Sông Hương, sông lớn nhất Thừa Thiên - Huế, là nhập lưu của hai nhánh sông chính Tả Trạch, Hữu Trạch và phía hạ du tại ngã ba Sình có sự tham gia của sông Bồ, với diện tích lưu vực khoản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN TUẤN LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
TP Hồ Chí Minh 2007
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN TUẤN LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Mã số : 60.85.15
GVHD : PGS TS HỒNG HƯNG
TP Hồ Chí Minh 2007
Trang 3Sau một thời gian học tập và thực hiện luận văn, với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô, cơ quan và các bạn bè đồng nghiệp, luận văn
“Nghiên cứu ảnh hưởng của các công trình thượng nguồn tác động đến môi trường hạ du sông Hương tỉnh Thừa Thiên -Huế” đã được hòan thành Với tấm lòng chân
thành nhất, tác giả xin bày tổ sự biến ơn sâu sắc tới:
Các thầy cô đã hết lòng giảng dạy và truyền đạt nhiệt tình trong suốt quá trình học tập những kiến thức, kinh nghiệm quý báu về chuyên môn cho tôi Đồng thời tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy PGS.TS Hòang Hưng
Tác giả xin chần thành cảm ơn Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, Trung tâm nghiên cứu chỉnh trị sông & Phòng chống thiên tai đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các anh chị và bạn bè cùng lớp học chuyên ngành
“Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên” niên khóa 2004 – 2007 đã
động viên và khích lệ tôi để hòan thành luận văn này
NGUYỄN TUẤN LONG
Trang 4CBN : Cân bằng nước
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN………… ……… 5
1.1: Những thành tựu khoa học trên thế giới liên quan trực tiếp đến nội dung
Trang 6………9
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ VAI TRÒ CỦA SÔNG HƯƠNG
ĐỐI VỚI TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ……… ……….….10
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
TRÊN SÔNG HƯƠNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG………44
3.1: Quy mô nhiệm vụ các công trình có tác động mạnh đến môi trường sông
Trang 7Hòa vận
hành……… …………
………60
CHƯƠNG 4: ÁP DỤNG MÔ HÌNH TÓAN MIKE11 TÍNH THỦY LỰC VÀ
DỰ BÁO DIỄN BIẾN LÒNG DẪN HẠ DU SÔNG HƯƠNG…….…….………69
4.1: Giới thiệu chung
Trang 8HÌNH VẼ
Hình 2-1: Bản đồ tỉnh Thừa Thiên –
Huế……….………11 Hình 2-2: Đọan sông ngã ba Tuần khu vực nhập lưu giữa sông Tả Trạch và sông Hương
Trang 9Hình 2-14: Phân phối dòng chảy theo mùa và tháng các năm đặc trưng
(lớn, vừa và nhỏ) trạm Thượng Nhật - sông Tả Trạch
Trang 11Hương……….… 83
Hình 4-7: Kiểm định mực nước tính toán và thực đo trạm Kim Long lũ năm
1983….….84
Hình 4-8: So sánh đường mặt nước lũ năm 1983 giữa thực đo và tính toán đoạn từ ngã
ba Tuần đến đập Thảo
Long………
……….84
Hình 4-9: Đường quá trình mặt nước max mô phỏng từ đập Dương Hòa đến đập Thảo
Long lũ năm
1983………….………
………85
Hình 4-10: Kiểm định mực nước tính toán và thực đo trạm Kim Long lũ năm
1999……86
Hình 4-11: So sánh đường mặt nước lũ thực đo và tính toán đoạn từ ngã ba Tuần đến
đập Thảo Long lũ năm
1999……….………
………86
Hình 4-12: Đường quá trình mặt nước max mô phỏng đoạn từ đập Dương Hòa đến đập
Thảo Long lũ năm
1999………
………87
Hình 4-13: So sánh cao trình tuyến lạch sâu thực đo và tính toán đoạn từ hồ Dương
Hòa đến đập Thảo
Long………
……….88
Hình 4-14: Sơ đồ khối của chương trình máy tính theo phương pháp thử
dần……… 96
Trang 12Hình 4-19: Đường mực nước đỉnh lũ 1983 và 1999 mô phỏng bằng mô hình Mike11
dọc sông Hương khi không có hồ và có hồ Bình Điền cắt lũ
………99
Hình 4-20: Đường mực nước đỉnh lũ 1983 và 1999 mô phỏng bằng mô hình Mike11
dọc sông Hương khi không có hồ và có hồ Dương Hòa cắt lũ
………100
Hình 4-21: Đường mực nước đỉnh lũ 1983 và1999 mô phỏng bằngmô hình Mike11 dọc
sông Hương khi hồ Dương Hòa và Bình Điền đồng thời cắt
Trang 13Hình 4-27: Diễn biến trên mặt cắt ngang sau 3, 5, 10 và 15 năm hồ Bình Điền và
Dương Hòa vận hành, tại vị trí cách đập Thảo Long 46 km về thượng
du………
………108
Hình 4-28: Diễn biến trên mặt cắt ngang sau 3,5,10 và15 năm hồ Bình Điền và Dương
Hòa vận hành, tại vị trí cách đập Thảo Long 35 km về thượng
du ………108
Hình 4-29: Diễn biến trên mặt cắt ngang sau 3,5,10 và15 năm hồ Bình Điền vàDương
Hòa vận hành, tại vị trí cách đập Thảo Long10 km về thượng
Trang 15Bảng 4-3: Phân tích đánh giá mực nước max tính tóan và thực đo tại một số vị trí trên
sông Hương lũ năm
1983………
………85
Bảng 4-4: Phân tích đánh giá mực nước max tính tóan và thực đo tại một số vị trí trên
sông Hương lũ năm
1999… ………
………87
Bảng 4-5: Hệ số Manning (n) của một số vị
trí……….90
Bảng 4-6: Kết quả tính hiệu quả cắt lũ năm 1983 và 1999 hạ du sông Hương khi có hồ
Bình Điền cắt lũ bằng mô hình Mike
11………99
Bảng 4-7: Kết quả tính hiệu quả cắt lũ năm 1983 và 1999 hạ du sông Hương khi có hồ
Dương Hòa cắt lũ bằng mô hình Mike
11……… ………100
Bảng 4-8: Kết quả tính hiệu quả cắt lũ năm 1983 và 1999 hạ du sông Hương khi hồ
Dương Hòa và Bình Điền đồng thời cắt lũ bằng mô hình Mike
11……….….…101
Trang 16Hương………102
Bảng 4-10: Kết quả tính tóan dự báo xói lòng sông tại các mặt cắt trên Tả Trạch, Hữu
Trạch và Hương sau 3,5,10 và 15 năm hai hồ Bình Điền, Dương Hòa đi vào họat
động……….………
………104
