Sau khi đã đi tìm hiểu nguồn gốc và đặc trưng của truyện, đặc điểm của truyện thời Trần và những phương diện tiếp cận truyện thời Trần về tính ghi chép của truyện, về môi trường thông b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PGS.TS NGUYỄN HỮU SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Kết cấu luận văn 13
Chương 1: TAM TỔ THỰC LỤC VÀ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 1.1 SÁCH TAM TỔ THỰC LỤC 15
1.2 THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 20
1.2.1 Tiền đề cho sự ra đời và phát triển của thiền phái Trúc Lâm 20
1.2.2 Vai trò của thiền phái Trúc Lâm trong đời sống Phật giáo 29
1.3 TRÚC LÂM TAM TỔ 33
1.3.1 Trần Nhân Tông 33
1.3.2 Pháp Loa .36
1.3.3 Huyền Quang 38
Chương 2 SỰ HỖN DUNG THỂ LOẠI TRONG TAM TỔ THỰC LỤC 2.1 KIỂU KẾT CẤU BỐN GIAI ĐOẠN NHƯ LÀ ĐẶC TRƯNG CỦA LOẠI TIỂU TRUYỆN THIỀN SƯ 41
2.1.1 Về khái niệm “tiểu truyện thiền sư” 41
2.1.2 Kết cấu chung của ba truyện tổ 41
Trang 32.1.2.1 Sự ra đời thần kì 42
2.1.2.2 Quá trình giác ngộ 52
2.1.2.3 Công tích hành đạo – giáo hóa 60
2.1.2.4 Qui tịch 61
2.2 THỦ PHÁP HUYỀN THOẠI HÓA NHƯ LÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN 66
2.2.1 Từ một motif phổ biến trong truyện kể dân gian – motif sinh đẻ thần kì 67
2.2.2 Những chi tiết hoang đường, kì ảo 71
2.3 LỐI GHI CHÉP THEO TRÌNH TỰ THỜI GIAN TUYẾN TÍNH NHƯ LÀ SỰ GIAO THOA GIỮA TRUYỆN VÀ THỂ LOẠI SỬ BIÊN NIÊN 73
2.4 SỰ TÍCH HỢP CÁC YẾU TỐ THI CA VÀ HÌNH THỨC ĐỐI ĐÁP CỦA NGỮ LỤC VÀ CÔNG ÁN THIỀN 78
2.4.1 Sự tích hợp các yếu tố thi ca 78
2.4.2 Sự tích hợp hình thức đối đáp của ngữ lục và công án thiền 93
Chương 3 TỪ CHỨC NĂNG TÔN GIÁO ĐẾN GIÁ TRỊ VĂN HỌC CỦA TAM TỔ THỰC LỤC 3.1 DẤU ẤN VĂN HỌC CHỨC NĂNG VÀ TÍNH THUYẾT GIÁO 101
3.1.1 Dấu ấn văn học chức năng 101
3.1.2 Tính thuyết giáo 103
3.2 TÍNH VĂN HỌC VÀ GIÁ TRỊ VĂN HỌC 107
3.2.1 Tính văn học 107 3.2.2 Đề tài Huyền Quang – Điểm Bích
Trang 4trong văn chương của các nhà nho 110
PHẦN KẾT LUẬN 121
THƯ MỤC THAM KHẢO 123
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm 1973, nhân chuyến sang thăm Việt Nam, B.L.Ríp-tin đã có
bài nói chuyện với nhan đề Mấy vấn đề nghiên cứu văn học trung cổ phương
Đông theo phương pháp loại hình, sau đó được dịch và trích đăng lại trên Tạp chí Văn học, số tháng 2 năm 1974 Trong bài nói chuyện này ông đã nêu lên
nhiều vấn đề phong phú và đa dạng về hệ thống văn học trung cổ (trung đại –
đối với Việt Nam), những đặc điểm của nền văn học trung cổ và một số vấn
đề phân tích theo phương pháp loại hình, các kiểu quan hệ qua lại giữa các nền văn học trung cổ, kèm theo một nhận định: “Theo chỗ chúng tôi được biết, cho đến nay vẫn chưa có những công trình dựa trên tư liệu của những nền văn học thời trung cổ được nghiên cứu kĩ hơn cả nhằm nêu bật lên đặc trưng của văn học trung cổ với tư cách là một kiểu nhất định của nghệ thuật bằng ngôn ngữ” [50, tr.107] Từ gợi ý đó, nhiều nhà nghiên cứu đã bắt tay vào tìm hiểu văn học trung đại Việt Nam dưới cái nhìn loại hình học, thành công
trong số đó có Nguyễn Hữu Sơn với Loại hình tác phẩm “Thiền uyển tập
anh” [56]
Mặc dù Tam tổ thực lục không có được sự đồng nhất về các đặc
điểm nội dung và phong cách nghệ thuật giữa ba truyện tổ do các vấn đề về nguồn gốc văn bản nhưng khi xem xét kĩ chúng ta có thể thấy trong đó vẫn có những điểm tương đồng về bút pháp biên lục, về khả năng vận dụng và tích hợp những yếu tố văn học dân gian qua các motif kì ảo, dấu tích hỗn dung thể loại và tàng trữ các giá trị thi ca … Đặc biệt hơn hết là truyện Huyền Quang
đã được đánh giá là đỉnh cao nghệ thuật của thể truyện, cùng với các tác phẩm đương thời, nó có vai trò đặt nền móng cho sự phát triển của văn xuôi tự sự bằng chữ Hán các thời kì sau
Trang 6Ngoài giá trị lịch sử, giá trị văn học của Tam tổ thực lục cũng đã
sớm được chú ý nhưng cho đến nay vẫn chưa thể tìm thấy một công trình nào
nghiên cứu về bộ ba tác phẩm này một cách có hệ thống Vì vậy, việc lấy Tam
tổ thực lục làm đối tượng nghiên cứu chính, làm sáng rõ giá trị của tác phẩm
với tư cách là “một kiểu nhất định của nghệ thuật bằng ngôn ngữ” là một việc làm ý nghĩa, góp phần làm sáng rõ diện mạo văn học trung đại Việt Nam
Trên đây là những lí do thôi thúc chúng tôi nghiên cứu các truyện
thiền sư trong Tam tổ thực lục
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tam tổ thực lục đã sớm được chú ý từ trước nhưng cho đến nay có
thể nói vẫn chưa có công trình nào thực sự nghiên cứu về bộ ba tác phẩm này một cách có hệ thống
Đầu tiên phải nói đến quan điểm của Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển
văn học (tập II), in năm 1984, ở trang 328, mục từ Tam tổ thực lục có đoạn:
Do tính chất tập hợp, nội dung và phong cách nghệ thuật giữa các phần không thống nhất Truyện Trần Nhân Tông bên cạnh một cốt truyện còn có trình tự tiếp nối của nhiều mẫu đối thoại thiền học (đối thoại bằng thơ) giữa ông vua Trần này và đồ đệ Truyện Pháp Loa là một bản niên phả vắn tắt, trừ phần cuối đã thực sự chuyển sang thể truyện Trái lại, truyện Huyền Quang mang nhiều tính chất một câu chuyện truyền kì thú vị, có nhân vật, đối thoại, và tình tiết dẫn dắt khéo léo, với ngòi bút kể chuyện nửa thật nửa hư, thu hút người đọc (…) Đằng sau bút pháp huyền thoại, yếu tố hiện thực – chủ yếu là hiện thực trong tâm lý, tình cảm – vẫn khá đậm nét [21, tr.328]
Sách Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII) do Đinh Gia Khánh chủ biên, ở chương VI: Văn tự sự và truyện ký thế kỷ XV cũng ghi
Trang 7nhận xét của các tác giả: “Giữa Đại Việt sử lược và Thiền uyển tập anh, Việt
điện u linh, Tam tổ thực lục (tất cả đều là tác phẩm đời Trần) thì kể ra cũng
khó mà khẳng định rằng tác phẩm nào không phải là sử, lại khó mà nói rằng
tác phẩm nào không có ý nghĩa văn học” [26, tr.320]
Năm 1996, Nguyễn Phạm Hùng cho ra mắt cuốn Văn học Lý - Trần
nhìn từ thể loại cũng có đề cập đến Tam tổ thực lục trong chương VI: Truyện đời Trần Sau khi đã đi tìm hiểu nguồn gốc và đặc trưng của truyện, đặc điểm
của truyện thời Trần và những phương diện tiếp cận truyện thời Trần (về tính ghi chép của truyện, về môi trường thông báo của truyện, về vai trò của tác
giả truyện, về số phận của truyện), tác giả đã nhắc tới Tam tổ thực lục: “Dẫu cho có viết về hành trạng và công đức của một trăm vị sư trong Thiền uyển
tập anh, hay viết về hành trạng và công đức của ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm
trong Tam tổ thực lục, thì cũng bằng một ngòi bút chép “người thật, việc thật” Chỉ có điều, nếu như trong Việt điện u linh, các nhân vật được chiếu sáng bằng ánh sáng thần linh thì trong Thiền uyển tập anh và Tam tổ thực lục,
các nhân vật được chiếu sáng bằng ánh sáng của nhà Phật” [23, tr.161] Ở một đoạn khác, tác giả viết: “Những hình thức truyện có tính tiểu thuyết của sau
này đã có mầm mống từ trong truyện Lý – Trần, như kiểu Truyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Không Lộ trong Thiền uyển tập anh,
Truyện Huyền Quang trong Tam tổ thực lục (…) mà ở đây buộc chúng ta chú
ý tới không chỉ các nhân vật, các tấm gương – chân dung, mà còn các tình tiết, cốt truyện, cùng các khía cạnh khác của những chân dung ấy – khía cạnh con người của các nhân vật thần thánh” [23, tr.170]
Cùng với quan điểm này còn có Nguyễn Đăng Na trong cuốn Văn
xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (tập I, tái bản lần thứ nhất năm 1999) Sau
khi điểm qua các tác phẩm: Lĩnh Nam chích quái, Ngoại sử kí (Đỗ Thiện),
Đại Việt sử kí (Lê Văn Hưu), Báo cực truyện, Việt điện u linh tập, Thiền uyển
