1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết hồ biểu chánh

162 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Tác giả Lê Thị Thanh Thủy
Người hướng dẫn Ts. Huỳnh Bá Lân
Trường học Trường đại học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn góp phần làm nổi bật hơn dung mạo của ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh qua ngôn ngữ nhân vật với tư cách là một bộ phận của văn học quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỷ XX, chúng t

Trang 1

Lê Thị Thanh Thủy

Luận văn thạc sĩ

NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT

HỒ BIỂU CHÁNH Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh

Mã ngành: 5.04.27 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Huỳnh Bá Lân

- TP HỒ CHÍ MINH - 2006

 

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Nếu như trước những năm 1930, Hoàng Ngọc Phách nổi tiếng ở phía Bắc, thì

Hồ Biểu Chánh là tác giả được nhiều người ưa thích ở Nam bộ Đứng về số lượng

và chất lượng mà nói thì Hồ Biểu Chánh là nhà viết tiểu thuyết đáng chú ý nhất trong thời kỳ này Trong 50 năm làm văn, bên cạnh làm quan, ông đã viết trên dưới 60 tiểu thuyết (trong đó có nhiều bộ gồm hai tập)

Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp Ông có một số tác phẩm phóng tác từ văn học Pháp, nhưng ông đã biến những tác phẩm này thành các sáng tác riêng của mình Khung cảnh trong các tác phẩm của ông hoàn toàn Việt Nam, nhân vật hoàn toàn là người Việt Nam, với tính cách, tâm lý, lời ăn tiếng nói, ứng xử rất Việt Nam, đặc biệt là rất Nam bộ So với các tác giả cùng thời, Hồ Biểu Chánh đã tạo cho mình một phong cách sáng tác độc đáo, riêng biệt Ông là cây bút Nam bộ, ngôn ngữ tiểu thuyết của ông phản ánh phong phú phương ngữ Nam bộ và văn hóa Nam bộ Ông đã sử dụng thành công những từ địa phương trong miêu tả, kể chuyện, đặc biệt là trong đối thoại Chính vì vậy mà sáng tác của ông được công chúng Nam bộ đón nhận nhiệt tình trong những năm đầu thế kỷ XX

Hồ Biểu Chánh đã đóng góp đáng kể cho sự nghiệp văn chương nước nhà Các tác phẩm của ông đã đạt được những giá trị nhất định về tư tưởng và thẩm

mỹ Một số tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Gần đây, có nhiều tiểu thuyết của ông được dựng thành phim và đều được công chúng nhiệt tình đón nhận

Ngôn ngữ nhân vật là nguồn tư liệu vô cùng phong phú cho nhiều công trình ngôn ngữ học lẫn văn học Nhưng cho đến nay, việc xem ngôn ngữ nhân vật như

là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại vẫn còn là một vấn đề khá mới

mẻ Vì vậy, việc tìm hiểu có hệ thống ngôn ngữ nhân vật từ góc độ này là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn

Trang 3

Với mong muốn góp phần làm nổi bật hơn dung mạo của ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh qua ngôn ngữ nhân vật với tư cách là một bộ phận của văn học quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỷ XX, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu

là “Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh”

Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà tiểu thuyết đi tiên phong từ buổi bình minh của lịch sử tiểu thuyết Việt Nam và là cây bút sáng giá nhất giai đoạn 1920-

1932 về thể loại này Từ sau năm 1932, trước sự xuất hiện của nhiều nhà văn trẻ trung, mới mẻ, vai trò văn học của ông tuy có lu mờ, song tác phẩm của ông vẫn được nhiều độc giả ưa chuộng, nhất là độc giả ở Nam bộ Một khuôn mặt nghệ thuật như vậy mà trước kia các nhà nghiên cứu vô tình hay cố ý đã bỏ quên khi khảo sát về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết

Luận văn này được hình thành nhằm mục đích khảo sát một cách toàn diện

và có hệ thống những đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, với tư cách là bộ phận của ngôn ngữ tiểu thuyết Nam bộ Hồ Biểu Chánh

có riêng cả một phương thức sáng tác, sắc thái diễn đạt Tuy ông có ảnh hưởng ít nhiều Tây - Tàu, nhưng nhìn chung cái hồn truyền thống vẫn đóng vai trò quan trọng, thể hiện ý chí giữ gìn bản sắc dân tộc, dân tộc hóa những giá trị vay mượn Điều đáng lưu ý là câu văn của ông đã mau chóng thoát khỏi ảnh hưởng bên ngoài, thể hiện sinh động chất giọng và bản sắc Nam bộ với những câu văn tự nhiên, dễ hiểu, những từ ngữ “rặt tính địa phương” Tất cả đã hình thành nên cái “thần” riêng của Hồ Biểu Chánh Thông qua việc phân tích ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết của ông, chúng tôi mong muốn mang lại các bằng chứng sống động về những nét đặc sắc trên

Khi tiếp cận phong cách của một tác giả, chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ nghệ thuật là một hướng nghiên cứu có nhiều ý nghĩa và triển vọng nhưng chưa được các nhà khoa học đề cập đến nhiều khi so sánh với những vấn đề thuộc các phạm trù khác như nội dung, kết cấu… Trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh, ngôn ngữ giao tiếp của nhân vật trong tác phẩm

Trang 4

là một hình thái ngôn ngữ nghệ thuật, có vị trí đặc biệt trong đặc trưng và thành tựu nghệ thuật của thể loại Luận văn cũng đi theo hướng tiếp cận hiện đại này trong nghiên cứu lịch sử phát triển văn học, nhằm góp phần làm sáng tỏ quá trình phát triển ngôn ngữ nhân vật nói riêng, ngôn ngữ của Hồ Biểu Chánh nói chung Đứng trên phương diện nghiên cứu ngôn ngữ văn học trong bước đường phát triển hiện đại của văn xuôi nghệ thuật, ngôn ngữ nhân vật là một trong những vấn

đề khoa học được đặt ra khá đặc sắc và phong phú Đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay, việc giải mã những thông điệp hàm chứa trong lời thoại nhân vật giúp chúng

ta nhận diện được sắc thái văn hóa, văn minh cộng đồng để giao lưu và truyền bá những giá trị nhân văn Luận văn này cũng cố gắng phản ảnh những mối liên hệ giữa những đặc trưng ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh với những giá trị văn hóa Nam bộ

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khoa học mà luận văn nghiên cứu là những đặc trưng về ngôn ngữ giao tiếp giữa các nhân vật hay ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Do vậy, đối tượng khảo sát này được xem là một trong những khía cạnh chủ yếu phản ảnh đặc trưng phong cách ngôn ngữ của nhà văn

Trước đây văn Nôm ưa chuộng sự thanh cao, thiên về giải bày những ý tưởng một cách hoa mỹ, cầu kỳ, nặng nề điển cố Trung Quốc Ngôn ngữ tiểu thuyết quốc ngữ thời kỳ này nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nói riêng, đã chuyển sang lời nói thông thường

Hệ thống nhân vật chủ yếu trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh là những người bình dân chân chất, nên ngôn ngữ của họ cũng giản dị, huỵch toẹt như chính lời nói của họ trong cuộc sống hằng ngày Những cậu Thám, mợ Tham… hay những người bình dân Nam bộ không thể ăn nói chải chuốt văn hoa như những cụ Thượng, quan Bố, bà Phủ… của Bắc bộ Trong khi các nhân vật tiểu thuyết miền

Bắc ăn nói cầu kỳ, kể cả Tố Tâm, một tác phẩm được coi là “hiện đại” nhất, cũng

Trang 5

không tránh khỏi những đoạn văn sáo, thì ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết miền Nam nói riêng, mà tiêu biểu nhất là Hồ Biểu Chánh, lại bình dị, mang “rặt tính địa phương” Có thể khẳng định đây là thành công lớn của các nhà văn Nam

bộ đương thời nói chung, của Hồ Biểu Chánh nói riêng, chứ không phải là hạn chế như trước đây thường đánh giá Đó là sự lựa chọn có ý thức, phù hợp với yêu cầu độc giả và thích hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ

Sự khác nhau trong ngôn ngữ tiểu thuyết của mỗi miền tạo ra sự khác nhau

về văn phong giữa hai miền Nam-Bắc Mặc dù không phân biệt thành hai dòng tiểu thuyết bình dân và tiểu thuyết chính thống như các nước láng giềng, sự khác nhau trong phong cách ngôn ngữ giữa hai miền là khá rõ nét Một bên là bình dân, giản dị, một bên là cầu kỳ, trau chuốt Nhân vật Hồ Biểu Chánh ít sự dụng ngôn ngữ độc thoại, mà dùng hình thức đối thoại để thể hiện trạng thái tâm hồn, tính cách, tâm lý

Đặc điểm ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh được thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật, vì hoạt động giao tiếp mới là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ, là thứ ngôn ngữ được xã hội hóa cao độ Những khác biệt về điều kiện địa lý

đã tạo ra tính đa dạng của phương ngữ: Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ Sự phân ranh giới này chủ yếu dựa trên những đặc trưng tiêu biểu của ngôn ngữ do cư dân trong vùng sử dụng để thể hiện, miêu tả… Mặc dù sự tiếp xúc, giao lưu ngày càng tăng giữa các vùng đã làm cho các phương ngữ xích lại gần nhau hơn, sự khác biệt giữa phương ngữ Bắc bộ với phương ngữ Nam bộ vẫn còn khá đậm nét Nói một cách tổng quát, ngôn ngữ nhân vật của Hồ Biểu Chánh thể hiện những đặc trưng:

- Phong cách phương ngữ, khẩu ngữ Nam bộ

- Mối quan hệ giữa cá nhân với môi trường xung quanh, và qua đó thể hiện sắc thái văn hóa văn minh của cộng đồng Nam bộ

Vì vậy, luận văn này cố gắng làm rõ các đặc trưng trên của ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, qua đó góp phần xem xét, đánh giá một cách toàn diện phong cách ngôn ngữ của tác giả Luận văn cũng cố gắng so sánh những

Trang 6

điểm giống và khác nhau giữa một số tác phẩm khác cùng thời nhằm nhận diện dấu ấn tác giả qua ngôn ngữ nhân vật và thấy được sự khác nhau trong ngôn ngữ mỗi miền đã tạo ra sự khác biệt giữa tiểu thuyết hai miền Nam – Bắc, và làm toát lên được cái chất riêng của Hồ Biểu Chánh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Để chỉ ra được những đặc điểm ngôn ngữ nhân vật, cần đặt chúng trong mối quan hệ với chủ đề, tư tưởng, và cấu trúc tổng thể của văn bản Một cách cụ thể, ngôn ngữ nhân vật cần phải được đặt trong một số tương quan như:

a Tương quan giữa ngôn ngữ nhân vật và môi trường hoạt động của nó

b Từ ở góc độ tâm lý, yếu tố lịch sự và thể diện vốn thuộc bình diện nghi thức ngôn giao thành hình thức thể hiện tính cách và nhận dạng tính cách

Trong luận văn này, chúng tôi không thể khảo sát toàn bộ tác phẩm, mà chủ yếu nghiên cứu một số tác phẩm có tính đại diện nhất, chín nhất của ông Mặc dù không đi sâu vào lý luận văn học, nhưng luận văn cũng không thể không đề cập đến những khái niệm liên quan đến ngôn ngữ trong tiểu thuyết, ngôn ngữ giao tiếp, khẩu ngữ… nhằm phục vụ cho các phân tích mà đề tài đặt ra