Trang 17MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Thừa Thiên - Huế, tỉnh có nhiều di tích lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng và truyền thống văn hoá lâu đời, trong đó Cố đô Huế là nơi tập trung nhiều lăng tẩm, tượng đài kiến trúc cổ, đã được UNESCO công nhận là một trong những
di sản văn hoá của thế giới
Sông Hương, sông lớn nhất Thừa Thiên - Huế, là nhập lưu của hai nhánh sông chính Tả Trạch, Hữu Trạch và phía hạ du tại ngã ba Sình có sự tham gia của sông Bồ, với diện tích lưu vực khoảng 2830 km2, chiếm gần 3/5 diện tích toàn tỉnh, đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đến sự phát triển dân sinh, kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên - Huế: là huyết mạch giao thông thủy quan trọng, nối liền Thừa Thiên - Huế với các địa phương trong nước Gần như 75% dân số toàn tỉnh sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ sông Hương và khoảng 70% diện tích cây trồng trong tỉnh được sông Hương cung cấp nước tưới
Cảnh đẹp nên thơ của sông Hương góp phần tạo nên sự hấp dẫn, sự cuốn hút hàng triệu du khách thập phương tới thành phố Huế dự các Lễ hội truyền thống như đua thuyền, thả hoa đăng, du thuyền lễ hội Điện Hòn Chén, dự FESTIVAL hàng năm Chính vì vậy, nền kinh tế “không khói” đầy tiềm năng của tỉnh Thừa Thiên - Huế đang phát triển ngày một lớn mạnh
Tuy nhiên, sông Hương nằm trong vùng khí hậu và địa hình phức tạp, lưu vực sông ngắn và dốc, vào mùa mưa lũ nước mặt tập trung nhanh, tốc độ dòng chảy lũ trong sông với cường suất lũ rất lớn, làm cho lượng nước về không thoát kịp, kèm với bão lớn và triều cường gây ngập sâu nhiều vùng trong thời gian dài, làm nhiều nhà cửa, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, bị cuốn trôi, đôi khi còn thiệt hại cả tới sinh mạng con người Trận lũ lịch sử năm 1999, nước lũ sông Hương đã gây ngập lụt cho nhiều khu vực trong nội đô Huế với độ sâu ngập lụt có nơi lên đến 1,5m, kéo dài cả tuần lễ, gây nên hậu quả rất nặng nề, hệ thống giao thông bị hư hỏng nặng, cơ sở hạ tầng bị xuống cấp, nhiều lăng tẩm, đền chùa bao đời nay cũng bi ảnh hưởng Trái ngược với hiện tượng lũ lụt là nạn hạn hán đến mức báo động xảy ra
Trang 18sông Hương năm nào cũng xảy ra tình trạng hạn hán nhưng ở mức độ khác nhau Lượng nước trên sông Hương vào mùa kiệt bình quân chỉ vào khoảng 12 ÷13m3/s, năm kiệt nhất còn 8 ÷ 9.5m3/s, sông bị ô nhiễm nặng bởi nguồn nước thải và mặn từ biển Đông xâm nhập sâu vào nội địa, gây thiệt hại cho các ngành kinh tế
Cùng với hiện tượng lũ lụt, hạn hán v.v… hiện tượng xói bồi biến hình lòng sông, sạt lở bờ sông đã xảy ra nhiều nơi, nạn xây dựng nham nhở, những công trình bảo vệ bờ, những bến tàu, bến đò được xây dựng chưa có quy hoạch tổng thể toàn tuyến, các công trình công cộng, nhà dân lấn chiếm lòng sông, bờ sông là mối nguy
cơ phá vỡ cảnh quan môi trường của khu vực và đang dần dần làm mất đi vẻ đẹp vốn có mà tạo hoá dành cho sông Hương từ bao đời nay
Trong những năm gấn đây sự phát triển nhanh của nên kinh tế cả nước nói chung và tỉnh Thừa Thiên -Huế nói riêng, nhu cầu về điện năng là một vấn đề hết sức căng thẳng đối vời đất nước ta, cùng với các nhu cầu về nước phục vụ cho Nông nghiệp, Công nghiệp, nước sinh hoạt…
Trên sông Hương đã và đang còn xây dựng nhiều công trình Thủy lợi, Thủy điện Chính việc xây dựng những công trình Thủy lợi, Thủy điện đó làm thay đổi chế độ dòng chảy thượng hạ du công trình, khác với quy luật tự nhiên của nó dẫn đến vấn đề xói lở hạ du ngày một nghiêm trong, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế và mất cảnh quan môi trương tự nhiên
2 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN VĂN
Đưa ra các phương pháp luận và công cụ tính toán nhằm nghiên cứu chế độ thủy văn, thủy lực và vấn đề xói phổ biến ở hạ du trên hệ thống sông Hương sau xây dựng các công trình thượng nguồn, phục vụ cho công tác khai thác quản lý nguồn tài nguyên nước sông Hương phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội Các mục đích cụ thể của luận văn là:
(1) Tổng hợp một số nghiên cứu điển hình về tính toán thủy lực và xói phổ biến hạ du các công trình sau khi xây dựng (cụ thể là bài toán xói phổ biến hạ du sau khi xây dựng công trình) để đi đến chọn mô hình tóan Mike 11 (mô hình thủy lực và tính toán diễn biến xói lở lòng sông) làm cơ sở cho việc tính toán đánh giá
Trang 19hiệu quả cắt lũ theo các phương án tổ hợp điều tiết lũ xả xuống hạ du của công trình Bình Điền và Dương Hòa, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nước sông Hương (2) Xây dựng sơ đồ tính thủy lực và thiết lập các mặt cắt địa hình và tính toán dự báo tác động của việc xả nước xuống hạ du của công trình thủy điện Bình Điền trên sông Hữu Trạch và công trình hồ chứa nước kết hợp với phát điện Dương Hòa trên sông Tả Trạch đến vấn đề xói sau công trình và xói phổ biến hạ du sông Hương
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
(1) Tổng hợp tài liệu, đánh giá tổng quan các nghiên cứu về thủy lực, xói lở lòng sông ở trong nước và trên thế giới
(2) Phân tích lý thuyết về quá trình xói sau công trình và xói phổ biến hạ du công trình khi có các công trình điều tiết thượng nguồn
