1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa nhật bản thời kỳ edo

131 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa nhật bản thời kỳ Edo
Tác giả Nguyễn Thị Như Ý
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Khắc Cảnh
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 10,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, khuynh hướng đại chúng và thế tục không chỉ hình thành và phát triển trong hội họa mà cả trong văn chương, kịch nghệ của thời kì, tạo nên một hiện tượng văn hóa thú vị thời Edo,

Trang 1

Mã số: 603150

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Khắc Cảnh

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

Trang 2

Tôi xin cảm ơn thầy hướng dẫn, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Cảnh, đã tận tình hướng dẫn tôi làm luận văn này Thầy đã cho tôi nhiều lời khuyên xác đáng, chỉ và giảng giải cho tôi nhiều vấn

đề và giúp tôi giải quyết những khó khăn trong quá trình làm luận văn.

Xin cảm ơn các thầy cô ở Khoa Đông Phương học và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy trong thời gian tôi theo học cao học tại trường

Tôi rất biết ơn Phó giáo sư Tiến sĩ Hoàng Văn Việt, Phó giáo sư Tiến sĩ Phan Thu Hiền, Tiến

Sĩ Đỗ Hương và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Lực, các thầy cô đã cho tôi nhiều lời khuyên quý báu trong giai đoạn hoàn chỉnh lại Luận văn

Xin cảm ơn cô Mã Thanh Cao, cô đã là người thầy, người đồng nghiệp và người bạn trò chuyện.

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

0.1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 3

0.2 Lịch sử vấn đề và nguồn tư liệu 4

0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

0.4 Phương pháp nghiên cứu 6

0.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

0.6 Bố cục của luận văn 7

Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn 8

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Các khái niệm và thuật ngữ 8

1.1.2 Các lí thuyết nghiên cứu văn hóa và ứng dụng vào đề tài 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Về đất nước, con người Nhật Bản 20

1.2.2 Lược sử hội họa Nhật Bản 21

Chương 2 : Sự thể hiện của khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa Nhật Bản thời kì Edo 30

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp tới nghệ thuật hội họa thời kì Edo 30

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử thời kì Edo 30

2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội thời kì Edo 32

2.1.3 Chính sách Tỏa quốc 37

2.1.4 Sự du nhập của hội họa Châu Âu 39

2.1.5 Vai trò của tầng lớp thị dân và trào lưu văn hóa thị dân 41

2.2 Nghệ thuật hội họa thời kì Edo 43

2.2.1 Các trường phái hội họa thời kì Edo 43 2.2.2 Sự hình thành khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa thời kì

Trang 5

2.3 Những thể hiện của yếu tố đại chúng và thế tục trong hội họa Nhật Bản thời kì Edo 67

2.3.1 Yếu tố đại chúng qua nội dung và nghệ thuật 67

2.3.2 Yếu tố đại chúng qua chất liệu hội họa và phương pháp sao chép 88

2.3.3 Yếu tố đại chúng ở người sáng tạo và đối tượng thưởng lãm 91

Chương 3 : Bản sắc văn hóa Nhật Bản với khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa thời kì Edo 93

3.1 Sự hòa hợp tư tưởng Thần – Phật 93

3.1.1 Thần đạo với khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa Nhật Bản thời kỳ Edo 93

3.1.2 Phật Giáo với khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa Nhật Bản thời kỳ Edo 95

3.2 Sự hòa hợp thiên nhiên 99

3.3 Hội họa thời kì Edo – tấm gương phản chiếu những giá trị dân tộc, lịch sử và thẫm mỹ của Nhật Bản 102

3.3.1 Giá trị thẩm mỹ 102

3.3.2 Giá trị lịch sử văn hóa 107

3.3.3 Giá trị dân tộc 111

Kết luận 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHỤ LỤC 123

Trang 6

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Nhật Bản là một đất nước có nền nghệ thuật đặc sắc Hội họa Nhật Bản đã khởi đầu vào thế kỷ thứ 6 cùng với sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản Quá trình hình thành và phát triển chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử xã hội qua từng thời kì và sự tương tác của các luồng văn hóa Đông-Tây Từng giai đoạn lịch

sử, hội họa Nhật Bản tỏ rõ những đặc trưng riêng biệt Nhưng tựu trung, cho đến đầu thế kỷ XVII, hội họa hướng đến tầng lớp quý tộc và tăng lữ Phật giáo, đáp ứng lại những khát khao và nhu cầu thẩm mỹ của các tầng lớp này

Chọn thời kì Edo để tìm hiểu một khuynh hướng của hội họa vì đây là giai đoạn lịch sử có nhiều đặc điểm độc đáo và điển hình của Nhật Bản Hoàn cảnh xã hội mới đã tạo ra tiền đề cho sự phát triển của văn hóa nghệ thuật Nhật Bản Sự độc chiếm của một số đối tượng trước đây với hội họa đã nhường chỗ cho khuynh hướng nghệ thuật đại chúng và thế tục Lần đầu tiên, hội họa hướng đến số đông - là tầng lớp bình dân trong xã hội thời Edo và trở thành đối tượng thể hiện trong hội họa thời kì với loại tranh Phù thế (Ukiyo-e)

Hơn nữa, khuynh hướng đại chúng và thế tục không chỉ hình thành và phát triển trong hội họa mà cả trong văn chương, kịch nghệ của thời kì, tạo nên một hiện tượng văn hóa thú vị thời Edo, văn hóa thị dân

Xuất phát từ những lý do như vậy, chúng tôi muốn đặt Ukiyo-e vào bối cảnh

xã hội khi nó được hình thành để tìm hiểu một cách thấu đáo khuynh hướng hội họa đại chúng và thế tục của thời kì, thông qua đó lại tìm hiểu những bản sắc của văn

Trang 7

hóa Nhật Bản Hơn nữa, quá trình hình thành và phát triển của một nền nghệ thuật không tách rời với sự phát triển của các yếu tố văn hóa xã hội khác, bằng cách chọn hội họa để tìm hiểu Nhật Bản, tác giả muốn tìm hiểu đời sống văn hóa xã hội của đất nước này qua lăng kính nghệ thuật

0.2 Lịch sử vấn đề và nguồn tư liệu

Nghiên cứu lịch sử hội họa Nhật Bản thời kì Edo tuy không phải là một vấn đề mới, nhưng nghiên cứu khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa nói riêng

và văn hóa thời kì Edo còn khá ít ỏi

Ban đầu chúng tôi gặp khó khăn lớn trong việc tìm tài liệu về văn hóa đại chúng của thời kì này Khó khăn này đã được giảm đi nhiều khi chúng tôi tìm được vài tài liệu quan trọng Trong quyển sách xuất bản năm 2002 [50], một chuyên gia

về văn hóa và lịch sử Nhật Bản, Giáo sư Marius B Jansen của Đại học Princeton đã

dành trọn một chương với tựa đề Sự phát triển của một nền văn hóa đại chúng để nói về giai đoạn đầu của thời kì Edo Bộ sách The Cambridge History of Japan

[46], một tổng hợp đáng tin cậy các bài viết của các học giả Nhật Bản và Phương Tây có uy tín vào năm 1999, cũng đã dành một chương về văn hóa thời kì Edo dưới

tựa đề Văn hóa đại chúng

Đối với tài liệu về tranh Ukiyo-e, đại diện của khuynh hướng đại chúng và thế tục của hội họa thời kỳ Edo đã được nghiên cứu từ rất sớm với những mức độ rộng hẹp khác nhau

Đối với tài liệu xuất bản trong nước, hội họa Nhật Bản được đề cập có vẻ sớm

nhất trong Một số nền Mỹ thuật thế giới của Nguyễn Phi Hoanh in năm 1978 [9]

Tập sách này giới thiệu khái quát về hội họa Nhật Bản và dừng lại lâu hơn ở tranh khắc gỗ, tuy nhiên toàn bộ nội dung chỉ giới hạn trong khoảng 3 trang giấy Sau đó

là Bản dịch Sổ tay nghệ thuật Nhật Bản của tác giả Noritake Tsuda [26] cũng trình

bày khá dàn trải những đặc trưng của nghệ thuật Nhật Bản theo từng thời kì lịch sử

Trang 8

Bản dịch này được chúng tôi tham khảo nhiều khi viết về phần khái quát lịch sử hội

họa Nhật Bản khi kết hợp đối chiếu với một tài liệu bằng tiếng Nhật Ngoài ra, Hội họa truyền thống Nhật Bản của tác giả Lê Thanh Đức in năm 1996 [6] với nội dung

tóm lượt như một cuốn sổ tay bỏ túi dành cho những người muốn tìm hiểu khái quát nền hội họa truyền thống Nhật Bản là một tập sách hiếm hoi bằng tiếng Việt có phần hội họa Nhật Bản được in riêng mặc dù còn khá sơ lượt về nội dung Nội dung này còn được tìm thấy trong một bản dịch tác phẩm của Michael Kampen O'Riley

Những nền Mỹ thuật ngoài Phương Tây [18], tuy nhiên nội dung được trình bày

chung với nền mỹ thuật Hàn Quốc một cách khá khiêm tốn

Về tài liệu tiếng Anh, một tài liệu sớm là An introdution to the Arts of Japan

của Peter C Swan [61] Tài liệu này được viết dưới quan điểm của những người

làm chuyên môn về nghệ thuật Cùng đề tài này là The Art and Architecture of Japan của hai tác giả Robert Treat Paine và Alexander Sopar [59] Tài liệu tiếng Anh còn có “The Floating World” của James A Michener [56] cùng nhiều tài liệu

viết về các họa sĩ Ukiyo-e

Về bản tiếng Nhật có浮世絵の歴史 (Lịch sử Ukiyo-e) [35] trình bày chi tiết sự

ra đời và và các giai đoạn phát triển của Ukiyo-e, còn 浮 世 絵 鑑 賞 基 礎 知 識

(Những kiến thức cơ bản để thưởng thức Ukiyo-e) [34] phân tích Ukiyo-e theo các

từng đề tài Ngoài ra, tập hợp世界の美術 (Mỹ thuật Thế giới của Bách khoa thư Asahi từ số 120 đến 128) [39] chuyên đề mỹ thuật Nhật Bản đã tập hợp các bài

nghiên cứu về hội họa thời kì Edo, trong đó dành riêng hai số trình bày về Ukiyo-e Trên cơ sở tổng hợp và tiếp nối những vấn đề đã được thực hiện trong các tài liệu trên cùng với những đối chiếu hoàn cảnh lịch sử thời kì Edo, chúng tôi muốn tìm hiểu về khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa thời kì Edo từ cơ sở hình thành, nội dung thể hiện đến những đánh giá về giá trị của chúng song song với việc soi rọi những bản sắc văn hóa Nhật Bản

Trang 9

0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu xu hướng đại chúng và thế tục trong hội họa Nhật Bản thời kì Edo Tất cả các trường phái hội họa thời kì này đều nằm trong phạm vi nghiên cứu Tuy nhiên chúng tôi dành trọng tâm cho nghiên cứu tính đại chúng và thế tục qua đại diện duy nhất là dòng tranh phù thế Ukiyo-e

