Theo chúng tôi, vẫn còn một số vấn đề về từ “cho” cần được xem xét sâu hơn về nghĩa cũng như về chức năng của nó vì vậy chúng tôi chọn từ “cho” để phân tích, tìm ra những tiêu chí để xác
Trang 1***
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TRẦN THỊ KIỀU VÂN
NGHĨA VÀ DỤNG PHÁP CỦA TỪ “CHO”
TRONG TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI TIẾNG NHẬT)
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số sinh viên: 156022024011
Người hướng dẫn khoa học
TS ĐINH LƯ GIANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2Mục lục trang
Mở đầu
1 Lý do nghiên cứu ……….…… ……… 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 5
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ……….11
4 Phương pháp nghiên cứu ……… ………14
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ………14
6 Cấu trúc của luận văn ……… 15
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các vấn đề liên quan 1.1 Ngữ nghĩa ……….17
1.1.1 Các khuynh hướng nghiên cứu ngữ nghĩa ……… ………. 17
1.1.2 Nghĩa của từ ……… ……… 17
1.2 Phạm trù từ loại của tiếng Việt ……… 25
1.2.1 Danh từ ……… ……… …… 25
1.2.2 Đại từ ……… ……… 26
1.2.3 Vị từ ……….……… 26
1.2.4 Giới từ ……… ……… 33
1.2.5 Liên từ ……….……… 34
1.2.6 Tình thái từ ……….……… 34
1.3 Các đặc điểm của ngôn ngữ Nhật Bản 1.3.1 Chuyển đổi căn tố ……… 34
1.3.2 Trọng âm ……….……… 35
1.3.3 Trường âm ……….……… 35
1.3.4 Động từ ……… ……… 36
1.3.5.Tính từ ……… ……… 36
1.3.6 Trợ từ ……… 37
Tiểu kết ……… 42
Trang 3Chương 2: Nghĩa từ vựng của từ “cho” trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Nhật) 2.1 Nghĩa từ vựng của từ “cho” trong tiếng Việt
2.1.1 Hành động chuyển tác ……… 40
2.1.2 Hành động tạo tác (phát ngôn, nhận thức) ……… 45
2.2 Cách thể hiện trong tiếng Nhật 2.2.1 Hành động chuyển tác ……… ……… 46
2.2.2 Hành động tạo tác (phát ngôn, nhận thức) ……… ………… ………… …… 55
2.3 Những điểm tương đồng và dị biệt về nghĩa từ vựng của từ “cho” giữa hai ngôn ngữ Việt - Nhật 2.3.1 Những điểm tương đồng ……… 57
2.3.2 Những điểm dị biệt ……… ……… 58
Tiểu kết ……… 59
Chương 3: Từ “cho”trong tiếng Việt nhìn từ phương diện chức năng cú pháp (so sánh với tiếng Nhật) 3.1 Nghĩa ngữ pháp của từ “cho” trong tiếng Việt 3.1.1 Vị từ ……… 60
3.1.2 Giới từ ……… 65
3.1.3 Liên từ ……… 68
3.2 Cách thể hiện trong tiếng Nhật 3.2.1 Động từ ……… 70
3.2.2 Trợ từ ……… ……… 75
3.3 Những điểm tương đồng và dị biệt về nghĩa ngữ pháp của từ “cho” giữa hai ngôn ngữ Việt - Nhật 3.3.1 Những điểm tương đồng ……… 81
3.3.2 Những điểm dị biệt ……… ……… 81
Tiểu kết ……… ……… 82
Kết luận ……… 84
Trang 4Phần phụ lục gồm có
- Bảng phân loại và các hình thức biến đổi của ba nhóm động từ tiếng Nhật… … 93
- Sơ đồ tóm tắt hệ thống trợ từ của tiếng Nhật ……… …94
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT NGUỒN DỮ LIỆU KHẢO SÁT
Ký hiệu Tên ngữ liệu
TCTT Thời của Thánh Thần
CNLNM Cuộc nổi loạn ngoạn mục
TTC Totto-chan bên cửa sổ
TSH つぶらな瞳Tsuburana hitomi
KGJD 神々の時代 Kami gami no jidai
MTTC 窓ぎわのトット ちゃんMadogiwa no Totto chan
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
1.6 Ba tầng nghĩa và sáu kiểu nghĩa từ vựng 23
2.1 Mối quan hệ giữa người cho và người nhận trong câu tiếng
Nhật
51
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO NGHIÊN CỨU
Hiện nay số lượng tác phẩm văn học Nhật Bản đã được dịch sang tiếng Việt khá nhiều Cùng với việc dịch thuật, số lượng người Việt học tiếng Nhật cũng như người Nhật học tiếng Việt cũng tăng lên Do có sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ nên người học có nhiều khó khăn trong cách diễn đạt, dẫn đến việc bỏ học sau một thời gian ngắn
Trong quá trình giảng dạy và dịch thuật giữa hai ngôn ngữ chúng tôi nhận thấy một trong những từ thường gây không ít khó khăn cho người học là từ “cho” Cho đến nay từ “cho” vẫn thường được nhắc đến như một điển hình cho nhóm vị từ ban phát, vị từ có ba diễn tố, hay một giới từ được chuyển nghĩa từ động từ Theo chúng tôi, vẫn còn một số vấn đề về từ “cho” cần được xem xét sâu hơn về nghĩa cũng như về chức năng của nó vì vậy chúng tôi chọn từ “cho” để phân tích, tìm ra những tiêu chí để xác định nghĩa và cách dùng của nó trong tiếng Việt, đồng thời so sánh đối chiếu với các cách thể hiện trong tiếng Nhật nhằm giảm bớt khó khăn cho những người làm công tác dịch thuật, những người dạy và học tiếng Nhật, tiếng Việt khi diễn dịch từ “cho”
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
2.1 Các nghiên cứu về ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được xuất bản Sau đây chúng tôi xin điểm qua một số tác giả (nhóm tác giả) đã có các công trình hoặc bài viết trên các tạp chí khoa học mà chúng tôi được đọc
Không tính đến những nghiên cứu vào thời cổ đại ở Hy Lạp, thời điểm ra đời của ngữ nghĩa học tính đến nay đã gần hai trăm năm
Theo Lê Quang Thiêm (2013) quá trình phát triển của ngữ nghĩa học được chia làm ba thời kỳ Việc phân chia này không thể tính cụ thể bằng năm tháng mà
Trang 7chủ yếu là dựa vào thời gian công trình được công bố và ảnh hưởng của công trình
đó trong việc nghiên cứu về ngữ nghĩa Thời kỳ thứ nhất được tính từ sự ra đời của công trình của M.Bréal cuối thế kỷ 19 cho đến 20 năm đầu của thế kỷ 20 Nổi rõ nhất là ở các nước Pháp, Đức và Anh Hướng tiếp cận chủ yếu của M.Bréal là tâm
lý học Việc nghiên cứu nghĩa tập trung vào nghĩa của từ, sự thay đổi của từ, quy luật tương tác tâm lý của sự thay đổi nghĩa Ngữ nghĩa học ở Đức thời kỳ này được
gọi là ngữ nghĩa học lịch sử vì tư tưởng lịch sử có ảnh hưởng lớn đến việc phân tích,
diễn giải các hiện tượng nghĩa Phạm vi nghiên cứu tập trung vào nghĩa từ vựng, lịch sử và nguyên nhân của sự thay đổi nghĩa Ở Anh có công trình tiêu biểu của hai nhà ngữ nghĩa- ký hiệu nổi tiếng Ch Ogden và I Richards Quan điểm của họ một mặt chịu ảnh hưởng của quan điểm lịch sử, một mặt đào sâu và có kiến giải về các bình diện tín hiệu học tiếp nhận từ Đức và Pháp Thời kỳ thứ hai khoảng từ sau những năm 20 của thế kỷ 20 Sự ra đời của “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của F de Saussure (1916) đã đặt nền móng cho ngôn ngữ học cấu trúc Thời kỳ thứ hai này có thể được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ: Từ sau những năm 1920 đến
1960 có những công trình của G.Stern, S.Ullman, A.Schaff, V.A Zveghinsev,… Từ năm 1960 đến 1980 có những công trình tiêu biểu cho ngữ nghĩa cấu trúc.Tác giả tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là Leonard Bloomfield Thời kỳ thứ ba bắt đầu vào cuối những năm 1960 khi ngữ nghĩa học tri nhận xuất hiện và phát triển cho đến ngày nay
Tại Việt Nam những lý giải về nghĩa tín hiệu đầu tiên có thể được tìm thấy là vào những năm 1960 trong các giáo trình dẫn luận ngôn ngữ học và trong các giáo trình từ vựng-ngữ nghĩa học, hay trong các nghiên cứu chuyên đề
Sơ đồ tam giác nghĩa được đề cập đầu tiên ở Việt Nam là trong “Từ và vốn
