1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểu truyện con thỏ tinh ranh trong truyện cổ việt nam

154 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểu Truyện Con Thỏ Tinh Ranh Trong Truyện Cổ Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. Chu Xuân Diên
Trường học Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 687,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như đã trình bày ở trên, cho đến nay, chúng tôi chưa tìm được một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” trong kho tàng truyện cổ Việt Nam ngoài một v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS CHU XUÂN DIÊN

TP HỒ CHÍ MINH THÁNG 3 NĂM 2005

Trang 2

-

Trang 3

06 KẾT CẤU LUẬN VĂN 9

CHƯƠNG 1: NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN CỦA KIỂU TRUYỆN “CON THỎ

TINH - RANH” 10

1.2 NHÂN VẬT CON THỎ TINH – RANH VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC

NHÂN VẬT TRONG KIỂU TRUYỆN 13

1.2.1 Các nhân vật trong nhóm truyện thỏ - kẻ trợ thủ 14

1.2.1.1 Nhân vật gây tai họa 14

1.2.1.2 Nhân vật bất hạnh 17

1.2.1.3 Nhân vật con thỏ - kẻ trợ thủ 19

1.2.2 Các nhân vật trong nhóm truyện thỏ - kẻ chơi khăm 24

1.2.2.1 Nhân vật con thỏ - kẻ chơi khăm 24

1.2.2.2 Nhân vật nạn nhân 29

1.3 CỐT TRUYỆN CỦA KIỂU TRUYỆN “CON THỎ TINH – RANH” 31

1.3.2 Cốt truyện nhóm truyện thỏ - kẻ trợ thủ 34

1.3.3 Cốt truyện nhóm truyện thỏ - kẻ chơi khăm 38

1.4.1 Kết thúc truyện trong nhóm truyện thỏ - kẻ trợ thủ 42

1.4.2 kết thúc truyện trong nhóm truyện thỏ - kẻ chơi khăm 44

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ MOTIF THƯỜNG GẶP TRONG KIỂU TRUYỆN 49

Trang 4

CHƯƠNG 3: BƯỚC ĐẦU SO SÁNH KIỂU TRUYỆN “CON THỎ TINH –

RANH” Ở VIỆT NAM VỚI CÁC TRUYỆN CÙNG KIỂU CỦA MỘT SỐ NƯỚC

3.2 BƯỚC ĐẦU PHÂN TÍCH, SO SÁNH KIỂU TRUYỆN “CON THỎ TINH

3.2.1.1 Những tương đồng 100

3.2.1.2 Một số dị biệt 101

3.2.2.1 Cốt truyện trong nhóm truyện thỏ - kẻ trợ thủ 104

3.2.2.2 Cốt truyện trong nhóm truyện thỏ - kẻ chơi khăm 108

3.2.3.1 Những motif liên quan đến việc tạo tình huống truyện 112

3.2.3.2 Những motif liên quan đến hành động trợ thủ 114

3.2.3.3 Những motif liên quan đến hành động chơi khăm 117

PHỤ LỤC: DANH MỤC CÁC TRUYỆN THUỘC KIỂU TRUYỆN “CON THỎ

Trang 5

DẪN LUẬN

0.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Ở Việt Nam, truyện cổ được ghi chép từ rất sớm trong các tác phẩm

khởi đầu của nền văn học như: Báo cực truyện, Giao chỉ ký, Ngoại sử ký (thế kỷ XII), Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Lĩnh nam chích quái của Vũ Quỳnh,

Kiều Phú (thế kỷ XIV-XV) Tuy nhiên phải đến những năm đầu thế kỷ XX, hoạt động sưu tầm, biên soạn truyện cổ mới bắt đầu trở thành một hoạt động mang tính khoa học, một ngành khoa học độc lập Đồng thời với nó, hoạt động nghiên cứu truyện cổ cũng trở thành một hoạt động mang tính khoa học

Thừa hưởng và áp dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến, hiện đại của nghành folklore học thế giới như so sánh lịch sử – địa lý, so sánh lịch sử loại hình…nên trong mấy chục năm gần đây ngành nghiên cứu văn học dân gian của Việt Nam nói chung, lĩnh vực nghiên cứu truyện cổ nói riêng đã thu được nhiều thành tựu, đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng có tính chất lý luận về bản chất, cội nguồn, đặc trưng, tiến trình phát triển, phương pháp nghiên cứu thể loại Bên cạnh đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu về tác phẩm, các kiểu truyện, kiểu đề tài, kiểu nhân vật…cụ thể cũng góp phần minh giải được khá nhiều vấn đề còn tồn đọng lâu nay Những nỗ lực đó, những thành

Trang 6

tựu đó đã góp phần đưa hoạt động nghiên cứu văn học dân gian của Việt Nam rút ngắn khoảng cách so với khoa nghiên cứu văn học dân gian quốc tế

Trong tất cả những vấn đề cần được nghiên cứu của truyện cổ, nghiên cứu về kiểu truyện là một vấn đề rất quan trọng và cũng rất thú vị vì nó sẽ giúp ta thấy được rõ hơn về những nguyên tắc sáng tác truyền thống của một thể loại qua cách xây dựng nhân vật, cách xây dựng cốt truyện, cách dẫn dắt, xâu chuỗi những tình tiết, motif trong truyện

Tiếp cận với kho tàng truyện cổ Việt Nam, chúng tôi thấy rằng kiểu

truyện con thỏ tinh - ranh chiếm một số lượng khá lớn Nó có những đặc điểm

riêng về nhân vật, cốt truyện, hệ thống motif, thậm chí tập hợp trên đã tạo thành hệ thống Tuy vậy, cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nghiên cứu riêng hoàn chỉnh nào về kiểu truyện này Đây đó, trong các tuyển tập truyện cổ của các dân tộc hoặc trong những công trình nghiên cứu chung, chúng tôi bắt gặp một vài ý kiến ngắn nhằm minh họa cho một vấn đề nào đó hoặc những khảo sát sơ bộ trong những công trình nghiên cứu chung về loại hình

Trên cơ sở thực tế đó, chúng tôi chọn nghiên cứu kiểu truyện “Con thỏ tinh – ranh”, vì đây là một kiểu truyện quen thuộc, hấp dẫn và khá tiêu biểu trong

kho tàng truyện cổ Việt Nam Kiểu truyện này đồng thời cũng là một kiểu truyện có sự kết hợp nhiều motif cổ chung của nhiều dân tộc khác nhau trên đất nước ta và các nước khác trên thế giới Việc nghiên cứu kiểu truyện này do đó sẽ có thể đóng góp vào sự tìm hiểu sâu sắc hơn về những nét đặc sắc của truyện cổ người Việt trong quan hệ với truyện cổ các dân tộc Việt Nam cũng như trong quan hệ với truyện cổ thế giới Ngoài ra, nó sẽ giúp chúng tôi biết thêm nhiều điều bổ ích và cần thiết cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian của bản thân

Trang 7

0.2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Như đã trình bày ở trên, cho đến nay, chúng tôi chưa tìm được một

công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” trong

kho tàng truyện cổ Việt Nam ngoài một vài ý kiến nhận xét, đánh giá với mục đích minh hoạ trong những công trình nghiên cứu về những kiểu truyện khác, những vấn đề khác

Trong cả hai công trình Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước

cách mạng tháng 8-1945) (1981) của Phan Đăng Nhật và Văn học dân gian các

dân tộc ít người ở Việt Nam (1983) của Võ Quang Nhơn cũng không thấy nhắc

đến kiểu truyện này Có thực tế trên, theo chúng tôi có hai lý do:

- Tình hình sưu tầm truyện cổ – đặc biệt kiểu truyện này lúc đó chưa đủ số lượng để tạo nên “vấn đề” cho các nhà nghiên cứu tách riêng tìm hiểu;

- Mặt khác, trước đây các nhà nghiên cứu có thể đã không quan tâm lắm đến loại truyện cổ loài vật như một tiểu loại riêng, cho nên chưa có chuyên luận nào, công trình nào chuyên sâu về kiểu truyện này cũng là điều dễ hiểu

Sau này nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình Văn học dân

gian Việt Nam (1990) của mình đã tách truyện cổ tích loài vật thành một nhóm

riêng Tuy nhiên, ông chỉ mới dừng lại ở đó mà chưa đi sâu vào từng kiểu truyện,

chưa có nhận định riêng nào về kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” cả

Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (2001) của mình, nhà

nghiên cứu Lê Chí Quế đã có những nhận định gợi mở rất đáng quý cho chúng tôi

về kiểu truyện này Theo tác giả: “kết cấu phổ biến của những câu chuyện về con vật thông minh ( đôi khi láu cá) là sự chiến thắng của con vật bé hơn với con vật lớn hơn không phải bằng sức lực mà bằng trí” Từ nhận định chung đó, nhà nghiên

Trang 8

cứu đề cập đến kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” mà theo ông là điển hình của cả những câu truyện về con vật thông minh Nhận xét về nhân vật “Con thỏ tinh – ranh”, Ông cho rằng “con thỏ bé nhỏ nhưng nhanh nhẹn, thông minh đã lập mưu lừa được cả voi, hổ, cá sấu là những con vật to khoẻ và độc ác” [59; 116-117]

Nhưng với một giáo trình văn học dân gian, tác giả chưa có điều kiện đi sâu vào từng kiểu truyện, từng nhân vật như mong đợi của chúng ta được

Bên cạnh đó, trong lời giới thiệu của một số tập truyện cổ các dân tộc thiểu số, chúng tôi cũng ghi nhận được một vài ý kiến như kiểu nhận định trên