0.4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử đồng đại và lịch đại nhằm khái quát đặc điểm chung của tất cả các thời kì, từ đó nhận định những nét nổi bật của từng giai đoạn Phương pháp tổng hợp, so sánh để làm rõ sự khác biệt của mỗi giai đoạn và sự thống nhất trong suốt các giai đoạn lịch sử

Kết hợp phương pháp thực nghiệm (xem tranh) với phương pháp liên ngành

và phương pháp phân tích để đánh giá, nhận định và suy luận từ các tác phẩm hội họa

0.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Tìm hiểu khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa Nhật Bản thời kì Edo, chúng ta có thể tiếp cận được những giá trị văn hóa và thẩm mỹ của Nhật Bản trong thời Edo nói riêng và của Nhật Bản nói chung Hơn nữa giúp chúng ta hiểu được tính đa dạng của tính đại chúng và thế tục trong nền hội họa thế giới

Với khuôn khổ hạn hẹp của một luận văn cao học, tác giả mong muốn luận văn sẽ cung cấp thêm một kết quả nghiên cứu về văn hóa Nhật Bản thời kì Edo nói riêng và của Nhật Bản nói chung Đây cũng là tiền đề để tác giả có thể tiếp tục nghiên cứu sâu và rộng hơn tính đại chúng và thế tục trong văn hóa Nhật Bản

Trang 10

0.6 Bố cục của luận văn

Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn

Trong chương này đầu tiên cơ sở lí luận về đề tài bao gồm các khái niệm liên quan đến hội họa, ngôn ngữ, thể loại và chất liệu hội họa và những lí thuyết văn hóa

xã hội liên quan đến đề tài nghiên cứu Tiếp đến chúng tôi bàn đến cơ sở thực tiễn của đề tài, trong đó chúng tôi giới thiệu sơ lược về đất nước, con người Nhật Bản và lược sử hội họa Nhật Bản qua các thời kì

Chương 2 : Sự thể hiện của khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa Nhật Bản thời kì Edo

Đây là chương trọng tâm của luận văn Trong chương này trước hết chúng tôi chúng tôi bàn về những yếu tố ảnh hưởng đến hội họa đại chúng Nhật Bản thời kì Edo Phần thứ hai là phác họa về bức tranh hội họa thời kì Edo Phần cuối của chương chúng tôi dành cho những thể hiện của yếu tố đại chúng và thế tục trong hội họa Nhật Bản thời kì Edo

Chương 3 : Bản sắc văn hóa Nhật Bản với khuynh hướng đại chúng và thế tục trong hội họa thời kì Edo

Tư tưởng Thần-Phật hòa hợp, sự hòa hợp với thiên nhiên và những giá trị của hội họa đại chúng là những vấn đề chính được đề cập trong chương này nhằm tìm ra những sợi dây liên kết giữa hội họa đại chúng Nhật Bản thời kì Edo với những giá trị văn hóa Nhật Bản và ngược lại

Trang 11

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

Về cơ sở lí luận, đầu tiên chúng ta sẽ đề cập các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài, sau đó là các lí thuyết liên quan đến việc nghiên cứu đề tài

1.1.1 Các khái niệm và thuật ngữ

1.1.1.1 Khái niệm hội họa

Theo Từ điển Mỹ thuật phổ thông [17.] “Hội họa là nghệ thuật sử dụng màu

sắc, đường nét, luật sáng tối, luật xa gần để thể hiện nhân vật, hiện tượng trong không gian hai chiều”

Hội họa dùng biện pháp phối màu, tạo ra sự hài hòa của các gam màu, sự tương phản sáng-tối cũng như sử dụng đường nét và hình thái để tạo nên sức biểu cảm khi tái hiện các nhân vật, hiện tượng trong tranh Hội họa được phân biệt theo chất liệu, mỗi chất liệu có đặc trưng và thế mạnh riêng: chất liệu sơn mài, sơn dầu, khắc gỗ Hội họa còn có thể được phân chia theo đề tài: tranh phong cảnh, tranh tĩnh vật, tranh chân dung Ngoài ra, hội họa hoành tráng và hội họa giá vẽ là cách phân biệt loại tranh xem ở trong phòng và tranh khổ rất lớn, loại treo ở ngoài trời, loại để trong nội thất

1.1.1.2 Ngôn ngữ của hội họa

Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp của con người Mỗi loại hình nghệ

Trang 12

thuật có một ngôn ngữ riêng và “hội họa là loại hình nghệ thuật dùng đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục để xây dựng hình tượng nghệ thuật, để biểu hiện cuộc sống phong phú và đa dạng trên mặt phẳng được gọi là tác phẩm hội họa” [25, tr 374] Trong lịch sử mỹ thuật nếu có trường phái nhấn mạnh đến đường nét thì cũng không ít trường phái gây sự chú ý ở bố cục, nếu có trường phái đề cao màu sắc thì cũng có trường phái đi sâu vào hình họa

Đường nét

Trong nghệ thuật hội họa, khái niệm đường nét thường song hành hai yếu tố đường và nét, muốn tạo nét phải có đường, đường làm nên nét Những tập hợp đường trong tranh tạo nên nét vẽ và đường nét làm nên hình trong tranh Đường chỉ

ra một phương hướng nhất định và chúng gợi lên nhiều cảm xúc khác nhau Những đường thẳng đứng và đường nằm ngang thường gợi sự ổn định, chắc chắn và tĩnh Những đường xiên tạo cảm giác nghiêng ngả, bấp bênh không ổn định Đôi khi đường xiên còn tạo cho ta cảm giác xao động, lung linh hay sự hồi tưởng Trong trang trí và đồ họa, người ta cũng đặc biệt chú ý đến vai trò của những đường lượn dưới dạng lặp lại và diễn biến tự do

Có định nghĩa cho rằng đường nét là đường bao quanh của một hình khối nào

đó, khi đường nét tái hiện trên mặt phẳng cho ta liên tưởng đến một vật, một đối tượng được đề cập Bằng đường nét, Van Gogh1 đã tạo ra bầu trời phong ba bão tố hay vầng thái dương với ánh sáng vàng chan hòa trên cánh đồng Ngoài ra, để diễn

tả sự tương phản về chất, diện mạo của nét, người ta dùng đến nét thanh-nét thô, nét đậm-nét nhạt, nét cứng-nét mềm

Màu sắc

Màu sắc là một trong những ngôn ngữ nghệ thuật quan trọng góp phần tạo nên một tác phẩm hội họa Màu sắc có thể mang lại cho người xem sự lạc quan yêu đời, niềm vui sướng và hứng khởi nhưng cũng có những gam màu tạo cho người xem sự

1 Van Gogh (1853 – 1890): danh họa của trường phái Lãng mạn cuối thế kỷ XIX

Trang 13

sợ hãi, buồn bã hay chán nản Hiệu quả của màu sắc mang lại xuất phát từ chính nguồn gốc tự nhiên đồng thời nguồn gốc xã hội Điều này là do sự liên tưởng, kinh nghiệm của con người tạo nên Màu nóng thường gợi cho ta cảm giác ấm áp, sôi nổi; ngược lại màu lạnh mang đến cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng, êm ái, hoặc lạnh lẽo, u buồn Màu đỏ cho người ta liên tưởng tới cảm giác nồng cháy, sự hy sinh, màu xanh giúp ta cảm nhận sự tươi mát, hòa bình, hạnh phúc

Mỗi màu sắc trong hội họa mang ý nghĩa riêng nhưng quan trọng hơn cả là

sự tương quan màu sắc Màu xanh trong tương quan màu nóng thì lạnh nhưng đặt nhiều màu xanh cạnh nhau thì sẽ có màu xanh này nóng hơn màu xanh khác, như xanh lá cây, xanh cẩm thạch nóng hơn xanh lam; hay cùng là gam màu nóng nhưng màu đỏ nóng hon màu hồng Màu đỏ đặt cạnh màu vàng gây nên tương phản màu sắc mạnh mẽ, song, nếu đặt màu đen vào giữa thì hòa sắc sẽ dịu đi Với một bố cục như nhau, sử dụng màu sắc khác nhau sẽ mang lại hiệu quả nghệ thuật khác nhau

Do đó, màu sắc chính là ngôn ngữ của hội họa

Nhờ được thị giác tiếp nhận, nghệ thuật có những lúc rất giống thực song cũng

có thể không giống thực và trong nghệ thuật hội họa, hình ảnh trên tranh là những

hệ thống quy ước Do đó, ở từng thời kì, từng giai đoạn có những quy ước riêng về tạo hình Sau đó, qua lăng kính xúc cảm thẩm mỹ của họa sĩ sẽ cho ra đời tác phẩm Cùng một sự vật, hiện tượng và cùng một quy ước về tạo hình nhưng do cảm nhận

Trang 14

khác nhau của họa sĩ nên sẽ cho ra những tác phẩm khác nhau, ngay cả cùng một họa sĩ trước một sự vật như nhau nhưng phong cảnh đó sẽ được tái hiện lên tranh với nhiều dáng vẻ khác nhau.

Bố cục

Bố cục là sự sắp xếp đường nét, hình khối và màu sắc theo một ý đồ nhất định của họa sĩ nhằm tạo ra hiệu quả thẩm mỹ Dưới những góc nhìn khác nhau và trong những không gian khác nhau, mỗi bố cục mang lại những cảm thụ nghệ thuật riêng

Vẽ về ngọn núi Phú Sĩ, Katsushika Hokusai, danh họa Nhật Bản đã họa đến 46 bức họa khác nhau, mỗi tác phẩm là một bố cục độc đáo qua từng góc nhìn của họa sĩ

1.1.1.3 Thể loại của hội họa

Tranh lịch sử

Tranh lịch sử là tranh phản ánh về lịch sử xã hội loài người và các sự kiện lịch

sử hay những nhân vật lịch sử Tranh lịch sử phù hợp với phương pháp sáng tác thiên về hiện thực và mang tính hoành tráng

Tranh lịch sử tựu trung được chia làm 3 loại:

• Tranh lịch sử chiến trận: tranh vẽ về lịch sử các cuộc chiến đấu có tầm lịch

sử hoặc tạo nên một bước ngoặc trong lịch sử Thể loại này thể hiện rõ kịch tính trong tác phẩm

• Tranh miêu tả những sinh hoạt xã hội có tính lịch sử: là tranh vẽ về cuộc sống sinh hoạt của con người trong quá khứ

• Tranh vẽ các nhân vật lịch sử: là tranh vẽ về các anh hùng

Tranh chân dung

Tranh chân dung là loại tranh vẽ một người hay một mẫu người nào đó Người mẫu có thể là các anh hùng hoặc là người rất bình thường, hay chính bản thân Dù

cụ thể hay mang tính chất chung, tranh chân dung đều phải miêu tả con người có

Trang 15

thực mà không phải do người vẽ tưởng tượng ra Nếu có sáng tạo ra một nhân vật tưởng tượng nào đó thì tranh chân dung ấy cũng cần phải vẽ theo một hình mẫu có thực, một người mà người vẽ phải nhìn thấy