Trang 8tập anh ngữ lục, Tam tổ thực lục… trong bài viết Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại – những chặng đường lịch sử và xu hướng phát triển, tác giả
viết: “Mặc dù chưa thoát khỏi văn học dân gian và văn học chức năng (tôn giáo, hành chính), văn xuôi tự sự thế kỷ X –XIV có vị trí cực kì quan trọng, bởi nó làm nhiệm vụ đặt nền móng cho toàn bộ văn xuôi tự sự trung đại cũng như truyện văn xuôi cận – hiện đại về nội dung và phương thức tư duy nghệ
thuật” [40, tr.22] Phần giới thiệu về Tam tổ thực lục cũng có đoạn:
Mặc dù là văn học chức năng tôn giáo, tác giả của nó vẫn chú ý xây dựng cốt truyện với nhiều tình tiết éo le, li kì và hấp dẫn Tính cách nhân vật cũng được khắc họa rõ nét Song, để phục vụ cho chức năng tôn giáo – đề cao phẩm hạnh nhân vật – tác giả lại
“vi phạm” mục đích biên soạn “thực lục” – chép đúng sự thực Người viết đã thần thánh hóa nhân vật bằng những yếu tố kì ảo Vì thế, tác phẩm đã vượt khỏi chức năng tôn giáo, tiến gần tới văn học
đích thực [40, tr.97]
Trần Thị Băng Thanh, trong bài viết Huyền Quang và vai trò lãnh tụ
thiền phái Trúc Lâm Yên Tử in chung trong sách Huyền Quang – cuộc đời, thơ và đạo, có nhận xét về truyện Huyền Quang (Tổ gia thực lục) trong Tam
tổ thực lục như sau: “Sách Tổ gia thực lục không ghi được hành trạng của ông
theo đúng yêu cầu và quy cách ghi chép tiểu sử các danh tăng mà trái lại đậm tính chất văn học” [62, tr.38]
Đặc biệt, Nguyễn Công Lý đã đánh giá, phân tích khá chi tiết những
thành tựu nghệ thuật của truyện Huyền Quang trong cuốn Văn học Phật giáo
thời Lý – Trần: diện mạo và đặc điểm xuất bản năm 2002 Phần Về hệ thống thể loại văn học, mục Truyện ký có lời nhận định của tác giả: “Riêng truyện
Tổ gia thực lục có thể xem là một truyện đạt trình độ nghệ thuật cao trong văn
học đời Trần” [37, tr.152] Trong mục Vài nét về đặc sắc nghệ thuật, ông đã
Trang 9phân tích những giá trị nghệ thuật của truyện này, chung qui lại, có thể tóm tắt những luận điểm chính như sau: (a) những yếu tố lạ hóa (sự ra đời kì lạ của thiền sư Huyền Quang); (b) nhiều tình tiết lôi cuốn, nhiều đoạn văn kì thú, miêu tả nhân vật với những nét khá sinh động (việc thử thách của vua Trần Anh Tông, oan tình của nhà sư với Điểm Bích và việc giải oan cho sư); (c) khắc họa tâm lí, chân dung nhân vật qua những tình tiết diễn biến theo trình tự thời gian tuyến tính Cuối cùng, Nguyễn Công Lý đi đến kết luận: “Có thể
nói, Tổ gia thực lục là một truyện vừa có giá trị lịch sử tôn giáo, lại vừa có giá
trị văn học và là đỉnh cao của loại hình văn xuôi tự sự - truyện kí chữ Hán thời Trần” [37, tr.261-264] Có thể xem đây là những trang phân tích sâu sắc
nhất về giá trị nghệ thuật của Tam tổ thực lục từ trước đến nay nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở một truyện Huyền Quang mà chưa khảo sát toàn bộ Tam tổ
thực lục
Kế đến là ý kiến của Nguyễn Hữu Sơn trên tạp chí Khoa học và Tổ
quốc, trong bài viết Trần Nhân Tông: tác gia hoàng đế - thiền sư, số tháng 10
năm 2008: “Riêng sách Tam tổ thực lục ghi chép khá kĩ lưỡng cuộc đời Trần
Nhân Tông với ý nghĩa một tiểu truyện thiền sư, khởi đầu từ việc Trúc Lâm Đại Sĩ (Trần Nhân Tông) sinh ra gắn với điềm lạ, cuộc đời hành đạo có nhiều công tích, để lại nhiều thơ văn và cuối cùng là cái chết thanh thản, “hóa thân”,
“trở về” theo đúng cảm quan “sinh kí tử qui” của Phật giáo… Trong tiểu truyện thiền sư Trần Nhân Tông cũng mang tính hỗn dung thể loại, tàng trữ các giá trị thi ca, những lời đối thoại, hỏi đáp về Phật – pháp – tăng, về quá khứ - hiện tại – vị lai, về công án – giáo điển, về nhân quả - hóa thân…” [55, tr.20]
Năm 2009, hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy di sản đệ tam tổ
thiền phái Trúc Lâm Huyền Quang và lễ hội Côn Sơn được Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch cùng với Giáo hội Phật giáo tỉnh Hải Dương tổ chức tại Côn
Trang 10Sơn, trong đó, có những bài tham luận của nhiều tác giả có uy tín như Nguyễn Minh Tường, Hoàng Minh Đô, Nguyễn Hùng Hậu, Lê Thị Lan, Nguyễn Quốc Tuấn, Đinh Khắc Thuân, Nguyễn Kim Sơn, Tạ Ngọc Liễn, Trần Lâm Biền, Nguyễn Hữu Sơn, Bích Sâm, Nguyễn Quang Khải … bàn về các vấn đề tiểu
sử, sự nghiệp thơ ca, tư tưởng … của đệ tam tổ Huyền Quang Các bài viết chủ yếu khám phá nhân vật Huyền Quang với tư cách là con người – lịch sử -
văn hóa, riêng Nguyễn Hữu Sơn với bài viết Các nhà nho bàn về câu chuyện
đệ tam tổ Huyền Quang – Điểm Bích đã đề cập sâu đến vấn đề lịch sử tiếp
nhận Tổ gia thực lục (truyện Huyền Quang) [54]
Chúng tôi xem đó là những gợi ý quí báu khi nghiên cứu giá trị nghệ thuật của bộ ba tác phẩm này
Ngoài ra cũng có những công trình khác nghiên cứu về Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang nhưng với tư cách là những nhân vật lịch sử, những thiền sư, những tác gia văn học chứ không phải là nhân vật văn học
Đáng nói nhất trong số đó là cuốn Thiền học đời Trần do Viện nghiên cứu
Phật học Việt Nam xuất bản năm 1995 Nhiều bài viết trong cuốn này lấy dẫn
liệu từ Tam tổ thực lục nhưng tuyệt nhiên không thấy nhắc đến cái tên này (!)
Tuy nhiên, cũng có những ý kiến trái chiều như ý kiến của Nguyễn Huệ Chi, xuất phát từ vấn đề nguồn gốc của các truyện tổ, nhà nghiên cứu đã
đề xuất: “nên trả lại những bài văn về đúng chỗ xuất phát của nó” và “cái tên
Tam tổ thực lục đã đến lúc xóa bỏ trên văn đàn” [6, tr.117-121] Chúng tôi sẽ
bàn đến vấn đề này trong phần sau của luận văn
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc điểm và thành tựu của
các truyện thiền sư trong Tam tổ thực lục Chúng tôi sẽ tập trung làm rõ
những đặc điểm về nguồn gốc văn bản, cấu trúc, giá trị của các truyện Trần
Trang 11Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang trong mối tương quan so sánh với các
truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh, các truyện thiền sư khác của Trung
Hoa và truyện kể dân gian người Việt
3.2 Phạm vi đề tài
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn cuốn Tam tổ thực lục do
Thích Phước Sơn dịch và chú thích, được Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1995 làm bản nền khi khảo sát
vì ngoài phần dịch, văn bản này còn có cả nguyên văn chữ Hán theo bản khắc
in của các sa môn Thanh Cừ, Thanh Vân năm 1897 để làm cơ sở đối chiếu so sánh
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần giải đáp các vấn đề về nguồn gốc văn bản, vốn gây
nhiều tranh luận, của Tam tổ thực lục
- Làm rõ những thành tựu nội dung, nghệ thuật của Tam tổ thực lục
về cấu trúc và dấu ấn hỗn dung thể loại của tác phẩm (kiểu kết cấu, khả năng tích hợp các yếu tố folklore, giá trị tàng trữ thi ca) trong tương quan so sánh với các tác phẩm cùng loại và cùng thời; về dấu ấn văn học chức năng, tính thuyết giáo cùng với giá trị văn học của các tác phẩm
- Góp phần khẳng định vai trò đặt nền móng của Tam tổ thực lục đối
với văn xuôi tự sự chữ Hán ở Việt Nam các giai đoạn sau đó và làm rõ thêm cho diện mạo văn học Phật giáo Lý – Trần
- Khẳng định thêm ưu điểm của phương pháp nghiên cứu loại hình trong khảo sát các vấn đề của văn học trung đại Việt Nam nói riêng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn tập trung nêu bật các giá trị của Tam tổ thực lục về
phương diện cấu trúc
Trang 12- Đặt Tam tổ thực lục trong mối tương quan so sánh với các truyện thiền sư khác trong Thiền uyển tập anh, các truyện thiền sư của Trung Hoa,
các truyện dân gian người Việt (chủ yếu là truyền thuyết về các anh hùng lập quốc, cứu quốc, các nhân thần địa phương) để làm nổi rõ những đặc điểm
