Trong bối cảnh Châu Á có nhiều biến động, nhất là khi quá trình quốc tế hóa diễn ra trên khắp các lĩnh vực, và toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều quốc gia, phát triển khoa họ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG
OOO
NGÔ HUYỀN TRÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 8310601
TP HỒ CHÍ MINH- 04/2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG
OOO
NGÔ HUYỀN TRÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 8310601
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TIẾN LỰC
TP HỒ CHÍ MINH- 04/2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tiến Lực Các tài liệu tham khảo dùng trong luận văn được trích dẫn đầy đủ tên tác giả, tên công trình, thời gian và nơi công bố
Ngô Huyền Trân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tác giả xin bày tỏ sự trân trọng và lòng biết ơn dành cho PGS.TS Nguyễn Tiến Lực Xin cảm ơn Thầy vì sự tin tưởng, kiên nhẫn và bao dung trong suốt thời gian hướng dẫn tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu này, cũng như cảm ơn Thầy từ những ngày đầu trong lớp học chuyển đổi ngành, từ Giáo dục học sang Châu Á học – Đông Phương học Tấm gương nghiên cứu khoa học của Thầy chính là động lực lớn nhất cho tác giả có thể hoàn tất công trình này
Trong quá trình thực hiện đề tài, đồng nghiệp ở các tổ chức phi chính phủ đã giúp tác giả kết nối nhiều nguồn thông tin và dữ liệu, cùng kinh nghiệm thực tế quý giá, đây chính là sự giúp đỡ ngoài mong đợi mà tác giả rất biết ơn, điều này đã giúp tác giả tự tin hơn trong những lập luận của mình trong đề tài Đặc biệt cảm ơn các bạn đồng nghiệp trong dự án Sách Chuyền Tay, đã chia sẻ công việc trong giai đoạn gấp rút nhất để tác giả kịp hoàn thành công trình này
Cảm ơn cố vấn tiếng Nhật Minoru Terada, một giáo viên tiểu học ở Nhật Bản, trong chuyến đi trải nghiệm hơn hai mươi quốc gia, Minoru đã lưu lại Myanmar và Thành phố
Hồ Chí Minh 3 tuần để cùng tác giả dịch một số tài liệu quan trọng từ tiếng Nhật sang tiếng Anh
Đối với đơn vị đào tạo, xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Đông Phương – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
đã tận tình hỗ trợ trong quá trình đào tạo, nhắc nhở và tạo điều kiện cho tác giả có môi trường học tập thuận lợi Cảm ơn thầy cô Khoa Giáo dục đã luôn quan tâm thông báo về các hội thảo khoa học ngành Cảm ơn phòng Sau đại học đã có nhiều sinh hoạt học thuật
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa là vấn đề nổi bật trong các lĩnh vực nghiên cứu gần đây, nhất là giai đoạn đầu thế kỷ XXI Trong giai đoạn này, toàn cầu hóa bắt đầu cho thấy những tác động của nó một cách rõ ràng hơn: các nghiên cứu mang tính phản biện chỉ ra những mặt trái của toàn cầu hóa bắt đầu xuất hiện; các vụ kiện
ở tòa án quốc tế và những tranh chấp căng thẳng về thị trường hay tiêu chuẩn hàng hóa đang xảy ra ngày càng nhiều Toàn cầu hóa trở thành làn sóng chi phối mọi hoạt động của con người
Tiếp cận vấn đề toàn cầu hóa, chúng tôi nhận thấy có một vài khuynh hướng nghiên cứu được đề cập phổ biến Một là, nhóm nghiên cứu lý thuyết liên quan đến toàn cầu hóa Nhóm này đưa ra các khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn của quá trình toàn cầu hóa và các vấn đề về học thuyết toàn cầu hoá Hai là, nhóm nghiên cứu thực tiễn về cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa, nhóm này thường là nghiên cứu của các chuyên gia về kinh tế phát triển Ba là, nhóm các nghiên cứu chuyên biệt ngành phục vụ cho việc ứng phó với toàn cầu hóa, nhóm này thường thuộc về các chuyên gia đến từ các lĩnh vực khác, như chính sách công, giáo dục, khu vực học, bảo tồn, và một vài nhóm ngành khác, nhằm trang
bị cho công việc giảng dạy cũng như xây dựng kế hoạch thích ứng phù hợp
Từ cách tiếp cận của nhóm nghiên cứu thứ ba, chúng tôi cho rằng, không chỉ các quốc gia nhỏ mới bị tác động bởi toàn cầu hóa, mà các nước phát triển cũng chịu chung làn sóng này Do đó chúng tôi chọn một trong số các quốc gia phát triển trong khu vực Châu Á để minh chứng cho quan điểm trên Và Nhật Bản được xem là lựa chọn nghiên cứu hàng đầu, do đặc thù chuyên ngành Châu
Á học cũng như sự nổi bật của quốc gia này trong khu vực
Thêm nữa, giáo dục được được xem là một lĩnh vực nhạy cảm, vừa mang tính điều hướng, vừa mang tính thích nghi Nghiên cứu giáo dục Nhật Bản vốn
Trang 8đã được nhiều học giả quan tâm và trở thành một đề tài nóng, nhất là lĩnh vực giáo dục đại học và con đường thực hiện cải cách hệ thống giáo dục Nhật Bản
Trong bối cảnh Châu Á có nhiều biến động, nhất là khi quá trình quốc tế hóa diễn ra trên khắp các lĩnh vực, và toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều quốc gia, phát triển khoa học công nghệ mạnh mẽ và xu hướng giao lưu kinh tế quốc tế ngày càng đa dạng rộng mở; bên trong nước Nhật, tình trạng dân số già làm suy giảm lượng lớn sinh viên nhập học các trường đại học, các kì thi cạnh tranh gay gắt bị phản ánh, và một hệ thống đại học đang bị đánh giá là kém cạnh tranh và suy yếu Các trường đại học Nhật Bản đang đứng trước sức
ép lớn từ xã hội, đòi hỏi luôn luôn phải tích cực thay đổi Thêm vào đó, giai đoạn hiện nay được cho là “kỷ nguyên đại học Châu Á” – một cách gọi để ám chỉ xu hướng quốc tế hóa giáo dục đại học đang dần thay đổi, mà trung tâm của
nó đang dịch chuyển về phía đại học Châu Á, thay vì hệ thống đại học lâu đời của các nước Châu Âu như những thập niên trước đây
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Cải cách giáo dục đại học Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa, giai đoạn 2004-2015” để tiến hành
nghiên cứu
Chúng tôi nhận thấy, hệ thống giáo dục đại học Nhật Bản đã trở thành mục tiêu bình luận, thậm chí công kích của các trường phái cải cách và giới nghiên cứu, cũng như áp lực từ giới truyền thông hay các tổ chức dân sự xã hội Trong khi đó, cải cách một hệ thống đại học, trên toàn lãnh thổ, trong một bối cảnh có quá nhiều thử thách như Nhật Bản đã thực hiện, là một cuộc đại cải cách mà không phải hệ thống đại học nào cũng đủ điều kiện, quyết tâm, cũng như năng lực để tiến hành Quá trình này diễn ra phức tạp, đòi hỏi nhiều yếu tố
cả chủ quan lẫn khách quan và gặp rất nhiều khó khăn Tìm hiểu quá trình cải cách các đại học ở Nhật Bản, cũng chính là đi sâu tìm hiểu từng yếu tố trong quá trình phức tạp này, bao gồm bối cảnh, chính sách, quá trình thực thi cũng như các thành tựu và hạn chế của nó
Trang 9Bởi chính sự phức tạp và đa dạng của các yếu tố liên quan trong quá trình cải cách giáo dục đại học Nhật Bản, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nàytrong nhiều năm qua Với vai trò là một người quan tâm đến giáo dục,
và cũng mong muốn tìm hiểu sâu hơn về giáo dục đại học Nhật Bản, tác giả hy vọng thông qua công trình này, sẽ tìm ra những yếu tố then chốt của quá trình cải cách giáo dục đại học Nhật Bản những năm gần đây, quan trọng hơn là tìm
ra những điểm mới trong xu hướng cải cách bậc đại học và đưa ra những dự báo cho những cải cách sắp tới ở bậc học này
Đồng thời, với sự quan tâm đặc biệt đến hoạt động quản lý đại học, tác giả mong muốn thông qua đề tài, sẽ mang lại cái nhìn khách quan, đầy đủ hơn cho những nhà nghiên cứu, những người có cùng sự quan tâm, trăn trở đối với giáo dục bậc đại học, cũng là để phần nào chia sẻ về công việc của các nhà quản
lý đại học - những người luôn luôn phải đứng trước sự chỉ trích của xã hội trong suốt quá trình làm việc không ngừng nghỉ
- Những hoạt động cải cách nổi bật của giáo dục đại học Nhật Bản trong giai