Tranh chân dung được phân chia theo nhiều tiêu chí Nếu theo cách cắt cúp bố cục, được chia làm ba loại:

• Chân dung vẽ gương mặt người

• Chân dung bán thân (nửa người)

• Chân dung toàn thân

Tranh chân dung còn được phân chia theo nội dung tranh, bao gồm tranh chân dung tự họa, tranh chân dung nhóm, tranh chân dung có phong cảnh làm nền

Tranh sinh hoạt

Tranh sinh hoạt là loại tranh mô tả những cảnh sinh hoạt đời sống hàng ngày của một tầng lớp giai cấp xã hội nào đó nhằm thể thể hiện nhận thức một cách cụ thể đó đối với thế giới và con người

Tranh sinh hoạt thường thể hiện thái độ yêu mến cuộc sống, cuộc đời của người sáng tác Tranh sinh hoạt có tính chất mô tả, mang tính văn học và có cốt truyện Do đó, thể loại này đòi hỏi người họa sĩ khả năng phân tích tâm lý nhân vật

để quan sát diễn biến một tình huống nào đó và thể hiện qua bức tranh với các bút pháp tả thực, chân thật, ít cách điệu hay trừu tượng hóa hình ảnh nhân vật

Tranh sinh hoạt được phân loại như sau:

• Tranh sinh hoạt tôn giáo

• Tranh sinh hoạt nông dân

• Tranh sinh hoạt thị dân

• Tranh sinh hoạt cung đình

Trang 16

Tranh phong cảnh

Tranh phong cảnh là loại tranh miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên và các hiện tượng tự nhiên Thiên nhiên có thể là cảnh vật tự nhiên như sông, núi, mây trời, đồng ruộng Đó cũng có thể là công trình nhân tạo như: nhà cửa, đền đài, chùa miếu Hiện tượng tự nhiên liên quan đến phong cảnh có bình minh, hoàng hôn, gió mưa, bão tố

Tranh phong cảnh được chia làm hai loại:

• Tranh phong cảnh thuần túy: Là loại tranh chỉ miêu tả thiên nhiên và các hiện tượng tự nhiên mà không hề có người và những vật khác

• Tranh phong cảnh có người và vật: Loại tranh này vẫn lấy bối cảnh thiên nhiên làm trọng tâm miêu tả nhưng có vẽ thêm người và động vật để tranh thêm phần sinh động Tuy vậy, người, vật trong tranh chiếm một tỉ lệ diện tích rất nhỏ

Về cách vẽ, tranh phong cảnh có nhiều cách vẽ khác nhau Có thể vẽ trực tiếp hoặc chỉ vẽ ký họa sau đó hoàn chỉnh tại xưởng vẽ Ngoài ra, quan sát và chiêm nghiệm sau đó vẽ lại theo lối nhập thần Kiểu vẽ này thường thấy trong lối vẽ tranh Sơn Thủy ở Trung Quốc hay Nhật Bản

Trang 17

Tranh phong cảnh ngoài việc thể hiện được những đặc trưng của mỗi vùng miền còn chứa đựng cảm xúc và tình cảm của họa sĩ trước thiên nhiên

1.1.1.4 Chất liệu của hội họa

Màu nước (lụa, thủy mặc)

Màu nước là một trong những chất liệu được sử dụng sớm nhất, xa xưa nhất

Từ trước Công nguyên, người Ai Cập đã biết dùng màu vẽ lên giấy Papyrus2, người Châu Âu còn vẽ tranh tường bằng màu nước Ở Châu Á, màu nước là một loại chất liệu chủ đạo Người Trung Hoa đã vẽ lên lụa, lên giấy từ hàng ngàn năm trước Chất liệu màu nước còn được dùng để ghi chép, ký họa, phác thảo cho tranh sơn dầu Nét độc đáo của tranh màu nước là ở hiệu quả ánh sáng, sự tan ngẫu nhiên và hòa quyện tinh tế của các hạt màu với nhau Do đó tranh màu nước có những sắc độ chuyển đổi màu tinh tế, từ nhạt nhất đến đậm nhất, đòi hỏi người họa sĩ một sự tinh

tế cần thiết để xử lý màu sắc sao cho vừa được tự do vừa phải khúc chiết

Sơn dầu

Lịch sử cho thấy người Phương Tây đã biết đến chất liệu sơn dầu từ rất sớm,

có thể là từ thời cổ đại sơn dầu được sử dụng cho những ứng dụng trong cuộc sống như dùng phủ lên đồ gỗ, sơn thuyền Tuy nhiên, chỉ đến thế kỷ XV sơn dầu mới được dùng làm chất liệu trong nghệ thuật tạo hình Từ đó sơn dầu đã giữ một vị trí quan trọng hàng đầu trong hội họa Phương Tây Từ khi được ứng dụng đến khi được hoàn thiện, tranh sơn dầu đã trải qua gần 200 năm để đạt được đến những kỹ thuật hoàn thiện

Ưu điểm của tranh sơn dầu trước hết là khả năng biểu đạt cao Hình ảnh được

mô tả trong tranh như cảm giác được: sự thô ráp hay mịn màng, nét tươi tắn hay ủ

rũ, ấm áp và mát lạnh Thứ hai là bảng màu trong tranh sơn dầu rất phong phú, thông thường có 24 hay 36 màu, ngoài ra còn có thể pha thành những màu khác

2 Papyrus là loại giấy làm bằng thân cây Papyrus cắt dọc từng dải rồi dán lại thành từng tờ.

Trang 18

nhau dễ dàng nhờ màu nước Nhờ sự phong phú vô tận trong thế giới màu sắc của chất liệu sơn dầu, các họa sĩ Ấn tượng Phương Tây đã làm một cuộc “cách mạng”

về màu sắc trong hội họa vào cuối thế kỷ XIX Đó là Manet, Monet, Renoir Một điểm mạnh nữa của sơn dầu là có thể vẽ trên nhiều nền chất liệu khác nhau như vải,

gỗ, kim loại, giấy Tranh sơn dầu khá bền, trải qua hơn 500 năm nhưng những tác phẩm sơn dầu đầu tiên của Phương Tây được cho là của họa sĩ Van Eyck đến nay vẫn còn giữ được nguyên vẻ đẹp lúc đầu

Sơn mài

Sơn mài là cách gọi sự kết hợp chất liệu sơn với kỹ thuật mài bóng trong quá trình sáng tác Sơn dùng để vẽ tranh là một loại sơn thảo mộc Kỹ thuật dùng sơn trong mỹ thuật đã được người châu Á biết đến từ rất sớm Đầu tiên là người Trung Hoa (từ thời nhà Thương (1600 – 1047 TCN) sau đó là người Nhật Bản và Triều Tiên Ở Việt Nam, chất liệu sơn trong mỹ thuật cũng có truyền thống lâu đời, từ thời

Lý (thế kỷ XI) hoặc trước nữa [25, tr 427] Nếu như sơn dầu là chất liệu của Phương Tây thì sơn mài chính là chất liệu của Phương Đông

Đặc điểm của chất liệu sơn mài là sự bền chắc nên tranh sơn mài lưu giữ được rất lâu bền Ngoài ra, sơn mài kết hợp với những chất liệu khác mang lại hiệu quả thẩm mỹ rất cao như dát thêm bạc, vàng, ghép vỏ trứng hoặc khảm ngọc trai Màu sắc chủ đạo trong tranh sơn mài thường là những màu đen, đỏ, nâu cánh gián Sơn mài vốn đã bóng lại được mài nhẵn nên thường tạo nên vẻ lung linh huyền ảo và mang nhiều tính ước lệ, tùy theo màu chủ đạo của mỗi bức tranh mà màu nước có thể là màu đen nhưng cũng có thể màu đỏ

Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, tranh sơn mài cũng thể hiện một số điểm yếu

là khả năng tả thực bị hạn chế, không phong phú như những chất liệu khác, nhất là trong việc tả khối và tả chất Hơn nữa, tranh sơn mài đòi hỏi kỹ thuật khá phức tạp

và mang tính thủ công

Lụa

Trang 19

Lụa là chất liệu dùng làm nền tranh Đây cũng là cách gọi theo chất liệu nền tranh mà không gọi theo chất màu sử dụng Có thể sử dụng nhiều chất liệu khác nhau để vẽ trên nền lụa như: bột màu, màu nước, mực nho , trong đó màu nước và mực nho được dùng nhiều hơn cả nhờ màu tan đều giúp giữ được hiệu quả chất liệu của lụa.

Tranh lụa thường thích hợp với những đề tài phong cảnh với lối vẽ gợi tả của người Phương Đông Ngoài ra, những đề tài như chân dung thiếu nữ hay cảnh sinh họat cũng thường được khắc họa trên chất liệu này Tại Nhật Bản, tranh lụa thường được dùng vẽ tranh cuộn mô tả các loại tranh lịch sử và tranh đề tài mỹ nhân

Khắc gỗ

Tranh khắc gỗ là loại tranh bản vẽ trước hết được khắc lên đường nét lên gỗ sau đó in ra tranh Đặc trưng của tranh khắc gỗ là có thể in ra thành nhiều bản giống nhau mà không có bản nào là bản gốc và bản nào là bản chép

Tranh khắc gỗ ra đời cùng với việc phát minh ra giấy viết và kỹ thuật in ấn Những bản in khắc gỗ sớm nhất được cho là được cho là có nguồn gốc từ Trung Hoa Đó là những bản sao của các bút tích, di cảo cùng với những con dấu, con triện của vua chúa Tranh khắc gỗ phát triển ở các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, đặc biệt tranh khắc gỗ của Nhật Bản không chỉ phổ biến trong nước mà còn ảnh hưởng đến các họa sĩ Phương Tây thế kỷ XIX Ở Việt Nam tranh khắc gỗ là chất liệu được ưa chuộng và được nhiều họa sĩ sáng tác Dòng tranh dân gian của Việt Nam phần lớn được sáng tác bằng kỹ thuật khắc gỗ

Ở Phương Tây, kỹ thuật khắc gỗ phổ biến từ thế kỷ XIV và chủ yếu được dùng

để minh họa Kinh thánh Sau khi kỹ thuật in hiện đại ra đời, nghệ thuật khắc gỗ minh họa sách vẫn còn phát triển mạnh nhưng ở tình trạng khuyết danh

Đặc trưng của tranh khắc gỗ là sự nổi bật của đường nét, lấy đường nét làm phương tiện biểu đạt Mặt khác, tranh khắc không vận dụng luật phối cảnh gần xa

Trang 20

mà chú trọng đến hiệu quả của các mảng màu sắc, có thể là sự chuyển sắc tế nhị như trong tranh Nhật Bản hay màu sắc đối lập như tranh Đông Hồ Việt Nam.

