Với một lượng từ vựng khổng lồ, trong đó chưa kể đến vấn đề có nhiều từ đồng nghĩa nhau cùng chỉ một sự vật, hiện tượng hay cùng biểu đạt một ý tưởng nào đó, trong ngôn ngữ này không có
Trang 1Dẫn luận
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 13
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 14
6 Bố cục của luận văn 15
Chương 1 Một số vấn đề về hiện tượng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa 1 Các khái niệm cơ bản 16
2 Một số đặc điểm của các từ thuộc nhóm đồng nghĩa 29
3 Phân loại từ đồng nghĩa 30
4 Phương pháp giải thích và tìm sự khu biệt 33
ngữ nghĩa của các từ đồng nghĩa
5 Các thế đối lập ngữ nghĩa phổ biến 36
của các đơn vị trong dãy đồng nghĩa 6 Những nét khác biệt giữa các từ đồng nghĩa 39
Chương 2 Phân biệt nghĩa và cách dùng của một số động từ đồng nghĩa trong tiếng Anh (so sánh với tiếng Việt) 1 Mở đầu 43 2 Tiêu chí chọn những nhóm động từ đồng nghĩa 44
Trang 23.2 Nhóm động từ đồng nghĩa ý niệm-phong cách (13 nhóm) 85
Chương 3 Kiểm chứng và đánh giá khả năng sử dụng một số nhóm
động từ đồng nghĩa trong tiếng Anh dùng cho đối tượng
sinh viên Đại học không chuyên
2 Một số nhận định ban đầu về kết quả khảo sát 146
3.1 Nhóm động từ đồng nghĩa có tỉ lệ sử dụng đúng cao (10 nhóm) 148 3.2 Những nhóm động từ đồng nghĩa có tỉ lệ sử dụng đúng thấp (5 nhóm) 162
4 Một số nguyên nhân dẫn đến những hạn chế 168 trong khả năng sử dụng từ đồng nghĩa
5 Một số giải pháp khắc phục hạn chế này 168
Tài liệu tham khảo
Phụ lục (24 tr.)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin chân trọng cảm ơn các quí thầy cô đã hết lòng truyền thụ kiến thức và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn tiến sĩ NGUYỄN HỮU CHƯƠNG, người thầy trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn & Báo chí, cùng bạn bè đồng nghiệp đã dành cho tôi những ý kiến quí báu, những lời động viên khuyến khích, nhất là tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người đã không chỉ lo lắng giúp đỡ, động viên mà còn đóng góp ít nhiều ý kiến thiết thực cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài
Kính bút
Người thực hiện đề tài
NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
Trang 4DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề học ngoại ngữ đang là vấn đề được rất nhiều người quan tâm Tuy nhiên, làm thế nào để có thể nói, nghe, đọc, viết cũng như sử dụng thành thạo một ngoại ngữ như là tiếng mẹ đẻ đang là vấn đề còn nan giải Đặc biệt, khó khăn mà người học ngoại ngữ nào cũng gặp phải là làm thế nào có thể biểu đạt được tư duy, tình cảm của mình một cách chính xác, rõ ràng và xa hơn là diễn đạt được hay nội dung tư tưởng tình cảm đó, đồng thời có được sự phù hợp giữa hình thức và nội dung cần diễn đạt khi sử dụng ngôn ngữ, với tiếng mẹ đẻ đã khó chứ đừng nói chi đây lại là một ngoại ngữ Với một lượng từ vựng khổng lồ, trong đó chưa kể đến vấn đề có nhiều từ đồng nghĩa nhau cùng chỉ một sự vật, hiện tượng hay cùng biểu đạt một ý tưởng nào đó, trong ngôn ngữ này không có sự khác biệt gì mấy nhưng trong ngôn ngữ khác thì lại được phân biệt nhau rất chi tiết Như vậy chọn từ nào đúng nhất để biểu đạt chính xác ý mà chúng ta muốn nói Vấn đề này sẽ không thể thực hiện được nếu chúng ta không đi sâu nghiên cứu một cách thấu đáo các sắc thái nghĩa của từ ngữ, khả năng kết hợp với những từ ngữâ khác, sắc thái biểu cảm của chúng trong từng khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng của chúng…
Tuy vậy, cho đến nay vấn đề từ đồng nghĩa trong tiếng Anh vẫn chưa được
quan tâm đúng mức Có khá nhiều từ điển đồng nghĩa - trái nghĩa: Anh, Việt, từ điển đồng nghĩa - trái nghĩa tiếng Việt, nhưng hầu như các sách này chỉ liệt kê các từ đồng nghĩa – trái nghĩa nhau chứ không hề chỉ ra chi tiết những điểm giống nhau và khác nhau trong nét nghĩa, trong sắc thái biểu cảm hay chúng được dùng trong những bối cảnh cụ thể nào, việc trình bày còn rất rời rạc, phân tán không theo một chủ đề hay một phạm trù nào cả mà chỉ đơn thuần là theo thứ tự a,b,c, khiến cho người học gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt cũng như sử dụng chúng
Trang 5Anh-Người Việt chúng ta thường sử dụng từ theo nghĩa dịch cũng như cách dùng từ đó trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, việc sử dụng này nhìn chung theo thói quen và hiện tượng nhiều từ trong tiếng Anh có cùng một nghĩa trong tiếng Việt là rất phổ biến, đây chính là khó khăn lớn nhất mà người học gặp phải, họ cảm thấy lúng túng khi đứng trước nhiều lựa chọn mà bản thân họ chưa có sự phân biệt rạch ròi nào, nhất là khi trong ngôn ngữ thứ nhất của mình không hề có một khái niệm phân biệt chi tiết
từng khiá cạnh như thế Các lớp từ đồng nghĩa trong tiếng Anh có số lượng rất lớn, nên chúng tôi chỉ có thể chọn một mảng nhỏ trong số này, đó là một số nhóm động từ đồng nghĩa phổ biến, dễ bị nhầm lẫn trong tiếng Anh có đối chiếu với tiếng Việt Việc nghiên cứu này sẽ chỉ ra những khác biệt rất có ích cho người học tiếng
Anh, giúp họ có thể tránh được việc dùng từ sai, dù rằng chúng đều có cùng một nghĩa trong tiếng Việt, nhưng cách dùng của chúng lại rất khác nhau trong những bối cảnh cụ thể, việc thay thế giữa chúng sẽ có thể gây ra những tình huống buồn cười, không chấp nhận được
Đó chính là lí do mà chúng tôi chọn đề tài: “Nghĩa và cách dùng một số động
từ đồng nghĩa trong tiếng Anh (so sánh với tiếng Việt)”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này hướng đến những mục đích chính sau đây:
1.2.1 Khảo sát một số nhóm động từ đồng nghĩa phổ biến nhưng lại dễ bị nhầm lẫn trong tiếng Anh gồm 25 nhóm động từ đồng nghĩa bằng việc đặt chúng cạnh nhau trong những bối cảnh sử dụng cụ thể, để từ đó tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về nghĩa, về cách dùng của chúng Ví dụ như người Việt không có sự
phân biệt giữa từ “làm” trong “làm một cái bánh”với “làm bài tập ở nhà hay làm công việc nội trợ” trong khi người Anh thì không thể nhầm lẫn giữa cách dùng hai động từ “to make” và “to do” Hai từ này không thể hoán chuyển, thay thế cho nhau được : make a cake chứ không thể do a cake; nhưng do the homework or do the
Trang 6housework chứ không thể là make the homework or make the housework mặc dù rằng cả hai từ trong tiếng Việt đều có nghĩa là làm To make và to do khác nhau trong sắc thái nghĩa: to make nghĩa là tạo ra hoặc dựng nên từ việc kết hợp các bộ phận (Eg: I’m going to make some new clothes.) hoặc to make dùng để chỉ những công việc trong gia đình mang tính chất thành ngữ như make a meal (nấu một bữa ăn),
make the beds (dọn giường), hoặc được dùng trong những thành ngữ cố định như make a decision (có một quyết định) hoặc make a suggestion (có một đề xuất) trong
khi to do được sử dụng để nói về một hành động chung chung nào đó như: do some work (làm một công việc nào đó) What are you going to do? (so với câu What are you going to make? nhằm để hỏi về những hoạt động sáng tạo đặc biệt nào đó) tuy
nhiên, nếu thành phần giao tiếp là những người thân, bạn bè, gia đình (informal), các
cụm make a meal, make a suggestion cũng có thể được thay thế bằng to do như do
Very mang sắc thái khả quan, ý tốt, có ý khen ngợi (positive meaning) còn too
lại mang sắc thái bi quan, ý xấu, phủ định, than phiền (negative meaning) Hiện
tượng này rất phổ biến trong lớp từ vựng tiếng Anh, đặc biệt là nhóm từ đồng nghĩa
Luận văn này chủ yếu phân tích sự khác biệt trong nét nghĩa, nét biểu cảm, khả
năng kết hợp và phạm vi sử dụng của một số nhóm động từ đồng nghĩa phổ biến
trong tiếng Anh
1.2.2 Qua việc phân biệt nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh (chương 2), chúng tôi sẽ cung cấp thêm những dữ liệu nhằm giúp cho người
Trang 7học nói, viết, sử dụng đúng các từ thoáng nhìn có vẻ như trùng lặp hoàn toàn về mặt ngữ nghĩa nhưng lại không thể thay thế cho nhau trong một ngữ cảnh cụ thể nào đó
1.2.3 Qua những số liệu thống kê cụ thể, áp dụng cho những đối tượng sinh viên cụ thể với những câu trắc nghiệm về những nhóm từ đồng nghĩa đang được khảo sát (chương 3), luận văn có mục đích tìm ra được những nhóm từ đồng nghĩa nào mà sinh viên có thể sử dụng thành thạo, phân biệt rõ ràng những khác biệt giữa những từ trong cùng một nhóm với những nhóm nào mà họ còn nhầm lẫn hay dùng chúng theo thói quen Qua quá trình giảng dạy trực tiếp những đối tượng sinh viên này, chúng tôi có thể rút ra được những nguyên nhân chính dẫn đến việc dùng đúng cũng như không đúng những nhóm từ đồng nghĩa này để có những hướng điều chỉnh phù hợp trong việc học của sinh viên cũng như việc dạy từ vựng nói chung của giáo viên, từ đó giúp cho những người học tiếng Anh có một nhận thức sâu sắc hơn về khả năng sử dụng từ vựng nói riêng và phương pháp như thế nào để có thể học và sử dụng tốt một ngoại ngữ nói chung