Ở đây chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu toàn bộ ngôn ngữ của ông mà chỉ chuyên sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ của các nhân vật trong tiểu thuyết Vì hệ thống ngôn ngữ giai đoạn này nói chung, ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh nói riêng, là ngôn ngữ văn xuôi trên đường hiên đại hóa, giản dị, trong sáng, thấm đẫm cuộc sống Đó là thứ ngôn ngữ mang tính hiện đại, rũ bỏ hoàn toàn lối văn biền ngẫu trầm bỗng réo rắt, có vần có điệu còn vương vấn nhiều trong văn của Hoàng Ngọc

Phách (Tố Tâm), Phạm Duy Tốn (Sống chết mặc bây), Nguyễn Bá Học (Câu

chuyện gia đình)… Tuy nhiên, do những câu văn hiện đại này còn bắt chước một

cách máy móc lối đặt câu Pháp văn và do những chập chững bước đầu, nên cũng

có không ít cách dùng từ còn ngượng ngập Riêng ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, Hồ Biểu Chánh có tài năng đặc biệt và những đoạn đối thoại thường chiếm tỷ

Trang 7

lệ khá cao trong tiểu thuyết của ông Vì vậy, những lời thoại đó thể hiện khá rõ nét đặc điểm phong cách ngôn ngữ độc đáo của ông

Luận văn này được hình thành nhằm góp phần vào ý nguyện của những người đi trước, khẳng định lại giá trị của một người đại diện cho ngôn ngữ văn chương hiện đại vùng đất mới phương Nam Với đối tượng khoa học như đã trình bày, phạm vi khảo sát cho luận văn là một số tác phẩm tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh, cũng là những tác phẩm có vai trò mở đầu cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

Để có cái nhìn tổng quát hơn, luận văn có khảo sát thêm các tác phẩm khác của một số tác giả gần gũi, hoặc khác biệt về phong cách ngôn ngữ trong cùng giai đoạn với ông Ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh có những đặc trưng tiêu biểu nào? So với các tác phẩm cùng thời, tại sao tiểu thuyết của ông vẫn còn vị trí trong lòng người đọc Nam bộ? Trong chặng đường sáng tác dài như vậy, ngôn ngữ của ông có sự phát triển nào không? Thiết nghĩ làm rõ các vấn đề nói trên sẽ bổ sung được những giá trị ở bình diện ngôn ngữ trong việc xác định vị trí văn chương của Hồ Biểu Chánh mà trước đây chưa được tìm hiểu, nghiên cứu một cách đầy đủ, góp phần hạn chế những nhận định, đánh giá phiến diện

2.3 Nguồn dữ liệu

Những quyển tiểu thuyết dùng làm ngữ liệu nghiên cứu trong luận văn này là

19 cuốn ở ba thời điểm sáng tác của Hồ Biểu Chánh Các tác phẩm này được tuyển chọn theo những tiêu chí sau:

- Thể hiện những nét đặc sắc cơ bản trong phong cách nghệ thuật của nhà văn

- Đánh dấu những bước thay đổi trong nhận thức sáng tác của nhà văn

- Được độc giả đón nhận rộng rãi và được giới nghiên cứu quan tâm

Hồ Biểu Chánh là nhà văn trải qua nhiều thế hệ sáng tác

+ Thế hệ 1862 (1862-1913)

Trang 8

Những năm cuối thế hệ 1862, nghĩa là khoảng 1906- 1913, Hồ Biểu Chánh hãy còn trẻ, nhưng cũng sớm tập viết văn Trước hết, ông viết truyện dài theo thể

6, 8 là U tình lục Hồi này Trần Chánh Chiếu cho xuất bản cuốn Hoàng Tố Anh

hàm oan Sau khi đọc truyện này, Hồ Biểu Chánh thấy viết bằng văn xuôi dễ cảm

người đọc hơn văn vần Chính thời kỳ này Hồ Biểu Chánh viết hai cuốn Ai làm

được (1912) và Chúa tàu Kim Qui (1913)

+ Thế hệ 1913 (1913- 1932)

Hồ Biểu Chánh bắt đầu trưởng thành ngay từ đầu thế hệ 1913 Giai đoạn này

ông cho xuất bản 18 quyển tiểu thuyết Trong số đó phải kể đến Ngọn cỏ gió đùa (1926), Thầy thông ngôn (1926), Vì nghĩa vì tình (1929), Cha con nghĩa nặng (1929), Khóc thầm (1930), Con nhà nghèo (1930), Con nhà giàu (1931), Chút

phận linh đinh (1931)

+ Thế hệ 1932 (1932- 1945)

Thời kỳ này Hồ Biểu Chánh viết được 25 quyển tiểu thuyết Tiêu biểu là Lời

thề trước miễu (1935), Một đời tài sắc (1935), Cười gượng (1935), Thiệt giả giả thiệt (1935), Nợ đời (1936), Tại tôi (1938), Bỏ chồng (1938), Cư Kỉnh (1941)

+ Thế hệ 1945 (1945- 1954)

Từ năm 1945, Hồ Biểu Chánh tản cư đến Gò Công gần 9 năm Thời gian này

ông viết được 9 tiểu thuyết, trong đó nổi bậc: Bỏ vợ (1954)

+ Thế hệ 1954 (1954- ?)

Sau 1954, Hồ biểu Chánh không cho in tiểu thuyết mới mà chỉ gởi truyện đăng báo Tiếng Chuông, Saigon Mới Ông có viết thêm 4, 5 tiểu thuyết nữa, như:

Đại nghĩa diệt thân (1955), Sống thác với tình (1957)

Có thể nói rằng, đối với Hồ Biểu Chánh, dù ở thế hệ nào, ông vẫn giữ được bản sắc của mình và đứng ngoài các trào lưu tư tưởng nghệ thuật: phong trào lãng

mạn vượt bậc theo tiểu thuyết Tuyết Hồng Lệ Sử hay Tố Tâm của thế hệ 1913, hay chủ trương phá cách theo kiểu Đoạn tuyệt của thế hệ 1932, và hầu như ông không

biết tới những tính cách tuyên truyền kháng chiến của thế hệ 1954 Nói như vậy

Trang 9

không phải là bảo rằng: Hồ Biểu chánh không phát triển, không đổi mới, mà chỉ

có ý rằng cái mới của Hồ Biểu Chánh năm 1913 với cái mới của Hồ Biểu Chánh năm 1956 không khác bao nhiêu

Để làm nổi bật hơn phong cách tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, chúng tôi khảo

sát thêm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký,

Chuyện giải buồn Huỳnh Tịnh Của nhằm thấy được những đặc sắc trong phong

cách khẩu ngữ của ông

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Luận văn sẽ khảo sát những đặc điểm ngôn ngữ nhân vật qua các tác phẩm

của Hồ Biểu Chánh, ít nhiều có đối chiếu với ngôn ngữ nhân vật trong Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của, Chuyện đời xưa của

Trương Vĩnh Ký để thấy rõ những đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ của Hồ Biểu Chánh

Việc so sánh với “Tố Tâm”, một đại diện cho phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Bắc bộ giai đoạn đó sẽ giúp thấy được sự khác nhau trong phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết hai miền Nam Bắc Một bên là ngôn ngữ giản dị, huỵch toẹt như chính lời nói hằng ngày, một bên là ăn nói cầu kỳ, trau chuốt Trong khi đó, đối

chiếu với các tác phẩm miền Nam (Chuyện giải buồn, Chuyện đời xưa) để thấy sự

gần gũi của ngôn ngữ trong các văn bản này với khẩu ngữ trong giai đoạn lịch sử

đó Những so sánh, đối chiếu trên sẽ cho thấy cái riêng, cái độc đáo của nhà văn, đồng thời thấy được quá trình phát triển của phong cách ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh

3.2 Phương pháp hệ thống

Xuất phát từ quan niệm cho rằng văn bản văn học là một chỉnh thể bao gồm nhiều hệ thống tín hiệu hình tượng thẩm mỹ có quan hệ tương tác và quy định lẫn nhau, nên chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật nằm trong cấu trúc văn bản lớn hơn, đó là cấu trúc nội dung văn bản

Trang 10

Chúng tôi sẽ vận dụng những thành tựu của cả ngành ngôn ngữ học hiện đại lẫn truyền thống trong phân tích Cụ thể là, trong chừng mực nhất định, có thể

áp dụng lý thuyết về tu từ học, phong cách học, ngữ nghĩa học, ngữ dụng học, ngữ pháp chức năng, ngữ pháp văn bản… hoặc xác lập mô hình khái quát các hiện tượng liên quan đến sự tương tác giữa ngôn ngữ nhân vật với các hệ thống khác trong văn bản văn học nhằm làm rõ đặc trưng ngôn ngữ nhân vật đối với sự vận hành của toàn bộ hệ thống

Một mặt, chúng tôi xem xét đối tượng khảo sát trong hệ thống lớn, tức là cấu trúc nội dung văn bản Mặt khác, chúng tôi cũng chú ý đến phạm vi sử dụng có tính chất ngữ dụng, đặc biệt là xem xét ngữ liệu đó có giá trị như thế nào trong việc xác định đặc trưng phong cách cá nhân của tác giả

Ngoài ra, người viết sẽ cố gắng sử dụng những khái niệm liên quan đến đề tài qua sự vận dụng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học và văn học giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn Trong quá trình viết, chúng tôi cố gắng vận dụng một cách có hệ thống các luận điểm khoa học xung quanh các vấn đề ngôn ngữ tác giả qua các công trình lý luận văn học Để giới thiệu thuật ngữ nhân vật, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, người viết tiến hành nghiên cứu lý luận và sẽ có những phân tích về ngôn ngữ và lời nói Đặc biệt, vấn đề hệ thống từ vựng, phong cách học sẽ cung cấp những cơ sở khoa học để phân tích đặc điểm loại hình ngôn ngữ bình dân, từ đó phân tích đặc trưng ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh

Nghiên cứu ngôn ngữ của một nhà văn là điều hấp dẫn và thú vị, nhưng cũng

là một việc không dễ dàng Yêu cầu đặt ra đối với người viết không phải chỉ là nêu lên được cái riêng, cái độc đáo của nhà văn, mà còn phải phân tích để thấy được quá trình vận động và phát triển của phong cách ngôn ngữ tác giả Từ một nhà văn chịu ảnh hưởng nhiều của các nền văn học Đông – Tây đã phấn đấu trở thành một nhà văn hiện thực, Hồ Biểu Chánh kế thừa có chọn lọc cái cũ và phát triển những nét mới

Trang 11

Chúng tôi tiếp cận vấn đề dưới ánh sáng của ngôn ngữ học hiện đại để xác định những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ nhân vật qua các tác phẩm Hồ Biểu Chánh Nhận thức rõ vai trò, chức năng của các yếu tố ngôn ngữ học đối với việc xây dựng nhân vật sẽ giúp chúng ta thấy rõ các đặc điểm ngôn ngữ, các đặc trưng văn hóa của một tác giả thông qua việc sử dụng ngữ điệu và ngôn ngữ trong các hoạt động giao tiếp của cuộc sống đời thường Cách tiếp cận tác phẩm văn học theo quan điểm ngôn ngữ học hiện đại giúp chúng ta nhận rõ vai trò đích thực của ngôn ngữ nhân vật trong mối quan hệ với cuộc đời, tư tưởng, đặc biệt là đặc trưng ngôn ngữ của một tác giả