từ tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Văn Tu (1976) Theo đánh giá của Lê Quang Thiêm (2013) vì khai thác tài liệu gián tiếp nên tác giả đã không có được trích dẫn gốc và kiến giải cũng có hạn chế
Trang 8Năm 1979, Lê Quang Thiêm đã vận dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa kết hợp với phương pháp đối chiếu để nghiên cứu “Một số vấn đề từ đa nghĩa trong tiếng Bungari và tiếng Việt” nhưng tác giả không tập trung giải thích về nghĩa Nguyễn Thiện Giáp đã tổng hợp khá kỹ các quan niệm về nghĩa trong “Từ vựng học tiếng Việt”, được xuất bản vào năm 1985 Tác giả nhận thấy rằng “những
ý kiến cho nghĩa của từ là quan hệ gần gũi với chân lí hơn nghĩa của từ là một đối tượng phức tạp"
Hoàng Văn Hành (1991) trong công trình “Từ ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám phá” có đề cập đến cách tiếp cận hệ thống từ vựng từ góc độ ngữ nghĩa học Tác giả chấp nhận nghĩa theo cách hiểu “phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức” và áp dụng phương pháp phân tích thành tố để xác định cấu trúc nghĩa từ vựng của từ
Trong công trình “Lôgic- Ngôn ngữ học” xuất bản lần đầu vào năm 1989,
Hoàng Phê đã tổng hợp cách hiểu nghĩa từ gắn với tam giác ngữ nghĩa đã được nhiều tác giả đề cập đến trước đó
Đỗ Hữu Châu (1998) là người bàn về tam giác nghĩa tập trung nhất Trong
tác phẩm “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” tác giả đã dành một chương để nói về tam
giác nghĩa và các nhân tố hình thành ý nghĩa của từ Tác giả đã tập trung phân tích các loại nghĩa “ý nghĩa biểu vật”, “ý nghĩa biểu niệm”, “ý nghĩa liên hội”, “ý nghĩa biểu thái” Theo Lê Quang Thiêm (2013) ưu điểm của tác phẩm này là “Đỗ Hữu Châu có định hướng đúng khi phân biệt “nhân tố nghĩa” và “nghĩa”
Trong tập bài giảng “Ngữ nghĩa học” xuất bản năm 2013 Lê Quang Thiêm
đã tổng hợp các kiến giải về nghĩa trong ba thời kỳ tiền cấu trúc luận, thời kỳ cấu trúc luận và thời kỳ hậu cấu trúc luận Tác giả đề nghị giải pháp xác định nghĩa, đó
là phải dựa vào văn cảnh, ngữ cảnh, cũng như trong kiểu kiến tạo cấu trúc ngôn ngữ Tác giả cũng vẽ ra một sơ đồ thể hiện các loại nghĩa thuộc các loại hình thức của biểu thức ngôn ngữ và thể hiện trong quan hệ chức năng
Trang 92.2 Các nghiên cứu so sánh- đối chiếu với tiếng Nhật
Cho đến nay đã có không ít các bài viết, các công trình nghiên cứu ở bậc tiến
sĩ, thạc sĩ về một số vấn đề của tiếng Nhật như chữ viết, ngữ âm, thành ngữ, tục ngữ, nhóm từ gốc Hán, nhóm từ ngoại lai,… góp phần tìm hiểu những đặc trưng của ngôn ngữ này và trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt
Trần Thị Chung Toàn (2006) đã trình bày những một số đặc thù về âm và về chữ của tiếng Nhật trong bài viết “Lược sử hình thành chữ viết tiếng Nhật” Một văn bản của tiếng Nhật có thể xuất hiện năm loại ký tự, đó là: chữ Hán được gọi là Kanji, chữ hiragana (còn được gọi là chữ mềm), chữ katakana (còn được gọi là chữ cứng) và chữ Romaji Không chỉ về lịch sử mà bài viết còn cho thấy chức năng chuyên biệt của mỗi loại chữ trong một văn bản tiếng Nhật
Trong bài viết “Đặc điểm của âm tiết tiếng Nhật và vấn đề xác định âm tiết trong tiếng Nhật” (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN) Đỗ Hoàng Ngân (2014) đã giới thiệu và phân biệt khái niệm âm tiết và những đơn vị tương đương trong tiếng Nhật Tác giả đã khái quát những đặc điểm và cấu trúc của âm tiết tiếng Nhật, đồng thời đối chiếu và chỉ ra những điểm khác biệt giữa âm tiết tiếng Nhật và âm tiết tiếng Việt Bài viết đã cung cấp cho người Việt học tiếng Nhật một cái nhìn tổng quát về
âm tiết tiếng Nhật để làm căn cứ khắc phục khó khăn trong việc phát âm
Bàn về đề tài ngữ âm tiếng Nhật một cách chi tiết hơn, Hoàng Anh Thi (2017) đã có bài viết “Biến đổi ngữ âm trong tiếng Nhật và một số lưu ý cho người Việt học tiếng Nhật” (Tạp chí Ngôn ngữ số 12/2017) Do hiện tượng biến thể âm vị nên một phụ âm trong tiếng Nhật có nhiều biến thể Đây chính là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho người Việt khi phát âm tiếng Nhật Tác giả đã lần lượt trình bày tất cả các biến thể của phụ âm tiếng Nhật, đồng thời so sánh đối chiếu với các âm tiết của tiếng Việt, giúp cho người Việt học tiếng Nhật có thể nhận diện
và phát âm đúng tiếng Nhật
Về lãnh vực từ loại của tiếng Nhật, Trần Thị Chung Toàn (2014) có bài viết
“Bàn về việc phân định từ loại trong tiếng Nhật hiện đại” (Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống) Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc phân chia từ loại trong tiếng
Trang 10Nhật Tác giả đã trình bày các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Nhật Bản trong việc phân định từ loại Theo tác giả khi xem xét các từ tiếng Nhật cần phân biệt rõ
từ trong từ điển và từ trong ngữ lưu vì “Trong ngữ lưu, danh từ biến hình theo lối chắp dính, động từ là thể kếp hợp giữa các căn tố và đuôi từ.” Trong nhiều trường hợp trong các căn tố của động từ có cả các trợ động từ được ghép vào thân từ Tác giả cho biết cho đến hiện nay vấn đề về hình vị, từ, câu của tiếng Nhật vẫn chưa có được một sự nhất trí hoàn toàn trong xem xét từ loại và các vấn đề khác
Nghiên cứu về động từ của tiếng Nhật, Trần Thị Chung Toàn (2003) có bài viết “Động từ phức- một phương pháp cấu tạo từ độc đáo trong tiếng Nhật” (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 2003) Theo tác giả, động từ phức được sử dụng nhiều trong sách báo, văn học, trong sinh hoạt nói năng của người Nhật “với một khả năng biểu đạt tinh tế và sống động mà người nước ngoài không dễ dàng lĩnh hội và sử dụng được” Tác giả đã trình bày ba kiểu cấu tạo động từ phức của tiếng Nhật, sau đó so sánh với động từ hai âm tiết của tiếng Việt Tác giả cho rằng động từ phức trong tiếng Việt chiếm một số lượng rất ít trong từ vựng vì vậy khi dịch một văn bản từ
tiếng Nhật sang tiếng Việt rất khó tìm được một đơn vị từ tương đương mà phải
dùng đến các mệnh đề, các đoản ngữ Trên phương diện tạo từ, giữa động từ phức tiếng Việt và động từ phức tiếng Nhật có những điểm giống nhau và những điểm khác nhau Chúng phản ánh các đặc thù về loại hình và cũng “phản ánh sự gần gũi trong cách thức tạo từ giữa tiếng Việt (thuộc loại hình đơn tiết) và tiếng Nhật (thuộc loại hình chắp dính)
Bài viết “Từ chỉ vị trí và hướng không gian trong tiếng Nhật” của Trần Thị
Chung Toàn (2006) (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN) Khác với các giới từ hay các trạng từ của các ngôn ngữ Ấn-Âu, các từ chỉ vị trí không gian trong hệ thống từ
vựng của tiếng Nhật đều là danh từ So sánh với tiếng Việt (có khoảng mười đơn vị chỉ hướng của hành động trong không gian) thì trong tiếng Nhật hướng của hành động “được phân ra các cấp độ biểu đạt khác nhau và dù ở cấp độ nào, cũng luôn có mặt cái đơn vị từ chức năng vẫn được gọi là joshi – tương đương với giới từ của tiếng Việt” Tác giả đã phân tích các kết hợp của từ chỉ hướng với các động từ nội
