Chúng tôi chọn đối tượng khảo sát người sử dụng “ngôn ngữ teen” NNT là sinh viên các trường đại học, cao đẳng vì đây là một lực lượng đông đảo về số lượng và đa dạng về ngành học, lứa tu
Trang 1-
VÕ THỊ DIỄM PHƯƠNG
“NGÔN NGỮ TEEN” CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
(KHẢO SÁT SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2-
VÕ THỊ DIỄM PHƯƠNG
“NGÔN NGỮ TEEN” CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
(KHẢO SÁT SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU)
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60.22.01.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐÀO MỤC ĐÍCH
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn là trung thực và không trùng với bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VÕ THỊ DIỄM PHƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các lược đồ
MỞ ĐẦU 1
0.1 Lí do chọn đề tài 1
0.2 Mục đích nghiên cứu 3
0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
0.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
0.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
0.3.3 Khách thể nghiên cứu 4
0.4 Lịch sử nghiên cứu 4
0.4.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội 4
0.4.1.1 Sơ lược về việc nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở nước ngoài 4
0.4.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội trong nước 5
0.4.2 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ trên các trang mạng xã hội 7
0.4.2.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ trên các trang mạng xã hội ở nước ngoài 7
0.4.2.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ giới trẻ trên các trang mạng xã hội trong nước 9
0.5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 12
0.5.1 Ý nghĩa khoa học 12
0.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
0.6 Phương pháp nghiên cứu 12
0.7 Cấu trúc luận văn 14
Trang 5Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16
1.1 Cơ sở lý luận 16
1.1.1 Các lý thuyết tiếp cận 16
1.1.1.1 Chuyển biến ngôn ngữ 16
1.1.1.2 Ngôn ngữ học xã hội biến đổi 18
1.1.1.3 Thái độ ngôn ngữ 19
1.1.2 Một số thuật ngữ liên quan 21
1.1.2.1 Ngôn ngữ, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 21
1.1.2.2 Từ địa phương, phương ngữ và phương ngữ xã hội 22
1.1.2.3 Biến thể, chuẩn và lệch chuẩn 23
1.1.2.4 Cộng đồng ngôn ngữ 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Mạng xã hội 25
1.2.1.1 Sơ lược về mạng xã hội 25
1.2.1.2 Facebook – trang mạng xã hội phổ biến nhất ở Việt Nam 28
1.2.2 “Ngôn ngữ teen” 30
1.2.2.1 Khái niệm 30
1.2.2.2 Phân biệt “ngôn ngữ teen” với biệt ngữ và tiếng lóng 32
1.2.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của “ngôn ngữ teen” 34
Tiểu kết Chương 1 38
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM-TỪ VỰNG-NGỮ PHÁP CỦA “NGÔN NGỮ TEEN” CỦA SINH VIÊN BẠC LIÊU 39
2.1 Đặc điểm ngữ âm-chính tả của “ngôn ngữ teen” của sinh viên Bạc Liêu 39
2.1.1 Sự biến đổi âm đầu 40
2.1.1.1 Thay thế các con chữ thể hiện cùng một âm vị 42
2.1.1.2 Giản lược kí tự đối với những phụ âm được biểu hiện bằng hai hoặc ba con chữ 42
2.1.1.3 Biến đổi giữa các âm vị 43
Trang 62.1.1.4 Thay bằng những con chữ không có trong hệ thống con chữ thể hiện âm đầu
tiếng Việt 44
2.1.1.5 Lược bỏ âm đầu 47
2.1.2 Sự biến đổi âm đệm 48
2.1.2.1 Bỏ âm đệm 48
2.1.2.2 Thêm âm đệm 49
2.1.3 Sự biến đổi âm chính 49
2.1.3.1 Biến đổi từ nguyên âm đôi sang nguyên âm đơn 51
2.1.3.2 Biến đổi từ nguyên âm đơn sang nguyên âm đôi 53
2.1.3.3 Biến đổi giữa các con chữ thể hiện cùng một âm vị 53
2.1.3.4 Thay đổi giữa các nguyên âm 53
2.1.3.5 Thay bằng những con chữ không có trong bảng chữ cái tiếng Việt 55
2.1.4 Sự biến đổi âm cuối 56
2.1.4.1 Biến đổi giữa các con chữ thể hiện cùng một âm vị 58
2.1.4.2 Biến đổi giữa các âm vị 58
2.1.4.3 Những trường hợp thêm âm cuối 59
2.1.4.4 Nhân nhiều lần âm cuối 60
2.1.5 Sự thay đổi thanh điệu 61
2.1.5.1 Viết không dấu 61
2.1.5.2 Viết nhầm lẫn giữa thanh hỏi và thanh ngã 63
2.2 Đặc điểm từ vựng của “ngôn ngữ teen” của sinh viên Bạc Liêu 63
2.2.1 Hiện tượng viết tắt 63
2.2.1.2 Rút gọn chữ viết 64
2.2.1.3 Kết hợp theo quy luật 65
2.2.1.4 Kết hợp ngẫu nhiên 66
2.2.2 Sử dụng tiếng lóng 67
2.2.2.1 Vay mượn tiếng nước ngoài 67
2.2.2.2 Tạo nghĩa mới cho từ 68
Trang 72.2.3 Từ địa phương và sự giao thoa ngôn ngữ trong “ngôn ngữ teen” của sinh viên
Bạc Liêu 69
2.2.3.1 Nguồn gốc từ địa phương 69
2.2.3.2 Từ xưng hô 70
2.2.3.3 Từ sinh hoạt 73
2.2.3.4 Phạm vi của từ địa phương 74
2.2.4 Chêm xen ngoại ngữ 76
2.2.4.1 Sử dụng dạng nguyên thể tiếng Anh 77
2.2.4.2 Sử dụng dạng biến thể tiếng Anh 78
2.2.5 Sử dụng hình ảnh, biểu tượng 79
2.2.5.1 Kí hiệu biểu tượng (icon) 79
2.2.5.2 Sử dụng hình ảnh (sticker) 81
2.3 Đặc điểm ngữ pháp của “ngôn ngữ teen” của sinh viên Bạc Liêu 83
2.3.1 Từ tình thái 83
2.3.1.1 Khái niệm trợ từ tình thái 84
2.3.1.2 Phân loại trợ từ tình thái 84
2.3.1.3 Một số cách dùng trợ từ tình thái trong “ngôn ngữ teen” của sinh viên Bạc Liêu 85
2.3.2 Câu 87
2.3.2.1 Câu đơn 88
2.3.2.3 Câu ghép 89
2.3.2.4 Trào lưu ngôn ngữ 90
2.3.3 Dấu câu 92
2.3.3.1 Dấu câu thể hiện đúng chức năng biểu cảm 93
2.3.3.2 Dấu câu không được sử dụng đúng theo chức năng 94
Tiểu kết Chương 2 96
Trang 8Chương 3 MỐI QUAN HỆ GIỮA “NGÔN NGỮ TEEN”
VỚI CỘNG ĐỒNG-XÃ HỘI 97
3.1 Vài nét về tình hình sử dụng MXH Facebook và “ngôn ngữ teen” của sinh viên Bạc Liêu 98
3.1.1 Việc sử dụng MXH Facebook và “ngôn ngữ teen” của sinh viên Bạc Liêu 98
3.1.2 Yếu tố giới với việc sử dụng “ngôn ngữ teen” 105
3.2 Mối quan hệ giữa “ngôn ngữ teen” của sinh viên Bạc Liêu với cộng đồng và xã hội 108
3.2.1 Tác động của “ngôn ngữ teen” đến cộng đồng và xã hội 108
3.2.1.1 “Ngôn ngữ teen” trong mối liên hệ với ngôn ngữ 108
3.2.1.2 “Ngôn ngữ teen” trong mối liên hệ với cộng đồng, văn hóa 112
3.2.2 Tác động của cộng đồng và xã hội đến “ngôn ngữ teen” 114
3.2.2.1 Thái độ ngôn ngữ đối với “ngôn ngữ teen” 115
3.2.2.2 Sự lựa chọn ngôn ngữ 117
Tiểu kết Chương 3 118
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 133
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Biến thể ngữ âm-chính tả của âm đầu âm tiết tiếng Việt trong “ngôn ngữ teen” ở Bạc Liêu………40 Bảng 2.2 Biến thể ngữ âm-chính tả của âm đệm âm tiết tiếng Việt trong “ngôn ngữ teen” ở Bạc Liêu………48 Bảng 2.3 Biến thể ngữ âm-chính tả của âm chính âm tiết tiếng Việt trong “ngôn ngữ teen” ở Bạc Liêu………50 Bảng 2.4 Biến thể ngữ âm-chính tả của âm cuối âm tiết tiếng Việt trong “ngôn ngữ teen” ở Bạc Liêu………57 Bảng 3.1 Ý kiến về việc “ngôn ngữ teen” ngày càng phổ biến (theo giới tính) 107 Bảng 3.2 Thời gian trung bình sử dụng MXH trong ngày……….108 Bảng 3.3 Ứng dụng “ngôn ngữ teen” vào việc học……… 109 Bảng 3.4 Thái độ tiếp nhận “ngôn ngữ teen”……….115 Bảng 3.5 Thái độ ngôn ngữ đối với các hình thức của “ngôn ngữ teen”……… 116 Bảng 3.6 Ý kiến về việc “ngôn ngữ teen” ngày càng phổ biến……….117
Trang 10DANH MỤC CÁC LƢỢC ĐỒ
Trang
Lƣợc đồ 3.1 Hình thức biến đổi của “ngôn ngữ teen”……… 104 Lƣợc đồ 3.2 Thói quen sử dụng các hình thức “ngôn ngữ teen” theo giới tính….106 Lƣợc đồ 3.3 Lý do sử dụng “ngôn ngữ teen”……….112 Lƣợc đồ 3.4 Sự tác động của “ngôn ngữ teen”……… 114
Trang 11MỞ ĐẦU
0.1 Lí do chọn đề tài
Trước xu thế toàn cầu hóa, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc có ý nghĩa vô cùng lớn lao Trong đó, việc giữ gìn và chuẩn hóa ngôn ngữ quốc gia – một trong những thành tố tiêu biểu của văn hóa dân tộc – rất được chú trọng Cũng như ngôn ngữ mẹ đẻ của nhiều quốc gia khác, tiếng Việt đang chịu nhiều tác động mạnh mẽ và phức tạp từ những làn sóng công nghệ và xu hướng hội nhập Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, tại Mục 3
Điều 5, đã chính thức khẳng định: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt” Đây vừa là sự
công nhận về vai trò và ý nghĩa của tiếng Việt đối với quốc gia, dân tộc, lại vừa là một thách thức, là nhiệm vụ trọng đại đối với ngôn ngữ học, phải bảo vệ, hoàn thiện
và phát triển tiếng Việt, để có thể đáp ứng nhu cầu giao tiếp của toàn xã hội Việt Nam cũng như đưa tiếng Việt ra với thế giới
Nhu cầu của thời đại, nhu cầu của thực tiễn thúc đẩy sự vận động của thế giới ngày một đa dạng và nhanh chóng hơn Sự vận động của ngôn ngữ nói chung
và của tiếng Việt nói riêng đã trải qua một quá trình lâu dài, với nhiều giai đoạn: chọn lọc, thích ứng, phổ biến, Khoảng 10 năm trở lại đây, tốc độ thay đổi của lớp
từ vựng dùng trong giao tiếp của tiếng Việt diễn ra nhanh hơn, cùng với sự xuất hiện của nhiều “từ lạ”1 Thời gian đầu, lớp từ vựng mới này được lưu hành và sử dụng chỉ trong nhóm đối tượng cụ thể, chủ yếu là học sinh, sinh viên, tuy nhiên sau
đó, lớp từ này xuất hiện phổ biến trong giao tiếp, đa dạng hơn về đối tượng tiếp nhận và sử dụng Việc một lượng từ mới/lạ xuất hiện có những ưu, nhược điểm nhất định và xoay quanh hiện tượng này đã tồn tại nhiều luồng ý kiến trái chiều Chúng tôi cho rằng việc tìm hiểu, phân tích, lý giải cho vấn đề sử dụng ngôn ngữ mới/lạ này của giới trẻ hiện nay, đặc biệt là sự tác động của nó đến xã hội sẽ góp phần vào
(1) Nguyễn Đức Dân (2011) Số phận của những “từ lạ” Ngôn ngữ & Đời sống, số 6 (188), trang 42-44.