Chúng tôi cũng cố gắng kết hợp giữa lý luận chung và phân tích những tác phẩm tiêu biểu để từ đó rút ra những đặc trưng ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh Để đảm bảo tính khoa học, công bằng, khách quan, chúng tôi cố gắng thận trọng đúng mức khi đánh giá, tránh cách nhìn phiến diện

Trong quá trình viết luận văn, chúng tôi có được những thuận lợi hết sức cơ bản, nhưng cũng gặp không ít khó khăn Trước hết là tình hình xã hội và đời sống văn học từ sau năm 1975 đã có nhiều chuyển biến quan trọng Việc đổi mới tư duy

đã tạo điều kiện cho chúng ta đánh giá một cách đúng đắn, khoa học những hiện tượng văn học trong quá khứ, tránh được lối viết có tính chất áp đặt Mặt khác, trong khoảng thời gian gần đây, các bộ môn của ngành ngữ văn đã có những bước tiến đáng kể và trình độ tư duy lý luận của người đọc ngày càng nâng cao Chính

vì vậy, khi nghiên cứu một tác giả hay một tác phẩm không thể dừng lại ở việc miêu tả những loại hình tượng, thi pháp, bố cục… mà phải có cái nhìn toàn diện Ngày nay, việc nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học và văn học là một vấn đề cần được quan tâm

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như mô tả, tổng hợp, và phân tích tương quan, so sánh, thống kê … nhằm xử lý tốt nhất các yêu cầu đặt ra

của đề tài

Trang 12

4 Lịch sử vấn đề

Với những đóng góp có tính khai phá của Hồ Biểu Chánh trong giai đoạn đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại, có rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của ông và có nhiều đánh giá, nhận định đáng trân trọng Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được đặt trong dòng chảy của văn học Nam bộ và có thể được chia ra thành mấy giai đoạn như sau:

b Từ 1945 đến 1975

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước bước vào thời kỳ mới Sự kiện sôi động đó đã cuốn hút các nhà nghiên cứu tập trung vào tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam bộ Sau đó, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Pháp tiếp tục kéo dài và kết thúc bằng Hiệp định Giơnevơ (1954), đất nước chia làm hai miền Do nhiều nguyên nhân, tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết Nam bộ có những khác biệt đáng kể giữa miền Bắc và miền Nam

b1 Ở miền Bắc

Do thiếu tài liệu hay nhiều lý do khác, các nhà nghiên cứu miền Bắc ít quan tâm đến mảng tiểu thuyết Nam bộ Tuy nhiên, Nguyễn Đình Chú, người đầu tiên ở

Trang 13

miền Bắc nghiên cứu khá tỉ mỉ về các nhà văn viết tiểu thuyết ở Nam bộ, đặc biệt

là Hồ Biểu Chánh

Trong “Lược truyện các tác gia Việt Nam,” Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, và các cộng sự (1972) đã đưa ra nhận xét như sau:

“Những tiểu thuyết Pháp đều xuất hiện trên các báo miền Nam trước tiên, đã

có những người như Hồ Văn Đoàn phỏng dịch tiểu thuyết Nôm của ta, cải biên lại theo nghệ thuật viết tiểu thuyết phương Tây từ năm 1905, thế thì tiểu thuyết lãng mạn có thể không phải chỉ xuất hiện trước tiên ở miền Bắc từ 1921, 1922 với

Cành lê điểm tuyết, Cuộc tang thương, và từ năm 1925 với Tố Tâm, mà có lẽ phải

xuất hiện ở miền Nam từ nhiều năm trước thời gian đó (1922) Ở Nam bộ, U tình

lục xuất bản năm 1909, hay Chúa tàu Kim Quy xuất bản năm 1913 hay 1916 …

có nhiều quyển khác nữa xuất hiện ở miền Nam từ 1921 trở về trước bị thất lạc Cần nghiên cứu các thư mục trong thư viện quốc gia Pháp mới rõ được.”

Ông đặt vấn đề như vậy với hy vọng nhiều người sẽ tiếp tục tham gia nghiên cứu Nhưng rất tiếc là đến “Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại”, Phan Cự Đệ (1974) vẫn chưa chú ý đến ý kiến này

b2 Ở miền Nam

Các nhà nghiên cứu ở miền Nam có điều kiện thuận lợi hơn để nghiên cứu chủ đề này Tuy vậy, phải từ năm 1967 trở đi, tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam bộ mới thực sự thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Trong công trình “Bảng lược đồ văn học Việt Nam”, Thanh Lãng (1967) có điểm qua một vài nét về phong trào dịch thuật và sáng tác tiểu thuyết ở Nam bộ

nhưng còn sơ lược Cũng những năm ấy, tạp chí Văn (Sài Gòn) số 80, ngày 15

tháng 4 năm 1967 đã dành số đặc biệt tưởng niệm nhà văn Hồ Biểu Chánh, ghi nhận công lao của ông đối với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết văn xuôi ở thời

kỳ phôi thai như: Thanh Lãng với bài “Hồ Biểu Chánh”; Đông Hồ với bài “Hồ Biểu Chánh: nhà văn bạch thoại miền Nam”; Thiếu Sơn với bài “Nhớ Hồ Biểu Chánh” v.v

Trang 14

Trong cuốn “Văn học sử Việt Nam”, Bùi Đức Tịnh (1967) đã nêu lên những nhận định bước đầu về văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh Với “Khi những lưu dân ở lại” (1969), Nguyễn Văn Xuân tiếp tục nêu vấn đề “Hồ Biểu Chánh - một cây bút tiêu biểu nhất cho miền Nam.”

Năm 1968, Huỳnh Phan Anh viết bài “Ghi nhận về Hồ Biểu Chánh”, đã khẳng định Hồ Biểu Chánh là nhà văn kể chuyện đời khá tiêu biểu trong số các nhà văn viết tiểu thuyết trong Nam

Trong Chân dung Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Khuê (1974) đã khắc họa khá rõ

nét về Hồ Biểu Chánh, về tư liệu, về những hoạt động văn học và tác phẩm của nhà văn, nhưng về mặt hình thức ngôn ngữ, tác giả viết không quá 10 dòng:

“…văn Hồ Biểu Chánh tuy cũng có những sáo ngữ, những câu, những đoạn chải chuốt và nhịp nhàng đăng đối, nhưng nói chung thì bình dị tự nhiên trơn tuột như lời nói thường của đại chúng, dùng nhiều từ địa phương và viết đúng theo lối phát

âm đặc biệt của người miền Nam Do đó, về phương diện hình thức, tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh còn cống hiến cho các nhà ngữ học nhiều điều rất hữu ích trong việc nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ miền Nam.” (trang 267-268)

Bùi Đức Tịnh (1974) trong “Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới” chỉ trình bày nội dung tóm tắt của một số tác phẩm chứ không phải thực sự nghiên cứu, khảo sát một cách tỉ mỉ

c Từ sau năm 1975

Năm 1975, đất nước thống nhất, điều kiện nghiên cứu có nhiều thuận lợi hơn Tuy vậy, cũng phải đến những năm 1980 trở đi, các nhà nghiên cứu mới tiếp tục công việc nhận định lại giá trị của tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam bộ nói chung, và tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nói riêng Chẳng hạn, “Từ điển Văn học” tập

1 (1983) đã dành cho Hồ Biểu Chánh những lời đánh giá trân trọng: “Chủ yếu đóng góp của ông vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai này là ở mấy phương diện: nội dung đề tài, xây dựng nhân vật, kết cấu ngôn

Trang 15

ngữ.” Các nghiên cứu toàn diện hơn về Hồ Biểu Chánh được phản ảnh qua các tham luận tại cuộc hội thảo khoa học về Hồ Biểu Chánh vào tháng 11 năm 1988 Trong “Tiến trình văn nghệ miền Nam”, Nguyễn Q Thắng (1990) đã dành một phần để giới thiệu sơ lược một số tác giả, tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ ở Nam bộ, trong đó có Hồ Biểu Chánh

Với công trình “Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930”, Bằng Giang (1998) đã trình bày về thân thế và tác phẩm của một số nhà văn Nam bộ và một số vấn đề mà tác giả quan tâm Mặc dù đây chưa phải là công trình tập trung nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết ở Nam bộ nhưng những tư liệu và gợi ý của tác giả đã giúp chúng ta hình dung được quá trình hình thành và phát triển tiểu thuyết văn xuôi trên vùng đất này

Trần Hữu Tá có một số bài viết khái quát được vai trò đặc biệt của tiểu thuyết Nam bộ trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam như “Tiểu thuyết Nam bộ

trong chặng đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam” in trên tạp chí Kiến

thức Ngày nay (số 309, 1999), và “Nghĩ về buổi bình minh của tiểu thuyết Nam

bộ” in trên tạp chí Văn học (số 10, 2000) Trong các công trình này, Trần Hữu Tá

đã nhận định Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà tiểu thuyết đi tiên phong từ buổi bình minh của lịch sử tiểu thuyết Việt Nam Sách “Văn học lớp 11”, tập 1, khi giới thiệu về tác phẩm “Cha con nghĩa nặng”, cũng đưa ra một nhận định khái quát sau:

“Trong 65 tập tiểu thuyết của ông, không ít cuốn còn hạn chế về tư tưởng, nghệ thuật, nhưng nhìn chung ông đã góp công sức tích cực vào việc hình thành thể loại tiểu thuyết của dân tộc ta trong chặng đường phôi thai đầu tiên Cảnh trí, con người, phong tục tập quán, lời ăn tiếng nói…tất cả đều thấm đượm sắc thái Nam bộ.” (trang 106)

Trong cuộc hội thảo “Văn học quốc ngữ Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” (2002), các nhà nghiên cứu đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của mảng

Trang 16

văn học này và khẳng định giá trị “đóng góp không nhỏ” của nó cho tiến trình hiện đại hoá văn xuôi nước nhà

“Tiểu thuyết Nam bộ (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)” do Nguyễn Kim Anh chủ biên (2004) đã phác thảo tương đối đầy đủ chân dung những con người đã làm nên diện mạo của bộ phận văn xuôi quốc ngữ này Trong đó, Hồ Biểu Chánh hiện diện với tư cách là một trong những người đi tiên phong của giai đoạn mở đường cho nền văn học Việt Nam hiện đại ra đời và phát triển

Nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật từ góc độ dụng học giao tiếp dần dần được bàn đến kể từ sau hội thảo khoa học “Ngữ dụng học” Trước đó đã có nhiều công trình lý thuyết đặt nền móng cho sự phát triển của Ngữ dụng học Việt Nam nói chung, và cho xu hướng tiếp cận văn học dưới góc độ ngữ dụng học nói riêng, như của các nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Đinh Văn Đức, Nguyễn Lai, Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Phê, Cao Xuân Hạo, Lý Toàn Thắng, Hồ Lê, Nguyễn Thiện Giáp… Hầu hết trong các công trình trên, khi thuyết giải một vấn

