩa về

tài liệu: “Tài liệu là bất cứ thứ gì dùng để ghi chép, chuyển đạt và lưu lại một kỷ

niệm của một đồ vật hoặc để trình bày vật đó dưới mọi hình thức ngõ hầu dùng cho việc nghiên cứu về sau Sách, tạp chí, nhật báo, thư tín, ấn phẩm đủ dạng,

Trang 14

bản đồ, hoành đồ, thống kê, bảng nhất lãm, hình ảnh, tranh vẽ, giản đồ đều là tài liệu” Có 3 loại, tài liệu thủ bản, ấn loát và tài liệu dạng khác [29, Tr.12]

Trong Cẩm nang nghề TV, TS Lê Văn Viết đã được đưa ra một định

nghĩa khác cụ thể hơn về tài liệu: “Tài liệu là vật thể mang tin trên đó ghi những

thông tin (tin tức, số liệu, dữ kiện, khái niệm, tri thức là những gì đưa đến sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thiên nhiên) dưới dạng chính văn, âm thanh, hình ảnh dùng để chuyển đạt trong thời gian, không gian, nhằm mục đích bảo quản và sử dụng”[21, Tr.118]

Theo luật lưu chiểu và luật TV Australia (1998), Tài liệu được định nghĩa

là sách, một phần của sách, báo, tạp chí, tờ rời, bản đồ, bản vẽ, họa đồ, biểu bảng, bản nhạc, bản nhạc ghi âm, băng cassette, phim ảnh, băng hình video, đĩa hay bất kỳ ấm phẩm thông tin nào được tạo ra để lưu trữ, để truy xuất được hình ảnh, âm thanh hay thông tin [20, Tr.6]

Theo Pháp lệnh TV của Malaysia, “Tài liệu có nghĩa là bất kỳ hình thức

thông tin dạng in, đồ họa, âm thanh, điện tử hay các dạng khác hoặc là thông tin được viết, ghi lại, thu và lưu trữ, trưng bày XB và được chia thành hai nhóm chính: a) tài liệu in ấn bao gồm sách, ấn phẩm định kỳ, bản đồ, đồ thị và tranh ảnh; b) tài liệu dạng khác in bao gồm phim ảnh, vi phiếu, vi phim, băng hình, băng tiếng và các loại tài liệu điện tử khác [57]

Từ các định nghĩa trên cho thấy về cơ bản có 02 hướng tiếp cận là lấy vật mang tin (02 định nghĩa đầu) và dạng thức ghi nhận thông tin làm đối tượng nghiên cứu (02 định nghĩa sau)

Ở đây, trong luận văn này chúng tôi sử dụng định nghĩa được đưa ra trong

Điều 1 Pháp lệnh TV ngày 28/12/2000: ”Tài liệu là dạng vật chất đã ghi nhận

những thông tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh, nhằm mục đích bảo quản

và sử dụng’ [41]

Trang 15

Từ định nghĩa trên, đã xuất hiện nhiều cách phân chia loại hình tài liệu, trong đó có 5 cách chia đáng chú ý nhất:

 Theo hình thức ghi chép thông tin, có các loại tài liệu sau:

- Tài liệu chép tay

- Tài liệu in ấn (sách, ấn phẩm định kỳ )

- Tài liệu chữ nổi

- Những tài liệu không phải là ấn phẩm: Vi dạng (Microfilm, microfich), Tài liệu nghe – nhìn và Tài liệu điện tử (CD-ROM, trực tuyến)

 Theo vật mang tin:

- Tài liệu dạng giấy

- Tài liệu phi giấy

 Theo đặc tính sử dụng:

- Tài liệu công bố

- Tài liệu không công bố

- Tài liệu lưu trữ

 Theo mức độ xử lý thông tin, có các loại tài liệu sau:

- Tài liệu cấp I, phản ánh trực tiếp kết quả hoạt động khoa học, kỹ thuật, kinh tế và hoạt động sáng tạo khác

- Tài liệu cấp II, phản ánh kết quả xử lý phân tích tổng hợp từ tài liệu cấp I, ví dụ, các tài liệu thông tin - thư mục

- Tài liệu cấp III, phản ánh tài liệu bậc 2 như thư mục của thư mục

Ngoài ra, còn có một khái niệm khác, tài liệu gốc để chỉ tài liệu cấp I và cấp II

 Theo dấu hiệu thời gian xuất hiện và cách thức lưu trữ thông tin:

- Tài liệu truyền thống là những tài liệu mà trên đó các thông tin được ghi chép không phải bằng phương pháp số Đó là ấn phẩm, vi phim, vi phiếu

- Tài liệu hiện đại là tài liệu mới xuất hiện gần đây và lưu trữ thông tin bằng phương pháp số Chủ yếu đó là tài liệu điện tử (CD-ROM/ trực tuyến )

Trang 16

1.1.1.2 Vốn tài liệu

Giống như tài liệu, vốn tài liệu TV là một khái niệm phức tạp, có nhiều định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, điểm cơ bản trong các định nghĩa là xác định vốn tài liệu là một bộ sưu tập có hệ thống các tài liệu phù hợp với chức năng, loại hình, đặc điểm của TV và được xử lý theo tiêu chuẩn kỹ thuật nghiệp vụ nhằm phục vụ người đọc, cũng như để bảo quản lâu dài Trong Pháp lệnh TV

của nước ta định nghĩa về vốn tài liệu TV như sau: “Vốn tài liệu TV là những tài

liệu được sưu tầm, tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo qui tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ TV để tổ chức phục vụ người đọc đạt hiệu quả cao và được bảo quản” [41]

Vốn tài liệu là một tổ hợp tài liệu bao gồm sách, tạp chí, báo, bản nhạc, bản đồ, đồ hoạ và các ấn phẩm khác; các tài liệu nghe - nhìn và tài liệu điện tử Tuy nhiên, không phải bất cứ loại ấn phẩm nào trong TV cũng được coi là vốn tài liệu TV như tài liệu chưa được xử lý kỹ thuật, đã thanh lý nhưng chưa đưa ra khỏi TV, tài liệu trao đổi và những tài liệu TV mượn qua hệ thống mượn liên

TV

Như đã nói, vốn tài liệu là những ấn phẩm phù hợp với các nhiệm vụ, chức năng và đối tượng người đọc của TV Song điều đó vẫn chưa đủ, những ấn phẩm đó cần được xử lý và sắp xếp hợp lý, khoa học và tuân thủ theo kỹ thuật nghiệp vụ TV Một yếu tố bắt buộc để một bộ sưu tập sách trở thành vốn tài liệu

TV là bộ sưu tập đó phải được tổ chức để phục vụ người đọc Chỉ có đầy đủ những đặc tính trên thì vốn tài liệu mới phân biệt được với hiệu sách, cơ quan cung cấp sách cho TV, lưu trữ…

Vốn tài liệu TV có những chức năng, đặc điểm, tính chất nhất định

 Về chức năng

- Vốn tài liệu TV của nước ta là tài sản của xã hội, thực hiện chức năng

giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp

luật của nhà nước, ý thức công dân, ý thức luật pháp cho người dân

Trang 17

- Vốn tài liệu TV cũng là phương tiện sư phạm tác động đến người đọc Chức năng này có tác động mạnh mẽ nhất ở các TV thanh thiếu niên, TV công cộng và TV các trường học

- Chức năng rất quan trọng nữa của vốn tài liệu là chức năng thông tin

Các tri thức về KHKT, văn học nghệ thuật của nhân loại qua nhiều thế hệ được tập trung Chất lượng, giá trị và tính kịp thời của vốn tài liệu phụ thuộc nhiều vào sự phát triển liên tục của các công trình nghiên cứu của quốc gia, sự phát triển năng suất lao động và trình độ văn hóa của xã hội

 Tính chất, đặc điểm của vốn tài liệu thư viện

Vốn tài liệu TV là một hệ thống, nghĩa là nó gồm nhiều bộ phận khác

nhau nhưng liên quan chặt chẽ với nhau Quan niệm vốn tài liệu TV là một hệ thống cho phép ta bổ sung, tổ chức và quản lý nó một cách đúng đắn Cũng như bất kỳ một đối tượng nào, vốn tài liệu TV có vô số các tính chất