đoạn 2004- 2015; những thành tựu, hạn chế và đề xuất
3 Lịch sử vấn đề
Đại học Nhật Bản được sự quan tâm từ nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới
Đã có nhiều công trình lớn, liên quan trực tiếp đến cải cách đại học Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa được thực hiện
Trang 10Trong khả năng nghiên cứu còn hạn hẹp của mình, tác giả đã tiếp cận được một số công trình theo hai hướng tiếp cận , một là nghiên cứu lý luận về toàn cầu hóa và tác động của toàn cầu hóa đối với cải cách giáo dục đại học, hai
là các công trình nghiên cứu thực tiễn trường hợp cải cách đại học ở Nhật Bản
Dưới đây là chi tiết về các công trình nghiên cứu có liên quan
3.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về toàn cầu hóa và tác động của toàn cầu hóa đối với giáo dục
3.1.1 Trends in Global Higher Education: Tracking an Academic
Revolution - Philip G Altbach, 2009 (Những xu hướng trong Giáo dục đại học toàn cầu: dõi theo một cuộc cách mạng học thuật)
Kỷ yếu hội thảo Giáo dục đại học năm 2009 của cơ quan giáo dục quốc tế
UNESCO, Trends in Global Higher Education: Tracking an Academic Revolution, là một tuyển tập số liệu, phân tích và dự báo từ các nhà nghiên cứu
giáo dục trên toàn thế giới về hệ thống giáo dục đại học Đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hóa đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nền đại học ở khắp các châu lục
Trends in Global Higher Education: Tracking an Academic Revolution
được xem là một bản báo cáo đặc biệt của UNESCO về giáo dục đại học trong bối cảnh toàn cầu hóa Nội dung cụ thể của báo cáo này, ngoài hệ thống số liệu phong phú, còn có một nền tảng lý thuyết và cách tiếp cận chuyên sâu về giáo dục
Ngoài chương mở đầu và chương dự báo, kỷ yếu này gồm các phần quan trọng liên quan trực tiếp đến đề tài như: Toàn cầu hóa và quốc tế hóa, Đảm bảo chất lượng, Tài chính Giáo dục Đại học, Giáo dục đại học tư nhân và tư nhân hóa, Công nghệ thông tin - truyền thông và giáo dục từ xa, Mối liên hệ giữa giáo
dục đại học- các ngành công nghiệp đặt trong trong bối cảnh toàn cầu hóa
Trang 113.1.1 New challenges for higher education: global and Asia-Pacific
perspectives- Jung Cheol Shin, Grant Harman (Những thách thức mới của
giáo dục đại học: bối cảnh toàn cầu hóa và góc nhìn Châu Á – Thái Bình dương)
Grant Harman với nhiều năm nghiên cứu chính sách và quản lý đại học
đã thực hiện không ít bài viết về hệ thống đại học của các nước Trong New challenges for higher education: global and Asia-Pacific perspectives, cùng với
tác giả Jung Cheol Shin, đã khái lược về bối cảnh toàn cầu hóa cùng với những tác động của nó đối với hệ thống đại học Châu Á
Một số vấn đề cụ thể được trình bày trong bài viết như sau:
- Toàn cầu hóa và các tác động đối với khu vực
- Bối cảnh, thách thức, yêu cầu đối với khu vực nói chung
- Những thử thách đối với giáo dục đại học: đại chúng hóa, tư nhân hóa, quốc
tế hóa với mục tiêu thực tế
Cùng một hệ thống số liệu trực quan, các tác giả đã cho thấy tác động lớn của toàn cầu hóa đối với giáo dục đại học của khu vực Châu Á, đồng thời khái lược bước đầu những phương án ứng phó với tình hình trên
3.1.2 The Internationalization of Higher Education: Motivations and
Realities- Philip G Altbach, Jane Knight (Quốc tế hóa giáo dục đại học: động cơ và hiện thực)
Đề cập đến bối cảnh toàn cầu hóa- khu vực hóa, hai tác giả đã đặc biệt quan tâm đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương Theo tác giả, mặc dù các nước trong khu vực này không có bản sắc kinh tế và chính trị mạnh mẽ như Liên minh châu Âu (EU), nhưng hệ thống đại học của các nước này (bao gồm Nhật Bản, Việt Nam) có những điểm chung quan trọng
Trong một xã hội toàn cầu hóa, khối xuyên biên giới trong khu vực bắt đầu xuất hiện để đáp ứng với thị trường toàn cầu (Marginson và Rhoades, 2002),
và còn ảnh hưởng đến thị trường giáo dục đại học Tác giả đã nhắc đến hai vấn
đề lớn:
Trang 12Đầu tiên, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã thu hút sự chú ý bởi vì nó
có thị trường giáo dục đại học phát triển nhanh nhất quốc tế như là một kết quả của tăng trưởng kinh tế nhanh chóng Thứ hai, về văn hóa- lịch sử, các quốc gia này chia sẻ hai loại truyền thống mạnh mẽ và khác biệt (các nước Đông Bắc Á
và một số nước Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Việt Nam có truyền thống Nho giáo lâu đời, trong khi thông thường các quốc gia trong khu vực, đã có mối quan hệ chặt chẽ với phía Hoa Kỳ hay Anh)
Bên cạnh đó, đối với đại chúng hóa và toàn cầu hóa, tính đồng nhất và tính đa dạng cùng lúc ảnh hưởng đến giáo dục đại học Như Stromquist (2007)
đã lập luận, giải thích về các trường đại học toàn cầu hóa dựa trên quá trình văn hóa và môi trường của họ; ngoài ra, các nước phản ứng khác nhau tùy theo khả năng và tình trạng kinh tế của mình
3.1.3 Globalization and educational reform: what planners need to know -
The series:Fundamentals of Educational Planning- Martin Carnoy (Toàn
cầu hóa và cải cách giáo dục: những điều cần biết cho các nhà hoạch định
chính sách)
Như là một nguyên tắc cơ bản của kế hoạch giáo dục, các tập tài liệu trong loạt bài này được viết chủ yếu dành cho hai đối tượng: một là, những người tham gia vào việc lập kế hoạch và quản lý giáo dục ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển; hai là những người khác, ít chuyên môn về giáo dục hơn, chẳng hạn như các quan chức chính phủ cấp cao và các nhà hoạch định chính sách muốn tìm kiếm một sự hiểu biết tổng quát hơn về hoạc định chính sách giáo dục và làm thế nào liên kết nó với sự phát triển của quốc gia
Kể từ khi được phát hành số đầu tiên năm 1967, cho đến nay, các thông lệ, khái niệm của kế hoạch giáo dục được nhắc đến trong tập tài liệu này đã trải qua những thay đổi đáng kể
Trang 13Trong tập mới nhất này, với bối cảnh toàn cầu hóa, các tác giả đã đề cập đến:
- Nhận thức về tầm quan trọng của chiến lược giáo dục trong việc ứng phó với toàn cầu hóa
- Những cải cách đề xuất thực hiện và vai trò của cơ chế quản lý khác nhau trong lĩnh vực giáo dục
- Sự lựa chọn của phương pháp tài chính, các thủ tục kiểm tra và cấp giấy chứng nhận hoặc nhiều cấu trúc quy định và khuyến khích khác
3.2 Các công trình nghiên cứu về cải cách đại học ở Nhật Bản
3.2.1 Globalization and Higher Education Reforms in Japan: The Obstacles to Greater International Competitiveness- Amano Ikuo, 2014
(Toàn cầu hóa và Cải cách giáo dục đại học ở Nhật Bản: Những trở ngại đối với năng lực cạnh tranh quốc tế)
Tác giả Amano Ikuo với bài viết Globalization and Higher Education Reforms in Japan: The Obstacles to Greater International Competitiveness đã
nhìn lại về nguồn gốc của các cuộc cải cách như một phản ứng toàn cầu hóa và những vấn đề đó vẫn cần được giải quyết trong bối cảnh mới, vì những tác động của toàn cầu hóa là ngày càng mạnh mẽ, có nhiều xu hướng tác động hơn trước
Tác giả đã chỉ ra những điểm quan trọng đối với giáo dục đại học Nhật Bản trước toàn cầu hóa Trong bài viết, Amano Ikuo đã đặc biệt phân tích những vấn đề sau:
- Ba xu hướng chủ đạo của giáo dục đại học Nhật Bản: đại chúng hóa, thị trường hóa, toàn cầu hóa
- Ba yếu tố tác động chủ yếu đến giáo dục đại học Nhật Bản: dân số, kinh tế, thay đổi chính sách
- Biểu tượng của cuộc cải cách: theo tác giả, sự thay đổi mạnh mẽ nhất của hệ thống đại học Nhật Bản trong đợt cải cách lần này thuộc về hệ thống đại học công, với việc tiến hành tập đoàn hóa các đại học công
Trang 14lập Việc này đã cho phép các đại học công được quyền tự chủ ở nhiều phương diện và cải thiện đáng kể sức cạnh tranh cả về tài chính lẫn học thuật