tư tưởng và sự đa dạng của các cách diễn đạt chính là nằm ở các từ đồng nghĩa; các nhà bác học La Mã cũng đã nhận thấy có những điểm giống và khác nhau giữa các từ đồng nghĩa Tuy nhiên, người ta cũng chỉ nêu các khái niệm và phân biệt giữa chúng chứ chưa biên soạn được các từ điển đồng nghĩa
Đến thế kỷ XVIII, các nhà khoa học Pháp đã xác định được bản chất của từ đồng nghĩa Năm 1718, ở Pháp đã xuất bản tác phẩm có dung lượng lớn của M Gira
Trang 8dưới nhan đề: “Tính chính xác của tiếng Pháp, hay là ý nghĩa khác nhau của các từ có thể là các từ đồng nghĩa” , sau đó học giả Pháp H Boze đã thu thập các từ đồng nghĩa tiếng Pháp và xuất bản thành một cuốn sách Sau đó một năm, linh mục F Rubo đã xuất bản cuốn “Đại từ điển đồng nghĩa” Có thể nói, các thành tựu về lý thuyết từ đồng nghĩa và biên soạn các từ điển đồng nghĩa phát triển rực rỡ nhất là ở nước Nga: năm 1783, D I Fônvizin đã xuất bản quyển “ Thử nghiệm từ đồng nghĩa Nga”- quyển này gồm có 32 dãy đồng nghĩa với gần 110 từ, đây là tác phẩm trào phúng – chính luận, đáng quan tâm đối với các nhà ngôn ngữ học chỉ vì nó là công trình đầu tiên thuộc loại từ điển đồng nghĩa Tác phẩm này đã tạo ra một cuộc bút chiến giữa tác giả D I Fônvizin và một số nhà ngôn ngữ thời đó, song qua lời đáp trả lại những phê phán đối với quyển “ Thử nghiệm từ đồng nghĩa Nga” của mình ông đã trình bày những quan điểm rất có giá trị cho đến ngày nay Người phê phán cho rằng “Các từ đồng nghĩa được tạo ra rốt cục chỉ là để sử dụng luân phiên trong các bài luận dài dòng các từ có cùng một ý nghĩa chứ không phải để biến chúng thành một ý khác”, D I Fônzivin phản bác lại như sau: “…Trên đời này không bao giờ có các từ có cùng một ý nghĩa như nhau Làm sao mà các từ đồng nghĩa lại được tạo ra rốt cục chỉ là để sử dụng luân phiên chúng trong những bài luận dài dòng? Nếu như chúng ta bắt đầu xem xét sự giống nhau của các từ đồng nghĩa là ở cái gì? thì chúng ta sẽ thấy rằng một từ không bao giờ bao chứa được toàn bộ không gian và toàn bộ sức mạnh đánh dấu của từ khác và rằng toàn bộ sự giống nhau giữa chúng chỉ nằm ở tư tưởng chính Lẽ nào văn chương dài dòng lại làm thành sự phong phú của ngôn ngữ? Sự phong phú ngu xuẩn biết bao nếu như có hàng chục và hơn chục từ chỉ phản ánh một tư tưởng? Khi đó trí nhớ chỉ vất vả uổng công vô ích Khi đó thính giác thì cảm thấy sự khác nhau ở âm thanh của các từ, nhưng lý trí lại không cảm thấy một sự thỏa mãn nào nếu như không cảm thấy sức mạnh, tính chính xác, sự
Trang 9khoáng đạt, sự tinh tế mà tư tưởng con người có thể có được” (Dẫn theo Nguyễn
Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng Việt, [tr 27])
Đến nửa đầu thế kỷ XIX, một số từ điển đồng nghĩa được xuất bản tại Nga: năm 1811, A S Siskốp trong cuốn “Thảo luận về tài hùng biện của kinh thánh và sự phong phú, hàm súc, vẻ đẹp và sức mạnh của ngôn ngữ Nga là ở cái gì? Và có thể mở rộng, làm phong phú và hoàn thiện hơn cái đã được nói ở trên và bằng phương tiện nào?” đã đề cập đến các vấn đề về sự phân hóa, khu biệt về phong cách của các từ đồng nghĩa khi xem xét sự khác biệt giữa các từ thuần Nga và các từ Slavơ cổ Ông đã đề xuất sự phân biệt các từ theo phong cách và đặc trưng số lượng Năm
1818, P Kalaiđôvich đã xuất bản cuốn “Thử nghiệm từ điển từ đồng nghĩa Nga” gồm 77 mục từ được sắp xếp không phải theo trật tự chữ cái a, b, c Tác giả không theo một nguyên tắc thống nhất trong cách giải thích các từ đồng nghĩa: ít khi tác giả đưa ra sự giải thích chung cho ý nghĩa của các từ tham gia vào một mục từ điển mà thường thường tác giả chỉ xác định sự khác biệt giữa những từ đồng nghĩa, không có
ví dụ minh họa Tiếp bước A S Siskốp, P Kalaiđôvich đã chỉ ra sự có mặt của các
từ đồng nghĩa phong cách (Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng Việt, [tr 29])
Năm 1840, “Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga hay các từ đẳng danh” được xuất bản dưới sự chủ biên của A Galich đưa danh sách 226 dãy đồng nghĩa: các từ mở đầu một dãy đồng nghĩa được sắp xếp theo trật tự chữ cái a,b, c Tác giả liệt kê các từ đồng nghĩa, định nghĩa ý nghĩa của từng từ theo định nghĩa của “Từ điển viện Hàn lâm Nga”, sau đó tác giả giải thích ý nghĩa riêng của từng từ, có ví dụ minh hoạ Tuy nhiên, ông đã sai lầm khi cho rằng các từ đồng nghĩa là dấu hiệu lạc hậu của ngôn ngữ, dẫn đến một loạt sai lầm khi biên soạn các mục từ điển cũng như khi luận giải
về mặt lý thuyết như ông đã xếp các từ kiếm, kiếm lưỡi cong, dao găm vào thành
một nhóm đồng nghĩa, nhưng thực ra các từ này chỉ các sự vật khác nhau về hình
Trang 10dạng, kích cỡ, cấu tạo và cách dùng rất rõ chúng chỉ nằm trên cùng một trường nghĩa chứ không phải là những từ đồng nghĩa Ngoài ra, còn có bài viết của I Đavưđốp
“Về từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga”, theo ý kiến của ông chia các từ ra làm hai biệt loại: lĩnh vực các từ đồng nghĩa là lĩnh vực các từ thuộc thế giới nội tâm hay tinh thần; các từ của nghề thủ công, nghệ thuật, các khoa học tự nhiên có tính chính xác và xác định không thể tìm thấy từ đồng nghĩa (Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn (2006),
Từ đồng nghĩa tiếng Việt, [tr 31])
Tại Pháp, năm 1857, Từ điển từ đồng nghĩa cỡ lớn của B Lafaye ra đời Quyển
từ điển này dày 1525 trang, tập hợp và giải thích được khá nhiều từ đồng nghĩa Nhưng nhìn chung, các từ điển đồng nghĩa được biên soạn từ thế kỉ XVIII-XIX thường thiếu cơ sở lý luận khoa học, còn rất yếu về mặt phương pháp nên không thể dùng được Điều này cũng đã được những người đương thời nêu lên Chẳng hạn, V.G.Bêlinsky, I I Đavưđốp đã chỉ ra rất nhiều sai lầm trong các từ điển và khẳng định cần phải có cách tiếp cận phê phán đối với tất cả các cuốn từ điển này
Một trong những thiếu sót cơ bản của những bài viết và của những quyển từ điển nửa đầu thế kỉ XIX là thiếu cách tiếp cận phê phán đối với các công trình tiền bối Chẳng hạn, cuốn từ điển của P I Fônvizin đã được đưa nguyên xi vào từ điển của P Kalaiđôvich mà không hề có sự thay đổi nhỏ nào; còn quyển từ điển của A Galich lại được đưa vào đó các cuốn từ điển của D I Fônvizin và P Kalaiđôvich
(Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng Việt, [tr 35])
Vào nửa cuối thế kỉ XIX, sự quan tâm tới hiện tượng đồng nghĩa cũng như tới tất cả các vấn đề từ vựng học đã giảm đi rõ rệt, và chỉ được quan tâm trở lại trong thế kỉ XX
Tóm lại, tới nửa sau thế kỉ XIX trong lĩnh vực đồng nghĩa học, các nhà nghiên cứu đã có được một số nhận định đúng đắn còn được kế thừa cho đến ngày nay:
Trang 11- Các từ đồng nghĩa được định nghĩa là các từ gần gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa
- Các từ đồng nghĩa là chỉ tố về sự phát triển, sự phong phú, uyển chuyển của một ngôn ngữ và các từ đồng nghĩa là để phục vụ cho sự đa dạng hoá trong cách biểu hiện tư tưởng
- Các từ đồng nghĩa khu biệt nhau về mặt phong cách, về mức độ của đặc trưng, về khả năng kết hợp với phạm vi từ nào đó Các nhà khoa học thời đó còn chỉ
ra rằng lĩnh vực từ đồng nghĩa là lĩnh vực các từ có ý nghĩa trừu tượng
Vào đầu thế kỉ XX, ở nước Nga có một số quyển từ điển đồng nghĩa của N
Abramov- Từ điển từ đồng nghĩa và các biểu ngữ giống nhau về ý (xuất bản lần đầu
1900 và lần 2 1911); và V D Páplốp- Siskin và P A Stéphanốpsky- Từ điển giáo khoa từ đồng nghĩa ngôn ngữ văn học Nga (xuất bản lần đầu năm 1930, lần 2 có sửa
chữa, bổ sung năm 1931) Các cuốn từ điển này không mang lại điều gì mới cho việc nghiên cứu lí thuyết về từ đồng nghĩa và hệ phương pháp xây dựng các từ điển đồng nghĩa, thậm chí còn kém tiện dụng hơn so với các cuốn từ điển của thế kỉ XIX Đó chỉ là những danh sách các dãy đồng nghĩa mà không hề có lời giải thích hay ví dụ
minh hoạ nào (Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng Việt, [tr
34-37])
Theo thông tin trên mục google.com.vn/search synonym thì ở Anh, sự phát triển
trong nghiên cứu từ đồng nghĩa lặng lẽ hơn nhiều so với nước Nga, vào thế kỉ XX có
quyển Dictionary of English Synonyms and Synonymous Expressions của tác giả R Soule (1938); Dictionary of synonyms của Webster được xuất bản ở Mỹ năm 1951
Từ đó đến nay có rất nhiều quyển từ điển đồng nghĩa tiếng Anh của nhà xuất bản Oxford, Longman, các soạn giả của những quyển từ điển này chỉ giải thích từ này bằng từ khác rồi giải thích từ đó bằng chính từ ban đầu cứ thế việc giải thích chỉ là một vòng lẫn quẫn, không có lối ra, các từ đồng nghĩa được liệt kê thành dãy hay
Trang 12nhóm, khả năng phân biệt giữa chúng với nhau là một thách thức cho người học bởi
sự phân biệt ở mỗi từ điển còn chung chung, mơ hồ: Từ điển đồng nghĩa, Nxb Penguin chỉ tập trung danh sách những từ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa thành nhóm mà