(3) Sử dụng phương pháp cân bằng nước, tính toán điều tiết lũ của hồ chứa (4) Ứng dụng mô hình tóan Mike 11, phần mềm chuyên dụng trong nghiên cứu thủy lực và xói lòng sông để áp dụng tính toán dự báo hiệu quả cắt lũ và xói phổ biến lòng sông sau khi công trình hồ chứa thượng nguồn vận hành
4 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
(1) Nghiên cứu tổng quan về thủy văn, thủy lực và vấn đề xói lở phổ biến hạ
du sông Hương, trong đó tập trung vào nghiên cứu các đặc điểm sông ngòi chế độ thủy văn, thủy lực mùa kiệt và mùa lũ hạ du sông Hương
(2) Phân tích, đánh giá một số nghiên cứu về vấn đề xói phổ biến ở hạ du sau khi công trình xây dựng trên các hệ thống sông Trong đó tập trung và phân tích, đánh giá các ứng dụng mô hình tóan làm cơ sở lựa chọn công cụ nghiên cứu phù hợp
(3) Giới thiệu mô hình tóan Mike 11 về cơ sở lý thuyết, và các điều kiện ổn định của mô hình Ứng dụng mô hình tóan Mike 11 để tính toán dự báo hiệu quả cắt lũ và xói phổ biến ở hạ du sau khi xây dựng các công trình thượng nguồn trên sông Hương
Trang 205 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
(1) Phạm vi nghiên cứu của luận văn là sông Hương, các khu vực ảnh hưởng của lũ và xói lở hạ du
(2) Giới hạn nghiên cứu của luận văn là bài toán thủy lực và diễn biến xói lở bằng mô hình tóan một chiều để tính hiệu quả cắt lũ và xói phổ biến lòng sông Vùng nghiên cứu là từ thủy điện Bình Điền trên sông Hữu Trạch, hồ chứa nước kết hộp phát điện Dương Hòa trên sông Tả Trạch và dòng chính sông sông Hương
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, nội dung nghiên cứu của luận văn được trình bày trong 4 chương:
CHƯƠNG 1: Tổng quan
CHƯƠNG 2: Điều kiện tự nhiên và vai trò của sông Hương đối với tỉnh
Thừa Thiên -Huế
CHƯƠNG 3: Đánh giá ảnh hưởng các công trình xây dựng trên sông
hương đến môi trường
CHƯƠNG 4: Áp dụng mô hình tóan Mike11 tính thủy lực và dự báo diễn
biến lòng dẫn hạ du sông Hương
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Trang 211.1: NHỮNG THÀNH TỰU KHOA HỌC TRÊN THẾ GIỚI LIÊN QUAN
TRỰC TIẾP ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Có thể nói: Dòng sông là một thể thống nhất như cơ thể của một con người Vì
vậy mọi hoạt động trên dòng sông đều có liên quan mật thiết đến sự tồn tại và phát triển của chính dòng sông ấy
Nhưng con người vì muốn tồn tại và phát triển nên không ngừng tìm mọi cách khai thác tài nguyên nước trên các dòng sông bằng cách xây dựng nhiều công trình như đập dâng, trạm bơm, hồ chứa…Trên thế giới có vô số những công trình thủy lợi, thủy điện vừa và nhỏ cho đến quy mô to lớn như thủy điện Tam Hiệp ở Trung Quốc, Itaipu (Panama), Sayano - Shushensk (Yenisei - Liên xô)…
Việc xây dựng những công trình thủy lợi, thủy điện đã đem lại nhiều lợi ích cho con người, tạo ra một nguồn thủy năng to lớn, cung cấp một lượng nước đáng kể phục vụ cho nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt… Song bên cạnh những lợi ích
to lớn nhờ những công trình đem lại, cũng luôn đi kèm với những tác động tiêu cực cho con người, những rủi ro xảy ra như vỡ đập, xói lở hạ du các dòng sông, biến đổi hệ sinh thái vùng hồ…Nói chung nó làm đảo lộn cả chế độ dòng chảy và bùn cát thượng hạ du công trình - làm biến đổi lòng sông hạ du công trình…
Nghiên cứu về lĩnh vực này trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng như:
- Ở Liên Xô cũ có:
1- GS.TS Kuzơmin N.A - “Quy luật diễn biến dòng sông” Mạc Tư Khoa năm 1958;
2- GS.TS Antunin C.T - “Bồi lắng hồ chứa và xói lở hạ lưu” Mạc Tư Khoa năm 1958;
3- Karauseb I.F- “Quá trình biến đổi lòng dẫn khi dòng chảy thay đổi” Nhà xuất bản Leningrad năm 1975;
4- Antunin.ST- “Chỉnh trị sông” Nhà xuất bản nông nghiệp Mạc Tư Khoa năm 1956
- Ở Trung Quốc có :
Trang 225- GS.TS - Trương Tô Nông - Tạ Giám Hoành …- “Động lực học dòng sông” Nhà xuất bản công nghiệp Trung Quốc Tháng 7-1961;
6- GS Sa Ngọc Thanh -“Lý thuyết về sự vận động bùn cát” Nhà xuất bản công nghiệp Trung Quốc Tháng 9-1965;
7- Học viện thủy lợi – điện lực Vũ Hán - “ Trị sông” nhà xuất bản công nghiệp Trung Quốc năm 1978;
8- Đậu Quốc Nhân - “ Bồi xói sông đồng bằng và hình thái lòng sông ở vùng cửa sông ảnh hưởng triều”
- Các nước Châu âu và Mỹ có:
9- Hickin.E.J and Nanson.G.C -“Lateral Migration rates of river bends” ASCE,
110, 1557-1567 Năm 1984;
10- Klaassen.G.J and Masselink.G “Planform changes of a braided river with fine sand as bed and bank material”- 5th International symposium on river
sedimentation, Karlsruhe, Germany Năm 1992;
11- Przedwojski, B., Blazejewski, R and K.W Pilarczyk, RIVER TRAINING
TECHNIQUES; Fundamentals, Design and Applications, A.A Balkema Publisher,
Rotterdam Năm 1995;
12- Mosselman.E -“Mathematical Modeling of morphology processes in River with erodible cohesive bank.” PhD thesis, Delft Univ.of Techno., Delft, The
Netherlands Năm 1992;
13- Nagata.N, Hosoda.T and Muramoto.Y-“Numerical analysis of river
channel process with bank erosion” Năm 2000;
14- Engelund, F., and Fredsoe, J ‘‘Sediment ripples and dunes.’’ Annu Rev
Fluid Mech., 14, 13–37 Năm 1982;
15- Van Rijn, L C ‘‘Sediment transport, Part I: Bed load transport.’’ J
Hydraul Eng., 110(10), 1431-1456 Năm 1984a;
16- Van Rijn, L C - ‘‘Sediment transport, Part II: Suspended load transport.’’