Trang 12việc chuẩn hóa và giáo dục ngôn ngữ trong giai đoạn hiện nay
Sự phát triển của Internet và các trang mạng xã hội (MXH) hình thành nên một xã hội ảo mà đối tượng sử dụng chủ yếu là giới trẻ Trong thế giới ảo này, người dùng thiết lập những mối quan hệ ảo, những quy tắc giao tiếp riêng, thậm chí một kiểu ngôn ngữ riêng Việc phổ biến của ngôn ngữ mới/lạ này không chỉ còn trong phạm vi các trang MXH, trong thế giới ảo mà nó đã và đang bước ra ngoài thế giới thực, chúng xuất hiện trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội Ngôn ngữ này không chỉ còn giới hạn trên bàn phím mà đi vào cả trong lời ăn tiếng nói hàng ngày Hiện nay, việc sử dụng ngôn ngữ theo cách riêng đã trở thành thói quen giao tiếp của giới trẻ Và kéo theo đó là sự ảnh hưởng của nó đối với cộng đồng xã hội ngày càng lớn hơn Do đó, cần có thêm nhiều nghiên cứu để có được cái nhìn toàn diện đối với những biến đổi cũng như tác động của chúng lên sự vận động của ngôn ngữ dân tộc nói riêng và đời sống văn hóa nói chung
Chúng tôi chọn đối tượng khảo sát người sử dụng “ngôn ngữ teen” (NNT)
là sinh viên các trường đại học, cao đẳng vì đây là một lực lượng đông đảo về số lượng và đa dạng về ngành học, lứa tuổi, cá tính,… do đó, sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng quan và khách quan về thói quen cũng như sự phổ biến của ngôn ngữ Bên cạnh đó, sinh viên là một bộ phận của giới trẻ – thành phần đi đầu trong việc tạo, định hình và thúc đẩy các xu hướng trong xã hội và NNT là một trong những yếu tố nhận diện các xu hướng của giới trẻ Từ những lý do trên, chúng tôi chọn khảo sát đối tượng sinh viên với mong muốn có thể có những góc nhìn khách quan
và toàn diện về hiện tượng NNT trên MXH
Về địa bàn nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu việc sử dụng NNT của sinh viên tại thành phố Bạc Liêu (từ đây chúng tôi gọi tắt là NNT của sinh viên Bạc Liêu) Chúng tôi chọn nghiên cứu ở địa bàn này là do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, Bạc Liêu là một tỉnh cận cực Nam của Việt Nam, tiếp giáp và có nhiều điểm tương đồng về văn hóa và ngôn ngữ với nhiều tỉnh lân cận của vùng đồng bằng sông Cửu Long Tuy là một trong những tỉnh xa xôi và còn nhiều khó
Trang 13khăn, nhưng Bạc Liêu là một thành phố trẻ, đang phát triển từng ngày cùng với sự đổi mới của đất nước Tuy còn thua kém những thành phố lớn, nhưng sức lan tỏa của công nghệ thông tin và truyền thông ở thành phố này cũng rất mạnh mẽ và giới trẻ ở đây cũng là thành phần nhanh nhạy trong việc bắt kịp các xu thế, các trào lưu mới Chúng tôi chọn khảo sát NNT ở địa phương nhằm mục đích nghiên cứu đặc điểm ngữ âm-chính tả, từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ này cũng như tìm hiểu sự tác động của NNT đến ngôn ngữ giao tiếp, và sự ảnh hưởng qua lại giữa NNT với cộng đồng và xã hội, một cách khách quan và cụ thể
Thứ hai, Bạc Liêu là nơi có nhiều tộc người đang sinh sống như người Kinh, người Hoa, người Khmer,… do đó có hiện tượng tiếp xúc, giao thoa ngôn ngữ giữa tiếng Việt với tiếng Hoa, tiếng Khmer của tộc người Hoa, tộc người Khmer đang sinh sống ở địa phương Điều này, tạo nên những nét đặc trưng thú vị trong NNT của sinh viên Bạc Liêu nói riêng và ngôn ngữ nói chung
Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Ngôn ngữ teen” của sinh viên hiện nay (Khảo sát sinh viên các trường đại học, cao đẳng tại Thành phố Bạc Liêu)
0.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu của những công trình trước đây, đề tài luận văn được thực hiện theo hướng phát triển và đưa ra những tính mới riêng Theo đó, đề tài luận văn không chỉ phân tích việc biến đổi ngôn ngữ mà còn hướng tới tìm hiểu sự ảnh hưởng của ngôn ngữ với xã hội và ngược lại, tìm hiểu và đánh giá sự cần thiết cũng như tính bền vững của biến thể ngôn ngữ của giới trẻ trong bối cảnh văn hóa-xã hội cụ thể
0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
0.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là NNT của sinh viên ở Bạc Liêu trên MXH Facebook
Trang 140.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu những đặc điểm ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp nổi bật của NNT của sinh viên Bạc Liêu trên MXH Facebook, vì NNT thường biến đổi liên tục nên việc nhận diện và miêu tả một cách
hệ thống các đặc điểm ngữ âm, từ vựng, đặc biệt là ngữ pháp của ngôn ngữ này gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu NNT của sinh viên ở địa phương trong mối quan hệ với cộng đồng-xã hội
Phạm vi khảo sát của luận văn là MXH Facebook, tuy nhiên Facebook là MXH được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và những tương tác trên Facebook vô cùng đa dạng nên chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là NNT mà sinh viên ở các trường đại học và cao đẳng ở Bạc Liêu sử dụng để giao tiếp, trao đổi, bình luận mang tính công khai trên các trang Facebook cá nhân của họ
Nguồn ngữ liệu (các cuộc hội thoại, trao đổi, bình luận,… của sinh viên) được thu thập trong khoảng thời gian từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 12 năm 2016
0.3.3 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ 4 của các trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu, Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Bạc Liêu, Cao đẳng Nghề và Đại học Bạc Liêu
0.4 Lịch sử nghiên cứu
0.4.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội
0.4.1.1 Sơ lược về việc nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở nước ngoài
Tuy đã được giới nghiên cứu đề cập đến từ rất lâu nhưng phải đến đầu những năm 60 của thế kỉ XX thì thuật ngữ “ngôn ngữ học xã hội” mới chính thức ra đời
Từ đó, ngành khoa học này đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau Mảnh đất ngôn ngữ học xã hội từ đó càng có nhiều hoạt động sôi nổi hơn, nhiều nhà ngôn ngữ học và nhiều chuyên gia ở các lĩnh vực khoa học khác nhau (Jesperson, 1921; Labov, 1970; Gumperz, 1971; Lakoff, 1975; Wardhaugh, 1986; Eckert, 1998) đã nghiên cứu và đóng góp vào sự phát triển chung của ngôn ngữ học xã hội theo nhiều hướng tiếp cận Cho đến nay,
Trang 15đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội Một trong những
công trình nghiên cứu sớm nhất về lĩnh vực này là Language: Its nature,
Development and Origin (Ngôn ngữ: Tính tự nhiên, Sự phát triển và Nguồn gốc)
của Jesperson, xuất bản năm 1921 Trong công trình này, tác giả đã nêu ra các nhân
tố tác động đến sự phát triển của ngôn ngữ, sự phân hóa giai cấp trong ngôn ngữ, sự khác biệt về giới tính trong ngôn ngữ và sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ
Bên cạnh đó, công trình An Introduction to Sociolinguistics (Dẫn luận ngôn
ngữ học xã hội) của tác giả Wardhaugh, được xuất bản lần đầu năm 1986 cũng là một trong những công trình tiêu biểu về ngôn ngữ học xã hội Trong công trình này, tác giả đã trình bày gần như toàn bộ những nội dung nghiên cứu của ngôn ngữ học
xã hội như: Languages, Dialects, and Varieties (Ngôn ngữ, Phương ngữ và Biến thể), Codes (Mã), Speech Communities (Cộng đồng giao tiếp), Language Variation (Biến thể ngôn ngữ), Words and Culture (Từ ngữ và văn hóa), Gender (Giới),…
Ngoài ra, còn có nhiều công trình khác nghiên cứu về mối quan hệ cũng như
sự chi phối của những yếu tố xã hội lên thói quen và sự lựa chọn ngôn ngữ như:
Language and Woman's place (Lakoff, 1975), Age as a sociolinguistic variable
(Eckert,1998), Gender Differences in Using Language (Xiufang Xia, 2013) Các
công trình này đều đề cập tới sự tác động và ảnh hưởng của những đặc điểm xã hội, trong đó nổi bật là các yếu tố giới và lứa tuổi đối với việc sử dụng ngôn ngữ như cách phát âm, ngữ điệu, từ vựng, thái độ lựa chọn ngôn ngữ,… của người sử dụng
0.4.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội trong nước