Điểm đặc biệt của tranh khắc gỗ là không có một bức tranh nào in sau là bản sao của bức trước, tất cả đều có giá trị như nhau Hay nói cách khác, không có khái niệm bản sao trong tranh khắc gỗ

1.1.1.5 Phong cách và trường phái hội họa

Một phong cách hội họa nói đến một tập hợp những giá trị thẩm mỹ, những kỹ

thuật, chất liệu, và ngôn ngữ hội họa Một quan điểm thẩm mỹ khác có thể tạo ra một thế giới quan và một cách phản ánh thế giới khác Khi đó họa sĩ xây dựng nên một số qui tắc Nếu như những qui tắc này được thể hiện một cách rõ rệt và khác biệt thì có thể nói đến một phong cách riêng

Nếu như có những họa sĩ khác chia sẻ cùng một phong cách và áp dụng nó (do tiếp xúc và trao đổi nghệ thuật, do cùng nơi đào tạo, do quan hệ huyết thống ) thì

phong cách đó tạo thành một trường phái Thí dụ như trong lịch sử hội họa Phương

Tây có những trường phái như trừu tượng, lập thể, lãng mạn, siêu thực, hậu hiện đại

1.1.2 Các lí thuyết nghiên cứu văn hóa và ứng dụng vào đề tài

1.1.2.1 Lí thuyết cấu trức-chức năng

Có nhiều lí thuyết và phương pháp trong nghiên cứu xã hội học, như phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp hình thức, phương pháp chức năng và phương pháp cấu trúc [12, tr 231] Ở đây chúng ta sử dụng phương pháp thích hợp để nghiên cứu vấn đề hội họa thời kì Edo và khuynh hướng đại chúng của

nó là phương pháp cấu trúc-chức năng

Lí thuyết cấu trúc-chức năng trong xã hội học (structural functionalism, [63.,

tr xix]) được xây dựng trên hai nền tảng: phương pháp tiếp cận khoa học tới các

Trang 21

vấn đề xã hội, và sử dụng sự tương tự giữa một cơ thể hữu cơ với một xã hội Theo

đó, để nghiên cứu một xã hội phải phân tích nó như một hệ thống với những bộ

phận (cấu trúc), mỗi bộ phận tồn tại vì nó thỏa mãn một chức năng nhất định, và

cần tìm ra mối quan hệ giữa các bộ phận ấy Giống như một cơ thể sinh học sống, các bộ phận của một xã hội phụ thuộc lẫn nhau, mỗi bộ phận phải thực hiện chức năng đã định để cho cả xã hội có thể vận hành Trong việc khám phá các chức năng khác nhau của của một đối tượng xã hội người ta nhất thiết phải dùng đến sự nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu so sánh [12, tr 239]

Dưới quan điểm của lí thuyết cấu trúc-chức năng chúng ta cần nghiên cứu những vấn đề sau

Thứ nhất, hội họa Nhật Bản cần được đặt trong văn hóa, và hơn nữa, xã hội Nhật Bản nói chung Điều này đòi hỏi chúng ta bàn về đất nước con người Nhật Bản nói chung và nhất là hoàn cảnh kinh tế xã hội thời kì Edo Chúng ta cần thấy được một số đặc điểm lớn của bản sắc văn hóa Nhật Bản và ảnh hưởng của chúng lên hội họa

Thứ hai, trong bản thân hội họa Nhật Bản thời kì Edo, dù quan tâm chủ yếu đến tính đại chúng, chúng ta cũng phải xét đến các bộ phận khác của hội họa thời kì này Chính vì vậy ta sẽ nói đến tất cả các trường phái hội họa thời kì Edo, nhìn thấy vai trò của mỗi trường phái cũng như sự ảnh hưởng và liên quan lẫn nhau giữa chúng

Thứ ba, chúng ta sẽ giải thích hội họa đại chúng – Ukiyo-e như là một sự phát triển tự nhiên của hội họa Nhật Bản nhằm một chức năng, đó là phục vụ nhu cầu văn hóa của tầng lớp thị dân ngày càng đông đảo của Edo

1.1.2.2 Lí thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa

Giao lưu tiếp biến văn hóa là khái niệm để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của cuộc tiếp xúc này là sự thay đổi

Trang 22

hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa hoặc cả hai nền văn hóa đó [31, tr 107] Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa có thể diễn ra một cách cưỡng bức thông qua sự thống trị về quân sự, hoặc diễn ra bằng con đường hòa bình hơn thông qua các cơ chế như buôn bán, truyền đạo Tuy nhiên dù bằng con đường hòa bình, nếu không đủ bản lĩnh thì xã hội yếu hơn có thể bị xã hội mạnh hơn tác động thay đổi và dẫn đến đánh mất bản sắc văn hóa.

Vấn đề đặc điểm hội họa thời kì Edo cần được đặt dưới tiếp cận của lí thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa Điều này đòi hỏi chúng ta bàn tới những vấn đề sau.Thứ nhất, hội họa thời kì Edo chịu tác động như thế nào từ chính sách Bế quan tỏa cảng của chính quyền Mạc phủ Tokugawa bắt đầu từ năm 1637? Trong giai đoạn này tiếp xúc với văn hóa nước ngoài, cả văn hóa Trung Quốc lẫn văn hóa Phương Tây rất hạn chế Chúng ta sẽ trả lời câu hỏi này trong Chương 2, ở đó qua việc phân tích các trường phái hội họa thời kì Edo chúng ta thấy rằng sự giảm thiểu tiếp xúc đã cho phép nghệ thuật hội họa Nhật Bản được nảy nở và phát triển riêng

tư hơn và yếu tố dân tộc đã được phát huy mạnh mẽ

Thứ hai, mặc dù sự tiếp xúc với với hội họa Phương Tây là ít ỏi nhưng ở Chương 2 chúng ta sẽ thấy rằng sự tiếp xúc ít ỏi với những hình minh họa trong các quyển sách khoa học của Hà Lan đã có tác động to lớn đến các họa sĩ Nhật Bản, giới thiệu cho họ kỹ thuật phối cảnh, tả thực, và chủ nghĩa hiện thực trong hội họa

Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa Nhật Bản và Phương Tây đã không diễn

ra một chiều Ở Chương 3 chúng ta sẽ thấy rằng các họa sĩ Châu Âu đã bừng tỉnh trước hiệu quả nghệ thuật của tranh Ukiyo-e Nhật Bản tình cờ đến với họ qua thương mại Những họa sĩ Châu Âu danh tiếng nhất thời kì này đã sáng tác dưới sự ảnh hưởng rõ ràng của hội họa Nhật Bản

Trang 23

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Về đất nước, con người Nhật Bản

Nhật Bản trải ra theo một vòng cung hẹp dài 3.800 km, từ vĩ độ bắc 20o 25' đến 45o 33' Tổng diện tích là 377.815 km2, chiếm 0,3% tổng diện tích đất đai toàn thế giới Nhật Bản đã từng là một phần của lục địa Á châu (được tách ra từ Kỷ Băng hà) Khoảng 71% diện tích là núi non, các đồng bằng đều hẹp và chiếm khoảng 15% diện tích đất nước Địa hình dốc đứng này đã buộc người Nhật hướng ra biển, theo nghề hàng hải và đánh cá

Quần đảo Nhật Bản gồm hơn 3000 đảo lớn nhỏ với 4 đảo chính gồm: Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushyu với độ cao trung bình khoảng 330 mét Honshu là trung tâm công nghiệp của nước Nhật hiện đại và là nơi cư trú của 80% dân số Biển đem lại sự ấm no cho người Nhật và núi đem lại sự cứng rắn cho tính cách Nhật

Các đảo Nhật nằm trong vùng khí hậu ôn hòa, ở hầu hết các miền đều có bốn mùa rõ rệt Mùa hè ấm và ẩm, bắt đầu từ khoảng giữa tháng 7, trước đó là mùa mưa thường kéo dài khoảng 1 tháng Mùa đông phía Thái Bình Dương thường ôn hòa với nhiều ngày nắng, nhưng biển lại u ám Vùng núi là một trong những vùng có nhiều tuyết nhất thế giới Mùa xuân và mùa thu là những mùa tốt nhất trong năm, khí hậu êm dịu và đầy ánh mặt trời

Người Nhật Bản là một phân nhóm của người Mongoloid vì thế họ có đặc điểm: da vàng, mắt hẹp và xếch, gò má cao và tóc đen Nguồn gốc dân tộc Nhật vẫn còn nhiều điều gây tranh cãi Tuy vậy có một điều rõ ràng là trước khi những người

di cư đến đây thì đã có một tộc người tên gọi Ainu sinh sống tại Nhật Bản Người Ainu không thuộc chủng tộc Mongoloid, họ có đặc điểm của người Caucase như da trắng, lông tóc rậm, mắt tròn và gò má phẳng Sau nhiều thế kỉ, người Nhật đã dồn người Ainu lên phía bắc, trên đảo Hokkaido và tới ngày nay họ vẫn sinh sống ở đó

Trang 24

Người Ainu có tín ngưỡng đa thần giáo, họ cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên như muông thú, cỏ cây và đất đá đều có linh hồn hay tinh thần Nhiều nghi lễ Thần Đạo (Shinto) có nguồn gốc từ các nghi lễ của người Ainu và nhiều địa danh trong tiếng Nhật ngày nay đã có trong từ vựng của người Ainu từ rất lâu (như: núi Phú Sĩ—Fuji )

1.2.2 Lược sử hội họa Nhật Bản

Trước khi tìm hiểu hội họa thời kì Edo, chúng ta sẽ điểm qua hội họa Nhật bản

từ khởi thủy đến ngày này để từ đó đánh giá được hội họa thời kì Edo có vị trí như thế nào trong nền hội họa Nhật Bản

1.2.2.1 Thời kì Asuka (552 – 710)

Thời Asuka được đánh dấu bằng năm Phật giáo bắt đầu du nhập vào Nhật Bản Thời kì này trung tâm văn hóa thuộc về Asuka là một tỉnh của vương quốc Yamato Khoảng thế kỷ thứ nhất, Phật Giáo từ Ấn Độ bắt đầu tỏa sang các nước phía Đông Sau khi du nhập vào Trung Quốc, từ đây, Phật Giáo tiếp tục ảnh hưởng sang Triều Tiên và Nhật Bản Dưới thời vua Bách Tế, thế kỷ thứ 3, Phật Giáo đã được đón nhận nhiệt tình ở đất nước Triều Tiên, nhưng phải đến thế kỷ thứ 6, từ Triều Tiên, Phật Giáo mới tiếp tục du nhập vào Nhật Bản

Là một tôn giáo mới, buổi đầu du nhập vào Nhật Bản, Phật Giáo đã gặp hai quan điểm khác nhau từ phía chính quyền: chấp nhận và chống đối Thiên Hoàng Kimmei thiên về ý kiến chấp nhận còn tranh luận diễn ra ở hai thế tộc Soga và Mononobe Dòng họ Soga chủ trương ủng hộ còn dòng họ Mononobe chống đối vì cho rằng tiếp nhận Phật giáo sẽ “gây phẫn nộ các vị thần linh tổ tiên” [26, tr 38] Trước tình thế đó, Thiên Hoàng đã chọn theo hướng trung dung và cho phép người đứng đầu nhà Soga được tin theo đạo Phật cho riêng mình Phật giáo chính thức đón nhận thêm nhiều tín đồ tại Nhật Bản, trong đó có Thái tử Shotoku, con trai thứ hai

Trang 25

của hoàng đế Yõmei.