không có sự phân biệt các nét nghĩa giữa chúng, trong khi đó cũng có một số quyển sách viết về vấn đề dạy và học từ vựng tiếng Anh có đề cập đến những nhóm từ gần nghĩa, nhưng đây không phải là những từ điển chuyên về từ đồng nghĩa mà chỉ là tập hợp những từ rất dễ nhầm lẫn về ngữ nghĩa trong tiếng Anh, chúng chỉ khác nhau ở
một nét nghĩa, nét biểu cảm hoặc một phạm vi sử dụng nào đó như Oxford Learner’s Wordfinder Dictionary của hai tác giả Hugh Trappes và Lomax; English Vocabulary
In Use 1995 của Michael Mc Carthy và Felicity O’Dell, Word for Word của Stewart
Clark và Graham Pointon, Oxford Advanced Learner’s Dictionary của A.S Hornby,
quyển từ điển mới nhất nước Anh xuất bản lần thứ 7 với tập hợp trên 7000 từ nhưng đây chỉ là từ điển phổ thông chung cho tất cả các từ khác chứ không phải là quyển chuyên nghiên cứu từ đồng nghĩa, ít nhiều tác giả có minh hoạ một số cách dùng cho từng từ nhưng phần trình bày còn rất rời rạc, người học không thể biết trước được là
có những từ nào sẽ đồng nghĩa với từ nào Trong đó chỉ có quyển English Vocabulary
In Use 1995 của hai tác giả Michael Mc Carthy và Felicity O’Dell là được dịch sang
tiếng Việt, tuy nhiên, đây là quyển tổng hợp của nhiều vấn đề liên quan đến từ vựng chứ không chỉ riêng về từ đồng nghĩa
Như vậy, từ đồng nghĩa chiếm một số lượng khá nhiều và một vị trí quan trọng trong kho từ vựng tiếng Anh, nhưng lại không được chú trọng đúng mức như chúng nên có, danh sách các từ nào là đồng nghĩa của nhau không thiếu từ điển đồng nghĩa-trái nghĩa nói đến nhưng chúng khác biệt ở những điểm nào, tương đồng ở những điểm nào, trong từng nét nghĩa đó chúng được dùng như thế nào, cụ thể ở những bối cảnh, tình huống nào thì lại không có một quyển sách nào, không có một tác giả nào nghiêm túc tập hợp có hệ thống tất cả những từ đồng nghĩa trong tiếng Anh có phân
Trang 13biệt các nét nghĩa giữa chúng Việc dùng các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh chỉ là theo thói quen, phản xạ Sự nhầm lẫn trong cách dùng giữa các từ hầu như là vấn đề của bất kỳ người học tiếng Anh nào
Như vậy, có thể thấy rằng từ thế kỉ XVIII cho đến nay ở nước ngoài có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết, các chuyên đề về vấn đề đồng nghĩa từ vựng
2.2 Tình hình nghiên cứu về từ đồng nghĩa và việc biên soạn các từ điển từ đồng nghĩa ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngành ngôn ngữ học chỉ thực sự ra đời và phát triển từ sau 1954
Do đó, việc nghiên cứu về ngôn ngữ học nói chung, trong đó có việc nghiên cứu về từ đồng nghĩa nói riêng, còn rất mới mẻ
Quyển sách đầu tiên ở Việt Nam có gián tiếp đề cập ít nhiều đến từ đồng nghĩa
tiếng Việt là: Tinh nghĩa Việt ngữ từ điển của Long Điền-Nguyễn Văn Minh, xuất
bản tại Hà Nội, 1951 Trong từ điển này, tác giả chưa đề cập thực sự gì đến lý luận về từ đồng nghĩa, mà chỉ mới dừng lại ở mức giải thích nghĩa một số từ gần nghĩa nhau, gồm 200 nhóm
Từ năm 1958 đến năm 1962, vấn đề lý luận về từ đồng nghĩa lần đầu được đề
cập đến, tuy mới ở mức khái lược, trong cuốn giáo trình Khái luận ngôn ngữ học
(1961), tổ ngôn ngữ học ĐHTHHN, Nxb Giáo dục Trong quyển sách này, các tác giả mới dừng lại ở việc đưa ra định nghĩa từ đồng nghĩa, phân loại và nêu ra nguồn gốc của các từ đồng nghĩa Các tác giả cũng đã cố gắng chứng minh rằng từ đồng nghĩa chính là chỉ tố về độ phong phú và phát triển cao của một ngôn ngữ Ở Việt Nam, có thể kể đến các nhà ngôn ngữ sau đây đã bàn nhiều đến lí luận từ đồng nghĩa trong đó có những vấn đề như: khái niệm từ đồng nghĩa, phân loại, và chỉ ra nguồn gốc của chúng, đồng thời đề xuất cách phân biệt từ đồng nghĩa tiếng Việt hoặc cách xác định từ trung tâm trong một nhóm từ đồng nghĩa
Trang 14Trước hết, trong Giáo trình Việt ngữ tập II, Từ hội học (1962) và trong bài
“Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa” tạp chí ngôn ngữ số 4, 1973, tác giả Đỗ Hữu Châu có đưa ra định nghĩa, phân loại và xác định nguồn gốc của các
từ đồng nghĩa trong tiếng Việt Tuy nhiên, ông chưa nói rõ sự giống nhau về ý nghĩa
của các từ đến mức nào mới được coi là đồng nghĩa, cho nên trong quyển Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), Nxb Giáo dục và Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (1987),
Nxb ĐH & THCN tác giả có nhìn nhận lại vấn đề và lần này thì lại quá rộng khi cho rằng hai hay nhiều từ có thể có quan hệ đồng nghĩa khi chỉ cần có một nét nghĩa chung nhất giống nhau (nét nghĩa phạm trù), trong khi thực tiễn nghiên cứu, các từ phải có ý nghĩa gần nhau đến mức độ nào (những nét nghĩa cụ thể chứ không phải chỉ có nét phạm trù giống nhau), thì mới được xem là những từ đồng nghĩa
Tác giả Nguyễn Văn Tu trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại (1968), Nxb
Giáo dục đã trình bày định nghĩa và quan điểm của mình về từ đồng nghĩa, đó là những tên khác nhau của một hiện tượng và như thế ông chỉ mới đề cập đến trường hợp đồng nghĩa biểu vật (tr 95), trong khi đó hiện tượng đồng nghĩa biểu niệm mới chiếm số lượng nhiều hơn của hiện tượng từ đồng nghĩa thì lại không được ông đề
cập đến Về sau này, trong tác phẩm Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt (1985), Nxb
ĐH & THCN, ông có mở rộng quan điểm của mình khi đề cập đến những từ đồng nghĩa là những từ cùng chỉ một khái niệm (tr.13-14) Tuy nhiên, ông lại xếp các từ cùng thuộc một chủ đề như đầm-hồ-chuôm vào từ điển đồng nghĩa của mình, trong khi những từ này vốn không được xem là từ đồng nghĩa vì chúng chỉ những sự vật khác nhau
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp có những công trình Từ vựng tiếngViệt (1978), Nxb ĐHTH Hà Nội và được tái bản vào năm 1998 với tựa đề là Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Từ và nhận diện từ tiếng việt (1996), Nxb Giáo dục Trong những tác
Trang 15phẩm này, ông chỉ đề cập đến từ đồng nghĩa biểu niệm chứ không hề đề cập đến từ đồng nghĩa biểu vật
Ngoài ra, hiện nay, tác giả Nguyễn Đức Tồn cùng với tập thể cán bộ Phòng từ
điển học thuộc Viện ngôn ngữ học có cho ra đời quyển Từ đồng nghĩa tiếng Việt (2006), Nxb KHXH, bước đầu đề cập đến một số vấn đề thuộc phạm trù từ đồng
nghĩa như khái niệm, khả năng nhận diện hai hay nhiều từ là đồng nghĩa, một số cách khu biệt nghĩa giữa các từ thuộc nhóm từ đồng nghĩa
Các tác giả đều xác định rằng không thể dựa vào tiêu chí “Có thể thay thế cho nhau được” để xác định từ đồng nghĩa mà phải dựa vào ý nghĩa cơ bản của
chúng Đồng thời các nhà nghiên cứu cũng đã nhấn mạnh gíá trị phong cách của những từ đồng nghĩa
Nhưng nhìn chung, dù là trong hay ngoài nước thì vấn đề từ đồng nghĩa vẫn còn rất ngỗn ngang và còn rất nhiều điều cần được nghiên cứu thêm để có thể xứng với tầm vóc không kém phần quan trọng của nó trong kho tàng từ vựng đồ sộ nhằm phục vụ nhu cầu giao tiếp cuả xã hội đang ngày càng phát triển và đặc biệt là phục vụ cho việc “Chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” Trong luận văn này, chúng tôi có sử dụng lý luận về từ đồng nghĩa của một số tác giả: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn Đức Tồn làm cơ sở để phân tích các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh có so sánh với tiếng Việt
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ một khóa luận, với thời lượng có hạn, chúng tôi chỉ xin được khảo sát 25 nhóm động từ đồng nghĩa trong tiếng Anh với tổng số động từ được đưa
ra khảo sát là 65 (có so sánh với những từ đồng nghĩa tiếng Việt)
Trang 16Đối tượng của việc kiểm chứng và đánh giá kết quả khảo sát khả năng sử dụng một số nhóm động từ đồng nghĩa trong tiếng Anh (áp dụng đối với của sinh viên Đại học không chuyên) là 100 sinh viên đại học chính quy năm thứ nhất, khóa 1 của trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao TP HCM, nơi chúng tôi đang giảng dạy
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa của hai hay nhiều từ ở ý nghĩa
cơ bản (gốc) của chúng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ chính sau đây:
3.2.1 Luận văn có nhiệm vụ cung cấp những lí giải hợp lí mang tính khoa học về sự đồng nhất và khác biệt giữa những động từ đồng nghĩa trong tiếng Anh xét về
sắc thái nghĩa, sắc thái biểu cảm, khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng, đồng thời
đưa ra những ví dụ minh họa cụ thể cho từng trường hợp sử dụng
3.2.2 Luận văn có nhiệm vụ cung cấp những số liệu thống kê cụ thể áp dụng đối với đối tượng sinh viên cụ thể trên những câu trắc nghiệm do chúng tôi biên soạn Từ đó, luận văn có nhiệm vụ phân tích, xử lý số liệu thống kê để tìm ra kết quả cụ thể và có những đánh giá về khả năng sử dụng thực tế những nhóm từ đồng nghĩa của những đối tượng sinh viên tham gia thực hiện cuộc khảo sát này (được tính theo tỉ lệ phần trăm) Qua đó, luận văn có nhiệm vụ đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến kết quả và một vài giải pháp khắc phục