Một trong những đặc tính chung nhất của vốn tài liệu TV là tính chất trọn

vẹn Bởi vì, vốn tài liệu TV là một hệ thống tương đối độc lập được biểu hiện

bằng những tính chất khác biệt, mặt khác nó lại là một bộ phận, hoặc một hệ thống cấp dưới của một hệ thống phức tạp hơn - đó là TV nói chung Đồng thời cũng có thể coi vốn tài liệu TV là một hệ thống mở, nghĩa là nó tương tác với môi trường xung quanh như nhiệm vụ mà TV phải giải quyết, nhu cầu và thị hiếu của người đọc, khả năng tài chính của TV, trường sách báo, trình độ của cán bộ TV, nhịp độ hoạt động của các nguồn cung cấp sách, và các yếu tố bên ngoài khác Với nội dung và quy mô của mình, vốn tài liệu cũng có ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, giúp xác định khả năng hoạt động của TV; các hình thức, phương pháp và phương hướng hoạt động của TV

Là một hệ thống mở, liên tục phát triển, vốn tài liệu TV có tính năng

động Tính năng động này bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ về tất cả các mặt

trong đời sống xã hội, sự tiến bộ trong khoa học - kỹ thuật; do những nhiệm vụ ngày một đa dạng của TV; nhu cầu về tài của người đọc đa dạng; sự phát triển của ngành XB và sự thay đổi cơ cấu xã hội - dân cư

Trang 18

Tính năng động thể hiện trong việc bổ sung không ngừng những tài liệu mới, thanh lý những tài liệu không còn cần thiết, thay đổi cơ cấu và sắp xếp lại vốn tài liệu

Tóm lại, hệ thống vốn tài liệu không phải là một hệ thống cứng nhắc Tính năng động và mềm dẻo cho phép hệ thống vốn tài liệu luôn luôn thích ứng với những điều kiện biến đổi không ngừng của công tác TV

Không những là một hệ thống năng động, vốn tài liệu TV còn là một hệ

thống tĩnh Trong điều kiện lớn lên không ngừng của vốn tài liệu, ta khó mà loại

bỏ những hình thức quản lý tài liệu, cách sắp xếp, hệ thống phân loại… mà thời

gian đầu đã đặt ra Tính chất tĩnh là đặc tính đối lập biện chứng với tính động

của vốn tài liệu TV Những thông tin tập trung lại trong vốn tài liệu thì gần như nằm trong tình trạng yên tĩnh lâu dài

Tuy nhiên, không phải bất cứ loại thông tin nào cũng cần cho người đọc

mà chỉ cần những thông tin có giá trị đối với họ hoặc là có mối quan hệ với những yêu cầu của họ Khả năng mà vốn tài liệu đáp ứng được nhu cầu cần thiết

của người đọc có thể được xác định như là tính chất giá trị của nó

 Phân loại vốn tài liệu thư viện

Vốn tài liệu của các TV rất phong phú về nội dung, mục đích và đối tượng phục vụ Để thống nhất việc bổ sung, đăng ký, xử lý và bảo quản vốn tài liệu TV, người ta phân loại các vốn tài liệu theo dấu hiệu nội dung hoặc một dấu hiệu nào đó, những dấu hiệu này là bản chất vốn có của chúng

Do người đọc quan tâm đến nội dung của tài liệu là chủ yếu cho nên các

TV sử dụng trước hết đặc điểm này để phân loại tài liệu

 Vốn tài liệu theo dấu hiệu nội dung

Căn cứ nội dung, có vốn tài liệu tổng hợp, đa ngành, chuyên ngành

- Tài liệu tổng hợp: bao gồm các loại hình tài liệu khác nhau về tất cả hay

phần lớn các ngành tri thức (chủ yếu trong các TV công cộng) Tài liệu tổng hợp lại chia ra:

Trang 19

+ Tổng hợp phổ thông (TV công cộng): phục vụ cho nhiều đối tượng bạn

+ Tài liệu có tính chất nghiên cứu (TV các viện nghiên cứu)

Từ mong muốn có sự phát triển toàn diện cho con người dẫn đến việc xây dựng một vốn tài liệu có nội dung tổng hợp và mang tính chất phổ thông Việc trao đổi và hợp tác khoa học đang diễn ra trên thế giới đã dẫn tới việc xây dựng những vốn tài liệu khoa học có tính chất tổng hợp và đa ngành Còn sự chuyên sâu hóa các ngành khoa học đã dẫn đến việc thành lập các TV chuyên ngành

 Vốn tài liệu theo dấu hiệu loại hình tài liệu

Theo dấu hiệu loại hình tài liệu, vốn tài liệu của TV được phân chia thành các phần vốn chủ chốt sau:

- Ấn phẩm: (bao gồm các loại tài liệu được in trên giấy)

+ Bộ phận (Kho) sách (chuyên khảo): là cơ sở truyền thống của vốn tài liệu và ở hầu hết các TV, nó chiếm tỷ lệ tuyệt đối và có giá trị tuyệt đối với người đọc

+ Bộ phận (Kho) ấn phẩm định kỳ (tạp chí, báo, thông báo, tuyển tập định kỳ v.v…) Vào những năm 60 của thế kỷ trước, trong các TV xuất hiện một loại ấn phẩm định kỳ mới đó là - Abstract – những tóm tắt ngắn gọn nội dung của một hay một nhóm tài liệu

+ Bộ phận (Kho) ấn phẩm tiếp tục (tài liệu của các cơ quan khoa học và các trường học, các báo cáo học tập, các loại thông báo v.v…)

Trang 20

+ Bộ phận (Kho) tài liệu đặc biệt về tiêu chuẩn kỹ thuật (tiêu chuẩn nhà nước, tiêu chuẩn kỹ thuật ngành và liên ngành, các miêu tả bằng phát minh, các mục lục kỹ thuật, các biểu giá, các phiếu thông tin…) Loại tài liệu này được các

TV KHKT, các kho lưu trữ bằng phát minh của khu vực và các kho lưu trữ tin

bổ sung nhiều nhất

+ Bộ phận (Kho) tài liệu chuyên biệt: gồm những tài liệu được chọn lựa theo dấu hiệu nào đó: theo dạng tài liệu (sáng chế, phát minh, tra cứu, luận án, ) hoặc dành cho đối tượng bạn đọc nào đó (người khiếm thị )

- Bộ phận (Kho) tài liệu nghe - nhìn: được chia ra theo tính chất tái tạo

những thông tin, đòi hỏi phải có những công cụ riêng biệt để tiếp thu thông tin bằng thính giác hoặc bằng thị giác, gồm các loại sau: tài liệu ghi âm như đĩa, phim ghi lời nói, bài hát, tiếng động ; tài liệu nhìn như phim dương, phim đèn chiếu, phim câm, phim chữ có hình ảnh; tài liệu nghe - nhìn như phim có tiếng nói, hình ảnh; phim dương bản có tiếng nói, video v.v…

- Vốn tài liệu điện tử: là những tài liệu thể hiện ở không gian ba chiều bao

gồm những miêu tả được thể hiện bằng sự giúp đỡ của tia laser Hiện nay phần vốn tài liệu này chưa nhiều nhưng trong tương lai cùng với sự phát triển của kỹ thuật laser số lượng tài liệu này sẽ tăng rất nhanh

Ngoài ra, còn có tài liệu đặc biệt xuất xứ từ gỗ, đá, đồ chơi trẻ em, các loại khoáng vật…

 Vốn tài liệu theo dấu hiệu ngôn ngữ

- Vốn ấn phấm bằng tiếng Việt

- Vốn ấn phấm bằng bằng tiếng các dân tộc khác v.v…

 Ngoài ra các thư viện có thể phân chia tài liệu theo các dấu hiệu khác

- Theo lứa tuổi của người sử dụng: vốn tài liệu dành cho thiếu nhi, vốn

tài liệu dành cho thanh niên và vốn tài liệu dành cho người lớn

- Theo mức sử dụng của vốn tài liệu: Vốn tài liệu có thể phân theo mức

sử dụng như: tích cực hay thụ động Phụ thuộc vào cơ cấu của TV hay công

Trang 21

dụng, người ta phân ra: vốn tài liệu cho mượn, vốn tài liệu bảo quản và vốn tài liệu phòng đọc

Trong một số TV lớn, người ta còn phân loại vốn tài liệu theo các dấu hiệu khác như theo cách xử lý tài liệu, theo cách tổ chức, bố trí kho tài liệu (kho

mở, kho đóng)

Nhiệm vụ chủ yếu của việc phân loại vốn tài liệu là làm sao những dấu hiệu phân chia có thể tạo thành một thể thống nhất để có thể sử dụng một cách tốt nhất vốn tài liệu ấy

1.1.1.3 Nguồn lực thông tin

Bên cạnh khái niệm vốn tài liệu, trong công tác TV – thông tin những năm gần đây xuất hiện thêm một khái niệm mới: NLTT Vậy NLTT là gì? Nó có gì khác biệt với vốn tài liệu TV?