J Hydraul Eng., 110(11), 1613–1641 Năm 1984b;
Trang 2317- Van Rijn, L C ‘‘Sediment transport, Part III: Bed forms and alluvial
roughness.’’ J Hydraul Eng., 110(12), 1733–1754 Năm 1984c…
… nói riêng có rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu:
4- PGS Lê Ngọc Bích –Viện KHTL Miền Nam -“Nghiên cứu hình thái sông Đồng Nai phần hạ lưu công trình thủy điện Trị An”;
5- PGS.TS Lê Mạnh Hùng - Viện KHTL Miền Nam -“Nghiên cứu dự báo xói lở bồi lắng lòng dẫn và đề xuất các biện pháp phòng chống cho hệ thống sông ở ĐBSCL” Đề tài cấp NN KC 08-15 năm 2004;
6- PGS.TS Hoàng Văn Huân –Viện KHTL Miền Nam - “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn” Đề tài cấp NN KC 08-29;
7 GS.TS Võ Phán, PGS.TS Đỗ Tất Túc Trường Đại Học Thủy Lợi Hà Nội
-“Động lực học dòng sông”;
8- PGS.TS Vũ Tất Uyên - Viện Khoa Học Thủy Lợi Hà Nội- “Công trình bảo
Trang 249- Phùng Quang Phúc - “Nghiên cứu quá trình tái tạo quan hệ hình thái lòng dẫn hạ du hồ chứa Hòa Bình” Luận án tiến sĩ;
10- TS Nguyễn Tiến Thắng -Trường Đại Học Thủy Lợi Hà Nội -“môi trường và đánh giá tác động môi trường” Năm 2002;
11- PGS.TS Hoàng Đình Dũng -Trường ĐH Xây Dựng Hà Nội -“ Thủy năng và điều tiết dòng sông” Năm 2000;
12- Bùi Nguyên Hồng - “Nghiên cứu hiện tượng xói lở cục bộ bờ vùng hạ lưu sông và biện pháp chỉnh trị” Luận án tiến sĩ
* Riêng trên lưu vực sông Hương đã có nhiều nhà khoa học quan tâm và công bố nhiều tác phẩm có giá tri như :
1- PGS.TS Lê Mạnh Hùng - Viện KHTL Miền Nam - “Dự án Quy hoạch
chỉnh trị ổn định sông Hương” Tp HCM năm 2003;
2- PGS.TS Ngô Đình Tuấn, PGS.TS Nguyễn Văn Lai - Trường ĐHTL -“Phân tích tính toán thủy văn phục vụ lập bản đồ ngập lụt đồng bằng Thừa Thiên - Huế” Hà Nội năm 2001;
3- GS Trương Đình Dụ - Viện KHTL Hà Nội viết về - “Dự án khả thi khôi phục cải tạo đập Thảo Long Thừa Thiên - Huế” Hà Nội 1998;
4-TS Tô Trung Nghĩa - Viện Quy hoạch thủy lợi Hà Nội -“Công trình thủy điện Bình Điền tỉnh Thừa Thiên -Huế” Tháng 1/2004;
5- GS.TS Lê Bắc Hùynh và KS Trương Đình Hùng - Trung tâm Quốc gia dự báo KTTV-“ Xây dựng bản đồ phân vùng ngập lụt và phương án cảnh báo dự báo nguy cơ ngập lụt hạ lưu sông Hương , sông Bồ Thừa Thiên - Huế” Tháng 4/2001; 6-TS Đỗ Hòai Nam và nnk - Sở KHCN Thừa Thiên –Huế -“Đặc điểm khí hậu-thủy văn Thừa Thiên -Huế “ Năm 2004
Tất cả những công trình khoa học trong và ngòai nước trên đây đã giúp cho tôi rất nhiều trong định hướng nghiên cứu trước mắt cũng như sau này trong lĩnh vực Động lực học dòng sông nói chung và đánh giá tác động môi trường nói riêng…[7], [9], [12] ,[17]
1.3: MỘT SỐ NHẬN XÉT
Trang 25Nhìn chung, những nghiên cứu về thủy văn, thủy lực những năm qua đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở các lưu vực sông khác nhau Các vấn đề sạt lở, xói lòng sông, đặc biệt là nghiên cứu về vấn đế xói lở phổ biến sau hạ du công trình thì chưa có nhiều mà chỉ được tập trung nghiên cứu ở một vài công trình điển hình mang tính Quốc gia
Về phương tiện thiết bị nghiên cứu trước đây rất lạc hậu, đo dạc dòng chảy, địa hình lòng sông, hàm lượng bùn cát vẫn theo phương pháp cổ điển với độ chính xác thấp, nhất là trong điều kiện sông sâu, dòng chảy có tốc độ lớn Mồ hình vật lý chỉ được tiến hành ở một số đọan sông ngắn có công trình đặc biệt quan trọng, nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở những nghiên cứu trên mô hình lòng cứng, vì vậy chưa đánh giá được tổng quát ảnh hưởng của công trình đến diễn biến xói lở sau hạ
du công trình
Tài liệu đo đạc ở các sông trong đó có sông Hương trước đây về địa hình, địa chất, thủy văn, bùn cát không được lưu giữ, bảo quản cẩn thận, đo đạc chưa theo một quy trình thống nhất (cao độ, tọa độ), các tài liệu lịch sử không có hoặc có rất
ít, vì vậy các phương pháp nghiên cứu rất khó để làm nghiệm chứng
Nghiên cứu dự báo diễn biến xói lở lòng sông bởi tác động của các công trình
ở nước ta nói chung và sông Hương nói riêng đã có nhiều cố gắng, dần từng bước tiếp cận với khoa học hiện đại, hệ thống thông tin địa lý GIS, đặc biệt là sử dụng mô hình tóan Tuy nhiên việc áp dụng mô hình tóan mới trong giai đọan thử nghiệm chưa có nhiều kết quả tính tóan cụ thể, cần phải có thời gian và số liệu kiểm chứng mới có kết quả chính xác cao
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ VAI TRÒ CỦA SÔNG HƯƠNG
ĐỐI VỚI TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ 2.1: LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG
2.1.1: Vị trí địa lý
Trang 26Lưu vực sông Hương, nằm ở miền Trung Việt Nam với vĩ độ từ 16o20’ ÷