đề nào đó, các tác giả đều ít nhiều đưa ra các ví dụ từ ngôn ngữ nhân vật

Nhiều công trình đã sử dụng lời nói nhân vật làm nguồn tư liệu nghiên cứu Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) đã dùng lời nói nhân vật trong các văn bản kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết… như là nguồn tư liệu thứ hai, bên cạnh nguồn tư liệu lời nói tự nhiên ghi âm được để phục vụ cho công trình nghiên cứu Không chỉ các bài báo, mà cả những chuyên luận, luận văn cao học, luận án tiến sĩ… cũng hướng đến đề tài nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật Luận văn Thạc sĩ của Châu Minh Hiền “Đặc điểm khẩu ngữ Nam bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” đã đi sâu vào phân tích đặc trưng khẩu ngữ Nam bộ dưa trên cứ liệu là tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, trong đó phân lớn là ngôn ngữ của nhân vật Luận án tiến

sĩ của Nguyễn Hoàng Tuấn (2005) chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh đã nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật của Nam Cao theo góc độ ngữ dụng học

Trang 17

Nhìn chung, những công trình về ngôn ngữ nhân vật từ góc độ dụng học chưa nhiều, nhưng cũng cho thấy nhu cầu tìm kiếm các cách tiếp cận mới nhằm phát hiện những giá trị ẩn chứa trong ngôn ngữ nhân vật

B Ở nước ngoài

Những công trình ở nước ngoài viết về tiểu thuyết văn xuôi Nam bộ không nhiều Trong luận án tiến sĩ “Le Roman Vietnamien Contemporain” của Bùi Xuân Bào (1961), tác giả đã điểm qua một số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Trong

“Introduction à la litterature Vietnamienne”, Maurice M Durand và Nguyễn Trần Huân (1969) cũng đã trình bày sơ lược về Hồ Biểu Chánh

Năm 1988, Cao Thị Như Quỳnh và John C.Shafer công bố bài báo “Ho

Bieu Chanh and the early development of Vietnamese novel” in trong tạp chí

Hè-Thu, số 12, 1988, Mỹ Cũng chính John C.Shafer cùng Thế Uyên đăng tiếp bài

“Tiểu thuyết xuất hiện ở Nam kỳ”, được Cao Thị Như Quỳnh và Thế Uyên tóm tắt

và đăng ở tạp chí Văn học (số 11, 1993) Những bài viết này cung cấp nhiều tư

liệu có giá trị về mảng tiểu thuyết Nam bộ

Trên đây, chúng tôi đã trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam bộ (giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) nói chung và tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nói riêng trong thời gian nửa thế kỷ qua Những kết quả trên cho thấy rằng các nhà nghiên cứu ngày càng phát hiện thêm nhiều tư liệu mới liên quan đến tiểu thuyết văn xuôi Nam bộ, trong đó có tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, và sử dụng nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau để đưa ra những nhận định có giá trị

Nhìn chung, việc nghiên cứu các tác phẩm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thường được tiếp cận theo hai hướng chính: khuynh hướng xã hội học và khuynh hướng thiên về khai thác văn bản trực tiếp nhìn từ góc độ ngôn từ nghệ thuật Bên cạnh những cách tiếp cận truyền thống, các nhà nghiên cứu đã vận dụng những cách tiếp cận mới để khám phá thế giới nhân vật của Hồ Biểu Chánh Tiểu thuyết

Trang 18

Hồ Biểu Chánh đã được xem xét trên nhiều bình diện, nhưng về mặt phong cách ngôn ngữ, trước nay chỉ tập trung ở một vài nhận xét Một trong những nhận định quan trọng về ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh là sự diễn đạt giản dị, sử dụng nhiều yếu

tố phương ngữ

Tuy vậy, phần lớn các công trình trên chỉ dừng lại ở việc miêu tả chung, triển khai chưa sâu, và chưa phân tích một cách thấu đáo phong cách ngôn ngữ của các nhân vật Các công trình này cũng chưa đặt tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh trong mối quan hệ với các tác giả, tác phẩm tiểu thuyết khác cùng thời để thấy được những nét nổi bật riêng của ông, cái làm cho tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh vẫn còn đứng vững trong lòng người đọc Nam bộ Hơn nữa, bên cạnh những ưu điểm vượt trội, cũng cần phải chỉ ra những hạn chế của phong cách ngôn ngữ đặc trưng đó trong việc cảm thụ của những độc giả không phải là người miền Nam, đặc biệt là giới bình dân miền Nam, đối với các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

Ở đây cần nhấn mạnh rằng vấn đề nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học và văn học là một vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn Trong hơn một thập kỷ kể từ khi luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học vào các sự kiện văn học được đề xuất năm 1990, hầu như chưa có công trình nào vận dụng các lý thuyết giao tiếp, hội thoại để phân tích ý nghĩa, tác dụng của ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học Chính vì vậy mà trong luận văn này, chúng tôi cố gắng tìm hiểu sâu hơn về phong cách ngôn ngữ của Hồ Biểu Chánh dựa trên tư liệu là ngôn ngữ nhân vật trong một số tiểu thuyết tiêu biểu của ông

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn nhằm xác định phong cách ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh, lấy ngôn ngữ nhân vật làm nguồn tư liệu và nó được xét trong quá trình hiện đại hóa của văn xuôi quốc ngữ Nam bộ Trong số những cây bút xuất sắc, tiêu biểu của giai đoạn hình thành tiểu thuyết, xét về cả hai phương diện số lượng và chất lượng, tư tưởng

và phong cách, Hồ Biểu Chánh nổi trội nhất và cũng là người đã góp phần tạo nên

Trang 19

những đường nét chính của bộ mặt tiểu thuyết Nam bộ nói riêng và nước ta nói chung trong giai đoạn này

Như vậy, thông qua việc nghiên cứu “Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh”, chúng tôi nghĩ luận văn sẽ có đóng góp vào việc xác định một cách cụ thể và có tính thuyết phục thành tựu ngôn ngữ của một tác giả cũng như của thể loại này trong lịch sử văn học hiện đại Đây là tác giả có vị trí văn học sử, được đưa vào giảng dạy ở trung học, đại học Nghiên cứu phong cách ngôn ngữ nhân vật một cách có hệ thống sẽ góp phần soi sáng những phương diện cơ bản của phong cách ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh, từ đó có thể sẽ có những đóng góp cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học hiện đại Sự đóng góp này càng có ý nghĩa nếu chúng ta biết rằng việc nghiên cứu, giảng dạy lâu nay thiên về nội dung tư tưởng hơn là phong cách ngôn ngữ Ngoài ra, việc giảng dạy văn học theo hướng ngôn ngữ học đòi hỏi phải hướng sự quan tâm vào những vấn đề phân tích ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ nhân vật nói riêng của tác phẩm văn học Vì vậy, luận văn mong muốn đóng góp vào việc phân tích tác phẩm văn học dưới góc

độ của ngôn ngữ học

Từ việc so sánh đối chiếu ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh trong các giai đoạn sáng tác, chúng tôi mong muốn mang lại ít nhiều gợi mở về qui luật phát triển của một tác giả, tuy đây không phải là mục đích chính của luận văn Đồng thời, chúng tôi cũng chú ý đến việc so sánh, đối chiếu với các tác giả khác cùng thời để thấy rõ những đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ của Hồ Biểu Chánh Luận văn không nhằm mục đích lý luận Tuy nhiên, trong khi khảo sát, miêu

tả, phân tích, đánh giá, chúng tôi hy vọng có ít nhiều đóng góp về mặt lý thuyết Nhìn chung, luận văn đã mạnh dạn tiếp cận và giải quyết một vấn đề tương đối lớn

và khó Vì vậy, chúng tôi không có tham vọng xây dựng một công trình khoa học

có qui mô lớn và thật hoàn thiện mà chỉ hy vọng đạt được những yêu cầu đặt ra của một luận văn thạc sĩ

Luận văn tập trung nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh nhằm:

Trang 20

- Phát hiện đặc trưng sáng tạo, độc đáo trong phong cách ngôn ngữ thông qua ngôn ngữ nhân vật, phân tích những biểu hiện cụ thể và có giá trị của các đặc trưng ngôn ngữ đó qua một số sáng tác tiêu biểu

- Khẳng định sự thống nhất chặt chẽ giữa bút pháp nghệ thuật với tư tưởng, cảm hứng trong tính chỉnh thể của văn xuôi nghệ thuật, chỉ ra cái độc đáo của nhà văn biểu lộ trên bình diện ngôn ngữ nghệ thuật

6 Bố cục

Với mục đích như đã trình bày, nên ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn này bao gồm ba chương chính như sau:

Chương Một (Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh – Nhìn từ góc

độ giao tiếp) là chương đề cập những vấn đề cơ bản có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu Chương này nhằm xác lập đối tượng khảo sát Đó là ngôn ngữ giao tiếp của nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Hệ thống ngôn ngữ này khi khảo sát cần đặt trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp như: ngữ cảnh, nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, các yếu tố tình thái mà nhân vật sử dụng Để có

sự đánh giá, nhận định đúng về cấu trúc câu, nội dung giao tiếp, cũng như ý đồ nghệ thuật của tác giả Từ đó nêu bật lên những đặc trưng về ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh, trong mối tương quan với quá trình vận động và phát triển của tiểu thuyết Nam bộ (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) để làm cơ sở lý luận cho việc triển khai các nội dung phân tích tiếp theo

Chương Hai (Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết: Biểu hiện nổi trội của phong cách ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh) Chương này lần lượt xem xét, nghiên cứu

hệ thống ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, và các yếu tố chi phối trực tiếp đến ngôn ngữ nhân vật: các yếu tố tâm lý, xã hội; các yếu tố dụng học Hồ Biểu Chánh đã ghi lại nhiều dấu vết có ý nghĩa đối với diện mạo ngôn ngữ ở vùng đất này và đánh dấu chặng đường phát triển của tiếng nói Nam bộ nói chung và ngôn ngữ của một tác giả nói riêng Trong ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cũng hội tụ nhiều tiếng nói đa dạng của xã hội, tất cả đều có điểm chung là

Trang 21

thể hiện rõ nét đặc trưng phong cách ngôn ngữ của ông Ông đã soi rọi luồng ánh sáng tư tưởng của mình vào nhân vật, thông qua ngôn ngữ nhân vật, để từ đó tái hiện lại nền văn hóa của một xã hội

Chương Ba (Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh: Điển hình của khẩu ngữ Nam bộ) nhằm làm sáng tỏ các vấn đề về phong cách khẩu ngữ Nam

bộ ở cả hai phương diện từ ngữ và cấu trúc câu Tất cả những lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân Nam bộ được Hồ Biểu Chánh khai thác một cách triệt để trong tiểu thuyết của ông thông qua việc phân tích các ngữ khí từ, nhóm từ láy, đại

từ dùng để thay thế, hồi chỉ, các cụm từ cố định (quán ngữ) Dù cấu trúc ngữ pháp

và hệ thống từ vựng không khác nhau, nhưng sự thay đổi ngữ khí từ, quán ngữ hay một số yếu tố khác sẽ làm cho câu nói, câu văn có dáng vẻ riêng, khó lẫn lộn với các phương ngữ khác Ở đây, dáng vẻ riêng đó chính là đặc trưng khẩu ngữ Nam

bộ trong thế giới nhân vật của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Trang 22

CHƯƠNG MỘT

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH

NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIAO TIẾP

1 Quan niệm về tiểu thuyết

Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, và Nguyễn Khắc

Phi chủ biên (1992) định nghĩa: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự kiểu lớn, có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng.” (trang 222-223)