- Sự cần thiết phải tiến hành quốc tế hóa giáo dục đại học
Ngoài ra, bài viết còn đưa ra những dự báo và các phương thức mà giáo dục đại học Nhật Bản sẽ tiến hành trong tương lai nhằm tăng cường sức cạnh tranh như chi tiêu ngân sách cho đại học, giáo dục suốt đời, trường học cho người lớn
3.2.2 Japanese University Leaders’ Perceptions of Internationalization: The Role of Government in Review and Support - AkiyoshiYonezawa,
Hiroko Akiba, Daisuke Hirouchi (Triển vọng dẫn đầu của đại học Nhật bản trong bối cảnh quốc tế hóa – Vai trò đánh giá và hỗ trợ của chính phủ)
Xem xét những tác động của toàn cầu hóa, các tác giả nhận định quốc tế hóa đại học là một nhu cầu và thách thức đối với Nhật Bản Bài viết tập trung phân tích những vấn đề sau: Nhìn lại toàn cảnh cải cách đại học và những thử thách trong bối cảnh mới Xác lập mục tiêu và chiến lược của cuộc cải cách.Vị trí quốc tế và mục tiêu chính của đại học Nhật Bản, dựa trên các bảng biểu, số liệu thực tế về lượng sinh viên và các bảng xếp hạng Phân tích vai trò tiên phong của chính phủ trong việc xóa bỏ một hệ thống quy định cũ nhằm hỗ trợ cho hàng loạt cải cách
3.2.3 Cải cách giáo dục đại học Nhật Bản và Đại học Hiroshima trong quá trình tập đoàn hóa – Trần Khánh Đức (2008)
Bài viết Cải cách giáo dục đại học Nhật Bản và Đại học Hiroshima trong quá trình tập đoàn hóa được đăng trên tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà
Nội năm 2008, đề cập trực tiếp đến mô hình đại học mới của Nhật Bản sau cải cách đại học 1984 Trong bài viết, tác giả đã phân tích các luồng tư tưởng khác nhau trước khi Nhật Bản thực hiện cải cách, tuần tự các bước tiến hành cải cách,
Trang 15và kết quả sau cải cách cũng như đưa ra nhận định về ưu khuyết điểm của quá trình này
Tác giả cũng đã đưa ra một mô hình đại học cụ thể làm minh chứng, đó là trường hợp thực hiện cải cách theo hướng tập đoàn đại học của đại học Hiroshima
3.3 Một số công trình nghiên cứu khác
3.3.1 Xu hướng quốc tế hóa đào tạo nguồn nhân lực tại các trường đại học của Việt Nam –Nguyễn Thị Hoàng Diễm (2014)
Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Diễm là một trong các bài tham luận tại hội thảo quốc tế về Đào tạo nguồn nhân lực ở Nhật Bản – bài học cho Việt Nam Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến xu hướng quốc tế hóa cũng như
có sự phân biệt khái lược về khái niệm toàn cầu hóa – quốc tế hóa
Bài viết chủ yếu mô tả lại các hoạt động quốc tế hóa trong các trường đại học của Việt Nam hiện nay như liên kết đào tạo nước ngoài, các ngành đào tạo tiếng nước ngoài, xuất hiện các khoa quốc tế học và quan hệ quốc tế, và các chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ Bài viết sử dụng khá đa dạng các số liệu và bảng biểu để chứng minh cho các xu hướng đã nêu trên
3.3.2 Bộ sách Cải cách giáo dục ở các nước phát triển – Lữ Đạt, Chu Mãn Sinh (Chủ biên – NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Nằm trong toàn tập cải cách giáo dục thế giới, bộ sách Cải cách giáo dục
ở các nước phát triển gồm có 7 tập, đề cập đến quá trình cải cách giáo dục ở các
nước Anh, Mỹ (3 tập), Nhật Bản và Australia, Pháp và Đức – là những nền giáo dục tiến hành cải cách sớm và liên tục, đạt được những thành tựu to lớn cũng như có nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực thi các cải cách giáo dục
Ngoài ra, để có thể hiểu rõ vấn đề nghiên cứu, tác giả còn tham khảo rất nhiều bài viết học thuật liên quan của một số nhà nghiên cứu Việt Nam – những người đã từng có đam mê và tâm huyết dành cho nghiên cứu đại học như Phạm
Trang 16Lan Hương, Trần Văn Thọ, Lê Thành Nghiệp, Nguyễn Quốc Vương mà tác giả không thể trình bày hết Phần lịch sử nghiên cứu chỉ xin đưa ra những công trình gần nhất với đề tài được thực hiện Các công trình khác xin được phép trình bày trong mục trích dẫn tài liệu tham khảo
Trên đây là những công trình nghiên cứu gần nhất với đề tài mà tác giả đã tiếp cận được, là nguồn tài liệu có giá trị về mặt học thuật của nhiều nhóm tác giả từ nhiều quốc gia Mỗi công trình đã giới thiệu, có những hướng tiếp cận riêng và giá trị riêng, nhưng nhìn chung các công trình đều đã thực hiện từ lâu, với những số liệu của giai đoạn trước, thể hiện xu hướng và bối cảnh của giai đoạn trước Trong điều kiện mới, bối cảnh mới, vẫn chưa có những nghiên cứu
cập nhật đầy đủ và hệ thống về vấn đề mà đề tài “Cải cách giáo dục đại học Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa (giai đoạn 2004-2015)” muốn hướng tới,
đồng thời, chưa có một công bố khoa học bằng tiếng Việt nào cho đề tài này
Bối cảnh thế giới và Châu Á có nhiều biến động, như các chuyên gia đã nhận định – Kỷ nguyên đại học Châu Á đã bắt đầu, Châu Á đã khởi động bằng các cải cách từ bậc đại học, mà nguồn gốc của những cải cách đó, phải bắt đầu
từ Nhật Bản trước tiên Tác giả mong muốn sẽ kịp thời bổ sung, bắt kịp những thay đổi đó, với những số liệu, bối cảnh cập nhật hơn nữa về cải cách đại học Nhật Bản Cải cách hệ thống đại học liên quan trực tiếp với bản đồ nhân lực của bất kỳ một quốc gia nào Do đó, hiểu rõ xu hướng cải cách đại học, sẽ là cơ sở cho nhiều dự báo quan trọng trong các lĩnh vực khác, làm cơ sở cho các ngành công thương nghiệp khác khôi phục năng lực cạnh tranh trước bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cải cách giáo dục đại học ở Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong giai đoạn từ 2004-2015
Về phạm vi nghiên cứu, tác giả tìm hiểu chi tiết từ khoảng thời gian bắt đầu diễn ra cuộc cải cách (1984) đến nay Tuy nhiên, với mục tiêu cập nhật và
Trang 17dự báo, nên đề tài chỉ tập trung vào khoảng thời gian những năm gần đây, từ những năm đầu của thế kỷ thứ XXI- lấy giai đoạn 2004-2015 làm trọng tâm nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận vấn đề khác nhau như phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp nghiên cứu lịch sử, logic.v.v Trong đó, một số phương pháp chủ yếu được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp lịch sử - logic: được vận dụng trong việc tìm hiểu bối cảnh lịch
sử của cuộc cải cách, đặt quá trình cải cách giáo dục lần 3 của Nhật Bản trong một bối cảnh chung và trong sự tương quan với các cuộc cải cách đã từng diễn ra trong lịch sử Nhật Bản Với việc sử dụng phương pháp này, tác giả mong muốn
sẽ có cái nhìn toàn diện và đúng đắn nhất, nhằm định vị cuộc cải cách giáo dục lần 3 đúng với giá trị và vai trò của nó trong lịch sử (đối với nước Nhật và đối với hệ thống đại học Châu Á) Bởi việc sử dụng phương pháp này, nên đề tài sẽ
mô tả lại một số sự kiện quan trọng, và dùng phương pháp logic nhằm tìm ra quy luật và dự báo cho quá trình cải cách đại học trong bối cảnh mới
- Phương pháp nghiên cứu của các khoa học liên ngành (interdisciplinary): mặc dù vẫn còn một số ý kiến tranh cãi về phương pháp này, với một quan
điểm khác, rằng đây là cách tiếp cận liên ngành chứ chưa thể xem là một phương pháp nghiên cứu Nhưng trên thực tế, đặc biệt là ở các quốc gia phương Tây, phương pháp này đã được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội Riêng trong đề tài này, phương pháp liên ngành được vận dụng trong việc tìm hiểu các nhân tố của quá trình cải cách như yếu tố chính sách (chính trị học), tình hình kinh tế Nhật Bản (kinh tế học), hệ thống giáo dục Nhật Bản (giáo dục học), các điều kiện xã hội đương thời (xã hội học)
và yếu tố đặc trưng của con người Nhật Bản (nhân học) cùng một số kiến thức