Khi Thái tử lên ngôi Thiên Hoàng, dưới sự trị vì của ông, Phật giáo đã được quảng bá khắp đất nước, Phật giáo và Thần đạo đã hài hòa trong lòng dân và dần xác lập được vị thế riêng “Bấy giờ đã có 46 tu viện, 816 tăng ni và 519 ni Tu viện lớn nhất và nổi tiếng nhất là chùa Hokoji, chùa Hõryũji và chùa Shitennoji Việc xây dựng các tu viện này và các tu viện lớn khác được coi như là một quốc sự quan trọng” [26, tr 38]

Dưới sự trị vì của Thái tử Shotoku, Phật giáo đã đâm chồi nảy lộc Song song

đó, một nền văn hóa nghệ thuật Phật giáo bắt đầu được tượng hình Đối với hội họa Nhật Bản, Phật giáo chính là khởi duyên, là sự bắt đầu Các tác phẩm hội họa sớm nhất là những bức họa gắn liền với đề tài Phật giáo và mang đậm ảnh hưởng phong cách Trung Quốc thời bấy giờ, các tác phẩm bích họa Phật Giáo tại các ngôi cổ tự ở Nara vẫn còn lưu giữ đến ngày nay

1.2.2.2 Thời kì Nara (710 – 794)

Tiếp nối giai đoạn trước, đây là thời kì văn hóa nghệ thuật Trung Quốc ảnh hưởng tới nhiều mặt của xã hội Nhật Bản Đặc biệt, dưới thời Thiên hoàng Shomu trị vì (724 – 748), ông đã liên tục cử các sứ thần, nhiều vị tăng lữ sang Trung Quốc học hỏi tinh hoa, tinh túy của nền văn hóa Trung Hoa

Hội họa thời kì này bị ảnh hưởng bởi hai phong cách: ảnh hưởng của Trung Hoa qua bố cục và đường nét, ảnh hưởng Ấn Độ ở sự phối hợp màu sắc sáng tối trên những bích họa tiếp tục được thể hiện trong các ngôi chùa, đặc biệt là bức họa

ở chùa Hõryũji tại Nara

Một tiêu bản đẹp của thời kì này còn lưu lại đến ngày nay là bức tranh

Kichijoten ở Chùa Yakushi (Dược sử ) thể hiện hình ảnh một tiên nữ với những

đường cong đầy đặn, vẻ đẹp nữ tính của thời Đường trong bộ trang phục cung đình nhà Đường

Trang 26

1.2.2.3 Thời kì Heian (794 – 1192)

Thời kì Heian kéo dài hơn hơn thế kỷ, bắt đầu từ lúc Thiên hoàng Kanmu dời

đô từ Nara về Heian vào năm 794 Kinh đô của Nhật Bản dời tới Heian tồn tại cho tới năm 1867 Thiên Hòang xây dựng kinh đô mới nhằm giảm bớt những ảnh hưởng chính trị từ nhà sư nên trong một thời kì đã hạn chế sự phát triển của đạo Phật Về sau vì muốn học tập đạo Phật mới của Trung Quốc và mượn cớ cải cách Phật Giáo, triều đình đã cử hàng loạt tăng nhân đến nhà Đường học tập

Vào đầu thế kỷ thứ 8, một sự kiện nổi bật trong đời sống văn hóa và có ảnh hưởng đến hội họa thời kì này Đó là sự trở về của hai nhà sư Dengyo Daishi và Kobo Daishi sau một thời gian chu du học tập từ Trung Hoa Họ đã lập nên hai phái Thiền Tông Thiên Đài Tông (Tendai) và Chơn Ngôn Tông (Shingon) Chưa bao giờ hội họa Nhật Bản lại có nhiều nhà sư tham gia và khuyến khích các môn đồ học tập như lúc này Học theo những tranh tượng Phật giáo được mang về từ Trung Hoa, các nhà sư Nhật Bản đã họa chân dung các cao tăng mình sùng kính Nổi danh trong giai đoạn này là các vị cao tăng như Kukai, Saicho, Chisen đều lấy hình tượng Phật giáo làm chủ đề cho các tác phẩm của mình

Có thể khái quát “Hình tượng được vẽ lên bằng những đường nét gọi là Tessen (thiết thằng) nghĩa đen là “dây thép” Đường nét nom uy mãnh đến độ trông như không có sóng lượn Đó chính là tiểu biểu trong đường nét dùng trong thời kì này”Ngoài ra, thời kì này lần đầu tiên xuất hiện thể loại tranh minh họa cho các bộ truyện lãng mạn của các cây bút đương thời Nổi bật là bộ tranh cuộn minh họa cho

bộ tiểu thuyết diễm tình Genji của nữ sĩ Murasaki Shikibu với bút pháp Kagihara (mắt kép dài-mũi chìa khóa) Đặc biệt, không lẫn vào đâu được là phong

Hikime-cách đổ nghiêng về một phía của các tư thế trong tranh

Cuối thời kì Heian, có thêm sự xuất hiện của trường phái dân tộc Tosa do Fujiwara Motomitsu sáng lập, thể hiện mạnh mẽ phong cách dân tộc với nét bút nhẹ nhàng phóng khoáng và cách điểm màu đầy ý tứ, khác hẳn với phong cách của các

Trang 27

trường phái Trung Hoa Đề tài của các trường phái này thường lấy hình ảnh con người biến hóa thành hình thú để răn người Trường phái Tosa tiếp tục phát triển rất mạnh ở giai đoạn sau.

“Có thể tóm tắt khuynh hướng hội họa giai đoạn này là sự tìm kiếm để hướng đến một phong cách Nhật Bản Dù là tranh về đề tài tôn giáo hay thế tục, hội họa có khuynh hướng hướng đến vẻ đẹp thanh tao trong một tâm hồn ấm áp Từ thời Nara đến thời Heian, hội họa Nhật Bản được đặt trong sự ảnh hưởng của nền hội họa Trung Hoa Tuy nhiên, từ nửa sau thế kỷ thứ 10, vẫn trên cơ sở học tập theo lối bút pháp và đề tài Trung Hoa, hội họa Nhật Bản chớm hé lộ thần thái dân tộc trong các tác phẩm, và dần từ bỏ hẳn lối mô phỏng hoàn toàn phong cách hội họa Trung Hoa, hướng đến một phong cách Nhật Bản dân tộc.” [4, tr 30] Phong cách này được gọi

là “Phong cách Nhật Bản” (大和絵 - Yamato-e), phát triển song hành với phong cách ảnh hưởng của hội họa Trung Hoa

1.2.2.4 Thời kì Kamakura (1192 – 1333)

Cuối thế kỷ XII, khi dòng họ Fujiwara đang nắm quyền suy yếu, ở Nhật Bản nổi lên hai dòng họ có thế lực hơn cả là dòng họ Taira và dòng họ Minamoto Sau một thời gian dài tranh giành quyền lực, cuối cùng dòng họ Minamoto đã giành thắng lợi và lập chính quyền riêng tại Kamakura ở phía Đông, đối lập với triều đình Thiên hoàng ở phía Tây Từ đó, hình thành nên hai lối sống, hai nền văn hoá khác nhau ở Đông và Tây của Nhật Bản

Vào năm 1192, một sự kiện lịch sử đánh dấu sự thay đổi lớn trong chính quyền Nhật Bản và ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa xã hội Nhật Bản là Thiên Hoàng lần đầu tiên phong danh hiệu Shogun (Tướng quân) cho Minamoto Yomoto, một vị tướng của dòng họ Minamoto, mở đầu cho việc thiết lập chính quyền quân sự của tầng lớp Samurai (võ sĩ) ở Nhật Bản Từ đây, bắt đầu thời kì Mạc phủ, đại bảng doanh của chính quyền quân sự, một chế độ mà tầng lớp võ sĩ đứng đầu là Tướng quân nắm giữ vai trò chính trong bộ máy chính quyền song song với Thiên hoàng

Trang 28

Phía Tây là Thiên hoàng, phía Đông là đại bản doanh của Tướng quân Dưới thời Kamakura, hai cung cách nghệ thuật in dấu ấn hai trung tâm văn hóa đã hình thành,

“một ở Kamakura nơi mọi thứ đều tươi mới và đầy sức sống, một ở Kyoto nơi mà dân chúng bám lấy cái cổ Nền văn hóa mới ở Kamakura nhuốm đầy tinh thần quân sự, khác hẳn với vẻ trang nhã dịu dàng của thời Fujiwara trước đó.” [26, tr 105]

Ngoài hoàn cảnh lịch sử, dưới thời Kamakura còn có ba yếu tố cơ bản góp phần ảnh hưởng mạnh mẽ đến hội họa thời kì này Thứ nhất là sự giao tiếp với Trung Hoa (lúc này là nhà Tống) đã được nối lại sau một thời gian dài bị cắt đứt Thứ hai là sự du nhập từ Trung Hoa Phật giáo Thiền Tông và những Phật tông mới (Chân Tông, Nhật Liên Tông và Thời Tông) Thứ ba là ảnh hưởng tinh thần quân sự của chính quyền Tướng quân mới thành lập đối với nghệ thuật

Vào giai đoạn đầu, tranh Phật giáo không khác nhiều với các thời kì trước Tuy nhiên từ giữa thế kỷ XIII, với việc bắc lại chiếc cầu nối Trung Hoa, Phật Giáo Thiền Tông đã trở nên thịnh vượng và các đề tài về La Hán và thập điện Diêm vương được sao chép nguyên mẫu suốt thời Tống, Nguyên Thời Kamakura còn chứng kiến sự thịnh đạt của thể loại tranh cuộn vốn phát triển từ giai đoạn trước Không còn bó hẹp ở chủ đề minh họa cho các câu chuyện văn học, lịch sử, đề tài được mở rộng tốí đa: lịch sử, tôn giáo và cuộc đời các cao tăng

Có thể thấy “Phần lớn thời kì Kamakura thể hiện giai đoạn sau cuối của lịch

sử Mỹ thuật Tôn giáo Nhật Bản Mặc dù Phật giáo, Lão giáo Thần Đạo đã tồn tại cho đến sau này, chúng ta cũng không thể kết luận một cách đơn giản về sự tuyệt vong của Mỹ thuật tôn giáo kể từ sau thời kì này.” [4, tr 86]

1.2.2.5 Thời kì Muromachi (1333 – 1573)

Thời Muromachi trải dài trong 230 năm bắt đầu từ việc xây dựng tướng phủ ở Kyoto vào năm 1338 và kết thúc với sự lật đổ của tướng quân Oda Nobunaga năm