Đó là quan niệm hiện đại ngày nay Với tiểu thuyết Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nên hiểu tiểu thuyết theo một nghĩa tương đối mềm dẻo và uyển chuyển hơn Việc đưa ra một định nghĩa có tính chất phổ quát đối với thể loại tiểu thuyết là điều rất khó Các nhà nghiên cứu, các nhà văn đã trình bày nhiều cách hiểu về thể loại này Tuy vậy, những định nghĩa được đưa ra chỉ phù hợp với một

mô hình thể loại trong một giai đoạn lịch sử nhất định Nói như Marktin, không ai đưa ra định nghĩa về thể loại tiểu thuyết mà không phải tự điều chỉnh Tô Hoài thì cho rằng không thể cho tiểu thuyết một nghĩa cố định, tiểu thuyết lúc nào cũng biến đổi, phát triển, và tiểu thuyết có khả năng tung hoành không bờ bến

Vì vậy, ở đây chúng tôi không có ý định đưa ra một định nghĩa mà chỉ trình bày một cách hiểu cần thiết cho việc tiến hành luận văn Trên cơ sở tìm hiểu những quan niệm chung về thể loại tiểu thuyết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, kết hợp nhận định của các nhà văn Nam bộ thời kỳ này, luận văn xem tiểu thuyết là một thể loại văn học viết theo thể văn xuôi (hoặc văn vần) kể lại một câu chuyện tưởng tượng hay có thật, nhưng phải dựa vào thực tế cuộc sống, có

Trang 23

dung lượng tương đối dài, có kết cấu, tình tiết phù hợp với nội dung câu chuyện nhằm gây hứng thú cho người đọc

Về dung lượng tác phẩm, cũng cần được hiểu rất linh hoạt, tuỳ theo quan niệm của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn Trong thời kỳ đầu, chưa có sự phân biệt rạch

ròi giữa truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, và tiểu thuyết Như chuyện Thầy

Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản chỉ dài 32 trang nhưng ở thời kỳ

này vẫn xem là tiểu thuyết Những tác phẩm của Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh… dung lượng chỉ đủ mức truyện vừa,

truyện dài, nhưng vẫn được gọi là tiểu thuyết Thậm chí Sống chết mặc bây của Phạm Duy Tốn chỉ ba trang, nhưng Nam Phong tạp chí (1919) khi đăng tải vẫn

giới thiệu là tiểu thuyết tả chân

Như vậy, tiểu thuyết thời kỳ phôi thai đã được hiểu rất linh hoạt và do vậy cần dựa theo quan điểm lịch sử cụ thể Những sáng tác thuộc nhiều thể tài văn học khác nhau đều có thể được gọi là tiểu thuyết bao gồm cả những tác phẩm viết bằng chữ Hán như sử (“Trùng Quang tâm sử”); tiểu sử (“Vân Nam tiểu sử”); lục, chí (“Hoàng Lê nhất thống chí”); ký, tuỳ bút, ký sự; truyền kỳ (“Truyền kỳ mạn lục”), liệt truyện (“Lĩnh nam chính quái”) hay những sáng tác bằng chữ Nôm (truyện thơ Nôm) Quan niệm này đã chi phối tư duy văn học suốt thời trung đại và phần nào còn ảnh hưởng đến cả những người viết tiểu thuyết thời hiện đại

2 Quan niệm về phương pháp sáng tác

Phương pháp sáng tác là một thuật ngữ của lý luận văn học hiện đại Các nhà văn Nam bộ nói chung thời bấy giờ chỉ đơn giản xem đó là những đường hướng, những cách thức để họ thể hiện chữ nghĩa văn chương trên trang giấy

Hành văn trơn tuột như lời nói là đặc tính của văn chương miền Nam cũng

như văn chương Hồ Biểu Chánh Nó đã tạo thành truyền thống, khởi đầu từ

Trương Vĩnh ký, chẳng hạn như đoạn trích sau trong Nghĩa hiệp kỳ duyên:

“… Trời đất ơi! Đây với đó có bao xa mà không biết, phải tôi dè vậy thì tôi nhắn cho ông anh hay đã lâu rồi chớ đâu mà để cho tới ngày nay Từ ngày tôi gặp

Trang 24

con Hai nó đi lơ thơ ngoài chợ, tôi thấy vậy tôi thương nên tôi đem nó về nhà mà ở với tôi đây đã mấy tháng nay Dì cháu hẩm hút với nhau, thiệt tôi thấy tánh nết nó thiệt thà tôi thương nó quá Lúc đêm hôm rảnh rang tôi cũng hỏi thăm gốc gác cha

mẹ nó thì nó không biết chi hết, vì lúc họ chở nó đi thì nó còn nhỏ quá…”

Các nhà văn Nam bộ đã sử dụng khá nhiều từ địa phương trong các tác phẩm của mình Việc sử dụng từ địa phương vào xây dựng ngôn ngữ nhân vật, miêu tả đời sống làm cho tiểu thuyết mang dáng vẻ riêng so với các vùng khác, làm cho vùng đất và con người Nam bộ hiện lên rõ nét, nhưng nó cũng tạo nên sự ngăn trở đối với độc giả các miền khác

Thực ra thì lối hành văn này còn xuất phát từ những đặc thù mang tính lịch

sử của vùng đất Nam bộ, những con người Nam bộ ăn ngay, nói thẳng Từ dòng văn học Hán Nôm non trẻ, người đọc dễ bắt gặp sự tươi nguyên của đời sống quần chúng, ít nhiều mang dấu vết Nôm Nam bộ, đã để lại một quan niệm đạo đức, thẩm mỹ đặc trưng làm nền tảng cho dòng văn học mới Đó chính là sự thể hiện tự nhiên mà sâu sắc, thiết tha, không trau chuốt văn hoa, không điển tích cầu kỳ, tâm

lý và phong cách người Nam bộ hiện lên rõ ràng qua ngôn ngữ đậm màu sắc dân gian

Ngôn ngữ đậm màu sắc dân gian của văn học Hán Nôm được tiếp bước bằng ngôn ngữ của đại chúng như lời nói thường của văn chương quốc ngữ hiện đại Điều này phải chăng trước tiên xuất phát từ tính cách của người dân Nam bộ, con người luôn sống theo nguyên tắc: nghĩ, nói, làm (viết) là một Tất cả đều dựa trên

sự đơn giản, rõ ràng, cụ thể

Đoạn trích dưới đây trong tác phẩm Ai làm được của Hồ Biểu Chánh, sáng

tác năm 1912, in năm 1992 đã thể hiện rõ đặc tính ấy của văn chương miền Nam: “… - Quan Phủ đã nổi giận mà bà còn châm chích thêm, chẳng khác nào lửa cháy mà bà còn chế thêm dầu, bởi vậy quan phủ lấy roi biểu Bạch Tuyết nằm xuống ông đánh hơn chục roi, cắn răng trợn mắt không cho Bạch Tuyết khóc

Trang 25

- Mày lấy thằng Chí Đại làm nhục nhã tao, tội ấy tao chưa nói, bây giờ tao định gả mày khỏi mang tiếng xấu mày lại làm hơi khôn lanh, muốn chống cự với tao nữa à

Bạch Tuyết nghe mấy lời ấy thì chưng hửng, không biết lấy chi mà đối lại được kêu oan rằng:

- Oan ức lắm cha ôi Mẹ ôi, mẹ ở dưới cửu tuyền xin mẹ chứng giùm con, kẻo tội nghiệp thân con lắm mẹ ôi! ”

Hay cái lối nói trơn tuột của ông tưởng chỉ cần nghe thằng Được nói với Ba

Thời trong Cay đắng mùi đời:

“… Sướng a! Tía tôi vìa đây tôi biểu tía tôi mua thép uốn lưỡi câu rồi tôi đi câu với tía tôi chơi Này má, hôm trước thằng Phát đi câu với tía nó, nó câu được một con cá trê lớn quá, má à…”

Nói chung, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh rất hấp dẫn độc giả trung lưu và bình dân thời bấy giờ do cốt truyện đều đáng thương tâm vì những hoàn cảnh éo le ngang trái Nhân vật đồng quê có, thành thị có và sự phô bày xã hội đương thời thích hợp với nhiều tầng lớp Truyện của ông đều nhằm mục đích hướng thượng, luôn luôn để cho những nhân vật thiện của ông nhắc nhở hành động của mình là

để đi đến con đường lương thiện Tất cả đã thể hiện bằng “tiếng thường mọi người

bằng tiếng nói”, như trong lời tựa truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng

Quản:

“… Tôi có một dụng ý lấy tiếng thường mọi người hàng ngày nói mà làm ra một truyện hầu cho kẻ sau coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay, trước là làm cho con trẻ ham vui mà tập đọc, sau là làm cho dân các xứ biết rằng: người

An Nam sánh trí sánh tài thì cũng chẳng thua ai.”

Qua lời tựa này, chúng ta xác định được rằng trước Nguyễn Trọng Quản chưa có ai viết tiểu thuyết và cũng chưa có ai viết “chuyện đời xưa” như vậy, đặc biệt là dùng tiếng thường nói sao viết vậy: Đó chính là truyền thống của văn chương miền Nam

Trang 26

Hồ Biểu Chánh đặc biệt rất trung thành với quan niệm “lấy tiếng nói thường mọi người hằng nói ra”, nên ngôn ngữ thể hiện của ông không phải là những câu văn biền ngẫu Đây là quan điểm ông đã tiếp thu từ Trương Vĩnh Ký, người thầy của mình, với quan niệm “Chọn cách nói tiếng An Nam ròng” (Bằng Giang, 1992, trang 334)

Sau truyện Thầy Lazaro Phiền, Hồ Biểu Chánh đã cố gắng học hỏi thi pháp

của tiểu thuyết phương Tây và do ít nhiều còn ảnh hưởng của truyện kể dân gian, truyện Nôm, tiểu thuyết Trung Quốc, nên ông thường chú ý đến hành động và lời nói của nhân vật trong quá trình khắc họa tính cách nhân vật

Thông qua việc lựa chọn các chi tiết, tạo những mâu thuẫn và xung đột trong nội dung cốt truyện, các nhà văn đã để cho các nhân vật tham gia vào việc giải quyết mâu thuẫn, đặt nhân vật vào các tình thế phải hoạt động để thể hiện phẩm

chất và cá tính của mình Chẳng hạn như trong tác phẩm Ai làm được, để thể hiện

tình cảm thủy chung với chồng và lòng căm thù dì ghẻ cao độ, Hồ Biểu Chánh đã

để cho nhân vật Bạch Tuyết trốn khỏi nhà Bạch Khiếu Nhàn lần hai, tự đày đọa tấm thân trong cuộc sống khốn cùng để tiếp tục nuôi chí báo thù Hay để chứng minh cho tấm lòng nghĩa hiệp của Trần Trọng Nghĩa, Nguyễn Chánh Sắt để cho chàng cứu Chăng Cà Mun khỏi tai họa do thú dữ gây ra, đồng thời đấu tranh chống lại mưu mô của bọn Thạch Ưng, Thạch Quít, cứu nàng ra khỏi cơ hoạn nạn

(Nghĩa hiệp kỳ duyên)

Tất cả những hoạt động của nhân vật được thể hiện chủ yếu qua ngôn ngữ người kể chuyện Các nhân vật thông qua một chuỗi hoạt động được kết nối vào nhau nhằm xác định những phẩm chất, tính cách của nhân vật Dĩ nhiên nếu chỉ dựa vào hoạt động của nhân vật mà ít quan tâm đến đời sống bên trong của họ thì hình tượng nhân vật trong các tác phẩm sẽ trở nên đơn giản, thiếu sức sống riêng Ngoài việc chú ý đến hoạt động nhân vật, ông cũng quan tâm đến lời nói của nhân vật Vì lời nói của nhân vật là một phương diện quan trọng nhất của tính tạo hình khách thể Ông càng đưa vào tiểu thuyết nhiều giọng điệu khác nhau thì tác