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
4.1.1 Phương pháp tổng hợp, so sánh các từ đồng nghĩa với những nét tương đồng và khác biệt, xử lý số liệu thống kê từ kết quả khảo sát
4.1.2 Phương pháp phân tích ý nghĩa của từ ra các thành tố
Trang 174.1.3 Phương pháp thay thế từ trong ngữ cảnh để phát hiện sự khác nhau về cách dùng (ngữ dụng)
4.2 Nguồn ngữ liệu
Dựa vào các từ điển Dictionary of English Synonyms and Antonyms (1986), Right Word-Wrong Word (1994), Oxford Advanced Learner’s Dictionary (1992), Oxford Advanced Learner’s Dictionary (2006), English Vocabulary In Use (1995), Oxford Collocations Dictionary (2006), Troublesome English-A Teaching Grammar for ESOL (1994), Semantics (1977), Language and Linguistics (1981), principles of semantic theory (1992), Oxford Learner’s Wordfinder Dictionary (1997), Từ điển trái nghĩa-đồng nghĩa tiếng Việt”(1999) cùng tất cả các nguồn tài liệu đã được ghi trong mục tài liệu tham khảo ở cuối đề tài làm cơ sở lí luận để phân tích những nhóm từ
đồng nghĩa
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
5.1 Luận văn góp phần phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt về sắc thái nghĩa, sắc thái biểu cảm, khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng của 25 nhóm động từ đồng nghĩa trong tiếng Anh, có so sánh với tiếng Việt
5.2 Những kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được tham khảo để biên soạn các sách dạy tiếng Anh cho người Việt Nam
5.3 Những bài trắc nghiệm kiểm tra năng lực sử dụng các từ đồng nghĩa của sinh viên bước đầu giúp ta đánh giá khả năng sử dụng các từ đồng nghĩa tiếng Anh của sinh viên ở trình độ Đại học, năm thứ nhất (dành cho khối không chuyên ngoại ngữ)
Trang 186 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1, luận văn trình bày những vấn đề lý luận chung về khái niệm từ
đồng nghĩa, phân loại từ đồng nghĩa, phương pháp giải thích và tìm sự khu biệt ngữ nghĩa của các từ đồng nghĩa
Chương 2, luận văn tiến hành tổng hợp, phân tích các nét nghĩa tương đồng và
khác biệt giữa những động từ trong 25 nhóm đồng nghĩa ở 4 khía cạnh sắc thái nghĩa, sắc thái biểu cảm, khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng
Chương 3, luận văn sẽ cung cấp kết quả khảo sát cụ thể đối với đối tượng cụ
thể về khả năng sử dụng và phân biệt những nhóm từ đồng nghĩa này
Trang 19CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆN TƯỢNG ĐỒNG NGHĨA VÀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
1 Các khái niệm cơ bản
1.1 Hiện tượng đồng nghĩa- Đơn vị từ vựng đồng nghĩa- Từ đồng nghĩa
Hiện tượng đồng nghĩa: thuật ngữ tiếng Anh là Synonymy có gốc từ tiếng Hy Lạp là Synònymia có nghĩa là cùng tên, chỉ quan hệ giữa hai biểu thức đẳng nghĩa nhưng không đồng nhất Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính tương ứng hoặc là với cùng một biểu vật (denotat) (sự kiện, khách thể.v.v); hoặc là với cùng một biểu niệm (sinifikat) (được biểu hiện thuộc ngôn ngữ) Trong ngôn ngữ học, chủ yếu người ta nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa biểu niệm Trong ngôn ngữ học người ta cũng phân biệt các hiện tượng đồng nghĩa hình thái học (hay đồng nghĩa ngữ pháp) và hiện tượng đồng nghĩa từ vựng
Đơn vị từ vựng bao gồm các từ và các ngữ cố định có chức năng tương đương với từ Do đó, hiện tượng đơn vị từ vựng đồng nghĩa chính là hiện tượng đồng nghĩa giữa các từ hoặc là giữa các ngữ cố định
Từ đồng nghĩa là trường hợp riêng quan trọng nhất nằm trong cái được gọi là
đơn vị từ vựng đồng nghĩa
Khi nói đến định nghĩa từ đồng nghĩa, chúng ta nhận được khá nhiều quan điểm khác nhau từ các tác giả trong và ngoài nước
1.2 Định nghĩa của các tác giả nước ngoài về từ đồng nghĩa
Chúng ta có thể quy toàn bộ sự đa dạng của các định nghĩa về từ đồng nghĩa vào hai loại:
Loại 1: Định nghĩa hai hay nhiều từ là đồng nghĩa chủ yếu dựa trên yếu tố
“đồng“ Trong loại quan điểm này cũng có nhiều quan điểm trái ngược nhau:
Trang 20(1) Một số nhà ngôn ngữ Nga, trong đó tiêu biểu là hai tác giả A D Grigôreva và V M Grigôrian chỉ thừa nhận những từ cùng nghĩa là đồng nghĩa Họ cho rằng:
“…Chỉ có sự đồng nhất ý nghĩa, chứ không phải tính gần gũi về ý nghĩa như một số người giả định, mới cho phép các từ là những từ đồng nghĩa Sự tô điểm thêm những cảm xúc khác nhau (thô bỉ, đề cao, hạ thấp…) cho các từ đồng nhất ý nghĩa, đặc điểm phong cách- chức năng (khẩu ngữ hay sách vở, thông tục ), đặc điểm sử dụng ngữ cảnh của chúng ….những đặc điểm hình thái- ngữ pháp đặc thù cho mỗi từ trong chúng không hề cản trở việc thừa nhận các hiện tượng là đồng nghĩa khi có sự đồng nhất ý nghĩa” (Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng việt, Nxb
KHXH, [tr 76])
(2) Ngược lại các tác giả O S Akhmanôva, A R Buđagốp, B N Gôlôvin lại
chỉ thừa nhận những từ gần nghĩa là đồng nghĩa Họ cho rằng: “Các từ đồng nghĩa là những từ có ý nghĩa cực kỳ gần gũi nhưng không trùng nhau” (Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng việt, Nxb KHXH, [tr 79])
(3) Các nhà ngôn ngữ Anh tiêu biểu là John Lyons trong các tác phẩm của mình
như Introduction to theoretical linguistics (1968), Nxb Cambridge University; Semantics (1977), Nxb Cambridge University; Language and linguistics (1981), Nxb Cambridge University; Principles of semantic theory (1992), Nxb Cambridge
University lại thừa nhận cả hai trường hợp cùng nghĩa và gần nghĩa là đồng nghĩa
Định nghĩa này theo quan điểm truyền thống: “Các từ đồng nghĩa là những từ biểu hiện cùng một khái niệm, đồng nhất hoặc gần gũi về ý nghĩa của mình, chúng chỉ khác nhau hoặc là về sắc thái nghĩa, hoặc là về các sắc thái phong cách và phạm vi sử dụng, hoặc là đồng thời cả hai đặc trưng nêu trên.” và đây cũng chính là định nghĩa trong phần lớn các từ điển đơn ngữ Anh-Anh như The Encyclopedia of language and linguistics (1994), Nxb Pergamon của tác giả R E Asher; Dictionary
of English Synonyms and Antonyms (1986), Nxb Penguin của tác giả Rosalind
Trang 21Fergusson; Oxford Advanced Learner’s Dictionary (1992), Nxb Oxford University
và quyển này được tái bản lần thứ 7 vào năm 1997 của tác giả A S Hornby Chúng
tôi xin được trích nguyên văn: “Two (or more) words or two (or more) expressions
which have the same or very nearly the same meaning as another in the same
language, eg big-large; close-shut…” tạm dịch là hai hay nhiều từ hoặc hai hay nhiều thành ngữ được xem là có quan hệ đồng nghĩa khi chúng có cùng nghĩa hoặc gần nghĩa với hai hay nhiều từ hoặc hai hay nhiều thành ngữ khác, xét trên cùng một ngôn ngữ, ví dụ: big-large, close-shut… là hai nhóm từ đồng nghĩa Một số nhà
ngôn ngữ Nga như A N Gvôzđep, A B Sapir, A P Epghênheva, Iu D Apresian,
Z E Alếchsanđrôva cũng theo quan điểm này (Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng việt, Nxb KHXH, [tr 78])
Loại 2: Định nghĩa hai hay nhiều từ là đồng nghĩa chủ yếu dựa trên yếu tố
“nghĩa“ Giống như loại quan điểm thứ 1 cũng có nhiều ý kiến trái ngược nhau (1) Một số nhà ngôn ngữ học Nga trong đó tiêu biểu là A A Reformatsky chỉ
thừa nhận đồng nghĩa biểu vật (denotat) Ông cho rằng: “Hai từ đồng nghĩa gọi tên cùng một sự vật ấy, nhưng lại ứng nó với những khái niệm khác nhau và do đó thông qua tên gọi làm bộc lộ ra những thuộc tính khác nhau của sự vật này” (Dẫn theo Nguyễn văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐH & THCN Hà
215])
Trang 22(3) Lại có những tác giả khi định nghĩa từ đồng nghĩa thì không chỉ rõ ra sự vật hay khái niệm mà các từ biểu thị là như thế nào với nhau Họ chỉ nêu chung chung
nghĩa của chúng có quan hệ với nhau như thế nào Chẳng hạn, “Các từ đồng nghĩa là những từ có ý nghĩa cực kỳ gần nhau nhưng không trùng nhau“ Các nhà ngôn ngữ
Nga như B N Gôlôvin, X O S Akhmanôva theo quan điểm này (Dẫn theo Nguyễn
Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb KHXH, [tr 79]) Đây cũng chính là
quan điểm của phần lớn những nhà từ điển học và ngôn ngữ học Anh, như phần định nghĩa chúng tôi đã trích ở loại 1 mục (3), chỉ đề cập chung chung sự giống nhau hoặc gần giống nhau về ý nghĩa chứ không đề cập đến giống về nghĩa nào: nghĩa biểu vật hay nghĩa biểu niệm
(4) Một số nhà ngôn ngữ lại chỉ dựa vào ngữ cảnh, cách phân bố cải biến của
từ để định nghĩa từ đồâng nghĩa Chẳng hạn như cách định nghĩa sau: “Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng khi hai hay nhiều đơn vị có thể thay thế cho nhau trong cùng một ngữ cảnh mà không làm thay đổi về cơ bản nội dung của ngữ cảnh đó” Tiêu biểu cho quan điểm này là những nhà ngôn ngữ Mỹ trong The American Heritage Dictionary of the English Language (2003), Nxb Houghton Mifflin