mang tính chất loại hình về cấu trúc của Tam tổ thực lục
- Làm bật lên giá trị nội dung và nghệ thuật của Tam tổ thực lục trên
những phương diện khác: chức năng nghi lễ - tôn giáo, giá trị lịch sử, giá trị văn học …
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp
Sử dụng phương pháp thống kê, chúng tôi có thể tìm ra những điểm
phổ biến về mặt cấu trúc của Tam tổ thực lục, một phần của Thiền uyển tập
anh, các truyện thiền sư của Trung Hoa và truyện kể dân gian người Việt Từ
đó có cơ sở đối chiếu, so sánh và tổng hợp, đưa ra những đặc điểm loại hình
về mặt cấu trúc của Tam tổ thực lục
5.2 Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi có thể làm nổi rõ các giá trị
của Tam tổ thực lục về mặt cấu trúc trong mối tương quan so sánh với các tác
phẩm cùng loại hoặc cùng thời, tìm ra những điểm tương đồng giữa ba truyện
tổ, khẳng định Tam tổ thực lục không phải là một hiện tượng văn học riêng
biệt nhưng vẫn có những thành công và đặc sắc riêng
5.3 Phương pháp văn hóa – lịch sử
Phương pháp này cho phép chúng tôi giải thích nguồn gốc của những hiện tượng lặp đi lặp lại thành motif trong văn học dân gian, văn học trung đại và hẹp hơn là văn học Phật giáo như thứ “lễ tiết văn học” (chữ dùng của B.L.Rip-tin) [50, tr.116-117] nhất thiết phải mô tả sự ra đời của các nhân
Trang 13vật một cách thần kì… đồng thời cũng đặt đối tượng khảo sát trong một hệ thống tri thức, một lịch sử tiếp nhận cụ thể
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, và Tài liệu tham khảo, luận văn
được triển khai thành ba chương sau đây:
Chương 1: Tam tổ thực lục và thiền phái Trúc Lâm
Trong chương này, chúng tôi thuyết minh một số vấn đề về nguồn
gốc các văn bản trong Tam tổ thực lục, những nét chính về thiền phái Trúc
Lâm cũng như về ba vị tổ của thiền phái này là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và
Huyền Quang – các nhân vật chính của Tam tổ thực lục Đây là chương mang
tính chất tổng thuật để từ đó tạo cơ sở khẳng định giá trị và tầm quan trọng
của Tam tổ thực lục về nhiều phương diện: lịch sử, văn hóa và nhất là đối với
bộ phận văn học Phật giáo thời Trần
Chương 2: Sự hỗn dung thể loại trong Tam tổ thực lục
Trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ đặc điểm của các
truyện thiền sư trong Tam tổ thực lục từ góc nhìn loại hình học trên cơ sở
đánh giá sự giao thoa quan niệm thể loại trong tương quan so sánh với các loại hình văn xuôi cùng loại hoặc cùng thời để làm nổi bật tính “nguyên hợp”,
“đa nguyên” về thể loại của các tác phẩm: sự pha trộn giữa văn học viết và văn học dân gian, sự phối kết giữa các thể loại văn học thế tục và văn học tôn
giáo cũng như những gợi mở rất giá trị của Tam tổ thực lục
Chương 3: Từ chức năng tôn giáo đến giá trị văn học của Tam tổ
thực lục
Trong chương này, chúng tôi chủ yếu khai thác giá trị của Tam tổ
thực lục về mặt chức năng tôn giáo – nghi lễ, đồng thời mở rộng khám phá
tính văn học cũng như giá trị văn học của các tác phẩm trong việc đặt nền móng cho văn xuôi tự sự các thời kì sau, đặc biệt là ở việc mở ra một mảng đề
Trang 14tài lớn cho văn chương của các nhà Nho sau này (đối với trường hợp truyện Huyền Quang)
Trang 15Chương 1
TAM TỔ THỰC LỤC VÀ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
1.1 SÁCH TAM TỔ THỰC LỤC
Theo lời giới thiệu về Tam tổ thực lục trong cuốn Tổng tập văn học
Việt Nam, tập II, do Trần Lê Sáng chủ biên, nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn
hành năm 1997 tại Hà Nội, hiện ở thư viện Hán Nôm có ba bản Tam tổ thực
lục: bản sớm nhất in năm Cảnh Hưng thứ 16 (1765), bản muộn hơn in năm
Thành Thái thứ 9 (1897) và một bản nữa in năm Thành Thái thứ 15 (1903); ngoài ra còn văn bản của chùa Quán Sứ, Hà Nội do Tổng hội Phật giáo Bắc
Kỳ ấn hành năm 1943 [52, tr.781]
Nhà nghiên cứu Lê Duy Mạnh, trong bài viết Trúc Lâm tam tổ là ai, đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số 287, tháng 7 năm 2007, trang 19, có dẫn lại một phần lời Tựa bản in sớm nhất năm 1765 (do quá cũ và mối ăn mất nhiều
nên không thể đọc được hết) Theo người viết tựa thì “từ trước vẫn có [những bản] ghi chép về ba vị tổ [phái Trúc Lâm] triều Trần, đã thành văn chương, và được liệt vào “đồ tịch” để cho người [đời noi theo]” Sách đã được “lưu truyền rất lâu Nhưng than ôi! [lẽ thường] thời vận lúc hưng lúc suy trải qua thời gian, chính bản cũng bị hỏng nát, lâu ngày thành ra thất truyền” Trước
tình hình đó, soạn giả đành phải lấy chuyện thứ nhất từ sách “ đăng lục Và
sao lại một cách sơ lược bài bia cổ chùa Hương Hải” để làm truyện thứ hai Rồi thu thập thêm chương “[Thiền đạo] yếu học để tiện quan lãm Rồi đến Trúc Lâm [đệ tam tổ Bản] hạnh [Tất cả] gộp thành một bộ sách” Từ đó Lê Duy Mạnh đi đến kết luận là bộ sách Tam tổ thực lục hiện nay chỉ là một bộ
sách mới, được chính thức khai sinh vào năm 1765 với công sức của những
Trang 16người biên soạn là các nhà sư Quảng Điền, Hải Lượng và một số người khác,
để thay thế cho một bộ Tam tổ thực lục đời Trần đã thất truyền [39, tr.19]
Nói gọn lại, sách Tam tổ thực lục hiện nay được tập hợp từ ba nguồn
khác nhau: truyện tổ thứ nhất (về Trần Nhân Tông) có thể được truyền từ
Thánh đăng (ngữ) lục, không rõ tác giả; truyện tổ thứ hai (về Pháp Loa) được
sao lục từ một tấm bia cổ ở chùa Hương Hải mang tên Đệ nhị đại tổ bi trùng
tu sự tích kí; truyện tổ thứ ba (về Huyền Quang) được lấy từ Bản hạnh ngữ lục (Tổ gia thực lục), là một bản thực lục gia truyền, không rõ người biên
soạn (Để tiện theo dõi, chúng tôi xin được phép gọi ba truyện tổ này một
cách nôm na là truyện Trần Nhân Tông, truyện Pháp Loa và truyện Huyền
Quang)
Nguồn gốc của truyện Trần Nhân Tông đã được Nguyễn Công Lý xác
nhận là “được lấy nguyên xi từ Thánh đăng ngữ lục” [37, tr.151] Thánh đăng
(ngữ) lục là một tập ghi chép về năm ông vua – Phật tử - thiền sư thời Trần là
Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông Điều này không cần phải bàn thêm
Về nguồn gốc truyện Pháp Loa, Lê Duy Mạnh khẳng định là “tấm bia
Đệ nhị đại tổ bi trùng tu sự tích kí, bia được khắc ngày 10 tháng chạp năm
Chính Hoà thứ năm (tức ngày 14 tháng Giêng năm 1685) tại chùa Hương Hải
Nội dung hoàn toàn phù hợp với truyện Pháp Loa ghi trong Tam tổ thực lục
Mà về thời gian, bia lại được “trùng san” 80 năm trước khi Tam tổ thực lục
xuất hiện” [39, tr.19]
Tuy nhiên, theo như nghiên cứu của giáo sư sử học Hà Văn Tấn trong
cuốn Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, việc ghi nhận truyện Pháp Loa được sao từ tấm bia cổ ở chùa Hương Hải (tức tấm bia Đệ nhị đại tổ bi trùng tu sự
tích kí) như trên là có đôi chút nhầm lẫn Hà Văn Tấn đã dựa vào những dòng
khắc trên mặt thứ tư của văn bia hiện còn của chùa Hương Hải (nay thuộc xã
Trang 17Ái Quốc, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Dương), đã được chuyển về chùa Văn
Xá, cách chùa Hương Hải hơn 2km do chùa này đã bị quân Pháp phá năm 1949: “Chính Hòa ngũ niên… Huệ Nghĩa nam tả, Liễu Chàng xã Nguyễn Tiến Tước thuyên, Tự Đức cửu niên… trùng thuyên” (Chính Hòa năm thứ 5… Huệ Nghĩa nam viết, Nguyễn Tiến Tước người xã Liễu Chàng khắc Tự Đức năm thứ 9… khắc lại) để từ đó đi đến kết luận rằng văn bia chùa Hương
Hải hiện nay không phải là văn bia mà người soạn Tam tổ thực lục đã sao
Bởi lẽ, căn cứ vào từ “khắc lại” cùng với những chữ húy thời Tự Đức, nhà nghiên cứu cho rằng văn bia nói trên thực chất là một bản sao của một văn bia năm Chính Hòa thứ 5 (1685) và được khắc năm Tự Đức thứ 9 (1865) trong
khi bản Tam tổ thực lục sớm nhất còn lại đến nay được in năm 1765 [61,