16o40’ độ vĩ Bắc, và từ 107o15’ ÷ 107o50’ kinh độ Đông Sông Hương, sông lớn nhất tỉnh Thừa Thiên - Huế, nằm phía Đông dãy Trường Sơn và phía Bắc dãy Bạch Mã, với diện tích lưu vực khoảng 2830 km2 Là nhập lưu của ba nhánh sông chính Tả Trạch, Hữu Trạch, phía hạ lưu tại ngã ba Sình có sự tham gia của sông Bồ, chiếm gần 3/5 diện tích của toàn tỉnh Trước khi chảy ra biển Đông, sông Hương chảy vào một hệ thống đầm phá dài 68km dọc bờ biển bao gồm: Phá Tam Giang, đầm Thủy Tú - vùng Cầu Hai và đầm Lằng Cô Tại các cửa đổ ra đầm phá đều có các cống hoặc tràn ngăn mặn như Hà Đồ, An Xuân, Thảo Long…hệ thống đầm phá thông với biển qua hai cửa chính là Tư Hiền và Thuận An
Sông Hương đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển dân sinh, kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên - Huế, gần 75% dân số của tỉnh sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ sông Hương và khoảng 70% diện tích cây trồng trong tỉnh được sông Hương cung cấp nước tưới Vật liệu cát sỏi dùng để tôn nền, làm đường, xây dựng nhà cửa cho thành phố Huế đều được khai thác trong lòng dẫn sông Hương Theo quy họach tổng thể giao thông đường thủy đến năm 2020 của tỉnh Thừa Thiên-Huế, sông Hương đọan từ Thuận An đến ngã ba Tuần dài 34 km là một trong số hai tuyến giao thông chính của tòan tỉnh, còn đọan sông Hữu Trạch từ ngã ba Tuần đến Bình Điền và đọan sông Tả Trạch từ ngã ba Tuần lên thượng nguồn là hai trong số
5 tuyến giao thông nhánh của tỉnh sẽ được đầu tư [7], [8], [13]
Trang 27Hình 2-1: Bản đồ tỉnh Thừa Thiên - Huế
2.1.2: Đặc điểm địa hình, địa chất
a) Đặc điểm địa hình
Lưu vực sông Hương bắt nguồn từ các dãy núi cao thuộc dãy Trường Sơn chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam dọc theo ven biển miền Trung Đèo Hải vân chia dãy Trường Sơn làm hai phần phía Bắc và phía Nam sau đó chảy qua các vùng đồi trọc, đổ vào đồng bằng trũng rồi chảy vào phá Tam Giang Độ dài sông chính 94km, độ dốc 11,7%, độ dốc bình quân lưu vực 28%
Phần phía Bắc dãy Trường Sơn có độ cao xấp xỉ từ 50 ÷ 1700m, đỉnh núi cao nhất là đỉnh Mang cao 1712m so với mặt biển, phía Nam dãy Trường Sơn là dải đất ven biển Đông, do vậy địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và rất đa dạng Có thể chia lưu vực sông Hương một cách tương đối thành 4 vùng như sau:
Trang 28- Vùng núi đồi chiếm hơn 70% diện tích lưu vực, nằm chủ yếu ở phía Tây và phía Nam, với những đỉnh núi cao từ 500 ÷1000m, phía Nam là dãy Bạch Mã đâm ngang ra biển với những đỉnh núi cao trên 1000m, khu vực này độ dốc lớn, che phủ lớp rừng gỗ lớn, đây cũng là nơi sinh thủy đầu nguồn của các con sông suối
- Vùng đồi gò, thuộc phía sườn Đông của dãy Trường Sơn, địa hình chuyển khá nhanh từ vùng núi qua vùng đồi gò xuống vùng đồng bằng Từ vùng núi cao phía Tây có độ cao 500 ÷ 1000m xuống tới vùng đồng bằng ven biển có độ cao thấp hơn 20m so với mặt nước biển, với chiều dài khoảng 50km đã tạo nên địa hình lưu vực có độ dốc khá lớn, khu vực này chiếm trên 54% tổng diện tích đất Do có độ dốc lưu vực lớn nên phần lớn đất ở vùng núi bị xói mòn, thoái hóa, diện tích đất trống, đồi trọc chiếm ưu thế Chính vì vậy khu vực này khi có mưa khả năng tập trung nước rất nhanh làm cho lũ lụt ở đây rất ác liệt
- Vùng đồng bằng lưu vực phần lớn nhỏ hẹp với diện tích khoảng 500km2, chiếm 9,78% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, nhưng lại bị các dãy núi thấp nhô ra sát biển cùng với hệ thống sông, suối làm chia cắt địa hình thành từng mảnh
- Vùng đầm phá với diện tích mặt nước khoảng 22.000ha, khu vực này có nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học khá phong phú, cùng với các cồn cát ven biển chiếm 4.5% diện tích đất tự nhiên, đây là một loại địa hình đặc thu riêng của tỉnh Thừa Thiện -Huế [8], [15], [16]
b) Khái quát đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng
Địa chất thổ nhưỡng miền Trung Viện Nam là một phần của địa khối Indonesian Địa khối này bao gồm miền Trung và miền Nam Việt Nam, phần lớn lãnh thổ nước Lào, Campuchia và phần phía Đông Thái Lan kéo dài về phía Đông Malaysia Đối với lưu vực sông Hương có thể tóm tắt các nhóm thuộc địa tầng sau:
- Nhóm Paleozoic - Cambrian thường không phân chia - Ordonrian hạ: bao gồm đá phiến Xericit - Thạch Anh, cát kết hạn mịn, phiến Thạch Anh - Phenpát, gặp ở vùng núi cao phía trên nông trường Nam Đông;
- Nhóm Paleozoic - Ordonrian-Silurian ha ïthuộc hệ tầng Long Đại, gặp tại suối Khe Tre (bậc trên của hồ chứa Dương Hòa), bao gồm đá cát kết, bột kết và sét
Trang 29kết Phần dưới của phụ tầng gặp cát kết Thạch Anh, đá phiến sét, phiến sericit phân lớp mỏng đến trung bình;