Company; John Lyons cũng có cùng quan điểm về khía cạnh này, ngoài quan điểm thừa nhận hai trường hợp cùng nghĩa và gần nghĩa, ông còn bổ sung yếu tố thay thế
cho nhau trong một số ngữ cảnh có nghĩa nào đó (in some contexts of sensemaking) mang tính chất biểu niệm hoặc biểu vật (a figurative or symbolic substitute for another) Điều đó có nghĩa là hai hay nhiều tên gọi khác nhau cho cùng một sự vật (định danh: denotat hoặc symbolic substitute) hoặc là cùng một khái niệm (a figurative substitute hoặc sinifikat)
1.3 Định nghĩa của các tác giả trong nước về từ đồng nghĩa
1.3.1 Đầu tiên là tác giả Đỗ Hữu Châu, trong quyển Giáo trình Việt ngữ, tập II, Từ hội học, lần đầu tiên đưa ra khái niệm chung về từ đồng nghĩa Ông viết:
Trang 23“…Trong vốn từ hội của bất kỳ một ngôn ngữ nào cũng thường có những từ, mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa lại giống nhau do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể có thể thay thế cho nhau được Những từ này là những từ đồng nghĩa…” [tr 63]
Như đã nói ở mục 2.2, thật ra đây chưa phải là định nghĩa thực sự về từ đồng nghĩa, mà chỉ là những đặc điểm của từ đồng nghĩa Đó là:
- hình thức ngữ âm khác nhau
- nghĩa giống nhau
- có thể thay thế cho nhau trong nhiều ngữ cảnh
Tác giả chưa nói rõ sự giống nhau về ý nghĩa của các từ đến mức nào thì mới được coi là đồng nghĩa Đồng thời khả năng thay thế được cho nhau của các từ không phải là tiêu chí quyết định chúng có đồng nghĩa với nhau hay không Năm
1981, chính tác giả cũng đã nhận thức rõ và nêu ra vấn đề này, lần này thì lại quá
rộng về từ đồng nghĩa: “Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ ngữ có chung một nét nghĩa (nét nghĩa phạm trù) Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì từ càng đồng nghĩa với nhau Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đã có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc một vài nét nghĩa cụ thể nào đó” (Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng- ngữ nghĩa tiếng việt, Nxb Giáo dục, [tr 184])
Như vậy, quan niệm của tác giả Đỗ Hữu châu là quá rộng khi cho rằng các từ chỉ có một nét nghĩa chung nhất giống nhau (nét nghĩa phạm trù) là những từ đồng nghĩa (tuy là mức độ thấp nhất) Trong thực tiễn nghiên cứu, các từ phải có ý nghĩa gần nhau đến một mức độ nào đó (có nhiều nét nghĩa cụ thể chứ không phải chỉ có nét nghĩa phạm trù giống nhau), thì mới được xem là những từ đồng nghĩa
Trang 241.3.2 Một nhà Việt ngữ học khác có nhiều công trình nghiên cứu và biên soạn
từ điển đồng nghĩa tiếng Việt, đó là tác giả Nguyễn Văn Tu Trong công trình
nghiên cứu đầu tiên của mình vào năm 1968, Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, ông
đã đưa ra một định nghĩa về từ đồng nghĩa:
“Những từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau Đó là nhiều từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng.Những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh.”
[tr 95]
Định nghĩa từ đồng nghĩa của Nguyễn Văn Tu hơi hẹp, bởi vì chỉ mới đề cập đến trường hợp từ đồng nghĩa biểu vật Còn có những từ đồng nghĩa không chỉ các sự vật, hiện tượng ngoài khách quan, mà chỉ biểu hiện những khái niệm trưù tượng thì không được đề cập đến trong định nghĩa này, mà trường hợp này mới chiếm số lượng nhiều của hiện tượng từ đồng nghĩa
Về sau này, năm 1985, trong cuốn Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb ĐH &
THCN, tác giả Nguyễn Văn Tu đã nêu cụ thể hơn và có sự mở rộng hơn quan niệm của mình về từ đồng nghĩa:
“Từ đồng nghĩa là những từ của một thứ tiếng có nghĩa biểu đạt (chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất…) giống nhau hoặc gần nhau, có thể thay thế cho nhau trong một số ngữ cảnh nhất định nhưng có khác nhau về sắc thái tình cảm, về giá trị gợi cảm, về phong cách, phạm vi sử dụng.v.v Đó là những từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính…Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng” [tr 13-14]
Tuy nhiên, có lẽ tác giả chưa phân biệt rõ khái niệm ở đây là khái niệm gì,
đặc biệt là chưa phân biệt khái niệm chủng với loại cho nên tác giả cho rằng các từ
như đầm-hồ-chuôm, dầu mỏ-dầu hỏa v.v là đồng nghĩa, trong khi các từ này chỉ là những từ có chung một chủ đề
Trang 251.3.3 Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra quan niệm của mình về từ đồng
nghĩa dựa trên quan điểm của P A Buđagốp “Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến
hiện tượng đồng nghĩa là phải nói đến sự giống nhau của những nghĩa sở biểu Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho rằng từ đồng nghĩa là những từ gần nhau, khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm.” (Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH &THCN, [tr 215])
Như vậy, định nghĩa cũng như quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp về từ đồng nghĩa mới chỉ bao chứa loại từ đồng nghĩa biểu niệm, còn loại từ đồng nghĩa biểu vật thì định nghĩa không thấy nhắc đến
Tuy nhiên, trong tác phẩm Dẫn luận ngôn ngữ học do ông chủ biên cùng với
Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, ông có đề cập đến một điểm hết sức quan trọng có liên quan đến từ đồng nghĩa đó là mỗi từ không phải bao giờ cũng chỉ có một nghĩa (hiện tượng đa nghĩa của từ) Do kết cấu ý nghĩa của các từ không giống nhau cho nên mức độ đồng nghĩa của các từ cũng khác nhau Chúng ta có các từ đồng nghĩa hoàn toàn được gọi là từ cùng nghĩa và những từ đồng nghĩa bộ phận hay còn được gọi là từ gần nghĩa Từ gần nghĩa có thể là: một từ đơn nghĩa trùng với một
nghĩa của từ đa nghĩa (hai từ cư xử và ăn ở là hai từ đồng nghĩa, trong đó từ ăn ở có hai nghĩa, một nghĩa trùng với nghĩa của từ cư xử, một nghĩa là ở nói chung); một nghĩa của từ đa nghĩa trùng với một nghĩa của từ đa nghĩa khác như trông và dựa là hai từ đồng nghĩa cùng biểu thị ý nghĩa nương vào Nhưng ngoài nghĩa đó ra, từ trông còn có nghĩa là nhìn, là chăm sóc, từ dựa còn có nghĩa là theo, căn cứ vào Những ý
nghĩa này của hai từ không trùng nhau [tr 100-101] Đây chính là vấn đề mà đề tài này quan tâm, chúng tôi sẽ tập hợp, phân tích không những biến thể từ vựng-ngữ nghĩa trùng nhau mà còn chỉ ra những biến thể từ vựng – ngữ nghĩa không trùng nhau, đó chính là nét phân biệt chủ yếu giữa các từ trong cùng nhóm, nhằm giúp cho
Trang 26người học, người sử dụng có thể biểu đạt chính xác ý tưởng, cảm xúc, quan điểm
…về một vấn đề nào đó
1.4 Phân tích và đánh giá các quan niệm, định nghĩa khác nhau về từ đồng nghĩa:
Cho đến nay, như trên chúng ta đã có thể nhận thấy rõ ràng rằng là trong các sách nghiên cứu ngôn ngữ học cả trong và ngoài nước đã xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ đồng nghĩa Nguyên nhân của tình trạng bất đồng quan điểm
này nằm ngay chính trong tên gọi “Từ đồng nghĩa” Đồng nghĩa là gì? Thế nào là
“đồng”?
a Một số nhà ngôn ngữ hiểu mức độ“đồng” ở đây là hoàn toàn giống nhau,
do đó chỉ xem những từ nào có ý nghĩa đồng nhất tuyệt đối với nhau mới là những từ đồng nghĩa và phủ nhận trường hợp những từ chỉ có ý nghĩa gần nhau A D Grigôreva và V M Grigôrian là hai nhà ngôn ngữ học tiêu biểu cho quan điểm này Nếu hiểu theo cách hiểu của hai tác giả này thì sẽ làm nghèo đi nội dung các từ đồng nghĩa, ít nhất là đã tước bỏ mất vấn đề chọn lựa các từ đồng nghĩa như một phương tiện ngôn ngữ quan trọng để biểu hiện những sắc thái tinh tế trong tư tưởng
tình cảm của chúng ta Hơn thế, như A P Eghênheva đã nêu: “Tính đồng nhất ý
nghĩa của ý nghĩa rõ ràng cũng là có tính chất tương đối” (Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng việt, Nxb KHXH, [tr 76])
b Một số nhà ngôn ngữ học thuộc loại quan điểm thứ hai lại phủ nhận tính đồng nhất về ý nghĩa của các từ đồng nghĩa và chỉ hiểu mức độ “đồng” ở đây là
“gần gũi” Quan điểm này cho rằng trong ngôn ngữ không có hai từ đồng nghĩa ở ý nghĩa thực sự của từ, nghĩa là có thể thay thế cho nhau trong mọi ngữ cảnh Khi định nghĩa từ đồng nghĩa cũng theo quan điểm này, mà chỉ xuất phát từ sự đồng nhất hoàn toàn của hai từ là không đúng Các tác giả O S Akhmanôva, A R Buđagốp,
B N Gôlôvin là những nhà ngôn ngữ theo quan điểm này
Trang 27c Các nhà ngôn ngữ học thuộc loại quan điểm thứ ba, trong đó có A N Gvôzđep, A B Sapir, A P Epghênheva, Iu D Apresian, Z E Alếchsanđrôva, những nhà từ điển và ngôn ngữ Anh, Nguyễn Đức Tồn và chúng tôi những người thực hiện đề tài này cũng nhất trí quan điểm thứ ba này Yếu tố “đồng” ở đây bao gồm cả hai khả năng đồng nhất và gần gũi về ý nghĩa của các từ đồng nghĩa
Bây giờ chúng ta chuyển sang xem xét yếu tố thứ hai vốn cũng đã góp phần gây nên sự bất đồng lớn giữa các nhà nghiên cứu – “nghĩa“ đã được các nhà ngôn ngữ học hiểu khác nhau như thế nào?