Trang 11động và động từ ngoại động Qua đặc điểm hoạt động của các từ định vị và chỉ hướng trong tiếng Nhật có thể thấy một số đặc thù của tiếng Nhật như: các danh từ
của tiếng Nhật tuy không biến hình trong lời nói nhưng lại cần đến vai trò của joshi
“Joshi có thể ví như một chất vữa để kết dính các danh từ lai với nhau trong lời nói
Nhờ có chúng mà các danh từ xác định được vị trí và chức năng của mình trong hoạt động giao tiếp”
Ngoài bài viết của Trần Thị Chung Toàn (2006) Adachi Mayumi cũng có bài
“Từ chỉ vị trí trong tiếng Nhật và tiếng Việt” (Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, 2008, Đại học Quốc gia Hà Nội) Tác giả tập trung so sánh chức năng hai nhóm từ chỉ vị trí “trực chỉ” và “hồi chỉ” của hai ngôn ngữ Nhật, Việt Tuy
nhiên tác giả vẫn chưa phân biệt được hai từ đó và kia trong trường hợp đối tượng
xa người nói nhưng người nói vẫn có thể nhìn thấy đối tượng; và quan hệ giữa
người nghe với từ đó
Vấn đề từ ngoại lai trong tiếng Nhật cũng được Ngô Minh Thủy (2005) phân tích trong bài viết “Từ ngoại lai trong tiếng Nhật” (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN) Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Nhật Bản, số lượng từ ngoại lai xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày của người Nhật lên đến 10% Theo tác giả hiện nay vẫn các nhà ngôn ngữ học Nhật Bản vẫn chưa có một tiêu chí rõ ràng để phân loại từ ngoại lai trong tiếng Nhật Trong bài viết, tác giả chủ yếu trình bày những phương pháp cơ bản để Nhật hóa từ ngoại lai có nguồn gốc từ tiếng Anh Tuy chưa đầy đủ nhưng kết quả nghiên cứu đã cho những người đang học tập và giảng dạy tiếng Nhật có một cái nhìn tổng thể về lớp từ quan trọng này của tiếng Nhật
Nghiên cứu về joshi- một yếu tố quan trọng trong câu tiếng Nhật, Ngô
Hương Lan đã có bài viết về trợ từ tiếng Nhật trên trang web của Trung Tâm Nghiên cứu Nhật Bản Tác giả đã trình bày về lịch sử nghiên cứu trợ từ của các học giả Nhật Bản từ thời Juntokuin (1197-1242), thời Tokugawa (1603-1868), thời Minh Trị (1868-1912) Tác giả đặc biệt lưu tâm đến những quan điểm về trợ từ của các học giả từ thời Minh Trị trở đi; gồm những quan điểm của Otsuki Fumihiko, Mitsuya Shigematsu, Yoshika Kyosake, Yamada Yoshio, Mitsuyu Kieda Tác giả
Trang 12cho biết, hiện tại quan điểm của Mitsuya Kieda được coi là cơ sở của các bài giảng
về ngữ pháp tiếng Nhật ở nhiều trường đại học lớn và cũng là quan điểm phân loại
mà các giáo trình ngữ pháp tiếng Nhật hiện đại sử dụng Trong những bài này chủ yếu tác giả trình bày về những đặc điểm và cách dùng của trợ từ tiếng Nhật, chưa chú trọng đến phần so sánh với giới từ của tiếng Việt
Cũng nghiên cứu và so sánh- đối chiếu từ “cho” của tiếng Việt với tiếng
Nhật Lê Thị Minh Hằng đã có bài viết “So sánh một vài cách sử dụng Cho tiếng Việt và Ni tiếng Nhật” Tác giả đã phân tích vai trò của trợ từ “ni” trong câu tiếng
Nhật Trợ từ “ni” được đặt sau danh ngữ để đánh dấu người nhận Trường hợp câu
bị động thì danh ngữ đứng trước trợ từ “ni” lại đánh dấu vai người thực hiện hành động “cho, gửi” Tác giả chủ yếu so sánh từ “cho” với tư cách là một vị từ tặng cách
và “cho” với tư cách là một giới từ đánh đấu vai người nhận chứ chưa đề cập đến các nghĩa khác của từ “cho”
Nhóm động từ trao nhận của tiếng Nhật là đề tài nghiên cho luận án tiến sĩ của Đào Thị Hồng Hạnh (2017, ĐHQGHN) “Câu trao nhận trong tiếng Nhật, đối chiếu với tiếng Việt” Lý do tác giả chọn đề tài này là vì nhóm động từ này “có những đặc điểm thuộc cấu trúc sâu bên trong và những vấn đề thuộc về bản chất trong hoạt động” Luận án này đã phát hiện ra những điểm tương đồng và dị biệt trong việc tri nhận ý nghĩa và sử dụng các phương thức ngôn ngữ biểu hiện ý nghĩa trao nhận của hai ngôn ngữ, giúp cho việc khắc phục một số lỗi thường xảy ra khi diễn đạt câu trao nhận bằng tiếng Nhật của người Việt và ngược lại
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là từ “cho” của tiếng Việt trên bình diện nghĩa Theo đó các từ, các biểu đạt tương đương trong tiếng Nhật sẽ được trình bày và phân tích
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là từ “cho” trên bình diện nghĩa
Về ngữ liệu khảo sát chúng tôi chỉ tập trung khảo sát bốn tác phẩm văn học (hai tác phẩm tiếng Việt được dịch sang tiếng Nhật và hai tác phẩm tiếng Nhật được dịch sang tiếng Việt) Tạm thời chúng tôi chưa khảo sát các văn bản báo chí, và khẩu ngữ của người Việt cũng như người Nhật
3.3 Ngữ liệu khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát từ “cho” trong các tác phẩm văn học sau đây:
3.3.1 “Mắt Biếc” của Nguyễn Nhật Ánh
Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn có nhiều đầu sách được xếp vào loại “bán chạy nhất” Trong số đó “Mắt biếc” được nhiều độc giả đánh giá là một cuốn sách hay nhất trong loạt sách về tình yêu của tuổi học trò Tính đến năm 2016 “Mắt biếc” đã được tái bản 34 lần “Mắt biếc” đã được Kato Sakae dịch sang tiếng Nhật với tựa đề
là “Tsuburana Hitomi”, và được nhà xuất bản Terainku phát hành vào năm 2004
3.3.2 “Thời của Thánh Thần” của Hoàng Minh Tường
Hoàng Minh Tường là một trong những nhà văn hiện đại của Việt Nam Ông
đã được giải A Văn học Công nhân với tác phẩm “Những người ở khác cung đường” năm 1985-1990 Năm 1997 ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết “Thủy hỏa đạo tặc” Năm 2011 ông được Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tặng giải thưởng văn học thời kỳ đổi mới cho
bộ tiểu thuyết “Gia phả của đất”
“Thời của Thánh Thần” đề cập đến các vấn đề của xã hội Việt Nam vào một giai đoạn lịch sử đầy biến cố của dân tộc, từ Cách mạng Tháng Tám đến thời kỳ hội nhập hiện nay, thông qua câu chuyện về gia đình Nguyễn Kỳ ở làng Động, một ngôi làng nhỏ ở miền bắc Việt Nam
Trang 14“Thời của Thánh Thần” đã được Akio Imai dịch sang tiếng Nhật với tựa đề
“Kami gami no jidai”, và được nhà xuất bản Đại học Ngoại ngữ Tokyo phát hành vào năm 2016
3.3.3 “Botchan” của Natsume Soseki
Natsume Soseki (1867-1916) là một trong những nhà văn được yêu thích nhất của nền văn học hiện đại Nhật Bản “Botchan” là một trong những tác phẩm thu hút số lượng độc giả nhiều nhất kể từ khi sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1906 cho đến nay
Ngoài yếu tố về đặc điểm tính cách nhân vật thì ngôn ngữ của “Botchan” chính là yếu tố tạo nên sự thành công cho tác phẩm Đó là ngôn ngữ “Biểu lộ sự thiếu lễ độ, không chấp nhận theo khuôn phép và tinh thần chống đối những điều vô nghĩa, vớ vẩn” (lời Nhà xuất bản Trẻ) “Botchan” đã được Hồng Ngọc và Thanh Dung dịch sang tiếng Việt với tựa đề “Những cuộc nổi loạn ngoạn mục” và được Nhà xuất bản Trẻ phát hành vào năm 2011
3.3.4 “Madogiwa no Totto chan” của Kuroyanagi Tesuko