Chẳng hạn như nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng trong lời giới thiệu của Truyện

cổ Khơ Me Nam Bộ đã xếp thỏ thuộc “nhóm nhân vật nhỏ bé, có nhiều đức tính

đáng quý như thông minh, mưu trí, dũng cảm” [72; 13]; Y Thi trong Truyện cổ

M’nông cũng cho rằng “nhân vật con thỏ tinh ranh có cách ứng xử cực kỳ thông

minh trong mọi tình huống Trí tưởng tượng nhiều khi phát triển một cách phong phú không lường trước được,… Sự phóng đại, nói ngoa là thủ pháp thuyết phục của loại truyện này Nhờ vậy mà tình tiết, xung đột xảy ra sau bao giờ cũng được đẩy lên ở mức độ đột ngột, éo le, bất ngờ cao hơn những tình tiết, xung đột xảy ra

trước” [82; 19-20]; trong lời giới thiệu cho tập Truyện cổ Cơ ho, khi đề cập đến

kiểu truyện “có chất trí tuệ” này, nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn cho rằng “loại truyện này nhằm ca ngợi những con vật tuy bé nhỏ, nhưng thông minh, mưu trí, có khả năng đánh bại những con vật to lớn, hung ác” [65; 8] Ngoài ra, chúng ta có

thể thấy những nhận định như thế trong các lời gới thiệu của của các công trình

sưu tầm như Truyện cổ Xê đăng của Ngô Vĩnh Bình hay Truyện cổ Ê đê của Y Điêng – Hoàng Thao hoặc Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn Tây Nguyên…

Trang 9

Mặc dù các ý kiến trên mới chỉ dừng lại ở mức chung chung nhưng nó thực sự đã có những gợi mở rất đáng quý giúp chúng tôi khi trình bày luận văn của mình

Như vậy, dù chưa có một công trình nghiên cứu riêng, cụ thể nào về

kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” ở Việt Nam, nhưng để thực hiện đề tài trên,

chúng tôi không thể phủ nhận việc đã được thừa hưởng thành quả của nhiều công trình sưu tầm và nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó có cả những công trình khảo sát, nghiên cứu lý luận và những công trình sưu tầm, tập hợp truyện cổ Tất cả đã giúp cho người viết rất nhiều về mặt phương pháp luận cũng như có được những cốt truyện cùng các dị bản về kiểu truyện này để khảo sát và nghiên cứu Có thể kể đến những công trình nổi tiếng như công trình sưu tầm, khảo sát đồ sộ

của tác giả Nguyễn Đổng Chi: “ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” - 2 tập; công trình: “ Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám” của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh; công trình “Tìm hiểu tiến trình văn học dân

gian Việt Nam” của nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh; công trình “ Truyện cổ tích người Việt – đặc điểm cấu tạo cốt truyện” của nhà nghiên cứu Tăng Kim Ngâân;

công trình “Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif” của nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Đắc; công trình “Văn học dân gian mấy vấn đề phương pháp luận

và thể loại” của nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên; công trình “ Văn học Việt Nam, văn học dân gian - những công trình nghiên cứu” do Bùi Mạnh Nhị chủ biên;

công trình “Nhân vật xấu xí mà tài ba” trong truyện cổ tích Việt Nam” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Huế; công trình “Kiểu truyện “Người em út” trong kho

tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Lê Thị Thanh An; công trình “Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á” của Nguyễn Bích

Hà; công trình “Đặc điểm truyện cổ Mạ – K’Ho (Lâm Đồng)” của Lê Hồng

Trang 10

Phong…Bên cạnh đó, còn phải nhắc đến những tuyển tập sưu tầm, biên dịch,

tuyển chọn truyện cổ trong và ngoài nước của rất nhiều các tác giả khác như Lê

Chí Quế, Chu Xuân Diên, Nguyễn Tấn Đắc, Trần Nho Thìn, Đặng Nghiêm Vạn, Tạ Văn Thông, Ngô Vĩnh Bình, Huỳnh Ngọc Trảng, Y Thith …

Tóm lại, những công trình nghiên cứu đi trước thực sự đã giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài của mình, cả ở những điều đã giải quyết được và những gì mà các tác giả chưa đề cập đến, chưa làm thoả mãn người đọc Những gợi mở, những gì còn bỏ ngỏ đó đã thúc bách chúng tôi tiếp bước vào vấn đề trên

0.3 PHẠM VI ĐỀ TÀI.

0.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả những truyện cổ có nhân vật trung tâm là con thỏ tinh - ranh trong

kho tàng truyện cổ của các dân tộc sinh sống trên mảnh đất Việt Nam đều là đối tượng nghiên cứu của luận văn này Như vậy, đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những truyện phải thỏa mãn hai tiêu chí:

- Nhân vật trung tâm, nhân vật chính của truyện phải là con thỏ;

- Nhân vật thỏ này phải có tính cách tinh - ranh

Như vậy, chúng tôi sẽ loại trừ những truyện có nhân vật trung tâm là con thỏ

nhưng nhân vật này không có tính cách tinh – ranh, chẳng hạn như truyện “Sự tích thỏ trên mặt trăng” và truyện “Thỏ phân phát đuôi cho các loài vật” của dân tộc Kh’mer Hoặc những truyện có nhân vật chính mang tính cách tinh - ranh, thông minh nhưng nhân vật đó là một con vật khác như rùa, khỉ, cáo… cũng không thuộc, chưa thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn này

Theo những tiêu chí trên, dựa vào hơn 20 tuyển tập truyện cổ của các dân tộc anh em, đến nay chúng tôi tập hợp được trong tay 58 dị bản về kiểu

Trang 11

truyện “Con thỏ tinh – ranh” trong kho tàng truyện cổ các dân tộc Việt Nam Đây

là tài liệu chính để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này Ngoài ra, khi cần thiết chúng tôi mở rộng so sánh với một số truyện khác trong kho tàng truyện cổ Việt Nam

0.3.2 Những nội dung chính.

Chúng tôi đặt tên cho đề tài là Kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh”

trong truyện cổ Việt Nam Chúng tôi dùng cụm từ “con thỏ tinh – ranh” chứ

không phải “con thỏ thông minh” hay “con thỏ ranh mãnh” …Bởi theo chúng tôi, tính từ “thông minh” mang tính chất đề cao, ngợi khen; còn tính từ “ranh mãnh” thì lại có xu hướng phê phán Nhưng nhân vật con thỏ trong kiểu truyện này lại mang hai nét tính cách, có lúc nó giúp đỡ kẻ gặp nạn vượt qua thử thách nhưng cũng có khi nó quấy phá, chơi khăm bạn bè, đối thủ Do vậy, chúng tôi dùng tính từ kép

“tinh - ranh” để đặt tên cho kiểu truyện này

Với đề tài Kiểu truyện”Con thỏ tinh – ranh” trong truyện cổ Việt Nam,

nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra là nghiên cứu nhân vật, cốt truyện, hệ thống motif của kiểu truyện để làm nổi rõ lên nét đặc sắc của kiểu truyện này Như vậy, mục đích của luận văn này mới dừng lại ở mức khảo sát kiểu truyện Các vấn đề liên quan đến nguồn gốc, sự phát triển lịch sử, sự di chuyển các cốt truyện…sẽ được chúng tôi đề cập đến ở một cấp độ khác

Khi đặt vấn đề nghiên cứu kiểu truyện, đồng thời với việc nghiên cứu kết cấu, cốt truyện là việc nghiên cứu về nhân vật của kiểu truyện này Bởi cốt truyện là một phạm trù thẩm mỹ quan trọng nhất của truyện cổ, còn nhân vật lại không thể tách rời khỏi những yếu tố nhất định của kết cấu, cốt truyện

Ngoài ra, nhận thấy rằng, tính cách tinh - ranh là điểm đặc sắc của kiểu

truyện mà thể hiện rõ nhất qua những mưu mẹo, mánh khóe của nhân vật chính,

Trang 12

nên chúng tôi đã dành trọn chương hai để khảo sát vấn đề này qua việc tìm hiểu một số motif thường gặp trong kiểu truyện

Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề mà phạm vi đề tài đặt ra Trên cơ sở những tìm hiểu về nhân vật, cốt truyện, motif, chúng tôi bước đầu so sánh kiểu truyện này ở Việt Nam và một số truyện cùng kiểu của các nước Đông Nam Á Sự so sánh này có mục đích

tìm ra những nét tương đồng và những nét đặc sắc, độc đáo của kiểu truyện “Con

thỏ tinh – ranh” của Việt Nam so với các truyện cùng kiểu trong khu vực

0.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Để thực hiện đề tài này, trước hết chúng tôi tập hợp đầy đủ tới mức độ điều

kiện cho phép những dị bản thuộc kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” của các dân

tộc Việt Nam Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành khảo sát kiểu truyện này theo phương pháp phân tích kiểu truyện và motif Ngoài ra, trong phạm vi tư liệu cho phép chúng tôi sẽ mở rộng việc nghiên cứu so sánh đối chiếu với một số truyện cùng kiểu của các nước Lào, Myanma, Campuchia

Tiến trình nghiên cứu sẽ được thực hiện qua các bước như sau:

- Khảo sát đặc điểm nhân vật “Con thỏ tinh - ranh”

- Khảo sát cốt truyện của kiểu truyện

- Khảo sát một số motif chính thường gặp của kiểu truyện

- So sánh kiểu truyện này trong kho tàng truyện cổ Việt Nam với

một số truyện của các nước Lào, Myanma, Campuchia

0.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN.

Như đã trình bày ở phần trên, đây là một đề tài chưa có ai nghiên cứu sâu

cả Chính vì thế, khi chọn tìm hiểu, nghiên cứu về kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” trong kho tàng truyện cổ Việt Nam, mục đích của chúng tôi là góp phần

Trang 13

phác họa nên bức chân dung tương đối đầy đủ về kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” Đặc biệt, chúng tôi đã dành trọn chương hai để tìm hiểu về những mưu mẹo

của nhân vật con thỏ- mà theo chúng tôi là nội dung cơ bản, là nét đặc sắc riêng của kiểu truyện này

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” còn có

thể đóng góp vào việc hiểu rõ thêm về những đặc trưng của thể loại, những nguyên tắc sáng tác trong văn học dân gian nói chung, truyện cổ nói riêng – một lĩnh vực vốn đang được quan tâm, chú ý và ngày càng thu được nhiều thành tựu

0.6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN.