Trang 18chuyên ngành khác Bằng việc sử dụng liên kết các hiểu biết trong nhiều lĩnh vực bổ trợ gần với mục tiêu nghiên cứu, tác giả mong muốn hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa giáo dục đại học và những nhân tố khác, hiểu đúng quá trình cải cách đại học như là một hoạt động tất yếu giữa hàng loạt các yếu tố xã hội khác, chứ không tồn tại tự thân hay tách biệt
- Phương pháp chuyên ngành trong nghiên cứu giáo dục so sánh (comparative education methodology) : giáo dục học so sánh hay giáo dục so
sánh quốc tế, là một chuyên ngành còn khá mới mẻ ở Việt Nam, tuy nhiên ở Nhật Bản và các nước phát triển, nó đã trở thành một ngành học thuật chuyên sâu, cung cấp các đánh giá quan trọng cho nghiên cứu giáo dục nói chung và đặc biệt là lĩnh vực tư vấn xây dựng- cải cách chính sách giáo dục Mặc dù chính các chuyên gia hàng đầu của phương pháp nghiên cứu này như Collin Brock hay Phillip G Altbach đều thừa nhận rằng mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng trên thực tế, hệ thống các phương pháp nghiên cứu của lĩnh vực này đã cho phép những người nghiên cứu giáo dục có nhiều cơ sở để phân tích, tổng hợp, đánh giá một cách khách quan và toàn diện về tình hình giáo dục của một bậc học nào
đó, hay hệ thống giáo dục của một quốc gia nào đó – để từ đó bám sát tình hình một cách khách quan nhất, và đánh giá kết quả điều tra một cách đúng đắn nhất Hiện nay, PISA (Programme for International Student Assessment, một tổ chức
uy tín chuyên khảo sát và đánh giá trong lĩnh vực giáo dục trên thế giới), là cơ quan sử dụng phương pháp này rất thường xuyên trong các điều tra của họ Trong đề tài này, tác giả muốn vận dụng bước đầu phương pháp này trong việc đánh giá thành tựu, hạn chế của quá trình cải cách giáo dục đại học Nhật Bản ở chương 3
5.2 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chủ yếu của đề tài bao gồm :
- Các tài liệu về lịch sử, kinh tế, xã hội của đất nước Nhật Bản, đặc biệt là lịch sử giáo dục (bao gồm lịch sử hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói
Trang 19riêng) Các tư liệu này được tổng hợp từ tạp chí khoa học, sách chuyên khảo và báo chí trong ngoài nước, đặc biệt là các báo cáo của UNESCO
- Số liệu điều tra về giáo dục đại học Nhật bản theo hệ thống các năm, các giai đoạn, được công bố bởi JASSO, MEXT
- Báo cáo kinh tế xã hội Nhật Bản do OECD công bố
- Bảng đánh giá, xếp hạng các trường đại học Nhật Bản trên các trang thông tin điện tử xếp hạng đại học quốc tế (Times Higher Education và QS Ranking)
- Báo cáo thống kê dữ liệu của các tạp chí khoa học quốc tế (Scopus, Science)
- Các tạp chí nghiên cứu giáo dục học, khu vực học, Nhật Bản học
- Một số nguồn tư liệu khác
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học của đề đài
Về mặt lý luận, đề tài mang lại cái nhìn tổng quan, cập nhật mới nhất về
hệ thống giáo dục đại học mới của Nhật Bản trong những năm đầu thế kỷ XXI, cùng một tập hợp các số liệu cụ thể làm cơ sở cho những đánh giá khách quan đối với quá trình cải cách đại học của Nhật Bản, sau khi nước này thực hiện hàng loạt các chính sách cải cách trong bối cảnh toàn cầu hóa
Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu của giáo dục học so sánh, kết hợp với phương pháp nghiên cứu liên ngành để giải quyết một vấn đề của khu vực học, tác giả cũng mong muốn bước đầu áp dụng một chuyên ngành còn khá mới mẻ trong nghiên cứu Châu Á
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về mặt thực tiễn, đề tài mang lại một nguồn tư liệu cập nhật cho các nhà nghiên cứu có quan tâm đối với hệ thống đại học Nhật Bản, chưa từng được công bố bằng tiếng Việt
Trên cơ sở của nguồn tư liệu và số liệu đã được Việt hóa này, các nhà nghiên cứu có thể phân tích, sử dụng, so sánh theo những hướng nghiên cứu riêng, làm cơ sở cho việc nghiên cứu giáo dục đại học hoặc nghiên cứu Châu Á
Trang 20Đặc biệt, trong lĩnh vực xây dựng chính sách và cải cách giáo dục đại học,
từ bài học rút ra từ Nhật Bản, tác giả mong muốn đề tài sẽ đóng góp một phần thông tin tham khảo cho quá trình cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam
- Chương 2: Những nguyên nhân cải cách đối với giáo dục đại học Nhật Bản nhằm ứng phó với toàn cầu hóa, chương này phân tích ba nguyên nhân chính dẫn đến cải cách giáo dục đại học Nhật Bản trong giai đoạn này
- Chương 3: Những hoạt động cải cách của giáo dục đại học công Nhật Bản trong giai đoạn 2004-2015 Chương này trình bày những thay đổi trong luật và chính sách, hoạt động tái cơ cấu hệ thống đại học, quốc tế hóa các hoạt động đại học và một số thành tựu, hạn chế của đợt cải cách
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày khái niệm toàn cầu hóa cùng một
số khái niệm và thuật ngữ có liên quan, làm cơ sở lý luận để tiếp cận vấn đề Phần tiếp theo sẽ phân tích thực tiễn những tác động của toàn cầu hóa đối với Nhật Bản, bao gồm tác động trên lĩnh vực kinh tế- công thương nghiệp, các ảnh
hưởng đới với đời sống xã hội, và đặc biệt là trong vấn đề nguồn nhân lực Cuối
chương 1 là phần trình bày tổng quan nền giáo dục đại học Nhật Bản Trong
phần này tác giả chỉ bắt đầu tiếp cận nền giáo dục đại học hiện đại, từ thời điểm thành lập trường đại học quốc lập đầu tiên đến hệ thống đại học theo mô hình hiện đại học tập từ Châu Âu, và hệ thống đại học những năm đầu thế kỷ XXI
1.1 Tiếp cận vấn đề toàn cầu hóa và một số khái niệm sử dụng trong đề tài 1.1.1 Về vấn đề toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa được nhắc đến trong từ điển Merriam Webster lần đầu tiên vào những năm 1960, từ điển Oxford English Dictionary cũng chỉ ra rằng khái niệm này được sử dụng sớm nhất trong một bài nghiên cứu học thuật vào năm
1972 Theo đó, nguồn gốc của khái niệm "toàn cầu hóa", là một thuật ngữ được
sử dụng rộng rãi trong giới sinh viên cấp tiến tại châu Âu
Vào năm 1970, tạp chí Sinistra Proletaria (Nhà vô sản cánh tả), một tạp chí của phong trào cánh tả tại Ý, đã đăng một bài mang tựa đề "Quá trình toàn cầu hóa của xã hội tư bản" (The Process of Globalization of Capitalist Society), đây được xem là tiếp cận ban đầu về khái niệm toàn cầu hóa và cũng là hướng tiếp cận khái niệm này gần với cách hiểu ngày nay
Thập niên 90 của thế kỷ 20, khái niệm toàn cầu hóa bắt đầu được sử dụng rộng rãi hơn và trải qua những cách tiếp cận mang nhiều tranh cãi hơn.Theo đó,
toàn cầu hóa (Globalisation), là một thuật ngữ được sử dụng từ lâu đời
“Triết học, văn chương, và bình luận xã hội ở thế kỷ 19 và thế kỷ thứ 20 bao gồm nhiều nhận định về nhận thức chung của cộng đồng về khoảng cách và không gian là không thể tránh khỏi, do sự xuất hiện của các loại hình vận tải tốc
Trang 22độ cao (ví dụ như đường sắt và hàng không) và truyền thông (điện báo hoặc điện thoại) làm tăng đáng kể khả năng tương tác của con người giữa các vùng cách trở địa lý và khác biệt chính trị hiện tại.” (Harvey,1989; Kern,1983)
Tuy nhiên, trong lý thuyết của Gilpinv (1987) về toàn cầu hóa các nền
kinh tế, đã định nghĩa khái niệm toàn cầu hóa là "Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng của các nền kinh tế quốc gia trong thương mại, tài chính và các chính sách kinh tế vĩ mô"
Hai tác giả Cox (1996) và Zajda (2014) thì nhận định rằng “Là một hệ tư tưởng thống trị, toàn cầu hoá gắn liền với chủ nghĩa tân tự do và các giải pháp
kỹ thuật đối với cải cách kinh tế”
Castells (1996) Kobrin (1997), và Carnoy (1999), khi nhắc tới toàn cầu
hóa, lại nhấn mạnh rằng “toàn cầu hóa phụ thuộc vào thông tin đa chiều, kết quả của những tiến bộ trong công nghệ thông tin truyền thông trong nền kinh tế toàn cầu.”