tr.309-310]
Theo suy đoán của chúng tôi, cùng với những cứ liệu mà Lê Duy Mạnh
và Hà Văn Tấn đã nêu ra, văn bia mà Tam tổ thực lục (1765) đã sao lại có thể
là một văn bia khác, được khắc năm 1685, mà vì lí do nào đó, đã bị thất lạc hoặc hủy hoại
Hiện nay, vấn đề về văn bản gốc của truyện Pháp Loa đã được làm rõ nhờ vào việc phát hiện ra tấm bia tháp Viên Thông, chùa Thanh Mai đời Trần trên sườn núi Tam Ban, xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh vào năm 1979 (hiện nay chùa này đã được dựng mới lại và xây thêm những công trình phụ) Trên bia có câu “Đại Trị Nhâm Dần niên điêu niên phả” (Niên phả được khắc năm Nhâm Dần, niên hiệu Đại Trị), tức dưới thời vua Trần Dụ Tông Đối chiếu với lời chú ở cuối truyện Pháp Loa thì thấy hoàn toàn trùng khớp về thời gian Trên bia còn có sơ đồ ghi những đồ đệ đắc pháp của Pháp Loa mà
Tam tổ thực lục đã không vẽ lại [61, tr.310] Ngoài ra, căn cứ phần mở đầu
truyện thì biết được: “Bản niên phổ (phả) này căn cứ vào Đoạn sách lục, do
thị giả Trung Minh sao chép lại, và đệ tử chân truyền là Huyền Quang khảo
Trang 18đính” [57, tr.37] Đoạn sách lục là tác phẩm của chính Pháp Loa Sau này, thị
giả Trung Minh đã dựa vào đó để soạn nên bản niên phả và được Huyền
Quang khảo đính Xét về thời gian, bản niên phả này phải ra đời trong khoảng
năm 1330 đến 1334, tức sau khi Pháp Loa viên tịch và trước khi Huyền Quang qua đời Đến năm 1362 (tức trên dưới 30 năm sau) mới được khắc bia đặt ở chùa Thanh Mai Lí do tấm bia này được đặt ở chùa Thanh Mai trên sườn núi Tam Ban có thể được giải thích bằng một số sự kiện được ghi lại trong truyện Pháp Loa như sau: “Tháng 7 năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Khai Hựu thứ nhất (1329), sư (Pháp Loa) mở thắng cảnh Côn Sơn và Thanh Mai sơn” [57, tr.53] Ngoài ra, ở cuối truyện Pháp Loa còn có một thông tin khác nữa: sau khi nhà sư viên tịch, “môn nhân đệ tử khâm liệm vào quan tài, giờ Sửu rước lên núi Thanh Mai tôn trí vào chỗ đất mà trước đó sư đã bảo họ làm sẵn” [57, tr.57] (“chỗ đất” này là một tháp bằng đất); việc xây lại và đặt tên tháp cũng được nhắc đến: “Ngày 11 tháng 3, Thái thượng hoàng ngự bút phong thêm sư hiệu Tịnh Trí Tôn Giả, đặt tên tháp là Viên Thông, và ban cho 10 lượng vàng để xây tháp” [57, tr.57] Như vậy, chùa Thanh Mai là ngôi chùa
mà Pháp Loa đã khai sơn, đồng thời là nơi an táng của thiền sư, trong tháp Viên Thông có nhục thể của Pháp Loa Duy chỉ có việc vì sao phải hơn 30 năm sau khi Pháp Loa qua đời, tấm bia mới được khắc, là vẫn còn nhiều bí
ẩn Những thông tin trên đây về truyện Pháp Loa là những thông tin hết sức
quí giá, góp phần làm sáng tỏ những nghi vấn về Tam tổ thực lục
Riêng về những diễn biến của truyện Huyền Quang (tức Tổ gia thực
lục), sách Tam tổ thực lục có trình bày một giai thoại, xin được trích nguyên
văn phần dịch của Thích Phước Sơn:
Quyển Tổ gia thực lục này, vào khoảng niên hiệu Tuyên
Đức (1426 – 1435) đời nhà Minh, Thượng thư Hoàng Phúc thấy được, liền mang về nhà Minh Trải qua năm tháng, ông thường nằm
Trang 19mơ thấy sư bảo phải gởi trả sách về bản quốc, nhưng con cháu ông chưa gặp cơ hội thuận tiện đặng (để) gởi trả lại Do đó, nguyện xin lập chùa tại làng mình để phụng thờ Nhân cầu đảo mà được linh ứng, nên đặt tên chùa là “An Nam Thiền Sư Huyền Quang Tự” Đến khoảng năm Gia Tĩnh (1522 – 1558) nhà Minh, Tô Xuyên Hầu (Lê Quang Bí – TTYT chú) đi sứ sang nhà Minh, tới 19 năm sứ giả mới trở về Cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa Tổ, làm quan chuyển vận, cũng thường mộng thấy sư bảo phải gởi trả sách về nước, nên đã gởi cho Tô Xuyên Hầu đem về Nhân đó kể lại việc kia Bấy giờ ông còn phụng sự triều Minh Trình Tuyền Hầu (Nguyễn Bỉnh Khiêm – TTYT chú) nhân đến chúc mừng sứ giả về nước, bèn nhận sách đem về Sau đó, Trình Tuyền Hầu có làm văn chú thích sách này” [57, tr.90]
Như vậy, về nguồn gốc văn bản, quyển Tổ gia thực lục (truyện Huyền
Quang) là có nhiều nghi vấn hơn cả vì bị thất lạc một thời gian dài trước khi đến tay Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) rồi được truyền bá rộng rãi Diễn biến của quá trình này cũng được bao bọc trong bầu không khí màu nhiệm, đầy những chi tiết hoang đường
Như trên, chúng ta đã thấy được tính chất phức tạp của Tam tổ thực lục
về mặt nguồn gốc văn bản, cũng do sự phức tạp đó mà giữa ba truyện tổ có cách biệt khá xa về phong cách ghi chép “thực lục” Vì thế mà Nguyễn Huệ Chi đã đề xuất “nên trả lại những bài văn về đúng chỗ xuất phát của nó” và
“cái tên Tam tổ thực lục đã đến lúc xóa bỏ trên văn đàn” [6, tr.117-121] Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, “cái tên” Tam tổ thực lục không phải là vấn đề Tam tổ thực lục đơn thuần là nhan đề của một cuốn sách mang tính
tập hợp các văn bản khác nhau ghi chép về tiểu sử, hành trạng của ba vị danh tăng thời Trần hơn là một tác phẩm duy nhất và hoàn chỉnh Nếu không kể
Trang 20đến cái tâm của những người đã dày công sưu tầm, tập hợp và biên soạn, thiết nghĩ chúng ta cũng nên lưu tâm đến tính tập trung, có kế thừa của các văn bản
để làm nổi bật một hiện tượng văn hóa độc đáo trong lịch sử là thiền phái
Trúc Lâm, từ đó tạo điều kiện cho cái tên Tam tổ thực lục được sống, thoát
khỏi nguy cơ bị xóa sổ khỏi lịch sử văn học Việt Nam
1.2 THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Thiền phái Trúc Lâm là một hiện tượng văn hóa đặc biệt trong lịch sử Việt Nam Tuy tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn ngủi rồi dần ẩn mất nhưng thiền phái này đã ghi được một dấu ấn sâu sắc, có tác động lớn lao đến đời sống Phật giáo lúc bấy giờ Việc xem xét những yếu tố tạo tiền đề cho sự
ra đời và phát triển của thiền phái Trúc Lâm cũng như vai trò, vị trí của nó trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, thiết nghĩ, là vô cùng ý nghĩa
1.2.1 Tiền đề cho sự ra đời và phát triển của thiền phái Trúc Lâm
Thiền phái Trúc Lâm đã ra đời trong một khung cảnh chính trị và văn hóa của một thời đại hào hùng Tồn tại trong 175 năm (1225 – 1400), trải qua
12 đời vua, nhà Trần được xem là một trong những triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam Đại Việt lúc đó có thời là một quốc gia hùng cường về chính trị, quân sự, đồng thời có những cải cách về văn hóa rất đáng ghi nhận Thiền phái Trúc Lâm may mắn được khai sinh trong giai đoạn lịch sử rực rỡ đó
Về chính trị, đáng lưu ý nhất là từ năm 1258, cùng với việc Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng (Trần Thánh Tông) thì chế độ nhường ngôi sớm cho con để lên làm thượng hoàng của nhà Trần cũng chính thức bắt đầu Trần Thái Tông ở ngôi thượng hoàng 19 năm (1258 – 1277), Trần Thánh Tông 12 năm (1278 – 1290), Trần Nhân Tông 6 năm (1293 -1299), Trần Anh Tông cũng 6 năm (1314 – 1320), Trần Minh Tông có đến 28 năm làm thượng hoàng (1329 – 1357) … Đó là chủ trương hết sức tiến bộ, giúp cho các vị vua non trẻ có điều kiện tích lũy kinh nghiệm trong khi vai trò
Trang 21chính trị của thượng hoàng vẫn còn Tuy nhiên, cũng có luồng ý kiến trái ngược như ý kiến của nhà sử học Ngô Sĩ Liên:
Từ khi Hạ Vũ truyền ngôi cho con thì cha chết con nối, anh chết em thay, đã thành phép thường mãi mãi
Gia pháp họ Trần lại khác thế: con đã lớn thì cho nối ngôi chính, còn cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hoàng, cùng trông coi chính sự Thực ra truyền ngôi chỉ để yên việc sau, phòng lúc vội vàng, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng quyết định Vua
kế vị không khác gì hoàng thái tử cả Như vậy có hợp đạo không?