Kuroyanagi Tetsuko là một nhà văn viết cho thiếu nhi, đồng thời là một diễn viên và người dẫn chương trình truyền hình rất nổi tiếng tại Nhật Bản Bà là người sáng lập ra quỹ Totto Foundation Quỹ được đặt theo tên của cô bé Totto trong cuốn sách nổi tiếng nhất của bà
“Madogiwa no Totto chan” là câu chuyện về một cô bé hiếu động, cá biệt, đã
bị đuổi học sau khi vào lớp một được vài tuần Người mẹ đành đưa Totto đến trường Tomoe Chính tại ngôi trường trong các toa xe điện cũ này, Totto và các bạn
đã được học những điều vô cùng quý giá để khi lớn lên sẽ trở thành những người hoàn thiện, mạnh mẽ
“Madogiwa no Totto chan” đã được dịch sang 33 thứ tiếng khác nhau như Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc,…Sách đã được Trương Thùy Lan chuyển
Trang 15ngữ sang tiếng Việt với tựa đề “Totto- chan bên cửa sổ”, và được nhà xuất bản Văn học phát hành vào năm 2011
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp so sánh - đối chiếu : Được sử dụng trong chương 2 và chương
3 nhằm trình bày những điểm tương đồng và dị biệt trong các biểu hiện về nghĩa và cách sử dụng từ “cho” trong tiếng Việt và trong tiếng Nhật
- Phương pháp phân tích – miêu tả: Được sử dụng trong chương 2 và chương
3 Trong chương 2 chúng tôi phân tích từ “cho” trong chức năng biểu hiện nội dung của sự tình Trong chương 3 chúng tôi phân tích từ “cho” theo chức năng và phân tích theo diễn tố nhằm xác định cấu trúc nghĩa của câu trong chức năng phản ánh sự tình
- Thủ pháp: Trong luận văn chúng tôi có sử dụng các thủ pháp như: Thủ pháp giải thích bên ngoài (chủ yếu là phân tích ngữ cảnh về văn hóa, những chuẩn tắc về hành vi, những tri thức về xã hội) và thủ pháp phân tích văn cảnh (những từ bao quanh hay đi kèm theo từ đó tạo cho nó tính xác định về nghĩa) Các thủ pháp này được sử dụng nhằm làm rõ sự khác biệt trong cách thể hiện của hai ngôn ngữ Việt- Nhật
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Trang 165.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trước hết luận văn này là để đáp ứng nhu cầu học hỏi của chính chúng tôi Chúng tôi cần phân biệt các nghĩa và cách sử dụng của từ “cho” cũng như sự khác biệt trong cách thể hiện giữa hai loại hình ngôn ngữ để chúng tôi có thể giải thích cho học viên đang học tiếng Việt hoặc đang học tiếng Nhật
Luận văn là một bảng tổng kết các ý nghĩa và cách sử dụng của từ “cho” trong tiếng Việt và các cách thể hiện tương đương trong tiếng Nhật
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là một công cụ giúp cho người dạy, người học và người làm công tác dịch thuật nhanh chóng nhận diện được các nghĩa của từ
“cho”, qua đó làm cho các văn bản dịch thuật không những thể hiện đúng ngữ pháp
mà còn đúng tinh thần của mỗi ngôn ngữ
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các vấn đề liên quan
Trong chương này chúng tôi trình bày các vấn đề như sau:
Các lý thuyết về ngữ nghĩa bao gồm cách lý giải về nghĩa của từ của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và các nhà ngôn ngữ học của Việt Nam
Phạm trù từ loại của tiếng Việt Đây là chức năng ngữ pháp, hay chính là ý nghĩa ngữ pháp của từ
Một vài đặc điểm về tiếng Nhật như hình thức chuyển đổi căn tố, trọng âm, trường âm, đặc điểm của động từ, tính từ và trợ từ
Chương 2: Nghĩa từ vựng của từ “cho” trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Nhật)
Qua phương pháp phân tích vị từ theo sự tình chúng tôi lần lượt trình bày các nghĩa của từ “cho” trong tiếng Việt, so sánh – đối chiếu với các thể hiện của chúng trong tiếng Nhật, và trình bày các điểm tương đồng, dị biệt về nghĩa từ vựng của từ
“cho” giữa hai ngôn ngữ
Trang 17Chương 3: Từ “cho” trong tiếng Việt nhìn từ phương diện chức năng cú pháp (so
sánh với tiếng Nhật)
Qua việc khảo sát chức năng của từ “cho” trong câu, và qua phương pháp
phân tích vị từ theo diễn trị, chúng tôi lần lượt trình bày các ý nghĩa ngữ pháp của từ
“cho”, so sánh-đối chiếu các thể hiện của chúng trong tiếng Nhật và trình bày các điểm tương đồng, dị biệt về nghĩa ngữ pháp của từ “cho” giữa hai ngôn ngữ
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1 Ngữ nghĩa
1.1.1 Các khuynh hướng nghiên cứu ngữ nghĩa
Trong ngôn ngữ học nói chung và ngữ nghĩa học nói riêng, thường hay phân biệt truyền thống và hiện đại
Theo Lê Quang Thiêm (2013) cách gọi “Truyền thống” thường dùng để chỉ các nghiên cứu thời tiền cấu trúc luận, lấy nghĩa của từ làm đối tượng nghiên cứu và thường là từ biệt lập Nội dung nghĩa của từ được dùng để làm căn cứ, làm chỗ dựa
để phân biệt sự thay đổi ngữ âm theo thời gian Nghĩa cũng là căn cứ để giải thích
từ nguyên, giải thích từ ngữ trong từ điển, diễn giải các văn bản Phương pháp chủ yếu là ngữ văn học, từ điển học
Cách gọi “Hiện đại” gắn với quan điểm cấu trúc luận Nghĩa của từ trong ngôn ngữ học cấu trúc không phải là nghĩa biệt lập mà là nghĩa của từ trong hệ thống – cấu trúc từ vựng – ngữ nghĩa, trong các quan hệ và trong hoạt động của ngôn ngữ Phương pháp được dùng là phương pháp phân tích thành tố Những thành
tố được phân tích ra được gọi là thành tố nghĩa, nhân tử ngữ nghĩa, sơ giản ngữ nghĩa Ở Việt Nam còn được gọi là nét nghĩa, nét nghĩa khu biệt
Ngoài ngôn ngữ học cấu trúc còn có hai khuynh hướng nghiên cứu khác là ngữ nghĩa học hình thức (khuynh hướng lý luận quy chiếu, sử dụng logic trong phân tích ngữ nghĩa) và ngữ nghĩa học tri nhận (coi trọng sự tri nhận trong nghiên cứu nghĩa)
1.1.2 Nghĩa của từ
1.1.2.1 Các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới
Nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học Có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này
Quan niệm thứ nhất cho rằng nghĩa của từ là sự vật hay hiện tượng do từ biểu thị Quan niệm thứ hai đồng nhất nghĩa của từ với khái niệm logic hay biểu tượng tâm lý có liên hệ với từ ấy Quan niệm thứ ba là quan niệm của Ferdinand de Saussure Trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” (1916) ông đã gián tiếp nói
Trang 19về nghĩa “Dấu hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải với một sự vật với một tên gọi, mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh” Ông đề nghị thay “khái niệm” bằng “sở biểu” và thay “hình ảnh âm thanh” bằng “ năng biểu” “Sở biểu” chính là cái thường được gọi là “ý nghĩa” Quan niệm thứ tư quy chiếu nghĩa của từ
về mối quan hệ giữa từ và đối tượng Quan niệm thứ năm cũng cho rằng nghĩa của
từ là quan hệ nhưng là quan hệ giữa từ và khái niệm Những người theo thuyết chức năng thì cho rằng nghĩa của từ là chức năng, là vai trò mà từ đảm nhiệm trong ngôn ngữ
Nhìn chung có thể thấy hai khuynh hướng khi bàn về nghĩa của từ:
- Khuynh hướng thứ nhất cho rằng nghĩa của từ là một bản thể nào đó
- Khuynh hướng thứ hai cho rằng nghĩa của từ là một quan hệ nào đó Trở lại với phát biểu của F.de Saussure (1916): “Ngôn ngữ là một hệ
thống dấu hiệu biểu hiện những ý niệm” và “mỗi dấu hiệu ngôn ngữ là một thực thể tâm lý có hai mặt Hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau, và đã có cái này là có cái kia”