Trước khi đi vào phân tích ngữ nghĩa của NLTT, ta thống nhất về nội hàm của “thông tin” (Information)

“Information” là một thuật ngữ trong công tác TV, nó có nhiều cách hiểu khác nhau, và định nghĩa khác nhau Trong "ALA từ điển giải nghĩa TV học và tin học Anh - Việt", "Information" có nghĩa là "thông tin, tin tức, dữ liệu" là "tất

cả những ý tưởng, những sự kiện và những công việc của trí óc tưởng tượng ra,

đã được truyền đạt, ghi nhận, ấn loát và phát hành một cách chính thức hay không chính thức dưới bất kỳ hình thức nào" [1, Tr 106] Tuy nhiên, một số nhà

TV học Mỹ khai thác khía cạnh vai trò của TT và cũng có quan điểm thứ ba xem

TT là những gì chứa trong sách và các phương tiện truyền thông khác nhau Những nhà khoa học khác lại liên hệ tin với sự thay đổi chúng tạo nên một bức tranh (cách nhìn) bên trong của người tiếp nhận chúng Từ đó có hai thuật ngữ khác, "dữ liệu" và "tri thức", thường được các nhà TV học Mỹ sử dụng để thay thế cho từ "tin" Và họ cho rằng với những thuật ngữ đa nghĩa như vậy không một nghĩa đơn nào được quy định cho việc sử dụng chúng [46, Tr.1] Tổng hợp những nhận định trên của các nhà khoa học trên, chúng ta có thể hiểu TT theo

Trang 22

cách: TT là tin tức, số liệu, dữ liệu, khái niệm, tri thức, là những gì đưa đến sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của tự nhiên

sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội Ngoài ra, nhiều người hiểu NLTT bao hàm cả tiềm lực TT và khả năng với tới các nguồn TT khác nhau, Nghĩa là những gì có tại TV và những tài liệu có thể với tới được từ các nguồn khác: NLTT thực và NLTT ảo

NLTT bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, dạng số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên các phương tiện khác nhau

Như vậy, đầu tiên phải khẳng định: (1) NLTT là tổ hợp các tin nhận được

và tích luỹ được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người; (2) NLTT được thể hiện dưới dạng tài liệu với nhiều dạng thức khác nhau Từ đó, ta có thể hiểu NLTT là tổ hợp các dạng tài liệu phản ánh những kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người

và có thể coi vốn tài liệu của TV là NLTT NLTT không thể bao hàm cả nhân lực TT, tài lực TT Đó là những bộ phận ngang nhau, độc lập với nhau nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, ràng buộc lẫn nhau

Như trên đã nói, NLTT có những điểm khác với vốn tài liệu TV TS Lê Văn Viết đã phân tích những điểm khác biệt chính giữa hai khái niệm này như sau:

Trang 23

- Khác về nơi lưu giữ: NLTT có ở trong các cơ quan TT khoa học và/hoặc

công nghệ (kỹ thuật) Vốn tài liệu là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của TV

- Khác về thành phần: như trên đã nói NLTT bao gồm những dạng tài liệu

khác nhau phản ánh kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Ngoài ra, NLTT còn bao hàm cả bộ máy tra cứu, nhất là các cơ sở dữ liệu của cơ quan TT

- Khác biệt về công dụng: NLTT chủ yếu phục vụ việc tra cứu và TT cho

người dùng Người dùng của các trung tâm TT thường là những nhà chuyên môn với những yêu cầu đọc đã xác định Trong khi đó nhiệm vụ của vốn tài liệu

TV lại rộng lớn hơn nhiều, đặc biệt ở các TV công cộng Nó không chỉ phục vụ cho nghiên cứu khoa học, cho công tác quản lý điều hành sản xuất, quản lý xã hội mà còn phục vụ cho đọc giải trí của người dân, bạn đọc [22, Tr.17-21]

1.1.2 Xây dựng và phát triển vốn tài liệu

1.1.2.1 Xây dựng vốn tài liệu

Bổ sung vốn tài liệu Tổ chức tài liệu

Quản lý vốn tài liệu

Trang 24

như việc thanh lọc thường xuyên những tài liệu mà người đọc không cần nữa -

đó là những điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại một TV

Những tài liệu đã được lựa chọn phải thuận tiện cho người sử dụng còn đối với thủ thư phải thuận tiện cho việc phục vụ

Mục đích của việc xây dựng vốn tài liệu là đạt được sự tương ứng giữa độ lớn và thành phần của vốn tài liệu với nhiệm vụ của TV và nhu cầu của người đọc

Việc nghiên cứu toàn diện và đầy đủ những nhiệm vụ, chức năng của TV

và nhu cầu của người đọc đã làm cho TV tránh khỏi chủ nghĩa chủ quan khi lựa chọn, bố trí và tuyên truyền vốn tài liệu Khi bổ sung vốn tài liệu cần phải bắt đầu từ sự phong phú nhu cầu của người đọc Né tránh những nhu cầu đó tức là thu hẹp ảnh hưởng của TV, đặt TV vào tình thế lạc hậu so với các nhiệm vụ của thời đại

1.1.2.2 Bổ sung vốn tài liệu

Xây dựng và phát triển vốn tài liệu là một khái niệm rộng Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu vào công tác bổ sung vốn tài liệu TV

Bổ sung thường xuyên cũng đồng nghĩa với việc phát triển vốn tài liệu TV Chúng ta sẽ xem xét điều đó thông qua một số định nghĩa sau về phát triển vốn tài liệu TV:

Theo G Edward Evans, phát triển vốn tài liệu là quá trình nhận dạng những mặt mạnh và mặt yếu của vốn tài liệu trong TV, dựa vào nhu cầu của độc giả, điều kiện phát triển và xu hướng sử dụng của công đồng người đọc, từ đó lập kế hoạch tăng cường hay điều chỉnh thay đổi bằng cách tiến hành chu trình chọn lọc, bổ sung, thanh lọc thanh lý [53, Tr.141]

Theo ALA Clossary of Library and Information Science, phát triển vốn tài liệu là quá trình lập kế hoạch, xây dựng và duy trì những nguồn TT của một TV sao cho đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế mà còn phù hợp với người dùng tin;

Trang 25

bao gồm những hoạt động chính như việc nhận định, chọn lọc và thực hiện các thủ tục mua tài liệu; phân bổ ngân sách mua tài liệu phù hợp dựa vào tỷ lệ phân theo loại hình hay chủ đề nội dung của tài liệu; quản lý phân tích đánh giá nguồn

tư liệu đã thu thập được so với công năng sử dụng chúng; lập kế hoạch thực hiện chương trình chia sẻ nguồn lực cũng như các nhiệm vụ có mối quan hệ tương đồng nhau giữa các phòng ban trong TV hay giữa các TV với nhau; và cuối cùng

là xác định và phối hợp các chức năng này một cách nhịp nhàng và đạt được hiệu quả cao nhất [58]