Ngoài phần “Mục lục” “Dẫn luận” và “Kết luận”, “Tài liệu tham khảo”, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương:

- Chương 1: Nhân vật và cốt truyện của kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh”

- Chương 2: Một số motif thường gặp trong kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh”

- Chương 3: Bước đầu so sánh kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” ở Việt

Nam với các truyện cùng kiểu của một số nước Đông Nam Á

Trang 14

Qua thống kê sơ bộ cho thấy, tuy mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng kiểu truyện này có mặt ở khá nhiều dân tộc ở nhiều địa phương khác nhau trong cả nước từ các dân tộc vùng Việt Bắc, Tây Bắc, các dân tộc vùng duyên hải miền Trung đến các dân tộc Trường Sơn Tây Nguyên, Nam bộ…Có dân tộc chỉ sưu tầm được một dị bản truyện (như dân tộc Chu ru, dân tộc Tày, dân tộc Cà tu, dân tộc

Ka dong…) và cũng có dân tộc đã sưu tầm được từ hai, ba di bản trở lên (như dân tộc Tà ôi, dân tộc Ba na, dân tộc Xê đăng) Chúng tôi mới sưu tầm được 4 truyện của dân tộc Mạ, 5 truyện của dân tộc Cơ ho Nhưng theo ông Lê Hồng Phong [55;

72], số truyện thuộc kiểu truyện “Con thỏ tinh – ranh” của hai dân tộc này là 24

Rất tiếc là hiện nay số truyện trên chưa được tác giả công bố nên chúng tôi chưa có điều kiện tham khảo, nghiên cứu Đến nay, chúng tôi thấy kiểu truyện này tập trung nhiều nhất ở các dân tộc Kh’mer (7 truyện), dân tộc M’nông (9 truyện), dân

Trang 15

tộc Ê đê (13 truyện) Kiểu truyện này ở dân tộc Kinh không nhiều nhưng cũng có

một số dị bản khá đặc sắc như: truyện “Voi, cọp thi tài” của Nguyễn Văn Ngọc Truyện này khá giống với truyện “Voi, hổ, thỏ và khỉ” trong bản kể của Chu Xuân Diên – Lê Chí Quế, truyện “To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn” trong bản kể của

Nguyễn Đổng Chi Ngoài truyện này ra, trong cả hai bản kể của Nguyễn Đổng

Chi và của Chu Xuân Diên – Lê Chí Quế đều có các truyện ”Mưu con thỏ”, “Con thỏ, con gà và con hổ”, “Con thỏ và con hổ” Cả ba dị bản này đều giống nhau

trong hai bản kể của Nguyễn Đổng Chi và của Chu Xuân Diên – Lê Chí Quế Trong luận văn của mình, chúng tôi sử dụng bản của Nguyễn Đổng Chi

Sự xuất hiện nhiều bản kể ở nhiều dân tộc như vậy chứng tỏ truyện kể về

kiểu truyện “Con thỏ tinh – ranh” trong truyện cổ Việt Nam rất phổ biến và đa

dạng Song chúng cũng có những nét tương đồng trong cách kết cấu, trong sự lặp

đi lặp lại hoặc sự phái sinh của các tình tiết Do vậy, chúng tôi thực sự có thể tiến hành nghiên cứu những truyện kể này với tư cách là một tập hợp những dị bản của

một đề tài độc lập – đề tài kiểu truyện “Con thỏ tinh – ranh”

Để nghiên cứu đề tài này, công việc đầu tiên của chúng tôi là tập hợp tất cả các dị bản của các dân tộc được xem là thuộc kiểu truyện nay Sau khi tập hợp xong về tài liệu văn bản truyện, chúng tôi tiến hành bước thứ hai – một bước rất quan trọng, đó là tiến hành phân nhóm kiểu truyện này Đây là một thao tác hết

sức khó nhưng cũng hết sức quan trọng và cần thiết Bởi “phân loại đúng là một trong những bước đầu tiên của phương pháp miêu tả khoa học Vấn đề phân loại đúng là điều kiện để có thể nghiên cứu đúng” [56; 20] Chúng tôi nhận thức rằng sự phân loại là cơ sở cho việc nghiên cứu nhưng bản thân nó cần phải là kết quả của một công trình có sự chuẩn bị nhất định, cần dựa trên một cơ sở khoa học

Khảo sát tình hình thực tế các dị bản, chúng tôi nhận thấy rằng điểm chung của

Trang 16

kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” là nhân vật chính của kiểu truyện luôn dùng các

mưu mẹo, mánh lới của mình để hành động Nhưng mưu mẹo, mánh lới này được thỏ dùng vì mục đích gì? dùng cho đối tượng nào? dùng như thế nào? Khi trả lời những câu hỏi này, chúng tôi nhận thấy có thể phân chia các dị bản thành hai nhóm chính sau:

Ở nhóm truyện thứ nhất thỏ xuất hiện trong vai kẻ trợ thủ, ra tay nghĩa hiệp giúp đỡ nhân vật nạn nhân vượt qua thử thách Nó không xuất hiện từ đầu truyện

mà đợi khi có tình huống truyện xuất hiện mới có mặt Trong nhóm truyện thứ hai,

thỏ xuất hiện từ đầu trong vai trò một kẻ chơi khăm, chuyên đi chọc tức, đùa giỡn

với các con vật khác Từ đầu truyện, tác giả dân gian đã cho chúng ta một lý lịch trích ngang về nhân vật này

Trong truyện cổ, tâm lý nhân vật không được mô tả nên nhân vật phát triển

theo các tuyến hành động Do đặc điểm này nên chúng ta thấy ứng với từng tính cách, từng vai trò, từng hành động khác nhau của nhân vật chính thì sẽ có những tuyến nhân vật khác nhau Theo logic của cốt truyện, nhóm truyện thỏ đóng vai trợ thủ thường có ba nhân vật Có nhân vật hống hách hay gây tai hoạ tất sẽ có nhân vật nạn nhân Hai nhân vật này xuất hiện trước tạo tình huống truyện để nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ xuất hiện Nhóm truyện thỏ xuất hiện trong vai kẻ chơi khăm

thường chỉ có hai nhân vật tham gia vào cốt truyện: thỏ là kẻ chuyên đi quấy rối,

chơi khăm các con vật khác và nhân vật nạn nhân của trò chơi khăm đó

Ở nhóm truyện thỏ – kẻ chơi khăm, mỗi truyện thường gồm có nhiều mẩu xâu chuỗi với nhau – nên truyện có dung lượng dài hơi hơn Do đó, số mẹo lừa được sử dụng trong nhóm truyện này nhiều hơn nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ Trong lúc đó, nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ mỗi truyện đồng nghĩa với một mẩu

Trang 17

Truyện kết thúc khi công việc trợ thủ được làm xong Các truyện trong nhóm này tồn tại độc lập với nhau

Trên đây là ba điểm không giống nhau giữa hai nhóm truyện Ba điểm này, tạm thời được chúng tôi sử dụng như những tiêu chí để phân nhóm kiểu truyện

“Con thỏ tinh – ranh” Trên tình hình thực tế của tài liệu như vậy, chúng tôi phân chia 58 dị bản thuộc kiểu truyện “Con thỏ tinh – ranh” thành hai nhóm:

- Nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ;

- Nhóm truyện thỏ – kẻ chơi khăm

Chúng tôi sẽ tìm hiểu hệ thống nhân vật, kết cấu của kiểu truyện theo cách phân loại này

1.2 NHÂN VẬT CON THỎ TINH – RANH VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NHÂN VẬT KHÁC TRONG KIỂU TRUYỆN

Kiểu truyện “Con thỏ tinh – ranh” thuộc truyện cổ tích động vật Cũng như

các truyện cổ tích động vật khác, kiểu truyện này có sự kết hợp những điều quan sát hiện thực về thế giới loài vật với trí tưởng tượng nhân cach hóa giới tự nhiên

Ở Việt Nam, tính chất cổ xưa của truyện loài vật đã bị pha trộn với khuynh hướng của người đời sau mượn truyện loài vật để nói về xã hội loài người, do đó giữa loại truyện này với truyện ngu ngôn có những trường hợp không có sự phân biệt thật rạch ròi

Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, là công cụ, phương tiện để tác giả thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Do đó muốn hiểu và nắm được chủ đề tác phẩm thì trước hết phải tìm hiểu hệ thống nhân vật trong tác phẩm Tùy từng góc độ khác nhau có thể chia nhân vật thành nhiều kiểu loại khác nhau như nhân vật chính - nhân vật phụ, nhân vật chính diện – nhân vật phản diện, nhân vật tính cách, nhân vật loại hình…

Trang 18

Nhân vật truyện cổ tồn tại chủ yếu qua hành động, được nhận diện qua hành động Ngay cả các mưu mẹo trong kiểu truyện này cũng được miêu tả như những hành động mà thôi chứ chưa có quá trình phát triển tâm lý Do tính truyền miệng quy định nên nhân vật truyện cổ thường có tính cách cô đọng, đơn giản nhưng nó vẫn luôn có giá trị khái quát cao và bền vững

1.2.1 Các nhân vật trong nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ.

Ở nhóm truyện này, nhân vật gây tai hoạ, nhân vật nạn nhân, nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ kết thành bộ ba với nhau Bởi theo logic của cốt truyện, có kẻ gây tai

họa tất phải có nạn nhân; có nạn nhân, có những bất công mới cần sự xuất hiện

của nhân vật trợ thủ để giúp đỡ Sự xuất hiện của nhân vật gây tai họa, nhân vật nạn nhân tạo tình huống truyện cho nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ xuất hiện và “ra tay”

giúp đỡ

1.2.1.1 Nhân vật gây tai họa

Xin điểm qua một số gương mặt thường xuất hiện trong vai này

Xã hội các tộc người như Ê đê, M’nông, Cơ ho, Mạ, Xê đăng, Ba na…về cơ bản đang ở trong thời kỳ quá độ từ xã hội chưa phân hoá giai cấp rõ rệt bước vào xã hội hiện đại Nhưng trong cơ cấu tổ chức tộc người có M’tao, Bôk Dớ, Pơ tao, chủ bon…là những người vừa có tài sản, vừa có địa vị Khoảng cách bắt đầu có Sự phân biệt giàu nghèo đã manh nha hình thành Trong quan niệm dân gian những con người này có gì đó cao quý, quyền uy nhưng cũng bắt đầu xuất hiện những nét tính cách đi ngược với quyền lợi và mong ước của dân gian