Trong cuốn “Ngữ nghĩa học - một dẫn luận vào khoa học nghĩa”, xuất bản năm 1962, S.Ullman đã vẽ lại sơ đồ tam giác nghĩa mà ông gọi là tam giác cơ sở Ông cho rằng cần chú ý đến mối quan hệ giữa “Cái tượng trưng” (symbol) và “Tư duy hoặc cái quy chiếu” Về thuật ngữ Ullman cho rằng có thể dùng thuật ngữ “Cái biểu hiện” (significant) và “Cái được biểu hiện” (signifié) của F.de Saussure nhưng
Trang 20ông muốn dùng từ đơn giản, dễ hiểu là “Tên gọi” (name) , “Nội dung liên hội” (sense) và “vật” (thing) Ông giải thích rằng “Tên gọi” là phần ngữ âm của từ , “Nội dung liên hội” là “Nội dung tư duy được tên gọi gợi lên sẽ được đặt cho cái thuật ngữ nghĩa của từ”, còn “Vật” là cái được quy chiếu
Nội dung liên hội
Nghĩa
Tên gọi - Vật
Sơ đồ 1.2: Tam giác nghĩa của Ullman
(S.Ullman (1967), The principle of Semantic)
(như trích dẫn ở Lê Quang Thiêm, 2013, tr.79)
Ullman định nghĩa về nghĩa như sau: “Nghĩa là nội dung mối quan hệ qua lại
và tác động lẫn nhau giữa tên gọi và nội dung liên hội” Ông cho rằng nghĩa có một vòng tròn khép kín, “không thể nào hiểu nhau được trong giao tiếp nếu chúng không cùng tồn tại trong đầu óc của người nói và người nghe”
Trong cuốn “Ngữ nghĩa học” (1977), J Lyons đã cải tiến tam giác nghĩa – tam giác cơ sở của Ullman - thành tam giác mà ông gọi là “Tam giác của cái được biểu đạt”
B
A - C
Sơ đồ 1.3: Tam giác của cái biểu đạt
(J.Lyons, Semantic:1- (1977), Linguistic Semantics An introduction)
Trang 21
Theo Lyons, “Nghĩa của biểu thức ngôn ngữ được miêu tả chung trong các thuật ngữ của cái được biểu đạt” (J.Lyons, 1977, như trích dẫn ở Lê Quang Thiêm,
2013, tr.81)
Trong tam giác trên, Lyons cho A là tín hiệu, B là khái niệm và C là cái được biểu đạt Theo ông, mối quan hệ giữa A và C là mối quan hệ gián tiếp (thể hiện bằng đường gạch đứt), khác với mối quan hệ giữa A và B, giữa B và C, là các mối quan hệ có thể diễn đạt Cách phân biệt này cho thấy khái niệm nghĩa của J.Lyons Theo ông, có hai loại nghĩa: nghĩa biểu thị và nghĩa hệ thống
1.1.2.2 Các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
Sơ đồ tam giác nghĩa được đề cập đến đầu tiên ở Việt Nam có lẽ là trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng Việt” của Nguyễn Văn Tu (1976) Tác giả đã chỉ ra rằng
“Nghĩa từ vựng của từ được quy định bằng những yếu tố tác động lẫn nhau như (1) thuộc tính của đối tượng; (2) Khái niệm về đối tượng; (3) Hệ thống ngôn ngữ giúp cho việc diễn đạt nghĩa”
Trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” (1998), Đỗ Hữu Châu đã đưa ra
sơ đồ “Hình tháp nghĩa hình học không gian” như sau
Sơ đồ 1.4: Hình tháp nghĩa hình học không gian
(Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng)
Từ “Hình tháp” này tác giả đã tập trung phân tích các loại nghĩa: “Ý nghĩa biểu vật”, “Ý nghĩa biểu niệm”, “Ý nghĩa liên hội”, “Ý nghĩa biểu thái” Ông thừa nhận “Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ”
Trang 22Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa “nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lý, có tính chất trừu tượng, chủ quan, trong khi sở chỉ là sự vật khách quan và cụ thể của thế giới bên ngoài ngôn ngữ” (Nguyễn Thiện Giáp, 2008) Tác giả cũng cho biết nghĩa và sở chỉ thuộc hai bình diện khác nhau: nghĩa thuộc nghĩa học, còn sở chỉ
thuộc dụng học Ông cũng phân biệt hai thuật ngữ nghĩa (sense) và ý nghĩa (meaning) Ông giải thích “nghĩa (sense) và sở chỉ là cái được biểu hiện”, còn ý nghĩa (meaning) là “mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện”
Trong cuốn “Ngữ nghĩa học” (2013) Lê Quang Thiêm định nghĩa “nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ
để ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng khác” Tác giả đã đưa ra sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.5: Nghĩa của từ
( Lê Quang Thiêm, 2013,tr.87)
Ông cũng cho rằng nghĩa là một nội dung xác định được hình thành nhờ chức năng, nhưng không phải là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà là loại chức năng được thể hiện qua văn cảnh Vì vậy muốn xác định nghĩa phải dựa vào một số nhân tố, trong đó, nhân tố hàng đầu là “sự nhận thức, sự tri nhận của con người về tín hiệu với văn cảnh, ngữ cảnh biểu hiện chúng khi thực hiện chức năng trong lời nói cũng như trong cấu trúc hệ thống ngôn ngữ”
Trang 231.1.2.3 Các loại nghĩa
Vì từ có quan hệ rất đa dạng với các hiện tượng khác nên nghĩa của từ cũng
là một hiện tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố như:
- Nghĩa sở chỉ: Đó là mối quan hệ giữa từ với đối tượng mà từ biểu thị Đối tượng này không chỉ là những sự vật, mà còn là các quá trình, tính chất, hoặc một hiện tượng nào đó Các sự vật, quá trình, tính chất, hiện tượng mà từ biểu thị
được gọi là cái sở chỉ
- Nghĩa sở biểu: Đó là mối quan hệ của từ với khái niệm hay biểu tượng
mà từ biểu hiện Thuật ngữ ý nghĩa chính là nghĩa sở biểu Khái niệm hay biểu tượng có quan hệ với từ được gọi là cái sở biểu
Cái sở chỉ và cái sở biểu của một từ có quan hệ chặt chẽ với nhau Cái sở biểu chính là sự phản ánh của cái sở chỉ trong nhận thức của con người Mỗi cái sở biểu có thể ứng với nhiều cái sở chỉ, ngược lại, một cái sở chỉ có thể thuộc vào những cái sở biểu khác nhau, bởi vì cùng một sự vật có thể tham gia vào một số lớp hạng khác nhau
Nghĩa sở chỉ được thể hiện khi từ được sử dụng trong lời nói Nó không có tính ổn định vì bản thân mối quan hệ của từ với các sở chỉ có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể
Nghĩa sở biểu của từ, trong một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, có tính chất ổn định Vì vậy nghĩa sở biểu thuộc vào hệ thống ngôn ngữ, do hệ thống ngôn
ngữ quy định Khi nói đến ý nghĩa hay nghĩa từ vựng chính là nói đến nghĩa sở biểu
Nghĩa sở dụng: Đó là quan hệ của từ với người sử dụng Người sử dụng ngôn ngữ hoàn toàn không thờ ơ đối với từ ngữ được dùng Họ có thể bộc lộ thái
độ, cảm xúc của mình với từ ngữ, qua đó tới cái sở chỉ và cái sở biểu của từ ngữ Nghĩa kết cấu: Đó là quan hệ giữa từ với những từ khác trong hệ thống Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị và trục ngữ đoạn Quan hệ của từ với các từ khác trên trục đối vị được gọi là nghĩa khu biệt hay giá trị Quan hệ của từ với từ khác trên trục ngữ đoạn được gọi là nghĩa cú pháp hay ngữ trị Nghĩa cú pháp của từ chính là khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết
Trang 24hợp cú pháp của từ đó Khả năng kết hợp từ vựng là khả năng kết hợp của các nghĩa,
còn khả năng kết hợp cú pháp là khả năng dùng các từ trong những cấu trúc nào đó
1.1.2.4 Các tầng nghĩa, kiểu nghĩa từ vựng
Định hướng chức năng và tri nhận luận chú ý sự hoạt động hiện thực của
ngôn ngữ trong giao tiếp, tư duy Trong quá trình hoạt động hiện thực này có nhiều
nhân tố chi phối quy định nghĩa từ vựng Theo Lê Quang Thiêm (2013, tr.121),