 Khái niệm về bổ sung vốn tài liệu

Thuật ngữ bổ sung chỉ được sử dụng rộng rãi trong ngành TV từ đầu thế

kỷ 20 Định nghĩa có tính chất kinh điển về bổ sung: Bổ sung (từ chữ latinh Kompletus - đầy đủ) vốn tài liệu TV là việc tạo thành và thường xuyên tăng cường cho vốn tài liệu những tài liệu đáp ứng nhiệm vụ của TV và lợi ích của người đọc

Tuy nhiên định nghĩa sau đây phù hợp hơn với các TV hiện nay: bổ sung vốn tài liệu là quá trình sưu tầm, nghiên cứu và lựa chọn những tài liệu có nội dung tư tưởng tốt, có giá trị khoa học, thực tiễn, nghệ thuật cao để đáp ứng các nhu cầu đọc và TT của người dùng chính TV đó và của xã hội [21, Tr 121]

 Bản chất của bổ sung vốn tài liệu

Bổ sung là một quá trình gồm 2 mặt thống nhất biện chứng, hai quá trình

đó là: làm tăng vốn tài liệu bằng những tài liệu mới nhất, tốt nhất và loại khỏi vốn tài liệu những tài liệu đã mất giá trị khoa học và thực tiễn Bổ sung là quá trình không ngừng - khi đã bắt đầu, nó không thể kết thúc khi TV còn tồn tại

Bổ sung là một quá trình với các giai đoạn khác nhau Giai đoạn thứ nhất

xác định tính chất của vốn tài liệu, hay xây dựng chính sách, diện bổ sung của

TV nghĩa là một văn bản mà theo đó TV sẽ chọn mua những tài liệu theo những

đề tài, cũng như loại hình, công dụng, ngôn ngữ và các dấu hiệu khác của tài liệu với mức độ ưu tiên khác nhau và kết quả của giai đoạn này là xác định được

Trang 26

các giới hạn nhóm tài liệu hoặc là mô hình của nó, đó là việc xác định ranh giới

các nhóm tài liệu Ở giai đoạn thứ hai, cán bộ bổ sung với sự giúp đỡ của cán bộ

thư mục với danh mục hoặc trực tiếp xem xét các tài liệu đã được phát hành hoặc đang nằm trong kế hoạch sắp phát hành Sau đó, người ta xác định phạm vi

nguồn tài liệu cho công việc sử dụng - giai đoạn thứ ba Lựa chọn tài liệu bổ

sung là một việc quan trọng vì nếu giải quyết đúng đắn thì sẽ đáp ứng tốt yêu cầu lựa chọn đầy đủ và linh hoạt các tài liệu cần thiết Các việc liên quan đến bổ

sung như ký hợp đồng về cung cấp sách cho TV, đến đưa tiền đặt sách là giai

đoạn thứ tư của quá trình bổ sung Ở giai đoạn tiếp theo cán bộ TV nhận tài liệu

đã chọn, quyết định đưa tài liệu vào kho là kết thúc quá trình lựa chọn lần I

Giai đoạn cuối cùng theo lôgic của quá trình bổ sung được gọi là lựa chọn lần II

Nó xác định sự tương ứng (dựa vào kết quả sử dụng) những tài liệu trong kho với nhiệm vụ của TV và nhu cầu của người đọc Trong quá trình lựa chọn lần II, người ta sẽ xác định lại diện bổ sung của kho và xem xét lại quá trình lựa chọn lần I Trong thực tế, quá trình lựa chọn lần I thực hiện theo trình tự tất cả các giai đoạn nêu trên, còn ở giai đoạn lựa chọn lần II người ta tiến hành đồng thời các giai đoạn trên cùng lúc

Lựa chọn lần I và lần II để có được những tài liệu cần thiết cho TV có nội dung tư tưởng, giá trị khoa học và nghệ thuật cao là bản chất của quá trình bổ sung Quan trọng nhất trong TV là việc lựa chọn tài liệu, bởi vì nếu TV có thể mang lại những ích lợi lớn thì cũng có thể đem lại những độc hại không nhỏ Bản chất việc lựa chọn xác định bộ mặt khoa học và chính trị của TV

Việc lựa chọn tài liệu chịu ảnh hưởng của một loạt yếu tố cản trở việc thực hiện nó Quan trọng hơn cả là mức độ khác nhau các giá trị tư tưởng, nghệ thuật, khoa học và thực tiễn của các tài liệu Gây cản trở cho việc lựa chọn là tính chất phức tạp của sự phát triển khoa học: Quá trình phân hóa, liên kết và sự trùng chéo các ngành khoa học Đòi hỏi TV không ngừng xác định cho rõ thêm những khuynh hướng phát triển của khoa học đẩy mạnh quá trình hồi sinh hay

Trang 27

già nua của TT, đẩy mạnh sự phân tán của nó trong không gian và thời gian để lựa chọn những tài liệu cần thiết nhất ở nơi xác định vào thời điểm nhất định

Việc lựa chọn cũng bị phức tạp hóa bởi sự phát triển không ngừng số lượng người đọc và yêu cầu đọc và TT của họ ngày càng nâng cao và đa dạng hóa

Việc lựa chọn tài liệu cũng gặp khó khăn bởi sự tăng nhanh và thường xuyên các loại tài liệu không phù hợp với diện bổ sung của các TV Sự xuất hiện của yếu tố trên đòi hỏi cán bộ bổ sung phải hiểu biết sâu sắc sứ mệnh xã hội của

TV, kiến thức về vốn tài liệu và cả lợi ích và nhu cầu của người đọc Thêm vào

đó, phải có kiến thức vững vàng về tài liệu, các dòng XBP và phải biết vai trò và

vị trí của chúng trong vốn tài liệu của TV

 Nguyên tắc bổ sung và phát triển vốn tài liệu thư viện

Toàn bộ sự phát triển của vốn tài liệu ở từng TV và ở các TV nước ta không phải do tự phát mà có kế hoạch, phù hợp với những nhiệm vụ xây dựng mạng lưới TV, với nhu cầu, đòi hỏi của đất nước, đồng thời phải dựa trên những nguyên tắc nhất định

Nguyên tắc bổ sung – là những yêu cầu chung nhất khi lựa chọn các tài liệu để hình thành và phát triển vốn tài liệu TV Những nguyên tắc này thống nhất cho toàn bộ các TV, đảm bảo cho công tác bổ sung đi đúng hướng, có chất lượng và xác định các biện pháp giải quyết những vấn đề mới nảy sinh của công tác bổ sung Tuy nhiên, nó được thể hiện khác nhau theo những đặc điểm loại hình và nhiệm vụ của từng TV cũng như đặc điểm và nhu cầu của người đọc

Trong công tác bổ sung của các TV nước ta thường áp dụng các nguyên tắc bổ sung chủ yếu sau:

- Tính Đảng, tính khoa học: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, nguyên

tắc dẫn đường và quyết định trong công tác bổ sung tài liệu TV Đòi hỏi các TV phải chọn lựa, đưa vào vốn tài liệu của mình những tài liệu phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam Đồng thời nguyên

Trang 28

tắc này cũng bắt buộc các TV không được lưu hành những XBP có hại đến an ninh quốc gia, thuần phong mỹ tục của Việt Nam

- Tính diện hóa: Diện hóa công việc bổ sung là sự chuyên biệt hóa vốn tài

liệu, là sự giới hạn có ý thức về đề tài của vốn tài liệu Tính diện hóa thể hiện quan điểm có phân biệt trong khi lựa chọn tài liệu cho TV có tính tới loại hình, nhiệm vụ và khối lượng công việc của TV, đặc điểm của cơ quan, địa phương

mà TV phải phục vụ; đội ngũ người đọc, thành phần dân tộc và lứa tuổi; các đặc điểm về nhu cầu người đọc; thành phần và tính đặc thù của vốn tài liệu TV trong

một khu vực nào đó Nhờ đó tạo điều kiện cho nội dung và cơ cấu vốn tài liệu

tiếp cận ở mức độ cao nhất với những đòi hỏi chính đáng của cơ quan, đơn vị, tổ

chức, của xã hội nói chung và người đọc nói riêng

- Tính thường xuyên và kế hoạch: Bổ sung phải thường xuyên và có kế

hoạch Chất lượng vốn tài liệu của TV sẽ bị giảm sút khi không được bổ sung thường xuyên những tài liệu mới, tạo nên các lỗ hổng trong vốn tài liệu, vốn sách sẽ nghèo nàn và cạn dẫn tới việc đóng cửa TV

