1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khi loài vật lên ngôi của karel čapek dưới lăng kính xã hội học văn học

121 73 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Khi loài vật lên ngôi của Karel Čapek dưới lăng kính xã hội học văn học
Tác giả Võ Trần Thùy Trâm
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Hữu Hiếu
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình này đã trình bày một cách khái quát xã hội học văn học tại Việt Nam, những đặc trưng cơ bản cũng như giới thiệu nội dung chính xã hội học văn học của Lucien Goldmann, Robert E

Trang 1

VÕ TRẦN THÙY TRÂM

NGHIÊN CỨU KHI LOÀI VẬT LÊN NGÔI CỦA KAREL ČAPEK

DƯỚI LĂNG KÍNH XÃ HỘI HỌC VĂN HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LÝ LUẬN VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2019

Trang 2

VÕ TRẦN THÙY TRÂM

NGHIÊN CỨU KHI LOÀI VẬT LÊN NGÔI CỦA KAREL ČAPEK

DƯỚI LĂNG KÍNH XÃ HỘI HỌC VĂN HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60220120

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LÝ LUẬN VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN HỮU HIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2019

Trang 3

Tôi xác nhận học viên Võ Trần Thuỳ Trâm đã sửa chữa và bổ sung luận văn

“Nghiên cứu Khi loài vật lên ngôi của Karel Čapek dưới lăng kính xã hội học văn

học” theo góp ý của Hội đồng chấm luận văn Cao học Lý luận văn học, khóa 2016 - đợt 01 tiến hành ngày 16/04/2019

TPHCM, ngày 20 tháng 05 năm 2019

Người hướng dẫn

PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu

Trang 4

Các tư liệu trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Võ Trần Thùy Trâm

Trang 5

phát triển những ý tưởng của tôi Cảm ơn các thầy cô đã tận tình truyền dạy kiến thức cho tôi Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh và ủng hộ tôi

TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2018

Võ Trần Thùy Trâm

Trang 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 2

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Kết cấu của đề tài 11

CHƯƠNG 1: 12

NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT 12

1.1 Xã hội học văn học và hướng tiếp cận với Khi loài vật lên ngôi của Karel Čapek 12 1.1.1 Vài nét về thuật ngữ xã hội học văn học 12

1.1.2 Hướng tiếp cận xã hội học văn học và trường hợp Khi loài vật lên ngôi của Karel Čapek 18

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Karel Čapek – nhà văn nhân đạo chủ nghĩa 29

Tiểu kết 40

CHƯƠNG 2: 41

KHI LOÀI VẬT LÊN NGÔI – SỰ KIẾN TẠO THẾ GIỚI HIỆN THỰC 41

2.1 Cấu trúc và tái cấu trúc thực tại 41

2.2 “Thời đại Sa giông” và tương lai nhân loại 52

2.2.1 Thế giới trong thời đại sa giông 52

2.2.2 Nhân loại theo “bước tiến văn minh” 56

2.3 Hệ thống toàn thể và phân mảnh của xã hội sa giông 63

2.3.1 Xã hội sa giông như một thế giới “ngụy nhân loại” 64

2.3.2 Tính nghịch dị trong hình tượng sa giông 69

Tiểu kết 75

CHƯƠNG 3: 77

KHI LOÀI VẬT LÊN NGÔI TRONG TƯƠNG QUAN THỂ LOẠI VÀ TIẾP NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ 77

3.1 Từ “không tưởng” đến “phản không tưởng” – sự quy chiếu nỗi bất an của con người 77

3.1.1 Thể loại như một phương thức truyền tải tư tưởng 77

3.1.2 Triển vọng của tiểu thuyết phản không tưởng nhìn từ Khi loài vật lên ngôi 87 3.2 Sự nghịch hợp giữa văn học hàn lâm và văn học đại chúng trong tiếp nhận của độc giả 92

3.2.1 Hài hước đen như một phương thức tri nhận thế giới 92

3.2.2 Thể loại khoa học viễn tưởng trong mối quan hệ giữa tác giả và độc giả 98

3.2.3 Hình thức báo chí mở rộng tương tác tác giả - độc giả 102

Tiểu kết 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tính dự báo của văn chương là một trong những nét khiến độc giả không khỏi giật mình và kinh ngạc bởi độ chính xác đến không ngờ của nó Những tác phẩm như thế không chỉ cho thấy cái nhìn thấu suốt của người sáng tác vào tiến trình phát triển của nhân loại mà bên cạnh đó còn vạch ra những vấn đề thuộc về

bản thể tính của con người chúng ta Và Khi loài vật lên ngôi của Karel Čapek

chính là một tác phẩm như thế Là nhà văn Tiệp Khắc1 có cái nhìn trước thời đại, những sáng tác của Čapek đã mở ra những vấn đề không chỉ của thế kỉ XX mà cho

đến ngày hôm nay vẫn mang tính thời sự nhức nhối Trong tác phẩm Khi loài vật

lên ngôi, hệ thống đề tài được nêu ra trải dài trên nhiều lĩnh vực, đề cập những khía

cạnh đời sống xã hội Nếu nhiều người xếp tác phẩm vào thể loại khoa học viễn tưởng cùng việc vẽ ra một xã hội không tưởng thì chính bản thân tác giả nêu lên rằng “Đây không phải là viễn tưởng, mà là hiện thực Đây không phải là những suy đoán về những gì trong tương lai, mà là tấm gương phản chiếu cái đang tồn tại và chúng ta đang sống chung với nó”

Những điều đe dọa đến đời sống của con người về cơ bản xuất phát từ chính trong lòng xã hội chúng ta Những vấn đề về sự phát triển quá độ của khoa học kĩ thuật, những cuộc cách mạng sinh học cùng với đạo đức học trong nghiên cứu sinh học phân tử con người,… vẫn không ngừng được nhấn mạnh, hỏi và đáp và tiếp tục

được bàn luận không ngừng nghỉ Trong Khi loài vật lên ngôi, Karel Čapek dưới

hình thức trình bày đặc biệt về tiến trình phát triển của loài sa giông đã đồng thời vẽ

ra đời sống của chúng ta như một cột mốc đồng hiện với sự phát triển của “dân tộc

sa giông” Được trình bày như một cuốn sách lịch sử phát triển của loài sa giông, tác phẩm là sự giễu nhại và những lời cảnh tỉnh đối với con người Không chỉ có những nét đặc biệt về phương diện nội dung, tác phẩm còn được quan tâm bởi cách

1

Cộng hòa Tiệp Khắc (cũ) là tên gọi của Cộng hòa Séc hiện nay giai đoạn từ 1918 – 1992 Trong luận văn

này, chúng tôi thống nhất sử dụng nước Tiệp Khắc thay vì Séc theo thời điểm sáng tác Khi loài vật lên ngôi

của Čapek Tuy nhiên, về phương diện ngôn ngữ, chúng tôi vẫn sử dụng cách gọi ngôn ngữ Séc, tiếng Séc

Trang 8

trình bày dưới nhiều font chữ khác nhau, những bài báo “khoa học” gắn với những trích dẫn kĩ càng cùng những cứ liệu nhấn mạnh đến quyền lực của báo chí trong đời sống con người Chính ở đó, Karel Čapek tạo ra những giọng văn hòa trộn với nhau trong tác phẩm vừa như một cuốn nhật trình lại như một văn bản báo cáo, khơi gợi sự hứng thú và mở ra những góc nhìn dành cho độc giả Không chỉ xuất hiện

trong Khi loài vật lên ngôi mà trong nhiều sáng tác của Čapek từ kịch đến tiểu

thuyết ông đều dành sự quan tâm cho tính đối kháng giữa con người với những thế lực ẩn ngầm đang hiện diện trong đời sống Điều này như tia sáng xuyên suốt trong những tác phẩm của ông Những nhận thức thuộc về hiện tượng luận khiến cho tác phẩm Čapek luôn là một cánh cửa mở rộng đối với độc giả, hy vọng được đọc và được khai phá

Là một trong những tác phẩm đặc sắc của Karel Čapek, Khi loài vật lên

ngôi không chỉ thể hiện những góc độ mang giá trị nhân văn mà còn cho thấy sự mở

rộng giữa những ranh giới thể loại trong văn chương Tác phẩm là lời cảnh tỉnh đối với con người chúng ta trong chọn lựa đời sống của bản thân, về tính chất tất yếu của tiến trình phát triển chạy theo lợi ích kinh tế, chính trị cũng như viễn cảnh đen tối của một thế giới toàn trị Chính vì thế, nghiên cứu tác phẩm dưới lăng kính xã hội học văn học, chúng tôi hy vọng có thể góp phần làm sáng rõ được một phần giá trị tác phẩm đồng thời phần nào tìm hiểu về Karel Čapek – một nhà văn đặc biệt có những đóng góp trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật Sử dụng phương pháp xã hội học văn học trong nghiên cứu tác phẩm giúp khám phá cấu trúc xã hội được tạo dựng trong tác phẩm cũng như phần nào thể hiện những góc nhìn nghệ thuật của tác giả trong tương quan giữa nghệ thuật và đời sống

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong nghiên cứu này, về tình hình nghiên cứu xã hội học văn học tại Việt Nam, chúng tôi sử dụng nhiều cứ liệu và nghiên cứu được tổng thuật một cách rõ

ràng, có hệ thống trong công trình Xã hội học văn học của Lộc Phương Thủy,

Trang 9

Nguyễn Phương Ngọc và Phùng Ngọc Kiên được xuất bản vào năm 2014 Công trình này đã trình bày một cách khái quát xã hội học văn học tại Việt Nam, những đặc trưng cơ bản cũng như giới thiệu nội dung chính xã hội học văn học của Lucien Goldmann, Robert Escaprit – trường phái Bordeaux hay Pierre Bourdieu để từ đó có những ứng dụng vào nghiên cứu một số vấn đề trong văn học Việt Nam như trường

hợp Trần Dần hay khoảng cách thẩm mỹ tiểu thuyết dịch qua trường hợp Bà Bovary

của Gustave Flaubert ở Việt Nam… Trong phần hai của cuốn sách, một số bài tiểu luận nổi bật về xã hội học văn học đã được dịch thuật hỗ trợ cho việc tiếp cận trường phái lý luận này Tuy nhiên, như ngay từ đầu lời giới thiệu, các tác giả đã nêu rằng công trình chỉ tập trung vào phạm vi hẹp là xã hội học văn học tại Pháp

Theo đó, có thể nhận thấy xã hội học văn học đã xuất hiện từ khá sớm qua

những bài giới thiệu ngắn của Đỗ Đức Hiểu được đăng trong Lịch sử văn học Pháp

thế kỷ XX 2

Hay như trong Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại của Phương Lựu cũng đã trình bày về xã hội học văn học vĩ mô và vi mô

cũng như tổng quan về xã hội học của Robert Escarpit – chuyên gia văn học Anh

với cuốn sách Xã hội học văn học được xuất bản năm 1958 và trường phái

Bordeaux tập trung vào hướng nghiên cứu lĩnh vực xuất bản, phát hành, tiêu thụ

cũng như hành vi đọc sách

Xã hội học văn học là một bộ môn có nhiều chi nhánh và giao thoa với nhiều trường phái, chủ nghĩa khác Ví dụ như Trương Đăng Dung đã có những bài dịch như “Nghệ thuật và chân lý khách quan”, “Đặc trưng mỹ học” của Georg Lukács,

“Ảo ảnh và hiện thực” của Christopher Caudwell cũng như những bài nghiên cứu

dưới góc độ lý luận văn học Marxist Đỗ Lai Thúy trong Sự đỏng đảnh của phương

pháp cũng đã trình bày về Lucien Goldmann, trường phái cấu trúc phát sinh và nêu

sự kết hợp của chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cấu trúc như một thử nghiệm để nghiên cứu văn học Ông còn dịch một bài viết quan trọng của L Goldmann là “Phương pháp cấu trúc phát sinh trong lịch sử văn học”

2 Đặng Thị Hạnh chủ biên (2005) Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 10

Nhiều công trình về xã hội học văn học đi vào nghiên cứu văn hóa (cultural studies) trong giao thoa với văn chương đã xuất hiện tại Việt Nam Đặc biệt có thể

kể đến công trình Lý thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hóa, văn chương của

Itamar Even – Zohar đã được Trần Hải Yến và Nguyễn Đào Nguyên dịch thuật và xuất bản Công trình đề cập đến văn học dịch trong sự giao thoa văn hóa – văn học,

vị trí của văn chương đối với một quốc gia/dân tộc cũng như cho thấy đây là một hướng đi đầy triển vọng trong các lĩnh vực nghiên cứu văn hóa – văn học