Trang 27

phẩm càng đạt tính thẩm mỹ cao Lời nói của nhân vật phải phù hợp với tính cách nhân vật Vì có như vậy mới bộc lộ hết được cách tư duy, những suy tư, trăn trở của nhân vật, đồng thời cũng thể hiện được đặc điểm tâm sinh lý của từng loại người Lời nói của nhân vật bao gồm cả đối thoại và độc thoại Hồ Biểu Chánh cũng như các nhà văn Nam bộ thường chú ý nhiều đến lời đối thoại của nhân vật hơn là lời độc thoại Mỗi thể loại có cách xây dựng lời đối thoại nhân vật mang một sắc thái riêng Nếu như ở thể loại sử thi, kiểu đối thoại hay độc thoại thường

là những lời nói dài dòng, không vội vã, mang tính diễn giải, tuyên ngôn, nhấn mạnh đến sự trịnh trọng và ngôn ngữ bề ngoài thì ở thể loại tiểu thuyết, lời nói của nhân vật thể hiện những yếu tố ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời

Trong tiểu thuyết lời nói của nhân vật phải góp phần “thể hiện một cách rộng rãi tính đối thoại nội tại của lời nói và tính nhiều giọng của nó” Các đoạn đối thoại của nhân vật trong tiểu thuyết văn xuôi Nam bộ đã được đưa vào khá nhiều Điều đáng ghi nhận là ngôn ngữ trong các đoạn đối thoại là lời ăn tiếng nói của người dân Nam bộ được chọn lọc để phản ánh phẩm chất của nhân vật Lời nói của nhân vật gắn liền với “tiếng thường mọi người hằng nói” Chẳng hạn, lời đối

thoại trong Cha con nghĩa nặng như sau:

Với những sáng tác sau năm 1925, các nhà văn chú ý hơn lời đối thoại của nhân vật và góp phần không nhỏ vào việc thể hiện tính cách của họ Tác phẩm đạt được một số thành tựu về phương diện này là các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, và

Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ của Bửu Đình Đặc biệt trong tiểu thuyết Nam bộ,

ngôn ngữ của nhân vật phản diện thường được khắc họa thành công hơn so với

Trang 28

nhân vật chính diện Lời nói của nhân vật thường gần gũi với cuộc sống hiện thực,

ít có tính ước lệ, khuôn sáo, như trong Con nhà giàu của Hồ Biểu Chánh, có đoạn

đối thoại giữa bà Kế Hiền xúi con trai là Thượng Tứ lấy vợ giàu hơn:

“- Tôi nghèo cực gì mà phải chui đầu theo bên vợ đặng ăn chực? Tôi không thèm đâu

- Con đừng nói dại Con giàu mà được vợ giàu nữa thì càng quí chớ!”

Rõ ràng ngôn ngữ quần chúng là kho của cải vô cùng quí báu và là nguồn bổ sung vô tận cho vốn chữ của nhà văn viết tiểu thuyết Những nhà tiểu thuyết lớn đều là những người nắm vững ngôn ngữ của quần chúng Ngôn ngữ nghệ thuật khi tách rời khỏi đời sống thực của quần chúng thì sớm muộn gì cũng sẽ trở thành

“những xác chết nhợt nhạt” hay “những con ma mặc áo giấy mà thôi” Như lúc

mới xuất hiện, ngôn ngữ của Tự lực văn đoàn trong sáng, giản dị hơn ngôn ngữ của một số nhà Nho trên Nam Phong và Đông Dương tạp chí, nhưng vì tách rời khỏi ngôn ngữ quần chúng nên cuối cùng ngôn ngữ Tự lực văn đoàn cũng chỉ là

thứ ngôn ngữ nghèo nàn, kiểu cách Những chữ “mắt huyền, tơ lòng, suối tóc” hoặc những cảnh “chiều tà gió thổi, trăng mọc đầu non, trăng mờ thổn thức” đã trở nên mòn và khuôn sáo

Tóm lại, Hồ Biểu Chánh đã tự ý thức về việc thay đổi thể văn, ngôn ngữ văn chương, xa rời lối văn cũ Tuy vẫn ít nhiều còn chịu ảnh hưởng của lối viết truyền thống nhưng ông đã có ý thức về việc hướng ngòi bút mình vào những lời viết mới dưới ảnh hưởng của văn học phương Tây Về ngôn ngữ, ông chủ trương

“lấy tiếng thường mọi người hằng nói” để “bày đặt truyện đời nay là sự thường có

ở trước mặt ta luôn” (Lời tựa truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản)

Tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam bộ trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX đúng là một thể loại “còn đang biến chuyển và chưa định hình”, do vậy các quan điểm về tiểu thuyết của những người trực tiếp sáng tác cũng chỉ mới là những phát thảo ban đầu Tuy vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng mầm mống của văn học hiện đại Việt Nam bắt đầu chính từ nơi này Chính các nhà văn Nam

Trang 29

bộ, trong đó Hồ Biểu Chánh, là những người lính đi tiên phong làm nhiệm vụ của người “khai sơn phá thạch”, dọn đường trong một thời gian dài

3 Các nhân tố giao tiếp

3.1 Giao tiếp luôn gắn với ngữ cảnh

3.1.1 Sự tồn tại của lời hội thoại

Xuất phát từ quan niệm cho rằng xem xét hội thoại (chủ yếu là song thoại) qua ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cũng tức

là xem xét ngôn ngữ trong việc hành chức của nó, chúng tôi vận dụng lý thuyết dụng học và lý thuyết hội thoại vào việc nghiên cứu Lý thuyết dụng học được vận dụng để xem xét các bình diện của ngôn ngữ học hiện đại, với các nội dung cơ bản

là khái niệm ngữ dụng học, hành vi ngôn ngữ, tiền giả định, và hội thoại Lý thuyết hội thoại được dùng để khảo sát tính xã hội của sự nói năng, hành vi nói năng, cấu trúc nói năng (Mai kiều Phượng, 2002)

Lời hội thoại thường tồn tại ở hai dạng:

- Lời ăn tiếng nói trực tiếp hằng ngày của quần chúng hay dạng ngôn ngữ thành tiếng Ngôn ngữ âm thanh được sử dụng như một phương tiện giao tiếp phổ biến chung cho mọi người ở mọi vùng, mọi miền để trao đổi tư tưởng, tình cảm, giao lưu văn hóa - xã hội

- Dạng được mã hóa trên hình thức chữ viết nhằm thể hiện lời của nhân vật trong các tác phẩm nghệ thuật (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch…) Đây chính là đối tượng khảo sát của luận văn

Giao tiếp ngôn ngữ nói chung đều bị chi phối bởi các yếu tố: mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp, thái độ giao tiếp, quan hệ giao tiếp, chủ thể giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp (không gian, thời gian, địa điểm giao tiếp), nghi thức lời nói… Bất kỳ cuộc giao tiếp nào cũng đều được thiết lập khi có nhu cầu giao tiếp (mục đích giao tiếp) Do đó, các thành viên tham thoại phải đáp ứng ba nguyên lý

cơ bản: phải có sự luân phiên lượt lời, phải có sự liên kết hội thoại, phải có sự cộng tác hội thoại

Trang 30

Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động diễn ra khi ít nhất có hai người sử dụng một ngôn ngữ tự nhiên Quá trình giao tiếp ngoài nội dung giao tiếp còn có nhiều nhân tố tác động như ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn

3.1.2 Về ngữ cảnh

Ngữ cảnh (situational context) là bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn) (Đỗ Hữu Châu, 2002) Giao tiếp luôn gắn với ngữ cảnh

Hội thoại có thể là một cuộc thoại, đoạn thoại hay chỉ là một cặp lưỡng thoại giữa hai nhân vật (hay nhiều nhân vật) Mặc dù lời hội thoại của nhân vật được bố trí, sắp xếp theo ý đồ của tác giả nhưng chúng bao giờ cũng diễn ra trong không gian và thời gian nhất định

Các nhà ngữ dụng học chia hoàn cảnh giao tiếp thành hai loại: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp (hay còn gọi là thoại trường)

+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng

Hoàn cảnh giao tiếp rộng được xem là “tổng thể các nhân tố chính trị, địa lý, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, với các thiết chế, các công trình, các tổ chức tương ứng, tạo nên cái gọi là môi trường xã hội – văn hoá – địa lý cho các cuộc giao tiếp” (Đỗ Hữu Châu, 2003, tập

1, trang 110-111) Các đặc điểm của một xã hội thuộc địa, của một nền văn hóa chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo… hợp thành bối cảnh giao tiếp giữa các nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

+ Thoại trường (hoàn cảnh giao tiếp hẹp)

Đó là không gian và thời gian của cuộc giao tiếp Không gian để các cuộc thoại diễn ra thường là không gian sinh tồn gắn với mỗi thời đại mà cá nhân đó sống Đỗ Hữu Châu (2003) lưu ý rằng khái niệm không gian, thời gian giao tiếp trước hết là một khái niệm cụ thể: “Không gian ở đây chỉ nơi chốn cụ thể với những điều kiện, những trần thiết, các đồ vật, các nhân vật tiêu biểu cho một kiểu loại không gian đòi hỏi phải có một cách ứng xử bằng lời tương thích” và “thời

Trang 31

gian thoại trường của một không gian thoại trường đòi hỏi phải có những cách thức nói năng tương thích”.Đó là khoảng không gian rộng lớn như thành thị hay nông thôn, vùng biển hay vùng đồng bằng, hay chỉ là là khoảng không gian hẹp như nhà riêng, mảnh sân, đồng ruộng, vườn cây, góc bếp… Những không gian này chi phối ngôn ngữ mà nhân vật sử dụng, cách nói chuyện, nội dung giao tiếp, cách giải quyết vấn đề Khảo sát không gian đối thoại của các nhân vật trong tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh cho thấy các cuộc đối thoại dù thường diễn ra ở nông thôn hay thành thị, nhưng tất cả đều là không gian của vùng đất Nam bộ

Ví dụ: Hắn sẽ từ giã những người hắn yêu nhất đời Hắn sẽ kiếm tiền, hắn phải có thật nhiều tiền để một ngày nào đó trở về, đem sung sướng cho mẹ, chị, người yêu Hắn đưa tay chỉ vào miếu Bà, nói :

“Qua thề có Bà trong miểu này làm chứng cho qua Nếu qua bỏ em thì Bà vặn họng qua chết, đừng để mạng qua "

Người con trai nói trên đây là nhân vật trong một cuốn truyện Hồ Biểu Chánh Và hắn đi với lời thề đó, lời thề khắc ghi tâm hồn, lời thề khiến hắn phải nhớ về, tìm cách quay về

Ngoài nhân tố không gian, lời hội thoại của nhân vật còn được hiện thực hóa qua nhân tố thời gian Thời gian đó có thể là thời gian đồng hiện hay là thời gian hồi tưởng

- Thời gian hồi tưởng là thời gian mà nhân vật tái hiện qua hồi ức hay sự hồi tưởng Tuy nhiên, trong văn bản nghệ thuật thì thời gian hồi tưởng qua ký ức của nhân vật nhằm tái hiện những hành vi, những cảnh đời chỉ là một thủ pháp nghệ thuật Thủ pháp nghệ thuật này, suy cho cùng, là để nhấn mạnh hay khắc họa một cảnh ngộ trong hiện tại Ví dụ:

“Ba Thời thấy nó trắng trẻo ngộ nghĩnh mà chẳng bịnh hoạn thì mừng húm, liền bồng mà hun trơ hun trất nói rằng: “Con ai như vầy mà đem đi bỏ cho đành?