Có thể nói, ở Việt Nam, những vấn đề về lý thuyết ngôn ngữ như cơ cấu ngữ pháp, hệ thống từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa và phong cách tiếng Việt đã được nghiên cứu khá sâu và rộng trên nhiều phương diện Tuy nhiên, thuật ngữ “ngôn ngữ học xã hội” chưa phải là thuật ngữ quen thuộc và phổ biến với nhiều người, cũng như nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội như một bộ môn khoa học độc lập và toàn diện, vẫn chưa có nhiều công trình nổi bật Công trình quy mô đầu tiên có thể
kể đến là Ngôn ngữ học xã hội: Những vấn đề cơ bản của Nguyễn Văn Khang
Trang 16(1999) Trong công trình này, tác giả đã đề cập tới những kiến thức chung nhất về ngôn ngữ học xã hội: Làm rõ các khái niệm mang tính then chốt là cơ sở cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội; Đề cập tới những kiến thức về đa ngữ xã hội và đa thể ngữ; Tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng; Giao thoa ngôn ngữ và lai tạp ngôn ngữ; Phương ngữ xã hội; Giao tiếp ngôn ngữ; Sinh thái ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ, kế hoạch hóa ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ,… Từ hai vấn đề lớn là: Lý thuyết ngôn ngữ học xã hội và Ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam, tác giả muốn hướng đến một bức tranh toàn cảnh về tình hình ngôn ngữ ở Việt Nam gắn với thực tiễn của xã hội cũng như với tập tục, thói quen văn hóa ứng xử của người Việt Trong đó, chú trọng đến sự tương tác giữa xã hội với ngôn ngữ và chủ trương, đường lối và các biện pháp thực thi để bảo vệ, phát triển, hiện đại hóa tiếng Việt ở nước ta Vì đây là một công trình nghiêng về lý thuyết ngôn ngữ nên nội dung về phương ngữ xã hội và ngôn ngữ giao tiếp chỉ được đề cập đến một phần khá khiêm tốn trong dung lượng của quyển sách và ở mức độ khái quát vấn đề Tuy nhiên, có thể nói rằng đây là một tài liệu cung cấp cho những người nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội một cái nhìn tổng quan về bức tranh ngôn ngữ học xã hội
Trong lĩnh vực “tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng” – một trong những
lĩnh vực liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn – phải kể đến công trình Từ
ngoại lai trong tiếng Việt của Nguyễn Văn Khang (2013) Trong công trình này, tác
giả đã tiến hành khảo sát hoạt động của các từ ngoại lai trong tiếng Việt, gồm từ mượn tiếng Hán, tiếng Pháp và từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt Qua đó, tác giả đã bàn đến việc bảo vệ và phát triển tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay trước việc các từ ngoại lai được sử dụng ngày càng nhiều Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu việc tiếp nhận và sử dụng từ ngoại lai một cách chính thống của xã hội nói chung chứ không phải của những đối tượng cụ thể
Liên quan đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, Hữu Đạt (2009) trong
công trình Đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá giao tiếp tiếng Việt cho rằng chính ngôn
ngữ đã trực tiếp hay gián tiếp làm nên văn hoá dân tộc, không chỉ ở góc độ nó là
Trang 17yếu tố bảo lưu, là dấu tích của văn hoá qua các thời kỳ mà còn cả những đặc điểm loại hình mang phẩm chất riêng của một thực thể ngôn ngữ
Ngoài các công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ xã hội mà chúng tôi vừa nêu trên, có thể kể đến một số bài viết công bố trên các tạp chí chuyên ngành như:
“Vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển của xã hội” (Hà Quang Năng, 2009) Trong bài viết này, tác giả đã tìm hiểu sự vận động, biến đổi và phát triển của ngôn ngữ, để từ đó thấy được tầm quan trọng của ngôn ngữ trong sự tồn tại và phát triển xã hội;
“Tiếng Việt hôm nay: Sự trong sáng và vấn đề chuẩn hóa” (Phạm Văn Tình,
2014) Bài viết đề cập đến “nguy cơ bị vẩn đục” của tiếng Việt hiện nay, bên cạnh
đó còn bàn về vấn đề bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt;
“Kết quả nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội vào thực tiễn ở Việt Nam”
(Nguyễn Thị Thanh Bình, 2015) Trong bài viết này, tác giả đã phác họa một số nét
cơ bản về việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu của chuyên ngành ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam như: Xác định vị thế ngôn ngữ, quy định hình thức của ngôn ngữ trong giao tiếp hành chính, tác động tích cực của ngôn ngữ trên một số lĩnh vực xã hội, áp dụng việc dạy và học ngôn ngữ trong nhà trường,
Nhìn chung, tất cả các công trình và bài viết trên đã góp phần cung cấp cho giới nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội những góc nhìn phong phú và đa dạng về tình hình vận động và biến đổi của tiếng Việt Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu này cũng là những cơ sở lý thuyết và gợi dẫn quan trọng để chúng tôi tham khảo và áp dụng vào việc nghiên cứu đề tài luận văn
0.4.2 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ trên các trang mạng xã hội
0.4.2.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ trên các trang mạng xã hội ở nước ngoài
Từ những bài viết đã tiếp cận, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ mà giới trẻ ở nhiều nước trên thế giới sử dụng trên các phương tiện điện tử, MXH ở đất nước họ
Trang 18đã được nhiều tác giả của những nước sở tại quan tâm nghiên cứu Sau đây là một
số công trình, bài viết tiêu biểu:
The language of the teenage revolution: the dictionary defeated (Hudson,
1983) Trong công trình này, tác giả đã xem xét những tác động đến ngôn ngữ của thanh thiếu niên và đã thống kê những tiếng lóng mà giới trẻ ở Anh đã sử dụng trong những thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX
Nhóm tác giả Grinter, Palen và Eldridge (2006) trong bài viết “Chatting with
Teenagers: Considering the Place of Chat Technologies in Teen Life” đã đề cập đến
việc thanh thiếu niên sử dụng tin nhắn trên các thiết bị điện tử như điện thoại và máy tính Bên cạnh việc tìm hiểu về sự tương tác giữa người sử dụng với máy tính, các tác giả còn xem xét sự tương đồng cũng như khác biệt về phong cách giữa các cách trò chuyện trên điện thoại và máy tính
Bên cạnh đó, trong bài viết “Linguistic ruin?Lol! Instant messaging and teen
language”, Tagliamonte và Denis (2008) đã nghiên cứu các biến thể trên tin nhắn
mà các thanh thiếu niên sử dụng, phổ biến nhất là các kiểu viết tắt như: hwk (homework), np (no problem), ttyl (talk to you later),…Và từ diễn biến của loại ngôn ngữ này, hai tác giả đã đưa ra cảnh báo các biến thể của ngôn ngữ có thể hủy hoại ngôn ngữ
Khi nghiên cứu về sự biến đổi của ngôn ngữ trong tiếng Trung Quốc, Liwei
Gao (2008), trong công trình Language Change in Progress: Evidence from
Computer-Mediated Communication đã phân tích sự biến đổi ngôn ngữ mới trong
tiếng Trung Quốc Đó là tiến trình thay đổi từ truyền thông qua máy tính, bao gồm các thuật ngữ từ vựng, cú pháp, cũng như chiều hướng diễn ngôn
Nhìn chung, trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ và đa dạng của MXH như hiện nay, các biến thể ngôn ngữ của giới trẻ cũng phát triển và phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Nói cách khác, hiện tượng này mang tính toàn cầu chứ không chỉ xảy ra ở Việt Nam hay ở một cộng đồng ngôn ngữ nào Và các nhà nghiên cứu của những
Trang 19nước sở tại đều rất quan tâm đến các động thái cũng như dự báo những ảnh hưởng tiêu cực của ngôn ngữ này đến sự phát triển ngôn ngữ quốc gia của đất nước họ
0.4.2.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ giới trẻ trên các trang mạng xã hội trong nước
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về những biến thể ngôn ngữ trên MXH (trong công trình này, chúng tôi gọi là NNT) Trong phần sau, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày một số công trình nghiên cứu mà chúng tôi thu thập được
Một trong những công trình xuất hiện khá sớm là Ngôn ngữ của giới trẻ trên