Trang 29

Dưới thời Muromachi, Thiền đạo đã đi sâu vào đời sống dân chúng Nghệ thuật, đặc biệt là hội họa, thấm đẫm dư vị Thiền Tông Trong thời này, hội họa phát triển một phong cách mới đó là Tranh Thủy mặc (水墨画-Suiboku-ga) Đây là loại tranh dùng với chất liệu mực và nước, chịu ảnh hưởng bởi các danh họa đời Tống

và Nguyên ở Trung Quốc Đề tài tranh thủy mặc được lấy từ thiên nhiên, ngay cả hình ảnh Đức Phật La Hán cũng được họa giữa núi non thanh tịch Một số họa sĩ còn đưa vẽ về đề tài chim muông, hoa lá Nổi bật ở thể loại này có thầy trò Josetsu

và Shubun, sau đó là Sesshu (1420 – 1506), họa sĩ được tôn sùng như một bậc thánh

ở Nhật Bản Sesshu đã tôn Shubun làm họa sư của ông trước khi sang Trung Quốc tầm sư học đạo vào năm 1467 Tuy nhiên ông vẫn không tìm được ai sánh với thầy mình và quyết định quay trở về quê nhà hai năm sau đó Trong các tác phẩm của

Sesshu, nổi bật có bộ tranh Sơn thủy trường quyền vẽ về sự giao mùa từ xuân sang

hạ, thu đông Bộ tranh được đánh giá là kết tinh tất cả những gì thuộc về nghệ thuật Sesshu Với tác phẩm này ông còn được mệnh danh là “Leonardo De Vinci của Nhật Bản” và “cái thế giới thuần khiết, thanh tịnh và cao nhã trong hội họa của Sesshu tiêu biểu cho văn hóa Thiền Tông” [3, tr 115]

Vào cuối thời kì Muromachi, một trường phái hội họa mới xuất hiện ở Nhật Bản được gọi là trường phái Kano Trường phái này do cha con của hai họa sĩ Masanobu và Motonobu (con) mở đầu và phát triển thành một trong những trường phái quan trọng trong giai đoạn lịch sử kế tiếp Hai họa sĩ bậc thầy này đã khéo léo kết hợp phong cách dân tộc của trường phái Tosa (hình thành từ cuối thời Heian) với những nét đặc sắc ảnh hưởng từ phong cách Trung Hoa

Trường phái Kano được các tướng quân thời Muromachi đặc biệt bảo trợ và ngược lại các họa sĩ cũng dốc hết tài năng nghệ thuật để phục vụ cho giới quý tộc quân sự Đề tài được các họa sĩ Kano khai thác và ưa chuộng là phong cảnh, chim chóc và hoa lá Các họa sĩ thường tìm đến thiên nhiên và lấy thiên nhiên làm bầu

Trang 30

bạn để gửi gắm niềm tâm sự Tám cảnh sông Tiêu-Tương Trung Hoa và Hoa và chim là hai trong số những kiệt tác của Motonobu ngày nay còn lưu giữ tại các Bảo

Đại diện của trường phái này là họa sĩ Mitsunobu Đầu thế kỷ XVI, chính ông

đã vực trường phái Tosa trở lại bằng những nét vẽ tinh tế và trau chuốt của mình

Phải kể đến bức họa xuất thần vẽ bộ tranh Lịch sử chùa Kyomizu.

1.2.2.6 Thời kì Momoyama (1573– 1603)

Cuối thời Muromachi, từ năm 1467 đến 1573, lịch sử Nhật Bản gọi là thời

“chiến quốc” với sự tranh giành quyền lực giữa các dòng họ có thế lực ở Nhật Bản Đến năm 1574, Oda Nobunaga tiến hành thống nhất được Nhật Bản, mở đầu cho thời kì Momoyama ngắn ngủi trong 40 năm trước khi Ieyasu Tokugawa xây dựng chính quyền Mạc phủ Tuy chỉ trong một thời gian không dài nhưng nghệ thuật hội họa đã tìm được cho mình tiếng nói riêng ở thời kì này

Dưới thời Momoyama, Phật giáo không còn là đề tài được quan tâm chủ đạo trong hội họa như các giai đoạn trước Ngược lại, hội họa trang trí được phát triển Người ta thường thấy những bức họa hoa anh đào, những cành thông hay nhành liễu

rũ thướt tha ẩn hiện trên các tấm ván lùa trong ngôi nhà phong cách Nhật Bản Trường phái Tosa vốn bắt đầu bị suy tàn từ cuối thời Muromachi thì nay đã đến hồi rung chuông báo tử, thay vào đó là sự nổi bật của trường phái Kano với những bức tranh trang trí xuất sắc trên các tấm bình phong Đại diện cho trường phái Kano thời kì này là Eitoku và Sanraku Cả hai đều chọn đề tài hoa - điểu trong các tác phẩm của mình, riêng Sanraku còn họa chân dung những nhân vật lịch sử và

Trang 31

huyền thoại Trung Hoa.

1.2.2.8 Thời kì Meiji (1868 – 1912)

Ngày 3 tháng 1 năm 1868 đánh dấu sự kiện Tướng quân cuối cùng của chính quyền tướng phủ Tokugawa trao quyền lực lại cho Thiên Hoàng, bắt đầu cho thời kì mới, thời kì Meji với chính sách mở cửa và học hỏi Phương Tây thời kì này dân chúng có xu hướng tiếp nhận tất cả những cái mới từ Phương Tây và đôi khi quên mất nền văn hóa bản địa của mình Nghệ thuật Nhật Bản giai đoạn đầu cũng không ngoài xu hướng này Một mặt nhiều họa sĩ được cử sang Pháp hoặc một số nước châu Âu khác để học tập suốt trong giai đoạn từ 1869 – 1912, mặt khác Nhật Bản xúc tiến việc mời các họa sĩ sang dạy tại các trường mỹ thuật như Antonio Fontanes (1818 – 1882), họa sĩ trường phái Barbizon của Ý đã tới dạy hội họa tại trường mỹ thuật công nghiệp (Kobu Bijutsu Gakko) Việc sử dụng chất liệu sơn dầu cũng được các họa sĩ Nhật Bản lần đầu tiên học tập trong giai đoạn này Tuy nhiên, đến khoảng năm thứ 20 thời Meiji (1887) trở đi, một thái độ phản ứng bắt đầu chống lại sự Âu hóa mù quáng, các họa sĩ theo chủ nghĩa dân tộc đã khôi phục và

mở trường nghệ thuật chính phủ Ueno với sự dẫn dắt của hai họa sĩ Kano Hogai (1828 – 1888) và Hashimoto Hago (1835 – 1908), thuộc trường phái Kano và họa sĩ Kawabata Gyoukusho (1842 – 1913) thuộc trường phái Murayama

Trang 32

Như vậy, bước sang thời Meiji, hội họa Nhật Bản đã phân thành hai dòng: hội họa truyền thống (Nihon-ga) và hội họa Âu Tây (You-ga) Hai dòng hội họa này phát triển song hành đến ngày nay.

1.2.2.9 Giai đoạn hiện nay

Hội họa Nhật Bản ngày nay ngoài hai dòng chính là hội họa truyền thống và hội họa Âu Tây còn có một dòng tranh gọi là “hội họa đương đại” Trong số các đại diện sáng giá cho hội họa đương đại Nhật Bản đầu tiên phải kể đến Yoshitomo Nara

và Takashi Murakami Cả hai đều tốt nghiệp đại học nghệ thuật và âm nhạc Tokyo, Yoshitomo Nara tốt nghiệp khoa hội họa Âu – Tây (sơn dầu), Murakami tốt nghiệp khoa hội họa Nhật Bản Nara và Murakami là hai người khởi xướng trào lưu sử dụng văn hóa phổ cập trong các truyện tranh manga, phim hoạt hình chiếu trên truyền hình, và nâng lên thành một hình thức nghệ thuật Murakami sử dụng nhân vật Astro Boy từ phim hoạt hình và các nhân vật của Disney Ngày nay ta có thể thấy các bức tranh loại đó xuất hiện trong các sách giáo khoa về mỹ thuật cấp cao Makoto Aida cũng chia sẻ quan điểm của Nara và Murakami, nhưng tranh của anh

ta có vẻ khiêu dâm hơn, và chứa đựng nhiều tình tiết đảo lộn thời gian và trật tự Vì thế các nhà giáo dục không mặn mà gì với các tác phẩm của Aida Tuy nhiên có nhiều chuyên gia cho rằng những nghệ sĩ như Yoshitomo Nara, Murakami, và Aida

là những người khởi đầu cho một nền hội họa Nhật Bản mới Cách biểu hiện gắn với phim hoạt hình và sách manga của họ tượng trưng cho xã hội Nhật Bản hiện đại, cũng tương tự như pop-art ở Mỹ đã ra đời và được cổ vũ trong xã hội tiêu thụ

Trang 33

CHƯƠNG 2 : SỰ THỂ HIỆN CỦA KHUYNH HƯỚNG ĐẠI CHÚNG VÀ THẾ TỤC TRONG HỘI HỌA NHẬT BẢN THỜI KÌ EDO

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp tới nghệ thuật hội họa thời kì Edo (1603-1868)

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử thời kì Edo

Lịch sử thời Edo được bắt đầu trong bối cảnh đất nước vừa trải qua thời kì chiến quốc với nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các Lãnh chúa (Daimyo) để tranh giành đất đai và quyền lực Trước đó, giữa thế kỷ XVI, hình thành một liên minh quân sự đứng đầu là Oda Nobunaga (1534 – 1582), Totoyomi Hideyoshi (1536 – 1598) và Tokugawa Ieyasu (1542 – 1616) Với thế mạnh của mình, Oda Nobunaga được coi là người bảo vệ cho Hoàng gia và là thế lực quân sự giữ vị trí đối trọng với Mạc phủ Ông đã đặt dấu chấm hết cho 237 năm thống trị của Mạc phủ Muromachi khi phế truất Tướng quân cuối cùng họ Ashikaga và tiến lên giành quyền bá của mình Tuy nhiên, năm 1582 ông đã bị giết hại trước khi những kế hoạch xây dựng chính quyền của ông được thực hiện Tiếp theo đó nổi lên thế lực của Toyotomi Hideyoshi, một người vốn xuất thân từ một gia đình có địa vị xã hội thấp nhưng trong 3 năm sau khi Oda Nobunaga qua đời đã trở thành một lãnh chúa

có thế lực nhất Nhật Bản Năm 1590 Hideyoshi đã hoàn thành việc thống nhất đất nước Ngoài ra, Hideyshi còn có tham vọng mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra bên

Trang 34

ngoài nên hai lần đem quân chiếm Triều Tiên nhưng cuối cùng bị thất bại và Hideyoshi đã lâm bệnh chết trước khi hoàn thiện thể chế chính trị mình đã đeo đuổi.Cuối thế kỷ XVI, sau khi Toyotomi Hideyoshi qua đời, Tokugawa Ieyasu một lãnh chúa mạnh nhất lúc bấy giờ đã thâu tóm quyền lực về tay mình nhờ sự khôn khéo giải quyết được những vấn đề tồn tại của Nhật Bản và hướng đến xây dựng một thiết chế ổn định nhằm tái thiết hòa bình và thống nhất quốc gia Ieyasu đã xây dựng một chế độ phong kiến Trung ương tập quyền thông qua cơ chế vận động song song: Mạc phủ, đứng đầu là Tướng quân (Shogun) Tokugawa ở Edo và các lãnh chúa (Daimyo) cai trị các lãnh địa ở địa phương Cơ sở tồn tại của chế độ này là dựa vào lòng trung thành tuyệt đối của đẳng cấp võ sĩ và cân bằng cơ cấu quyền lực giữ Trung ương (Mạc phủ) với địa phương (các lãnh địa, gọi là “Han” của các lãnh chúa) ở hai mặt trọng yếu là kinh tế và chính trị.