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết xã hội học văn học tại Việt Nam gần đây có

thể kể đến luận văn Xã hội học thi pháp dòng chảy cuộc đời của Phạm Văn Quang3

đi vào trình bày việc ứng dụng những phương pháp nghiên cứu liên ngành như xã hội học, tâm lý học, sử học, nhân học đặt trong tương quan với văn học; cũng như tiếp cận khái niệm này dưới góc độ thể loại Với quan điểm cho rằng “Dòng chảy cuộc đời được kết tinh từ những dữ kiện cuộc đời, nhưng đó cũng là những yếu tố biểu hiện rõ nhất ý thức của con người về chính mình” (Phạm Văn Quang, 2015, tr XV), tác giả đã tiến tới nghiên cứu văn học Việt Nam Pháp ngữ dưới lý thuyết này

đi từ những hình thái diễn ngôn cơ bản đến những tác giả điển hình như Cung Giũ Nguyên, Linda Lê

Trên thực tế, nếu xét phê bình xã hội học như một hướng tiếp cận của xã hội học văn học4

thì lý thuyết này đã xuất hiện từ rất sớm và được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu, phê bình văn chương Tuy nhiên, việc ứng dụng xã hội học văn học theo những hướng tiếp cận như xã hội học tiêu thụ – chú trọng đến văn chương như một sản phẩm truyền thông đại chúng, lý thuyết trường của Bourdieu… vẫn còn khá nhiều hạn chế

Riêng về phương diện tác giả – tác phẩm, theo khảo sát của chúng tôi, hiện

vẫn chưa có công trình nghiên cứu về Khi loài vật lên ngôi của Karel Čapek ở Việt

Nam Tác phẩm có một số bài điểm sách như “Anh không thấy hối tiếc cho loài người sao?” của Phong Linh hay “Khi loài vật lên ngôi: Trượt Nobel là thiên kinh

3

Tham khảo thêm trong Phạm Văn Quang (2015) Xã hội học thi pháp dòng chảy cuộc đời TP.HCM: NXB

Đại học Quốc gia TPHCM

Trang 11

địa nghĩa” Bên cạnh đó, còn có bài trò chuyện với dịch giả tác phẩm là Đặng Thư mang tên “Đặng Thư – Một tín hữu của Đam mê và Chuyên nghiệp” trình bày một

số vấn đề trong quá trình dịch thuật tác phẩm, đặc biệt là về phương diện hình thức của ấn phẩm được xuất bản của Việt Nam đã có sự đối chiếu với bản gốc tiếng Séc - một nỗ lực trong việc truyền tải yếu tố đặc biệt này ở văn bản nguồn

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Xã hội học văn học là lĩnh vực đã có sự phát triển dài lâu trong đời sống lý luận phê bình văn học Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hướng tiếp cận này Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, là bộ môn có nhiều chi nhánh và có sự giao thoa với nhiều chủ nghĩa, trường phái khác nên trên thực tế phải đến khi

Robert Escarpit xuất bản Xã hội học văn học thì phân nhánh này mới được giới

thiệu rộng rãi đến mọi người Đến 1960, ông đã cho thành lập Trung tâm xã hội học các hiện tượng văn học tại Đại học Bordeaux Đây chính là tiền thân của Viện nghiên cứu văn học và kỹ thuật nghệ thuật đại chúng sau này5

Xã hội học là một lĩnh vực nghiên cứu mặc dù đã có tiến trình phát triển lâu dài nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX với công trình Các quy tắc của phương pháp xã

hội học (Les règles de la méthode sociologique) của Émile Durkheim mới trở thành

một bộ môn khoa học xã hội độc lập Theo đó, tiếp nối trong những năm đầu thế kỷ

XX, việc nghiên cứu xã hội học vẫn đang trong giai đoạn định hình và phát triển

Xã hội học văn học giai đoạn này tồn tại như một bộ phận của xã hội học văn hóa hay nghiên cứu chung về các loại hình nghệ thuật Chính vì thế, việc nghiên cứu về văn chương như là một bộ phận của xã hội vẫn còn hạn chế và chưa được đề cao Điển hình như trường hợp của nhà văn học sử Gustave Lanson – người sáng lập môn lịch sử văn học cho rằng nghiên cứu văn học nên được triển khai theo hai mặt, một mặt là nội tại tác phẩm với tiểu sử nhà văn, mặt khác “xem xét bối cảnh rộng hơn, có nghĩa là toàn bộ đời sống văn học vào một thời điểm lịch sử” (Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc & Phùng Ngọc Kiên, 2014, tr.29) Quan điểm của G

5 Tham khảo thêm trong Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc & Phùng Ngọc Kiên (2014) Xã hội học

văn học, Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 12

Lanson tập trung vào mối quan hệ chặt chẽ khi viết lịch sử văn học với những yếu

tố ngoại tại như xã hội, lịch sử Tuy nhiên, thời điểm này nghiên cứu liên ngành vẫn còn là một khái niệm mới mẻ và chưa nhận được sự hưởng ứng tích cực từ các bộ môn

Cùng với sự tác động của chủ nghĩa Marx thời bấy giờ, xã hội học văn học

có sự gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa này Nhiều công trình đi vào bàn luận về mối quan hệ văn chương và đời sống, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cùng sự tác động của ý thức hệ đã ra đời Đặc biệt là Georg Lukács với những công trình nghiên cứu sự phát triển lý thuyết về tiểu thuyết Hay trường phái Frankfurt với những tên tuổi nội bật như Theodor W Adorno, Walter Benjamin, Leo Löwenthal, Jürgen Habermas… là những người theo chủ nghĩa tân Marxist đã phát triển lý thuyết phê phán văn hóa, xã hội, văn học

Chịu ảnh hưởng của Georg Lukács nhưng không hoàn toàn tán thành với quan điểm văn chương phản ánh hiện thực của ông, Lucien Goldmann đã phát triển phương pháp cấu trúc phát sinh Nghiên cứu văn chương theo hướng này không chỉ trên bình diện xác lập một vũ trụ sáng tạo riêng của nhà văn về mặt văn bản mà còn tập trung vào sự tác động của bối cảnh lịch sử xã hội tới tác giả Điều này được thể

hiện chủ yếu qua hai công trình của L Goldmann là The Hidden God: a study of

tragic vision in the Pensees of Pascal and the tragedies of Racine (tạm dịch: Thượng Đế ẩn giấu: một nghiên cứu về quan điểm bi kịch trong Pensees của Pascal

và bi kịch của Racine) và Towards a Sociology of the Novel (tạm dịch: Hướng đến

Xã hội học về tiểu thuyết)

Pierre Bourdieu với công trình Quy tắc của nghệ thuật: sự hình thành và cấu

trúc của trường văn chương (Les règles de l'art) đã nghiên cứu về những tác động

của các trường với trường văn học cũng như xem xét tính tự trị của nó Ông sử dụng kết hợp những phương pháp định lượng, định tính để có thể đưa ra những nhận định

về mối liên hệ giữa các nhà văn trong những trường phái cũng như giải thích lý do cho việc chiếm giữ trong trường văn học trong một giai đoạn lịch sử cụ thể

Trang 13

Nhìn chung, qua khảo sát sơ lược về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có thể nhận thấy xã hội học văn học là một bộ môn có khối lượng nghiên cứu

đồ sộ bởi đặc tính liên ngành cũng như nội hàm của nó Tuy nhiên, có thể nhận thấy cũng chính bởi tính liên ngành này mà những công trình này không hoàn toàn chỉ thuộc về lĩnh vực này mà có sự giao thoa với những bộ môn nghiên cứu khác Đây

là một lĩnh vực rộng và không có phương pháp nghiên cứu cụ thể Chính vì thế, người viết sẽ đi vào trình bày sâu hơn về phương pháp này cũng như định hướng nghiên cứu của chúng tôi trong chương một

Về phương diện tác giả và tác phẩm, vì ngôn ngữ gốc của tác phẩm là tiếng Séc nên ở đây chúng tôi chỉ nêu ra một số bài viết và công trình nghiên cứu nổi bật

về tác giả Karel Čapek và tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Anh Nhìn chung, những công trình đi vào tìm hiểu tác giả Karel Čapek khá đa dạng, phong phú Tuy nhiên, những nghiên cứu đi sâu vào những sáng tác của ông hiện vẫn khá hạn chế

Vào năm 1962, William E Harkins đã xuất bản cuốn sách Karel Čapek đi

vào nghiên cứu những khía cạnh thẩm mỹ, quan niệm về văn chương nghệ thuật lẫn quan niệm về đời sống của Čapek

Darko Suvin trong Metamorphoses of Science Fiction: On the Poetics and

History of a Literary Genre (tạm dịch: Hình tượng hóa thân trong khoa học viễn tưởng: Về thi pháp và Lịch sử của một thể loại văn học) đã dành một chương 12

“Karel Čapek, Or the Aliens Amongst Us” (tạm dịch: “Karel Čapek, Hay là những chủng tộc khác ở giữa chúng ta”) để trình bày về một số tác phẩm khoa học viễn

tưởng của Čapek và đi vào phân tích Khi loài vật lên ngôi là tác phẩm minh chứng

cho việc chống chế độ toàn trị, các cuộc chạy đua vũ trang đang ngày càng bành trướng tại châu Âu giai đoạn đó

Vào năm 1992, Bohuslava R Bradbrook đã có bài tiểu luận “Karel Čapek and English Writers” (tạm dịch: “Karel Čapek và những nhà văn viết tiếng Anh”)

được xuất bản trong cuốn sách Politics And Literature In Eastern Europe (tạm dịch:

Chính trị và Văn chương ở Tây Âu) do Celia Hawkesworth chủ biên Trong bài luận

này, ông đã đi sâu vào những tác động của văn chương Anh đối với Čapek cũng

Trang 14

như mối quan hệ của Čapek cùng những nhà văn Anh trong bối cảnh đương thời

Ông tiếp tục nghiên cứu về Čapek trong Karel Čapek: In Pursuit of Truth,

Tolerance, and Trust (tạm dịch: Karel Čapek: Sự theo đuổi Chân lý, Lòng khoan dung và Lòng tin) Cuốn sách được xuất bản vào năm 1998 đã phân tích những khía

cạnh mang tính cốt lõi trong sáng tác của Karel Čapek như chân lý, sự khoan dung

và lòng tin vào con người… Công trình được chia làm chín chương gồm tiểu sử (Biographical), những sáng tác thời kỳ đầu (Early Writings), nhà viết kịch (The Dramatist), nhà tiểu thuyết (The Novelist), nhà văn viết truyện ngắn (The Short Story Writer), người viết truyện cổ tích (The Writer of Fairy Tales), nhà văn tiểu luận (The Essayist), người viết tiểu sử (The Biographer), nhà báo (The Journalist)

Ivan Klíma – nhà lý luận văn học nổi tiếng người Tiệp Khắc cũng đã nghiên

cứu về Čapek và cho xuất bản cuốn sách Karel Čapek: Life and Work và được

Norma Comrada dịch sang tiếng Anh Công trình này thể hiện cái nhìn sâu sắc về những giá trị trong sáng tác, tiểu luận của Čapek và lý giải phần nào sự đứt gãy trong tiếp nhận Čapek xuất phát từ bối cảnh chính trị rối ren tại Tiệp Khắc từ Thế chiến thứ Hai

Peter Swirski vào năm 2005 đã xuất bản From Lowbrow to Nobrow - Part II:

Nobrow: Varieties of Artertainment (Tạm dịch: Nobrow: Các dạng nghệ thuật giải trí, Chapter 4: Karel Čapek and the Politics of Memory) nghiên cứu những tác phẩm văn chương mà vị trí của chúng khi xem xét dưới khía cạnh thể loại tác phẩm thường bị đánh giá là ít giá trị, mà cụ thể là khoa học viễn tưởng (sci-fi) Trong sự đối chiếu với văn chương hàn lâm, ông làm sáng rõ vị trí của văn hóa đại chúng trong đời sống văn hóa, đặc biệt là tại Mỹ Đặc biệt ông đánh giá cao những cách tân của Karel Čapek trong sáng tác, sự chú ý của ông trong hình thức trình bày tác phẩm cùng vai trò của người cầm bút và sự quan tâm đến những vấn đề thời đại