Ông cậu cũng là một nhân vật thường gặp trong vai này Như chúng ta biết, trong chế độ hôn nhân gia đình mẫu hệ, cậu cũng là đại diện cho mẫu hệ, cho mẹ và cho dòng mẹ Sau khi người mẹ qua đời, cậu là kẻ có quyền định đoạt cuộc sống cho cháu mình Lợi dụng vị thế và quyền hạn đó, nhân vật cậu đã có những

Trang 19

thái độ, cách cư xử độc ác đối với người cháu của mình Nhân vật cậu ở đây tương đồng về tính cách với nhân vật dì ghẻ trong cổ tích các tộc người đã bước vào xã hội có giai cấp

Nhân vật thường gặp nhất trong vai này là cọp (hổ), bởi trong quan niệm của các dân tộc, cọp luôn được xem là nhân vật hung bạo, độc ác hay ăn thịt người

và các con vật khác Nói chung đây là con vật “bề trên”, nhân vật ít khi chiếm

được cảm tình của dân gian

Dù đó là cọp, ông cậu, M’tao hay một con vật nào khác thì vẫn gặp nhau ở

tính cách của nhân vật gây tai họa, đó là hống hách, độc ác, tham lam nhưng khờ

dại, ngu ngốc Chính vì vậy, ngay từ khi vào truyện, ở phần giới thiệu nhân vật tác giả dân gian đã không úp mở gì nữa về nhân vật này Hàng loạt tính từ chỉ sự độc ác, nhiều động từ mạnh chỉ sự tàn bạo được tác giả dân gian sử dụng trong phần giới thiệu này:

-“Ngày xưa một khu rừng nọ có con cọp rất hung dữ” (Thỏ, voi, cọp, khỉ –

dân tộc Cờ tu);

- “Trong một khu rừng nọ có con cọp dữ và một con heo rừng hung hãn (…) Các con vật đều không thể nào sống yên ổn được với hai con thú hung ác

này”.(Vì sao thỏ tai dài đuôi ngắn? – dân tộc Mạ)

- “Trong một khu rừng sâu có con Azếch rất độc ác Azếch gặp các con thú khác ở đâu cũng bắt ăn thịt “ (Con thỏ thông minh – dân tộc Cờ tu)

- “Ngày xưa trong một khu rừng già kia, có con sư tử tự xưng làm chúa tể sơn lâm (…) Hàng ngày nó ra lệnh cho các loài thú phải lần lượt thay phiên

nhau đến nộp mạng” (Thỏ làm chúa tể sơn lâm - dân tộc Tày)

- “Cọp lại có tính xấu, bụng đói là ăn luôn không còn nhớ ai là bạn thân

thiết của mình” (Cọp sợ thỏ – dân tộc M’nông)

Trang 20

- “Trong rừng có giống hổ, ai cũng biết hắn hung ác và kiêu ngạo, đến cả

người con sợ hắn” ( Hổ và thỏ – dân tộc Tà ôi)

- “Một chàng trai chuyên sống bằng nghề săn bắn nhưng hễ cứ bắn được con

nào là cọp thọt lại cướp mất Chàng bỏ nghề săn ra sông đánh cá Nhưng cọp thọt lại theo anh ta ra sông đòi lấy cá của anh Không cho thì sợ cọp ăn

thịt” (Cọp thọt, thỏ và chàng trai nghèo – dân tộc Dao)

- “Nhà ông cậu giàu có nhất làng (…) Ông cậu lúc nào cũng mặc quần (mới – ĐQMD) áo đẹp, mặt lúc nào cũng uống rượu đỏ gay, đỏ gắt như mào con

gà trống.Ấy vậy mà tính ông rất hẹp hòi, bủn xỉn và độc ác” (Thỏ giúp

người đòi nợ – dân tộc Cơ ho)

Dựa vào uy thế, vị trí của mình, các nhân vật này thường gây nên những bất công, tai họa, thậm chí đe dọa đến tính mạng cho các nhân vật khác Chẳng hạn

như cọp cướp thịt nai, đòi ăn thịt người thợ săn một cách vô cớ (Thỏ, người và cọp – dân tộc Mạ); cọp đòi em bé nộp mạng (Cái rìu của thỏ – dân tộc Cơ ho); ông cậu gian giảo cướp thỏi sắt của cậu bé mồ côi (Thỏ giúp người đòi nợ – dân tộc Cơ ho); mang định ăn thịt loài tép (Thỏ cứu loài tép – dân tộc M’nông); sư tử bắt muông thú phải nộp mạng (Thỏ làm chúa tể sơn lâm- dân tộc Tày); hổ đòi ông Va

- gập nộp mạng (Thỏ xử kiện – dân tộc Ê đê); cọp cướp mất thịt, cá của chàng thợ săn (Cọp thọt, thỏ và chàng trai nghèo – dân tộc Dao)…Tai họa nhiều nhưng tựu

trung có thể chia làm hai loại: một loại liên quan đến tài sản, của cải (cướp trâu bò, sắt, thịt săn…) và một loại liên quan đến tính mạng, quyền sống Hay nói theo

cách nhìn của đạo đức học, một loại tai họa thể hiện sự bất công, một loại thể hiện sự bất nhân

Uy thế, khả năng thao túng của nhân vật gây tai họa rất lớn Phần lớn phán

quyết của nó đều là bất công, bất nhân Các lí lẽ của nhân vật này đưa ra đều là

Trang 21

nguỵ biện nhưng đó lại là “cái lí của kẻ mạnh”: trâu của em bé chăn trâu mới đẻ vậy mà lão cọp đến bảo “nghé là do trâu đực của lão đẻ ra” (Thỏ và Y Rít – dân

tộc Ê đê)

- “Hai người nuôi trâu nhốt chung chuồng trâu đực lẫn trâu cái Một đêm trong chuồng sinh đẻ thêm được một chú nghé Sáng ra cả hai người đều giành trâu của mình” (Thỏ xử kiện – dân tộc M’nông)

- “Tao phải ăn thịt mày để trả món nợ ấy Mày bắn chết nai của tao (thực ra đó là nai rừng – ĐQMD), lại còn dọa tao sợ nữa” (Thỏ, người và cọp – dân

tộc Mạ)

- “Con bò nhà tao không phải đẻ ra con bò con, mà lại đẻ ra một con dê ghẻ lở (…)Cả ba mươi thanh sắt mày đã đưa cho tao, chỉ được mấy hôm đã bị mọt ăn hết” (Thỏ giúp người đòi nợ – dân tộc Cơ ho)

Hoặc giả nếu nhân vật nạn nhân có lỗi thì lỗi đó chưa đủ để nhận một hình

phạt nặng nề là nộp mạng như trong hai dị bản “Thỏ xử kiện” (dân tộc Ê đê) và

“Cái rìu của thỏ” (dân tộc Cơ ho) Người thợ săn, cậu bé chăn trâu ở trong tình thế

“tiến thoái lưỡng nan” Giữ đúng lời thề với cọp thì bị mọi người quy cho tội

“malai” – đồng nghĩa với cái chết, hoặc bị cha mẹ phiền trách; còn nếu để lộ bí mật kia cũng đồng nghĩa với việc phải nộp mạng Cuối cùng, bị dồn vào thế chân tường, người thợ săn, cậu bé chăn trâu chọn giải pháp “vi phạm điều cấm kỵ” Cọp

xuất hiện và đòi nộp mạng Trước sự áp đặt trắng trợn đó, trước những bất công

này các nhân vật nạn nhân chỉ biết chấp nhận, chịu đựng Tưởng như mọi chuyện sẽ không thể cứu vãn nhưng may thay có sự xuất hiện của thỏ – kẻ trợ thủ

1.2.1.2 Nhân vật bất hạnh.

Nhân vật bất hạnh là những con người, những con vật phải hứng chịu những bất công, bất nhân mà nhân vật gây tai họa đẩy đến Đây là những kẻ thấp cổ bé

Trang 22

miệng, không có địa vị trong xã hội, trong thế giới loài vật, chẳng hạn như người cháu mồ côi, đứa bé chăn trâu, ông Va - gập, người thợ săn, loài tép, con voi thua cuộc, Y Rít đơn nghèo, chàng trai nghèo…Trái với tính cách độc ác, hống hách

của nhân vật gây tai họa, nhân vật bất hạnh là những kẻ hiền lành, chăm chỉ, cô

thân cô thế, có hoàn cảnh đáng thương:

- “Ông Va - gập là người thợ săn giỏi nổi tiếng” (Thỏ xử kiện – dân tộc Ê

- “Ở một làng nọ, có một cậu bé cha mẹ đều mất sớm cả, hàng ngày phải lên rừng đốn củi nuôi thân Cậu bé nghèo đến nỗi không có một tấm áo để mặc, một cái xà gạc để phát rẫy” (Thỏ giúp người đòi nợ – dân tộc Cơ ho)

- “Có một người vừa mới cưới vợ, anh ta rất yêu quý vợ Cả ngày chẳng

muốn rời xa nửa bước Một bữa kia, nhà vua bắt lính đi đánh nhau Anh ta phải đi lính, trong lòng rất đau khổ vì phải xa vợ” (Thỏ xử kiện yêu tinh phải thua – dân tộc Kh’mer)

Trong những cuộc tranh luận, lí lẽ của nhân vật nạn nhân là trung thực,

đúng sự thật nhưng nhân vật này vẫn luôn là kẻ thua cuộc Bởi đây không phải là

cuộc chiến chính nghĩa – phi nghĩa mà đây là cuộc chiến kẻ mạnh – kẻ yếu Cuộc chiến này tuân theo quy luật “mạnh được, yếu thua” – một quy luật đấu tranh sinh

tồn Với thân phận, địa vị nhỏ bé trong xã hội, trong thế giới loài vật nên khi gặp

những “tai bay vạ gió”, tiếng nói, lý lẽ của nhân vật nạn nhân sẽ bị khước từ,

Trang 23

không có tác dụng Do đó, bất lực, cam chịu là tình trạng thường gặp của nhân vật nạn nhân trong cuộc chiến này hoặc giả nếu có kêu than thì đó là những tiếng kêu trong tuyệt vọng Voi chỉ còn sống đến sáng mai (Thỏ khôn ngoan – dân tộc Kh’mer) Loài tép bị “mang chặn hai đầu suối tát để ăn thịt” (Thỏ cứu loài tép – dân tộc M’nông) Cậu bé mồ côi “khóc oà lên, chạy về nhà và khóc nức nở suốt dọc đường” (Thỏ giúp người đòi nợ – dân tộc Cơ ho) Ông thợ săn Va - gập “lo buồn lắm vì không còn cách nào trốn thoát khỏi sự đòi nợ (đòi nộp mạng – ĐQMD) của hổ” (Thỏ xử kiện – dân tộc Ê đê) Nói chung, đến đây sự bế tắc đã lên đến đỉnh điểm, sự mâu thuẫn lên đến mức cao trào