Đặc biệt là Guillen (2000) đã nhận định: “Toàn cầu hoá là một trong những khái niệm phức tạp và tranh cãi nhất”
Chúng tôi tán đồng với quan điểm này của Guillen, bởi vì trong quá trình phân tích tất cả những nhận định khác bên trên về toàn cầu hóa đã cho thấy vấn
đề cốt lõi của quá trình này chính là thay đổi và thích nghi liên tục Do đó, toàn
cầu hóa nên được nhìn nhận từ lịch sử lâu đời của sự giao lưu, tiếp biến giữa các nền văn minh Đông – Tây, như cuộc Thập tự chinh, sự hình thành giao thương qua Con đường tơ lụa, các cuộc phát kiến địa lý hay thông qua con đường xâm thực Phương Đông của chủ nghĩa thực dân Phương Tây, cùng với các công ty Đông Ấn mang vật phẩm địa phương Châu Á như tơ lụa, gốm thô, gia vị đến khắp các vùng mà họ đi qua, từ đó hình thành nên sự giao lưu về kinh tế, văn hóa, thậm chí, sự phụ thuộc trong lĩnh vực kinh tế thương mại và chính trị cũng
đã hình thành trong giai đoạn này
Trang 23Cũng trong lịch sử lâu đời đó, toàn cầu hóa tác động lên tất cả các lĩnh vực và tạo ra những động lực thúc đẩy cải cách, nhằm ứng phó với những mới
mẻ mà nó mang lại cho một cộng đồng địa phương bất kỳ Và, toàn cầu hóa cùng với những tác động của nó đã kéo dài trong suốt quá trình lịch sử từ khi có
sự giao lưu giữa các cộng đồng người, chứ không phải chỉ trong hai thập niên gần đây
“Toàn cầu hóa có thể hiểu là một hiện tượng gắn liền với sự gia tăng về
số lượng cũng như cường độ của các cơ chế, tiến trình và hoạt động nhằm thúc đẩy gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới cũng như sự hội nhập kinh tế và chính trị ở cấp độ toàn cầu Theo đó, toàn cầu hóa làm lu
mờ các đường biên giới quốc gia, thu hẹp các khoảng không gian trên các khía cạnh đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của thế giới.” [48; tr.4]
Quá trình tác động ngày càng phức tạp của toàn cầu hóa mang lại nhiều
cơ hội chuyển mình cho các vùng đất nghèo khó, nhưng cũng chứa đựng nhiều thử thách, như truyền thông toàn cầu, cạnh tranh kinh tế tự do, di dân, hay vấn
đề nhân quyền, môi trường Toàn cầu hóa tác động đến các lĩnh vực ngày càng phức tạp, đa chiều Việc đưa ra một định nghĩa về toàn cầu hóa chỉ đúng trong một giai đoạn ngắn, bởi toàn cầu hóa chính là sự thay đổi không ngừng, tác động vô hình nhưng mạnh mẽ đến tất cả các công dân trong ngôi làng toàn cầu, bất kể họ có nhận diện được hiện tượng đó hay không, đều không thể đứng ngoài làn sóng của toàn cầu hóa
Những nhận thức trên về toàn cầu hóa cho thấy toàn cầu hoá là một hiện tượng, một cấu trúc văn hoá đa chiều, phản ánh sự phụ thuộc (bị động) và kết nối (chủ động) của tất cả các khía cạnh cốt lõi trong xã hội: văn hoá, kinh tế, chính trị, tư tưởng, ngôn ngữ, giáo dục, hàng tiêu dùng, du lịch, phương tiện truyền thông, công nghệ, tư duy của con người và trí tuệ nhân tạo trên khắp thế giới
Trang 24Điều đó có nghĩa là, dù muốn hoặc không, mỗi lĩnh vực, mỗi con người, đều không thể đứng ngoài dòng chảy của toàn cầu hóa, tất cả đều bị tác động
Sự phản ứng lại, hay cải biến, để thích nghi với tác động của toàn cầu hóa, là yêu cầu tất yếu trong tình huống này
1.1.2 Vấn đề quốc tế hóa
Nếu như thuật ngữ toàn cầu hóa được sử dụng liên tục để mô tả những thay đổi sâu sắc mà thế giới đang trải qua, do phát triển công nghệ mới và mở rộng các tiến trình một cách tự do, khiến cho nền kinh tế của các quốc gia phụ thuộc ngày càng tăng; thì Quốc tế hoá, thường xuyên được nhắc tới với vai trò như là các hoạt động kinh tế cụ thể mà một số công ty, hay quốc gia đang thực hiện, để đạt được yêu cầu hay chuẩn mực cho một đối tượng người dùng rộng rãi ở phạm vi quốc tế [19; tr.5] Ví dụ như ký kết một hiệp định thương mại nhằm giải quyết hoặc thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai hoặc nhiều quốc gia, những nỗ lực của một doanh nghiệp để bán sản phẩm ra nước ngoài, cam kết chuẩn hóa sản phẩm hoặc dịch vụ để đạt chuẩn trên phạm vi quốc tế, đa dạng hóa ngôn ngữ trên bao bì hoặc các hoạt động liên kết chi nhánh ở nhiều nước
Trong lĩnh vực văn hóa xã hội, thuật ngữ quốc tế hóa cũng được sử dụng
để mô tả các mối quan hệ xã hội và văn hoá gần gũi giữa nhiều quốc gia [6; tr.4]
Do các sản phẩm đang được bán trên thị trường quốc tế, cải tiến về viễn thông,
di cư lao động từ nước này sang nước khác và phát triển du lịch, cải tiến quy trình hải quan làm cho giá trị văn hóa và sự lan tỏa bản sắc của mỗi quốc gia ngày càng được phổ biến rộng khắp trên thế giới Thuật ngữ "quốc tế hóa" không đề cập đến một nền văn hoá ngày càng đồng nhất hoặc toàn cầu, mà tiếp cận một cách nhân văn hơn, như là cách các công dân mang nền văn hoá của quốc gia họ vượt ra khỏi ranh giới địa lý, phổ biến và nhân rộng nó cùng với môi trường làm việc của họ ở một quốc gia khác Nếu nhìn từ góc độ này, thì quốc tế hóa là một phản ứng mang tính lựa chọn, còn toàn cầu hóa là một dòng chảy bắt buộc và đòi hỏi thích ứng để không bị cuốn trôi
Trang 25Ở một khía cạnh khác, quốc tế hóa còn được xem như một quan điểm chính trị mới, đối lập với toàn cầu hóa [28; tr.3]
Theo một số nhà nghiên cứu, (Herman E Daly, 1999; Kelsey Mowatt, 2017), toàn cầu hoá đã làm cho một số quốc gia nhất định, đặc biệt là các nước đang phát triển, bị phụ thuộc nặng nề vào một thể chế, quốc gia bên ngoài, làm mất sự độc lập tương đối trong các quyết định kinh tế hoặc cải cách xã hội, mà lợi ích của việc này lại phục vụ cho một nhóm kinh tế, chính trị khác bên ngoài, thay vì phục vụ cho các công dân trong nước Theo đó, toàn cầu hóa được hiểu như một hình thức của chủ nghĩa thực dân mới, còn quốc tế hóa chính là hoạt động ứng phó chủ động với toàn cầu hóa
1.1.3 Những tác động của toàn cầu hóa đối với giáo dục đại học
“Dưới ảnh hưởng của toàn cầu hóa và tự do hóa, giáo dục đại học đang dần trở thành một thứ hàng hóa được giao dịch trên thị trường kinh tế tri thức quốc tế thông qua các hoạt động đàm phán, trao đổi giữa các quốc gia
Hoạt động trao đổi này thường được đặt một cái tên khá mĩ miều: quốc tế hóa giáo dục Quốc tế hóa giáo dục đại học đang dần trở thành một xu thế lớn, được nhiều hệ thống giáo dục đại học chọn lựa và coi nó như một điều kiện thuận lợi để phát triển và hội nhập với giới tri thức toàn cầu.” [64; tr.3]
Một số ý kiến cho rằng, thế giới đại học đang xuất hiện một loại chủ nghĩa thực dân mới, tương tự như cách mà toàn cầu hóa đang chi phối Tuy nhiên, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, quốc tế hóa trong giáo dục đại học là một xu hướng hoàn toàn trái ngược với “chủ nghĩa thực dân mới trong giáo dục đại học” nói trên
Đó là một chuỗi các hoạt động ứng phó với toàn cầu hóa trong giáo dục đại học, bao gồm các hoạt động nâng cao chất lượng đại học [32; tr.5] như: sử dụng ngôn ngữ quốc tế trong giảng dạy; tăng cường các học bổng trao đổi sinh viên, nhà nghiên cứu với một hay nhiều đại học đối tác nước ngoài; thành lập các dự án, chương trình nghiên cứu xuyên quốc gia; xây dựng hệ thống phòng
Trang 26thí nghiệm, trung tâm, mô hình thực nghiệm có chất lượng cao dẫn đầu các đại học trong khu vực hoặc toàn thế giới; nâng chuẩn, tăng cường đòi hỏi về chất lượng các báo cáo khoa học; nâng cao tiêu chuẩn đối với các nhà nghiên cứu; tăng cường sự am hiểu lẫn nhau giữa đại học các nước về bản sắc văn hóa, hình thành các chương trình đào tạo quốc tế có tính hợp lý cao, vừa nâng cao chất lượng đào tạo, vừa tạo môi trường đa văn hóa trong giáo dục đại học
Trong bối cảnh toàn cầu hóa thì quốc tế hóa (internationalization) giáo
dục đại học là một xu hướng không thể tránh khỏi Trong xu hướng này, các hoạt động đại học được mở rộng trong giao dịch xuyên quốc gia, nhanh chóng xóa bỏ ranh giới về ngôn ngữ, thoát khỏi các đặc tính truyền thống, bản địa Do
đó, một số ý kiến cho rằng quốc tế hóa giáo dục đại học là chạy theo kinh tế tự
do, là cách các quốc gia biến hệ thống đại học của mình thành một thị trường, ở
đó buôn bán tri thức và cạnh tranh như giữa các doanh nghiệp hay tập đoàn kinh
tế thị trường [7; tr.10]