các mạng xã hội (công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học
Euréka lần thứ XIV năm 2012) của Vũ Nguyễn Nam Khuê Tác giả công trình đã miêu tả hiện tượng “ngôn ngữ mới” của giới trẻ trên các trang MXH để làm rõ quy luật sử dụng, xu hướng định hình và phát triển của ngôn ngữ ấy Nội dung của công trình nghiên cứu đã phần nào hé mở những vấn đề nghiên cứu mới cho những ai muốn tiếp tục nghiên cứu sâu hiện tượng ngôn ngữ này
Một nghiên cứu khác về NNT là luận văn Một số đặc điểm từ vựng ngữ
nghĩa ngôn ngữ thiếu niên (khảo sát trên báo Mực Tím) của Hồ Quang Trinh
(2015) Trong luận văn này, tác giả đã tìm hiểu đặc điểm về từ vựng ngữ nghĩa của ngôn ngữ thiếu niên qua khảo sát và thống kê 36 số báo Mực Tím Tác giả luận văn chủ yếu miêu tả, phân loại về nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và nhóm người sử dụng, qua đó so sánh với lối nói trong tiếng Việt toàn dân để rút ra một số
cơ chế tạo từ ngữ của lứa tuổi thiếu niên
Bên cạnh những công trình khoa học, luận văn nghiên cứu về ngôn ngữ của giới trẻ nói chung, cũng có một số công trình nghiên cứu, một số bài viết tập trung nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp của giới trẻ hiện nay, với ngữ liệu khảo sát là văn bản, sách, hoặc từ những chuyên mục dành riêng cho giới trẻ, giới học đường trên các trang Internet Sau đây là một số bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này:
Trang 20“Ngôn ngữ tuổi teen” của Đặng Ngọc Ly (2011) Trong bài viết này, tác giả bước đầu tìm hiểu về ngôn ngữ mà tuổi teen sử dụng trên các thiết bị điện tử, các dạng ngôn ngữ tuổi teen hay sử dụng và một vài ý kiến về vấn đề tồn tại của ngôn ngữ này;
Tương tự, trong bài viết “Một số đặc điểm của tin nhắn trên Facebook”,
Nguyễn Thị Vân Đông (2013) đã trình bày sự tác động của Internet lên việc sử dụng ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ sử dụng trên tin nhắn của Facebook nói riêng Qua
đó, người viết cũng đã đưa ra một số kiến nghị về việc có nên phổ biến sử dụng một
số kiểu viết trên tin nhắn của Facebook trong ngôn ngữ hàng ngày;
Trên cơ sở khảo sát về ngôn ngữ được sử dụng bởi thanh thiếu niên Việt
Nam khi chat hoặc khi viết blog trên Internet, Đặng Đức Chính và Lại Hoài Châu (2014) trong bài viết “Ngôn ngữ của giới trẻ dùng trên các trang cá nhân (Blogs)”
đã đưa ra những dẫn liệu khoa học để khẳng định rằng ngôn ngữ chat của thanh
thiếu niên Việt Nam là một loại riêng biệt, trong đó có rất nhiều yếu tố khác biệt với ngôn ngữ chuẩn
Tuy nhiên, những bài viết trên chỉ dừng lại ở mức nêu những hiện tượng nổi bật trong ngôn ngữ mà các bạn tuổi teen hay sử dụng, do đó còn hạn chế khi nhìn vào bức tranh toàn cảnh, cũng như hiện nay (năm 2016-2017) NNT đã có rất nhiều
sự thay đổi
Bên cạnh những bài viết khai thác thực trạng sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ trên các phương tiện công nghệ điện tử là những bài viết nghiên cứu về những tác động, ảnh hưởng của ngôn ngữ giới trẻ lên sự phát triển của ngôn ngữ
và văn hóa dân tộc
Đặng Thị Diệu Trang (2015) trong bài viết “Ngôn ngữ TEEN trong giao
tiếp của giới trẻ hiện nay” cho rằng từ góc độ văn hóa, việc giới trẻ ngày nay sử
dụng ngôn ngữ không theo hệ quy chuẩn tiếng Việt là một hiện tượng mang ý nghĩa thể hiện phong cách đặc trưng của giới trẻ Bài viết cũng nêu một số nguyên
Trang 21nhân khiến giới trẻ sử dụng lớp ngôn ngữ “chệch chuẩn” và một số ảnh hưởng của
nó tới xã hội;
Trong bài nghiên cứu “Văn hóa ngôn ngữ và vấn đề giáo dục ngôn ngữ văn
hóa trong giới trẻ hiện nay”, Nguyễn Văn Tịnh và Đặng Thị Yến (2015) đã chỉ ra
mặt tích cực và tiêu cực của việc giới trẻ sử dụng những từ ngữ mới, cách diễn đạt mới, cách nói, cách viết “khác lạ” làm thay đổi bản sắc vốn có của tiếng Việt Qua
đó, hai tác giả này cũng đưa ra nguyên nhân và một số giải pháp cho vấn đề đang được xã hội quan tâm này;
Liên quan đến lĩnh vực này, Hoàng Anh Tuấn (2015) trong bài viết “Ngôn
ngữ “@” và vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” đã trình bày tóm lược một
số nét chính, cũng như những nhận xét về xu hướng sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ đặc biệt là trên các trang MXH
Bên cạnh đó, phải kể đến một số bài viết phân tích ngôn ngữ của giới trẻ dưới góc nhìn của lý thuyết ngôn ngữ học xã hội như: “Thực trạng sử dụng tiếng Việt “phi chuẩn” của giới trẻ hiện nay nhìn từ góc độ ngôn ngữ học xã hội” của Nguyễn Văn Hiệp và Đinh Thị Hằng (2014); “Sự “biến dạng” của tiếng Việt trong
ngôn ngữ giới trẻ” của Vũ Thùy Linh và Nguyễn Thị Hải Thu (2014); “Ngữ pháp
chức năng hệ thống và đánh giá ngôn ngữ “phi chuẩn” của giới trẻ hiện nay theo quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống” của Nguyễn Văn Hiệp (2015)
Ngoài vấn đề giới trẻ sử dụng ngôn ngữ mới/lạ được phản ánh khá nhiều ở các bài viết trên các tạp chí, các bài viết còn là những mảnh ghép của bức tranh phương ngữ xã hội Đó là thực trạng một lớp từ mới đang được giới trẻ sử dụng rất phổ biến, cũng như những tác động, ảnh hưởng không nhỏ của nó đến văn hóa và ngôn ngữ dân tộc
Bên cạnh luồng ý kiến phản đối hoặc dè dặt trong việc tiếp nhận NNT thì cũng có một số tác giả lại cho rằng, NNT là sự phát triển bình thường của quy luật
phát triển ngôn ngữ và có quan điểm nên đưa ngôn ngữ chat vào từ điển tiếng Việt
Trang 22(Nguyễn Đức Dân, 2011) hay đưa thêm các kí tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt (Hoàng Hồng Minh, 2011)
Nhìn chung, những công trình, bài viết kể trên đã giúp chúng tôi nắm bắt được phần nào thực trạng cũng như đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp của giới trẻ Tuy chưa đa dạng, nhưng đây thực sự là nguồn chỉ dẫn tin cậy và gần gũi để chúng tôi
có thể mô tả, phân tích đặc điểm của việc sử dụng phương ngữ xã hội của giới trẻ trên MXH, dựa trên cơ sở vận dụng lý thuyết của ngôn ngữ học cấu trúc và ngôn
vào công cuộc chuẩn hóa và giáo dục tiếng mẹ đẻ trong giai đoạn hiện nay
0.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp một cách hệ thống những ngữ liệu tương đối khách quan
về ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên trên MXH Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho nghiên cứu ngôn ngữ, một số khoa học liên ngành và
những ai quan tâm đến lĩnh vực này
0.6 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều thủ pháp và phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập ngữ liệu: NNT của sinh viên Bạc Liêu được chúng tôi thu thập trên MXH Facebook bằng cách chụp lại màn hình các đoạn hội thoại và bình luận trên các trang Facebook cá nhân của sinh viên được khảo sát Luận văn
Trang 23chọn ngẫu nhiên 120 đoạn tương tác, bình luận, hội thoại (mỗi trường 30 đoạn) trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2016 của sinh viên ở 4 trường đại học
và cao đẳng ở Bạc Liêu, gồm: Đại học Bạc Liêu, Cao đẳng Y tế Bạc Liêu, Cao đẳng Nghề Bạc Liêu và Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Bạc Liêu
Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Chúng tôi sử dụng phương pháp miêu
tả ngôn ngữ học để miêu tả đặc điểm và biến thể ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của NNT của sinh viên Bạc Liêu trên 6.381 âm tiết thu thập được từ nguồn ngữ liệu
Thủ pháp phân loại và hệ thống hóa: Chúng tôi chọn những đặc điểm nổi bật nhất của NNT của sinh viên Bạc Liêu Sau đó, chúng tôi thống kê và mô hình hóa các quy luật về đặc điểm cấu tạo của NNT của sinh viên ở địa phương
Phương pháp định tính để phân tích mối quan hệ giữa NNT với thái độ ngôn ngữ, lựa chọn ngôn ngữ cũng như mối tương quan với các yếu tố xã hội khác; hoạt động quan sát tham dự vào các cuộc thảo luận, bình luận trên các trang Facebook trong quá trình thu thập ngữ liệu
Phương pháp điều tra xã hội học: Chúng tôi phát phiếu khảo sát về thói quen