 Yếu tố tác động đến công tác bổ sung của thư viện

+ Chế độ CTXH của đất nước

+ Đặc điểm chính trị , kinh tế - xã hội của địa phương, nhiệm vụ của cơ quan, xí nghiệp

+ Loại hình TV, chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của nó

+ Tình hình XB của đất nước: XB càng nhiều thì phải tăng số lượng sách

bổ sung

+ Ngân sách cụ thể của TV

+ Trình độ chính trị, chuyên môn, văn hóa chung của người trực tiếp làm công tác bổ sung

Trang 29

1.1.3 Tầm quan trọng của bổ sung vốn tài liệu thư viện trong các trường đại học

1.1.3.1 Tầm quan trọng của tài liệu, vốn tài liệu trên bình diện quốc gia

- Là bộ phận của di sản văn hóa dân tộc; di sản văn hóa thế giới do chứa đựng những tri thức, kinh nghiệm của loài người được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác

- Là một phần bộ nhớ của toàn quốc gia, của cả dân tộc

- Là nguồn lực của sự phát triển xã hội Sự tiến bộ của loài người có được

là nhờ tiếp thu, khai thác và phát triển những tri thức của các thế hệ trước để lại

- Chỉ ra sự phát triển (mức độ phát triển) về trí tuệ, văn minh của một quốc gia, một dân tộc nào đó Số lượng tài liệu mà dân tộc (nước) nào sản xuất được càng nhiều thì dân tộc (nước) đó có trình độ phát triển trí tuệ, văn minh càng cao

- Nói lên sự tiến bộ của công nghệ in ấn nói riêng và khoa học, công nghệ nói chung

- Là một loại hàng hóa đặc biệt Trong nền kinh tế tri thức hiện nay TT đang được mua bán rất sôi động và với lãi suất cao

- Là một trong số những công cụ để giai cấp cầm quyền tác động lên quần chúng nhân dân, giúp người tiếp nhận TT đưa ra những quyết định có căn cứ khoa học nhất

1.1.3.2 Tầm quan trọng của tài liệu, vốn tài liệu trên bình diện một thư viện

Ngày nay, giới TV nước ta đều công nhận tính đúng đắn của TV như là một hệ thống gồm 4 yếu tố sau: Vốn tài liệu – bạn đọc – cán bộ TV - cơ sở vất chất Các yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau mà thiếu một trong số đó TV sẽ không còn là TV nữa Từ hệ thống trên, ta sẽ nhận thức được tầm quan trọng của vốn tài liệu TV như sau:

- Là yếu tố đầu tiên là một trong những thành phần chủ yếu của TV

Trang 30

1.1.3.3 Tầm quan trọng của vốn tài liệu trong trường đại học

Trong những năm gần đây vấn đề đổi mới phuơng pháp giảng dạy và học

tập ở nước ta được Đảng, Nhà nước và các cấp giáo dục rất quan tâm Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 – 2010 đã đề ra những phương hướng hòa nhập với xu thế phát triển của nền giáo dục thế giới Việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở được xúc tiến mạnh mẽ và các quan niệm đổi mới phải đầy đủ, thống nhất mọi phương pháp giảng dạy, phương pháp học, đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện học tập và TV

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy mang tính quyết định là: giảng viên, sinh viên và điều kiện học tập

Giảng viên ngoài chuyên môn sâu, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới với sự trợ giúp của các trang thiết bị hiện đại, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, đồng thời cần xóa bỏ phương pháp giảng dạy một chiều

“thầy đọc-trò ghi” bằng phương pháp ”lấy người học làm trung tâm”

Với sự thay đổi trên, đòi hỏi sinh viên phải có thái độ nhận thức đúng đắn

về “sự học", học kết hợp với tự học, không ngừng tìm tòi say mê nghiên cứu, có tính sáng tạo trong khi học có thầy hay tự học Biết chuyển hóa kiến thức thầy cung cấp và đọc được trong tài liệu thành kiến thức của mình

Điều kiện học tập: Điều kiện để thầy dạy tốt và trò học tốt là hệ thống giảng đường, TV cung cấp tài liệu giáo trình và tài liệu tham khảo, phòng đọc, phòng tự học, nơi thử nghiệm lý thuyết và thực hiện ý tưởng của sinh viên

Trang 31

Đối với TV: TV có vai trò rất quan trọng trong công tác hỗ trợ học tập và giảng dạy bằng những tiện ích mà CNTT đem lại Đó là những cơ sở dữ liệu được thu thập và tổ chức thành các nguồn tin có chuyên ngành; trang thiết bị đầy

đủ, hiện đại và tiện việc sử dụng; có nhiều không gian cho việc đọc tài liệu, tự học, học theo nhóm, hoặc trao đổi, tọa đàm những TT thu nhận được từ kho tài liệu của TV TV luôn giữ mối liên hệ với các khoa chuyên môn và phòng Đào tạo để cập nhật các TT về ngành đào tạo, các TT về tài liệu tham khảo chính của môn học, làm cơ sở cho công tác bổ sung, công tác lập thư mục danh mục tài liệu đưa lên trang Web cho sinh viên và cán bộ khai thác

Đội ngũ cán bộ không đơn thuần chỉ là thủ thư trông coi kho sách mà phải

là người hướng dẫn sinh viên (bạn đọc) tìm kiếm TT, tư vấn cho sinh viên về tài liệu cần cho môn học

Bắt đầu từ năm học 2007 – 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra lộ trình đào tạo học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam Với quá trình xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, với sự hình thành và phát triển xã hội học tập, vai trò của TV đối với phương thức đào tạo tín chỉ sẽ ngày càng trở lên quan trọng Trong trường ĐH, TV với vốn tài liệu phong phú của mình góp phần đào tạo nguồn nhân lực có tri thức cho đất nước, thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển sản xuất và các khoa học công nghệ Vốn tài liệu của TV cung cấp cho xã hội những TT khoa học mới mẻ, đặc biệt là những thành quả của các công trình nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng viên và sinh viên trong trường Đây là dạng TT mang tính đặc thù và đôi khi là những TT độc nhất, khó tìm thấy ở nơi khác

Vốn tài liệu TV bổ sung và cập nhật những kiến thức mới, hỗ trợ cho việc học tập và giảng dạy TV mở rộng điều kiện học tập cho sinh viên cả về không gian, thời gian và các lĩnh vực tri thức hơn so với khuôn khổ qui định về nội dung, chương trình và kế hoạch đào tạo của nhà trường

CNTT - truyền thông đang đưa đến một cuộc cách mạng giáo dục - sư phạm thật sự, làm thay đổi nhiều khái niệm cơ bản của giáo dục, nghiên cứu

Trang 32

khoa học Tham gia quá trình ứng dụng CNTT và Internet vào giảng dạy - học tập, nghiên cứu khoa học, TV trở thành trung tâm TT - tư liệu thực sự, góp phần đắc lực biến TT thành tri thức bằng cách liên kết các nguồn tài nguyên TT với nhau, đồng thời mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu tin của mọi đối tượng qua sự hợp tác liên thông và chia sẻ NLTT một cách nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm

cả thời gian và vật chất cho người sử dụng Vai trò giáo dục, góp phần đào tạo nguồn nhân lực của cán bộ TV được thể hiện rõ nét qua việc hướng dẫn, giảng dạy về các kỹ năng tìm kiếm và khai thác TT, hỗ trợ cho người dùng tin khai thác hiệu quả nguồn TT sẵn có