Nhưng thử thách được đặt ra cần phải tìm cách giải quyết Bế tắc gặp phải cần mở lối khai thông Cốt truyện sẽ không thể tiếp tục phát triển được nếu không

có sự tiếp nối này Đó cũng là logic của truyện Chính lúc mâu thuẫn giữa hai nhân vật lên đến đỉnh điểm, cốt truyện đã ngầm mở ngỏ một hướng giải quyết mới Hướng giải quyết này xuất hiện cùng đồng thời với sự xuất hiện nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ

1.2.1.3 Nhân vật con thỏ – kẻ trợ thủ.

Như chúng ta đã theo dõi diễn tiến truyện, đây đang là “thời điểm quyết định” nên những nhân vật xuất hiện lúc này cũng phải là những nhân vật có khả năng khai thông cho vấn nạn, có khả năng xoay chuyển thế cuộc Thỏ – kẻ trợ thủ

là nhân vật xuất hiện trong thời điểm như vậy Nó là nhân vật chính, nhân vật

trung tâm của kiểu truyện Nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ đóng vai trò quan trọng trong diễn biến của cốt truyện, nó xuất hiện để giúp đỡ nhân vật nạn nhân vượt qua thử thách Chính vì thế, nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ chỉ xuất hiện khi có tình huống

truyện cần được giúp đỡ, khi có bế tắc cần phải giải quyết

Trang 24

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ xuất hiện trong

nhóm truyện này theo một số cách sau:

*Nhân vật bất hạnh tìm đến thỏ để nhờ giúp đỡ

Điều này chứng tỏ rằng, thỏ vốn đã rất nổi tiếng là một nhân vật có tài phân

xử, luôn sẵn lòng giúp đỡ nhân vật bất hạnh Phán quyết, tiếng nói của thỏ đủ tình, vững lý và điều quan trọng hơn là đủ uy lực để nhân vật gây tai hoạ phải quy

hàng, phải tuân phục

- “Sáng ra cả hai người đều giành trâu của mình đẻ Sự việc cuối cùng chẳng dàn xếp được bèn mời thỏ đến xử giúp” (Thỏ xử kiện – dân tộc

*Nhân vật bất hạnh tình cờ gặp thỏ Nhưng đây cũng là “sự tình cờ” hay

gặp trong truyện cổ

- “Chợt có một chú thỏ từ trong bụi chạy ra, chặn đường lão và hỏi “ (Thỏ và lão M’tao to bụng – dân tộc Ê đê)

- “Thỏ gặp một em bé chăn trâu đang ngồi khóc, thỏ động lòng thương” (Thỏ và Y Rít – dân tộc Ê đê)

- “Bỗng có tiếng sột soạt trong rừng, Rít quay lại nhìn thấy một con thỏ lông trắng(…) lại nghe thấy lá rừng sột soạt Thỏ trắng lại hiện lên” (Rít– dân tộc

Bana)

Trang 25

- “Sắp đến nơi hẹn, bỗng cậu bé nhìn thấy một con thỏ già đang cầm một chiếc rìu” (Cái rìu của thỏ – dân tộc Cơ ho)

Trong truyện cổ tích thần kỳ, cổ tích sinh hoạt, nhân vật trợ thủ thường là tiên, bụt, trời, chúa Alwah hoặc là các con vật thần kỳ Nhân vật trợ thủ – là những nhân vật thần kỳ giúp đỡ nhân vật bất hạnh bằng phép thuật, bằng tài biến hoá Trong nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ, thỏ dùng những mưu mẹo, mánh khóe của mình để giúp đỡ nhân vật bất hạnh vượt qua thử thách, tai ương

Với mục đích đề cao, lý tưởng hoá nhân vật của mình, tác giả dân gian đã

mô tả sự xuất hiện của thỏ – kẻ trợ thủ như sự xuất hiện của tiên, bụt, thần trong các truyện cổ tích thần kỳ Cụ thể là trước khi thỏ –kẻ trợ thủ xuất hiện ta hay gặp các từ chỉ sự bất ngờ như “bỗng”, “chợt” hoặc các từ nói về tấm lòng trắc ẩn của thỏ như “động lòng thương” Cách giới thiệu, cách mô tả này nhằm tạo một không khí lung linh, huyền bí báo hiệu cho những chuyện bất ngờ, ly kỳ sẽ đến Chúng ta

cũng gặp cách miêu tả này rất nhiều trong truyện cổ tích thần kỳ như “nghe tiếng khóc, Bụt hiện lên trước mặt” (Truyện cây tre trăm đốt – dân tộc Kinh) hay “bỗng nghe tiếng khóc của Tấm, liền hiện xuống hỏi” (Tấm Cám, dân tộc Kinh- bản kể của Nguyễn Đổng Chi), bản Vũ Ngọc Phan cũng kể “thốt nhiên Tấm thấy sáng trước mặt (…) Bụt hiện lên hỏi”…

Sau khi tìm hiểu và nắm được sự tình, trừ trường hợp trong dị bản “Thỏ xử kiện” (dân tộc Ê đê) thỏ ra điều kiện “chia cho tôi một khoản lúa trên rẫy kia của nhà ông”, còn phần lớn các trường hợp khác nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ tự giác nhận lời giúp đỡ nhân vật nạn nhân mà không đòi hỏi một sự đền đáp nào

Nếu như khi xuất hiện nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ có nét gì đó tương đồng với sự xuất hiện của tiên, bụt, thần, thánh…thì ở bước tiếp theo: hành động trợ thủ, kiểu truyện này đã tạo nên nét đặc sắc, độc đáo riêng của mình Trong truyện

Trang 26

cổ tích thần kỳ, hành động trợ thủ trước hết nói lên tấm lòng nhân đạo của dân gian Còn trong kiểu truyện này, hành động trợ thủ là phương cách để dân gian đề cao trí tuệ, tính thông minh của thỏ Nếu như trong truyện cổ tích thần kỳ hành

động này được thực hiện bằng phép thần thông, thì trong kiểu truyện này, hành động trợ thủ được thực hiện bằng mưu mẹo

Dân gian Việt thường nói “mạnh dùng sức, yếu dùng chước” Trong tương quan lực lượng với nhân vật gây tai hoạ, nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ chỉ là nhân vật

nhỏ bé, yếu đuối Nhưng con vật nhỏ bé, nhanh nhẹn này được dân gian yêu thích gởi gắm để thể hiện trí thông minh, sự tinh - ranh của họ Chính vì vậy, con thỏ

được tác giả dân gian xây dựng trở thành nhân vật của lẽ phải, nhân vật trợ thủ

trong nhóm truyện này

Dựa vào trí thông minh, óc tinh quái của mình, nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ đã xử lý, giải quyết những thử thách, những bế tắc của nhân vật bất hạnh một cách

hiệu quả, nhẹ nhàng, nhanh gọn Tài sản bị cướp mất nay được hoàn trả lại cho

thân chủ Mạng sống bị đe dọa nay tự do vui sống Nhân vật bất hạnh được thỏa ý nguyện Nhân vật gây tai họa ngậm ngùi cay đắng Nói chung, các phán quyết bất công, bất nhân nay bị vô hiệu hóa Có được kết quả này, trước hết nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ đã tự tạo cho mình một tiếng nói đủ quyền uy để phân giải vấn đề Nhờ tiếng nói uy lực này, thỏ đã phá vỡ thế trận “mạnh được yếu thua” đang thống trị

Hơn nữa khi giải quyết vấn nạn trên tùy trường hợp, tùy đối thủ, thỏ đã rất uyển chuyển, linh động trong cách xử lý của mình:

* Giải quyết, xử lý đúng người đúng tội

Một số dị bản kể nhân vật bất hạnh ít nhiều cũng có tội Cậu bé chăn trâu (Cái rìu của thỏ – dân tộc K’Ho), ông thợ săn Va - gập (Thỏ xử kiện - dân tộc Ê đê) đã vi phạm cam kết, “vi phạm điều ngăn cấm”: tiết lộ bí mật của cọp Tép lừa

Trang 27

mang chở đến chỗ nước trong (Thỏ cứu loài tép – M’nông) Voi thua trong cuộc thi tài với cọp (Thỏ, voi, khỉ, cọp - Cờ tu)…Nhưng những hình phạt mà nhân vật gây tai họa giáng xuống nặng hơn so với lỗi của các nhân vật bất hạnh phạm phải Trong trường hợp này, thỏ – kẻ trợ thủ chỉ dùng mưu kế để đuổi các nhân vật gây tai họa đi chứ không triệt hạ nhân vật này Với các trường hợp nặng tội hơn, nhân vật gây tại họa là những kẻ như sư tử bắt muông thú phải nộp mạng, Azếch rất độc ác, cọp- heo hung dữ …thì thỏ xử lý mạnh tay hơn: triệt hạ luôn nhân vật gây tại họa

* Khả năng ứng biến cao

Ở phần trên chúng tôi đã phân tích để thấy rằng lí lẽ của nhân vật gây tai họa là nguỵ biện nhưng đó lại là “cái lí của kẻ mạnh” Nhân vật bất hạnh phản

ứng nhưng không thu được kết quả Bởi cách phản kháng đó chưa thật phù hợp,

chưa đủ “trọng lượng” với đối thủ này Nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ rất linh động trong việc xử lí vấn đề Có lúc, thỏ đã dùng chiến thuật “gậy ông đập lưng ông”