Nghiên cứu về hình tượng nhân vật trong sáng tác của Čapek có thể kể đến

công trình Literature After Darwin: Human Beasts in Western Fiction 1859 – 1939

(tạm dịch: Văn học sau Darwin: Quái vật người trong tiểu thuyết phương Tây 1859 – 1939) của Virginia Ritcher Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu về hình

Trang 15

tượng nhân vật “quái thú người” được sử dụng trong nhiều tiểu thuyết phương Tây trong mối quan hệ ảnh hưởng bởi học thuyết của Darwin và đưa ra một số lý giải về hình tượng này trong tiểu thuyết của Čapek

Thomas Ort trong Art and Life in Modernist Prague: Karel Čapek and His

Generation, 1911 – 1938 (tạm dịch: Nghệ thuật và Đời sống ở Tiệp Khắc hiện đại: Karel Čapek và Thế hệ của ông, 1911 – 1938) nghiên cứu về Čapek và thế hệ nhà

văn Tiệp Khắc cùng những khía cạnh như văn hóa, nghệ thuật kiến trúc, triết học và văn học… những năm đầu thế kỷ XX trong tương quan với bối cảnh châu Âu bấy giờ Thomas Ort đã xem xét sự ảnh hưởng của Čapek với nhiều nhà văn, đặc biệt khi xem xét trên phương diện nhận thức, thẩm mỹ

Adam Lawrence (2014), Environments in Science Fiction: Essays on

Alternative Spaces – Part II: Shifting Worlds Through Re-Creation – Karel Čapek‟s War with the Newts – Deterritorializing Land and Language (tạm dịch: Môi trường trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng: Tiểu luận về những không gian thay thế -

Phần II: Chuyển đổi những thế giới thông qua tái sáng tạo – Khi loài vật lên ngôi

của Karel Čapek - Giải lãnh thổ hóa và ngôn ngữ), McFarland, USA đã đi vào nghiên cứu sự chuyển dịch không gian trong những tác phẩm khoa học viễn tưởng

trong mối lien hệ với môi trường

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu của đề tài:

- Đặt tác phẩm dưới lăng kính xã hội học văn học để cắt nghĩa những chủ đề trong tác phẩm

- Trình bày được hình thức văn bản tác phẩm như một phương tiện tiếp cận độc giả

- Cho thấy được mối liên hệ giữa tác phẩm với những vấn đề mang tính xã hội

Từ đó, nhiệm vụ của đề tài được xác định như sau:

- Trình bày diễn ngôn tác phẩm dưới lăng kính xã hội học văn học

Trang 16

- Cho thấy được hình thức văn bản với sự tiếp cận độc giả trong trường hợp cụ

thể là tiểu thuyết Khi loài vật lên ngôi

- Nêu được sự pha trộn đa thể loại, bút pháp của nhà văn trong sáng tác với

tiếp nhận của độc giả

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tác phẩm Khi loài vật lên ngôi của

Karel Čapek qua bản dịch của Đặng Thư do Nhà xuất bản Tao Đàn xuất bản năm

2017

Đề tài tập trung nghiên cứu tác phẩm Khi loài vật lên ngôi dưới lăng kính xã

hội học văn học đặt trong hệ thống đề tài cũng như chính nghệ thuật trần thuật của câu chuyện Chính vì thế, chúng tôi sẽ đi sâu vào nội dung cũng như kết cấu trong tương quan, ảnh hưởng tạo thành những hệ thống đề tài Bên cạnh đó, chúng tôi đặt tác phẩm với những vấn đề mang tính xã hội để cho thấy giá trị của tác phẩm

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng một số phương pháp phổ thông như phương pháp phân tích và tổng hợp để đi vào phân tích tác phẩm cùng tư liệu, phương pháp so sánh nhằm làm rõ nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm với những tác phẩm cùng thể loại Cùng với đó là phương pháp tiếp cận lịch sử - xã hội để nghiên cứu tác phẩm trong mối tương quan với các yếu tố lịch sử - xã hội và phương pháp tiếp cận tâm lý học để làm rõ những yếu tố thuộc về tâm lý trong nội dung tác phẩm

Về phương pháp chuyên ngành, chúng tôi sử dụng phê bình xã hội học nhằm đưa ra được tương quan giữa cấu trúc nghệ thuật cùng những vấn đề xã hội trong tác phẩm Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp tự sự học để nghiên cứu phương thức trần thuật trong sự kết hợp giữa các yếu tố cấu thành tác phẩm nhằm truyền tải cốt truyện

Trang 17

6 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Khi loài vật lên ngôi – Những tiền đề lý thuyết (29 trang – từ

trang 12 đến trang 40): Trong chương này, nhiệm vụ đặt ra của chúng tôi là làm rõ những hướng tiếp cận của xã hội học văn học cũng như hướng tiếp cận mà người

viết lựa chọn đối với tác phẩm Khi loài vật lên ngôi của Karel Čapek Điều này

tránh cho việc sa đà khi nghiên cứu vì xã hội học văn học là một khái niệm mở và

có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Cùng với đó, chúng tôi đi vào trình bày tiểu sử và tư tưởng, quan điểm nghệ thuật của Karel Čapek để làm tiền đề cho việc phân tích tác phẩm này trong những chương sau

Chương 2: Khi loài vật lên ngôi – Sự kiến tạo thế giới hiện thực (36 trang –

từ trang 41 đến trang 76): Với những tiền đề đã trình bày ở chương 1, trong chương này chúng tôi đi vào làm rõ yếu tố cấu thành nên sự tạo lập thế giới cũng như khám

phá tương quan giữa con người và sa giông trong tác phẩm Khi loài vật lên ngôi của

Karel Čapek Từ đó, chúng tôi đi tới chứng minh mối quan hệ mang tính biện chứng giữa hai đối tượng này trong việc thiết lập cấu trúc tác phẩm Bên cạnh đó, chúng tôi muốn chỉ ra rằng thế giới hiện thực này luôn tồn tại bởi nó thuộc về con người,

đó là hiện thực của nhân loại hơn là sự không tưởng

Chương 3: Khi loài vật lên ngôi trong tương quan thể loại và tiếp nhận của

độc giả (31 trang – từ trang 77 đến trang 107): Trong chương này, chúng tôi hướng tới việc nhìn nhận tác phẩm như một sự kiến tạo thực tại xã hội không chỉ xuất phát

từ bản thân của hiện thực mà còn nằm trong tính nhận thức của tác giả cho đến độc giả Việc xem xét thể loại tác phẩm cũng hướng đến việc làm sáng tỏ hơn tương quan giữa tác phẩm và độc giả cũng như giúp lý giải rõ hơn vì sao sáng tác của Čapek nói chung giai đoạn đó lại nhận được sự đón nhận của nhiều độc giả Cùng với đó, chúng tôi đi vào việc lựa chọn thể loại khoa học viễn tưởng của tác giả trong bầu sinh quyển của xã hội thời bấy giờ để cho thấy mối quan hệ giữa hình thái xã hội thời bấy giờ với hình thức của tác phẩm

Trang 18

CHƯƠNG 1:

NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT

Trong chương này, nhiệm vụ đặt ra của chúng tôi là làm rõ những hướng tiếp cận của xã hội học văn học cũng như việc lựa chọn của người viết khi tiếp cận tác

phẩm Khi loài vật lên ngôi của Karel Čapek dưới lăng kính này Điều này tránh cho

việc sa đà khi nghiên cứu vì xã hội học văn học là một lĩnh vực khá rộng và có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Cần nhấn mạnh rằng chúng tôi sẽ không đi vào trình bày lịch sử tổng quát của bộ môn xã hội học văn học mà chỉ điểm qua những trọng tâm về hướng tiếp cận nghiên cứu theo xã hội học văn học Cùng với đó, chúng tôi đi vào trình bày tiểu sử và tư tưởng, quan điểm nghệ thuật của Karel Čapek để làm tiền đề cho việc phân tích tác phẩm này trong những chương sau

1.1 Xã hội học văn học và hướng tiếp cận với Khi loài vật lên ngôi của Karel

Čapek

1.1.1 Vài nét về thuật ngữ xã hội học văn học

Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, để đưa ra một khái niệm rõ ràng và cụ

thể về xã hội học văn học (sociology of literature) không phải là một điều đơn giản,

dễ dàng Trên thực tế, khó khăn ở đây xuất phát từ chính tính “động” và “mở” của thuật ngữ Xã hội học văn học “không phải là một ngành khoa học thống nhất về đối tượng, cách đặt vấn đề và phương pháp” (Endruweit G & Trommsdorff G.,

2002, tr 858) John Hall trong công trình The Sociology of Literature (Xã hội học

văn học) của mình đã nhấn mạnh rằng chính trong lĩnh vực xã hội học thì xã hội

học văn học cũng không phải là một phương pháp được ưa chuộng bởi nó chưa được định nghĩa một cách có hệ thống và chuẩn hóa rõ ràng Thậm chí ba tác giả Priscilla Ferguson, Philippe Dean và Wendy Griswold trong tiểu luận “Mirrors, Frames, and Demons: Reflections on the Sociology of Literature” (tạm dịch: “Tấm gương, Khung và Con quỷ: Phản ánh trong Xã hội học văn học”) nêu lên rằng đây

là một lĩnh vực gợi ra sự phủ định trước khi được khẳng định và không được thiết

Trang 19

lập thành một lĩnh vực nghiên cứu với những nguyên tắc cụ thể Lý giải cho sự phủ định này của xã hội học văn học có thể xuất phát từ chính sự bao trùm và giao thoa với nhiều chủ nghĩa, hệ thống lý luận văn học; đặc biệt là vào thế kỷ XX với “bước ngoặt của ngôn ngữ”, sự xuất hiện của chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa Hình thức Nga tập trung nghiên cứu cấu trúc của văn bản hay đến những năm 60 với giải cấu trúc, hậu hiện đại, lý thuyết tiếp nhận tập trung vào văn bản – độc giả Việc giao thoa này

khiến nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ về sự tồn tại của lĩnh vực xã hội học văn học

Một trong những vấn đề thường gặp khi xem xét thuật ngữ xã hội học văn học xuất phát từ sự không đồng thuận, bất đồng quan điểm của những nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội học và lý luận văn học (mà cụ thể ở đây chính là sự nhập

nhằng giữa hai thuật ngữ xã hội học văn học và phê bình xã hội học) Xét về mặt từ

nguyên, xã hội học văn học có thể hiểu đơn giản là hướng đi xuất phát từ xã hội học

để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và xã hội Theo Gisèle Sapiro, xã hội học

văn học “coi văn chương như một hiện tượng xã hội trong đó có nhiều định chế và

cá nhân tham gia vào sản xuất, phân phối, tiêu thụ và phê bình các tác phẩm Đồng thời cũng có nghĩa là quan tâm tới những dấu ấn của thời đại và đặc trưng của xã hội nằm trong các văn bản sáng tác văn chương” (dẫn theo Trần Hữu Quang, 2016,

tr.1) Tuy nhiên, trong The Concise Oxford Dictionary of Literary Terms (tạm dịch:

Từ điển thuật ngữ văn học giản yếu) của Chris Baldick, thuật ngữ xã hội học văn học được định nghĩa như sau:

Xã hội học văn học là một phân nhánh của nghiên cứu văn học khảo sát mối liên hệ giữa tác phẩm văn học và bối cảnh xã hội của nó, bao gồm hình thức văn bản, độc giả, phương thức xuất bản, trình diễn kịch nghệ và tầng lớp xã hội của tác giả và độc giả Xã hội học văn học có nguồn gốc từ Pháp từ thế

kỷ 19 cùng những công trình của Mme de Stael và Hippolyte Taine Với

công trình nghiên cứu The Long Revolution (tạm dịch: Cuộc cách mạng dài

lâu) của Raymond Williams6 được xuất bản vào năm 1961, phân nhánh này

6

Raymond Henry Williams (1921 - 1988) là nhà phê bình, nhà văn người Mỹ Những công trình nghiên cứu

về văn hóa đại chúng, chính trị đem lại nhiều đóng góp cho sự phát triển của ngành nghiên cứu văn hóa (cultural studies), nghệ thuật và cả nghiên cứu hậu thực dân

Trang 20

được các nước nói tiếng Anh quan tâm trở lại và thường kết hợp với phương pháp Marxist để phân tích văn hóa (Baldick, 1990, tr.311)