a Một số nhà ngôn ngữ khi định nghĩa từ đồng nghĩa thì chỉ dựa vào sự vật, hành động, tính chất…trong thực tế khách quan mà từ biểu thị (nghĩa là dựa vào
nghĩa biểu vật (denotat) Tác giả A A Reformatsky và Nguyễn Văn Tu hoàn toàn theo quan điểm này (Dẫn theo Nguyễn văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐH&THCN Hà Nội, [tr 153])
b Một số nhà ngôn ngữ khác trong đó có R A Buđagốp, X Iu S Stepanốp, tác
giả Nguyễn Thiện Giáp đã phê phán quan điểm trên và lại chỉ dựa vào khái niệm (hay nghĩa biểu niệm) mà từ biểu hiện để định nghĩa từ đồng nghĩa
c Có những tác giả không hề nói rõ ý nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau
giữa các từ đồng nghĩa là loại nghĩa biểu vật hay nghĩa biểu niệm, hay cả hai mà họ chỉ nêu chung chung là có ý nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau Các nhà ngôn ngữ Nga như B N Gôlôvin, X O S Akhmanôva, phần lớn những nhà từ điển học và ngôn ngữ học Anh đều theo quan điểm này
Định nghĩa này, theo chúng tôi, là đúng nhưng còn quá chung chung Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, cái gọi là nghĩa giống nhau đó là cái nghĩa nào, nghĩa biểu vật hay nghĩa biểu niệm Theo ông, định nghĩa này không phù hợp thực tế vì rất hiếm có những đơn vị thực sự giống nhau Nếu hiểu cách nói giống nhau một cách linh động không phải là đồng nhất hoàn toàn mà là gần như nhau thì sẽ có vấn đề mà định
Trang 28nghĩa này không vạch ra được phương hướng giải quyết Đó là tính chất hay mức độ của sự gần như nhau về nghĩa giữa các đơn vị đồng nghĩa Định nghĩa đó chỉ dựa vào nội dung, không dựa vào tiêu chí hình thức, tức là tiêu chí có thể quan sát được bằng thực nghiệm (Đỗ Hữu Châu (1973), “Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái
nghĩa”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, [tr 47])
d Lại có những nhà nghiên cứu khác chỉ dựa vào ngữ cảnh Định nghĩa này,
đúng như tác giả Đỗ Hữu Châu đã nhận xét, tuy có dựa vào tiêu chí hình thức, nhưng lại mắc nhược điểm khác “ Nó lại không phân biệt rõ giữa hai bình diện: ngôn ngữ- lời nói (ngữ cảnh), nên bất lực khi có những đơn vị thật sự đồng nghĩa nhau nhưng lại không thể thay thế cho nhau, hoặc có những đơn vị tưởng không đồng nghĩa nhưng lại có thể thay thế cho nhau trong những ngữ cảnh nhất định Ví dụ như
hành quân –mò trong ngữ cảnh : “địch vừa hành quân ra càn quét- địch vừa mò ra càn quét” (Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình việt ngữ tập 2, Từ hội học, Nxb Giáo
dục, [tr 65]) và (Đỗ Hữu Châu (1973), “Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa,
trái nghĩa”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, [tr 47])
Mặt khác, đúng như tác giả tự thừa nhận, kết luận trên không chỉ rõ ra được chính cái hiện tượng đồng nghĩa ấy là như thế nào, vì sự đồng nghĩa trước hết là vấn đề của nội dung , của sự vật, khái niệm mà từ biểu thị
Qua việc phân tích và đánh giá các quan niệm, định nghĩa khác nhau về từ đồng nghĩa của những tác giả đi trước, chúng ta sẽ có một cái nhìn tổng quát, đầy đủ và chính xác về khái niệm thế nào là từ đồng nghĩa, để từ đó có được một cơ sở lí luận vững vàng khi phân tích hiện tượng này và đây cũng chính là quan điểm của chúng tôi khi thực hiện đề tài này
Trang 291.5 Định nghĩa từ đồng nghĩa
Trong tất cả những quan điểm trên, chúng tôi chọn quan điểm kết hợp của cả hai loại quan điểm 1 và 2 Đúng như tác giả Nguyễn Đức Tồn đã nhận xét, khi định nghĩa từ đồng nghĩa không thể hoặc chỉ chú ý đến sự vật mà từ biểu thị, hoặc chỉ chú ý đến khái niệm mà từ biểu hiện, mà cần phải lưu ý đến cả hai thành tố chính đó trong nội dung logic- sự vật tính của nghĩa của từ Ngoài ra, còn phải kể đến các thành tố phụ khác như sắc thái biểu cảm- phong cách, khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng của từ nữa Bởi vì nghĩa của từ bao hàm tất cả các thành tố ấy Do vậy, loại quan điểm dựa cả vào sự vật lẫn khái niệm mà từ biểu thị để định nghĩa từ
đồng nghĩa là đầy đủ, chính xác hơn cả Iu S Stepanốp chỉ rõ: “Kết cấu ý nghĩa từ gồm biểu vật (quan hệ với sự vật), biểu niệm (quan hệ với khái niệm) Do đó, các từ đồng nghĩa có thể hoặc là những từ có quan hệ với những biểu vật giống nhau (đồng nghĩa về biểu vật) hoặc là những từ có quan hệ với những khái niệm như nhau (đồng nghĩa về biểu niệm)” (Stepanốp Iu S (1977), Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, Nxb ĐH&THCN, [tr 72]) Tác giả cũng chỉ ra rằng hai kiểu đồng nghĩa
trên là hai cực Ở giữa, chúng có thể có những trường hợp trung gian, khi hai từ đều biểu thị cùng một sự vật và cùng một khái niệm, chúng chỉ khác nhau về sắc thái của khái niệm
Như vậy, một định nghĩa chính xác về từ đồng nghĩa cần chú ý đến quan hệ giống nhau của các sự vật, khái niệm mà chúng biểu thị, phải chú ý đến các mức độ giống nhau về ý nghĩa của chúng, và hơn thế điều cần thiết là chỉ ra đuợc những nét khu biệt giữa chúng Đây cũng chính là điều mà đề tài này hướng đến, Hướng đến trường hợp các từ đồng nghĩa biểu thị cùng một sự vật và cùng một khái niệm chúng chỉ khác nhau ở một sắc thái nghĩa nào đó
Trên cơ sở những điều đã được phân tích ở trên, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra định nghĩa về từ (và rộng hơn là các đơn vị từ vựng) đồng nghĩa:
Trang 30“Hai đơn vị từ vựng/từ được gọi là đồng nghĩa khi chúng có vỏ ngữ âm khác nhau biểu thị các biểu vật hoặc/và biểu niệm giống nhau và:
a Nếu chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B” và đảo lại được “B là A” mà không cần phải chỉnh lí bằng cách thêm bớt nét nghĩa gì vào một trong hai đơn vị/từ thì đó là những đơn vị từ vựng/từ cùng nghĩa
b Nếu như để chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “ A là B” và đảo lại được “ B là A” cần có sự chỉnh lý, thêm bớt nét nghĩa nào đó vào một trong hai đơn vị/từ thì đó là những đơn vị từ vựng/từ gần nghĩa
Như vậy, định nghĩa này đã chỉ ra hai mức độ giống nhau về ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa (có chú ý đến cả biểu vật và biểu niệm của từ) Trước hết, các từ đồng nghĩa có biểu niệm hoặc biểu vật, hoặc cả hai giống nhau Trong tiếng Việt,
tính từ giống không phải biểu thị chỉ một thang bậc tuyệt đối hoặc chỉ một thang bậc
tương đối, mà bao gồm cả hai Bởi vì giống có nghĩa là: “có những nét chung, những nét tương tự nhau về hình dáng, tính chất hoặc màu sắc…” (Hoàng Phê (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẳng, [tr 403]) Nếu như số lượng “những nét chung, những
nét tương tự nhau” này là toàn bộ, tức là nghĩa logic – sự vật tính của các đơn vị từ vựng / từ giống nhau tuyệt đối “như hai giọt nước”, thì đó là những đơn vị cùng nghĩa “Cùng” có nghĩa là đồng nhất hoàn toàn Nếu như số lượng “những nét chung” này chỉ chiếm một phần chứ không phải là tất cả, nghĩa là nghĩa logic - sự vật tính của các từ chỉ giống nhau một phần, thì đó là những đơn vị từ vựng gần nghĩa Chính sự có mặt những nét nghĩa khác nhau ở phần còn lại trong ý nghĩa các đơn vị đồng nghĩa (tức những nét nghĩa khu biệt của mỗi đơn vị) khiến ta phải có sự chỉnh lý thêm bớt chúng vào một trong hai đơn vị khi thay các đơn vị đồng nghĩa vào các kết cấu “ A là B” và “B là A”
Định nghĩa này mới dựa vào thành phần nòng cốt nhất của ý nghĩa từ, đó là sự vật, khái niệm mà từ biểu thị Song trong ý nghĩa của từ còn ba thành tố phụ khác,
Trang 31như đã nói, là sắc thái biểu cảm, khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng “Từ đồng nghĩa tuyệt đối” chỉ là trường hợp riêng của hiện tượng “từ cùng nghĩa” “Các từ đồng nghĩa tuyệt đối” phải có nghĩa biểu vật hoặc nghĩa biểu niệm, hoặc cả hai cùng sắc thái biểu cảm, khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng hoàn toàn đồng nhất Ví dụ như đảo chính-đảo chánh; tranh đấu-đấu tranh; đánh bại-đánh thắng… Những đơn vị như vậy, quả đúng như các nhà nghiên cứu đã khẳng định, trong ngôn ngữ cực kỳ hiếm hoi bởi vì nó không phù hợp với quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ Đối với các từ cùng nghĩa thì chỉ cần chúng có biểu vật hoặc/và biểu niệm giống nhau, còn sắc thái biểu cảm, khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng có thể khác nhau Những đơn vị từ vựng cùng nghĩa như vậy có rất nhiều trong mỗi ngôn ngữ