Bịa một chuyện hết sức phi lý để cho nhân vật gây tai họa phản ứng; vin vào đó

thỏ lật ngược thế cờ Chúng ta gặp cách xử lý này trong các dị bản như “Thỏ giúp người đòi nợ” (dân tộc Ê đê), “Thỏ và Y Rít” (dân tộc Ê đê) Đánh vào tâm lý những con vật tham lam nhưng nhát gan, ngu ngốc thỏ – kẻ trợ thủ dùng chiêu

“nguỵ trang” thành vật lạ để hăm dọa Cách xử lý này có nhiều nhất trong các dị bản nói về cuộc thi tài giữa cọp – voi Thỏ cứu voi bằng cách “nguỵ trang” thành

vật lạ để hù dọa cọp

Trong vai trò là nhân vật trợ thủ, thỏ đã sử dụng một số mưu mẹo như: thi tài, sự nguỵ trang, xui bẩy, xử kiện…để giúp đỡ nhân vật bất hạnh Những mưu mẹo này, chúng tôi sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở chương sau qua các motif “Sự thi tài”, motif “Sự giả mạo”, motif “Sự xui bẩy”, motif “Sự phân xử”…

Trang 28

1.2.2 Các nhân vật trong nhóm truyện thỏ – kẻ chơi khăm

Ở nhóm truyện này, số lượng nhân vật tham gia vào diễn biến cốt truyện ít

hơn, thường chỉ có hai nhân vật: nhân vật thỏ – kẻ chơi khăm và nhân vật nạn nhân của trò quấy rối đó Nhân vật thỏ xuất hiện từ đầu truyện, nó đóng vai trò là kẻ quấy rối, luôn đi chọc ghẹo, chơi khăm các nhân vật khác Nhân vật nạn nhân

là những kẻ phải hứng chịu các trò quấy này của thỏ Như vậy, với nhóm truyện

này chỉ cần có sự xuất hiện của con thỏ – kẻ chơi khăm và nhân vật nạn nhân là

đủ để cho cốt truyện diễn tiến

1.2.2.1 Nhân vật con thỏ – kẻ chơi khăm.

Con thỏ tinh – ranh là nhân vật mang trong mình hai nét tính cách, vừa

thông minh, mưu trí lại vừa ma mãnh, mánh lới Ở nhóm truyện trước, chúng ta đã

nghiên cứu, thỏ xuất hiện trong vai trợ thủ, giúp đỡ nhân vật bất hạnh vượt qua hoạn nạn, thử thách Ở nhóm truyện con thỏ – kẻ chơi khăm, thỏ lại xuất hiện

trong vai trò một kẻ chuyên đi chơi khăm, chọc tức các con vật khác Theo thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng số lượng dị bản thuộc nhóm truyện mà thỏ đóng vai

kẻ chơi khăm nhiều hơn so với nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ (32/58)

Khác với nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ, nhóm truyện này thỏ xuất hiện và

tham gia vào diễn tiến truyện ngay từ đầu Cũng ngay từ đầu truyện, tác giả dân gian đã cung cấp cho chúng ta một lí lịch khá đầy đủ về nhân vật này:

- “Ngày xửa, ngày xưa các loài vật sống chung với nhau trong các khu rừng đầy hoa lá và cây trái Chúng sống rất hoà thuận và vui vẻ, riêng có con thỏ

là loài tinh nghịch nhất cho nên ai cũng ghét Con gà, con khỉ, con cọp đều

ghét nó, cả đến người cũng vậy, gặp nó đâu là người ghét nó lắm” (Chuyện con thỏ ranh mãnh – dân tộc Xê đăng)

Trang 29

- “Có con thỏ rất tinh ranh nhưng lại lười làm việc Nó đi khắp mọi nơi, lừa dối những con vật khác thậm chí tìm cách lừa dối cả con người để phá

phách và được ăn uống”

(Thỏ và những người đẽo thuyền – dân tộc Cơ ho)

- “Tự cho mình là giỏi Thỏ gây chuyện với bất kỳ con thú nào” (Thỏ cứu hổ

khỏi chết – dân tộc M’nông)

- “Rừng nọ có con thỏ nổi tiếng là khôn ngoan và tinh nghịch (…) bà không muốn mất thì giờ với con vật hay ba hoa, lười nhác này”

(Thỏ và hổ – dân tộc Bana)

Như vậy, nhân vật con thỏ – kẻ chơi khăm có những nét tính cách như tinh

ranh, khôn ngoan, nhanh nhẹn, ranh mãnh, ba hoa, lười nhác, hay lừa dối, hay gây chuyện, phá phách người và các con vật khác Với nhân vật này, với nét tinh cách

ấy “người ta chỉ có thể thích thú chứ không thể yêu mến và tha thứ mãi cho sự ranh mãnh, láu lỉnh ấy” [81; 208]

Sau phần giới thiệu nhân vật là đến phần diễn biến tình huống của câu

chuyện, phần cụ thể hóa sự tinh nghịch, tính ranh mãnh, tính lừa dối…của con thỏ – kẻ chơi khăm Đây là phần nội dung chính của truyện, phần mà ở đó thỏ chủ

động dùng mưu mẹo, mánh khóe để lừa bịp, quấy rối các con vật mà nó gặp gỡ

Đối tượng của những trò quấy rối này rất phong phú, đa dạng Đó có thể là

U già, M’tao, là người lái trâu, người đặt đó, những người đẽo thuyền, là con gà, con nai, con khỉ, con trâu, heo rừng, cá sấu, voi,…Trong đó, khuôn mặt “sắm vai” quen thuộc nhất vẫn là cọp Các nhân vật này ban đầu có thể là “bạn” của thỏ nhưng quan hệ “bạn bè”ø này không bền, kéo dài không được lâu Với bản tính ranh mãnh, láu lỉnh, nhân vật thỏ – kẻ chơi khăm nhanh chóng biến những người

“bạn” này thành những nạn nhân, những đối thủ của các trò quấy rối của mình

Trang 30

Thỏ đánh lừa, chơi khăm những kẻ có “thâm tình” với mình, những khách bộ hành qua đường, những con vật mà nó tình cờ gặp gỡ cũng không thoát khỏi “ngôi sao chiếu mệnh” này

Khảo sát các dị bản trong nhóm truyện con thỏ – kẻ chơi khăm, chúng tôi đã thống kê sơ bộ các motif tình tiết là những trò quấy rối, các kiểu lừa bịp của nhân vật thỏ – kẻ chơi khăm như sau:

01 Thỏ bàn góp, chỉ bậy cho người đóng thuyền làm hư thuyền của họ;

02 Bị dính nhựa cây, thỏ thách thức voi thi kéo co để thoát;

03 Bị rơi xuống bẫy thú, xuống hố, thỏ nói dối là giặc sắp kéo đến (trời sập) để cọp nhảy xuống, cọp tin lời;

04 Thỏ cố tình vi phạm “điều ngăn cấm” để cọp ném thỏ lên;

05 Thỏ bảo để thỏ ỉa vào miệng cọp thì cọp sẽ nhảy lên khỏi hố;

06 Thỏ kêu dân làng bắt cọp; dân làng nghe lời thỏ cúng thần, uống say, thỏ cứu cọp, lấy thịt, đồ đạc chạy trốn;

07 Thỏ xúi bậy cọp đi lấy lửa nơi mặt trời;

08 Thỏ đánh chiêng - tổ ong Cọp xin đánh – ong đốt cọp;

09 Thỏ thổi kèn – tre Cọp xin thổi –đứt lưỡi chết;

10 Thỏ xui heo, dê đánh nhau Cả hai tin lời, húc nhau đến chết – thỏ có thịt ăn;

11 Thỏ nhận làm cỏ nhưng cuốc hết lúa của người (hoặc của cọp);

12 Thỏ chạy trốn, xui cọp (hoặc người) đập ché, phá kho, đốt nhà để bắt thỏ;

13 Thỏ chui hốc cây, lừa cọp con (hoặc người cháu) chui vô Cọp con (hoặc người cháu) bị đánh nhừ tử (hoặc bị đốt chết);

Trang 31

14 Đến phiên thỏ nấu ăn - Thỏ lừa cọp, gà, rái cá ăn phân thỏ;

15 Cọp chở tranh và cõng thỏ về – thỏ đốt cọp có vằn;

16 Chia phần thức ăn, thỏ chia cho cọp toàn xương – gùi thịt của cọp bị chằng giây làm cọp bị rách da;

17 Giả chết, thỏ ăn hết thức ăn trong gùi của người đi chợ

17 b Giả chết, thỏ bị bắt và nhốt trong nơm;

18 Thỏ xui cá quẫy mạnh, chậu vỡ; Thỏ tri hô, người lấy nơm bắt cá, thỏ thoát;

19 Thỏ lừa phỉnh để cá sấu chở qua sông – qua được nuốt lời hứa

19.b.Thỏ bị cá sấu bắt, thỏ lừa cá sấu “hà hà”, thỏ thoát;

20 Thỏ lợi dụng đổi công cho các con vật biết đẻ trứng để ăn trứng của các con vật này;

21 Thỏ thèm ăn cá, lừa heo, nai, trâu, cọp,…sắm giúp để cúng;

22 Thỏ chui vào đó ăn vụng cá, bị bắt;

23 Thỏ chỉ cho dân làng hơ thỏ khô rồi ăn thịt; dân làng sơ hở, thỏ tẩu thoát;

24 Thỏ chỉ cho Y Rít nguỵ trang thành vật lạ để kiếm thịt ăn;

25 Thỏ gợi ý U già đem thỏ bán cho M’tao đổi lấy gạo Gặp M’tao thỏ nói ngược lại: đổi U già lấy1 dê và 20 trứng;

26 Thỏ gạ đổi bộ chiêng (giả) lấy hai trâu;

27 Đưa trâu đực (dê đực) và trứng đặt vào ổ cây cao, đánh cuộc với khách qua đường “con gì ấp trứng ở trên cây?” để lấy bộ đồng la, bộ chiêng;

28 Thỏ đổi đồng la (chiêng) lấy xác của cô gái mới chết;

Trang 32

29 Đem xác cô gái đặt lên cây xoài, gạ đổi cô gái đẹp, giỏi dệt thêu (thực ra là xác cô gái) lấy trâu;