nghĩa của từ trong hoạt động là sự nhận thức và ý niệm hóa ý tưởng của người nói,
của cộng đồng ngôn ngữ Điều này cho thấy “nghĩa của tín hiệu trước tiên là ý, là
nội dung tư tưởng mà người nói đưa vào tín hiệu hoặc sáng tạo thêm nét mới và cố
định hóa trong nội dung đã có của tín hiệu qua văn cảnh, ngữ cảnh sử dụng chúng”
Ý được mã hóa thành tín hiệu ngôn ngữ, ý biến thành nghĩa của tín hiệu, là cái được
biểu hiện của từ, ngữ
Nói đến văn cảnh là nói đến sự hiện thực hóa chức năng bằng câu, lời trong
tính cụ thể xác định Trong các loại hình phong cách chức năng này, từ, ngữ, và
nghĩa của nó được biểu hiện khác nhau Một thuật ngữ khác với một từ thường dùng,
một từ dùng với sắc thái trung hòa sẽ khác khi dùng với sắc thái biểu cảm
Lê Quang Thiêm (2013) đưa sơ đồ ba tầng nghĩa và sáu kiểu nghĩa từ vựng
như sau:
Tầng nghĩa trí tuệ Nghĩa biểu niệm – Khái niệm khoa học
Ý niệm quy ước Nghĩa biểu hiện Giá trị hệ thống Phổ
Tầng nghĩa thực tiễn Nghĩa biểu thị nghĩa Nghĩa biểu chỉ từ
Tầng nghĩa biểu trưng Nghĩa biểu trưng vựng
Nghĩa biểu tượng
Sơ đồ 1.6: Ba tầng nghĩa và sáu kiểu nghĩa từ vựng
(Lê Quang Thiêm, 2013, tr.123)
Trang 25Ở tầng nghĩa trí tuệ: nghĩa biểu niệm có nội dung là các khái niệm khoa học
Nó có tính lịch sử cụ thể, tính tương đối trong nhận thức và phát triển khoa học Chẳng hạn các khái niệm về nước, về hạt nhân, về cách mạng,…Còn nghĩa biểu hiện bao gồm hai nội dung cụ thể: Nội dung khái quát thuộc tính dấu hiệu đối tượng được biểu hiện một cách đời thường có tính chủ quan, những khái niệm quy ước; và nội dung nghĩa hệ thống, nghĩa được xác lập trong quan hệ với từ khác trong nhóm
Ở tầng nghĩa thực tiễn: nghĩa biểu thị có tính cụ thể, lời nói Nó được dùng trong thực tiễn đời thường khi câu nói có liên quan đến sự vật, hoạt động, tính chất
mà từ biểu thị Trong đời sống hàng ngày thì nghĩa biểu thị là hiện thực dễ thấy, dễ nhận ra nhất Còn nghĩa biểu chỉ là kiểu nghĩa có nội dung thay thế, dán nhãn Kiểu
nghĩa này bao gồm các từ chỉ định như này, kia, đó, ấy,…; các đại từ như tôi, ta, nó, hắn,…
Ở tầng nghĩa biểu trưng có hai kiểu nghĩa: Nghĩa biểu trưng là loại nghĩa của những từ mà hình thức ngữ âm, hay hình thức cấu âm có liên hệ đến nội dung được biểu hiện của từ Đây là nghĩa của các từ tượng thanh, tượng hình, chẳng hạn: (cười) khà khà, (mèo kêu) meo meo, (đường đi) ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, Nghĩa biểu tượng là nội dung có được do hình dung, tưởng tượng Chẳng hạn nội dung nghĩa của các từ “rồng”, “lân”, “nhân mã”,…
1.1.2.5 Các tầng nghĩa, kiểu nghĩa trong các phạm trù ngữ pháp
Ngữ pháp truyền thống cũng như ngữ pháp hiện đại đều quan tâm đến từ loại
Từ loại là kết quả của sự phân loại vốn từ dựa trên bản chất ngữ pháp của từ
Nghĩa ngữ pháp thường có cách biểu hiện đặc trưng của từng ngôn ngữ Chẳng hạn nghĩa về giống, số của danh từ, nghĩa thời, thể, ngôi của động từ,… Căn cứ vào ý nghĩa khái quát và đặc điểm quan hệ, có thể phân chia nghĩa ngữ pháp thành các tầng như sau: nghĩa thực từ, nghĩa hư từ, nghĩa tình thái từ Tầng nghĩa của các thực từ là bộ phận nghĩa ngữ pháp lớn nhất của mỗi ngôn ngữ Bản thân thực từ có nghĩa tự thân thường trực và nghĩa tự thân không thường trực Các nghĩa về sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái là nghĩa tự thân thường
Trang 26trực; còn các nghĩa như số, cách, chủ ngữ, bổ ngữ,… là nghĩa tự thân không thường trực
Tầng nghĩa ngữ pháp của hư từ là tầng nghĩa rất đặc trưng Hư từ là những từ không có nghĩa từ vựng Một hư từ không thể tự mình làm thành câu Nghĩa của hư
từ là nghĩa kết hợp, là phương tiện tham gia cấu trúc biểu đạt Dường như toàn bộ ý nghĩa của hư từ là ý nghĩa ngữ pháp
Tầng nghĩa của tình thái từ Ý nghĩa của tình thái từ thể hiện ở việc diễn đạt mối quan hệ giữa người nói với thực tại nội dung do câu nói biểu đạt
1.2 Phạm trù từ loại của tiếng Việt
Các nhà ngôn ngữ học hiện nay có khuynh hướng phân chia từ loại theo chức năng của từ trong câu Từ loại của tiếng Việt gồm các loại sau: danh từ, đại từ, vị từ, giới từ, liên từ, tình thái từ
Danh từ chung chỉ những lớp thực thể có cùng thuộc tính Nó phản ánh cách thức tri nhận của người bản ngữ; hoặc chỉ ra dạng thức tồn tại của thực thể
Danh từ chung được phân làm hai loại Loại thứ nhất là danh từ khối (hay còn gọi là danh từ không đếm được) Loại danh từ này “không gợi lên ý niệm về một vật xác định với hình thù nhất định hoặc giới hạn chính xác” (Nguyễn Vân Phổ
2018, tr.264), nó chỉ cho biết chất liệu hay chủng loại, chẳng hạn: cá, cua, chó, mèo,… Loại thứ hai là danh từ đơn vị hay còn gọi là danh từ đếm được Loại danh
từ này chỉ “những hình thức tồn tại của các thực thể phân lập trong không gian,
Trang 27trong thời gian hay trong một chiều nào khác được hình dung giống với không gian” (Cao Xuân Hạo 2007, tr.79)
Danh từ khối và danh từ đơn vị có hai khác biệt lớn về ngữ pháp:
Thứ nhất: Danh từ khối có thể kết hợp với một lượng ngữ không bao hàm số như nhiều, ít, đầy, lắm, tất cả,… Danh từ đơn vị có thể kết hợp trực tiếp với lượng
từ những, mấy, mỗi, từng, vài, dăm, mươi, và số từ, tổ hợp số từ
Thứ hai: Danh từ khối có thể độc lập làm ngữ đoạn để đảm nhiệm chức năng
đề, thuyết, bổ ngữ, trạng ngữ Trong khi đó danh từ đơn vị hầu như không có chức năng này
1.2.2 Đại từ
Đại từ là loại thực từ có thể tự mình làm thành một ngữ danh từ, trong một số trường hợp có thể làm trung tâm của một ngữ danh từ
Đại từ được chia thành hai loại: đại từ xác định và đại từ chưa xác định
Đại từ xác định là đại từ dùng để chỉ những sự vật (người, động vật, vật vô tri) hoặc những điều nói ra đã được xác định, ví dụ như: tôi, nó, đây, đó, vậy,… Đại từ chưa xác định là đại từ dùng để chỉ những sự vật (người, động vật, vật
vô tri) hoặc những sự tình chưa được xác định, ví dụ như: ai, gì, nào, sao,…
1.2.3 Vị từ
Loại thực từ này có thể tự mình làm thành một ngữ vị từ, làm trung tâm của một ngữ vị từ vì vậy nên được gọi là vị từ (Cao Xuân Hạo, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm & Bùi Tất Tươm, 2006, tr.26)
Có không ít cách để phân chia vị từ, nhưng hai cách phổ biến nhất là phân chia vị từ theo sự tình và phân chia vị từ theo diễn tố
1.2.3.1 Phân chia theo sự tình
Sinom C Dik (1981) cho rằng kết cấu chủ-vị hạt nhân bao gồm vị từ và những danh ngữ làm diễn tố sẽ biểu hiện một sự tình Các sự tình được phân loại theo hai tham số ngữ nghĩa [± động] và [±chủ ý]
Trang 28Sự tình [+động] là loại sự tình liên quan đến một sự thay đổi nào đó trên trục thời gian; nó có thể có khởi đầu, diễn biến, kết thúc Sự tình [+động] được gọi là biến cố, bao gồm hành động, quá trình
Sự tình [-động] là loại sự tình không có sự thay đổi trong suốt quá trình tồn tại của nó Sự tình [-động] được gọi là tình hình, bao gồm trạng thái, tính chất hoặc
tư thế
Sự tình [+chủ ý] là loại sự tình xảy ra theo ý chí của chủ thể