sử dụng ngôn ngữ trên MXH để tìm hiểu về ảnh hưởng và tác động của NNT đến cộng đồng-xã hội và ngược lại Số lượng phiếu khảo sát là 250 phiếu, cụ thể trường Đại học Bạc Liêu với 100 phiếu khảo sát, 3 trường còn lại gồm Cao đẳng Y tế Bạc Liêu, Cao đẳng Nghề Bạc Liêu và Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Bạc Liêu mỗi trường chúng tôi khảo sát 50 phiếu
Thủ pháp thống kê: Thống kê các đại lượng về tần số, tỉ lệ (%) của các biến thể ngôn ngữ cũng như phân tích mối quan hệ giữa việc sử dụng biến thể ngôn ngữ với thái độ ngôn ngữ bằng chương trình thống kê SPSS
Và để có cái nhìn tổng quan và toàn diện về đề tài, chúng tôi đã áp dụng tổng hợp tri thức của nhiều lĩnh vực và sử dụng thành quả của nhiều ngành khoa học khác nhau vào việc nghiên cứu đề tài luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi xác định Việt Nam học là ngành chính kết hợp với các ngành khoa học
Trang 24khác như ngôn ngữ học, văn hóa học, nhân học, xã hội học,… để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra
0.7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Trong chương này, luận văn trình bày khái quát về cơ sở lý thuyết cũng như vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài Trước tiên là những lý thuyết về ngôn ngữ học xã hội, phương ngữ xã hội, mà trọng tâm là những lý thuyết về sự chuyển biến, biến đổi và thái độ tiếp nhận ngôn ngữ Bên cạnh đó, làm rõ một số thuật ngữ, khái niệm có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của luận văn như: biến thể, ngôn ngữ chuẩn, lệch chuẩn, cộng đồng ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ,… cũng được
đề cập đến nhằm chứng minh, biện giải những vấn đề trong luận văn Ngoài ra, một số vấn đề thực tiễn về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và cộng đồng-xã hội cũng được đề cập trong chương này, từ đó phân tích và lý giải nguyên nhân hình thành
và phát triển của NNT của sinh viên Bạc Liêu
Chương 2: Đặc điểm về ngữ âm-từ vựng-ngữ pháp của “ngôn ngữ teen” của sinh viên Bạc Liêu
Ở chương này, chúng tôi tập trung mô tả những hiện tượng biến đổi hay đặc điểm về ngữ âm-chính tả, từ vựng và ngữ pháp của NNT của sinh viên Bạc Liêu so với tiếng Việt toàn dân Ở mỗi phần, chúng tôi tiến hành xác định quy luật biến đổi
cụ thể Đối với hiện tượng biến đổi hình thức ngữ âm-chính tả, chúng tôi sẽ tập trung miêu tả sự biến đổi ở từng vị trí cấu âm, các biến thể thanh điệu; Ở lĩnh vực biến đổi từ vựng, luận văn miêu tả các hình thức từ ngữ của NNT như: các kiểu viết tắt, từ địa phương ngữ (trong đó sự giao thoa ngôn ngữ trong từ địa phương là một đặc trưng ngôn ngữ nổi bật), các hình thức vay mượn tiếng nước ngoài, Ở đặc điểm ngữ pháp, chúng tôi chủ yếu xem xét cách sử dụng dấu câu, thành phần cấu tạo và các kiểu câu,…
Trang 25Chương 3: Mối quan hệ giữa “ngôn ngữ teen” với cộng đồng-xã hội
Nội dung chương này gồm 2 phần Phần thứ nhất chúng tôi trình bày vài nét
về tình hình sử dụng MXH Facebook và xác định phong cách NNT của sinh viên ở địa bàn tỉnh Bạc Liêu, với những đặc trưng riêng, đã tạo nên những thói quen sử dụng chúng của sinh viên ở địa phương Điều này góp phần vào bức tranh đa sắc màu của ngôn ngữ biến thể trên các trang MXH tại Việt Nam Và phần thứ hai của chương này, chúng tôi phân tích sự tác động và ảnh hưởng qua lại giữa NNT của
sinh viên Bạc Liêu với cộng đồng-xã hội
Trang 26Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày cơ sở lý luận mà luận văn tham chiếu bao gồm lý thuyết về sự chuyển biến ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội, phương ngữ và phương ngữ xã hội, thái độ ngôn ngữ, v.v… cũng như tiến hành giới thiệu, giải thích và phân biệt các thuật ngữ và những vấn đề liên quan đến đề tài luận văn
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các lý thuyết tiếp cận
1.1.1.1 Chuyển biến ngôn ngữ
Theo thống kê của Ethnologue – một xuất bản phẩm của SIL International, chuyên thống kê về ngôn ngữ và phương ngữ trên thế giới – năm 2000 có 6.809 ngôn ngữ, năm 2009 có 6.909 ngôn ngữ và năm 2017 có 7.099 ngôn ngữ riêng biệt tồn tại trên thế giới Qua đây có thể thấy con số thống kê về số lượng ngôn ngữ trên thế giới luôn có sự thay đổi theo thời gian Sỡ dĩ có sự khác biệt này là do nhiều nguyên nhân, một trong số đó chính là sự vận động không ngừng của ngôn ngữ, dẫn đến những con số cũng thay đổi liên tục và mang tính tương đối Ngôn ngữ luôn có
sự biến đổi, có những ngôn ngữ trở thành tử ngữ, chúng mất đi theo sự mất đi của tộc người hoặc bị thay thế bởi một ngôn ngữ khác, ngay trong bản thân các sinh ngữ cũng không ngừng có những chuyển biến
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010) thì sự chuyển biến ngôn ngữ (language
change) chính là:
Sự chuyển biến ngôn ngữ là sự biến đổi ngôn ngữ qua thời gian […] Những
từ mới, cách phát âm mới, những hình thức và cấu trúc cú pháp mới, các nghĩa mới của những từ đã có luôn luôn nảy sinh, trong khi những cái cổ hơn không được dùng nữa (tr.134)
Trang 27Nguyên nhân của sự chuyển biến ngôn ngữ rất đa dạng bởi ngôn ngữ luôn vận động Việc xuất hiện của những sự vật, hiện tượng mới thì cũng đồng thời xuất hiện nhu cầu định danh của những sự vật, hiện tượng mới đó, hay khi một sự vật, hiện tượng cũ bị thay thế hoặc thôi tồn tại thì tên gọi của chúng cũng bị mất đi Ngoài ra, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng đồng thời có những ảnh hưởng lớn đến ngôn ngữ của một dân tộc Do đó, ngôn ngữ luôn có sự thay đổi so với ngôn ngữ gốc ban đầu
Tiếng Việt cũng không nằm ngoài quy luật vận động này của ngôn ngữ Từ khi xuất hiện lần đầu tiên cho đến nay, tiếng Việt (chữ quốc ngữ theo mẫu tự Latin) cũng đã có nhiều thay đổi So với tiếng Việt trong quyển Từ điển Việt-Bồ-La do Alexandre de Rhodes biên soạn thì tiếng Việt trong từ điển hiện nay có sự khác biệt rất lớn, một số từ đã không còn thấy sử dụng hoặc ý nghĩa đã thay đổi hoàn toàn
Chuyển biến ngôn ngữ chính là con đường mà vốn từ vựng của một ngôn ngữ hoàn thiện, cập nhật, bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng Sự biến đổi của ngôn ngữ sẽ diễn ra theo hai hướng: Biến đổi về số lượng và biến đổi về chất lượng Sự biến đổi về số lượng được biểu hiện trước hết ở mặt số lượng từ vựng mới ngày càng tăng lên trong khi số từ cũ vẫn còn tồn tại song song Do đó, số lượng từ của một ngôn ngữ tăng lên không ngừng bởi số từ mới xuất hiện vượt xa với lượng từ giảm đi do ít sử dụng Sự phát triển về chất lượng của từ ngữ được thể hiện rõ nhất ở việc phát triển đặc tính đa nghĩa của các đơn vị từ vựng trong ngôn
ngữ qua từng giai đoạn phát triển khác nhau Nguyễn Thiện Giáp (2002) trong Từ
vựng học tiếng Việt cho rằng:
Sự phát triển của tiếng Việt đã diễn ra những quá trình chủ yếu sau: Sự hình thành, phát triển và toàn thắng của những từ ngữ cách mạng tiến bộ; Sự thâm nhập mạnh mẽ của các từ ngữ dân gian vào ngôn ngữ văn hóa; Sự thâm nhập lẫn nhau của từ vựng khẩu ngữ và từ vựng sách vở; Sự thâm nhập của các từ địa phương vào ngôn ngữ văn học toàn dân và sự phổ biến rộng rãi của ngôn ngữ văn hóa toàn dân (tr.314)
Trang 281.1.1.2 Ngôn ngữ học xã hội biến đổi
Có thể hiểu ngôn ngữ học xã hội biến đổi (sociolinguistique variationniste) là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu những sự biến đổi trong ngôn ngữ Ngôn ngữ học xã hội biến đổi quan tâm đến ngôn ngữ được sử dụng thật sự trong một cộng đồng ngôn ngữ, đến tất cả những biến đổi trong một ngôn ngữ Người xây dựng nền móng cho khuynh hướng nghiên cứu này là nhà ngôn ngữ học Labov Theo Trần Thanh Ái (2013), Labov đã nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc độ những dị biệt ngôn ngữ Ba chủ đề xuyên suốt và gắn bó mật thiết với nhau trong các công trình nghiên cứu của Labov là sự thay đổi, biến thể và cộng đồng ngôn ngữ Từ đó hình thành nên ba trục nghiên cứu lớn không thể tách rời nhau: Phân tích các thay đổi ngôn ngữ đang diễn ra; Nghiên cứu các dữ liệu của các hoạt động ngôn ngữ tự phát; Quan sát các cách sử dụng ngôn ngữ trong các mạng lưới xã hội