30 Thỏ xui hai trâu húc nhau chết;

31 Bị mối đùn lấp kín đuôi – Thỏ xui heo ủi vào tổ mối để kiếm ăn Thỏ thoát;

32 Thỏ xui cọp chồng bước qua bẫy Cọp chồng dính bẫy, chết;

33 Thỏ dẫn cọp vợ vào một bẫy khác – cọp vợ dính bẫy, chết;

34 Thỏ nhặt trái cây ăn chung với lũ trẻ Thỏ lấy cắp, bị lũ trẻ phát hiện – bị đuổi vào rừng;

35 Sợ cọp, trốn trên cành cao Rơi trúng đầu cọp, thỏ lên giọng bắt cọp chở đi kiếm mía ăn Cọp bị dân lang rượt đuổi;

36 Thỏ bị rào kín ở trong chuồng heo Heo về, thỏ lừa để heo chui vào Heo chết Thỏ thoát;

37 a.Thỏ bị trăn quấn Thỏ lừa đó là tấm khăn – cọp đòi mang, cọp chết;

37.b Thỏ bị trăn quấn Thỏ dủ dỗ để trăn nhả đuôi ra - thỏ thoát;

38 Thỏ và khỉ đi hái đọt mây Thỏ bí mật đánh tráo gùi cho khỉ Khỉ đi trước, hái đọt nào rơi ra ngoài cả Thỏ đi sau nhặt;

39 Thấy tổ gà rừng, thỏ dành trứng phần mình với lý do nhà đông con;

40 Gặp mang, thỏ lấy đá ném Nhặt đá đưa cho khỉ, bảo đó là trứng mang;

41 Luộc mãi không chín, vợ mang liệng đi và trách thỏ Thỏ lấy vỏ trứng liệng xuống gầm sàn và nói vừa ăn trứng mang Vợ khỉ xuống sàn xem, tiếc

Trang 33

Không có dị bản nào có đầy đủ các tình tiết trên Đa số các dị bản có từ 2 đến 5 tình tiết, thậm chí có dị bản chỉ có một tình tiết vẫn đủ điều kiện để chúng tôi xếp vào kiểu truyện này Một số tình tiết có ở khá nhiều dị bản, nhiều kiểu truyện khác nhau Một số tình tiết có thể đảo lộn trình tự trước sau mà không ảnh hưởng gì nhiều đến nội dung truyện Trình tự các tình tiết được sắp xếp một cách

khá lỏng lẽo khiến chúng ta có cảm tưởng chúng được sắp xếp bên cạnh nhau hơn là phụ thuộc vào nhau Chúng tôi sẽ tìm hiểu kỹ hơn các tình tiết này trong chương

sau

Phần lớn các mẹo lừa của thỏ đủ “tầm” để hạ đối thủ ngay từ lần đầu Một

vài trường hợp thỏ bị bắt hay do chạy trốn gặp nạn thì nó vẫn có cách thoát được

bằng mưu mẹo Trong lúc tìm cách thoát, nhân vật thỏ – kẻ chơi khăm lại đẩy nhân vật nạn nhân vào một trò bịp mới

1.2.2.2 Nhân vật nạn nhân.

Thế giới nạn nhân của những trò quấy rối, những mánh khóe của nhân vật thỏ – kẻ quấy rối rất phong phú, đa dạng Đó là U già nghèo đói, M’tao giàu có

nhưng khó tính, những người đẽo thuyền, người chủ ruộng, cá sấu, hai con trâu vốn là bạn của nhau, là con heo rừng đang đi kiếm ăn, heo, nai, cọp Nói chung,

đó là những ai mà thỏ tình cờ gặp gỡ, là “bạn” của thỏ, là đối thủ của thỏ Chúng

tôi nhận thấy rằng danh sách nạn nhân của trò quấy rối có sự góp mặt của những kẻ được xem là độc ác như cọp, M’tao, cá sấu, nhưng phần đông trong đó là những người vô tội, là những người nghèo khổ như U già, những người đẽo thuyền, lái trâu, bà cháu Y Rít…Tác giả dân gian không thuyết minh về những nhân vật này là vô tội hay có tội nhưng chúng ta ngầm hiểu được điều đó Tuy nhiên, không thể căn cứ vào thành phần xuất thân của nhân vật để kết tội thỏ là nhân vật phản diện như có người đã nhận xét Chúng tôi cho rằng phải đặt vấn đề này trong hệ thống

Trang 34

chung của kiểu truyện thì mới có được cái nhìn chính xác, phù hợp Đây là kiểu

truyện “Con thỏ tinh –ranh”, nhân vật trung tâm của kiểu truyện là con thỏ tinh –

ranh, trục xung đột chính của kiểu truyện là thông minh – ngu dốt, tinh ranh – khờ

khạo Hay nói cách khác, chủ đích kiểu truyện này là đề cao lí trí, đề cao nhân vật

mưu mẹo Mọi thủ pháp của kiểu truyện đều nhằm làm rõ tính chất tinh – ranh

của nhân vật chính của kiểu truyện Do vậy, không thể đưa thước đo tốt – xấu, hay

công thức nhân vật chính diện – phản diện để minh giải kiểu truyện này

Trong những cuộc “chạm trán” này, nhân vật thỏ – kẻ quấy rối luôn thắng

cuộc Các nhân vật khác đều trở thành nạn nhân, là những kẻ bại trận hoặc nếu có

phục thù thì lại sa vào một trò ma mãnh khác của thỏ Nhân vật nạn nhân

được tác giả dân gian xây dựng thành những nhân vật có sức mạnh nhưng nóng

nảy, bộc phát, ngu dốt, khờ dại Thậm chí có người còn khái quát nét tính cách

này thành “thuộc tính” của nhân vật truyện cổ! [17; 144] Nhận xét này đúng

nhưng không đủ, không bao quát được toàn bộ nhân vật truyện cổ nhưng ít nhất nó

đúng với nhân vật gây tai họa và nhân vật bất hạnh, nhân vật nạn nhân trong kiểu

truyện này Bị chơi khăm, bị quấy rối nên các nhân vật này tìm cách phục thù và

tiếp tục rơi vào một trò bịp khác của thỏ Và cứ thế, sự thất bại lần này là điểm

khởi đầu cho một lần chơi khăm khác Ở những truyện này, tính chất xâu chuỗi

thể hiện khá rõ tuy sự cố kết giữa các tiết truyện chưa cao Chẳng hạn như dị bản

“Thỏ và hổ” (dân tộc Ê đê): Thỏ ăn trộm cá bị mắc kẹt trong đó, bị bắt Thỏ dùng

kế hoãn binh: phải hơ thỏ cho khô mới ăn được, nếu không sẽ bị đau bụng Nhân

lúc dân làng sơ hở, thỏ tẩu thoát Dân làng đuổi theo – thỏ nằm ngửa, giơ bốn vó

lên trời và chống chế không phải là con thỏ rừng mà dân làng đang rượt Thỏ nhận

làm cỏ lúa cho bà chú Rít Thỏ phá lúa của bà Rít nên bị rượt đánh Thỏ chạy, bà

chú Rít đánh vỡ hết bát đĩa Thỏ chạy vô hốc cây và lừa để chú Rít vào Chú Rít

Trang 35

bị đánh chết Bà Rít bắt được thỏ Thỏ dủ dỗ bà Rít đem thỏ bán cho M’tao, đến nhà M’tao thỏ xin bà Rít để thỏ vào thưa chuyện trước với M’tao Gặp M’tao, thỏ

lật ngược thế cờ “mang đến cho M’tao một cô gái trẻ, xinh” - bà Rít, đổi lấy một

chiêng núm…và truyện cứ thế diễn tiến Sự xâu chuỗi như dạng này chúng ta còn

gặp trong các truyện như “Chuyện con thỏ ranh mãnh” (dân tộc Xê đăng), “Thỏ cứu hổ khỏi chết” (dân tộc M’Nông), “Con thỏ gian ngoan” (dân tộc Tà ôi), “Thỏ và hổ” (dân tộc Ba na), “Thỏ Rơ Pai” (dân tộc Cà tu)

1.3 CỐT TRUYỆN CỦA KIỂU TRUYỆN “CON THỎ TINH – RANH”

Cốt truyện là hệ thống sự kiện được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm Hệ thống sự kiện này tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong tác phẩm văn học thuộc loại tự sự Nó là bộ phận có tính chất đặc trưng, nhằm khu biệt tác phẩm này với tác phẩm khác, kiểu truyện này với kiểu truyện khác, thể loại này với thể loại khác

Cốt truyện và nhân vật tuy là hai yếu tố khác nhau nhưng bao giờ cũng gắn bó với nhau một cách mật thiết Nhân vật nói chung không tách rời, không nằm ngoài cốt truyện và ngược lại cốt truyện bao giờ cũng là cốt truyện của nhân vật và chủ yếu là của nhân vật chính Cho nên song song với việc tìm hiểu nhân vật là việc tìm hiểu cốt truyện Tìm hiểu cốt truyện, chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu các vấn đề sau

1.3.1 Về tên gọi của truyện

Nét đặc sắc và cũng là điểm để khu biệt truyện này với truyện khác, kiểu truyện này với kiểu truyện khác trước hết nằm ở tên gọi của truyện, tên kiểu truyện Tên truyện là sự mách bảo, sự bộc lộ một phần chủ đề cốt truyện Tên truyện tuân theo quy luật nhất định của phương pháp sáng tác dân gian truyền miệng và bắt đầu từ đây ta có thể đi vào khai thác nội dung của truyện Khi

Trang 36

nghiên cứu kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh”, chúng tôi nhận thấy rằng các tác giả

dân gian đã đặt tên cho truyện bằng nhiều tên gọi khác nhau mang đậm đặc trưng của dân tộc mình Song cái đa dạng này lại luôn nằm trong sự thống nhất, đó là các tên gọi ấy vẫn luôn tuân thủ hai yêu cầu tối thiểu của việc đặt tên là tên truyện không được trùng lặp (để phân biệt truyện này với truyện khác và để khỏi lẫn lộn các truyện với nhau) và tên truyện phải có quan hệ với chủ đề của kiểu truyện ở một phạm vi, mức độ nhất định