(…) Sao bằng cứ truyền nối như Tam Vương để đúng lẽ thủy chung là hơn cả [33, tr.226]
Thế nhưng, phải thừa nhận một sự thật rằng nếu không có chế độ nhường ngôi sớm thì đã không có sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm, bởi lẽ sau khi nhường ngôi cho con, ngoại trừ 6 năm làm thượng hoàng, Trần Nhân Tông đã dành hết 9 năm còn lại trong cuộc đời của mình (1299 – 1308) để gầy dựng và trở thành người lãnh đạo đầu tiên của thiền phái này
Về quân sự, đây là thời đại đã ghi dấu những chiến công oanh liệt của đất nước ta trong ba cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên Năm
1258, Trần Thái Tông thân hành đốc chiến, đẩy lùi cuộc tấn công của quân Mông Cổ do tướng Ngột Lương Hợp Đài (Uriyangqadai) dẫn đầu Năm 1285, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông lãnh đạo quân dân giết chết Toa Đô, đánh tan hơn nửa triệu quân xâm lược, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai của quân Mông – Nguyên Năm 1288, Trần Thánh Tông
và Trần Nhân Tông lại một lần nữa cùng quân dân đánh tan quân Mông – Nguyên lần thứ ba tại sông Bạch Đằng, bắt sống Ô Mã Nhi, Tích Lê Cơ và nhiều tướng giặc, làm phá sản hoàn toàn âm mưu xâm lược nước ta của chúng
Trang 22Như vậy, thiền phái Trúc Lâm đã ra đời trong một bối cảnh vô cùng thuận lợi, đất nước không còn phải lo đối phó với giặc ngoại xâm Trần Nhân Tông cùng với thượng hoàng Trần Thánh Tông đã cố kết được lòng dân Sau những âm vang hào hùng của lịch sử là lúc người ta quay trở về với việc khôi phục nền kinh tế và nâng cao đời sống văn hóa, trong đó có tín ngưỡng và tôn giáo
Về văn hóa, thời Trần được xem là thời đại trọng văn và trọng Phật Năm 1232, dưới thời vua Trần Thái Tông, triều đình đặt ra học vị Thái học sinh Khoa thi đầu tiên vào tháng Hai năm đó lấy được năm người đỗ đệ nhất,
đệ nhị và đệ tam giáp Năm 1246, định lệ thi Tiến sĩ cứ bảy năm một lần, tính
từ khoa thi năm sau, tức năm 1247, nhưng không thực hiện được theo lệ ấy Năm 1247, lại định lệ tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) là danh hiệu dành riêng cho ba người đỗ cao nhất trong kì thi Đình Chỉ tính riêng trong đời Trần Thái Tông thì đã có bốn khoa thi Đình như thế (1232,
1239, 1247, 1256), đời Trần Thánh Tông tổ chức được hai khoa (1266, 1275), đời Trần Anh Tông hai khoa (1304, 1314) …
Điều đáng nói hơn hết là tinh thần trọng Phật của vua chúa và giới quí tộc thời Trần Truyền thống trọng Phật đã có từ thời Lý, đến thời Trần nó lại được kế thừa một cách trọn vẹn Đây được xem là điều kiện tiên quyết, tạo tiền đề thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Sách
Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên có ghi một số sự kiện đáng lưu ý:
Đinh Hợi, [Kiến Trung] năm thứ 3 [1227], (Tống Bảo Khánh năm thứ 3) Thi tam giáo tử (nghĩa là những người nối nghiệp Nho giáo, Đạo giáo, Thích (Phật – TTYT chú) giáo [33, tr.215]
* Tân Mão, [Kiến Trung] năm thứ 7 [1231], (Tống Thiệu Định năm thứ 4) (…)
Trang 23Mùa thu, tháng 8, vua ngự đến hành cung Tức Mặc, dâng lễ hưởng ở tiên miếu, thết yến và ban lụa cho bô lão trong hương theo thứ bậc khác nhau
Thượng hoàng (Trần Thừa – TTYT chú) xuống chiếu rằng trong nước hễ có chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng Phật để thờ
Trước đây, tục nước ta vì nóng bức, nên làm nhiều đình cho người đi đường nghỉ chân, thường quét vôi trắng, gọi là đình trạm Thượng hoàng khi còn hàn vi thường nghỉ ở đó, có một nhà sư bảo rằng: “Người trẻ tuổi này ngày sau sẽ đại quí” Nói xong thì không thấy nhà sư đâu nữa Đến nay, vua lấy được thiên hạ mới có lệnh này
Kèm theo lời bàn của Ngô Sĩ Liên:
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Việc này của Trần Thái Tông cũng giống như việc Vạn Hạnh với Lý Thái Tổ Đó là mầm đầu tiên của
sự sùng Phật ở đời Lý, đời Trần Kể ra, người thức giả mọi việc đều biết trước, có gì lạ đâu [33, tr.216]
* Trần Thái Tông cũng từng có lần bất mãn:
(…) ban đêm, ra khỏi kinh thành đến chỗ quốc sư Phù Vân (quốc sư là bạn cũ của Thái Tông) trên núi Yên Tử rồi ở lại đó
Hôm sau, Thủ Độ dẫn các quan đến mời vua trở về kinh sư Vua nói: “Vì trẫm non trẻ, chưa cáng đáng nổi sứ mệnh nặng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy nên không dám giữ ngôi vua, làm nhục xã tắc”
Thủ Độ nài xin nhiều lần vẫn chưa được vua nghe, mới bảo mọi người rằng:
Trang 24“Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó”
Thế rồi [Thủ Độ] cắm nêu trong núi, chỗ này là điện Thiên
An, chỗ kia là các Đoan Minh, sai người xây dựng Quốc sư nghe thấy thế bèn tâu rằng:
“Bệ hạ nên gấp quay xa giá trở về, chớ để làm hại núi rừng của đệ tử”
Vua bèn trở về kinh đô [33, tr.218]
* Giáp Thìn, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 13 [1244], (Tống Thuần Hựu năm thứ 4) (…)
Bấy giờ các vương hầu bổ quan tăng đạo thì gọi là Tả nhai, vì không thể cho đứng vào hàng ngũ các quan trong triều Tả nhai là phẩm cao nhất của quan tăng đạo Không phải là người thông thạo tôn giáo của mình thì không được dự càn [33, tr.220]
*
Kỷ Dậu, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 18 [1249], (Tống Thuần Hựu năm thứ 9) Mùa xuân, tháng Giêng, trùng tu chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ [33, tr.222]
* Nhâm Tuất, [Thiệu Long] năm thứ 5 [1262], (Tống Cảnh Định năm thứ 3, Nguyên Trung Thống năm thứ 3) (…) Lại làm chùa ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh [33, tr.228]
*
Ất Mùi, [Hưng Long] năm thứ 3 [1295], (Nguyên Thành Tông Mộc Nhĩ Nguyên Trinh năm thứ 1) Mùa xuân, tháng 2, ngày mồng 1, sứ Nguyên Tiêu Thái Đăng sang
Trang 25Vua (Trần Anh Tông – TTYT chú) sai Nội viên ngoại lang
Trần Khắc Dụng, Phạm Thảo cùng đi theo, nhận được bộ kinh Đại
tạng đem về để ở phủ Thiên Trường, in bản phó để lưu hành [33,
trong nước và giảng kinh Giới thí [33, tr.260]
* Mậu Thân, [Hưng Long] năm thứ 16 [1308], (Nguyên Vũ Tông Hải Sơn, Chí Đại năm thứ 1) (…)
Ngày mồng 3 (tháng 11 – TTYT chú), Thượng hoàng (Trần Nhân Tông – TTYT chú) băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử
Bấy giờ, thượng hoàng xuất gia, tu ở ngọn Tử Tiêu núi Yên
Tử, tự hiệu là Trúc Lâm đại sĩ Bà chị là Thiên Thụy ốm nặng, Thượng hoàng xuống núi, tới thăm và bảo:
Trang 26“Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi, thấy âm phủ có hỏi thì trả lời rằng: Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ tới ngay.”
Nói xong, thượng hoàng trở về núi, dặn dò người hầu là Pháp Loa các việc về sau rồi bỗng nhiên ngồi mà hóa Thiên Thụy cũng mất vào hôm đó
Pháp Loa thiêu [xác thượng hoàng] được hơn ba ngàn xá lị mang về chùa Tư Phúc ở kinh sư Vua có ý ngờ Các quan nhiều người xin bắt tội Pháp Loa Hoàng thái tử Mạnh mới 9 tuổi, đứng hầu bên cạnh, chợt thấy có mấy hạt xá lị ở trước ngự, đưa ra cho mọi người xem, kiểm lại trong hộp thì đã mất một số hạt Vua xúc động đến phát khóc, trong lòng mới khỏi nghi ngờ [33, tr.264]
*
Kỷ Dậu, [Hưng Long] năm thứ 17 [1309], (Nguyên Chí Đại năm thứ 2) (…)
Thứ phi của vua (Trần Anh Tông – TTYT chú) là Phạm Thị,
là con gái Phạm Ngũ Lão, không có con, xin xuất gia, vua cho [33, tr.265]
* Mậu Ngọ, [Đại Khánh] năm thứ 5 [1318], (Nguyên Diên Hựu năm thứ 5) (…)
Bấy giờ, thượng hoàng (Trần Anh Tông – TTYT chú) có ý xuất gia, nên sai cung nhân ăn chay Các cung nhân đều ngần ngại, duy có nữ quan Nguyễn Thị Diên chặt ngón tay đem dâng Thượng hoàng ngợi khen, ban cho 40 mẫu ruộng làm lương ăn tu hành ngày sau Rồi Thị Diên quả nhiên đi tu cho đến lúc mất, Phật hiệu là Tịnh Quang ni [33, tr.270]
Trang 27* Tân Dậu, [Đại Khánh] năm thứ 8 [1321], (Nguyên Anh Tông Thạc Đức Bạt Lạt Chí Trị năm thứ 10).(…)
Thi các tăng nhân, hỏi kinh Kim cương [33, tr.273]
* Một số sự kiện liên quan đến tôn giáo như việc các nhà sư ở nước ngoài sang cũng được ghi chép lại:
Giáp Thìn, [Hưng Long] năm thứ 12 [1304], (Nguyên Đại Đức năm thứ 8) (…)
Sư Du Già nước Chiêm sang ta, chỉ ăn sữa bò [33, tr.261]
* Tân Hợi, [Hưng Long] năm thứ 19 [1311], (Nguyên Chí Đại năm thứ 4) (…)
Nhận con gái của nhà sư người Hồ là Du Chi Bà Lam vào cung
Sư đã sang ta vào thời Nhân Tông, vẻ người già nua, tự nói là
300 tuổi, có thể ngồi xếp bằng nổi trên mặt nước, lại có thể thu cả ngũ tạng lên ngực, làm cho trong bụng lép kẹp, chỉ còn da bụng và xương sống thôi Sư chỉ ăn lưu hoàng, mật, rau dưa, ở mấy năm thì