Việc biến đổi của ngôn ngữ diễn ra không ngừng và lan tỏa từ tâm vòng tròn Theo Labov (2006):
Điểm xuất phát của một biến đổi ngôn ngữ cụ thể nào đó thường nằm trong một nhóm xã hội duy nhất, và với các thế hệ nối tiếp nhau thì dạng mới sẽ
được lan tỏa ra vòng ngoài rộng hơn và đi đến các nhóm khác (tr.197)
Vậy, việc nghiên cứu những biến đổi ngôn ngữ phải gắn liền với cộng đồng
sử dụng ngôn ngữ đó Từ đó hiểu được các cơ chế của sự biến đổi và nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi cũng như tác động của sự biến đổi ngược lại cộng đồng ngôn ngữ Hướng nghiên cứu này thuộc khuynh hướng nghiên cứu Ngôn ngữ học xã hội
vi mô (micro-sociolinguistics), theo Nguyễn Thiện Giáp (2010) thì:
Ngôn ngữ học xã hội vi mô nghiên cứu chi tiết sự giao tiếp liên nhân, như: các hành động ngôn từ, các sự kiện ngôn từ, chuỗi phát ngôn, sự biến thiên trong ngôn ngữ do được sử dụng bởi những nhóm người có những đặc trưng khác nhau (tr.298)
Trang 29Trong quyển 777 Khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp (2010) cho rằng thái độ ngôn ngữ (language attitude) là:
Sự biểu hiện những tình cảm tích cực hoặc tiêu cực đối với một ngôn ngữ có thể phản ánh tính phức tạp hoặc đơn giản về ngôn ngữ, sự dễ dàng hoặc khó khăn v.v… Thái độ ngôn ngữ cũng có thể bộc lộ cái mà người ta cảm nhận
về những người nói ngôn ngữ đó (tr.387)
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, thái độ ngôn
ngữ thường được nghiên cứu theo hai khuynh hướng: Khuynh hướng tinh thần luận
(mentalism) và khuynh hướng hành vi luận (behaviorism) Theo quan điểm của tinh thần luận, thái độ của cá nhân với đối tượng sẽ quy định sự ứng xử của cá nhân với đối tượng ấy, nghĩa là thái độ sẽ dẫn đến hành vi và ngược lại, hành vi là kết quả của thái độ Theo hướng tiếp cận hành vi luận, thái độ được nhìn thấy một cách giản đơn từ những phản ứng của con người đối với những cảnh huống xã hội, muốn biết thái độ, cần quan sát hành vi Như vậy, thái độ chính là một loại hành vi Nghiên cứu thái độ ngôn ngữ theo hướng này đơn giản hơn ở chỗ nhà nghiên cứu chỉ cần quan sát và phân tích sự ứng xử công khai Do những ưu điểm này mà khuynh hướng hành vi luận được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng Việc nghiên cứu thái độ ngôn ngữ của chúng tôi cũng thực hiện trên cơ sở cách tiếp cận này
Cho đến nay, ngôn ngữ học xã hội thường nhắc đến ba loại thái độ cơ bản,
đó là thái độ trung thành ngôn ngữ, thái độ kì thị ngôn ngữ và thái độ tự ti ngôn ngữ Và sự hình thành thái độ ngôn ngữ chịu chi phối bởi tổng hợp nhiều nhân tố xã
Trang 30hội Đó là các nhân tố như bối cảnh văn hóa, quan hệ xã hội, tính tụ hợp của cộng đồng, giáo dục, tuổi tác, giới, ngành nghề, trình độ văn hóa, sự phát triển của bản thân,… (Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014, tr.89) Sau đây là một số phân tích thái độ ngôn ngữ từ những góc độ khác nhau
Từ góc độ tuổi tác, tầng lớp thanh thiếu niên có thuận lợi trong việc tiếp xúc với cái mới, dễ thích nghi với sự thay đổi quan niệm giá trị trong xã hội, từ đó dẫn đến việc họ không có nhiều thái độ tiêu cực đối với ngôn ngữ Ngược lại, người lớn tuổi thường thận trọng và khắt khe hơn trước những sự thay đổi, những quan niệm giá trị mới
Từ góc độ giới, có những điểm khác nhau ở thái độ đối với ngôn ngữ theo giới tính của đối tượng tiếp nhận và sử dụng Chẳng hạn, nghiên cứu trước đây về ngôn ngữ và giới tính cho rằng, giới nữ không dễ thay đổi thái độ trung thành của mình đối với ngôn ngữ Tính cách của họ tương đối bảo thủ, không giống nam giới,
họ không đi chệch khỏi giá trị ngôn ngữ, mặc dù họ có thể giao du ít hơn nam giới Mẫn cảm của nữ giới mạnh hơn nam giới (Lakoff, 1975)
Từ góc độ ngành nghề, thái độ ngôn ngữ của cá nhân thường cố gắng hoặc bị ảnh hưởng theo ngôn ngữ mà môi trường học tập, làm việc của họ đòi hỏi
Từ góc độ tính tụ hợp của cộng đồng, thái độ ngôn ngữ của con người thường ở những nơi dân cư tập trung đông đúc thì thái độ ngôn ngữ sẽ rất mạnh và việc sử dụng ngôn ngữ mang tính cộng đồng cao, chuẩn mực hơn Trái lại, nơi mà người cư trú có tính tạp cư cao thì thái độ cũng như việc sử dụng ngôn ngữ của các
cá thể ít chịu áp lực của thái độ ngôn ngữ cộng đồng
Đặc điểm bản thể của ngôn ngữ cũng ảnh hưởng nhất định đến thái độ đối với ngôn ngữ, bởi chúng liên quan tới hiệu quả giao tiếp, như: Từ vựng có phong phú hay không, ngữ pháp có mạch lạc hay không, có hay không có hệ thống văn tự,…
Từ góc độ giáo dục, lợi ích thực tế do giáo dục đa ngữ mang lại thường ảnh hưởng, thậm chí đôi khi quyết định thái độ ngôn ngữ của mọi người
Trang 31Từ góc độ trình độ văn hóa, những người có trình độ cao thường có xu hướng chấp nhận chuẩn và biến thể chuẩn nhiều hơn những người có trình độ học vấn thấp
Thái độ ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng đối với con người với tư cách là thành viên của cộng đồng lựa chọn ngôn ngữ sử dụng Sự lựa chọn đó có thể là đối với trường hợp đa ngữ hoặc các biến thể của ngôn ngữ Việc nghiên cứu về thái độ ngôn ngữ sẽ giúp ta có cách nhìn về người sử dụng ngôn ngữ với tư cách là thành viên của cộng đồng ngôn ngữ quyết định việc duy trì hay chuyển đổi ngôn ngữ
1.1.2 Một số thuật ngữ liên quan
1.1.2.1 Ngôn ngữ, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
F Saussure cho rằng:
Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, cũng như trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó […] Người ta chỉ có thể giao tiếp nếu các lời nói bao gồm những yếu tố có giá trị chung, hoạt động theo những nguyên tắc chung Ngôn ngữ chính là hệ thống những yếu tố và nguyên tắc có giá trị chung, làm cơ sở để cấu tạo các lời nói (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, 2010, tr.283)
Đây là cách hiểu ngôn ngữ được phân thành những nhóm riêng biệt, với những đặc điểm, đặc trưng tùy vào cộng đồng sử dụng và phân biệt với nhóm ngôn ngữ khác
Nếu F Saussure phân biệt ngôn ngữ (langue) với lời nói (parole) và hoạt động ngôn ngữ (language) thì theo Nguyễn Thiện Giáp (2010), ngôn ngữ được tách rời khỏi chữ viết, đây là hệ thống lời nói của con người và cả của loài vật
Ngôn ngữ được dùng để chỉ phương tiện giao tiếp bằng lời của loài người… Trong cách dùng chung, ngôn ngữ còn được dùng để chỉ những hệ thống giao tiếp của loài vật, chẳng hạn, ngôn ngữ của loài ong, ngôn ngữ của cá
Trang 32heo,… Từng hệ thống giao tiếp bằng lời của con người cũng được gọi là ngôn ngữ Thí dụ: ngôn ngữ Anh, ngôn ngữ Nga, ngôn ngữ Việt,… Với nghĩa này, nó có thể thay bằng từ “tiếng”, như: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga,… (tr.282-283)
Nhìn chung, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào cho ngôn ngữ, tùy vào vấn đề nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu có những góc nhìn riêng về ngôn ngữ Và ở mỗi khái niệm cũng mang nhiều tầng bậc khác nhau Đó có thể là một hệ thống gồm ba yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và đồng nhất với “tiếng” hoặc được hiểu là bao gồm hai thành tố ngôn (lời nói) và ngữ (chữ viết)
Trong cuốn 777 Khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp (2010) đã định nghĩa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết như sau:
Ngôn ngữ nói “còn được gọi là khẩu ngữ là lời nói miệng hàng ngày, thường
là đối thoại, đặc trưng của ngôn ngữ thường dùng.” (tr.303)
Ngôn ngữ viết: “Khái niệm ngôn ngữ viết rất rộng và đa dạng, bao gồm bất
cứ loại hiện thực hóa về thị giác nào của ngôn ngữ (như bản viết tay, bản đánh máy,
bản in, phương tiện điện tử).” (tr.312)