Sự tình [-chủ ý] là loại sự tình không chịu sự chi phối của ý chí của chủ thể Hai tiêu chí [± động] và [±chủ ý] kết hợp với nhau sẽ có bốn loại sự tình:
[+động]
Biến cố
[-động]
Tình hình [+chủ ý] Hành động Tư thế [- chủ ý] Quá trình Trạng thái Bảng 1.1: Phân loại sự tình
(Nguyễn Vân Phổ, 2018, tr.113)
Cao Xuân Hạo (2017, tr.98) nhận xét rằng:
Xét trên bình diện biểu hiện, câu diễn đạt một “quá trình” (process), được ta cảm thụ như một thể trọn vẹn, nhưng khi biểu hiện nó trong lời nói, ta lại phân tích nó thành một mô hình nghĩa (semantic configuration) gồm có ba yếu tố: bản thân quá trình, các tham tố (participants) trong quá trình, và cái hoàn cảnh (circumstances) có liên hệ với quá trình
Cách phân tích chủ quan này chính là hậu thuẫn cho việc phân chia từ loại thành vị từ, danh từ, và các từ loại khác
Dựa trên các loại sự tình theo lý thuyết của Dik, có thể phân chia vị từ thành các loại sau đây:
Trang 29STT VỊ TỪ
TIÊU CHÍ Động Chủ ý
-
± Bảng 1.2: Phân loại vị từ theo sự tình
(Cao Xuân Hạo, 2006, tr.28)
Vị từ hành động: là vị từ biểu hiện hành động chủ ý của người hoặc/ và của động vật (hay của những thực thể được coi như người hay động vật)
Vị từ hành động được chia thành các loại như sau:
Chuyển thái
Chuyển vị Chuyển tác
Tạo tác Tạo diệt
Tri giác Cầu khiến
Sơ đồ 1.7: Phân loại vị từ hành động (Cao Xuân Hạo và các tác giả khác, 2006, tr.29)
Trang 30Vị từ quá trình: biểu thị hoạt động không có chủ ý của người, của động vật
Tạo tác Tạo diệt
Hủy diệt
Chuyển thái Chuyển biến
Chuyển vị
Vô tác
Nảy sinh Sinh diệt
Vị từ trạng thái: biểu thị tính chất và tình trạng của người, động vật và những vật vô tri hay biểu thị quan hệ giữa các sự vật Vị từ trạng thái gồm các loại như sau:
Trang 31Thể trạng Thể chất
Vị từ tình thái gồm vị từ tình thái của sự tình và vị từ tình thái của nội dung sự tình
1.2.3.2 Phân loại vị từ theo diễn tố
L.Tesnière cho rằng cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh vị từ và các diễn tố làm bổ ngữ cho nó Một sự tình (được phản ánh trong câu) gồm hai phần: nội dung của sự tình và (các) tham tố của sự tình Hai phần này tạo thành cấu trúc nghĩa của câu (Cao Xuân Hạo và các tác giả khác, 2006, tr.45) Nội dung của sự tình được một ngữ vị từ biểu hiện Tham tố của một sự tình do một ngữ danh từ, một ngữ vị từ, một tiểu cú biểu hiện Tham tố của sự tình biểu hiện các vai nghĩa xung quanh nội dung của sự tình, do nghĩa của vị từ quy định Có những vị từ vô trị, có những vị từ chỉ có một diễn tố (gọi là đơn trị), có những vị từ hai diễn tố (gọi là song trị), có những vị từ ba diễn tố (gọi là tam trị)
Xung quanh hạt nhân do vị từ và các diễn tố tạo nên, có các chu tố chỉ các hoàn cảnh, không có số lượng nhất định như các diễn tố, tương đương với các phó
từ thời gian, nơi chốn, phương thức
Trang 32Lý thuyết diễn trị của L.Tesnière đã được C.J Fillmore bổ sung bằng một
loạt bài, trong đó nổi tiếng nhất là bài “The Case for Case” (1968), chủ trương rằng
có thể xác định một bộ hữu hạn và phổ quát giữa một vị ngữ và các tham tố của nó
Những mối quan hệ đó được ông gọi là quan hệ cách Ông liệt kê các quan hệ cách
sau đây:
- Agentive, chỉ chủ thể của hành động do vị từ biểu thị
- Instrumental, chỉ vai công cụ của hành động do vị từ biểu thị
- Dative, chỉ vai động vật chịu ảnh hưởng của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
- Factitive, chỉ vai của vật sinh ra do kết quả của trạng thái hay hành động do vị
- Benefactive, chỉ người hưởng lợi trong hành động do vị từ biểu thị
- Comitative, chỉ người hay vật có liên đới với chủ thể trong trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
- Time, chỉ thời điểm của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
- Source, chỉ chỗ xuất phát của sự chuyển động do vị từ biểu thị
- Goal, chỉ mục tiêu của sự chuyển động do vị từ biểu thị
- Direction, chỉ phương hướng của sự chuyển động do vị từ biểu thị
- Extent, chỉ tầm xa của sự chuyển động hay thời gian kéo dài của một trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
Về sau những người đi theo hướng của ông còn thêm những “cách” khác như experiencer (kẻ thể nghiệm), undergoer (kẻ trải qua quá trình), patient (kẻ bị động), manner (phương thức), purpose (mục đích),… (Cao Xuân Hạo, 2017)
Trang 33Căn cứ vào số lượng diễn tố của các vị từ, có thể chia vị từ thành các loại sau đây:
- Vị từ có diễn trị zero (không có diễn tố), ví dụ: mưa, nắng, sớm, muộn,…
- Vị từ có một diễn tố (đơn trị) : diễn tố duy nhất của loại vị từ này chỉ vai chủ thể của hành động, quá trình, tư thế, trạng thái Loại vị từ này gồm có vị từ hành động
di chuyển không có hướng, vị từ hành động cử động, vị từ tư thế, vị từ quá trình vô tác, vị từ tính khí, tâm trạng, thể trạng, vị từ vật trạng, vị từ ứng xử, ví dụ: đi, chạy, chơi, múa, chảy, rơi, cao , thấp, mệt,…
- Vị từ có hai diễn tố ( song trị ) gồm các loại như vị từ hành động chuyển thái (vai tác thể - đối thể) như: cắn, nấu, khen, dọa, ; vị từ hành động chuyển vị (vai tác thể - vai đối thể) như: bán, gánh, nhổ, múc,…;vị từ hành động tạo tác(vai tác thể - vai đối thể) như: dệt, tạo, xây,…; vị từ hành động hủy diệt (vai tác thể - vai đối thể) như: lau, đốt, giết, tẩy,…; vị từ hành động di chuyển có hướng (vai hành thể - vai đích) như đến, lên, ra, tới, ; vị từ hành động di chuyển không có hướng (vai hành thể - vai đích/ vai nguồn/ vai lối đi) như: chui, lẻn, dời, lánh,…; vị từ hành động cử động (vai hành thể - vai đích) như bám, cấu, , vị từ tri giác (vai hành thể - vai mục tiêu) như coi, dò, học, nghe, nhìn,…; vị từ quá trình chuyển tác (vai lực - vai đối thể) như động, xói,…; vị từ quá trình chuyển biến (vai động thể - vai kết quả) như nhiễm, thành, ; vị từ tồn tại (vai động thể - vai vị trí) như đơm, trổ, ; vị từ tư thế (vai hành thể - vai vị trí) như cưỡi, ngụ, ở, ; vị từ tâm trạng (vai nghiệm thể - vai nguồn) như biết, cần, chờ,…; vị từ vật trạng (vai đương thể - vai liên đới/ vai phương thức) như bằng, giống, hơn, kém,
- Vị từ có ba diễn tố (tam trị) gồm các loại như vị từ hành động chuyển vị (vai tác thể - vai đối thể - vai tiếp thể/ vai nguồn/ vai đích) như ban, biếu, bù, mượn,…; vị từ hành động tạo tác vai tác thể - vai tạo thể - vai tiếp thể) như dặn, hỏi, khai, mách, ;
vị từ cầu khiến (vai hành thể - vai đối thể - vai nội dung) như cấm, hứa, khuyên, mời,
Trang 34Nguyễn Thị Quy (1995) đã lập bảng phân loại vị từ của tiếng Việt như sau:
Vị từ Tiêu chí phân loại : DIỄN TRỊ
Chuyển động Chạy, bay,
Tinh thần : nhận thức- phát ngôn Nghĩ, khẳng
định, nói…
Tác thể, diễn ý/ lời
Vật chất Bẻ, nấu,
đánh
Tinh thần Dọa, trêu,
mắng [- Mục tiêu]
Đv Chủ thể
Cầm, mang, lấy, buông… Tác thể,
đương thể
Đv Vị trí (chuyển động)
Đẩy, dắt , chăn, thả,
[ + Mục tiêu] Đv Chủ
thể và nhận thể
Gửi, cho, chuyển,
Tác thể, đương thể, nhận thẩ
Tác thể, đương thể, đích