Đối với Thiên hoàng, chính quyền Tokugawa tiếp tục duy trì chính sách của các Mạc phủ trước đây, một mặt nâng cao uy tín danh nghĩa của Thiên hoàng nhưng mặt khác lại tách Thiên hoàng khỏi các Daimyo Chính quyền Mạc phủ được xây dựng ở Edo còn Thiên hoàng sống ở Kyoto và tình trạng hai chính quyền cùng song hành tồn tại như vậy kéo dài suốt 250 năm mãi đến năm 1868

2.1.2 Tình hình kinh tế -xã hội thời kì Edo

Sau khi lên nắm chính quyền, chính quyền Tokugawa đã đưa ra nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế, từ đó tạo ra nhiều biến chuyển trong xã hội thời Edo

Từ năm 1630, Tokugawa đã từng bước thực hiện chính sách đóng cửa, bế quan tỏa cảng hạn chế giao thương với bên ngoài và chỉ cho phép một số lượng hạn chế tàu của Hà Lan và Trung Quốc được phép vào buôn bán Song song đó, Nhật bản đã thực hiện một chính sách kinh tế “hướng nội”, sản xuất và tiêu thụ tại chỗ Ngoài ra, tiếp nối chính sách từ người tiền bối Oda Nobunaga, Mạc phủ Tokugawa

đã tạo điều kiện để thương nhân vào sống và hoạt động tại các thành thị cũng như

Trang 35

mở rộng hệ ngoại thương giữa các địa phương Nhiều biến chuyển đã được tạo ra trong thời Tokugawa được đánh giá là bước chuẩn bị quan trong cho công cuộc hiện đại hóa của Nhật Bản trong thời kì tiếp theo Về mặt xã hội, thời kì Edo đã trở thành tiền đề tạo ra những biến chuyển và chứng kiến những trào lưu văn hóa đa dạng và hết sức độc đáo.

2.1.2.1 Sự phân chia đẳng cấp trong xã hội

Chủ trương phân chia đẳng cấp trong xã hội không phải chỉ mới bắt đầu từ thời kì Edo nhưng chỉ đến giai đoạn này, sự phân chia xã hội thành các đẳng cấp mới chính thức được xác định và những ảnh hưởng rõ nét trong đời sống xã hội Nhật Bản

Vào thời Edo, Mạc phủ lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng và xây dựng kết cấu giai cấp dựa trên tinh thần đẳng cấp Nho giáo Xã hội được chia thành bốn đẳng cấp từ cao xuống thấp: sĩ, nông, công, thương Ở Nhật Bản, đẳng cấp sĩ có điểm khác biệt

so với đẳng cấp sĩ ở Trung Hoa Đẳng cấp sĩ ở đây bao gồm cao nhất là giới quý tộc phong kiến cung đình của Thiên hoàng ở Kyoto, tiếp theo là tầng lớp phong kiến quân sự gồm các Daimyo và chư hầu của Mạc phủ cùng các võ sĩ thân thuộc không

có ruộng đất [19, tr 93—94] Ngoài Thiên hoàng, đẳng cấp sĩ được phân chia thành nhiều cấp bậc khác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ thân tín với Mạc phủ, bao gồm Shinpan Daimyo là những Daimyo có quan hệ huyết thống, Fundai Daimyo là các lực lượng đồng minh hay chư hầu trực tiếp của Mạc phủ Tokugawa, Tozama Daimyo là những Daimyo đã từng chống đối lại Mạc phủ trước đây và chỉ thần phục sau đó Quan hệ giữa Mạc phủ và các Daimyo được quy định rất chặt chẽ trong Bộ luật Buke Shohatto 1615 do Ieyasu soạn thảo

Ngoài ra, vào năm 1635, Tướng quân Iemitsu đã đưa ra một chế độ được gọi

là Tham cần giao đại (Sankin Kotai) dành cho tất cả các Daimyo Tozama sau đó mở

rộng ra cả Fundai Daimyo vào năm 1642 Chế độ này quy định cứ cách một năm, toàn bộ các Daimyo trên phải cùng với vợ con về Edo sống một lần và qua năm sau

Trang 36

mới được trở về lãnh địa của mình nhưng phải để vợ con ở Edo như là một cách làm con tin Việc đi lại thường xuyên sẽ cần nhiều chi phí tốn kém và làm suy yếu bớt thế mạnh của các Daimyo, hơn nữa, nếu các Daimyo bất phục tùng hoặc muốn nổi dậy thì vợ con đã bị giữ làm con tin Đây chính là mục đích của Mạc phủ khi xây dựng chế độ này Chế độ Tham cần giao đại là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội thời Edo.

Đẳng cấp sĩ có nhiều đặc quyền nhất trong xã hội, đặc quyền về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục Tầng lớp nông dân chỉ là người chiếm hữu ruộng đất nhận được từ các Diamyo theo chế độ phát canh thu tô Đến cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, khi tình hình kinh tế có chiều hướng kém đi thì khoảng cách mức sống giữa tầng lớp võ sĩ và nông dân ngày càng lớn do bị các lãnh chúa bóc lột tăng thu tô Không chỉ về bị giới hạn về mặt kinh tế, nông dân còn bị ràng buộc bởi những quy định chặt chẽ để phân biệt với đẳng cấp trên Hai đẳng cấp dưới cùng là công và

thương nghĩa là công nhân và thợ thủ công, hai đẳng cấp này được gọi chung là Thị dân (Chonin) Mặc dù về địa vị xã hội họ xếp ở đẳng cấp thấp nhất nhưng dưới thời

Edo, các ngành công thương nghiệp phát triển cùng với việc hình thành nên các thành thị đã hình thành nên tầng lớp thương nhân giàu có Không chỉ có Daimyo mà ngay cả Mạc phủ nhiều khi cũng nhận những khoản vay của thương nhân Khi bị phụ thuộc về mặt tài chính vào tầng lớp thị dân, Mạc phủ lại tìm cách khống chế lại bằng nhiều hình thức Đối với thợ thủ công thì kiểm soát gắt gao các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và thu thuế Với thương nhân, thậm chí còn bị tước tài sản Quy định cho giới Thị dân là không được mặc quần áo lụa là, không được có trang sức vàng bạc và nhà cửa dinh thự lớn

Tuy nhiên, do thế mạnh về kinh tế, các quy định tương tự như vậy vẫn thường

bị giới thương nhân bất tuân “Việc phân chia xã hội thành bốn đẳng cấp của chính quyền Tokugawa là nhằm để ổn định chính trị, khẳng định địa vị của từng đẳng cấp Tuy nhiên, do tác động của tình hình kinh tế xã hội mới, sự phân hóa xã hội mới, sự

Trang 37

phân hóa tự nhiên giữa các đẳng cấp và các bộ phận trong cùng một đẳng cấp vẫn diễn ra Xã hội Nhật Bản thời Edo tuy vẫn vận động theo một cơ chế phong kiến nhưng đã chứa đựng trong lòng nó những tiền đề phát triển của một xã hội mới, xã hội tư sản.” [19, tr 230]

2.1.2.2 Sự phát triển của ngành thủ công nghiệp và công nghiệp

Là một nền kinh tế với tiềm lực chủ yếu dựa vào nông nghiệp, dưới thời Edo nhiều thay đổi đã diễn ra giúp cho ngành thủ công nghiệp và công nghiệp giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thời Edo

Trước hết là việc chính quyền Mạc phủ đã mở rộng quy mô sản xuất, hình thành nên nhiều trung tâm thủ công nghiệp có quy mô hàng trăm lao động Tại đây, tính chuyên môn hóa giữa các ngành nghề lần đầu tiên được thể hiện Cụ thể đã hình thành các ngành nghề như dệt lụa, gốm sứ, giấy, in, sơn mài ; một số ngành chế biến thực phẩm như nấu rượu Sake, đường, chè hay ngành công nghiệp khai thác mỏ, luyện kim, chế tạo vũ khí Bên cạnh hình thức tổ chức lao động phân tán của các phân xưởng thủ công quy mô sản xuất nhỏ, nhiều cơ sở sản xuất đã bắt đầu sản xuất theo kế hoạch và nhu cầu thị trường

Tiếp theo là sự xuất hiện hình thức phường hội khi những người cùng sản xuất một loại hình sản phẩm liên kết lại với nhau, khi tính chuyên môn hóa đuợc nâng cao nhiều phường hội đã tập hợp những người cùng làm một khâu sản phẩm thành phân xưỏng, liên kết nhiều phân xưởng tạo nên sản phẩm cuối cùng

Thứ ba là việc hình thành mối liên hệ giữa khu vực sản xuất thủ công nghiệp

và các trung tâm kinh tế lớn Nhiều thành phố lớn thu hút số lượng thợ thủ công nghiệp rất cao “Vào đầu thế kỷ XVIII, chỉ riêng Osaka đã có 4 vạn thợ thủ công sinh sống Nếu tính cả những người trong gia đình thì tỷ lệ những người làm nghề thủ công chiếm 40% dân số thành phố Đến cuối thời Edo, các ngành thủ công nghiệp đã thu hút 20% lực lượng lao động trên toàn quốc.” [11, tr 214] Nhờ quá

Trang 38

trình chyên môn hóa, nhiều mặt hàng thủ công đã đạt được chất lượng tinh xảo nổi tiếng thế giới như lụa, đồ gốm, sơn mài và không còn phải nhập từ bên ngoài như

đã nhập lụa của Trung Quốc trước đây

Sự phát triển của các ngành nghề công gnhiệp và thủ công nghiệp đã tạo tiền

đề cho sự phát triển các đô thị, tập trung dân cư ở những thành phố lớn hình thành nên một tầng lớp thị dân đông đảo là nguồn gốc của sự phát triển nền văn hóa thị dân thời Edo