Vốn tài liệu thư viện giúp nâng cao chất lượng dạy và học

Mục tiêu quan trọng nhất đối với giáo dục ĐH trong kỷ nguyên TT là tạo

ra những con người có khả năng tự định hướng học tập, tự học thường xuyên, biết chọn lọc, xử lý TT và có khả năng sáng tạo tri thức, tự tin hội nhập vào thị trường lao động “chất xám” quốc tế đầy tính cạnh tranh Đây là xu thế tất yếu trong xã hội TT

Hoạt động giảng dạy, học tập thực chất là một quá trình truyền đạt và tiếp nhận TT Nếu giảng viên và sinh viên cùng tương tác trong việc khai thác TT -

tư có liệu hiệu quả thì chất lượng dạy - học và khả năng nghiên cứu khoa học sẽ được nâng cao rõ rệt Trong trường ĐH, hoạt động khai thác TT đóng vai trò tích cực vào việc nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp dạy – học Từ

đó xóa bỏ lối học thụ động, khuyến khích việc chủ động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên

TV trường học thực sự là nơi đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục bằng việc: (1) tăng cường vốn tài liệu; (2) bảo đảm về nội dung: đầy đủ giáo trình và tài liệu tham khảo chuyên ngành phù hợp với ngành, nghề đào tạo của nhà trường Bên cạnh đó, các nguồn TT được bổ sung từ các báo cáo khoa học, các báo cáo ngoại khóa theo chuyên đề, các tài liệu tra cứu ; (3) sự đa dạng về thể loại: ngoài các loại tài liệu (sách, báo, tạp chí) truyền thống, còn có các sản phẩm TT ở bất kỳ nơi nào và dưới bất cứ dạng nào; (4) đặc biệt là đảm bảo về

Trang 33

chất lượng tài liệu, nghĩa là phải đảm bảo sự phù hợp và đáp ứng được yêu cầu

về TT của bạn đọc

Vốn tài liệu TV giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên, học viên, sinh viên các trường ĐH Bất cứ một công trình nghiên cứu nào

dù là nhỏ cũng phụ thuộc vào những kiến thức, những vấn đề giải quyết trong đó

có phản ánh được cái mới, có vượt qua được những công trình đã nghiên cứu trước đó không, có đưa ra được hướng áp dụng khả thi vào thực tế không, có bao quát được TT cần thiết, phải dựa vào vốn tài liệu TV

1.2 Xuất bản và quan hệ của xuất bản với công tác bổ sung của thư viện

1.2.1 Bản chất của xuất bản

1.2.1.1 Các khái niệm

 Xuất bản

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý: Xuất bản là việc chuẩn bị

bản thảo rồi in ra thành sách, báo, tranh ảnh và phát hành [33, Tr.1874]

- Theo nghĩa rộng, XB là hoạt động bao gồm các lĩnh vực XB, in, phát hành XBP Là quá trình tổ chức các nguồn lực xã hội trong việc sáng tạo ấn phẩm, in nhân bản các tác phẩm, phổ biến đến nhiều người nhằm đạt hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội

Hoạt động XB còn là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa - tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến các XBP đến nhiều người Mục đích của hoạt động

XB là phổ biến những tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, pháp luật, giới thiệu di sản văn hóa của dân tộc, tinh hoa văn hóa thế giới, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước Bằng XBP của mình, chúng ta đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam

Trang 34

- Theo nghĩa hẹp, XB là quá trình tổ chức việc sáng tạo, tác động vào quá trình sáng tạo của tác giả để có bản thảo tác phẩm, xử lý và hoàn chỉnh bản thảo, bản mẫu, in thành các XBP phục vụ nhiều người

 Xuất bản phẩm

Theo nghĩa rộng, XBP là tên gọi cho những sản phẩm được in ra thành nhiều bản để phát hành như sách, báo, tranh ảnh, băng nhạc, băng hình, đĩa compact…

Theo nghĩa hẹp hơn XBP là các tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, văn học, nghệ thuật … được in, nhân bản bằng các vật liệu, phương tiện kỹ thuật khác nhau và được XB không định kỳ, nhằm phổ biến cho nhiều người Đây là khái niệm được dùng riêng trong ngành XB, được định nghĩa trong Luật XB năm 2004

Hoạt động XB hiện nay đang có xu hướng biến đổi do sự phát triển của công nghệ tin học, kỹ thuật hiện đại, cho phép rút ngắn rất nhiều công đoạn XB, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần xã hội một cách nhanh chóng, đa dạng hơn với chất lượng cao hơn Biên tập, XB và phát hành tài liệu là một quá trình gắn

bó hữu cơ và không thể tách rời

Sự phát triển của CNTT, sự toàn cầu hóa sản xuất và kinh tế thị trường đã ảnh hưởng trực tiếp đến phương thức hoạt động XB, hoạt động XB gắn bó chặt chẽ hơn với nhu cầu thị trường, chú ý hơn đến hiệu quả kinh tế, sôi động hơn trong cạnh tranh thương mại Hoạt động XB có xu hướng quốc tế hóa nhanh chóng, vừa hòa nhập, vừa cạnh tranh, đấu tranh để chống sự nô dịch văn hóa, lũng đoạn TT, để phát triển nền văn hóa tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc

1.2.1.2 Vị trí của xuất bản trong đời sống xã hội

Hoạt động XB vừa là hoạt động văn hóa - tư tưởng, vừa là hoạt động sản xuất vật chất Về phương diện văn hóa - tư tưởng thì sách và các XBP khác do hoạt động XB mang lại là sản phẩm tinh thần Nó là kết quả lao động sáng tạo mang giá trị xã hội được chứa đựng trong XBP, thể hiện và thỏa mãn nhu cầu đa

Trang 35

dạng, phong phú và nhiều mặt của đời sống xã hội Nội dung chứa đựng trong các tài liệu là ý tưởng của các tác giả, nhà XB nhằm truyền bá, bồi dưỡng và nâng cao dân trí, đáp ứng đời sống tinh thần của nhân dân, mở rông giao lưu văn hóa với các nước Giá trị cơ bản của sách nói riêng, XBP nói chung là giá trị văn hóa tinh thần của con người tạo ra Ở Việt Nam các NXB là phương tiện, công

cụ của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội thuộc hệ thống chính trị

Về phương diện sản xuất vật chất, các giá trị tinh thần do lao động tinh thần của con người mang lại chỉ trở thành sách và các XBP khác thông qua hoạt động XB Từ việc coi XBP là sản phẩm tinh thần, trí tuệ, con người đồng thời phải thừa nhận XBP cũng là sản phẩm vật chất, do quá trình lao động vật chất tạo ra, từ đó các loại XBP trở thành sản phẩm hoàn chỉnh và đi vào lưu thông, và XBP trở thành hàng hóa, một loại hàng hóa vừa mang giá trị vật chất lẫn tinh thần

Tóm lại hoạt động XB là hoạt động văn hóa, tinh thần có ảnh hưởng nhiều đến việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, dân trí vì vậy nó thuộc thượng tầng kiến trúc, chịu sự chi phối của các quy luật phát triển văn hóa Mặt khác hoạt động

XB cũng là hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quan trọng trong việc tạo thành, chuyển tải, nhân bản các giá trị tinh thần, trí tuệ, ý đồ của tác giả, của nhà XB thành XBP, vì vậy nó đồng thời chịu sự tác động của hệ thống quy luật kinh tế thuộc hạ tầng cơ sở

1.2.2 Vai trò của xuất bản trong đời sống xã hội

- Thứ nhất, XB là “bà đỡ” của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học được công bố dưới hình thức XBP

Các sáng tác là sản phẩm của các tác giả tạo thành và nó được nhà XB góp phần hoàn thiện, nâng cao giá trị và chuyển tải đến người sử dụng Mặt khác

để phát triển và phục vụ xã hội tốt hơn, nhà XB phải chủ động tạo ra nguồn bản thảo các tác phẩm thông qua các cuộc thi và mở trại sáng tác Như vậy XB đã tạo

Trang 36

ra thị trường, điều kiện và kích thích hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của con người