Rõ ràng là nếu đặt định nghĩa theo Từ điển thuật ngữ văn học giản yếu trong

thế đối sánh với những định nghĩa trong từ điển xã hội học thì có thể nhận thấy được một sự khác biệt cơ bản trong điểm nhìn của người nghiên cứu khi các nhà xã hội học xem xã hội học văn học là một bộ phận của xã hội học nói chung và xã hội học văn hóa nói riêng Họ cho rằng xã hội học văn học là thuật ngữ để chỉ bộ môn thuộc xã hội học văn hóa, một hình thái phái sinh để xem xét tác phẩm như sản phẩm tất yếu của văn hóa, xã hội và là một nguồn tư liệu bổ sung cho sự tìm hiểu

của những nhà xã hội học Mục “xã hội học văn hóa” của Từ điển bách khoa tri

thức (Encyclopedia) nêu lên “việc phát triển xã hội học văn học để nghiên cứu mối

quan hệ giữa người viết, tác phẩm và công chúng Lĩnh vực này cũng tìm hiểu sự thay đổi trong diễn giải là kết quả những thay đổi trong phong cách nhà văn và nhà phê bình (R Escarpit và L Goldmann), cũng như sự phản ánh trong văn học về các giá trị, những khuôn mẫu và định kiến của độc giả (B Berelson và L Loewenthal)” Chính những khía cạnh này khiến khoa nghiên cứu văn học cho rằng xã hội học văn học chỉ xem văn chương đơn thuần như một sản phẩm phục vụ cho việc tìm kiếm những câu hỏi của chuyên ngành xã hội học Đây là một trong những lý do gây ra tranh cãi giữa khoa nghiên cứu văn học và ngành xã hội học

Trong những nghiên cứu lý thuyết văn học tại Việt Nam chúng ta cũng có

thể thấy được sự nhập nhằng khi cắt nghĩa thuật ngữ này Phương Lựu trong Lý

luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX đã chia xã hội học văn học thành xã

hội học văn học vĩ mô và xã hội học văn học vi mô Theo cách định nghĩa này, phê bình xã hội học (được xếp vào xã hội học văn học vi mô) chính là một tập con của

xã hội học văn học Ngược lại, chính phê bình xã hội học trong nghiên cứu văn học hiện đại lại xem xã hội học văn học như là một bộ phận của nó Cùng với đó, trong

công trình Tư tưởng văn hóa văn nghệ của chủ nghĩa Marx phương Tây, Phương

Lựu đã cung cấp những thông tin về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx phương Tây Việc nhìn nhận những quan điểm

Trang 21

về thể loại, cách thức tiếp cận vấn đề cùng với quan điểm, cái nhìn về “phản ánh” trong văn học của các nhà tư tưởng như Georg Lukács, Ernst Fisher, Lucien Goldmann, Jean-Paul Sartre… đã cho thấy tầm quan trọng khi đặt văn chương và xã hội trong mối quan hệ biện chứng để từ đó đưa ra những giải thích không chỉ về tác phẩm, người viết mà còn về con người cùng đời sống Chính tiến trình vận động của chủ nghĩa Marx phương Tây được trình bày trong công trình này cũng được xem xét như đường hướng phát triển của phương pháp xã hội học văn học trong cách nhìn của những nhà nghiên cứu khi có sự giao thoa nhất định về đối tượng lẫn phạm

vi nghiên cứu Ở đây, việc tiếp nhận thông tin từ Phương Lựu giúp chúng tôi nhận thấy được phần nào lý do nhiều nhà xã hội học đã vận dụng và phát triển chủ nghĩa Marx thành những đường hướng khác nhau như trường phái Frankfurt, chủ nghĩa Marx mới, chủ nghĩa cấu trúc phát sinh… cùng với những áp dụng vào việc nghiên cứu văn học

Vấn đề nhập nhằng của thuật ngữ này cũng được trình bày trong bài viết “Xã

hội học văn học, lĩnh vực nghiên cứu văn học đặc thù” của hai tác giả Lộc Phương

Thủy và Nguyễn Phương Ngọc Tác giả đã tổng quan một cách khá đầy đủ về phương pháp nghiên cứu này cũng như đã đi đến khẳng định rằng:

Xã hội học văn học là một lĩnh vực nghiên cứu khá đặc biệt Nếu xét từ góc

độ mối quan hệ giữa xã hội và văn học, xã hội học văn học có nhiều phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau trên cơ sở chung là việc khẳng định có mối quan hệ ấy (Lộc Phương Thủy & Nguyễn Phương Ngọc, 2012)

Rõ ràng khi trình bày về lĩnh vực nghiên cứu này, Lộc Phương Thủy và Nguyễn Phương Ngọc đã đưa ra những thông tin về sự phát triển của nó trong “tính tương đối” của người nghiên cứu, cách sử dụng nó để tiếp cận và giải quyết vấn đề Theo đó, xã hội học văn học đã có những bước tiến gần về phía người đọc, nghiên cứu về xã hội học của sự đọc, phê bình phản hồi tiếp nhận độc giả hay tập trung vào ngành xuất bản Hai tác giả đưa ra quan điểm của Claude Duchet về hai thuật ngữ

xã hội học văn học và phê bình xã hội như sau:

Trang 22

Phê bình xã hội học nằm ở giữa xã hội học sáng tạo, xã hội học văn học và

xã hội học của sự đọc Nó quan tâm đến mối quan hệ của con người với xã hội Nghiên cứu văn bản với tư cách là một sản phẩm ngôn ngữ, nó nhằm đến việc thấu hiểu cấu trúc những câu phát biểu mà qua hoạt động xã hội đã tạo ra những các câu phát biểu ấy (Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc

Như vậy, nhìn chung từ cách phân chia của nhiều nhà nghiên cứu có thể nhận thấy khái niệm về xã hội học văn học từ hai phía có một chỗ giao thoa nhất định Nếu xã hội học văn học xem phê bình xã hội học là một bộ phận nhỏ thì ngược lại, phê bình xã hội học theo tiến trình vận động của nó cũng xem xét xã hội học văn học như một tập con của nó Với nhiều nhà nghiên cứu xã hội học, thuật ngữ xã hội học văn học chỉ mang đầy đủ hàm nghĩa của nó bắt đầu từ khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, đặc biệt với Robert Escarpit và trường phái Bordeaux khi sử dụng đến những phương pháp định lượng, nghiên cứu thực nghiệm và quan tâm đi sâu vào những yếu tố như nhà xuất bản, doanh thu, thị trường tiêu thụ, tầng lớp độc giả đương thời, v.v… Mặc dù đây là một bước đánh dấu sự chuyển mình lớn trong ngành nghiên cứu này nhưng quả thật cho đến ngày nay, thuật ngữ xã hội học văn học khi được sử dụng vẫn là một sự kết hợp, dung hợp những hướng nghiên cứu truyền thống lẫn hiện đại theo tiến trình vận động của nó Priscilla Ferguson, Philippe Dean và Wendy Griswold thậm chí cho rằng cách sử dụng của thuật ngữ này như một cái “ô quá cỡ” bao trùm cho những phương thức nghiên cứu văn chương trong mối quan hệ với xã hội và những hoạt động này được tiến hành trong

Trang 23

một truyền thống trí tuệ và bối cảnh thể chế đơn thuần Cách thức hoạt động của kết hợp liên ngành tại Mỹ và các nước châu Âu vì thế cũng có sự khác biệt khi truyền thống Mỹ thiên về thực dụng còn các nước châu Âu lại có nền tảng lý thuyết rộng

và đa dạng

Nhìn nhận một cách tổng quát, nghiên cứu văn chương từ góc nhìn xã hội học cần được đặt trong tương quan với những khía cạnh khác trong xã hội bên cạnh việc tìm hiểu cấu trúc văn bản Xã hội học văn học là hướng đi tập trung vào nghiên cứu nội tại lẫn ngoại tại của văn bản nghệ thuật Những khía cạnh về chú giải, tường giải văn bản tại bất cứ thời điểm nào cũng có sự gắn bó chặt chẽ với bối cảnh xã hội

và việc xem xét những mối quan hệ biện chứng hỗ trợ cho việc tìm hiểu giá trị của tác phẩm Sự chuyển dịch của những hệ hình nghiên cứu là một sự vận động tiếp biến, luôn luôn diễn ra, hỗ trợ và thống nhất nhưng đồng thời vẫn tồn tại những mâu thuẫn Những mâu thuẫn cơ bản trong phương pháp nghiên cứu này đa phần xuất phát từ sự cực đoan hóa trong đường hướng tiếp cận Tuy nhiên, như đã nhấn mạnh ngay từ đầu rằng xã hội học văn học là một thuật ngữ “rộng” - “động” và có tính quy nạp, mở rộng chính bản thân nó nên xu hướng của nó chính là dung hợp với phương pháp nghiên cứu liên ngành (đặc biệt ở đây phải kể đến văn hóa học, tâm lý học, v.v…) Sự liên kết này đang ngày càng được quan tâm và vận dụng trong lý luận văn học Theo tiến trình vận động, xã hội học văn học còn đặt trọng tâm nghiên cứu vào những tác phẩm (đặc biệt là thể loại tiểu thuyết) trong tính thực nghiệm của

nó với đời sống xã hội, vận dụng nó trong kích phát trí tưởng tượng để vận dụng vào việc xây dựng xã hội Việc vận dụng xã hội học văn học không chỉ được thực hiện dưới một hình thái đối trọng một – một giữa văn bản và bối cảnh mà được nhìn nhận trong tính bổ sung, tổng hợp, trong việc xem xét xã hội hiện thực lẫn không gian khả thể tương lai Chính việc không cực đoan một khía cạnh nào về nội tại – ngoại tại của bộ môn xã hội học văn học đã mở ra một không gian rộng lớn cho việc nghiên cứu liên ngành nhưng đồng thời cũng có thể đặt ra khó khăn trong việc triển khai nếu không có một đường hướng cụ thể trong việc lựa chọn tiếp cận vấn đề Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực này chưa có sự thống nhất mà phụ

Trang 24

thuộc vào hướng tiếp cận vấn đề của người nghiên cứu sẽ được chúng tôi trình bày trong phần tiếp theo

1.1.2 Hướng tiếp cận xã hội học văn học và trường hợp Khi loài vật lên ngôi

của Karel Čapek

Tiếp nối vài nét về thuật ngữ xã hội học văn học ở phần trên, trong phần này, chúng tôi đi vào trình bày những hướng đi cơ bản của phương pháp này theo cả truyền thống lẫn hiện đại Lịch sử hình thành và phát triển thuật ngữ xã hội học văn học cũng cho thấy phần nào những cách tiếp cận và sử dụng văn bản nghệ thuật trong tương quan với bối cảnh xã hội để từ đó có những kiến giải, những câu trả lời phục vụ cho nhu cầu của người nghiên cứu Tiến trình vận động của lý thuyết này nói một cách nào đó như là một lời đáp cho câu hỏi về mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực (đây thực sự chính là một trong những khía cạnh được đặt ra ngay từ những công trình lý luận văn học đầu tiên) Những sự cải biến, hình thức biến chuyển trong cách đặt và nhìn nhận vấn đề là những khác biệt cơ bản trong việc sử dụng những hướng đi của lĩnh vực để tiếp cận văn bản nghệ thuật và xã hội trong mối quan hệ chặt chẽ của chúng

Những hướng tiếp cận của xã hội học văn học được phân chia dựa vào đối tượng, phạm vi nghiên cứu và dựa vào đó để đưa ra câu trả lời cho vấn đề cốt yếu, mục đích và nhu cầu mà người nghiên cứu đặt ra trong công trình của mình Mặc dù

ở phần trên chúng tôi đã đi đến khẳng định rằng xã hội học văn học ngày nay là một lĩnh vực đi vào cả nội tại và ngoại tại của tác phẩm nhưng trên thực tế những hướng tiếp cận vẫn thể hiện sự thiên lệch nhất định, có thể nhận thấy điều này giữa những giai đoạn xã hội học văn học: giai đoạn tiền xã hội học – giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX khi bộ môn xã hội học được hình thành – giai đoạn xã hội học văn chương hiện đại hình thành từ năm 1961

Pierre Ansart nêu sáu hướng nghiên cứu xã hội học văn chương7 gồm:

7 Chúng tôi tiếp cận những hướng nghiên cứu xã hội học văn học của Pierre Ansart dựa trên Giáo trình Xã

hội học văn chương của Trần Hữu Quang, trang 3-4 Vì trở ngại ngôn ngữ nguồn - nghiên cứu của P Ansart

là tiếng Pháp nên chúng tôi đã triển khai, mở rộng những hướng đi này với kiến thức mà người viết đã thu