Như vậy, toàn cầu hóa và quốc tế hóa giáo dục đại học là hai quá trình diễn ra song song nhưng đối lập Một lần nữa chúng tôi muốn khẳng định rằng, quốc tế hóa giáo dục đại học là bước đi cần thiết và quan trong nhất trong chuỗi các phản ứng với toàn cầu hóa.Trong giáo dục đại học, toàn cầu hóa tác động lên hệ thống này thông qua một số biểu hiện cụ thể gồm:
Trang 271.1.3.1 Giáo dục trở thành ngành đại công nghiệp
Dưới tác động của toàn cầu hóa, sự gia tăng liên kết giữa các lĩnh vực ngày càng mạnh mẽ Dựa trên mối quan hệ giữa kết quả giáo dục với hiệu quả
của các ngành kinh tế khác, giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa không tồn tại
tách biệt mà là một ngành công nghiệp song song với các ngành công nghiệp còn lại [12; tr.9]
Thứ nhất, giáo dục cung cấp sản phẩm trực tiếp cho các ngành công nghiệp liên quan (là nguồn nhân lực đã qua đào tạo và được phân luồng dựa vào
chất lượng – được xem là sản phẩm truyền thống của ngành giáo dục) Đây là
sản phẩm đặc thù chỉ có ngành công nghiệp giáo dục nói chung, ngành công nghiệp đại học nói riêng [14; tr.7] mới có khả năng cung cấp cho toàn xã hội, bởi quá trình tạo ra sản phẩm hoàn toàn riêng biệt, từ nhân tố con người, chương trình đào tạo, giáo viên, phương pháp đào tạo.v.v
Thứ hai, nền giáo dục hiện đại cung cấp một hệ thống chương trình, giáo trình, văn bằng như một sản phẩm có thể trao đổi trên thị trường, bao gồm: nhượng quyền thương hiệu đại học, đào tạo liên kết, xuất bản giáo trình, trao đổi giảng viên, cho thuê cơ sở đào tạo, cho thuê nguồn học liệu điện tử, thương mại
hóa các công tình nghiên cứu ứng dụng (sản phẩm của ngành giáo dục hiện đại)
Bằng hai hình thức nói trên, ngành giáo dục cung cấp ngày càng đa dạng những sản phẩm cho các ngành công nghiệp khác Giáo dục đại học trong giai đoạn toàn cầu hóa đang trở thành một mắt xích quan trọng giữa công nghiệp – thương nghiệp – chính trị, và trở thành cầu nối, sự kỳ vọng của các doanh nghiệp trong việc tạo ra các đột phá mang lại lợi nhuận cao
1.1.3.2 Sự bắt buộc phải thay đổi và cải tiến
Tiêu chuẩn và kết quả đầu ra của giáo dục trong bối cảnh toàn cầu, không chỉ là kết quả của riêng ngành giáo dục Việc cải tiến quy trình, chất lượng đào tạo là bắt buộc, được tạo ra từ áp lực của hai nhân tố
Trang 28Thứ nhất, tự cải tiến do yêu cầu đuổi kịp và cạnh tranh, vì toàn cầu hóa
đem lại sự tự do cạnh tranh trong một môi trường mở rộng hơn rất nhiều Đại học nói riêng, giáo dục nói chung, không chỉ cạnh tranh với các đơn vị trong nước, mà còn phải đối mặt với các đối thủ quốc tế, đang ngày càng trở nên nhiều hơn, tốt hơn nhờ các chính sách tự do hóa và thương mại hóa mở rộng
Thứ hai, cải tiến do nhu cầu nhân lực chất lượng cao của doanh nghiệp
và xã hội như đã trình bày ở phần trên
Những thay đổi và cải tiến trong giáo dục diễn ra ở hai khía cạnh, một là,
sự thay đổi ở mặt vĩ mô (cơ cấu lại hệ thống giáo dục, chính sách – luật giáo dục, các chương trình cải cách quốc gia, hoạt động tiếp cận hệ thống giáo dục quốc tế), hai là về khía cạnh chuyên môn (chương trình giảng dạy nghiên cứu, giáo trình, phương pháp, hệ thống cơ sở vật chất – dữ liệu, nhân lực phục vụ ngành)
Sự bắt buộc phải thay đổi và cải tiến là dấu hiệu tác động rõ ràng nhất của toàn cầu hoá đối với giáo dục đại học [13; tr.5]
1.1.3.3 Sự xuất hiện trường đại học tự chủ tài chính và kinh doanh
Nền giáo dục truyền thống cung cấp dịch vụ giáo dục như là một phúc lợi
xã hội trong thời gian dài, với sự hỗ trợ phần lớn chi phí từ chính phủ - thông qua thuế và ngân sách- điều động sự giúp đỡ của toàn xã hội cho các hoạt động xây dựng, trang bị phương tiện dạy học, chi trả lương giáo viên.v.v
Tuy nhiên, ở một giai đoạn khác của giáo dục, khi mà toàn cầu hóa tác động sâu rộng, giáo dục trở thành một ngành kinh tế [19; tr.2] Các trường đại học được trao quyền tự chủ về mặt tài chính và độc lập trong các khoản thu chi nhằm giảm áp lực của ngân sách, cũng như giảm phụ thuộc trong cách quyết định chuyên môn Bằng sự nhạy bén, ở các nước phát triển xuất hiện ngày càng nhiều hơn các nhà kinh tế học am hiểu giáo dục, các nhà giáo dục nhạy bén về kinh tế, các trường học, tổ hợp, các đại học kinh doanh bắt đầu xuất hiện như một doanh nghiệp thực thụ [9; tr.8] Các đại học này kinh doanh chính sản phẩm của mình, mang lại lợi nhuận, và cạnh tranh gay gắt với các đối thủ khác
Trang 29bằng chất lượng đào tạo, công trình nghiên cứu khoa học, thu hút chuyên gia bằng các chính sách đãi ngộ, thu hút sinh viên bởi học phí, học bổng Các trường đại học lâu đời cũng bắt đầu chuyển hướng hoạt động với hàng loạt những cạnh tranh tương tự, bao gồm việc mở các công ty con trong hệ thống trường của mình
1.1.3.4 Phân tầng xã hội theo kiến thức và công nghệ
Phân tầng xã hội diễn ra đã từ rất lâu trong lịch sử, đó là “sự phân chia các cá nhân hay các nhóm xã hội thành các tầng lớp khác nhau, về địa vị kinh tế, địa vị chính trị, học vấn, kiểu dáng nhà ở, nơi cư trú, phong cách sinh hoạt, cách ứng xử, sở thích nghệ thuật.” [66; tr.1]
Một trong những tác động rất lớn của toàn cầu hóa, đó là khiến cho sự phân tầng xã hội trở nên mạnh mẽ hơn, dựa vào một yếu tố đánh giá hoàn toàn
mới mẻ: kiến thức và công nghệ [14; tr.23] Một xã hội dựa trên sự hiểu biết
kiến thức, cập nhật về công nghệ để cạnh tranh, phát triển, sẽ tạo ra những vùng, quốc gia, hoặc cộng đồng người bị bỏ lại do chậm cập nhật hoặc điều kiện kinh
tế chưa cho phép Sự hình thành các tầng lớp ưu trội trong xã hội dựa vào kiến thức, công nghệ ngày càng nhiều hơn [12; tr.7] Tương tự, những cá nhân, khu vực được đánh giá kém phát triển, cũng ngày một nhiều hơn dựa trên sự đánh giá về khả năng hiểu biết, sử dụng, và sức mạnh về công nghệ, chứ không chỉ dựa trên những yếu tố như kinh tế hay chính trị
1.1.4 Về khái niệm cải cách giáo dục đại học
Lịch sử phương Tây chứng kiến nhiều cuộc cách mạng xã hội lớn, đánh dấu bước ngoặt chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội cũ sang hình thái kinh tế - xã hội mới Trong khi đó, ở phương Đông lại ghi nhận nhiều cuộc cải cách mang tính lịch sử trong thời kì cận hiện đại mà trong đó, mở đầu là sự thành công của cải cách Minh Trị, sau đó là cải cách Chulalongkorn cuối thế kỷ XIX Mãi cho đến sau Thế chiến II, phong trào cải cách đã phát triển khá sôi nổi ở các nước
Trang 30châu Á Cùng với lịch sử đó, có rất nhiều khái niệm về cải cách đã được hình thành
A.I.Iakovlevcho rằng: “cải cách là một quá trình tổng thể của việc xây dựng lại xã hội trên một giai đoạn mới do chính quyền thực hiện với mục tiêu thực hiện bước nhảy vọt về chất lượng không cần áp dụng các biện pháp mạnh”
Theo Lenin: “Cải cách là một chương trình kinh tế - xã hội do giai cấp thống trị chủ trương tiến hành trong điều kiện “bên dưới” chưa đủ khả năng làm cuộc cách mạng, “bên trên” không đủ khả năng quản lý đất nước như trước.”
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, cải cách là “sửa đổi những bộ phận cũ (trong lĩnh vực kinh tế, xã hội) cho thành hợp lý và đáp ứng yêu cầu khách quan hơn”
Như vậy, có thể thấy cải cách là một hoạt động mang tính chủ động của
các nhà quản lý Trong đó, cải cách giáo dục đại học, cũng như các hoạt động
cải cách kinh tế xã hội khác, là một bộ phận của cải cách hành chính [14; tr.6] Hoạt động này được chính phủ chủ trương thực hiện trong lĩnh vực giáo dục đại học nhằm đối phó với những khủng hoảng mà hệ thống đại học đang gặp phải, khi hệ thống đại học cũ đã không còn phù hợp và không đủ sức để đáp ứng với thực tiễn mới phát sinh
Tuy nhiên, các hoạt động trong cải cách giáo dục đại học ở Nhật Bản không chỉ diễn ra bên trong ngành giáo dục hay chỉ một bậc học đại học đơn nhất Các hoạt động cải cách đại học có liên quan đến hầu hết lĩnh vực trong đời sống xã hội, có tác động lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của cả nước Nhật
Do đó, khái niệm cải cách giáo dục và cách mạng giáo dục gần như là một từ khóa chung, hai khái niệm này được sử dụng tương đồng khi nói về cải cách giáo dục ở Nhật Bản
Trang 31Tập đoàn hoá (incorporation) là một trong những xu hướng phát triển
của hệ thống giáo dục đại học Nhật Bản và một số quốc gia khác trong cải cách giáo dục Trong xu hướng này, các cơ sở giáo dục đại học đơn ngành được kết hợp và tổ chức lại thành các đại học đa ngành, đa lĩnh vực với quyền tự chủ và