- Thứ hai, thông qua hoạt động phát hiện, lựa chọn, sưu tầm, đúc kết, sản xuất để công bố dưới hình thức XBP, XB là phương tiện phản ánh đời sống tinh thần của nhân loại và mỗi quốc gia, bảo tồn và lưu truyền các sản phẩm văn hóa;

là bộ phận thiết yếu của hoạt động văn hóa Trên bình diện quốc gia, XB phản ánh bản sắc riêng của quốc gia đó, trình độ phát triển và sự hòa nhập với cộng đồng quốc tế của quốc gia đó, đồng thời góp phần đẩy lùi những tiêu cực và tệ nạn xã hội

- Thứ ba, XB là công cụ quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài

Sự phát triển của kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay được thực hiện trên cơ sở trình độ khoa học - công nghệ hiện đại, trong đó khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và trí tuệ của con người đang giữ vai trò quyết định và trở thành nguồn lực to lớn nhất, vô tận của sự phát triển kinh tế

Với xu thế mở cửa và hội nhập hiện nay, XB trở thành một công cụ giao lưu văn hóa, giới thiệu bản sắc văn hóa Việt Nam với thế giới và bạn đọc Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới

XB là công cụ phục vụ công tác TT đại chúng, góp phần nâng cao dân trí, chống ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa Việt Nam, tiến tiến xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Hoạt động XB là một lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam, có nhiệm vụ tích luỹ và truyền bá các giá trị tinh thần, góp phần nâng cao dân chí, phát triển văn hóa, xây dựng nền tảng tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng và khoa học của xã hội; xây dựng đạo đức, lối sống

và phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam; góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành xã hội học tập Hoạt động XB ở nước ta đã coi trọng nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, khẳng định và phát huy các giá trị văn hóa nhân loại và đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái lạc

Trang 37

hậu đáp ứng nhu cầu đọc của nhân dân, đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh xây dựng ngành XB thành ngành kinh tế - công nghiệp phát triển toàn diện, vững chắc

Chính vì những lý do trên, hoạt động XB được sự quan tâm đặc biệt và lãnh đạo sâu sát của Đảng Đã có rất nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác XB mà mới nhất là ngày 25/8/2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành một chỉ thị riêng về công tác XB - chỉ thị 42 về "Nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản" Đây là định hướng chiến lược cho hoạt động XB trong nhiều năm tới

1.2.3 Chức năng của xuất bản

1.2.3.1 Chức năng thông tin đại chúng

XB thực hiện chức năng TT đa dạng, đa cấp độ với lượng TT lớn, khả năng lưu giữ TT lâu dài TT đó hướng tới những đối tượng tiếp nhận nhất định trên cơ sở nắm vững đặc điểm, nhu cầu và trình độ của đối tượng sử dụng nó Nhờ đó nội dung XBP mới chuyển tải được đến bạn đọc lượng TT lớn nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và đạt hiệu quả cao nhất

Ngày nay, cùng với khoa học công nghệ và TT hiện đại, XB thực hiện chức năng TT qua nhiều kênh khác nhau (kênh chữ, kênh truyền hình, ) và tác động đến những khu vực khác nhau trong đời sống tinh thần con người, tạo nên sức mạnh tổng hợp có giá trị mạnh mẽ và lâu bền

1.2.3.2 Chức năng giáo dục

Sách báo là một công cụ giáo dục quan trọng, là người thầy, người bạn trong suốt cuộc đời rèn luyện, phấn đấu của mỗi con người Sách báo giúp con người hoàn thiện, phát triển nhân cách của mình Sách báo mang trong mình những giá trị văn hóa tinh thần Những giá trị đó thể hiện khát vọng và là công

cụ để con người vươn tới cái chân, thiện, mỹ Chính vì vậy, sách báo, hoạt động

XB bao giờ cũng mang chức năng giáo dục

Trang 38

1.2.3.3 Chức năng bảo tồn văn hóa dân tộc và giao lưu quốc tế

Ngay từ khi ra đời, XB đã thực hiện chức năng bảo tồn văn hóa Sách báo ghi lại các sáng tác phẩm nghệ thuật và KHKT, nhằm giữ gìn những giá trị đó cho xã hội và lưu truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, giúp chúng ta hiểu rõ lịch sử dân tộc và giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc

Trong xu hướng toàn cầu hóa, việc giao lưu kinh tế và văn hóa quốc tế,

XB trở thành một công cụ giao lưu văn hóa tích cực và rộng lớn Sản phẩm của

XB đã giới thiệu để con người tiếp xúc với tất cả những thành tựu, kinh nghiệm, các tác phẩm có giá trị của các nền văn hóa của các dân tộc trên thế giới, có lợi cho việc phát triển nền văn hóa dân tộc Đồng thời XB cũng là phương tiện để giới thiệu những truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc với thế giới để làm phong phú thêm đời sống văn hóa nhân loại và tăng cường vị thế của dân tộc trước quốc tế

1.2.3.4 Chức năng công tác tư tưởng

Chức năng công tác tư tưởng là chức năng đặc biệt quan trọng, bao quát toàn bộ hoạt động XB trong điều kiện có đấu tranh giai cấp Hướng tới mục tiêu giác ngộ ý thức giai cấp, biến hệ tư tưởng của một giai cấp trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội, giáo dục ý thức tự giác chính trị của quần chúng để họ tự giác đấu tranh cho lý tưởng cách mạng của giai cấp

XB thực hiện chức năng công tác tư tưởng thông qua việc tuyên truyền cổ động thông qua các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tuyên truyền hệ tư tưởng thông qua việc XB phát hành các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, các sách nghiên cứu lý luận dành cho các đối tượng khác nhau

- Tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và nhà nước thông qua các sách văn kiện, các chính sách, lý luận về đường lối, pháp luật

- Tuyên truyền cho những vấn đề lý luận được tổng kết từ thực tiễn, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra

Trang 39

1.3 Mối quan hệ giữa thư viện với các nhà xuất bản trong công tác bổ sung vốn tài liệu

Mối quan hệ giữa NXB và TV là mối quan hệ vốn có từ khi các cơ quan này xuất hiện Điều này được thể hiện ở chỗ NXB và TV cùng chung đối tượng làm việc là các loại tài liệu và bạn đọc; cùng chung mục đích là cung cấp tài liệu

và thỏa mãn nhu cầu TT ngày càng tăng của xã hội

Mặt khác, các NXB và TV cùng sử dụng các hình thức thông báo, tuyên truyền như: TT thư mục, mục lục các loại để tăng thêm khả năng tài liệu đến được với người sử dụng Bên cạnh đó, giữa các NXB và TV cùng có nhiệm vụ nắm bắt nhu cầu người sử dụng tài liệu, phát hiện người sử dụng tiềm năng, lựa chọn kênh phân phối, tiêu thụ tài liệu có hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng

sử dụng cụ thể

Mối quan hệ giữa NXB và TV được thể hiện cụ thể trên các mặt sau:

- Mối quan hệ về mặt kinh tế: TV là khách hàng truyền thống và chủ yếu của

ngành XB, là nơi phản phản ánh nhu cầu của thị trường XBP (thông qua thị hiếu của người đọc), qua đó giúp NXB có kế hoạch sản xuất ra các loại tài liệu phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người sử dụng, tránh hiện tượng có tài liệu nhưng không có người đọc, và ngược lại có người đọc lại không có tài liệu phù hợp

- Mối quan hệ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của mỗi ngành trong xã hội: Các TV và NXB đều là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà Nước trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng Các hoạt động của hai ngành đều nhằm

bổ sung tri thức và nâng cao trình độ văn hóa, đáp ứng nhu cầu TT của người dùng

- Mối quan hệ về luật pháp: Thể hiện trong vấn đề nộp lưu chiểu XBP tại

TV, vấn đề bản quyền trong XB và khai thác sử dụng ở TV

- Mối quan hệ về công nghệ: Do sự tiến bộ vượt bậc về khoa học công

nghệ, việc sản xuất và kinh doanh trong ngành XB, phát hành sách ngày càng hiện đại, các XBP điện tử ngày càng phổ biến và việc tiêu thụ, quảng bá những