về nước, đến nay lại sang ta Vua (Trần Anh Tông – TTYT chú) lấy con gái sư là Đa La Thanh vào cung Nhà sư sau mất ở kinh sư [33, tr.266]
Khi xem xét kĩ các truyện trong Tam tổ thực lục, nhất là truyện tổ thứ
hai, chép về hành trạng của Pháp Loa, lại thấy rất rõ vai trò của hoàng tộc nhà Trần đối với sự phát triển của thiền phái Trúc Lâm Trong lễ truyền thừa tổ vị năm 1308 (tức năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16), chính thức công nhận Pháp Loa trở thành vị tổ thứ hai của dòng thiền này, vua Trần Anh Tông
Trang 28đích thân ngự giá đến dự [57, tr.40] Dưới thời Pháp Loa, nhiều nhân vật trong hoàng tộc trở thành tín đồ Phật giáo như Tuyên Từ Hoàng Thái hậu, Thiên Trinh Trưởng công chúa thụ giới xuất gia Bồ-tát năm 1308 [57, tr.41], Thái Thượng hoàng (chỉ vua Trần Anh Tông sau khi nhường ngôi cho Trần Minh Tông) thụ Bồ-tát giới tại gia năm 1316 [57, tr.45], Hoa Dương Công chúa (và một số người khác) thụ giới tại gia năm 1319 [57, tr.47], Tuệ Nhân Đại vương thụ giới Bồ-đề tâm năm 1320 [57, tr.47], Thượng phẩm Hoài Ninh Hầu Trịnh Trọng Tử thụ giới Bồ-đề tâm năm 1321 [57, tr.48], Quốc phụ Thượng tể thụ giới tại gia Bồ-tát năm 1321 [57, tr.48], Tư đồ Văn Huệ Vương, Uy Huệ Vương thụ giới Bồ-đề và pháp Quán đỉnh năm 1323 [57, tr.50], Chiêu Từ Hoàng Thái phi thụ giới xuất gia Bồ-tát năm 1324 [57, tr.50], Tuyên Chân công chúa và Lệ Bảo công chúa thụ giới xuất gia năm 1329 [57, tr.53]… Tổng cộng, trong 22 năm Pháp Loa làm đệ nhị tổ của thiền phái Trúc Lâm, hoàng tộc nhà Trần đã quyên hơn 2000 mẫu ruộng đất cùng với 54000 quan tiền, 1000 lượng vàng và 500 lượng bạc để làm phương tiện nuôi tăng chúng hoặc vào các mục đích khác như bố thí, đúc tượng…
Có thể thấy, đằng sau sự phát triển rực rỡ của thiền phái Trúc Lâm dưới thời của Pháp Loa là sự ủng hộ vô cùng nhiệt tình của giới quí tộc thời Trần Càng không thể phủ định rằng thiền phái Trúc Lâm sở dĩ có thể phát triển mạnh mẽ trong một thời gian ngắn như thế là do có được sự hỗ trợ đắc lực từ các chính sách của triều đình phong kiến lúc bấy giờ như những qui định về việc độ tăng, cho phép đúc tượng, xây chùa, khắc ván in sao kinh văn và cho các chùa sở hữu một khối lượng tài sản khổng lồ
Tuy nhiên, bắt đầu từ đời Trần Hiến Tông (1329 – 1341) trở đi, trong
Đại Việt sử kí toàn thư, ít thấy có ghi chép về những sự kiện Phật giáo như đã
thấy ở trên Đây có phải là nguyên do khiến cho thiền phái Trúc Lâm càng về sau càng trở nên trầm lắng vì không còn được sự ủng hộ của các ông vua và
Trang 29giới quí tộc thời Trần?! Sự việc vua (?) (nhiều khả năng là vua Trần Anh Tông) dùng nàng Điểm Bích để thử thách Huyền Quang liệu có thể được xem
là một tín hiệu cho thấy niềm tin và sự ngưỡng vọng đối với các nhà sư đã ít nhiều giảm sút?! Mối quan hệ khăng khít giữa tôn giáo và chính trị đã khiến cho thiền phái Trúc Lâm trở thành một hiện tượng văn hóa đặc biệt trong lịch
sử Việt Nam, là một trong những nguyên nhân khiến thiền phái này mau chóng lắng xuống và dần mai danh ẩn tích khi không còn sự ủng hộ của triều đình phong kiến
1.2.2 Vai trò của thiền phái Trúc Lâm trong đời sống Phật giáo
Trước khi thiền phái Trúc Lâm ra đời, ở nước ta đã từng tồn tại ba dòng thiền: thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, truyền vào Việt Nam năm 580), thiền phái Vô Ngôn Thông (truyền vào Việt Nam năm 820), thiền phái Thảo Đường (sáng lập năm 1069), đến đầu thế kỉ XIII, ba thiền phái trên dần hợp nhất làm một gọi là thiền phái Yên Tử dưới sự ảnh hưởng lớn lao của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ Thiền phái Yên Tử truyền thừa được năm đời qua các vị tổ: thiền sư Hiện Quang, thiền sư Viên Chứng, Đại Đăng Quốc Sư, thiền sư Tiêu Diêu, thiền sư Huệ Tuệ trước khi truyền đến Trần Nhân Tông Vì thế, Trần Nhân Tông vừa có thể được xem là tổ sư thứ sáu của phái Yên Tử, vừa là vị tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm [30, tr.217-219] Có lẽ, thói quen gọi thiền phái Trúc Lâm là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử xuất phát
từ đây, nhằm ghi nhớ nguồn gốc của thiền phái Trúc Lâm chính là thiền phái Yên Tử
Ngay từ khi ra đời, thiền phái Trúc Lâm đã đóng một vai trò không nhỏ trong đời sống Phật giáo lúc bấy giờ Một vai trò quan trọng của thiền phái Trúc Lâm đó chính là thống nhất các dòng thiền thành một mối, gọi là Phật giáo nhất tông, mang tính Đại Việt Kể từ đó thiền phái này phát triển theo một con đường riêng, mang tinh thần nhập thế tích cực, thu hút một số lượng
Trang 30tín đồ đông đảo, tạo nên một thời kì có thể nói là sôi nổi nhất nhưng cũng lắng sâu nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
Thiền phái Trúc Lâm đã thu hút được sự ủng hộ của cả giới quí tộc lẫn quần chúng nhân dân Tín đồ của phái có cả các bậc vua chúa, vương hầu cao
tột bậc cho đến những kẻ dân cày Theo sách Tam tổ thực lục, chỉ tính riêng
Pháp Loa, nhà sư đã có hơn ba ngàn đệ tử đắc pháp và độ được hơn mười lăm ngàn tăng ni [57, tr.54] Trong số đó, có những gương mặt xuất thân từ hoàng tộc như đã kể ở trên Nếu so sánh với dân số ước chừng hơn ba triệu người vào thời ấy thì con số ba ngàn đệ tử đắc pháp của mỗi mình Pháp Loa cùng với mười lăm ngàn tăng ni mà nhà sư độ được quả thật là không nhỏ
Nhiều công trình Phật giáo cũng đã được xây dựng trong thời kì này
Theo Tam tổ thực lục, đệ nhất tổ Trần Nhân Tông có đích thân lập Chi Đề
Tịnh Xá và am Tri Kiến Sau khi Trần Nhân Tông mất, vua Trần Anh Tông cho đúc hai tượng bằng vàng để tưởng nhớ ngài, một thờ ở chùa Báo Ân tại Siêu Loại, một thờ ở chùa Vân Yên núi Yên Tử [57, tr.35]
Tuy nhiên, thời Pháp Loa làm đệ nhị tổ mới là thời hoàng kim của thiền phái Trúc Lâm Năm 1314 (tức năm Giáp Dần, niên hiệu Đại Khánh thứ nhất), tại chùa Siêu Loại, Trần Anh Tông (lúc này đã nhường ngôi cho Trần Minh Tông, lên làm thượng hoàng) cho “đúc ba pho tượng Phật đều cao 17 thước, và xây điện Phật, gác kinh, nhà tăng, gồm 33 sở” [57, tr.45] Năm 1317 (tức năm Đinh Tỵ, niên hiệu Đại Khánh thứ tư), chùa Bảo Sơn Vương tại Cổ Thành được khai sơn Cũng trong năm này, Pháp Loa sáng lập viện Quỳnh Lâm [57, tr.45-46] Năm 1322 (tức năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Khánh thứ 9), sư lại lập các am Hồ Thiên, Chân Lạc và huy động hoàng tộc đóng góp để đúc một ngàn pho tượng Phật [57, tr.49], hai năm sau thì hoàn thành và được điểm nhãn Tháng 6 năm 1324 (tức năm Giáp Tý, niên hiệu Khai Thái thứ nhất), Pháp Loa tạo hai bộ tượng A-di-đà công đức bằng sơn mài, mỗi bộ có
Trang 31ba tượng [57, tr.51] Cũng trong năm này, Tư đồ Văn Huệ Vương, các cung phi của vua Trần Minh Tông, công chúa Thượng Trân, Dị Loan cư sĩ, Bảo Từ Hoàng thái hậu đã quyên góp tiền của, đất đai để đúc tượng Di-lặc cao một trượng sáu [57, tr.51], ba năm sau thì hoàn thành, đặt tại viện Quỳnh Lâm [57, tr.53] Tháng 10 năm 1327 (tức năm Đinh Mão, niên hiệu Khai Thái thứ tư), Pháp Loa lại sáng lập các am An Mã, Thị Khê và Hạc Lai [57, tr.53] Tháng 7 năm 1329 (tức năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Khai Hựu thứ nhất), Pháp Loa mở hai
thắng cảnh Côn Sơn và Thanh Mai sơn … Tam tổ thực lục tổng kết 22 năm
(1308 – 1330) trong cương vị tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm, tổng cộng Pháp Loa “đã tạo hơn 1300 tượng Phật lớn nhỏ, hai bộ tượng sơn mài, hơn trăm tượng bằng đất, dựng hai cảnh chùa lớn và năm ngôi tháp, lập hơn 200 tăng xá” [57, tr.54]
Về phần Huyền Quang, Tam tổ thực lục có ghi việc sư khai sơn chùa
Đại Bi (còn có tên là chùa Thầy) phía tây nhà ở làng Vạn Tải, hạ lưu sông Bắc Giang vào năm 1313 (tức năm Quý Sửu, niên hiệu Hưng Long thứ 21), trước khi được trao y bát làm tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm Ngôi chùa được xây nên nhờ việc “góp công đức bằng vàng bạc và của cải không thể kể hết” của từ thiên tử cho đến thứ dân [57, tr.82] Vả lại, Huyền Quang cũng chỉ đảm nhận ngôi tổ trong vỏn vẹn bốn năm (1330 – 1334), khi tuổi đã cao, và
đó là lí do khiến ông không có nhiều cơ hội để phát triển thiền phái hơn nữa
Các kinh sách Phật giáo liên tục được khắc ván sao in để ấn hành rộng rãi hoặc dành làm của thường trụ cho các chùa, tạo cơ sở để tăng chúng tiếp