tự chịu trách nhiệm cao về tài chính và chuyên môn Xu hướng trên được thực hiện với nhiều chính sách và mô hình mới về cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy quản lý, đầu tư tài chính và đội ngũ giảng viên được chính phủ chủ động thực hiện trao quyền cho các trường đại học công nhằm đối phó với những bất ổn của
hệ thống giáo dục đại học sau giai đoạn đại chúng hóa của các thập niên trước [38; tr.10]
Ở Nhật Bản, thuật ngữ này thường được dùng thay thế bởi cụm từ “tư nhân hoá” hay “pháp nhân hoá” vì các trường đại học tập đoàn được trao quyền
tự chủ về tài chính và học thuật, được trao quyền quyết định trong các hoạt động của mình, cùng với điều đó, hội đồng nhà trường cũng có sự tham gia của đại
diện khối doanh nghiệp, trực tiếp điều phối một số hoạt động quản lý nhà trường
Đại học tập đoàn ( 学閥大学 - gakubatsu daigaku) là kết quả của quá
trình tập đoàn hóa, một loại hình đại học công được quản lý theo cơ chế doanh nghiệp, được tự chủ về học thuật và mọi vấn đề liên quan như một đơn vị độc lập
Trang 32Khác với cách hiểu rằng đại học tập đoàn là một doanh nghiệp, kinh doanh vì lợi nhuận và là một hình thức thị trường hóa hoạt động giáo dục, thực chất, tên gọi “tập đoàn” là dùng để nhấn mạnh tính tự trị cao của mô hình này Theo phân loại, đại học tập đoàn vẫn là đại học công
Yêu cầu tiên quyết đối với các đại học này thường là dẫn đầu về chất lượng, nhất là mặt học thuật Tuy nhiên, để gia tăng tính cạnh tranh bằng việc tự cải tiến từ bên trong, đại học tập đoàn được cơ cấu khác biệt về hội đồng nhà trường và vấn đề tài chính (xem Hình 1)
Đại học tập đoàn được quyền hoạt động tự chủ như một đơn vị hành chính độc lập Đứng đầu đại học tập đoàn là chủ tịch đại học (tương đương hiệu trưởng), được Ủy ban tuyển chọn chủ tịch lựa chọn [38; tr.8]
Trợ giúp cho chủ tịch đại học là các hội đồng giám đốc đại học, gồm các giám đốc phụ trách từng lĩnh vực như tài chính, nhân sự,…Ủy ban tuyển chọn chủ tịch là đơn vị có uy tín, được tập hợp bởi nhiều chuyên gia bên ngoài nhà trường và đại diện các cơ sở giáo dục trong tập đoàn đại học, hội đồng đào tạo, nghiên cứu [45; tr.7]
Trang 33Hình 1 Sơ đồ hệ thống tập đoàn đại học
Thông tin rộng rãi và đánh giá 3 bên
1.2 Nhật Bản trước ảnh hưởng của toàn cầu hóa
1.2.1 Nền kinh tế Nhật Bản trước những tác động của toàn cầu hóa
Nền kinh tế Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II với sự khôi phục thần kỳ đã trở thành một hiện tượng về tận dụng ngoại lực Tuy nhiên, trước những tác động của toàn cầu hóa, kinh tế Nhật Bản cũng không tránh khỏi các đợt khủng hoảng lớn Trong mục này, chúng tôi đề cập đến những cuộc khủng hoảng lớn của nền kinh tế Nhật Bản bắt nguồn từ các sự kiện bên ngoài, bao
Tập đoàn đại học công
Đại học độc lập và tự chủ trong
quản lý tài chính và nhân sự
Kết quả đánh giá 3 bên là cơ sở phân bổ các nguồn lực
Ủy ban tuyển chọn chủ tịch ( có sự tham gia của đại diện các tổ chức
bên ngoài trường đại học)
Các chuyên gia bên
ngoài tham gia quản
lý (Hội đồng quản trị)
Chủ tịch đại học (người quản lý cao nhất như doanh nghiệp tư nhân) ( Hội đồng các giám đốc
hỗ trợ)
Đại diện các cơ sở giáo dục trong tập đoàn ĐH (Hội đồng đào tạo và nghiên cứu)
Trang 34gồm: khủng hoảng dầu mỏ 1973 và 1981, hiện tượng “kinh tế bong bóng” cuối thập niên 1980 đầu 1990, và thời kỳ trì trệ kéo dài trong nhiều năm đầu Thế kỷ XXI
Trong đợt khủng hoảng dầu mỏ 1973, khi các nước OPEC thực hiện cấm
vận dầu mỏ với một số quốc gia, giá dầu tăng vọt và nhu cầu sử dụng dầu mỏ ở nước ngoài tăng cao, Nhật Bản lại là nước phụ thuộc gần như hoàn toàn vào dầu lửa nhập khẩu nên cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973-1975 đã làm kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng tồi tệ trong lịch sử kinh tế khu vực [24; tr.32]
Mức độ khủng hoảng trong giai đoạn này của Nhật Bản nghiêm trọng nhất trong các nước công nghiệp phát triển và còn nghiêm trọng hơn cả hồi Đại khủng hoảng [24; tr.41] Nhất là các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng như đóng tàu, luyện thép, hóa dầu, dệt, gia công kim loại
Tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng này đã khiến Nhật Bản phải tích cực triển khai chương trình tiết kiệm năng lượng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ Còn trong khu vực chế tạo, giảm tỷ trọng của các ngành dùng nhiều năng lượng, tăng tỷ trọng của các ngành có hàm lượng tri thức cao (sản xuất máy tính, máy bay, người máy công nghiệp, mạch tổ hợp ), các ngành sản xuất theo mốt (quần áo chất lượng cao,
đồ điện dân dụng, thiết bị nghe nhìn, ) và công nghệ thông tin [24; tr.37] Nhật Bản nhấn mạnh hơn nữa nghiên cứu khoa học cơ bản để có thể chuyển sang các ngành kinh tế mới
Trong cuộc khủng hoảng 1979-1981, nhờ những cải cách tích cực, Nhật
Bản chỉ bị ảnh hưởng nhẹ Trước đó, Nhật Bản cũng đã kịp thời hồi phục sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất
Tuy nhiên, trong thời kỳ bong bóng kinh tế, (thời kỳ bắt đầu từ sau thỏa
ước Plaza 1985, khi giá trị ảo của tài sản và đồng Yên Nhật tăng quá cao so với giá trị thực tế, bong bóng kinh tế này mô tả hiện tượng thổi phồng giá trị thực của tài sản lên thành giá trị ảo và sẽ vỡ khi lên đến đỉnh điểm, gây nhiều hậu quả
Trang 35nghiêm trọng), thời kỳ kéo dài hơn bốn năm từ tháng 12 năm 1986 đến tháng 2
năm 1991, Nhật Bản đã phải liên tục ứng phó bằng nhiều chính sách để cân bằng kinh tế quốc nội [21; tr.52]
Đầu tiên là việc đồng Yên lên giá quá cao, các ngân hàng Nhật Bản đã phải thực hiện chính sách hạ lãi suất để đối phó với điều đó Tính thanh khoản cao quá mức trong thời điểm này dẫn tới việc đầu cơ tài sản, làm tăng giá tài sản
so với giá trị thực tế rất nhiều, đặc biệt là trái phiếu và các tài sản tài chính
Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác của Nhật Bản sau một thời gian dài đầu tư vào các xí nghiệp trong khu vực chế tạo thì đến thời kỳ này bắt đầu đầu tư vào các tài sản tài chính
Họ cũng tích cực cho vay đối với các dự án phát triển bất động sản, chấp nhận các tài sản tài chính và bất động sản làm thế chấp khi cho các xí nghiệp và
cá nhân vay vốn Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến các
tổ chức tín dụng của Nhật Bản sau này mắc phải tình trạng nợ khó đòi khi bong bóng kinh tế và bong bóng giá tài sản vỡ [21; tr.63]
Năm 1989, Nhật Bản nâng thuế suất thuế tiêu dùng, cùng năm đó, Chiến tranh vùng Vịnh khiến giá dầu lửa tăng vọt Tháng 10 năm 1990, Ngân hàng Nhật Bản buộc phải thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt và bong bóng kinh tế
vỡ vào năm 1991
Sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu thập niên 1990, kinh tế Nhật Bản
chuyển sang thời kỳ trì trệ kéo dài Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân
hàng năm của giai đoạn 1991-2000 chỉ là 0,5% - thấp hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước và liên tục đi xuống đến mức tăng trưởng âm (xem bảng 1)
Trang 36Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP Nhật Bản qua các năm
Nguồn: Văn phòng Nội các Chính phủ Nhật Bản, https://www.japan.go.jp
Theo nhận định của các nhà kinh tế học, có bốn đặc điểm của toàn cầu hóa trong nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là trong giai đoạn sau những năm 1990 đến nay
Một là, những thay đổi về tỷ giá hối đoái, cụ thể là giá đồng Yên và đồng
Đô la Mỹ và tác động kinh tế của chúng Sau khi chuyển sang hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi, Nhật Bản đã phải đối mặt với sự tăng giá mạnh của đồng Yên vào cuối những năm 1980 cũng như trải qua sự tăng giá dài hạn của đồng Yên Những thay đổi tỷ giá đã tác động đáng kể đến nền kinh tế Nhật Bản, tạo nên hiện tượng nền kinh tế bong bóng
Hai là, điểm đến của loại hình đầu tư trực tiếp của Nhật Bản dần chuyển
sang khu vực Đông Á, đây là kết quả của hoạt động doanh nghiệp mạnh mẽ thông qua vai trò đối tác thương mại của Mỹ
Ba là, liên quan đến các giao dịch tài chính và vốn của Nhật Bản, đầu tư
vốn từ nước ngoài tăng lên, nhưng các giao dịch tài chính và vốn quốc tế của