Trang 40

XBP này trên mạng tại các TV và các thành phố lớn đã trở nên thông dụng Đồng thời, khái niệm sách điện tử, XB sách điện tử, TV điện tử đã không còn xa

lệ Sự tác động này thể hiện ở một số điểm sau:

- Số lượng tên XBP ngày càng nhiều sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các TV lựa chọn được những tài liệu thích hợp nhất Nhiều loại hình tài liệu ra đời, nhiều nguồn tài liệu, TT có thể truy cập để khai thác…, ảnh hưởng đến phương thức bổ sung của TV Tuy nhiên, nếu TV chạy theo tỷ lệ phát hành cao sẽ làm cho chất lượng vốn tài liệu giảm và do đó ảnh hưởng tới hiệu quả phục vụ

- Chất lượng của các tài liệu XB cũng ảnh hưởng tới chất lượng của vốn tài liệu TV TV sẽ phải cố lựa chọn những tài liệu có chất lượng cao nhất để bổ sung vào kho tài liệu của mình

- Giá tài liệu ngày càng tăng, ảnh hưởng lớn đến công tác bổ sung của TV Nguồn kinh phí bổ sung của các TV thường không theo kịp tốc độ tăng nhanh về giá cả của thị trường XBP, trong khi đó kinh phí hoạt động của các TV hiện nay chủ yếu dựa vào ngân sách hầu như bất biến của Nhà trường, gây khó khăn cho việc cân đối kinh phí bổ sung Do thiếu kinh phí, không cho phép TV có những giải pháp tối ưu trong việc lựa chọn tài liệu cần thiết cho TV, kết quả là TV thiếu tài liệu, ảnh hưởng tới chất lượng phục vụ bạn đọc

- Bên cạnh khó khăn về tài chính, có đến 60% khó khăn của TV thuộc về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nhân tố chính, quyết định mọi hoạt động trong TV trong đó có công tác bổ sung Ngoài những kiến thức về chuyên môn, cán bộ bổ sung phải năng động trước những biến đổi của thị trường XB và luôn

Ngày đăng: 01/07/2023, 14:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Đặng Việt Thủy (2003). ”Nhà xuất bản Quân đội nhân dân với mảng sách lý luận, chính trị”, Xuất bản Việt Nam, 5, Tr. 24 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Nhà xuất bản Quân đội nhân dân với mảng sách lý luận, chính trị”
Tác giả: Đặng Việt Thủy
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân với mảng sách lý luận
Năm: 2003
11. Đào Hoàng Thúy. Đăng ký tài sản thư viện, Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đăng ký tài sản thư viện
12. Đinh Văn Vang (2007). ”Sách lý luận chính trị ở NXB Đại học Sư phạm”, Xuất bản Việt Nam, 10, Tr. 20 – 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Sách lý luận chính trị ở NXB Đại học Sư phạm”
Tác giả: Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm”
Năm: 2007
14. Đức Bình (2003). ”Vài kinh nghiệm trong việc tổ chức xuất bản – phát hành mảng sách chính trị, giáo dục truyền thống ở Nhà xuất bản Tổng hợp tp. Hồ Chí Minh”, Xuất bản Việt Nam, 6, Tr. 19 – 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài kinh nghiệm trong việc tổ chức xuất bản – phát hành mảng sách chính trị, giáo dục truyền thống ở Nhà xuất bản Tổng hợp tp. Hồ Chí Minh”
Tác giả: Đức Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp tp. Hồ Chí Minh”
Năm: 2003
15. Dương Văn Khảm (1998). Phương pháp lựa chọn và loại hủy tài liệu ở các cơ quan, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp lựa chọn và loại hủy tài liệu ở các cơ quan
Tác giả: Dương Văn Khảm
Năm: 1998
16. Đường Vinh Sường (2006). ”Một số vấn đề về hiệu quả kinh tế trong xuất bản sách lý luận chính trị”, Xuất bản Việt Nam, 11, Tr. 6 – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Một số vấn đề về hiệu quả kinh tế trong xuất bản sách lý luận chính trị”
Tác giả: Đường Vinh Sường
Năm: 2006
17. Hải Phong (2005). “Xuất bản trên mạng Internet- những thách thức trong công tác quản lý”, Tạp chí Sức mạnh số , 16 (http://xahoithongtin.com.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xuất bản trên mạng Internet- những thách thức trong công tác quản lý”
Tác giả: Hải Phong
Năm: 2005
18. Khakhaleva, N.I. (2002). Làm thế nào để bảo quản di sản tư liệu của nước Nga, Thư viện học, 4, Tr. 19-23 (Tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khakhaleva, N.I. (2002). Làm thế nào để bảo quản di sản tư liệu của nước Nga
Tác giả: Khakhaleva, N.I
Năm: 2002
19. Lê Minh Nghĩa (2008). ”NXB Chính trị quốc gia với việc xuất bản sách phục vụ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh””, Xuất bản Việt Nam, Số 5, Tr. 4 – 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”NXB Chính trị quốc gia với việc xuất bản sách phục vụ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh””
Tác giả: Lê Minh Nghĩa
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia với việc xuất bản sách phục vụ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh””
Năm: 2008
20. Lê Ngọc Thị Thư (2006). Chính sách phát triển vốn tài liệu ở thư viện Khoa học tổng hợp Tp.HCM đến 2010 (luận văn thạc sỹ khoa học thư viện), ĐH KHXH&NV, Tp.HCM, tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển vốn tài liệu ở thư viện Khoa học tổng hợp Tp.HCM đến 2010 (luận văn thạc sỹ khoa học thư viện)
Tác giả: Lê Ngọc Thị Thư
Năm: 2006
21. Lê Văn Viết (2000). Cẩm nang nghề thư viện, Văn hóa thông tin, Hà Nội, Tr.118-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghề thư viện
Tác giả: Lê Văn Viết
Năm: 2000
22. Lê văn Viết (2004), “Lạm bàn về một số thuật ngữ ngành thư viện - thông tin”, Thông tin tư liệu, 2, Tr. 17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm bàn về một số thuật ngữ ngành thư viện - thông tin”
Tác giả: Lê văn Viết
Năm: 2004
23. Lê Văn Viết (2006). Thư viện học những bài viết chọn lọc, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện học những bài viết chọn lọc
Tác giả: Lê Văn Viết
Nhà XB: Nxb Văn hoá – Thông tin
Năm: 2006
24. Lê Văn Viết (2006). Quản lý nguồn lực thông tin. Tập bài giảng tại lớp cao học thư viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn lực thông tin
Tác giả: Lê Văn Viết
Năm: 2006
26. N. D. Eriasvili(2003). Xuất bản: Quản trị và Marketing, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất
Tác giả: N. D. Eriasvili
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2003
27. Ngô sỹ Liên (1998). Nguyên lý hoạt động biên tập, xuất bản sách, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý hoạt động biên tập, xuất bản sách
Tác giả: Ngô sỹ Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
28. Nguyễn Duy Hùng (2008). ”Nâng cao chất lượng, hiệu quả xuất bản sách lý luận chính trị trong thời kỳ mới”, Xuất bản Việt Nam, 11, Tr. 10 – 12; 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng, hiệu quả xuất bản sách lý luận chính trị trong thời kỳ mới”
Tác giả: Nguyễn Duy Hùng
Năm: 2008
29. Nguyễn Hùng Cường (1971). Lưu trữ hồ sơ, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, S. Tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu trữ hồ sơ
Tác giả: Nguyễn Hùng Cường
Năm: 1971
30. Nguyễn Hữu Giới (2003). “Mối quan hệ giữa ngành thư viện và ngành xuất bản trong nền kinh tế thị truờng theo định hướng XHCN ở Việt Nam”, Tập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa ngành thư viện và ngành xuất bản trong nền kinh tế thị truờng theo định hướng XHCN ở Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Hữu Giới
Năm: 2003
31. Nguyễn Hữu Giới (2000). Về công tác thư viện, Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác thư viện
Tác giả: Nguyễn Hữu Giới
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w