cận kinh điển, mở mang Phật học Tam tổ thực lục có ghi lại một số sự kiện
đáng chú ý như năm 1308 (tức năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16), trong lễ truyền thừa tổ vị cho Pháp Loa, Trần Nhân Tông đem “100 bộ kinh
sử ngoại điển và 20 hộp Đại tạng cỡ nhỏ viết bằng máu trao cho sư để mở
mang sự học nội và ngoại điển” [57, tr.41]; năm 1311 (tức năm Tân Hợi, niên
Trang 32hiệu Hưng Long thứ 19), Pháp Loa phụng chiếu tiếp tục khắc bản Đại tạng
kinh và giao cho Bảo Sát chủ trì việc này [57, tr.43]; năm 1314 (tức năm Giáp
Dần, niên hiệu Đại Khánh thứ nhất), Trần Anh Tông ban 500 bộ Đại tạng
kinh để làm của thường trụ cho chùa Siêu Loại [57, tr.45]; năm 1319 (tức năm
Kỷ Mùi, niên hiệu Đại Khánh thứ 6), Pháp Loa “kêu gọi tăng chúng và cư sĩ
chích máu in Đại tạng kinh hơn 5000 quyển, để tại viện Quỳnh Lâm Anh Tông tự chích máu mình in Đại tạng kinh cỡ nhỏ gồm 20 hộp, ban cho sư”
[57, tr.47]; năm 1322 (tức năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Khánh thứ 9), Pháp
Loa cho in để ấn tống hơn 5000 quyển Tứ phần luật san bổ sao [57, tr.49];
năm 1323 (tức năm Quý Hợi, niên hiệu Đại Khánh thứ 10), Bảo Từ Hoàng Thái hậu và Tư đồ Văn Huệ Vương mời Pháp Loa về viện Quỳnh Lâm giảng
hội thứ năm kinh Hoa nghiêm, đồng thời soạn Kim cương trường đà-la-ni
kinh khoa chú, xem bản ấn hành, sửa chữa Niết-bàn đại kinh khoa sớ, Pháp hoa kinh khoa sớ, san định Lăng-già tứ quyển khoa sớ và soạn diễn nghĩa, sửa
chữa Bát nhã tâm kinh khoa sớ, soạn Pháp sự khoa văn và Độ môn trợ thành
tập [57, tr.50] Đây là những công trình văn hóa lớn, được tạo nên bằng niềm
tin và sự mộ đạo vô bờ của tăng chúng, trong đó có những công trình được in bằng máu mà đời sau không thể nào có được Đáng tiếc là binh hỏa chiến tranh đã hủy hoại tất cả những công trình giá trị đó
Điều đáng hoan nghênh là ở chỗ các vị tổ của thiền phái Trúc Lâm ngay từ đầu đã có ý thức đưa kinh điển Phật giáo đến gần với tăng chúng, xem việc giảng pháp độ tăng là việc làm quan trọng và thiết thực để phát triển thiền phái Trần Nhân Tông từng lập ra Chi Đề Tịnh Xá (1299) cũng với mục đích này Sau đó, Trần Nhân Tông còn mời các danh tăng về chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường lập ra trường giảng [57, tr.19] Bản thân Trần Nhân Tông
từng giảng kinh Giới thí ở hội Vô lượng pháp, chùa Phổ Minh năm 1303 (tức năm Quý Mão, niên hiệu Hưng Long năm thứ nhất) [33, tr.260], giảng Truyền
Trang 33đăng lục tại chùa Vĩnh Nghiêm (Lạng Giang) năm 1308 (tức năm Mậu Thân,
niên hiệu Hưng Long thứ 16) Pháp Loa từng giảng kinh Hoa nghiêm, Truyền
đăng lục, Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, kinh Duy ma, Đại tuệ ngữ lục, Tuyết đậu ngữ lục trong những dịp khác nhau
Chính những hoạt động tích cực đó đã đóng một vai trò quan trọng trong việc qui tụ tăng chúng, vừa tạo được một “phong trào” tu học rộng rãi, vừa có thể truyền bá được tinh thần cốt tủy của thiền học, giáo lí cũng như lịch sử truyền thừa của Phật giáo
Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận, “phong trào Phật giáo nhập thế gọi là Trúc Lâm Yên Tử chỉ hưng thịnh cho đến khoảng giữa thế
kỉ thứ XIV Sau đó, phong trào yếu dần Từ đây cho đến cuối thế kỉ XVI, thiếu sự nâng đỡ của những ông vua Phật tử, đạo Phật rút lui về căn cứ của mình ở chùa trên núi và nơi thôn quê Các chùa ở thủ đô Thăng Long thôi đóng vai trò quan trọng về chính trị” [30, tr.300] Tuy nhiên, bất kể bao nhiêu thăng trầm, Trúc Lâm vẫn là một thiền phái lớn, một hiện tượng văn hóa có một không hai trong lịch sử Việt Nam Thiền phái Trúc Lâm, có thể nói, đã tạo nên một sự chuyển biến lớn trong đời sống Phật giáo lúc bấy giờ, là một nhịp cầu nối để đưa “đạo” đến gần với “đời”
1.3 TRÚC LÂM TAM TỔ
1.3.1 Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông là một nhân vật lịch sử khá thú vị Ông vừa là một vị hoàng đế, một anh hùng dân tộc, vừa là một thi sĩ, một thiền sư, người sáng lập và lãnh đạo thiền phái Trúc Lâm, một giáo hội Phật giáo có ảnh hưởng vô cùng sâu rộng dưới thời Trần
Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên tục là Trần Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông Ông lên ngôi năm 20 tuổi, tại vị 15 năm (1278 –
Trang 341293), sau đó nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, ở ngôi thượng hoàng 6 năm (1293 – 1299) rồi chính thức xuất gia và dành hết khoảng thời gian còn lại trong cuộc đời của mình để sáng lập và phát triển thiền phái Trúc Lâm
Trần Nhân Tông được đánh giá là một ông vua “nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần” [33, tr.235] Trong 15 năm tại vị, vị vua này đã đóng một vai trò không nhỏ trong việc làm nên những trang sử hào hùng vào bậc nhất của dân tộc: hai lần đẩy lùi và làm phá sản hoàn toàn âm mưu xâm lược nước ta của quân Mông – Nguyên (1285, 1288) Riêng về việc xuất gia của ông, không phải ai cũng nhìn nhận theo hướng tích cực Sử gia Ngô Sĩ Liên có đôi lần phê phán việc ông “để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng
đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân” [33, tr.235], hoặc ở một chỗ khác: “Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ rõ đạo hiếu, dưới dùng người hiền lập nên võ công, nếu không phải bậc nhân minh anh vũ thì sao được như thế? Duy có việc xuất gia là không hợp với đạo trung dung, là cái lỗi của bậc hiền giả” [33, tr.264] Nên nhớ, Ngô Sĩ Liên trước đã từng phê phán Trần Thánh Tông: “vua trung hiếu nhân thứ, tôn hiền trọng đạo, cha khai sáng trước, con
kế thừa sau, cơ nghiệp nhà Trần được bền vững vậy! Nhưng ưu du tam muội, tìm dấu đạo nhất thừathì không phải phép trị nước hay của đế vương” [33, tr.227], sau cũng từng phê phán Trần Anh Tông: “vua khéo biết kế thừa, cho nên thời cuộc đi tới thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là bậc vua tốt của triều Trần Song tụ họp nhà sư trên núi Yên Tử, làm nhọc sức dân dựng gác Ánh Vân, thì chẳng phải là tì vết nhỏ trong đức lớn đó sao?” [33, tr.251] Cần hiểu rằng, Ngô Sĩ Liên đứng trên lập trường của nhà nho để nhìn nhận và đánh giá sự việc, không nên coi đó là ý kiến duy nhất đúng
Trang 35Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là Trần Nhân Tông, với tư cách là một thiền sư, đã có vai trò như thế nào trong việc sáng lập và đưa thiền phái Trúc Lâm trở thành một tổ chức Phật giáo lớn mạnh và gây ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống văn hóa tâm linh lẫn chính trị, xã hội thời bấy giờ
Đại Việt sử kí toàn thư và Tam tổ thực lục đều nhất quán ghi Trần Nhân
Tông chính thức xuất gia vào núi Yên Tử vào năm 1299, tuy nhiên, về thời
điểm có khác nhau Theo Đại Việt sử kí toàn thư, tháng 7 năm 1299, am Ngự
Dược được xây trên núi Yên Tử “Tháng 8, thượng hoàng (Trần Nhân Tông – TTYT chú) từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh”
[33, tr.255] Trong khi theo Tam tổ thực lục, “sau khi truyền ngôi lại cho Anh
Tông không bao lâu, khoảng tháng 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ
7 (1299), Điều Ngự vào thẳng núi Yên Tử, tinh cần tu 12 hạnh đầu đà, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà” [57, tr.19]
Tuy chính thức xuất gia năm 1299 nhưng cơ duyên đưa Trần Nhân Tông đến với Phật giáo đã có từ trước đó Ông được sinh ra trong một thời đại
mà Phật học vô cùng hưng thịnh, lại được tiếp nhận tư tưởng thiền học từ ông nội Trần Thái Tông (1218 – 1277), vua cha Trần Thánh Tông (1240 – 1290)
và Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung (1230 – 1291)… Không khí thời đại và những ảnh hưởng trực tiếp của những người thân trong hoàng tộc đã nuôi dưỡng tấm lòng mộ đạo và hướng Phật nơi vị hoàng đế tài năng và nhân từ này
Ban đầu, khi mới xuất gia tại chùa Vân Yên, núi Yên Tử, Trần Nhân Tông lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, trở thành vị tổ thứ sáu của phái này, sau tổ thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ, và sau cùng, lập ra thiền phái Trúc Lâm [30, tr.300]
Trong thời gian đảm nhận vai trò đệ nhất tổ, Trần Nhân Tông đã có nhiều hành động thiết thực để phát triển giáo phái Đầu tiên là việc lập ra Chi