Dựa vào định nghĩa về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nêu trên, có thể nói ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp trên MXH là kiểu ngôn ngữ hội tụ cả hai đặc tính của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, hay nói cụ thể hơn NNT trên MXH là ngôn ngữ viết mang nhiều đặc điểm của ngôn ngữ nói Bởi dù là ngôn ngữ viết nhưng lại mang tính tự do, cấu trúc đơn giản, xuất hiện nhiều yếu tố chêm xen, rào đón, ý nghĩa đa phần dựa vào tình huống giao tiếp và có sự tham gia hồi đáp ngay giữa các
đối tượng giao tiếp
1.1.2.2 Từ địa phương, phương ngữ và phương ngữ xã hội
Hiện nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu về phương ngữ và từ địa phương trong tiếng Việt Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày các định nghĩa của một số tác giả
về hai thuật ngữ này
Trang 33Phương ngữ: Theo Trần Thị Ngọc Lang (1995), phương ngữ là “phương tiện diễn đạt và giao tiếp của một địa bàn (khu vực) dân cư” (tr.10)
Từ địa phương: Nguyễn Thiện Giáp (2002) đã định nghĩa từ địa phương là
“những từ được dùng hạn chế ở một vài địa phương, từ địa phương là dạng biến thể của người dân tộc” (tr.221)
Tương tự với định nghĩa trên, Bùi Tất Tươm (1996) cũng cho rằng: “Từ địa phương là những từ chỉ dùng trong một địa phương nhất định Chúng song song cùng
tồn tại với từ toàn dân, từ địa phương được dùng trong khẩu ngữ tự nhiên” (tr 104)
Từ những quan niệm về phương ngữ và từ địa phương trên, chúng ta thấy từ địa phương có thể được xem như là một bộ phận của phương ngữ Có thể hiểu từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương nhất định trong khi phương ngữ là tập hợp những từ dùng trong một khu vực hay vùng miền (bao gồm từ địa phương của một hay nhiều địa phương trong vùng, miền đó)
Theo Saussure (2005), có bao nhiêu địa phương thì có bấy nhiêu phương ngữ, tương tự, có bao nhiêu nhóm xã hội thì có bấy nhiêu phương ngữ xã hội Và cũng theo cách hiểu này, Nguyễn Văn Khang (2014) cho rằng “sự hình thành phương ngữ xã hội có liên quan chặt chẽ đến thuộc tính xã hội của người giao tiếp”
Từ phương ngữ xã hội, có thể xác định được giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, vị thế xã hội, văn hóa,… của nhóm xã hội sử dụng phương ngữ xã hội đó Vậy, phương ngữ xã hội là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định
1.1.2.3 Biến thể, chuẩn và lệch chuẩn
Trong phần này, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các định nghĩa về các thuật
ngữ biến thể, chuẩn và lệch chuẩn
Trong cuốn 777 Khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp (2010) cho
rằng biến thể là: “Những hình thức khác nhau của một hằng thể… Nếu coi từ là
một hằng thể thì những trường hợp sử dụng khác nhau của nó là những biến thể.”
(tr.83) Biến thể ngôn ngữ là một trong những đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội Biến thể ngôn ngữ có nhiều hình thức biểu hiện từ cấp độ từ đến cấp
độ câu và cả phong cách nói Các biến thể thường được nói đến gồm: Biến thể
Trang 34hình thái học hay còn gọi là từ hình, biến thể từ vựng-ngữ nghĩa hay còn gọi là từ
vị, biến thể ngữ âm-hình thái học của từ Nguyễn Thiện Giáp (2010) đã lần lượt định nghĩa các biến thể như sau:
Biến thể ngữ âm-hình thái học của từ là: “Những sự biến dạng của từ về mặt
ngữ âm và cấu tạo từ chứ không phải là những hình thái ngữ pháp của nó Ở đây, có
hiện tượng cùng một ý nghĩa từ vựng được định hình một cách khác nhau.” (tr.85)
Biến thể tự do là:
Biến thể không bị quy định về vị trí Nếu hai âm xuất hiện trong một bối cảnh không tương phản, tức là thay thế âm này bằng âm kia không tạo ra những hình thức từ khác nhau, mà chỉ tạo ra sự phát âm khác nhau của cũng
từ ấy thì hai âm đó là biến thể tự do của nhau (tr.86)
Ngôn ngữ chuẩn
Ngôn ngữ chuẩn còn được gọi là ngôn ngữ văn chương Nhiều người nhận thấy rằng, tiếng Việt chuẩn hình thành dần dần trên cơ sở phương ngữ Bắc Bộ với sự bổ sung thêm một số yếu tố của các phương ngữ khác […] Hệ thống chữ quốc ngữ được coi như bằng chứng về hệ thống ngữ âm chuẩn của tiếng Việt (Nguyễn Thiện Giáp, 2010, tr.285)
Trong luận văn, chúng tôi sẽ dựa trên nhận định này cũng như hệ thống bảng chữ cái và từ trong từ điển tiếng Việt để xét về độ chuẩn hay lệch chuẩn của ngôn ngữ
Lệch chuẩn
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010) thì lệch chuẩn là:
Hiện tượng vượt ra ngoài chuẩn mực […] Đối với cận cảnh hóa thông qua sự lệch chuẩn, chúng ta cần phân tích để phát hiện sự lệch chuẩn được thể hiện
ở cái gì được chú ý, nó khác với chuẩn như thế nào, sự khác nhau đó tạo nên một thế giới khác với thế giới mà chúng ta sử dụng như thế nào, những đặc trưng của nó là gì (tr.234)
Trang 35Thời gian gần đây tiếng Việt thường bị đánh giá là đang có hiện tượng lệch (chệch) chuẩn quá nhiều, nhưng câu hỏi đặt ra là lệch chuẩn là gì, thế nào là chuẩn, căn cứ vào đâu để xét là ngôn ngữ đó có lệch chuẩn hay không?
Và cũng qua hai khái niệm về ngôn ngữ chuẩn và lệch chuẩn mà chúng tôi
đã nêu ở trên, chúng tôi cho rằng việc giới trẻ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trên các trang MXH hay trên các phương tiện điện tử không nên xem là lệch chuẩn, bởi lệch chuẩn là sự dùng từ khác đi về ý nghĩa hoặc cách thức sử dụng một cách có mục đích nghệ thuật của tác giả so với ngôn ngữ chuẩn, còn ngôn ngữ giới trẻ sử dụng nhằm thể hiện phong cách cá nhân không nhằm mục đích nghệ thuật, đây có thể được xem là những biến thể ngôn ngữ, biểu hiện của sự biến đổi ngôn ngữ theo xu hướng vận động
Trang 36cách mạng mới Theo sau sự ra đời của Internet là sự có mặt của MXH, chính từ nhu cầu gắn kết cộng đồng không giới hạn cả về không gian lẫn thời gian mà MXH
đã ra đời và chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong xã hội hiện đại MXH là một thế giới ảo thu nhỏ nhưng có tác động thật tới người dùng và xã hội
Thuật ngữ MXH ra đời vào khoảng thập niên cuối của thế kỉ XX, bắt đầu bằng sự xuất hiện của trang Geocities vào năm 1994 Geocities được xem là MXH đầu tiên trên thế giới, người dùng có thể xây dựng một website cá nhân ở đây, nhưng sau đó đã được thay thế bởi Yahoo Tiếp đó là sự có mặt của hàng loạt các trang mạng khác như: Classmates (1995), SixDegrees (1997), Frienđster (2002), Mýpace, Bebo, Facebook (2004), Twitter (2006), Google+ (2011),
Theo Fitchter (1957) “mạng lưới xã hội (social network) bao gồm nhiều mối quan hệ đôi Mỗi người trong mạng lưới có liên hệ với ít nhất 2 người khác nhưng không ai có liên hệ với tất cả những thành viên khác” Tương tự với định nghĩa về MXH trên, Wellman (2009) cho rằng “khi mạng máy tính kết nối con người, nó là một mạng xã hội” Cũng theoWillard (2009), “một mạng xã hội là một cấu trúc xã hội gắn với nhau bằng các nút (là cá nhân hoặc tổ chức) được gắn bởi một hay nhiều loại phụ thuộc lẫn nhau” Có thể thấy MXH hình thành như một mạng nhện, giao nhau của mỗi điểm nút là các mối quan hệ của cá nhân hoặc tổ chức, có mối ràng buộc về một giá trị nào đó trong cuộc sống Do đó, đây là một hệ thống rộng lớn, mỗi thành viên sẽ có thể có rất nhiều mối quan hệ giao nhau, chéo nhau của một hoặc nhiều giá trị sống Chính điều này là đặc điểm khiến MXH lan tỏa một cách nhanh chóng và bền vững
Theo Nghị định 72/2013/NĐ-CP về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ
internet và thông tin trên mạng của nước ta, MXH được định nghĩa là:
Hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum),
Trang 37trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác
Clemons (2009), trong bài viết “The complex problem of monetizing virtual
electronic social networks”, đã cho rằng MXH có 6 chức năng căn bản Đó là: Để giải
trí; Để kết nối; Để kết nối nhằm mục đích chia sẻ thông tin (đây là những cộng đồng mạng có cùng mối quan tâm đến một vấn đề nào đó); Để kết nối nhằm mục đích chia
sẻ thông tin dành cho giới chuyên gia; Để tìm sự hỗ trợ và hỗ trợ cộng đồng (thường nhắm đến những nhóm đối tượng cụ thể); Để giải trí, tạo và quản lý nội dung