Tóm lại, với định nghĩa trên có thể nhận thấy các từ đồng nghĩa phải là
những từ thuộc về cùng một từ loại (có như vậy chúng mới có thể xuất hiện được trong kết cấu đồng nhất “A là B“ và “B là A”); trong ý nghĩa của chúng có chứa những yếu tố đồng nhất; các yếu tố khác nhau của các ý nghĩa này bị trung hòa hóa trong những ngữ cảnh nhất định trở thành không cơ bản (điều đó qui định khả năng thay thế lẫn nhau của các từ đồng nghĩa trong các ngữ cảnh này) Do số lượng các yếu tố ngữ nghĩa trùng nhau ở các từ khác nhau là không như nhau nên có thể thấy mức độ đồng nghĩa với các từ là khác nhau Một số từ cực kỳ gần gũi nhau về ý
nghĩa được gọi là những từ cùng nghĩa
Trường hợp các từ đồng nghĩa khác có mức độ giống nhau về ý nghĩa kém hơn
trường hợp trên thì đó là những từ gần nghĩa Phạm vi nghiên cứu của đề tài chính là những từ gần nghĩa này, bởi trong thực tế cuộc sống, nhu cầu diễn đạt những khía cạnh khác nhau của cùng một khái niệm, một tên gọi là một nhu cầu rất lớn, đòi hỏi khả năng tinh tế, chính xác trong ngôn từ
Trang 321.6 Nhóm đồng nghĩa
Một nhóm từ gồm một số từ có ý nghĩa rất gần gũi nhau, gọi tên cùng một khái niệm hoặc cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan, sự phân biệt giữa những từ khác trong cùng một nhóm không phải là dễ dàng, không thể tách ra được ở một trong những nhóm từ này những tiểu nhóm nhỏ hơn nào đó Có thể gọi đó là các vi chủ đề (microtheme) Mỗi một vi chủ đề là một nhóm đồng nghĩa
2 Một số đặc điểm của các từ thuộc nhóm đồng nghĩa
2.1 Các từ thuộc nhóm đồng nghĩa là những từ gần nghĩa nhau, chỉ có thể thay thế cho nhau trong những ngữ cảnh nhất định chứ không thể trùng nghĩa hoàn toàn vì như thế thì trong ngôn ngữ có hai hệ thống từ vựng như nhau Đó là điều không thể có Rất hiếm từ đồng nghĩa có thể thay thế cho nhau trong mọi trường hợp Ví dụ
như, từ mồm và miệng là hai tên khác nhau của một bộ phận của người Có lúc chúng có thể thay thế cho nhau được (Và cơm vào mồm = và cơm vào miệng) tuy nhiên chúng vẫn có sắc thái ý nghĩa khác nhau: mồm có vẻ thiếu tôn trọng chỉ dùng trong khẩu ngữ và giữa những người có mối quan hệ thân thiết, trong khi miệng có
tính phổ thông dùng cho mọi đối tượng; đó là chưa kể đến có những trường hợp
chúng không thể thay thế cho nhau được như trong nhà có ba miệng ăn không thể nói nhà có ba mồm ăn được
2.2 Những từ đồng nghĩa phải là những từ cùng một từ loại (có như vậy chúng mới cùng xuất hiện được trong kết cấu đồng nhất “A là B” và “B là A”; trong ý
nghĩa của chúng có chứa những yếu tố đồng nhất
2.3 Mỗi từ không phải bao giờ cũng chỉ có một nghĩa Hiện tượng đa nghĩa của từ
làm cho mức độ đồng nghĩa của các từ cũng khác nhau
Trang 333 Phân loại từ đồng nghĩa
3.1 Các từ đồng nghĩa ý niệm
Các từ đồng nghĩa ý niệm là các từ đồng nghĩa trung tính về phong cách, khác biệt nhau về các sắc thái của ý nghĩa cơ bản chung cho mỗi từ Trong tiếng Anh, hiện tượng này là rất phổ biến, đây là những vấn đề gây trở ngại cho người học và sử dụng ngôn ngữ này và đây chính là điều mà đề tài này hướng đến
Ví dụ như salary và wage cùng để chỉ là số tiền lương nhận được khi làm một công việc nào đó Tuy nhiên, salary là số tiền nhận được hàng tháng áp dụng đối với nhân viên làm việc văn phòng, hay tầng lớp lao động trí óc (white- collar workers working in an office, rather than in a factory, etc.), trong khi đó wage là số lương
được nhận hàng tuần, áp dụng cho những công nhân lao động chân tay trong các
nhà máy, xí nghiệp (blue- collar workers connected with people who do physical work in industry); ngoài ra một người nhận salary khi nghỉ làm việc trong một thời gian cho phép nào đó sẽ không bị trừ vào lương, trong khi nếu họ nhận wage thì dù
được cho phép vẫn bị trừ vào lương theo số ngày vắng mặt của họ (Crowther
Jonathan (1992), Oxford Advanced Learner’s Dictionary Encyclopedic Edition,
Oxford University Press, [tr 800-1014]), (Richard Firsten and Patricia Killian
(1994), Troublesome English-A Teaching Grammar For ESOL, Lindsey Hopkins Technical Education Center Press, [tr 316])
Các từ đừng- chớ là những từ đồng nghĩa ý niệm: đừng dùng để biểu thị ý
khuyên ngăn nói chung: đừng làm ồn, đừng khóc nữa em…; chớ biểu thị ý “
khuyên ngăn không nên làm điều gì thường cốt để tránh sự không hay nào đó”, so
với đừng thì chớ biểu thị thái độ có ý dứt khoát hơn: chớ lắm lời, chớ ăn quả xanh,
chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo (tục ngữ) (Hoàng Phê (chủ biên) (1980), Sổ tay dùng từ, Nxb KHXH, [tr 82-83])
Trang 34Các từ đồng nghĩa ý niệm rất quan trọng bởi vì chúng là phương tiện biểu hiện chính xác hóa tư tưởng trong từng trường hợp sử dụng ngôn ngữ Nhờ có những sắc thái nghĩa cơ bản riêng ở từng từ đồng nghĩa ý niệm mà việc sử dụng chúng đúng chỗ sẽ giúp cho lời nói của chúng ta không những trở nên tinh tế, chính xác, mà còn rõ ràng, biểu cảm và ngắn gọn
3.2 Các từ đồng nghĩa phong cách:
Là những từ đồng nhất về ý nghĩa và khác nhau về màu sắc phong cách Chúng
ta có thể xác định được một từ nào đó là từ đồng nghĩa phong cách khi đối chiếu nó với từ trung tính về phong cách tương ứng Vì vậy có thể nói trong mỗi cặp từ đồng nghĩa hoặc trong một dãy đồng nghĩa phong cách chắc chắn sẽ có từ trung tính về phong cách
Cùng một đối tượng cụ thể thuộc những thời đại khác nhau và ở những địa phương khác nhau có thể có những tên gọi khác nhau
Ví dụ: một số dãy đồng nghĩa phong cách
Phụ nữ, bồ liễu, quần thoa, nữ nhi, hồng quần…
Nước mắt, lụy, lệ, hạt châu…
Cõi đời, cõi trần, trần ai, trần tục, bụi hồng, bụi trần, hồng trần, …(Nguyễn Thế
Lịch (1989), Từ ngữ có sắc thái văn chương, số phụ tiếng Việt của tạp chí ngôn ngữ)
Trong ngôn ngữ văn chương, hiện tượng đồng nghĩa này cực kỳ phong phú, tạo cho ngôn ngữ thêm phần nên thơ, đẹp và có thể biểu đạt hết những cảm xúc của thi
nhân Đồng nghĩa này là phạm vi nghiên cứu của phong cách học và sẽ không được
đề cập đến trong đề tài này
3.3 Các từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách
Là những từ và các đơn vị tương đương của chúng biểu thị cùng một khái niệm hoặc cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan và khác nhau không chỉ về màu sắc phong cách mà còn khác nhau cả về sắc thái của ý nghĩa chung ở mỗi từ
Trang 35Ví dụ : di chúc- chúc thư
Cả hai từ có thể được dùng với cùng một nghĩa là văn bản chính thức ghi lại những lời dặn, những ý muốn cuối cùng của một người (đặc biệt là về việc xử lý các
tài sản của mình sau khi chết) Để lại chúc thư / di chúc; chia tài sản theo chúc thư /
di chúc Với nghĩa này từ chúc thư thường được sử dụng hơn từ di chúc, đặc biệt là trong trường hợp những lời dặn lại chỉ nói về việc riêng, việc gia đình Từ di chúc có sắc thái trang trọng hơn từ chúc thư (Hoàng Phê (chủ biên) (1980), Sổ tay dùng từ, Nxb KHXH, [tr 35])
Tóm lại, chúng ta có thể chia các từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt và tiếng Anh nói riêng ra thành ba loại chung nhất Đó là từ đồng nghĩa ý niệm, từ đồng nghĩa phong cách và từ đồng nghĩa ý niệm- phong cách Trong
ba loại từ đồng nghĩa thì từ đồng nghĩa phong cách là những từ cùng nghĩa còn hai
nhóm từ đồng nghĩa còn lại chỉ là những từ gần nghĩa (Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb KHXH, [tr 174])
Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi xin tập trung nghiên cứu 2 trường hợp
phổ biến trong tiếng Anh đó là các từ đồng nghĩa ý niệm và các từ đồng nghĩa ý niệm-phong cách, xét sự khác biệt trong màu sắc phong cách và cả trong trong sắc
thái ý nghĩa chung của mỗi từ để giúp cho người học có thể đạt được trình độ tinh tế trong cách dùng từ
Thuật ngữ từ đồng nghĩa tất yếu giả định rằng trong ngôn ngữ phải tồn tại ít nhất hai từ trở lên có ý nghĩa giống nhau (tuyệt đối hay tương đối) Hệ quả là các từ đồng nghĩa lập thành những nhóm đồng nghĩa Vấn đề xác lập và cấu trúc dãy đồng nghĩa là vấn đề của những nhà từ điển học nhiệm vụ của chúng ta là tìm cách giải thích và tìm sự khu biệt ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa
Trang 364 Phương pháp giải thích và tìm sự khu biệt ngữ nghĩa của các từ đồng nghĩa 4.1 Phương pháp giải thích ý nghĩa các đơn vị trong dãy đồng nghĩa