2.1.2.3 Sự hình thành các thành thị và hoạt động kinh tế thương mại

Sự hình thành và phát triển các thành thị là một yếu tố tạo ra diện mạo mới của xã hội Nhật Bản thời Edo Như đã phân tích ở phần trên, quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất thủ công nghiệp và công nghiệp đã kéo theo sự tập trung dân cư đến các thành thị ngày càng đông và hình thành nên nhiều đô thị lớn giữ vai trò là trung tâm kinh tế của vùng hoặc khu vực, đồng thời những thành thị lớn này đều là những thủ phủ của các Daimyo Từ cuối thế kỷ XVII, ngoài cơ cấu kinh tế nông nghiệp truyền thống, đã hình thành cơ cấu kinh tế công - thương nghiệp với thành thị là trung tâm, làm đòn bẩy cho kinh tế nông nghiệp phát triển Tại các thành thị, tầng lớp thương nhân ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế Nhiều thương nhân đã tích lũy được nhiều của cải lớn bằng các họat động kinh doanh và trở thành một lực lượng xã hội có thế lực, thậm chí có ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách của chính quyền trưng ương và các lãnh chúa địa phương

Sự phát triển kinh tế ở các thành thị đã thu hút một lực lượng lớn dân cư đến sống tại đây, từ thợ thủ công, thương nhân, đến một bộ phận nông dân rời bỏ làng quê Thành thị cũng là nơi đón nhận những người nông nhân di cư đi tìm việc lúc nông nhàn do thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp thường cao hơn sản xuất nông nghiệp Thực tế này cũng là một nguyên nhân khiến nhiều nông dân không còn thiết tha với công việc nông nghiệp và đi tìm công việc khác

Trang 39

Ngoài ra, chế độ gia trưởng dưới thời Edo cũng là một nguyên nhân góp phần làm tình hình đô thị hóa hóa và tập trung dân cư ở đô thị Theo chế độ này, chỉ có người con cả mới được quyền thừa kế tài sản, ruộng đất của cha ông để lại và con thứ, con gái hầu như không được thừa kế tài sản và phải trở thành tá điền, nhiều người trong số đó đã buộc phải chuyển sang buôn bán hoặc ra thành thị kiếm sống

“Edo, trung tâm chính trị của Nhật Bản là thành thị có mức độ tăng trưởng và tập trung dân số cao nhất Năm 1630, Edo mới có 500.000 dân thì năm 1695 đã có 904.000 dân và đến năm 1731 dân số Edo đã vượt lên 1.076.000 người đồng thời là thành thị có quy mô dân số lớn nhất thế giới Vào đầu thế kỷ XVII, cơ cấu dân số của Edo là: đẳng cấp võ sĩ chiếm 15%, các thành phần khác chiếm 37%, còn thương nhân và thợ thủ công chiếm 48%.” [11, tr 222]

Với 200 thành thị và cảng thị, dưới thời Edo đây thật sự là nơi tập trung những chuyển biến nổi bật nhất của kinh tế Nhật Bản đồng thời đóng vai trò dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế “Thời Edo, thành thị đã trở thành nhân tố quan trọng trong đời sống Nhật Bản, trong vấn đề chính quyền và kinh tế, trong việc hình thành nền văn hóa đại chúng và các trào lưu tri thức.” [11]

2.1.3 Chính sách Tỏa quốc

Tuy là một đảo quốc cách xa về địa lí với các nước chung quanh nhưng cho đến trước thời kì Edo, Nhật Bản luôn đặt trong sự giao lưu với các nước chung quanh Thực tế cho thấy, Phật giáo, Thiên Chúa giáo đều là kết quả của mối giao lưu văn hóa ấy Thời Edo, chính quyền Mạc phủ đã ban hành một chính sách gọi là

Tỏa quốc, nghĩa là đóng cửa giao lưu bên ngoài Chính sách này có sự ảnh hưởng

vô cùng to lớn đến mọi mặt xã hội Nhật Bản: kinh tế đến văn hóa đến xã hội, nghệ thuật

Chính sách Bế quan tỏa cảng của chính quyền Tokugawa chính thức bắt đầu từ năm 1637, dưới thời Tướng quân Iemitsu Trước đó, dưới thời Hideyoshi và tiếp

Trang 40

theo sau chính quyền Mạc phủ vẫn chủ trương mở rộng giao thương và giao lưu với các nước Nhiều tàu thuyền của các nước Phương Tây đã đến đây buôn bán và mở thương điếm tại Nhật Bản thời kì này, Thiên chúa giáo đồng thời cũng theo chân các giáo sĩ Phương Tây truyền đạo vào Nhật Bản và đã thu hút khá đông người dân Nhật Bản theo đạo Thiên chúa Nhận thấy những tín đồ Thiên chúa giáo ngày càng đông sẽ là mối đe dọa cho sự an nguy chủa chính quyền, và đỉnh điểm là cuộc khởi nghĩa của nông dân vùng Shimabara với đông đảo thành phần nông dân Thiên chúa, chính quuyền Mạc phủ đã đi đến quyết định thực thi chính sách bế quan quan tỏa cảng, chỉ chừa lại cảng Nagasaki ở phía Nam được cho tàu bè đi lại nhưng cũng rất hạn chế Chính sách này được thực thi suốt hơn hai trăm năm Mạc phủ Tokugawa

và thời kì này được cho là yên hàn nhất với sự tách bạch dân tộc trong lịch sử Nhật Bản

Hội họa Nhật Bản từ buổi đầu hình thành cho đến trước thời Edo luôn phát triển trong mối giao lưu thâm sâu với nền hội họa Đại lục Những ảnh hưởng từ nền hội họa Trung Hoa được tìm thấy rõ nét trong các giai đoạn trước Edo như đã trình bày ở phần trước Tuy nhiên, vào thời Edo, với chính sách bế quan tỏa cảng, tuy không phải đóng cửa hoàn toàn nhưng việc khép mình trong chính sách giao thương

và giao lưu với bên ngoài đã trở thành điều kiện cho nghệ thuật hội họa Nhật Bản phát triển một cách riêng tư hơn Sự giao lưu và tiếp nhận ảnh hưởng từ Trung Hoa không phải là chấm dứt nhưng bản sắc Nhật Bản đã được bộc lộ mạnh mẽ hơn bao

giờ hết Bên cạnh những bức họa phong cảnh vẽ theo lối Trung Hoa như Tám cảnh sông Tiêu-Tương theo bút pháp của phái Kano truyền thống, hội họa thời kì này tôn

vinh những bản tranh khắc gỗ tuyệt tác họa về ngọn núi Phú Sĩ của chính người Nhật, bên cạnh những bức chân dung của Khổng Tử, Trúc Lâm Thất hiền cũng của trường phái Kano treo thâm nghiêm nơi lâu đài, điện miếu, người Nhật đã hào hứng với những bức chân tươi mới của các thiếu nữ e ấp Nhật Bản đầy ắp hơi thở của cuộc sống đời thường Hơn bao giờ hết, chính sự “che chở” của chính sách Tỏa quốc mà yếu tố dân tộc trong hội họa Nhật bản được phát huy mạnh mẽ

Ngày đăng: 01/07/2023, 11:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thích Thiên Ân (1965), Lịch sử tư tưởng Nhật Bản, Đông Phương Xuất Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Nhật Bản
Tác giả: Thích Thiên Ân
Năm: 1965
2. Wendy Beckett (Lê Thanh Lộc biên dịch) (1996), Lịch sử hội họa, Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử hội họa
Tác giả: Wendy Beckett (Lê Thanh Lộc biên dịch)
Nhà XB: Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 1996
3. Nhật Chiêu (1996), Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong chiếc gương soi
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
4. Nhật Chiêu (2003), Văn học Nhật Bản, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Nhật Bản
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
5. Lam Điền (dịch theo Ken Johnson) (2007), Những họa sĩ bậc thầy Nhật Bản khai sáng hội họa Phương Tây, Thông tin Mỹ thuật, 17-18, tr. 27—31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin Mỹ thuật
Tác giả: Lam Điền (dịch theo Ken Johnson)
Năm: 2007
6. Lê Thanh Đức (1996), Hội họa truyền thống Nhật Bản, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội họa truyền thống Nhật Bản
Tác giả: Lê Thanh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
7. Lê Thanh Đức (2000), Hội họa ấn tượng, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội họa ấn tượng
Tác giả: Lê Thanh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
9. Nguyễn Phi Hoanh (1978), Một số nền mỹ thuật thế giới, Nhà xuất bản Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nền mỹ thuật thế giới
Tác giả: Nguyễn Phi Hoanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa
Năm: 1978
10. Phạm Cao Hoàn, Nguyễn Thị Vân (1997), Họa phái ấn tượng, Nhà Xuất bản Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họa phái ấn tượng
Tác giả: Phạm Cao Hoàn, Nguyễn Thị Vân
Nhà XB: Nhà Xuất bản Mỹ thuật
Năm: 1997
11. Nguyễn Quốc Hùng, Đặng Xuân Kháng, Nguyễn Văn Kim, Phan Hải Linh (2007), Lịch sử Nhật Bản, Nhà Xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng, Đặng Xuân Kháng, Nguyễn Văn Kim, Phan Hải Linh
Nhà XB: Nhà Xuất bản Thế giới
Năm: 2007
12. Thanh Lê (2003), Xã hội học Phương Tây, Nhà Xuất bản Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Phương Tây
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: Nhà Xuất bản Thanh Niên
Năm: 2003
13. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1997), Lịch sử Nhật Bản, Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 1997
14. Lê Thanh Lộc (biên dịch) (1998), Các nhà danh họa thế kỉ XIX – Gauguin (1848—1903), Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà danh họa thế kỉ XIX – Gauguin (1848—1903)
Tác giả: Lê Thanh Lộc (biên dịch)
Nhà XB: Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 1998
16. Lê Thanh Lộc (biên dịch) (1998), Các nhà danh họa thế kỉ XIX – Cezane (1839—1906), Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà danh họa thế kỉ XIX – Cezane (1839—1906)
Tác giả: Lê Thanh Lộc (biên dịch)
Nhà XB: Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 1998
17. Đặng Bích Ngân (2001), Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, Nhà Xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông
Tác giả: Đặng Bích Ngân
Nhà XB: Nhà Xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
18. Michael Kampen O'Riley (2005), Những nền Mỹ thuật ngoài Phương Tây, Nhà Xuất bản Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền Mỹ thuật ngoài Phương Tây
Tác giả: Michael Kampen O'Riley
Nhà XB: Nhà Xuất bản Mỹ thuật
Năm: 2005
19. Lê Văn Quang (1998), Lịch sử Nhật Bản, Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Lê Văn Quang
Năm: 1998
20. D. T. Suzuki (2000), Thiền, Nhà Xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền
Tác giả: D. T. Suzuki
Nhà XB: Nhà Xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
21. Phạm Hồng Thái (1999), Thần đạo Nhật Bản: khái niệm và lược sử, Nghiên cứu Nhật Bản, số 1 (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Nhật Bản
Tác giả: Phạm Hồng Thái
Năm: 1999
22. Phạm Hồng Thái (2002), Tính hiện thế và lạc quan trong tư tưởng Thần đạo Nhật Bản, Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1 (137) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á
Tác giả: Phạm Hồng Thái
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w