- Nhóm Paleozoic - Devon thượng, bao gồm các trầm tích lục màu đỏ, các lớp này kéo dài theo hướng Bắc - Nam, sau đó theo hướng Tây - Đông, tạo nên các mỏm núi đá đen, Mỏ Tàu cao 200 ÷300m, phân chia lưu vực sông Tả Trạch với lưu vực sông Nông;
- Nhóm Cenozoic - Đá cuội kết nguồn gốc Aluvi, gặp ở các địa hình thấp (+30m ÷ 40m), chia cắt mạnh mẽ tại hợp lưu của hai sông Tả Trạch và Hữu Trạch;
- Nhóm Cenozoic - Các trầm tích sông - biển không phân chia, bao gồm các hạt cát bụi, cát sét, gặp ở phía Nam Huế với bề dày 12m ÷15m, có chỗ lên đến từ 30m ÷40m;
Nhóm, Cenozoic hệ đệ tứ - Thống Pléitocen bao gồm: cát, sạn và sét chứa hữu cơ nguồn gốc biển ở phần trên, gặp ở cánh đồng dọc sông Hương, tạo thành các bậc thềm có cao trình +3m ÷ +5m, bề dày các lớp này thay đổi từ 10m ÷15m Ngoài ra, còn các trầm tích Aluvi của thềm bậc I dọc sông Hương với bề dày từ 4m
÷10m, ở phần đáy của sông có một lớp cát cuội sỏi dày từ 2m÷4m
- Kiến tạo: Các con sông thuộc tỉnh đều nằm trên hai đới cấu trúc Long Đại và
A Vương, trên mỗi đới cấu trúc được đặc trưng bởi các phức hệ vật chất cấu trúc riêng phát triển theo không gian và thời gian Nhiều hệ thống đứt gãy cũng phát triển đã ảnh hưởng đến việc hình thành các con sông và được chia thành hai loại: đứt gãy phân đới và đứt gãy nội đới phát triển chủ yếu theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
- Động đất: Theo bản đổ tân kiến tạo và các chấn tâm động đất của miền
Nam Việt Nam, tỷ lệ 1:200.000 thì lưu vực sông Hương có động đất dưới cấp VII [5], [8], [15], [16]
2.1.3: Hệ thống sông ngòi
Trang 30Thừa Thiên - Huế có mạng lưới sông ngòi tự nhiên với tổng chiều dài khoảng 560km, với mật độ lưới sông 0.11km/km2 và 0.57km/1000 dân, phân bố tương đối đồng đều trên toàn diện tích của tỉnh
Đại bộ phận các sông suối chảy theo hướng Nam - Tây Nam đến Bắc - Đông Bắc, các sông đều xuất phát từ dãy Trường Sơn, sau đó đổ ra biển theo hai cửa Định An và Tứ Hiền, với đặc điểm ngắn, dốc và nhiều gềnh thác Chính đặc điểm này đã tạo ra một chế độ thủy văn phức tạp, đặc biệt là chế độ thủy văn mùa lũ, các sông suối vùng núi hay xảy ra lũ quét
Toàn tỉnh có 6 sông chính là: sông Ô Lâu, sông Truồi, sông Nông, sông Cầu Hai, sông Bù Lu và sông Hương Trong đó sông Hương là sông lớn nhất gồm có: sông Bồ, sông Tả Trạch, sông Hữu Trạch và dòng chính sông Hương, ngoài ra còn các tuyến kênh rạch nhỏ khác cùng chảy vào các đầm phá [7], [20]
a) Sông Ô Lâu
Chiều dài sông chính 69 km, diện tích lưu vực 746 km2, độ cao bình quân ở đầu nguồn là 905m, ở cửa ra là 0.0m dòng sông được chia làm 3 phần:
- Phần từ cửa Lác (giáp với phá Tam Giang) đến Vân Trình hoàn toàn chảy trong địa phận của tỉnh, có chiều dài 10 km;
- Phần từ Vân Trình đến ngã ba Phương Tích là ranh giới giữa hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế;
- Phần từ Phương Tích trở lên có hai nhánh chính là Mỹ Chánh và Ô Lâu Nhánh sông Mỹ Chánh bắt nguồn từ đồi núi thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, chảy qua địa phận Quảng Trị và nhập vào sông Ô Lâu ở ngả 3 Phương Tích, nhánh sông Ô Lâu bắt nguồn từ dãy núi Hòa Mỹ chảy qua Phò Trạch và nhập lưu với nhánh Mỹ Chánh ở ngã 3 Phương Tích [20]
b) Sông Truồi
Bắt nguồn từ dãy núi Bạch Mã có độ cao từ 1186 m ÷1444 m Hướng dòng chảy là Nam - Bắc đổ vào đầm Cầu hai, rồi thông ra biển ở cửa Tứ Hiền Sông Truồi có diện tích lưu vực là 121 km2 (tính đến cửa sông), chiều dài sông chính 24
km Độ cao bình quân đầu nguồn 820m Sông Truồi chảy qua vùng đồi trọc, cây thưa thớt, hạ du sông Truồi là vùng đồng bằng rộng khoảng 2000 ha nối liền với
Trang 31vùng đồng bằng sông Hương, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều từ đầm Cầu Hai [7], [20]
c) Sông Nông
Là một con sông nhỏ, xuất phát từ vùng đồi giữa sông Tả Trạch và sông Truồi, chảy qua quốc lộ 1A và nhập vào sông đào Đại Giang nằm ở giữa đồng bằng Nam sông Hương Chiều dài dòng chính 20 km, diện tích lưu vực tính đến quốc lộ 1A 92,8 km2, độ cao bình quân lưu vực ở đầu nguồn là 1000 m Lưu vực sông Nông thuộc ranh giới giữa hai huyện Hương Thủy và Phú Lộc Thảm thực vật trong lưu vực sông Nông chủ yếu là rừng trồng còn lại là các loại cây bụi rậm, đất đai khá bằng phẳng [20]
d) Sông Cầu hai
Sông Cầu Hai cũng là một sông nhỏ, ngắn và dốc, chiều dài dòng chính chỉ có 5 km, diện tích lưu vực 29 km2, xuất phát từ các dãy núi Bạch Mã và đổ ra phá Cầu Hai Vùng đồng bằng thuộc lưu vực sông Cầu Hai có diện tích vào khoảng
700 ÷800 ha [20]
e) Sông Bù Lu
Nằm ở phía Đông Nam tỉnh Thừa Thiên - Huế, diện tích lưu vực 117 km2, chiều dài dòng chính 18 km, đổ trực tiếp ra biển Đông qua cửa Cảnh Dương Độ cao bình quân đầu nguồn là 1275 m, vùng đồng bằng thuộc lưu vực sông Bù Lu gồm 2 phần:
- Phần trên quốc lộ 1A và đường sắt là vùng trồng lúa dân cư đông đúc;
- Phần dưới đường sắt là vùng đất savan chủ yếu là cát chưa được khai thác để sản xuất nông nghiệp, cây trồng phần lớn là cây lâm nghiệp [20]
f) Sông Hương
Lưu vực sông Hương thuộc sự quản lý của Trung Ương, đây là sông lớn nhất tỉnh Thừa Thiên - Huế, có diện tích lưu vực vào khoảng 2830 km2, chiếm 3/5 diện tích toàn tỉnh và là con sông có tác động bậc nhất đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Chiếm hơn 70% dân số và 70% đất canh tác của toàn tỉnh đang sử dụng nguồn nước sông Hương Sông Hương gồm 3 nhánh sông chính: sông Bồ, Tả Trạch và Hữu Trạch và dòng chính sông Hương: [8], [20]
Trang 32- Sông Bồ
Sông Bồ bắt nguồn từ phía Tây Nam tỉnh thuộc huyện A Lưới với độ cao bình quân đầu nguồn 660m, chảy qua vùng rừng núi thuộc hai huyện Hương Trà và Phong Điền, sau đó qua vùng đồng bằng hai huyện Hương Trà và Quảng Điền và nhập vào sông Hương ở ngã 3 Sình với chiều dài dòng chính khoảng 64 km, lưu vực tính đến Cổ Bi là 720 km2 [20]
- Sông Tả Trạch
Bắt nguồn từ khu vực núi Bạch Mã, giáp ranh với tỉnh Đà Nắng gồm nhiều sông suối hợp thành và kết thúc ở ngã 3 Tuần hợp lưu với dòng chính sông Hương, với chiều dài dòng chính 69 km và lưu vực tính đến Dương Hòa 717 km2
Sông Tả Trạch độ dốc ít đột biến, có độ sâu khá ổn định bình quân từ 0,5
÷1,1m: Đoạn từ đầu nguồn về đến bến đò Thượng Phương, với chiều dài 52 km, đoạn này lòng sông hẹp B = 15m ÷ 40m, độ sâu trung bình HTB = 0.7 ÷0.9m, Rmin > 50m, đoạn này không ảnh hưởng triều, mùa lũ đi lại khá khó khăn do lưu tốc dòng chảy lên đến 3m/s, đoạn từ bến Thượng Phương đến ngã 3 Tuần dài 17 km, chiều rộng trung bình BTB =40 ÷ 60m, độ sâu trung bình HTB =1.0 ÷1.1m Đoạn này cũng không ảnh hưởng thủy triều, mùa nước trung và mùa kiệt các phương tiện tàu bè từ
5 ÷ 7 tấn lưu thông được, mùa lũ phương tiện đi lại cũng rất khó khăn vì lưu tốc dòng chảy còn khá lớn từ 1,5 ÷ 2m/s [7], [16], [20]
Trang 33Hình 2-2: Đọan sông ngã ba Tuần khu vực nhập lưu giữa
sông Tả Trạch và dòng chính sông Hương
- Sông Hữu Trạch
Bắt nguồn từ khu vực Tre Linh, Bon Đơ Rút, giáp biên giới Đà Nắng và Lào Đoạn từ thượng nguồn đến ngã 3 Tuần, chiều dài 57 km có 4 nhập lưu lớn: khe Trì Vệ, khe Cử Mông, khe Đông Ngang, khe Bình Thành với diện tích lưu vực tính đến Bình Điền 570 km2
Sông Hữu Trạch, đoạn từ thượng nguồn về đến Bình Điền, sông chảy ở vùng núi cao A Lưới độ dốc lớn lòng sông hẹp, nông uốn khúc quanh co nhiều thác ghềnh, tàu bè thường không lưu thông được, đoạn từ Bình Điền đến ngã 3 Tuần dài 6.7 km, đoạn này lòng sông lớn, chiều rộng bình quân B =30 ÷ 50m, độ sâu trung bình HTB = 1.0m, tuy nhiên sông đoạn này có nhiều khu vực cạn diễn biến hàng năm phức tạp [15], [20]
Trang 34Hình 2-3: Đọan sông khu vực lăng Minh Mạng hạ du sông Hữu Trạch
- dòng chính sông Hương
Bắt đầu từ ngã 3 Tuần, khu vực hợp lưu giữa sông Tả Trạch và Hữu Trạch, chảy qua các huyện Hương Trà, Hương Thủy, Tp Huế, Phú Vang và đổ vào phá Tam Giang và chảy ra biển qua 2 cửa Thuận An và Tứ Hiền, với chiều dài 32,5 km, toàn tuyến sông Hương nằm trong quần thể di tích cố đô Huế Một địa danh hấp dẫn du lịch hàng đầu nước ta, mật độ phương tiện trên sông phục vụ du lịch, dịch vụ khá lớn Luồng lạch trên sông Hương khá tốt, đảm bảo cho việc giao thông thủy với độ sâu trung bình HTB = 2.5 ÷3m, chiều rộng lòng sông trung bình B = 80 ÷100m [7], [20]
Trang 35Hình 2-4: Sông Hương khu vực cầu Tràng Tiền - Tp Huế
Trang 36g) Phá Tam Giang – Cầu Hai
Chạy dọc theo bờ biển kéo dài từ huyện Quảng Điền đến phía Bắc huyện Phú Lộc, dài khoảng 70km, diện tích 22.000 ha, dung tích khoảng 350 triệu m3 nước vào mùa cạn Vùng nước Phá Tam Giang có ý nghĩa về nhiều mặt, nôi trồng thủy sản, khai thác vận tải thủy như là một tuyến sông chạy dọc nối liền phía bờ Bắc và bờ Nam của tỉnh Thừa Thiên - Huế [20]
h) Các tuyến sông nhỏ đổ vào đầm Phá
Gồm các tuyến ngang vượt phá nối liền giữa các xã và trung tấm các huyện Hương Trà, Phú Lộc với tổng chiều dài 30 km gồm các tuyến: Đá Bạc - Vĩnh Hưng dài 4 km, Đá Bạc - Túy Vân dài 4 km, Đá Bạc - Vĩnh Giang dài 6 km, Cầu Hai - Vĩnh Hiền dài 6 km, Cự Lại - Quảng Xuyên dài 3 km, Hải Dương - Phú Tân dài 1
km, Quảng Ngãi - Quảng Lợi dài 3 km, Chợ Mới - Hà Công dài 3 km [7], [20]
Hình 2-5: Bản đồ mạng lưới sông ngòi tỉnh Thừa Thiên – Huế
Trang 372.2: ĐẶC ĐIỂM CHẾ ĐỘ KHÍ HẬU LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG
2.2.1: Đặc điểm chung