Theo quan điểm của chúng tôi, có thể vận dụng cả hai phương pháp giải thích đã từng được các nhà nghiên cứu chỉ ra được áp dụng cho các quyển từ điển từ đồng nghĩa tiếng Anh, tiếng Việt và cả các ngôn ngữ khác, tùy từng trường hợp của nhóm từ đồng nghĩa mà có thể áp dụng cách này hoặc cách kia sao cho có hiệu quả nhất trong việc giải thích những nét tương đồng và khác biệt giữa chúng
4.1.1 Cách giải thích thứ nhất:
Đây là cách giải thích cặn kẽ từ trung tâm, sau đó dùng từ trung tâm để giải
thích cho các từ ngữ khác nhau trong nhóm, cùng với sự chỉ ra những nét nghĩa khác biệt, sự khác nhau về phong cách biểu cảm, phạm vi sử dụng, đặc điểm kết hợp.v.v Cách giải thích này có thể áp dụng thuận lợi trong trường hợp nhóm đồng nghĩa gồm: những đơn vị cùng nghĩa, hoặc gồm những từ phái sinh từ một từ gốc đã được chọn làm “từ trung tâm”
Ví dụ: quên, quên bẵng, quên béng, quên khuấy
quên: không còn nhớ Tính hay quên Nói trước quên sau
quên bẵng: quên hẵn đi trong thời gian khá lâu, không nghĩ, không để ý đến nữa Có tiền ở túi áo treo trong tủ mà quên bẵng đi
quên béng: quên hẳn ngay điều vừa định làm Bức thư vừa viết xong quên béng chưa gửi
quên khuấy: quên hẳn mất điều mình đang phải làm vì mải chú ý đến việc khác Mải chơi quên khuấy nồi cơm đang nấu trên bếp Vui quá quên khuấy mất đang có bạn hẹn (Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Thanh Hóa, [tr 1080-1081])
Trang 374.1.2 Cách giải thích thứ hai
Đây là phương pháp phân tích thừa số chung, nghĩa là dùng phương pháp phân
tích, tìm và nêu phần nghĩa chung cho tất cả các đơn vị trong nhóm đồng nghĩa Sau đó, dùng phần nghĩa chung đó kết hợp với các nét nghĩa khu biệt để giải thích từng đơn vị
Ví dụ: nơi, chỗ, chốn
Nghĩa chung: khoảng không gian mà người hay vật nào đó chiếm hoặc xảy ra điều gì
nơi: rộng hơn chỗ, không xác định được chính xác giới hạn Đi mãi cũng tới nơi nơi
đông người
chỗ: nhỏ hơn nơi, có thể nhìn thấy toàn bộ trong cùng một lúc và xác định được chính xác giới hạn Nhường chỗ cho cụ già Rào quanh chỗ này làm vườn Chỗ này rộng đúng 100 m 2 Còn ba chỗ trống
chốn: (kết hợp hạn chế) Nơi ăn chốn ở Chốn thị thành (Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẳng, [tr 169])
4.2 Phương pháp tìm sự khu biệt ngữ nghĩa của các đơn vị đồng nghĩa
Trong nhóm đồng nghĩa, sự giống nhau về ý nghĩa giữa các đơn vị thường dễ nhận thấy hơn cả Cái khó là ở chỗ chỉ ra những khác biệt ý nghĩa giữa chúng, nhất là khi các từ có ý nghĩa hết sức gần nhau Đối với trường hợp này, chúng tôi dùng
phương pháp xác lập ngữ cảnh trống- tức những ngữ cảnh khu biệt trong đó các từ
đồng nghĩa trong nhóm không thay thế được cho nhau Nếu như xác lập được càng nhiều ngữ cảnh trống – khu biệt như vậy thì việc chỉ ra những nét khác biệt về nghĩa giữa các đơn vị đồng nghĩa càng dễ dàng hơn, càng phong phú Chính những tiêu chí mà V.N Kliueva và Nguyễn Văn Tu đã đề cập đến (tuy chưa phải đã hết) sẽ là những gợi ý hữu ích giúp cho việc phát hiện ra những nét khu biệt ngữ nghĩa giữa các từ
Trang 38Thí dụ: chửa, có mang, có thai Có thể nói: chị ấy đang chửa và chị ấy đang có mang (có thai) Các đơn vị trên khác nhau như thế nào? Nếu như chúng ta xác lập
được những ngữ cảnh trống sau thì vấn đề trở nên dễ dàng
Con cá có mang (có thai) (-) ( chỉ nói: con cá có chửa)
Con trâu đang có thai (-) ( chỉ nói: chị ấy đang có thai)
Như vậy: chửa có nghĩa rộng hơn có thai (có mang) Cụ thể là từ chửa có thể
dùng cả cho người, động vật đẻ con hoặc một vài động vật mang bọc trứng trong
bụng Còn có thai chỉ dùng cho người (phụ nữ) bởi vì thai ở đây có nghĩa là thai nhi, là đứa trẻ còn đang ở trong bụng người phụ nữ Có mang mang sắc thái khẩu ngữ, là lối nói kiêng tránh của có thai
Hoặc thí dụ về các từ nơi, chỗ như đã đề cập ở trên Sở dĩ chúng ta chỉ ra được
sự khác biệt giữa hai từ như vậy là do dựa vào những ngữ cảnh trống
Ta chỉ có thể nói: Trên xe cần nhường chỗ cho cụ già, em nhỏ chứ không nói: Trên xe cần nhường nơi cho cụ già, em nhỏ Ngược lại ta chỉ có thể nói: đi mãi cũng tới nơi chứ không ai nói: đi mãi cũng tới chỗ
Có thể tồn tại ba loại ngữ cảnh trống:
Loại 1: Cho thấy những sắc thái khác nhau của cùng một ý nghĩa ở hai hay
nhiều từ đồng nghĩa (như các ví dụ về chửa- có mang- có thai)
Loại 2: Ngữ cảnh trống loại này, chỉ ra rằng một nghĩa chuyển nào đó chỉ có ở
từ này mà không có ở các từ khác (khi hai từ chỉ đồng nghĩa bộ phận với nhau) Vì
thế, trong ngữ cảnh loại này các từ không thay thế cho nhau được (như ví dụ về nơi- chỗ đã dẫn ở trên) Chúng ta chỉ có thể nói: Phát huy chỗ mạnh của cá nhân; bài viết
còn có chỗ chưa rõ v.v Bởi vì chỗ có thêm nghĩa chuyển mà nơi không có
Loại 3 : Loại ngữ cảnh trống này không cho phép chỉ ra được sự khác biệt về ý
nghĩa giữa các từ đồng nghĩa, mà chỉ cho thấy khả năng kết hợp từ vựng- ngữ nghĩa
khác nhau Đều chỉ màu đen nhưng ô chỉ kết hợp với ngựa (ngựa ô) ; mực chỉ kết hợp
Trang 39với chó (chó mực); huyền chỉ kết hợp với mắt (mắt huyền) Không thể nói: ngựa mực, chó huyền, mắt ô.v.v Loại ngữ cảnh thứ ba này còn cho thấy khả năng cấu tạo từ
khác nhau giữa các từ đồng nghĩa Chẳng hạn như trong tiếng Anh, cùng chỉ một tập
hợp, một nhóm các con vật nhưng khi đi với cá ta có a shoal of fish; với loài côn trùng thì lại là a swarm of insects như đàn ong là a swarm of bees; đối với chó, linh cẩu, hoặc sói thì họ lại dùng a pack of dogs, hyenas, wolves.v.v (Michael Mc Carthy and Felicity O’Del (1995), English Vocabulary In Use, Cambridge University Press,
[tr 58])
5 Các thế đối lập ngữ nghĩa phổ biến của các đơn vị trong dãy đồng nghĩa Từ những điều đã trình bày ở trên, ta có các thế đối lập sau dùng làm căn cứ
đối chiếu các đơn vị trong dãy đồng nghĩa để tìm ra sự khu biệt giữa chúng
5.1 Xét về phương diện phong cách- biểu cảm, đặc điểm kết hợp và đặc điểm cú pháp, phạm vi sử dụng của từ
a Từ trung tính hay có tính khẩu ngữ, văn chương hay trang trọng, thông tục hay kiểu cách
b Khả năng kết hợp có bị hạn chế hay không, nếu có thì thường đi với từ loại nào (danh từ, tính từ hay động từ v.v.), ở vị trí nào, (trước hay sau)
c Có chức năng cú pháp nào đặc biệt hay không, (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ…)
d Từ thường dùng hay ít dùng
e Từ toàn dân hay từ địa phương, thuật ngữ, từ nghề nghiệp, từ lóng
5.2 Về phương diện ý nghĩa logic- sự vật tính
a Từ có ý nghĩa cụ thể hay trừu tượng, khái quát hơn
b Từ có dung lượng ý nghĩa rộng hơn hay hẹp hơn Như máu (dùng cho cả người và động vật)- huyết (thường chỉ dùng để nói về máu người)- tiết (máu của súc vật
Trang 40như tiết lợn, tiết vịt…) (Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Thanh Hóa, {tr 623-816-1327])
c Sự khác biệt về ngữ dụng: thái độ đánh giá của người nói: sự đánh giá là trung tính, phủ định hay khẳng định Sự đánh giá về mức độ, số lượng là cao hay thấp, nhiều hay ít Sự đánh giá theo tham số chân lí, sự khác nhau về độ tin cậy, khả
năng xảy ra, tính phỏng đoán hay khẳng định
d Đối với động từ, cần chú ý đến sự đối lập giữa các thành tố chính và thành tố phụ
Các thành tố chính gồm:
+ Chủ thể của hành động
Sự khác biệt về phương diện này của các đơn vị (từ) đồng nghĩa sau : chết (dùng cho cả người, động vật, thực vật), tịch diệt (chỉ dùng cho nhà sư ), băng hà (chỉ dùng cho vua chúa) v.v (Nguyễn Đức Tồn (2006), Từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb
KHXH, [tr 234])
Trong tiếng Anh, hiện tượng này rất phổ biến Thí dụ như, high và tall cùng chỉ
chiều cao, nhưng high dùng để miêu tả tính chất cao của một sự vật như nhà, núi, hàng rào…hoặc dùng để chỉ khoảng cách của một sự vật tính từ mặt đất: He has
climbed some of the world’s highest mountains (Anh ấy trèo lên một vài ngọn núi cao nhất thế giới) ; these houses’re so high (những ngôi nhà này rất cao); The fence is one metre high (hàng rào này cao một mét); trong khi tall thì dùng để chỉ chiều cao của người như : My brother’s much taller than me (Anh tôi cao hơn tôi nhiều) chứ không ai dùng My brother’s much higher than me hoặc dùng để chỉ chiều cao của một vật nào đó cao nhưng phải mỏng về chiều ngang như cây hay là ly uống nước
…She ordered a cold beer in a tall glass Đối với buidings (biệt thự) thì ta có thể dùng tall or high (A S Hornby, Sally wehmeier, Colin Mclntosh and Joanna