Mình xí (lượm của rơi rớt) được, thôi, mình để nuôi chơi”

Trang 32

Chú Thích liền cản rằng: “Không được đâu em! Qua coi tướng mạo áo mũ của thằng nhỏ này, qua chắc nó là con nhà giàu, có lẽ khi họ mướn vú nuôi rồi có việc chi đó vú nó bỏ lẩy Nếu em giấu mà nuôi, qua sợ ngày sau lậu việc em mang tội chớ không chơi đâu” Ba Thời nói: “Người ta bỏ mình xí được thì mình nuôi, như họ có biết, họ đến đòi thì mình trả, chớ có tội gì…Ý! Mà tôi nghi có lẽ khi con gái nhà giàu chửa hoang đẻ lạnh, sợ để nuôi xấu hổ, nên họ đem đi bỏ đây chớ

gì Tôi tưởng tôi nuôi được mà, có sao đâu mà sợ.”” (CĐMĐ, trang 4)

Thời gian hồi tưởng qua ký ức của Ba Thời là một dụng ý nghệ thuật của tác giả Tác giả muốn thể hiện lòng ham muốn có một đứa con của Ba Thời, nên khi nhặt được một đứa bé bị bỏ rơi, Ba Thời quyết tâm nhận nuôi nó

- Thời gian đồng hiện là thời gian mà lời nhân vật được hiện thực hóa trong

đó Hay nói cách khác, thời gian đồng hiện là những khoảng thời gian cụ thể mà hành động ngôn ngữ diễn ra, cho phép một câu nói có tính hiện thực hay không hiện thực, đúng hay sai Ở điểm này, có thể xem thời gian như một nhân tố ngữ nghĩa có ảnh hưởng đến tính định hướng của văn bản hội thoại

Chẳng hạn, các nhân vật trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thường đối thoại trong khoảng thời gian của ngày Một khoảng không gian không thể thiếu là không gian buổi sáng Đây là thời gian bắt đầu của một ngày làm việc, một ngày tồn tại với bao lo toan, vất vả

Do những đặc trưng trên, khi xem xét hội thoại, cần phải đặt lời thoại nhân vật trong hoàn cảnh không gian, thời gian cụ thể, tức trong những ngữ cảnh hiện thực Ngữ cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến ý nghĩa của câu, cấu trúc của câu và cả định hướng cho ý đồ nghệ thuật mà tác giả muốn thể hiện

3.2 Giao tiếp gắn với nhân vật cụ thể (đối ngôn)

Hội thoại không thể bỏ qua nhân vật giao tiếp, vì đây là chủ thể có khả năng:

- Đưa ra nội dung lời hội thoại;

Trang 33

- Chọn từ xưng hô cho phù hợp, đặt mình trong mối quan hệ trao đáp qua lại, tự định vị vị thế phát ngôn của mình với nhân vật giao tiếp;

- Lựa chọn các yếu tố tình thái để thể hiện những sắc thái tình cảm hay có thái độ ứng xử khác nhau: mềm mỏng, dứt khoát, thô lỗ hay nhẹ nhàng…;

- Xử lý các tình huống hội thoại, lựa chọn các chiến lược giao tiếp Đồng thời nhân vật hội thoại là chủ thể hành động ngôn ngữ nên họ có những diễn biến tâm lý trong quá trình hội thoại dẫn đến thay đổi từ xưng hô, thay đổi hành vi ngôn ngữ

Lấy đoạn thoại sau làm ví dụ:

“Bạch Tuyết ngó quanh quất thấy lính và gia dịch đều đi vào dinh hết, chỉ còn một mình ông Sen đứng đó mà thôi, cô mới biểu ông Sen ngồi một bên, rồi cô nói nhỏ rằng:

- Dì tôi đã thuốc mẹ tôi chết mà giựt chồng, rồi bây giờ tính ép tôi cho cháu

mà đoạt của ông ngoại tôi nữa, ông có hay không? Từ ngày ông thuật cho tôi nghe cách dì tôi giết mẹ tôi thì trong lòng bứt rứt xốn xang hoài, không biết phương chi

mà trả thù báo oán cho được Nay dì tôi xúi giục cha tôi gả tôi cho cháu đặng đoạt gia tài cho trọn, cha chả! Thù xưa chưa trả đặng, lòng nào nỡ đành kết nghĩa vợ chồng với kẻ thù! Ngặt tôi thương cha tôi quá, nên tôi không nỡ nói cho hết lời được, dì tôi lại vu oan tiếng hư cho tôi, nói tôi lấy thầy Chí Đại, đặng làm tôi sợ

mà phải ưng Trời ôi! Oan ức cho tôi biết chừng nào!” (ALĐ, trang 17)

Đoạn thoại trên cho thấy sự thay đổi tâm trạng của nhân vật dẫn đến ngôn ngữ thay đổi (từ xưng hô, hành vi ứng xử, ngôn ngữ diễn giải, cách giải quyết vấn

Trang 34

+ Quan hệ liên cá nhân:

Quan hệ tương tác là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp chỉ xuất hiện trong cuộc giao tiếp Giữa con người trong xã hội còn có những quan hệ xã hội Khi tham gia giao tiếp, những mối quan hệ này chi phối sự giao tiếp cả về nội dung, hình thức và chuyển thành liên cá nhân

Quan hệ liên cá nhân được xét cả về vị thế xã hội (quan hệ tôn ti) do địa vị xã hội, tuổi tác, trình độ… và về khoảng cách xã hội (thân tình hay xa lạ)

Quan hệ tương tác là mối quan hệ do chính giao tiếp mà có Quan hệ liên cá nhân là quan hệ bên ngoài áp đặt lên quan hệ tương tác Quan hệ tương tác còn có biểu hiện nữa là quan hệ vị thế giao tiếp Nói đến vị thế là nói đến tác động khởi phát, duy trì, chuyển hướng đề tài, phân phát lượt lời… của các nhân vật trong giao tiếp

Chẳng hạn: “Thôn trưởng Viên dắt quan Kinh lý đi coi cái phòng đã dọn đồ cho người ở Quan Kinh lý lấy làm đẹp ý, nên khi trở ra người nói rằng:

- Tôi cảm ơn các ông đã sẵn lòng sắp đặt cho tôi ở yên mà làm việc Tôi ở một cái phòng nhỏ đó thì đủ rồi Đêm nào tôi cũng làm việc giấy thì tôi dùng cái băng lớn nầy được

- Làng tôi được trát quan lớn thì lo các việc xong rồi hết, duy chỉ có một việc làng tôi lấy làm bối rối, không biết làm sao được

- Việc chi? Ông cứ nói ngay đi mà, có gì phải ái ngại

Hương chủ liền nói:

- Chỗ ông ở thì làng tôi dọn rồi, ngặt vì cái nhà khói của làng, thợ đương cất lại, có lẽ vài tháng nữa mới rồi, nên làng tôi không biết làm có chỗ cho bồi bếp của ông nấu nướng

- Ối! Việc đó không quan hệ chi lắm Tôi không có bồi bếp chi hết Chắc là tôi phải kiếm chỗ mà ăn cơm quán, chớ tôi không nấu ăn đâu mà làng lo

- Ông không tính mang bà Kinh lý lên đây hay sao?

Trang 35

- Chưa có bà Kinh lý Nếu ông biết ai muốn làm bà Kinh lý, ông chỉ giùm, thì

có lẽ mới có được

Quan Kinh lý nói pha lửng chơi rồi ông cười ngất Hương chủ nghe lời nói có duyên ông cũng tức cười Các Hương chức khác thấy quan Kinh lý vui vẻ ai cũng mừng thầm trong bụng.” (CNN, tập 2, trang 50)

Ở đây quan Kinh lý là người có địa vị cao, có vai trò tích cực trong việc duy trì cuộc đối thoại, góp phần cho cuộc trao đổi diễn ra hết sức nhẹ nhàng, thoải mái Người trao cũng như người đáp đều chịu sự chi phối của các nhân tố trên Chính vì vậy khi khảo sát ngôn ngữ giao tiếp giữa các nhân vật cần phải làm rõ được vai trò của các nhân tố liên quan đến nhân vật hội thoại Nhân vật đó là người lớn hay trẻ em, người có học thức hay không, địa chủ hay tá điền, vợ hay chồng… Sự xác định các đặc trưng về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp… cũng giúp cho việc giao tiếp trở nên dễ dàng

3.3 Giao tiếp luôn chú ý đến nội dung ngữ nghĩa của lời nhân vật

Nói đến ngữ nghĩa là nói đến các hành vi ngôn ngữ mà mỗi nhân vật giao tiếp thường sử dụng Các hành vi ngôn ngữ mà nhân vật hội thoại sử dụng thì nhiều, nhưng có thể quy về những nhóm cơ bản sau:

- Đưa ra lời chất vấn nhằm làm sáng tỏ thông tin (tồn tại ở dạng câu hỏi)

- Bày tỏ sự hiểu biết của nhân vật hội thoại về các vấn đề văn hóa xã hội (tồn tại ở câu tường thuật, câu kể)

- Đưa ra những hành vi ngôn ngữ nhằm xác lập các mối quan hệ xã hội có tính nghi thức lẫn không nghi thức nhưng được các thành viên trong xã hội mặc nhiên thừa nhận (tồn tại ở những dạng câu chào, cảm ơn, xin lỗi…)

- Thực hiện các hành vi tác động đến nhận thức của người nghe để đạt được mục đích cụ thể (tồn tại ở câu thuyết phục, khen ngợi, trách cứ, than phiền…)

- Thực hiện hành vi đề nghị, yêu cầu hay bắt buộc người nghe thực hiện một hành vi cụ thể (tồn tại ở dạng câu cầu khiến, câu mệnh lệnh)

3.4 Giao tiếp cần chú ý đến các yếu tố tình thái mà nhân vật sử dụng

Trang 36

Trong câu nói có thể có hai bộ phận nghĩa: một bộ phận mang nghĩa miêu tả

và một bộ phận mang nghĩa tình thái Cả hai bộ phận này tạo thành nội dung ngữ nghĩa của câu, có tác động đến nhận thức của người nghe Khi nhân vật đưa ra lời thoại, họ không chỉ sử dụng các từ mang ý nghĩa từ vựng (nghĩa miêu tả), mà còn

có cả những từ mang ý nghĩa tình thái, thể hiện thái độ đối với tình huống mà họ

đề cập đến Chúng làm cho câu nói giàu tính biểu cảm và mang đậm dấu ấn cá thể Nhân vật đó thuộc địa phương nào, trình độ văn hóa, thái độ của người nói, thân mật hay chỉ đưa đẩy xã giao, có thái độ khẳng định hay phủ định, đồng tình hay phản đối… Vì vậy khi khảo sát văn bản hội thoại không thể bỏ qua lớp từ tình thái Chẳng hạn như đoạn trích sau:

“Đến trưa Khiếu Nhàn về, vừa bước vô cửa thấy Chí Đại đã đem đồ hành lý

vô rồi thì gật đầu cười và nói rằng:

- May quá! Bên phủ đang kiếm một thầy ký bạ điền và nhựt ký trát giấy Tôi thuật công chuyện của trò em cho rể tôi nghe thì nó cũng động lòng thương nên nó biểu trò em chiều nay qua đó mà làm, tiền lương mỗi tháng là mười hai đồng, để rồi sau đó nó sẽ xin quan trên cho ăn lên Xong quá, trò em qua Phủ mà làm, hễ mãn giờ về bên nầy ở chơi với tôi cho có bạn Để tôi viết thơ đặng chừng hai giờ trò em cầm mà đi

Chí Đại nghe nói hết sức mừng rỡ, chẳng biết lấy lời chi mà tạ ơn cho nên vừa nói luýnh quýnh rằng:

- Ơn tế độ của bác, dầu muôn đời cháu không quên được.” (ALĐ, trang 7)

Ở đây nhân vật trong tác phẩm này sử dụng những từ ngữ địa phương như bạ

điền, là biến âm địa phương của bộ điền (hồ sơ ruộng đất); nhựt trình (nhật trình); biểu (bảo); mãn giờ (hết giờ); viết thơ (viết thư); đặng (để) Cách nói của Bạch

Khiếu Nhàn cho thấy ông là người có học thức, có thái độ rất tôn trọng người đối thoại là Chí Đại, và là người dân Nam bộ Tiếp theo, thái độ của Chí Đại đối với

ông cũng rất kính trọng, thể hiện qua từ ngữ sử dụng (ơn tế độ), đồng thời cũng thể hiện ngôn ngữ của người Nam bộ: dầu (dù)

Trang 37

Trong lời thoại nhân vật, một số kiểu câu chứa các từ có nghĩa tình thái Ví

dụ như:

“ Chừng cô hay việc quan phủ cho đòi Xã trưởng Tân Thuận lên rồi định ngày làm lễ hỏi thì lòng ức uất quá không thể dằn được nên tối lại thừa lúc gia dịch ngủ hết, cô mới bước ra trước ván chỗ quan Phủ nằm hút, cô đứng khóc rống lên mà nói rằng:

- Hôm trước con thưa với cha con không đành lấy chồng, mà nhứt cha gả chỗ

đó con không chịu, sao cha lại định ngày cho đi lễ hỏi? Con thưa thiệt, có lỗi với cha thì con chịu lỗi, chớ nếu cha gả bướng thì con tự vận con chết theo mẹ con Quan Phủ đương hút, bỗng nghe con nói như vậy liền buông ống hút ra, day lại ngó trân trân, còn bà Phủ lồm cồm ngồi dậy cười gằn mà nói với quan Phủ rằng:

- Mình thấy con mình hay chưa? Thời thế đã hết rồi mới khiến con hư như vậy Mình tính thế nào được thì mình tính lấy, xấu thì xấu mình, chớ thứ mẹ ghẻ nầy mà sá gì! Để coi mình biết trị con mình hay không?” (ALĐ, trang 13-14) Câu này có nghĩa miêu tả là nói đến việc mẹ ghẻ nên không có quyền hành gì cũng như không ảnh hưởng gì đến danh tiếng của con chồng Nhưng nghĩa tình thái thể hiện thái độ của người nói là: nói lẩy để cho ông Phủ phải trừng phạt đứa con gái của ông

Tóm lại khi khai thác ngôn ngữ hội thoại của nhân vật cần phải khai thác lớp

từ tình thái để thể hiện thái độ của người nói, đồng thời thể hiện dấu ấn cá thể Các vấn đề này sẽ được làm rõ ở chương sau

4 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

4.1 Vài nét về Hồ Biểu Chánh

Nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của… là những người đặt nền móng cho chữ quốc ngữ thì Hồ Biểu Chánh là một trong những người đã làm cho chữ quốc ngữ trở nên phong phú Ông thuộc một số ít nhà văn Việt Nam đã sử dụng thành công ngôn ngữ bình dân, phản ảnh trung thực tâm lý, tính cách, lời ăn tiếng nói

Trang 38

của người dân Nam bộ, và cũng nhờ đó mà các tác phẩm của ông có vị trí xứng đáng trong lòng người đọc

Phần lớn các độc giả của ông chỉ biết tên Hồ Biểu Chánh, nhưng tên thật của ông là Hồ Văn Trung tự là Biểu Chánh Ông lấy họ và tên tự của mình ghép lại làm bút danh Hồ Biểu Chánh sinh ngày 1 tháng 10 năm 1885 tại Gò Công Sau khi đỗ bằng Thành chung năm 1905, ông làm thông ngôn và được thăng tiến đến chức Đốc Phủ Sứ Năm 1946, ông nghỉ hưu và dành trọn những ngày còn lại cho

sự nghiệp văn chương đến khi mất ngày 4 tháng 11 năm 1958 tại Phú Nhuận

Hồ Biểu Chánh viết văn từ năm 1910 Quyển tiểu thuyết đầu tay của ông là

“Ai làm được” ra đời năm 1912 (sau quyển tiểu thuyết bằng văn vần U tình lục) và

chỉ trong vòng 18 năm, ông đã cho xuất bản 18 quyển tiểu thuyết và nhiều kịch bản Ông say mê văn chương và viết liên tục từ năm 1935 đến khi mất tổng cộng hơn 70 tiểu thuyết và đoản thiên Ông còn viết nhiều thể loại khác như tuồng hát, biên khảo, hồi ký, thơ, dịch thuật, phê bình, tùy bút… Tổng cộng có hơn 130 tác phẩm Một con số mà ít có nhà văn Việt Nam nào đạt được trong ngần ấy năm

Có thể nói Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam bộ và cả nước Ông

đã để lại cho văn học Việt Nam một gia tài đồ sộ Tiểu thuyết của ông được phổ biến rộng rãi và đã đi vào lòng của đại đa số dân chúng ở Nam bộ

Trong cuộc đời chính trị, Hồ Biểu Chánh có những bước thăng trầm Có lúc ông ra làm quan cho Pháp, nhưng không lợi dụng vị trí này để hưởng lợi cho bản thân hay gia đình, mà chỉ truyền bá “đạo lý cuộc sống” theo lý tưởng của ông Có nhiều người muốn qua việc làm quan đó rồi phủ nhận cả công trình văn học của

Hồ Biểu Chánh Nhưng không ai có thể xóa mờ tên tuổi nhà văn Hồ Biểu Chánh trong lòng người đọc, cũng như trong lịch sử văn học Việt Nam thời cận đại

Trong cuộc đời văn chương, ông luôn giữ lập trường và mục đích sáng tác của mình Phần lớn, nếu không nói là hầu hết các tác phẩm của ông đều được viết

ra với chủ trương là luân lý đạo đức Bài học luân lý nhân nghĩa đó không có gì cao xa mà rất thực tế, rất gần gũi với đời thường Tiểu thuyết của ông còn là một

Trang 39

bức tranh sinh động bằng chữ về phong tục và cuộc sống người dân miền Nam đầu thế kỷ XX

Vì vậy, Nguyễn Thanh Liêm và cả Phạm Thế Ngũ (1965) đều cho rằng:

“Người nghiên cứu về xã hội, về văn hóa hay lịch sử của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ XX có thể lấy được rất nhiều dữ kiện trong kho tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh” và Hồ Biểu Chánh “đã đóng đúng vai trò của một sử gia của thời hiện đại.”

Nếu dùng thước đo thành công của một tác giả bằng sự yêu chuộng say mê của độc giả thì có thể nói Hồ Biểu Chánh là một tiểu thuyết gia thành công lớn trong thời đại của ông Người ta rất thích đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Không những độc giả cùng thời mà độc giả sau này vẫn rất thích Ngay cả hiện giờ ở hải ngoại, tiểu thuyết của ông vẫn còn chỗ đứng đáng kể trong lòng độc giả

Vậy độc giả của ông là ai? Độc giả của ông phần đông là những người từ giới trung lưu đến bình dân, nhất là phụ nữ Đây là những người có chút học vấn (biết đọc chữ quốc ngữ), có chút thì giờ rảnh rỗi bên cạnh công việc hằng ngày, có cuộc sống tương đối, không phải quá bận tâm về “cơm áo gạo tiền” Đối với họ, tiểu thuyết là cửa sổ để cho họ tạm thoát khỏi cuộc sống thực tế nặng nề và nhiều khổ đau của con người Đặc biệt, độc giả của ông hầu hết là người miền Nam Vì vậy, cần phải nhấn mạnh thêm rằng Hồ Biểu Chánh là tiểu thuyết gia rất thành công đối với độc giả miền Nam

Giáo sư Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học cho

rằng: “Xét về đủ mọi phương diện, Hồ Biểu Chánh là một nhà tiểu thuyết lớn của Nam bộ và nước chúng ta phải xác định lại cho đúng vị trí của ông trong lịch sử văn học” (1999, trang 11) Sở dĩ ông đạt được thành công to lớn trong sự nghiệp sáng tác của mình vì lối viết tiểu thuyết với giọng điệu đặc biệt, có thể gọi là

“nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh”

4.2 Nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

4.2.1 Nghệ thuật xây dựng truyện

Trang 40

Hồ Biểu Chánh rất xứng đáng được tuyên dương là một trong những tiểu thuyết gia đầu tiên của Việt Nam Ông đã đi từ thể loại truyện thơ chữ Nôm sang truyện dài văn xuôi bằng chữ quốc ngữ Ông đã thay thế những nhân vật cổ điển bằng những nhân vật hiện đại với đầy đủ các tính cách của con người như lòng ham mê dục vọng, tham lam tiền bạc, yêu thương và thù hận…, từ bỏ lối kể chuyện đường thẳng, thay thế bằng những bút pháp bao gồm miêu tả cảnh vật, nơi chốn mang màu sắc, khung cảnh Việt Nam

Chẳng hạn như trong tiểu thuyết “U tình lục”, Hồ Biểu Chánh đã cho hai nhân vật xuất thân từ Gia Định, một địa phương quen thuộc của miền Nam chứ không phải là một nơi xa xôi nào đó ở bên Tàu, bên Tây Tấn Nhơn theo học ở Mỹ Tho, Cúc Hương thì đau khổ ở Sài Gòn Thời gian xảy ra không xa lắm với thời gian của tác giả và độc giả

Những truyện sau cũng vậy, tất cả đều xảy ra tại Nam kỳ vào đầu thế kỷ XX

và thể hiện khá rõ nét nếp sống của người Việt từ thành thị đến nông thôn của vùng châu thổ sông Cửu Long Ông đã phơi bày tất cả lòng tham lam và sự thối nát của bọn quan lại, địa chủ, sự bóc lột của bọn cho vay nặng lãi người Hoa lai

Ấn Ông cũng không quên miêu tả diễn biến của những cô gái bị gia đình ép gả vì

Nhiều nhà nghiên cứu nhận xét rằng lối kể chuyện theo đường thẳng đã được các văn sĩ truyền thống Việt Nam và Trung Hoa ưa chuộng, cái gì xảy ra trước thì

kể trước, cái gì xảy ra sau thì kể sau, giống như một cuốn biên niên sử Câu chuyện vì vậy không liên quan đến cảnh vật bên ngoài hay tâm lý bên trong Câu chuyện chính nhiều khi bị gián đoạn để cho các câu chuyện phụ bắt đầu từ đầu đến

Ngày đăng: 01/07/2023, 13:44

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w