Cầu khiến Sai, ra lệnh,
yêu cầu
Tác thể, đương thể, hành động Bảng 1.3: Phân loại vị từ tiếng Việt
Trang 35Giới từ chính danh gồm các từ: tại, bởi, vì, từ, tuy, mặc dù, nếu, dù
Giới từ do danh từ chuyển thành gồm các từ: trước, sau, trong, ngoài, trên, dưới, của
Giới từ do vị từ chuyển thành gồm các từ: ở, đến, tới, vào, lên, xuống, ra, sang, về, lại, cho, bằng, với, cùng, qua, ngang
Tính thái từ gồm hai loại: ngữ khí từ (dùng để biểu hiện tình thái của hành
động phát ngôn, chẳng hạn như à, nhỉ, nhé,…) và thán từ (dùng để biểu hiện cảm xúc hay để gọi đáp, chẳng hạn ái chà, than ôi, vâng, dạ,…)
1.3 Các đặc điểm của ngôn ngữ Nhật Bản
1.3.1 Chuyển đổi căn tố
Để biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp, tiếng Nhật sử dụng cách chuyển đổi một số yếu tố trong thành phần âm thanh của căn tố Ví dụ, để thể hiện ý nghĩa về thời quá khứ động từ sẽ được chuyển đổi từ hình thức “~ ます masu” sang “~ ました
mashita”
Trang 36Ví dụ:
行きますikimasu 行きましたikimashita: đã đi
話しますhanashimasu 話しましたhanashimashita: đã nói
Ngoài ra còn sử dụng phương thức bổ sung, nghĩa là thêm vào căn tố một thành phần để tạo thêm một từ mới Ví dụ, yếu tố “ らra” sẽ được thêm vào từ “彼
kare” (anh ấy) để tạo nên một từ mang ý nghĩa số nhiều “ 彼ら karera” (các anh ấy)
1.3.2 Trọng âm
Trọng âm là độ cao thấp khi phát âm một từ đơn
Ví dụ: Hai từ sau đây nếu được viết bằng Hiragana thì có cùng chữ viết là はし
“hashi” 橋 (cây cầu) và 箸 (đôi đũa) nhưng chúng có trọng âm khác nhau:
橋 : は し 箸 : は し
Trọng âm của tiếng Nhật rất đa dạng và thay đổi tùy theo vùng miền Trọng
âm của vùng Tokyo đơn giản và được sử dụng phổ biến nhất Đó cũng là trọng âm được sử dụng trên đài truyền hình NHK
1.3.3 Trường âm
Trường âm là một âm chính được kéo dài ra Trường âm cũng là một yếu tố làm thay đổi ý nghĩa của từ Ví dụ, nếu âm “あ a” có độ dài là 1 phách thì âm “ああ aa”
có độ dài gấp đôi
Theo cách viết Hiragana các trường âm được viết như sau:
- Trường âm của hàng “あ a” là “あ a”: おばあさん obaasan (bà)
Trang 37- Trường âm của hàng “え e” là “え e” và “いi”: せんせい sensei (giáo viên)
- Trường âm của hàng “お o” là “お o” và “う u”: とおる touru (đi qua)
とる toru (lấy) Theo cách viết Katakana các trường âm được thể hiện bằng ký hiệu “ー” sau
âm được kéo dài Ví dụ:
カード (card )
ノート (note)
1.3.4 Động từ 動詞 Doushi
Động từ trong tiếng Nhật được chia thành ba nhóm:
Nhóm 1 ((五段動詞 godandōshi) gồm các động từ có âm cuối là “う ư” (う u, つ tsu,
る ru, く ku, ぐ gu, ぬ nu, ぶ bu, む mu, す su)
Ví dụ: 買う kau: mua; 待つ matsu: chờ; 走る hashiru: chạy; 行く iku: đi;
急ぐ isogu: vội vàng
“るru” là “いi” hay “えe”
Nhóm 3 gồm 2 động từ đặc biệt: する suru và くる kuru
Ví dụ: 運転する unten suru: lái xe; する suru: làm; 来る kuru: đến
Mỗi nhóm có 1 hình thức biến đổi khác nhau để thể hiển thời, thể (Xin xem phần
thay đổi hình thức ở phụ lục 1)
Động từ của tiếng Nhật được chia làm hai loại: tha động từ ( 他 動 詞
tadoushi) và tự động từ (自動詞 jidoushi)
Trang 38Tha động từ (他動詞 tadoushi) là những động từ có chủ thể thực hiện hành động và có bổ ngữ đứng trước nó Bổ ngữ này thường là một danh từ và được đánh dấu bằng trợ từ “を wo”
Ví dụ: 会議を始めます。Kaigi wo hajimemasu Chúng ta bắt đầu cuộc họp
Tự động từ (自動詞 jidoushi) là những động từ không có chủ thể hành động
và không có bổ ngữ Chủ ngữ của tự động từ được đánh dấu bằng trợ từ “が ga”
Ví dụ: 会議が始まります。Kaigi ga hajimarimasu Cuộc họp bắt đầu
1.3.5 Tính từ 形容詞 Keiyoushi
Tính từ được biến đổi tùy thuộc theo thể và thời Căn cứ vào cách biến đổi,
người ta chia tính từ thành hai nhóm: Tính từ có đuôi là “い i” và tính từ có đuôi là
“な na”
Ví dụ:
Tính từ có đuôi “い i”: 早い haya i (sớm); 新しい atarashi i (mới)
Tính từ có đuôi “な na”: 静かな shizuka na (yên tĩnh); 便利な benri na (tiện lợi)
“格助詞 kaku joshi” gồm các trợ từ như “ が ga”, “を wo”, “に ni”, “と to”,
“で de”, “へ he”, “から kara”, “まで made”, “より yori” Nhóm trợ từ này được xem là các đơn vị “dán nhãn ngữ pháp” cho các yếu tố đứng trước chúng [20]
“並列助詞 heiretsu joshi” gồm các trợ từ như “と to”, “や ya”, “か ka” Nhóm trợ từ này được đặt giữa danh từ và danh từ Chúng có nhiệm vụ liệt kê các danh từ, tương đương với từ “và, với” của tiếng Việt
Trang 39 “終助詞 shuu joshi” gồm các trợ từ “ね ne”, “よ yo”, “よね yone”, “か ka”, “わ
wa”, “ぞ zo”, “さ sa” Chúng luôn được đặt ở cuối câu , dùng để thể hiện thái độ của người nói đối với người nghe và sự việc
“とりたて助詞 toritate joshi”: Các trợ từ được gọi là “係助詞 kakari joshi” ,
“副助詞 fuku joshi” trong ngữ pháp trường học như “は wa”, “も mo”, “だけ dake”, “しか shika”, “ばかり bakari” thì kết hợp với “格助詞 kaku joshi” hoặc thay thế cho “格助詞 kaku joshi” để thể hiện cảm xúc của người nói cũng được gọi
là “とりたて助詞 toritate joshi”
Với một diện hoạt động rộng và phong phú như vậy, có thế nói phạm vi “trợ
từ tiếng Nhật rộng hơn bất cứ quan niệm nào về các loại từ bổ trợ như : “Hư từ ngữ pháp”, “Hư từ tình thái” trong tiếng Việt, “giới từ” của tiếng Anh, “Tiếp vĩ ngữ”,
“Liên từ”, “Thán từ”, “Phó từ” của tiếng Nga, tiếng Pháp… Tóm lại “Trợ từ tiếng Nhật” bao gồm tất cả các loại này, gọi chung chúng bằng cái tên “Trợ từ” (Ngô Hương Lan, 2013)
Mỗi trợ từ thường có nhiều trường hợp sử dụng Tùy vào động từ, trợ từ sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa động từ đó với danh từ đứng trước nó Hoạt động của trợ từ
đã nói lên một cách đầy đủ nhất về đặc trưng loại hình ngôn ngữ của tiếng Nhật: ngôn ngữ chắp dính
Tiểu kết
Nghĩa của từ là một nội dung hình thành nhờ chức năng, nhưng không phải
là chức năng riêng rẽ mà chức năng được thể hiện qua văn cảnh
Nghĩa của từ gồm hai loại: nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp
Nghĩa từ vựng là sự phản ánh của những kết quả nhận thức và tư duy vào ngôn ngữ Nó là ý nghĩa riêng của từng từ Nghĩa từ vựng có chức năng định danh, biểu thị các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, do đó nó có tính hiện thực Nghĩa ngữ pháp được hiểu là các ý nghĩa chung của nhiều từ, nhiều đơn vị ngữ pháp Tuy cũng là sự phản ánh của những kết quả nhận thức và tư duy vào
Trang 40ngôn ngữ nhưng nó là ý nghĩa chung cho một loạt đơn vị ngôn ngữ Nghĩa ngữ pháp
có chức năng phân biệt nghĩa, tổ chức câu Nghĩa ngữ pháp có tính khái quát cao hơn nghĩa từ vựng, bao gồm các loại nghĩa như nghĩa từ loại (nghĩa chung của tất cả các từ thuộc cùng một loại), nghĩa tình thái (nghĩa của các phạm trù ngữ pháp), nghĩa quan hệ (thể hiện mối quan hệ của một từ với các từ khác trong câu)
Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính, từ không biến đổi hình thái nên ngoài phương thức hư từ và trật tự từ thì ý nghĩa ngữ pháp của từ còn được thể hiện qua phạm trù từ loại
Tiếng Nhật là một ngôn ngữ chắp dính, hình thái của từ (động từ, tính từ) biến đổi theo thời, thể Trợ từ đóng vai trò quan trọng là một chất keo để liên kết các thành phần trong câu Chính hoạt động của trợ từ đã thể hiện tính chất chắp dính của ngôn ngữ Nhật Bản