Trang 36Đề Tịnh Xá làm nơi giảng pháp độ tăng, qui tụ tăng chúng Sau đó là việc mời các danh tăng về chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường lập ra trường giảng (1299) Ông còn vân du đây đó, qua tận Chiêm Thành (1301), đi khắp xóm làng, dạy dân chúng phá bỏ các dâm từ (nơi thờ tượng thần lõa thể và sinh thực khí) và thực hành thập thiện mà cũng là để tìm người nối dòng pháp, truyền giới pháp cho hoàng tộc và các quan trong triều, từ đó gầy dựng nên một phong trào tham thiền, tu Phật trong dân chúng, biến đạo Phật thành một yếu tố tâm lí để liên kết và thống nhất toàn dân vì một mục đích chung là xây dựng và bảo vệ quốc gia, dân tộc
Sự nỗ lực của vị đệ nhất tổ thiền phái Trúc Lâm thực sự đã mang lại cho Phật giáo thời Trần một bước phát triển và một tầm cao mới, mang tinh thần nhập thế tích cực, không chỉ chăm lo đời sống tâm linh của dân Đại Việt, tạo nên một lối sống khoan hòa, bình dị trong hoàng tộc lẫn dân gian mà còn
là sự hỗ trợ đắc lực cho hệ thống chính trị trong việc cố kết lòng dân nhưng cũng đã âm thầm thắt mối dây đầu tiên cột định mệnh của thiền phái Trúc Lâm với những thịnh suy của triều đình phong kiến
Trần Nhân Tông tịch vào ngày mồng 3, tháng 11 năm 1308 ở am Ngọa
Vân trên núi Yên Tử (Tam tổ thực lục chép ngày mồng 1 tháng 11) Sau khi
ông mất, vua Trần Anh Tông tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu
Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật Theo Tam tổ thực lục, Trần
Nhân Tông từng mở ba giới đàn tại chùa Chân Giáo trong đại nội, tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại và tại chùa Phổ Minh ở Thiên Trường Ông đã để lại năm
tác phẩm: Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Hậu lục, Đại Hương Hải ấn thi tập,
Tăng già toái sự và Thạch thất mị ngữ [57, tr.35]
1.3.2 Pháp Loa
Pháp Loa (1284 – 1330), tên tục là Đồng Kiên Cương, là tổ thứ hai của
thiền phái Trúc Lâm Theo Tam tổ thực lục, ông sinh vào ngày 17 tháng 5,
Trang 37năm Giáp Thân, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6 (1284), tại thôn Đồng Hòa, hương Cửu La, bên sông Nam Sách Cha ông họ Đồng, pháp danh Thuần Mậu, mẹ ông họ Vũ, hiệu Từ Cứu [57, tr.37]
Năm 21 tuổi (tức năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12, 1304), Pháp Loa gặp được Trần Nhân Tông khi ông đang đi chu du khắp miền, trừ
bỏ dâm từ, bố thí pháp dược cho những người nghèo và bệnh, nhân đó mà xin xuất gia rồi trở thành đệ tử thân cận, luôn theo hầu bên mình của Trần Nhân Tông Năm 1305, Pháp Loa được đích thân Trần Nhân Tông truyền giới Thanh văn và Bồ-tát, đồng thời cũng được ban hiệu là Pháp Loa như đã biết Năm 1306, ông được cử làm chủ giảng ở chùa Báo Ân tại Siêu Loại Năm
1307, ông được Trần Nhân Tông giảng riêng Đại tuệ ngữ lục cho Cũng trong
năm đó, Trần Nhân Tông giao cho ông y bát và tâm kệ bảo phải giữ gìn Điều
đó có nghĩa là từ thời điểm này, Trần Nhân Tông đã xác định được người sẽ nối dòng pháp sau này Năm 1308, tức chỉ bốn năm sau ngày xuất gia, Pháp Loa chính thức trở thành vị tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm và được giao cho trụ trì chùa Báo Ân ở Siêu Loại
Nếu như Trần Nhân Tông là người sáng lập thiền phái Trúc Lâm thì Pháp Loa mới chính là người đưa thiền phái này phát triển đến điểm cực thịnh Điều này có lẽ do ông là người ở ngôi tổ lâu nhất trong số ba vị tổ của thiền phái Trúc Lâm (22 năm) và đồng thời cũng được sự ủng hộ nhiệt tình từ
giới vua chúa và quí tộc đương thời Theo Tam tổ thực lục, trong 22 năm đó,
Pháp Loa đã tạo hơn 1300 tượng Phật lớn nhỏ, hai bộ tượng sơn mài, hơn trăm tượng bằng đất, dựng hai cảnh chùa lớn và năm ngôi tháp, lập hơn 200
tăng xá, độ hơn 15000 tăng ni, in một bộ Đại tạng kinh gồm hơn 5000 quyển,
đệ tử đắc pháp của ông có hơn 3000 người [57, tr.54] Những công trình mà Pháp Loa tạo dựng không chỉ có ý nghĩa nhất thời mà còn là minh chứng cho
Trang 38một thời hoàng kim của Phật giáo Việt Nam nói riêng và của lịch sử phong kiến Việt Nam nói chung
Dưới ảnh hưởng của Pháp Loa, quí tộc nhà Trần đã quyên góp tổng cộng hơn 2000 mẫu ruộng đất cùng với 54000 quan tiền, 1000 lượng vàng và
500 lượng bạc để làm phương tiện nuôi tăng chúng hoặc vào các mục đích khác như bố thí, đúc tượng… Quả thật, hiếm có một nhà sư nào có ảnh hưởng lớn như Pháp Loa Sau khi ông mất, vua Trần Hiến Tông còn xét ban nhà cửa, vàng bạc cho 50 người, cho 10 người cháu làm quan hộ, lại cho 20 người làm đại hình và cúng thêm một sở ruộng 8 mẫu [57, tr.58] Pháp Loa đã truyền pháp cho rất nhiều nhân vật có tên tuổi trong hoàng tộc Bản thân ông cũng nhiều lần ra vào cung cấm để giảng các kinh, sách cho họ
Pháp Loa qua đời ngày mồng 3 tháng 3 năm 1330 tại viện Quỳnh Lâm, được thượng hoàng Trần Minh Tông phong thụy hiệu Tịnh Trí Tôn Giả Các
sách của ông có Thạch thất mị ngữ niêm tụng, Tham thiền yếu chỉ, Kim cương
trường đà-la-ni kinh khoa chú, Pháp hoa kinh khoa sớ, Lăng-già kinh khoa
sớ, Bát nhã tâm kinh khoa sớ, Pháp sự khoa văn, Độ môn trợ thành tập, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, Nhân vương hộ quốc nghi quỹ, Thiền đạo yếu học, Đoạn sách lục
Theo Tổ gia thực lục (phần ghi chép về Huyền Quang trong Tam tổ
thực lục), Huyền Quang quê ở phía đông chùa Ngọc Hoàng, làng Vạn Tải, hạ
lưu sông Bắc Giang (khoảng năm Hồng Đức (1470 – 1497) đổi thành huyện
Trang 39Gia Định, xã Vạn Tư, nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh) Huyền Quang họ Lý, bà mẹ họ Lê, thủy tổ của ông là Lý Ôn Hòa, từng làm quan Hành khiển dưới triều vua Lý Thần Tông Ông có tướng mạo dị thường nhưng thông minh trác việt, học một biết mười, có tài như Nhan Hồi
Á Thánh, nên được gọi là Tải Đạo, vì thế mà có tên là Lý Đạo Tải (Tái)
Năm 21 tuổi, ông đậu thủ khoa kì thi Hội, được bổ vào chức quan Hàn lâm, phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, “văn thư qua lại, trích dẫn kinh nghĩa, ứng đối lưu loát”, “văn chương ngôn ngữ hơn cả Trung Quốc và các
lân bang” [57, tr.77-80] Sách Tam tổ hành trạng của Á Nam Trần Tuấn Khải
ghi ông đỗ Tam giáo Trạng nguyên vào triều nhà Trần nhưng không rõ năm
nào [25, tr.22] Văn bia Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng ở đền Trạng
Nguyên thuộc thôn Phúc Lộc (xã Thái Bảo, Bắc Ninh) do ông Nguyễn Phẩm hiệu Vạn Xuyên soạn, dựng năm Tự Đức thứ 18 cũng ghi việc Huyền Quang
đỗ trạng nguyên năm 21 tuổi [chuyển trích 62, tr.25] Thiết nghĩ, chi tiết này
trong cả hai văn bản trên còn nhiều nghi vấn Đối chiếu với Đại Việt sử kí
toàn thư, năm 1275 đúng là có một khoa thi Đình nhưng lấy được một Trạng
nguyên là Đào Tiêu, một Bảng nhãn (khuyết họ tên) và một Thám hoa là Quách Nhẫn cùng 27 Thái học sinh [33, tr.232] Trong khi kì thi Đình trước
đó diễn ra vào năm 1266, lúc Huyền Quang chỉ mới 12 tuổi; còn khoa thi sau
đó được tổ chức năm 1304, lúc Huyền Quang đã 50 tuổi
Theo bản ghi tiểu sử của Pháp Loa trong Tam tổ thực lục, Huyền
Quang là đệ tử của Bảo Phác, năm 1306 (tức năm Bính Ngọ, niên hiệu Hưng Long thứ 14), nhân một lần đến nghe Pháp Loa giảng kinh ở chùa Báo Ân tại Siêu Loại, được Trần Nhân Tông cho theo bên mình để làm thị giả [57, tr.39]
Tổ gia thực lục lại ghi ông thọ giáo với thiền sư Pháp Loa Đây lại là một
điểm đáng nghi vấn nữa về tiểu sử của Huyền Quang
Trang 40Năm 1313, Huyền Quang khai sơn chùa Đại Bi, nằm về phía đông chùa Ngọc Hoàng quê hương ông
Phần sau của Tổ gia thực lục kể lại giai thoại về mối quan hệ của
Huyền Quang với nàng cung nữ tên là Điểm Bích năm ông 60 tuổi (1313) Sau đó là việc ông cư trú ở núi Thanh Mai sáu năm rồi về trụ trì chùa Côn Sơn đọc tụng kinh điển, lập ra đài Cửu phẩm liên hoa nhưng không rõ mốc thời gian cụ thể [57, tr.89]
Cũng theo bản ghi tiểu sử của Pháp Loa trong Tam tổ thực lục, từ năm
1309, Huyền Quang theo Pháp Loa tham học, “không rời nửa bước” [57, tr.42] Năm 1330, Pháp Loa viên tịch, Huyền Quang nối dòng pháp và trở thành tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm
Huyền Quang mất vào ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334) Sau khi mất được thượng hoàng Trần Minh Tông ban thụy hiệu là Trúc Lâm Thiền Sư đệ tam đại, đặc phong tự pháp Huyền Quang tôn giả Trước tác của
ông gồm có Chư phẩm kinh, Công văn tập, Thích khoa giáo, Phổ tuệ ngữ lục, ngoài ra còn có một tập thơ chữ Hán là Ngọc tiên tập và một bài phú chữ Nôm là Vịnh Vân Yên tự phú Hiện chỉ còn 24 bài thơ trong Ngọc tiên tập và
Vịnh Vân Yên tự phú