Trang 25

- Thông qua tác phẩm để từ đó tái hiện lại xã hội đương thời

- Đi sâu vào giải quyết mối quan hệ giữa thực tại xã hội với tác phẩm

- Lý giải tương quan giữa các hình thái xã hội với văn bản nghệ thuật, thể loại, ngôn ngữ tác phẩm và phong cách tác giả

- Tập trung vào người viết, vị trị xã hội, vai trò của họ trong bối cảnh xã hội bấy giờ

- Nghiên cứu xã hội học thị trường xuất bản, các nhà xuất bản, hệ thống sản xuất và phân phối sản phẩm nghệ thuật

- Nghiên cứu về độc giả cùng những yếu tố tác động đến sự lựa chọn sản phẩm văn chương lẫn tiếp nhận của họ

Trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn hệ thống phân chia của Pierre Ansart bởi nhận thấy đây là sự phân chia khá bao quát cho những hướng tiếp cận xã hội học văn học truyền thống lẫn hiện đại Theo sự phân chia của P Ansart, hướng tiếp cận đầu tiên của xã hội học văn học được sử dụng tập trung vào việc tìm kiếm những yếu tố xã hội trong tác phẩm để từ đó tái hiện một xã hội chân thực với đầy

đủ những hoạt động và xung đột Theo cách thức này, những tác phẩm mang xu hướng hiện thực hay mang tính biểu hiện xã hội thường được sử dụng như một nguồn tư liệu phục vụ cho việc phát hiện những vấn đề xã hội Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, nhiều nhà nghiên cứu văn học không đồng tình khi các nhà xã hội học đã biến những tác phẩm văn chương thành những bản tư liệu trống rỗng với những sự kiện đơn thuần mà hoàn toàn bỏ qua những yếu tố nghệ thuật Thế nhưng, trong tiến trình vận động của bản thân xã hội học văn học với xu thế dung hợp, nhà nghiên cứu văn học hoàn toàn có thể sử dụng những kết quả này để phục vụ cho mục đích của mình Nhiều nhà xã hội học văn học đi theo hướng này chỉ tập trung

tiếp cận một số lượng lớn văn bản của mỗi giai đoạn và thiết lập những hệ thống dữ

kiện nhằm đưa ra những nhận định về đời sống xã hội cũng như đề xuất những giải pháp để cải thiện nó Peter Forster và Celia Kenneford trong bài tiểu luận

“Sociological theory and the sociology of literature” (tạm dịch: “Lý thuyết xã hội học và xã hội học văn học”) đã nhấn mạnh rằng xã hội học văn học khi được dùng

Trang 26

với đúng bản chất của nó cần “bỏ qua” những nhận định của những nhà phê bình văn học để tránh việc chỉ tìm kiếm thông tin ở những tác phẩm kinh điển và đã nhận được sự công nhận của giới hàn lâm Ở khía cạnh này, xã hội học như thế hoàn toàn

có thể trở thành một phương pháp hữu ích để nhà nghiên cứu văn học đưa ra những nhận định, đánh giá trở lại, phát hiện những tác phẩm giá trị đã bị bỏ qua bởi những yếu tố khách quan hoặc thậm chí lý giải về những hiện tượng văn học đã qua và thoát ra khỏi những định kiến đã bám trụ lâu trong đời sống lý luận phê bình văn học, tránh được những lối mòn nghiên cứu

Với hướng tiếp cận thứ hai, xã hội học văn học đã có sự chuyển dịch trong việc đặt mối quan hệ giữa nội tại và ngoại tại trên trục tương đương để từ đó lý giải một thứ “hiện thực” ẩn tàng trong tác phẩm Ở đây, chúng ta cần có một sự nhìn nhận rõ ràng rằng hiện thực này không đơn thuần là những yếu tố xã hội được cài

cắm trong tác phẩm và cũng không nên đặt nặng sự phản chiếu gương (mirror

reflection) như hướng đi đầu tiên thường hướng tới; thứ hiện thực này hoàn toàn

không phải là sự phản ánh một đối một mà chỉ mang tính bổ trợ cho việc tìm hiểu

về xã hội Nói theo Trương Đăng Dung trong những nghiên cứu về Georg Lukács

thì tác phẩm văn chương chính là tấm gương soi về một bản chất đời sống (nghĩa là

nhấn mạnh về tính bản chất mà không phải là những hiện tượng đơn thuần) Chính

G Lukács đã mở đầu nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử của bản thân bằng nhận định rằng những tác phẩm trước Walter Scott không được xem là tiểu thuyết lịch sử bởi chúng không cho độc giả một cái nhìn lại về chính đời sống hiện tại (được hiểu theo

nghĩa hiện thực đời sống của người tiếp nhận) Tiểu thuyết của Walter Scott đã thể

hiện những khủng hoảng lớn của đời sống lịch sử và phản ánh những nguyên nhân dẫn đến sự thật trong trái tim con người 8 Theo quan điểm của G Lukács, tiểu

thuyết lịch sử cổ điển đã xuất phát từ chính đời sống con người để từ đó bộc lộ ra những nguyên nhân dẫn đến những biến động lịch sử trong xã hội Điều quan trọng

mà tiểu thuyết lịch sử cho thấy là “Mối quan hệ sinh động với hiện tại thể hiện ngay

8 Chữ dùng theo tiểu luận “Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G Lukács” (Dẫn theo Trương

Trang 27

chính trong sự vận động được mô tả của lịch sử, và tự nó sẽ nói lên”9 Thế giới mà văn bản tác phẩm được người viết xây dựng chính là một hình thức của sự phản ánh hiện thực của thế giới bên ngoài lẫn thế giới bên trong của con người Từ cái nhìn của G Lukács, xã hội học văn học như thế đi vào mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực trong một tiến trình vận động của đời sống xã hội và nghiên cứu về xã hội trong mối quan hệ với những biến đổi thể loại văn học

Chịu nhiều ảnh hưởng từ G Lukács, Lucien Goldmann đã tiếp thu và có những phát triển của riêng mình Ông đề xuất thuyết cấu trúc phát sinh để phát hiện những cấu trúc hàm nghĩa từ cấu trúc của một tác phẩm văn học L Goldmann quan niệm rằng “tính chất tập thể của sáng tạo văn học có nguồn gốc từ việc cấu trúc không gian tác phẩm tương đương với các cấu trúc tinh thần của một số nhóm xã hội, hoặc có quan hệ với chúng” (dẫn theo Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc & Phùng Ngọc Kiên, 2014, tr.329) Ngay từ tên gọi phương pháp, L Goldmann đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng trong việc sử dụng chủ nghĩa cấu trúc

để khám phá những vấn đề mỹ học của văn bản và phát hiện mối quan hệ cấu trúc văn bản với một cấu trúc tập thể bao trùm nó Ông không đồng tình với cách nghiên cứu chỉ dựa vào bối cảnh xã hội và đưa đến những kết luận mang tính chủ quan, lý giải đơn thuần tác phẩm mà phải bắt đầu với việc tìm hiểu cấu trúc văn bản Từ văn bản, người nghiên cứu có thể tìm thấy mối “tương quan đối ứng”10

với một ý thức tập thể được thể hiện chủ yếu ở mặt tư tưởng với quan niệm về thế giới Công trình

The Hidden God (Thượng đế ẩn giấu) của ông đã đi vào trình bày mối tương quan

giữa quan niệm bi kịch của Pascal với bi kịch của Racine trong mối quan hệ với giáo phái Jansen L Goldmann cho rằng khi đi sâu vào việc lý giải sự tương quan đối ứng với quan niệm về thế giới của giáo phái Jansen chúng ta có thể tìm thấy một

sự hòa hợp về mặt tư tưởng để từ đó nhận định rằng cả hai cùng tồn tại trong một cấu trúc tư duy tập thể Mối quan tâm đến cấu trúc tư tưởng tập thể còn được L

9 Dẫn theo bản dịch của Trương Đăng Dung trong Từ văn bản đến tác phẩm văn học, tr.142

10

Chữ dịch của Lộc Phương Thủy trong bài “Xã hội học trong các công trình nghiên cứu của Lucien

Goldmann” (Dẫn theo Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc & Phùng Ngọc Kiên (2014) Xã hội học

văn học Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Tr.73)

Trang 28

Goldmann phát triển hơn trong việc đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ giữa bối cảnh

xã hội và những biến đổi về mặt hình thức Trong công trình Vì một xã hội học tiểu

thuyết, L Goldmann đã đi vào trường hợp của Tiểu thuyết Mới nhằm cho thấy việc

ra đời của nó là hệ quả của những biến đổi đời sống xã hội vật hóa Thế kỷ XX

chứng kiến những biến đổi về mặt đời sống kinh tế, chính trị đã có những tác động đến đời sống con người và “vật hóa” trong những sáng tác Tiểu thuyết Mới chính là một bộ phận trong việc thể hiện được “cái hiện thực” của đời sống dưới một hình thức mới, phù hợp hơn với thời đại bấy giờ khi “đồ vật” đã có được một không gian

tự do cho sự phát triển của nó Nhìn chung, phương pháp cấu trúc phát sinh của Lucien Goldmann thể hiện quan niệm hướng đến một cái nhìn khách quan về hiện tượng văn học như một hiện tượng xã hội

Từ một vài nét cơ bản thường được sử dụng theo hướng tiếp cận thứ hai này, chúng ta có thể thấy được nghiên cứu văn chương theo hướng xã hội học văn học không chỉ đơn thuần xem tác phẩm như sản phẩm của thời đại và thuần túy đặt nặng những yếu tố xã hội được soi chiếu trong văn bản mà đã đi vào nhìn nhận những mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc văn bản với những nền tảng văn hóa xã hội Tuy nhiên, việc nghiên cứu xã hội học văn học theo hướng đi này vẫn có thể khiến người nghiên cứu bỏ qua những phương diện nghệ thuật của tác phẩm Đây là một thách thức đòi hỏi người nghiên cứu phải luôn giữ một tâm thế vững vàng để tránh những diễn giải quá đà và cần có sự xác định rõ ràng mục đích mà họ đang hướng tới

Hướng đi thứ ba trong cách phân chia này có sự giao thoa nhất định với hướng đi thứ hai Tuy nhiên, ở hướng đi này khía cạnh phong cách và ngôn ngữ được chú trọng hơn Người nghiên cứu quan tâm đến mối tương quan giữa hình thái

xã hội với thể loại văn bản, sự tương thích trong việc lựa chọn thể loại của chủ thể sáng tạo được đặt trong tiến trình vận động của văn học Khi quan tâm đến ngôn ngữ, người nghiên cứu cũng buộc phải có những hiểu biết về đời sống văn hóa, lịch

sử xã hội để có thể đưa ra những lý giải mang tính khách quan Chính tại đây, tính liên ngành đã được thể hiện cụ thể, rõ ràng trong lĩnh vực xã hội học văn học Điều

Trang 29

này có thể nhận thấy qua công trình Mimésis, phương thức biểu hiện thực tại trong

văn học phương Tây của Erich Auerbach Là một nhà ngữ văn học với kiến thức

uyên bác về văn bản lẫn ngôn ngữ cổ, E Auerbach đã tiếp cận văn bản từ khía cạnh

tu từ học, so sánh đối chiếu cách vận dụng từ ngữ, xác định mối tương quan giữa phong cách và thể loại giữa các giai đoạn cùng những biến động về lịch sử, xã hội

để từ đó làm sáng tỏ sự biến chuyển của “phương thức biểu hiện thực tại” Từ nền

tảng văn hóa – xã hội, E Auerbach cho thấy những biến chuyển hình thức, phong cách hành văn cần được đặt vào một bối cảnh cụ thể mới có thể hiểu được những giá trị của nó Ở đây, việc chúng tôi đặt công trình của E Auerbach vào hướng tiếp cận này không đồng nghĩa rằng cách thức nghiên cứu của ông chỉ gói gọn trong xã hội học văn học mà chỉ nhằm làm sáng rõ mục đích và đặc trưng cơ bản của hướng

đi này khi tập trung nghiên cứu tương quan xã hội và thể loại, phong cách hành văn lẫn ngôn ngữ

Bắt đầu từ hướng tiếp cận thứ tư trong cách phân chia của P Ansart, trọng tâm nghiên cứu đã có sự di chuyển từ nội tại sang ngoại tại và thể hiện rõ nét những chuyển biến giữa xã hội học văn học truyền thống và hiện đại Hướng thứ tư tập trung vào người viết, lý giải vị thế của nhà văn trong bối cảnh xã hội đương thời