Các tính năng nổi bật của một MXH có thể giúp người sử dụng “xây dựng một profile công khai hoặc bán công khai”, “kết nối với danh sách của những người
sử dụng khác, những người mà họ chia sẻ mối quan hệ”, “xem xét và nghiên cứu danh sách các liên kết của họ và chúng được tạo nên bởi các cá nhân khác trong cùng hệ thống” (Kirkpatrick, 2011, tr.93)
Có thể thấy rằng MXH là mô hình mới nhất trong quá trình phát triển đương đại, đơn giản hoá các phương thức tương tác và kết nối giữa con người với nhau suốt chiều dài lịch sử Mục tiêu chính của Internet là tạo phương tiện để mọi người
có thể kết nối, giao tiếp và cộng tác với nhau MXH là kho thông tin khổng lồ và do đáp ứng được nhiều nhu cầu cả về giao tiếp, giải trí và học tập nên MXH chiếm vị trí không thể thiếu trong đời sống hiện đại Theo số liệu khảo sát của We Are Social – công ty nghiên cứu độc lập về truyền thông xã hội toàn cầu – tính đến đầu năm
2016, có đến 46% dân số trên thế giới sử dụng Internet và 31% dân số sở hữu tài khoản MXH Theo dự báo, số lượng người dùng MXH sẽ tiếp tục gia tăng với việc
sử dụng thiết bị di động và MXH trên di động
Ở Việt Nam, MXH xuất hiện từ đầu năm 2005 và trong những năm gần đây MXH phát triển rất mạnh MXH thu hút một lượng lớn người sử dụng, đa dạng cả
về tuổi tác lẫn ngành nghề, tuy nhiên chiếm đa số vẫn là thanh thiếu niên Sự bùng
nổ của cả những trang MXH nước ngoài lẫn trang MXH thuần Việt đã đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có lượng người dùng MXH tăng hàng
Trang 38năm cao nhất tại Châu Á MXH thuần Việt ra đời sớm nhất là Yahoo! 360 (2005),
và sau đó là sự ra đời của các trang MXH như: ZoomBan, Yobanbe, FaceViet, VietSpace (2007), ZingMe, Tamtay (2009) và gần đây là Zalo (2012) Mặc dù vậy, theo số liệu trong bảng công bố cuộc khảo sát của We Are Social, thì tính đến đầu năm 2016, Facebook là MXH được yêu thích nhất ở Việt Nam với 29% số người sử dụng và đứng thứ hai là Zalo một MXH thuần Việt chiếm 25% số người
sử dụng Cũng theo khảo sát này thì Việt Nam có dân số là 93,95 triệu người, trong đó có 47,3 triệu người sử dụng Internet (tương đương 50%), 35 triệu người
sở hữu tài khoản MXH (chiếm tỷ lệ 37%) Theo kết quả khảo sát với lượng người dùng ngày càng đông ở nước ta cho thấy nhu cầu sử dụng MXH là rất đa dạng Theo một nghiên cứu về sự phát triển và nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên tại Việt Nam, Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2014) đã chỉ ra rằng có 5 nhóm nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên gồm: Nhóm nhu cầu chia sẻ; Nhóm nhu cầu thể hiện bản thân và tìm kiếm việc làm; Nhóm nhu cầu giải trí; Nhóm nhu cầu kinh doanh; Nhóm nhu cầu tương tác
Internet cùng với MXH đã thay đổi hoàn toàn quá trình giao tiếp của con
người, đặc biệt là giao tiếp của giới trẻ
1.2.1.2 Facebook – trang mạng xã hội phổ biến nhất ở Việt Nam
Năm 2004, Mark Zuckerberg lúc đó đang là một sinh viên của đại học Harvard, đã cùng bạn bè của mình cho ra đời trang Thefacebook.com (đến ngày 20 tháng 9 năm 2005 thì đổi tên thành Facebook) Mục đích của Thefacebook là:
Thefacebook là một danh mục trực tuyến kết nối mọi người qua các mạng xã hội tại các trường đại học Chúng tôi lập ra Thefacebook để phục vụ nhu cầu đại chúng ở Đại học Harvard Bạn có thể sử dụng Thefacebook để: Tìm kiếm sinh viên trong trường; Tìm kiếm những người học cùng lớp với bạn; Tìm kiếm bạn bè của bạn mình; Xem hình minh họa mạng xã hội của chính mình (Kirkpatrick, 2011, tr.37)
Trang 39Việc đăng ký thành viên website ban đầu chỉ giới hạn cho những sinh viên của đại học Harvard, nhưng sau đó đã nhanh chóng được mở rộng sang các trường đại học khác của nước Mỹ, rồi đến học sinh phổ thông, nhân viên công sở và sau đó chỉ còn giới hạn là bất cứ ai trên 13 tuổi Theo báo cáo từ Vincos Blog – một Blog chuyên về các vấn đề công nghệ (tính đến hết tháng 8/2016) thì Facebook đã được
sử dụng rộng rãi tại 129/137 quốc gia trên toàn thế giới Và theo số liệu thống kê công bố trên trang statista.com, tính đến tháng 01/2016, thì Facebook có số lượt truy cập đứng thứ hai của thế giới sau Google với khoảng 1,65 tỷ thành viên tích cực trên khắp thế giới dùng hằng tháng Facebook đến thời điểm hiện tại được xem
là một MXH lớn nhất thế giới Đó gần như là một thế giới thu nhỏ, góp phần tạo ra một thế giới phẳng, nơi không còn những khoảng cách giữa thế giới thực và thế giới trên Internet
Giờ đây, MXH đã được nhân ra rộng khắp hành tinh Facebook chính là MXH lớn nhất Hàng ngày, hiếm có một học sinh hay một sinh viên nào không sử dụng Facebook hay một số trang MXH khác Những hệ thống này đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến tới mức Facebook trở thành một thông tin cá nhân của mọi người Facebook đang thay đổi nhận thức của chúng ta về cộng đồng, cả ở cấp độ khu vực lẫn cấp độ thế giới Nó có thể giúp chúng ta quay lại sự gắn bó mà chính nhịp sống ngày càng vội vã của cuộc sống hiện đại đã kéo xa khỏi chúng ta (Tuy nhiên, mặt trái của Facebook cũng đến từ chính ưu thế này, khi mà nhiều người chỉ chú tâm đến xã hội ảo thay vì giao tiếp trực tiếp với nhau) Facebook không những có tính tương tác cao, kho lưu trữ ứng dụng lớn mà còn hỗ trợ đa ngôn ngữ, phát triển sớm trên mạng di động, đồng thời, quy mô toàn cầu của Facebook, cùng lượng thông tin cá nhân mà những người sử dụng tin tưởng trao gửi cũng hứa hẹn một xu hướng về hình thức kết nối toàn cầu thực sự mới mẻ trong xã hội loài người Và hầu hết các trang MXH khác trên thế giới đều xoay quanh hoặc dựa trên
mô hình cốt lõi là Facebook McLuhan trong Hiệu ứng Facebook và cuộc cách
mạng toàn cầu của Mạng xã hội (2011), đã nhận định rằng Facebook chính là “ngôi
Trang 40làng toàn cầu” của con người Thật vậy, mọi diễn biến của cuộc sống được tái hiện lại, thậm chí diễn ra song song với nhịp sống trên các trang MXH
Tại Việt Nam, Facebook cũng luôn hiện hữu mọi lúc mọi nơi Tuy mới xuất hiện từ cuối năm 2009, nhưng ngay sau đó Facebook đã nhanh chóng thu hút một lượng lớn người dùng Việt Nam và con số này tăng nhanh chóng qua từng năm Facebook đã thực sự từng bước đi vào cuộc sống của giới trẻ ở Việt Nam, đặc biệt
là lứa tuổi học sinh, sinh viên Theo công bố của We Are Social, về đối tượng sử dụng Facebook ở Việt Nam thì nam giới chiếm 54% và lứa tuổi sử dụng phổ biến nhất là 20-29 tuổi, chiếm 45%, độ tuổi từ 13-19 đứng thứ hai với 30% Trong bài
Mạng xã hội: Từ góc nhìn an ninh của Quang Huy (2016) đã cho chúng ta những
con số mà các nhà nghiên cứu đã khảo sát về lượng người dùng MXH ở nước ta, tính đến cuối năm 2015, số người truy cập MXH đã chiếm 30% dân số Trong đó,
số người dùng MXH Facebook đạt 19,6 triệu (74,1%) lượng người dùng sử dụng, trong đó có khoảng 70% người dùng Facebook có độ tuổi từ 18 đến 34
Qua các số liệu khảo sát cho thấy đối tượng sử dụng Facebook chủ yếu là
sinh viên Lý giải điều này, Kirkpatrick (2011) trong quyển Hiệu ứng Facebook có
đề cập: “Thành công tột bậc của Facebook phần lớn là nhờ nó đã bắt đầu từ trường đại học Đó là nơi mạng xã hội của mọi người dày đặc nhất và nhìn chung là nơi họ hòa nhập mạnh mẽ nhất so với bất kỳ thời điểm nào khác trong đời.” (tr.37) Điều này cũng dễ hiểu bởi Facebook được tạo nên bởi một nhóm sinh viên, xuất phát từ nhu cầu kết nối, chia sẻ,… của sinh viên nên Facebook luôn cải tiến, thay đổi để đáp ứng mọi nhu cầu của giới trẻ
1.2.2 “Ngôn ngữ teen”
1.2.2.1 Khái niệm
Trong tiếng Anh, từ “teenage” dùng để chỉ các thanh thiếu niên có độ tuổi từ
13 đến 19 Cách gọi này được hình thành trên yếu tố “teen” ở các số: thirteen (13), fourteen (14), fifteen (15), sixteen (16), seventeen (17), eighteen (18), nineteen (19) Đây là từ chỉ lớp tuổi mới lớn đến độ trưởng thành Trong tiếng Việt, từ định danh