Trang 37Nhật Bản đã không tăng, ngoại trừ trong giai đoạn nền kinh tế bong bóng Sự phát triển tài chính và vốn đã bị đình trệ
Bốn là, quan hệ quốc tế của nền kinh tế Nhật Bản không sâu sắc như các
nước châu Âu và Bắc Mỹ Theo các chuyên gia (Ryoichi Mikitani; Hiroshi Mikitani, 2013), Nhật Bản có những động thái kém tích cực trong việc ứng phó với toàn cầu hóa Mặc dù toàn cầu hóa ở Nhật Bản có lẽ đang diễn ra khá mạnh, nhưng nó không phải là trường hợp quá sâu sắc khi so sánh với các nước châu
Âu và Bắc Mỹ [21; tr.16]
1.2.2 Xã hội Nhật Bản và những biến đổi trước toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa dựa trên nền tảng của phát triển khoa học kỹ thuật và đặc biệt là internet và trí tuệ nhân tạo (A.I) đã tác động không nhỏ đến toàn bộ xã hội Nhật Bản Một số vấn đề được chúng tôi xem xét trong phần này bao gồm
tác động của toàn cầu hóa đối với bộ phận lớn người trẻ tuổi trong xã hội Nhật Bản, vấn đề nhập cư, và rào cản ngôn ngữ
Thứ nhất, những khó khăn của người trẻ ở Nhật Bản là vấn đề được quan
tâm nhất hiện nay trong cộng đồng Một loạt các vấn đề họ phải đối diện như tự
tử, tỷ lệ trầm cảm cao, ngại tiếp xúc xã hội, hẹn hò ảo, không kết hôn, và nhiều vấn đề khác như lao động đến kiệt sức (thậm chí dẫn đến tử vong), sống tạm bợ tại các quán net Theo Akiko Kitamura, nhà nghiên cứu cao cấp thuộc Viện Nghiên cứu đời sống Daichi, các hiện tượng này xuất phát từ việc giới trẻ Nhật Bản chịu áp lực gắt gao của nền kinh tế trì trệ kéo dài Trong đó, một phần gánh nặng tài chính do công việc bấp bênh, lao động tạm thời chiếm đến 40% lực lượng lao động trẻ Nền kinh tế toàn cầu với với mở cửa và cạnh tranh tự do mạnh mẽ, trong khi đó, theo OECD, Nhật Bản là một trường hợp chậm thích ứng với toàn cầu hóa
Áp lực cạnh tranh trong nghề nghiệp, cũng như sự kỳ vọng và gây áp lực
từ phụ huynh và gánh nặng kinh tế sau khi kết hôn đã làm cho một bộ phận người trẻ lựa chọn độc thân Bên cạnh đó, sự gia tăng của các nền tảng công
Trang 38nghệ ảo cũng tạo ra hiện tượng hẹn hò với nhân vật ảo trên các trò chơi điện tử
Ngoài ra, tỷ lệ người trẻ sống xa lánh xã hội cũng gia tăng Hikikomori, tên gọi
của những thanh niên bên lề xã hội, không tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài và chỉ ở lì trong nhà làm bạn với máy tính- là một xu hướng phổ biến Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản nhận định đây là hiện tượng thường xảy ra ở độ tuổi 13-29 Phía sau cuộc sống tách biệt với xã hội của các hikikomori là cả một bi kịch dài về những áp lực giới trẻ Nhật đang gánh vác trên vai, tính đến tháng 10 năm 2017, ở Nhật có tới 1,2 triệu người mắc hội chứng này Theo CNN, đã có hơn 18.000 người Nhật dưới 18 tuổi tìm đến cái chết kể từ năm 1972 Kenzo Denha (2017) cho biết cứ 4 học sinh trung học, có một bạn mắc bệnh trầm cảm
và bệnh này còn được phát hiện ở học sinh tiểu học Những con số đáng kinh ngạc này khiến tự tử trở thành nguyên nhân cao nhất dẫn đến cái chết của trẻ vị thành niên - thanh niên độ tuổi 10-19 tại Nhật
Có thể thấy rằng, tất cả những hiện tượng trên được tạo thành từ mâu thuẫn của hai yếu tố: tính truyền thống của xã hội Nhật Bản và các tác nhân mới của toàn cầu hóa
Thứ hai, vấn đề người nhập cư là một biến đổi lớn trong xã hội Nhật Bản
hiện nay Để đối phó với tình trạng già hóa dân số và thiếu hụt lao động, Nhật Bản buộc phải mở rộng chính sách cho người lao động nước ngoài
Chính phủ Nhật Bản dự báo sẽ có khoảng 345.000 lao động nhập cư vào Nhật Bản trong 5 năm tới [24; tr.38] Tỷ lệ nhập cư gia tăng tạo nên nhiều xáo trộn trong đời sống xã hội trong nước Một là, tỷ lệ lao động nhập cư trong các ngành nghề có trình độ thấp, chiếm một phần lớn lao động nước ngoài ở Nhật Bản Điều này gây ra áp lực trong vấn đề an ninh xã hội như nạn trộm cắp hay
tỷ lệ phạm pháp gia tăng Trước đây, Nhật Bản được đánh giá là một quốc gia
an toàn, nhưng trong những năm gần đây càng ngày càng có nhiều bất ổn liên quan đến người nhập cư được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông Hai
là, vấn đề mâu thuẫn trong chính sách dành cho người nhập cư Dữ liệu của Bộ
Trang 39Tư pháp Nhật Bản cho thấy 29% trong tổng số 2,56 triệu người nước ngoài cư trú tại Nhật có tư cách pháp nhân, khoảng 749.000 người thường trú vào cuối năm 2017 (năm 1997 là 82.000 người) Đây là những người giữ vai trò quan trọng lực lượng lao động Nhật Bản, nhưng hiện nay Nhật Bản vẫn đang phủ nhận chính sách nhập cư Trong cuộc thảo luận trước quốc hội ngày 10/12/2018, Thủ tướng Abe khẳng định rằng việc sửa đổi các luật sẽ không mở ra cơ hội cho những người nhập cư định cư ở Nhật Bản vĩnh viễn, trừ một số rất ít người lao động có trình độ cao
Như vậy, rõ ràng là chính sách và tình huống thực tiễn về vấn đề nhập cư
ở Nhật Bản đang mâu thuẫn, vừa phụ thuộc vào lao động nhập cư, vừa phủ nhận
sự cư trú lâu dài của họ, trong khi tỷ lệ sinh trong nước vẫn không có dấu hiệu tăng Bên cạnh đó, nhiều người dân bình thường ở Nhật cũng lo ngại các trường hợp như ở Tây Âu, như nguy cơ xảy ra các vụ tấn công phá hoại, khủng bố tại các thành phố có đông người nhập cư
Thứ ba, rào cản ngôn ngữ trở nên rõ ràng hơn trong bối cảnh toàn cầu
hóa ở trường hợp Nhật Bản Điều này thể hiện ở hai khía cạnh là khả năng sử dụng tiếng Anh của người Nhật và những đòi hỏi về trình độ tiếng Nhật đối với người nhập cư
Từ lâu, tiếng Anh của người Nhật được cho là kém hơn so với các quốc gia phát triển khác Mặc dù theo khảo sát trung bình, điểm TOEFL của người Nhật là 70/120 (số liệu khảo sát năm 2010, Nhật Bản có điểm TOEFL trung bình thứ 4 từ dưới lên, xếp ngay trên Lào một bậc) Dù là số điểm tương đối khá, nhưng nó không phản ánh được thực tế sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, điểm số tiếng Anh và khả năng lưu loát Anh ngữ của người Nhật là rất tách biệt
Bên cạnh đó, kết quả khảo sát về trình độ tiếng Anh của tổ chức giáo dục quốc tế EF công bố năm 2014 với 60 nước được EF chọn để nghiên cứu từ năm
2007 đến 2012, trình độ tiếng Anh của người Nhật đứng thứ 26/60 Ngoài ra, công bố này nhấn mạnh EF nhấn mạnh suốt 6 năm trong thời kỳ khảo sát trên,
Trang 40trình độ tiếng Anh của người Nhật thậm chí còn kém đi, trong khi nhiều nước khác tại khu vực Đông Nam Á như Indonesia hay Việt Nam tiến bộ vượt bậc
Đến năm 2015, Bộ Giáo dục Nhật cũng đã phải thừa nhận rằng học sinh Nhật rất kém tiếng Anh, với kết quả khảo sát với khoảng 480 trường công lập tại
47 tỉnh của Nhật, hơn 50% học sinh phổ thông không đạt được trình độ tiếng Anh theo mức tối thiểu của Bộ Giáo dục Nhật, trong đó có đến 30% học sinh bị điểm 0 trong kỹ năng viết và 13% bị điểm 0 trong kỹ năng nói, cũng theo số liệu của MEXT, 60% học sinh trả lời họ không thích học tiếng Anh Chính vì vậy việc học tiếng Anh cho đến nay chủ yếu là để đối phó với các kỳ thi
Về các quy định tiếng Nhật đối với lao động nhập cư vào Nhật Bản, các chuyên gia của Rakuten, Inc, công ty thương mại điện tử và Internet của Nhật Bản đứng trong hàng những công ty tầm cỡ thế giới, trong danh sách tỷ phú của tạp chí Forbes (tổng tài sản của nhà sáng lập lên đến 8,7 tỷ đô la năm 2015 và là doanh nghiệp nổi tiếng trong chính sách cách tân hệ thống quản trị), cho rằng, những đòi hỏi bắt buộc về chứng chỉ năng lực tiếng Nhật chính là rảo cản lớn đối với rất nhiều lao động trình độ cao muốn chọn Nhật Bản là nơi sinh sống và làm việc Nhật Bản có thể khá thành công với việc giảng dạy tiếng Nhật cho những người yêu thích văn hóa Nhật, như học sinh sinh viên quốc tế, nhưng đối với các chuyên gia và lực lượng lao động đã có tay nghề, họ không nhất thiết phải lựa chọn học thêm một ngôn ngữ quá khó như tiếng Nhật [28; tr.4]
Thay vào đó, họ có thể đến các quốc gia khác có chỉ số hấp dẫn tương đương nhưng sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính như Thụy Điển, Phần Lan, New Zealand Bên cạnh vấn đề quy định bắt buộc về tiếng Nhật, thì khả năng sử dụng tiếng Anh của người Nhật cũng là một trong những yếu tố gây khó khăn, thậm chí với khách du lịch hỏi thăm đường đi hoặc cần hỗ trợ khẩn cấp
1.2.3 Nguồn lực con người Nhật Bản và những thách thức mới
Già hóa dân số và nguồn lực con người đang là vấn đề rất lớn đối với
Nhật Bản