Pierre Bourdieu trong Quy tắc của nghệ thuật: sự hình thành và cấu trúc của

trường văn chương đã quan tâm đến những đặc trưng về vốn kinh tế, vốn văn hóa,

vốn xã hội, vốn biểu tượng trong sự kết hợp với tâm lý học, phân tâm học… để đưa

ra nhận định về những tác động ảnh hưởng đến vị trí của một người trong trường lực mà họ tham gia vào Sự tương đồng về vốn có thể hình thành nên sự tương đồng trong trường của những người viết Ví dụ như ông xem xét những nhà văn có vốn kinh tế, văn hóa tốt và “có xuất thân từ các vị thế trung tâm trong trường […] dường như được chuẩn bị để chiếm một vị thế tương đồng trong trường văn học” (dẫn theo Pierre Bourdieu, 2018, tr.148) Tuy nhiên, những yếu tố tác động đến nhà văn trong việc thiết lập được một vị trí trong trường chỉ nên được nhìn nhận như một bộ phận trong việc lý giải P Bourdieu nhận định rằng sự lựa chọn của Gustave Flaubert

“bao hàm sự từ chối, ông chủ động đứng vào không gian của những khả thể dành

Trang 30

cho mình” Sự từ chối kép của Flaubert với chủ nghĩa hiện thực lẫn chủ nghĩa lãng mạn hướng đến việc tạo ra một cuộc cách mạng mỹ học để nghệ thuật nhận được đầy đủ quyền của nó Chính hành động “viết tốt cái tầm thường” của Flaubert là một sự phản kháng để chiếm giữ một vị thế trong trường và tìm kiếm sự tự chủ cho cuộc cách mạng mỹ học đó Việc quan tâm đến vị thế của một nhà văn phần nào hỗ trợ cho việc cắt nghĩa sự tương thích/bất tương thích của một nhà văn trong tương quan với trào lưu, chủ nghĩa chiếm ưu thế trong bối cảnh đương thời

Hướng tiếp cận thứ năm và thứ sáu thể hiện rõ quan niệm của Robert Escarpit khi đề xuất xem văn học là một hiện tượng xã hội Bằng cách sử dụng những phương pháp định lượng kết hợp với định tính, những nghiên cứu này hướng đến việc đưa ra những nhận xét khách quan về hiện tượng văn học Đối tượng

nghiên cứu của hướng tiếp cận này không hoàn toàn là những văn bản mà là những

cuốn sách, nghề sách, nghề văn cũng như quá trình vận hành, cơ chế xuất bản R

Escarpit cho rằng xã hội học giai đoạn trước chỉ quan tâm đến nội dung cuốn sách (nghĩa là quan tâm đến văn bản) mà không quan tâm đến cách thức mà cuốn sách được đọc Chính vì thế, xã hội học văn học cần chú trọng đến văn học trong một quá trình giao tiếp, trao đổi Bên cạnh đó, việc đi vào tìm hiểu những lĩnh vực “văn học thứ cấp” hay “văn học thị trường”, “văn học ngoại biên” trong kết hợp với những ngành khoa học khác như tâm lý học, tôn giáo học,… có thể giúp cắt nghĩa

sự tiếp nhận của độc giả lẫn lý giải những hoạt động xuất bản, hiện tượng đọc của những tầng lớp xã hội

Những nghiên cứu của P Bourdieu về trường văn học với những nguyên tắc riêng của nó không chỉ có khả năng xem xét vị thế của nhà văn trong từng giai đoạn

xã hội mà mở rộng việc đặt người viết trong hệ thống phân phối tác phẩm văn chương, những bộ máy kiểm duyệt và phát hành Mặc dù được xem xét như một trường tự trị nhưng trường văn học không thoát khỏi những tác động của những trường lực khác trong xã hội, đặc biệt qua những biến động lịch sử P Bourdieu

phân tích “trường quyền lực” trong Giáo dục tình cảm của Gustave Flaubert để cho

thấy có sự chuyển biến vị thế xã hội của nhà văn với mốc thời gian là cuộc cách

Trang 31

mạng năm 1848 Trường văn học cũng như mọi trường lực khác tồn tại như một trò chơi với những quy tắc của riêng nó cùng những “thừa nhận được ngầm áp đặt cho những ai tham gia vào trò chơi” (Pierre Bourdieu, 2018, tr.448) Chính vì thế vị thế của những người tham gia trong trường văn chương có thể thể hiện sự thắng thế của

họ về phương diện thẩm mỹ nhưng lại yếu thế về kinh tế mà theo đó nó thể hiện rõ mối quan hệ giữa thị hiếu, nhu cầu của độc giả đối với không gian sản xuất (những

nhà xuất bản) Nghiên cứu của P Bourdieu theo đó thể hiện sự tự trị tương đối của

trường trong sự tương tác với những lực ngoại trị, sự phê chuẩn từ bên ngoài cùng

bối cảnh xã hội, chính trị, kinh tế

Trong thời đại “thế giới phẳng” ngày nay, khi văn hóa đại chúng ngày càng phát triển, việc sử dụng những hướng nghiên cứu có sự kết hợp định tính và định lượng trên để đưa ra những nhận định về hoạt động của đời sống văn chương cũng như nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của độc giả với các thể loại văn chương, văn phong, ngôn ngữ… càng được chú trọng Bên cạnh đó, xã hội học văn học khi có sự kết hợp với những bộ môn khác còn giúp ích cho việc xây dựng những cách thức tiếp cận sách báo của người đọc

Từ những phân tích ở trên, có thể nhận thấy rằng sự phân chia của Pierre Ansart chủ yếu dựa vào đối tượng và mục đích nghiên cứu Hans Norbert Fügen

trong Từ điển xã hội học do Günter Endruweit và Gisela Trommsdorff chủ biên đã

trình bày ba cách tiếp cận quan trọng của xã hội học văn học dựa vào phương pháp

tiến hành nghiên cứu gồm “cách tiếp cận Marxist, cách tiếp cận xuất phát từ thuyết

phê phán (trường phái Frankfurt) và cách tiếp cận thực nghiệm” (Endruweit G &

Trommsdorff G., 2002, tr.858) Tuy nhiên, nhìn chung ba hướng tiếp cận này cho thấy sự khái quát những hướng tiếp cận của P Ansart cũng như thể hiện sự chuyển mình của lĩnh vực này trong giai đoạn tiền xã hội học đến xã hội học hiện đại

Bên cạnh những phương thức tiếp cận đã trình bày ở trên, Terry Eagleton trong bài viết “Two Approaches to Sociology of Literature” (tạm dịch: “Hai phương thức tiếp cận xã hội học văn học”) cũng cho thấy cách nhìn nhận của ông về hai hướng tiếp cận cơ bản của xã hội học văn học Thứ nhất, theo nghĩa nhận thức của

Trang 32

thuật ngữ rằng văn học trong thực tế được điều chỉnh sâu sắc bởi bối cảnh xã hội của nó và phê bình văn học sẽ thiếu sót nếu bỏ qua thực tế đó Thứ hai, xã hội học văn học được nhìn theo chủ nghĩa thực dụng, nghĩa là văn chương có thể đọc được trong mọi ngữ cảnh cũng như được định hình bởi tất cả các yếu tố; tuy nhiên, việc nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội của nó là hữu ích và đáng quan tâm từ một quan điểm chính trị cụ thể Sự khác biệt giữa hai hướng đi này tập trung chủ yếu vào yếu

tố “hiện thực” được xem xét trong mối quan hệ giữa văn chương và bối cảnh xã hội Hướng đi đầu tiên thể hiện rõ mối quan hệ giữa văn bản và bối cảnh xã hội, nghĩa là những yếu tố xã hội đóng vai trò quan trọng trong bản thân nội dung tác phẩm

Trong khi đó, hướng đi thứ hai tập trung vào việc phát hiện một vấn đề bởi nó có ý

nghĩa với lịch sử, xã hội cũng như để đưa ra những đường hướng cho việc xây dựng khuôn khổ, đường hướng xã hội Sự khác biệt ở đây chính là những vấn đề xã hội được phát hiện trong hướng đi thứ hai không nhất thiết phải đóng một vai trò quan trọng trong nội dung tác phẩm mà chỉ đơn thuần cần được nhìn nhận để từ đó lý giải những vấn đề xã hội mà theo đó văn chương có thể tồn tại như là một bộ phận phục

vụ cho mục đích của nhà thực dụng học Tuy nhiên, một vấn đề được xem xét trong bài viết này của T Eagleton là chỉ ra việc nghiên cứu xã hội học văn học theo chủ nghĩa thực dụng bản thân nó có thể đã ngầm định ban đầu về những yếu tố mang tính nhận thức luận, nghĩa là người nghiên cứu trước khi đưa ra những đường lối cho việc xây dựng những khuôn khổ, cải tổ xã hội thì bản thân họ đã tự thừa nhận

có một hiện thực tồn tại trước đó và có những khía cạnh văn chương thật sự bị ràng buộc với xã hội Điều trọng yếu mà T Eagleton gợi ra là việc nhìn nhận văn chương như một hình thái nhận thức và việc quan tâm đến những hình thức mà qua đó văn chương bộc lộ nên những ngầm ẩn của xã hội

Như vậy, thông qua một vài hướng tiếp cận xã hội học văn học có thể nhận thấy rõ được mối quan hệ giữa văn chương và xã hội đã được triển khai nghiên cứu theo nhiều cách thức và cấp độ khác nhau Điều này thể hiện rõ được những lợi ích

có thể đạt được từ cả ngành nghiên cứu văn chương lẫn xã hội học Chúng ta nhận thấy rằng không tồn tại một phương pháp nghiên cứu tối ưu, hoàn hảo và toàn diện

Trang 33

trong lĩnh vực nghiên cứu văn chương Điểm tựa mà mỗi nhà nghiên cứu lựa chọn

để tiến hành chỉ là một bộ phận trong việc lý giải những khía cạnh của văn chương trong tính toàn vẹn của nó Phê bình xã hội học không đồng nghĩa với việc hạ thấp tính nghệ thuật của văn chương và người nghiên cứu không xem xét một văn bản như một sự kiện đơn thuần vô nghĩa mà bản thân nó nói theo Roman Ingarden đã là khách thể mang tính chủ ý

Nhìn chung cần nhấn mạnh rằng những hướng nghiên cứu xã hội học văn học phụ thuộc vào đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu Thực tế, việc đặt trọng tâm vào một trong bốn khía cạnh là văn bản, tác giả, độc giả và những tác nhân xã hội trong xã hội học văn học không hoàn toàn tách biệt mà vẫn có sự giao thoa với nhau Những bước chuyển của xã hội học văn học cũng có những nét tương đồng và nằm trong sự vận động của những lý thuyết văn học cùng những bộ môn nghiên cứu khác Nghiên cứu theo hướng xã hội học văn học tạo cơ hội cho việc phát hiện, nhìn nhận lẫn đánh giá trở lại những sáng tác văn chương trong một

độ lùi nhất định bởi văn chương luôn là một thế giới mở và chờ đợi được khám phá

và khám phá trở lại Trương Đăng Dung trong bài viết “Những giới hạn của phê bình văn học” đã dẫn lại ý của T S Eliot về phê bình văn học rằng “người ta phán xét tính văn học của một văn bản văn học nào đó bằng các tiêu chí thẩm mĩ, còn sự

vĩ đại của một tác phẩm văn học lại được nhìn từ những tiêu chí ngoài thẩm mĩ” Chính những khía cạnh như thế luôn tồn tại trong đời sống lý luận phê bình văn học

mà việc kết hợp những phương pháp là một điều cần thiết; mà cụ thể ở đây, xã hội học văn học có thể là một hướng đi tốt bổ trợ cho việc nghiên cứu văn chương Bằng việc đưa ra những hướng tiếp cận với xã hội học văn học, người viết cũng muốn nhấn mạnh rằng chính việc quan tâm đến mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực, đặc biệt khi gắn với chủ nghĩa Marx khiến nhiều người hình thành định kiến đối với cụm từ xã hội học văn học Tuy nhiên, rõ ràng có thể nhận thấy rằng đó chỉ là một cách nhìn hẹp vào thuật ngữ này khi đã đồng nhất hóa vào sự phản ánh đơn thuần Trong nghiên cứu, việc cực đoan hóa một khía cạnh nhằm phục vụ cho những mục tiêu mang tính chủ quan, tư biện có thể khiến cho phương thức tiếp cận