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gío mùa nóng ẩm, có lượng mưa trung bình năm tương đối lớn so với các nước khác thuộc cùng vĩ độ Dải đất hẹp ven biển miền Trung từ Thanh Hòa đến Thừa Thiên –Huế, chịu chi phối của nhiều khối không khí khác nhau như: Khối không khí cực đới biến tích phía Bắc tràn xuống, khối không khí nhiệt đới biển Đông (theo gió mùa Đông Nam) và khối khí gió mùa Tây Nam thổi từ Vịnh Ben Gan qua dãy Trường Sơn sang phía Đông gây
ra hiện tương Phơn (gió mùa khô, nóng) vào mùa hạ
Lưu vực sông Hương nằm trọn trong vĩ độ nhiệt đới (từ 16o20’ ÷ 16o40’ độ vĩ Bắc, và từ 107o15’ ÷ 107o50’ kinh độ Đông) là vùng giáp ranh giữa các khối không khí lớn, tại đây luôn có sự tranh chấp giữa các khôi không khí trong năm, tạo nên các biến động lớn về khí hậu cụ thể là: chênh lệch lượng mưa giữa hai mùa, mùa mưa và mưa khô rất lớn (mùa mưa chiếm khoảng từ 70 ÷ 80% tổng lượng mưa năm, chỉ kéo dài trong 4 tháng, từ tháng IX ÷ XII, trong khi mùa khô kéo dài 8 tháng từ tháng I ÷ VIII lượng mưa chỉ chiếm 20 ÷ 30% tổng lượng mưa năm) Sự tranh chấp này tạo nên những thay đổi đột ngột giữa các thời kỳ trong năm, các vùng trong lưu vực
Bên cạnh sự ảnh hưởng của các khối không khí thì chi phối về điều kiện địa hình cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của khí hậu trong năm theo không gian và thời gian
Ngoài ra, lưu vực sông Hương còn có hiện tượng mưa và lũ tiểu mãn vào tháng V và tháng VI trong năm
Lưu vực sông Hương còn là vùng chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam mà dãy Bạch Mã là ranh giới của khí hậu tự nhiên giữa hai miền, cùng với sự giao tranh giữa các khối không khí xuất phát từ các trung tâm tác động khác nhau, vì vậy hậu quả là hầu hết các loại thiên tai có ở nước ta thì ở Th72a Thiên - Huế cũng đều xuất hiện như: Bão, lốc xoáy, mưa đá, lũ lụt, gió khô nóng, rét đậm….[13], [23]
Trang 38Hình 2-6: Số lượng bão đổ bộ vào Việt Nam (tính từ năm 1958 đến nay)
Trang 39Hình 2-7: Sơ đồ phân vùng khí hậu tỉnh Thừa Thiên -Huế
2.2.2: Các đặc trưng khí tượng
a) Chế độ nhiệt
Nhiệt độ không khí trên lưu vực sông Hương thay đổi theo mùa: mùa nóng từ tháng V đến tháng VIII, các tháng lạnh nhất từ tháng XII đến tháng I hàng năm, nhiệt độ trung bình nhiều năm trên lưu vực sông Hương khoảng 23,7oc Chế độ nhiệt thay đổi khi có sự chuyển đổi tầm ảnh hưởng của 2 mùa gió (từ tháng XII
÷III) năm sau, chịu ảnh hưởng từ không khí lạch từ Bắc tràn xuống làm nền nhiệt độ lưu vực giảm, trong khi mùa hè (từ tháng V ÷VIII) nền nhiệt độ được nâng lên nhờ không khí nóng từ xích đạo thổi lên, nhất là gío mùa Tây Nam mang tính lục địa cao (khô, nóng)
Nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng có xu hướng tăng dần từ Bắc vào Nam, còn ở các vùng núi do độ cao và dịa hình khác nhau nên phân bồ không hoàn toàn theo quy luật này Nhiệt độ trung bình năm vùng đồng bằng dao động từ 240c –250c, vùng núi giảm xuống còn 200c Mặt khác, về mùa hạ do ảnh hưởng của gió khô, nóng nên sự phân bố nhiện độ có nhiều đột biến Nhiện độ trung bình năm ở
Trang 40Huế là 25.20c, A Lưới 21.60c và ở Nam Đông 24.10c Tổng số giờ nắng trong năm
khá cao, trung bình từ 1829h đến 1956h, phân bố đồng đều giữa các tháng trong
năm
- Phân bố nhiệt độ theo không gian
Nhiệt độ ảnh hưởng bởi địa hình, thảm phủ thực vật chi phối rất mạnh, đối với
lưu vực sông Hương có địa hình cao dần từ Đông sang Tây nên nhiệt độ giảm dần
từ Đông sang Tây Nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng và vùng núi có độ
cao dưới 100m dao động trong khoảng 24 ÷25oc, lên cao 500 ÷800m chỉ còn 20
÷22oc và từ độ cao trên 1000m giảm xuống 18oc
- Phân bố nhiệt độ theo thời gian
Biến trình năm của nhiệt độ không khí thuộc dạng biến trình nhiệt độ của
vùng nhiệt đới gió mùa Đó là biến trình đơn gồm một cực đại vào mùa hè và một
cực tiểu mùa đông Cực tiểu xuất hiện vào tháng I, với nhiệt độ trung bình tháng
khoảng 20oc ở vùng đồng bằng và dưới 18oc ở vùng núi cao Cực đại xảy ra vào
tháng VI hoặc tháng VII, với nhiệt độ trung bình tháng trên 29oc ở vùng đồng bằng
và khoảng 25oc ở vùng núi cao
Bảng 2-1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng các trạm (đơn vị tính 0 c)
Tháng Địa
Huế 19.1 20.5 23.0 26.0 28.3 29.5 29.6 29.0 27.2 25.0 23.0 21.1
N Đông 19.2 20.1 3.3 22.6 27.1 27.3 27.3 27.1 25.6 23.5 21.5 20.8
A Lưới 17.2 18.3 21.1 25.9 24.4 24.9 25.0 24.6 22.9 21.3 19.6 18.1
(Nguồn: Trung tâm Khí trượng, Thủy văn TT Huế)
- Biến động của nhiệt độ
Khí hậu ở khu vực về cơ bản là khí hậu nóng, tuy nhiên trong năm vẫn có
những thời kỳ nhiệt độ xuống thấp Về mùa đông, nhiệt độ thấp có thể xuống dưới
5oc ở vùng núi cao và dưới 10oc ở vùng đồng bằng Về mùa hè, nhiệt độ cao nhất
có thể lên đến 40 ÷41oc ở đồng bằng và 38 ÷39oc ở vùng núi cao [13], [15]