Trang 34

đánh mất đi chính nội hàm và bản chất giá trị của nó, mà ở đây, việc nhìn nhận mối tương quan giữa văn chương và đời sống có thể dẫn đến một thứ phê bình xã hội học dung tục Người viết cho rằng việc không ngừng tự ý thức những vấn đề này là một điều vô cùng quan trọng trong quá trình tiến hành nghiên cứu nhằm đem lại những kết quả có ý nghĩa khoa học đích thực

Thông qua những chia cách về mặt thuật ngữ của xã hội học văn học, chúng

ta nhận thấy việc kiến giải tác phẩm văn học dưới lăng kính xã hội học phụ thuộc vào hướng tiếp cận của người nghiên cứu cũng như trọng lượng của khía cạnh mà

họ muốn tập trung Theo đó, trong bài nghiên cứu này, để tiếp cận tác phẩm Khi

loài vật lên ngôi dưới lăng kính xã hội học văn học, chúng tôi tập trung vào những

khía cạnh sau:

Thứ nhất, lý giải những đặc trưng của xã hội được kiến tạo trong tác phẩm

với những tương quan mang tính phổ quát về hiện thực và tương lai của nhân loại

Điều này có nghĩa là những yếu tố xã hội này được sử dụng trong tác phẩm không chỉ tồn tại như những dữ liệu bổ trợ đơn thuần mà còn thể hiện một sự hoạch định của tác giả trong việc thể hiện những vấn đề thuộc về căn tính của con người Với những nhận định về mối tương quan giữa hai thuật ngữ xã hội học văn học và phê bình xã hội học như đã nêu ở phần trên, chúng tôi vẫn thiên về việc đi vào cấu trúc nội tại của văn bản trước khi có những luận giải về mối quan hệ của nó với bối cảnh

xã hội

Thứ hai, chúng tôi đi vào thể loại và những yếu tố về mặt hình thức của tác

phẩm Việc tác phẩm vốn thường được xếp vào khoa học viễn tưởng – một thể loại văn chương đại chúng (popular art) đã tạo được những hiệu ứng như thế nào đối với độc giả cũng như sự xuất bản của nó Từ đó chúng tôi sẽ phần nào kiến giải sự lựa chọn của tác giả từ góc cạnh cá nhân lẫn vị thế xã hội

Hai khía cạnh này đều hướng đến việc nhìn nhận rằng cách thức Karel Čapek

sáng tạo Khi loài vật lên ngôi không chỉ thể hiện mối liên hệ với đời sống xã hội

đương thời mà còn cho đi sâu khám phá những góc độ thuộc về bản thể tính của

Trang 35

nhân loại lẫn xã hội loài người Thế giới được Čapek tạo dựng chính vì thế trở nên

đa sắc màu và là một tác phẩm mở rộng sự diễn giải của độc giả

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Karel Čapek – nhà văn nhân đạo chủ nghĩa 11

Để nói về Karel Čapek, điều đầu tiên cần nhận định rằng ông là một người có

xu hướng dung hợp về mặt tư tưởng và quan điểm đời sống lẫn sáng tác nghệ thuật

Sự dung hợp này có lẽ xuất phát từ chính đời sống tinh thần lẫn bối cảnh cuộc sống của ông – một quá trình xuyên suốt của những sự giao thoa từ thơ ấu Điều này đã góp phần định hình nên những sáng tác của Čapek về sau

Sinh ra tại làng Malé Svatoňovice ở phía Bắc của Bohemia vào ngày 9 tháng

1 năm 1890, Karel Čapek là con út trong gia đình có học thức Bố của ông – Antonín Čapek là một bác sĩ đầy lòng hảo tâm Mặc dù thu nhập không cao nhưng Antonín không thu tiền của những bệnh nhân nghèo khó Sinh sống trong một khu vực giáp ranh với Đức cũng hướng ông đến việc hỗ trợ giáo dục và nâng cao nhận thức, học vấn của người dân trong khu vực, đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên Ông tham gia thuyết giảng cũng như tổ chức những buổi diễn xuất kịch nghệ thu hút nhiều người gia nhập, tổ chức diễn xuất kịch nghệ và khởi đầu thành lập bảo tàng địa phương12

Chính sự tích cực của bố trong hoạt động giáo dục đã trở thành những nét có ảnh hưởng nổi bật nhất ở Čapek về sau trong việc quan tâm đến người dân cũng như sự phát triển mọi mặt với một nền dân chủ dành cho họ Môi trường sinh sống này cũng tạo điều kiện cho Čapek có cơ hội tiếp xúc với tầng lớp lao động, đặc biệt là những công nhân khai thác mỏ than và hình thành nơi ông một thói quen quan tâm, chú ý đến những mảnh nhỏ của đời sống xã hội Trong một bài nói

chuyện trên đài phát thanh, để trả lời cho câu hỏi Bằng cách nào mà tôi trở thành

11 Trong phần này, chúng tôi tham khảo thông tin chủ yếu dựa trên ba cuốn sách Karel Čapek: In pursuit of

truth, tolerance, and trust của Bohuslava R Bradbrook, Believe in People: The Essential Karel Čapek của

Šárka Tobrmanová-Kühnová và Art and life in modernist Prague: Karel Čapek and His Generation, 1911 –

1938 của Thomas Ort

12 Thông tin về bố của Karel Čapek được chúng tôi tham khảo trong Karel Čapek: In pursuit of truth,

tolerance, and trust của Bohuslava R Bradbrook, trang 2-3

Trang 36

tôi 13 , Čapek từng nói rằng ông xem việc sáng tác văn chương cũng như hoạt động

nghệ thuật hiện tại như một phương thức chữa bệnh cho con người Được sự định hướng ngay từ bé bởi bố, ông đã luôn cho rằng mình sẽ tiếp bước và trở thành bác

sĩ, dành trọn cuộc đời cho nghề y Và mặc dù sau tất cả lựa chọn, ông lại trở thành

một người viết thì tác phẩm của ông đã phần nào trở thành những liều thuốc hữu

hiệu để chữa những căn bệnh trầm kha luôn hiện diện trong đời sống và có thể gây tha hóa nơi con người

Ngay từ bé, Čapek đã nhận được sự quan tâm chăm sóc tận tình một cách

“đặc biệt”, thậm chí có phần thái quá từ người mẹ có nhiều triệu chứng của bệnh tâm căn (hysteria)14 Điều này có những ảnh hưởng nhất định đến mối quan hệ của ông với anh và chị Sự khác biệt trong đối xử cũng như cách quan tâm của mẹ đã hình thành nên cảm giác thiếu tình thương nơi Joseph Čapek (1886 – 1945) và Helena Čapek (1887 – 1961) Chính bởi khoảng cách này đã từng khiến Karel

Čapek phải nỗ lực để nhận được sự chấp thuận của anh chị cũng như thoát khỏi sự

bảo bọc quá mức của mẹ mà nó đã trở thành một gánh nặng cho ông15 Mẹ của Čapek càng trở nên lo sợ về mọi mặt cho người con trai út bởi ông đã trải qua cơn sốt khủng khiếp mà di chứng để lại là chứng thoái hóa cột sống đeo bám ông suốt cuộc đời Chính căn bệnh này là nguyên nhân khiến Čapek không thể tham gia chiến đấu trong Thế chiến thứ Nhất Vì lo lắng quá độ về những điều không tốt lành

có thể xảy đến với con trai mà mẹ Čapek không muốn ông theo học trung học cơ sở tại Hradec Králové Tuy nhiên, Bà Ngoại đã quyết định cùng chuyển tới đó để chăm sóc cho ông Và với những câu chuyện cổ tích cùng sự giáo dưỡng của người Bà – người có tâm hồn thơ ca cùng sự vui tính và thông tuệ mà từ đó truyện cổ tích đã trở thành một thể loại đáng được chú ý trong sự nghiệp sáng tác của Čapek Cùng với

13 Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Séc “How I Have Come to Be What I Am” trong mục Noticing

People and Things (tạm dịjch: Quan sát Con người và Sự vật) trong Believe in People được phát trên radio Lumír: A Review of Literature, Art and Society ngày 8 tháng 5 năm 1932, tr.175

14 Bệnh tâm căn hay còn gọi là chứng cuồng loạn, rối loạn phân ly thể hiện trạng thái không thể kiểm soát được cảm xúc của người bệnh Bệnh có thể xuất hiện sau chấn thương tâm lý, đặc biệt ở những người có loại hình thần kinh yếu Những người bị bệnh tâm căn thường dễ bị ám thị, tự ám thị và có những hành động kỳ

lạ để thu hút sự chú ý của mọi người

Trang 37

truyện ngắn mà như Ivan Klíma đã nhận định rằng chính trong những mẩu chuyện nhỏ, những bức thư của Čapek mà độc giả có thể nhìn thấy sự quan tâm đến những

tế vi đời sống của con người nơi ông

Nhìn một cách tổng quát, có lẽ chính “sự đối lập” về tính cách cũng như giáo dưỡng từ bố, mẹ và bà là những viên gạch đầu tiên xác lập nên chọn lựa của ông về sau trên con đường nghệ thuật của mình, về việc tìm kiếm một phương thức bộc lộ cuộc sống lẫn hướng ngòi bút đến đời sống con người dưới nhiều góc độ

Sau khi rời khỏi Hradec, ông chuyển tới học tại Brno vào năm 1905 Đây cũng chính là nơi em gái ông gặp gỡ và kết hôn với František Koželuha – một luật

sư tài năng và cũng là người đã giới thiệu cho Čapek đời sống văn hóa thành thị Từ đây, Čapek đã nhận được nhiều động viên, khuyến khích để theo đuổi sự nghiệp sáng tác mà dấu ấn đầu tiên chính là gửi bài đến báo Moravian Khoảng thời gian này có nhiều biến động xảy đến gia đình ông Joseph đã quyết định theo đuổi nghề

vẽ tại Prague trong khi đó bố của ông lại bị viêm não Trong giai đoạn hồi phục của

bố, mẹ ông quyết định bán nhà tại Úpice và chuyển tới một căn hộ tại Prague để có thể đồng thời chăm sóc chồng và anh trai ông Chính vì thế, vào năm 1907, Čapek

đã chuyển tới học tại trường Academic Grammar School danh tiếng và tốt nghiệp

hai năm sau đó

Với thành tích học tập xuất sắc, ông đã trúng tuyển vào ngành Triết học tại trường Đại học Charles vào năm 1909 Ông tiếp tục gửi bài tới nhiều tạp chí, tờ báo

và xem văn chương cùng báo chí có thể là con đường tương lai của bản thân Những

sáng tác đầu tiên của Čapek là những bài thơ mang tên Simple Motifs (Những motif

giản đơn), Fairy Tale (Truyện cổ tích) và Christmas (Giáng sinh) được đăng trên

báo địa phương Nedele Tác phẩm hư cấu đầu tiên của ông Between Two Kisses (Giữa hai nụ hôn) được in vào năm 1911 Sáng tác thời thanh niên của Čapek cũng

chứa đựng những dấu hiệu của quá trình trưởng thành như sự cô đơn, lẻ loi khi phải sống xa nhà Tuy nhiên, với những kiến thức học được từ nền văn chương đương

đại, Čapek đã có những sáng tác trưởng thành hơn như Excited Dances, In the Age

of a Young Life, An Umbrella (tạm dịch: Những điệu nhảy sôi nổi, Thời tuổi trẻ,

Trang 38

Cây dù) vào năm 1912 và 1913 (Bradbrook, 1998, tr.21) Vào học kỳ hè trao đổi

năm 1910 – 1911, Čapek học Ngữ văn Anh và Đức tại trường Friedrich Wilhelm ở Berlin nhưng sau đó chuyển tới học tại Đại học Sorbonne của Pháp Čapek đặc biệt gắn bó với anh trai và cả hai cùng nhau chia sẻ nhiều dự án trong nghệ thuật, đặc biệt là ở giai đoạn đầu trong sự nghiệp sáng tác của ông Hai anh em đã dành quãng thời gian tuổi trẻ để quan sát công việc của những thợ thủ công địa phương và có những bộ sưu tập tem, ong, bướm, hóa thạch, khoáng sản quý hiếm,… Độc giả có thể bắt gặp những điều được Čapek thu thập được trong đời sống thường nhật đặc biệt trong những truyện ngắn của ông Tại Pháp, ông tiếp tục cùng với anh trai khám phá nhiều ngóc ngách của đất nước này Những trải nghiệm này đem lại nhiều niềm vui cho Čapek và tác động và để lại nhiều dấu ấn trong sáng tác của ông

Trong giai đoạn này, Čapek đã sáng tác vở kịch đầu tiên mang tên The Robber (tạm dịch: Tên trộm)

Triết học của Henri Bergson mà Čapek tiếp cận trong thời gian này đã có nhiều ảnh hưởng đến ông Từ đây, Čapek đã đúc kết những nhận định trở thành tư tưởng xuyên suốt sáng tác của mình: lòng khoan dung và sự tìm kiếm những vấn đề thuộc về nhận thức luận Mặc dù không thể tìm thấy một câu trả lời hoàn hảo nhưng

Čapek đã đi đến nhận định rằng chỉ có thể đạt đến một sự thật tương đối và “trong

những vấn đề đạo đức cũng không tồn tại điều gì là hoàn toàn tốt và hoàn toàn xấu”16 Ở một mức độ, cái nhìn về khoa học trong những tác phẩm của ông cũng như thế Một sự mâu thuẫn nhưng lại đồng nhất về việc phản kháng hay chấp nhận: không phủ nhận nhưng cũng không đồng nghĩa với thỏa hiệp tất cả mọi khía cạnh Quan điểm về trực giác theo đó cũng như một phương thức để nhận thức những điểm nhìn khác ngoài chính định kiến của bản thân Những khía cạnh này được thể hiện rõ nét trong việc xây dựng truyện ngắn của Čapek khi ông dựa trên nhiều sự

kiện có thật Đặc biệt là tập truyện ngắn Hoa cúc xanh17 đã được xuất bản tại Việt

16 Ý này được chúng tôi tham khảo từ Bohuslava R Bradbrook (1998) Karel Čapek: In pursuit of truth,

tolerance, and trust UK: Sussex Academic Press Tr.7

17

Hoa cúc xanh là tên bản dịch tiếng Việt tuyển tập gồm bốn mươi truyện ngắn rút từ Stories from a Pocket

(Túi truyện thứ nhất) và Stories from Another Pocket (Túi truyện thứ nhì) của Čapek Hai tuyển tập này được

Trang 39

Nam khi ông đã trình hiện trước mắt độc giả những “mảnh nhỏ”, những “vụn vỡ” của con người và đời sống Nhiều câu chuyện được lồng dưới cốt truyện trinh thám nhưng không tuân theo những quy định kết cấu của thể loại trinh thám thông thường, không có những yếu tố giết người man rợ, không có thám tử chuyên nghiệp

mà đi sâu vào những bí ẩn bé nhỏ, những góc khuất không thể lý giải bằng kinh nghiệm Phạm Thành Hưng18 nhận định về Hoa cúc xanh rằng “Có ý kiến cho rằng,

thông qua các câu chuyện về các phiên tòa, Karel Čapek - cây bút nhân văn chủ nghĩa muốn khẳng định một chủ nghĩa tương đối (relativismus) trong lĩnh vực tư pháp Theo ông, chân lý không bao giờ bộc lộ đầy đủ và biểu hiện một cách rõ ràng, chính xác Tất cả đều phụ thuộc vào góc nhìn của người săn tìm” (Čapek, 2016,

tr.6) Điều này cũng được thể hiện rõ nét trong tập truyện ngắn Wayside Crosses

được xuất bản vào năm 1917 Sự tàn khốc của cuộc chiến cùng tình trạng sức khỏe tác động đến Čapek và tác phẩm mang màu sắc khá bi quan trong nỗ lực thể hiện hành trình tìm kiếm chân lý qua nghệ thuật của ông Čapek nói rằng “tiêu đề cuốn sách mang nghĩa kép; hai ngã giao nhau cũng như tình trạng tự hành hạ bản thân bởi những vấn đề nghiêm trọng và việc tìm kiếm những giải pháp” (dẫn theo Bradbrook, 1998, tr.123) Hành trình tìm kiếm Chúa chính là hành trình khám phá những giới hạn của nhận thức con người trong đớn đau nhưng cùng với đó là thấu hiểu ý nghĩa đích thực của quá trình truy tầm chân lý Tất cả là những trải nghiệm đớn đau mà các nhân vật phải đối diện với những sự kiện vô hình, rối ren cùng những bí mật bao trùm lên cuộc sống con người và chỉ có một phép màu mới có thể đem lại một sự giải thoát Čapek có niềm tin rằng sự cứu rỗi dành cho con người không nằm trong niềm tin mà nằm ở sự cảm thông và tâm hồn con người cần phải được tự do dù trong một không gian mà chỉ có những nỗ lực mạnh mẽ mới có thể làm suy giảm tình trạng nô lệ chính mình Và điều này được thể hiện rõ hơn trong

Painful Stories (tạm dịch: Những câu chuyện buồn đau) được viết khoảng 1918 và

1920 Chính quan điểm về mối giao cảm và bao dung đã hình thành nơi Čapek quan điểm xuyên suốt trong các truyện ngắn và tiếp nối cho đến tận giai đoạn sau của

18 Phạm Thành Hưng là dịch giả của tác phẩm Hoa cúc xanh tại Việt Nam

Trang 40

cuộc đời rằng trọng tâm không nằm ở câu chuyện mà ở “cảm xúc khiến tâm trí của con người ngay lập tức hành động” bởi “dường như đối với tôi không phải các nhân vật đang suy nghĩ hoặc nói chuyện mà là họ khóc”19 Không dừng lại ở mức độ thiếu vắng cốt truyện hay đoạn kết như nhiều truyện ngắn hiện đại, Čapek còn chú tâm trong việc khơi gợi một mức độ quan tâm của độc giả Sự căng thẳng bộc lộ trong việc đặt ra câu hỏi về bản chất vấn đề, chính tính chất đối lập, mâu thuẫn giữa hành động nhân vật với ý nghĩa nội tại bên trong hướng đến việc gợi ra ở mỗi cá nhân một câu trả lời cho riêng mình đồng thời với việc tác giả có không gian để triển khai được câu chuyện theo nhiều điểm nhìn Những truyện ngắn giai đoạn đầu mang tính siêu hình học này bộc lộ rõ nét tình trạng bất khả kháng của con người trong định mệnh của cuộc đời với những sự kiện hoàn toàn có thể diễn đến như một tai nạn nằm ngoài nhận thức cũng có những bước chuyển mang tính tích cực hơn ở

Hoa cúc xanh khi Čapek bên cạnh sự mờ đục trong nhận thức còn hướng đến giá trị

của đạo đức

Sau khi từ Paris trở về Prague, mặc dù theo học Triết nhưng trong những năm tháng này, ông vẫn đăng ký tham dự nhiều lớp về văn học nghệ thuật Ông tiếp tục sáng tác và có nhiều bài viết trải dài trên nhiều chủ đề, đặc biệt là những nghiên cứu về văn chương Anh, Đức và Pháp, bao gồm những bài giảng của Giáo sư Hostinský về “History of Aesthetics and the Theory of Art” (tạm dịch: “Lịch sử về

Mỹ học và Lý thuyết về Nghệ thuật”) cũng như những bài giảng về triết học trong

giai đoạn sau này Vào năm 1913, Čapek đã có bài bình luận cuốn Schriften über

Kunst của Konrad Fiedler20 và bản dịch tiếng Séc của tác phẩm The Philosophy of

Art (tạm dịch: Triết học về Nghệ thuật) của Hippolyte Taine Cũng trong năm này,

ông viết bài luận “Trends in the Most Recent Aesthetics” (tạm dịch: “Xu hướng trong nghiên cứu Mỹ học gần đây”)21

được viết vào năm 1913 và tiểu luận “The Relationship of Aesthetics and the History of Art” (tạm dịch: “Mối quan hệ giữa

Ngày đăng: 01/07/2023, 13:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Attali, J. (2018). Lịch sử của tính hiện đại. (Hiếu Tân dịch). Hà Nội: Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử của tính hiện đại
Tác giả: Attali, J
Năm: 2018
2. Auerbach, E. (2014). Mimésis – Phương thức biểu hiện thực tại trong văn học phương Tây. (Phùng Ngọc Kiên dịch). Hà ENội: Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mimésis – Phương thức biểu hiện thực tại trong văn học phương Tây
Tác giả: Auerbach, E
Năm: 2014
3. Baldick, C. (1990). The Concise Oxford Dictionary of Literary Terms. UK: Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Concise Oxford Dictionary of Literary Terms
Tác giả: Baldick, C
Năm: 1990
4. Bakhtin, M. (2007). Sỏng tỏc của Franỗois Rabelais và nền văn húa dõn gian Trung cổ và Phục hưng. (Từ Thị Loan dịch). Hà Nội: Khoa học xã hội. Trang 481-582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sỏng tỏc của Franỗois Rabelais và nền văn húa dõn gian Trung cổ và Phục hưng
Tác giả: Bakhtin, M
Năm: 2007
5. Bennett, T. (2003). Formalism and Marxism. UK: Routledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Formalism and Marxism
Tác giả: Bennett, T
Năm: 2003
6. Berger, P. L. (2016). Lời mời đến với xã hội học – Một góc nhìn nhân văn. (Phạm Văn Bích dịch). Hà Nội: Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời mời đến với xã hội học – Một góc nhìn nhân văn
Tác giả: Berger, P. L
Năm: 2016
7. Berger, P. L & Luckmann, T. (2016). Sự kiến tạo xã hội về thực tại – Khảo luận về xã hội học nhận thức. (Trần Hữu Quang dịch). Hà Nội: Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kiến tạo xã hội về thực tại – Khảo luận về xã hội học nhận thức
Tác giả: Berger, P. L & Luckmann, T
Năm: 2016
9. Bourdieu, P. (2018). Quy tắc của nghệ thuật. (Phùng Ngọc Kiên & Nguyễn Phương Ngọc dịch). Hà Nội: Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy tắc của nghệ thuật
Tác giả: Bourdieu, P
Năm: 2018
10. Bradbrook, B.R. (1998). Karel Čapek: In Pursuit of Truth, Tolerance, and Trust. UK: Sussex Academic Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Karel Čapek: In Pursuit of Truth, Tolerance, and Trust
Tác giả: Bradbrook, B.R
Năm: 1998
11. Bùi Quang Thắng. (1998). Xã hội học nghệ thuật. Hà Nội: Viện Văn hóa và Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nghệ thuật
Tác giả: Bùi Quang Thắng
Năm: 1998
12. Carr, N. (2012). Trí tuệ giả tạo - Internet đã làm gì chúng ta. (Hà Quang Hùng & Linh Giang dịch). TPHCM: Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ giả tạo - Internet đã làm gì chúng ta
Tác giả: Carr, N
Năm: 2012
13. Čapek, K. (2010). Believe in People: The Essential Karel Čapek. (Šárka Tobrmanová-Kühnová dịch Anh ngữ). UK: Faber & Faber Sách, tạp chí
Tiêu đề: Believe in People: The Essential Karel Čapek
Tác giả: Čapek, K
Năm: 2010
14. Čapek, K. (2011). R.U.R and War with the Newts. (David Wyllie dịch Anh ngữ). UK: Gollancz Sách, tạp chí
Tiêu đề: R.U.R and War with the Newts
Tác giả: Čapek, K
Năm: 2011
15. Compagnon, A. (2006). Bản mệnh của lý thuyết. (Lê Hồng Sâm & Đặng Anh Đào dịch). Hà Nội: Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lý thuyết
Tác giả: Compagnon, A
Năm: 2006
16. Deleuze, G & Guattari, F. (2013). Kafka – Vì một nền văn học thiểu số. (Nguyễn Thị Từ Huy dịch). Hà Nội: Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kafka – Vì một nền văn học thiểu số
Tác giả: Deleuze, G & Guattari, F
Năm: 2013
17. Diamond, J. (2007). Loài tinh tinh thứ ba. (Nguyễn Thủy Chung & Nguyễn Kim Nữ Thảo dịch). Hà Nội: Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loài tinh tinh thứ ba
Tác giả: Diamond, J
Năm: 2007
18. Durant, W. (2006). Nguồn gốc văn minh. (Nguyễn Hiến Lê dịch). Hà Nội: Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc văn minh
Tác giả: Durant, W
Năm: 2006
19. Dương Ngọc Dũng. (2006). Đường vào Triết học. TP.HCM: Tổng Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường vào Triết học
Tác giả: Dương Ngọc Dũng
Năm: 2006
20. Đặng Anh Đào chủ biên. (2012). Văn học phương Tây. Hà Nội: Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phương Tây
Tác giả: Đặng Anh Đào chủ biên
Năm: 2012
65. Encyclopổdia Britannica. http://www.britannica.com/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w