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các truyện kể trong kiểu truyện “Con thỏ tinh – ranh” có những cách gọi tên sau:

1.3.1.1 Cách gọi tện thứ nhất:

Tên truyện là tên nhân vật chính cộng với tính từ chỉ tính cách, phẩm chất

của nhân vật Đây là cách giới thiệu ngắn gọn, tổng quát về nhân vật chính, về

kiểu truyện Cách gọi tên này được cấu tạo theo công thức:

Có thể kể tên một số truyện được đặt tên theo cách này như: “Con thỏ thông minh” (dân tộc Cờ tu), “Con thỏ gian ngoan” (dân tộc Tà ôi), “Thỏ khôn ngoan” (dân tộc Kh’mer), “Chuyện con thỏ ranh mãnh” (dân tộc Xê đăng), “Chú thỏ khôn ngoan” (dân tộc Chu ru), “Thỏ thông minh” ( dân tộc Kh’mer )… Cách gọi tên kiểu truyện “Con thỏ tinh - ranh” cũng dựa vào công thức trên

Tên nhân vật chính + Tính từ chỉ tính cách của nhân vật

1.3.1.2 Cách gọi tên thứ hai: Tên truyện là tên sự việc chủ yếu mà

“Con thỏ tinh – ranh” thực hiện

Đó là tên các truyện: “Thỏ giúp người đòi nợ” (dân tộc Ê đê), “Thỏ bán bà già” (dân tộc M’nông), “Thỏ đánh lừa cá sấu” (dân tộc Ê đê), “Thỏ đi chài cá” (dân tộc Cơ ho), “Thỏ cứu hổ khỏi chết” (dân tộc M’nông), “Thỏ làm da cọp có

Trang 37

vằn” (dân tộc M’nông), “Thỏ cứu loài tép” (dân tộc M’nông), “Thỏ hại cọp” (dân tộc M’nông), “Thỏ làm chúa tể sơn lâm” (dân tộc Tày), “Thỏ xử kiện” (dân tộc M’nông, dân tộc Ê đê), “Thỏ chọn bạn đổi công” (dân tộc Ê đê), “Thỏ xử kiện yêu tinh phải thua” (dân tộc Kh’mer), “Thỏ cứu dê thoát khỏi hổ ăn thịt” (dân tộc

Kh’mer)…Như vậy, cách gọi tên dạng này gồm hai cấu tố hợp thành, gồm tên nhân vật chính và tên công việc mà nhân vật chính thực hiện Ngoài ra một số dị bản còn có thêm phần phụ: tên nhân vật được nhận hành động trợ thủ hoặc tên nhân vật bị quấy rối Chúng ta có thể khái quát cách gọi tên này theo công thức sau:

Tên nhân vật chính + Tên công việc (+ Tên nhân vật bị chơi khăm / được giúp đỡ)

1.3.1.3 Cách gọi tên thứ ba: Tên truyện là tên gọi mối quan hệ của

nhân vật chính với các nhân vật khác trong truyện

Cách gọi tên dạng này được cấu tạo theo công thức sau:

Các nhân vật khác có thể là những địch thủ của thỏ, cũng có thể là những

“bạn” của thỏ, cũng có khi đó lại là những nhân vật bất hạnh– kẻ sẽ được thỏ ra

tay giúp đỡ Đặc điểm của cách gọi tên loại này thường có liên từ “và” nối giữa

tên các nhân vật với nhau Xin kể tên một số truyện được gọi tên theo dạng này

như: “Thỏ và ốc” (dân tộc Xê đăng, dân tộc Ê đê, dân tộc Ka dong, dân tộc Kh’mer), “Thỏ và lão M’tao to bụng” (dân tộc Ê đê), “Thỏ, Y Rít và các con vật” (dân tộc Ê đê), “Thỏ và dê kết bạn” (dân tộc Kh’mer), “Cọp thọt, thỏ và chàng trai nghèo” (dân tộc Dao), “Thỏ và những người đẽo thuyền” (dân tộc Cơ ho), “Thỏ, trâu và heo rừng” (dân tộc Ê đê), “Thỏ, người và cọp” (dân tộc Mạ) Chiếm tỷ lệ

Tên nhân vật chính + “và” + Tên các nhân vật khác

Trang 38

nhiều nhất vẫn là cách gọi tên quan hệ giữa thỏ và cọp: “Thỏ và hổ” (dân tộc Ê đê), “Thỏ và hai mẹ con con hổ” (dân tộc Ê đê), “Con thỏ và con hổ” (dân tộc Kinh), “Hổ và thỏ”û (dân tộc Tà ôi), “Thỏ và hổ” (dân tộc Ba na)…

1.3.1.4.Cách gọi tên thứ tư: Tên truyện là những câu hỏi về một đặc

điểm nào đó của thỏ hoặc các con vật khác

Chẳng hạn như “Vì sao trong lúc đi, cọp bới đất?” (dân tộc M’nông), “Vì sao thỏ tai dài đuôi ngắn ?” (dân tộc Mạ), “Vì sao da cọp có nhiều màu“ (dân tộc

M’nông)…

Đây cũng là cách gọi tên khá phổ biến trong truyện cổ Những truyện này

có cách nhìn vấn đề theo kiểu nguyên nhân học Nội dung truyện nhằm giải thích

một tập tính hay một đặc điểm nào đó của loài vật (thường là đặc điểm của thỏ) Những đặc điểm này được dân gian cho là kết quả những trò lừa bịp của thỏ hay là hậu quả của những trò chơi khăm ấy

1.3.2 Cốt truyện của nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ.

Ỏû phần trước chúng ta đã biết rằng nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ thường có

ba nhân vật Nhân vật gây tai họa và nhân vật nạn nhân xuất hiện từ đầu truyện

Mối quan hệ giữa hai nhân vật này là mối quan hệ tiềm ẩn những mâu thuẫn,

xung đột bởi một kẻ đại diện cho những kẻ có “máu mặt” trong đời sống tộc người

(như M’tao, ông cậu, lão nhà giàu…) hay các con vật mà theo quan niệm của dân gian là có uy thế trong loài vật (như cọp, sư tử, heo…) với tính cách độc ác, ngu

dốt và một kẻ “thấp cổ bé miệng”, thật thà, chăm chỉ, cô thân cô thế Dựa vào uy thế, vị trí của mình, nhân vật gây tai họa, nhân vật “bề trên” thường tác uy, tác

quái đẩy nhân vật thấp cổ bé miệng đến những tình cảnh thật oái ăm như bị cướp tài sản, tính mạng bị thử thách, bị đe dọa Chính sự xuất hiện và mối quan hệ của

hai nhân vật này đã tạo tình huống truyện cho nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ xuất hiện

Trang 39

Tuy nhiên, không phải dị bản nào cũng có đầy đủ các nhân vật như vậy Chúng tôi thấy một số dị bản khuyết một trong hai nhân vật trên Chẳng hạn như

dị bản “Thỏ và lão M’tao to bụng” (dân tộc Ê đê) không có mặt nhân vật bất hạnh Lão M’tao - một loại nhân vật ít chiếm được cảm tình của dân gian - xuất hiện như kẻ gây tai họa: “về phần lão và vợ con lão, ăn uống thế nào cũng không tiếc Nhưng đối với bầy nô lệ, thì lão ưng nô lệ phải làm nhiều hơn là được ăn Và lão sợ rằng cho nô lệ ăn nhiều thì sẽ khó sai khiến họ” Chính cách sống, cách ăn

uống, sinh hoạt của nhân vật này đã tạo nên mâu thuẫn, tạo nên tình huống truyện Truyện kể thêm rằng: lão ta càng giàu có càng ít hoạt động, thân thể càng

ngày “cứ ục ịch mãi ra, bụng to phình như cái nồi bung nồi bảy(…) Lão thấy trong người khó chịu, cơm ăn, nước uống không vào Gan trâu bò nhai như nhai rơm cỏ, gà thui, cá nướng nuốt như nuốt cục đất cứng, hòn sỏi khô…Lão bắt đầu buồn lo” Đây chính là tình huống truyện để thỏ – kẻ trợ thủ xuất hiện

Dị bản “Thỏ, Y Rít và các con vật” (dân tộc Ê đê) thì không có mặt nhân vật gây tai họa mà có mặt nhân vật Y Rít – một em bé chăn trâu với hoàn cảnh “nhà

em nghèo quá mà chỉ có hai bà cháu Bà Pôm em già mà ốm yếu lắm, chẳng làm

gì cả” Gia cảnh của Y Rít cộng với lời thỉnh cầu xin giúp đỡ của Y Rít là tình huống truyện của dị bản này Hoặc như dị bản “Thỏ thông minh” (dân tộc Kh’mer) lại khuyết cả nhân vật gây tai họa và nhân vật bất hạnh nhưng vẫn có tình huống

truyện là một lá đơn khiếu nại mất trâu được viết mập mờ không ai hiểu cả Thậm

chí như ở dị bản “Thỏ làm chúa tể sơn lâm” (dân tộc Tày) thỏ kiêm nhiệm cả vai nhân vật bất hạnh và nhân vật trợ thủ Nhân vật bất hạnh thể hiện trong việc thỏ cũng nằm trong danh sách những kẻ phải nộp mạng cho sư tử Nhân vật trợ thủ thể hiện trong việc thỏ trừ khử được kẻ độc ác Chính vì vậy mà “được tin báo, muôn

Trang 40

loài rất mực sung sướng Từ nay, tất cả họ hàng nhà thú bốn chân đều thoát khỏi nạn nộp mạng”

Như vậy, trong nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ ở phần mở đầu truyện có thể có mặt cả hai nhân vật gây tai họa và nhân vật bất hạnh hay khuyết một trong hai

nhân vật trên, thậm chí có trường hợp vắng mặt cả hai nhân vật này Nhưng điều

quan trọng, điều không thể thiếu là phải có tình huống truyện cho nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ xuất hiện, có như thế cốt truyện mới tiếp tục phát triển được Tình

huống truyện có khi là một bất công của nhân vật bề trên tạo ra để cướp đoạt tài

sản hay một cuộc thi, một phán quyết bất nhân để bắt nhân vật bất hạnh nộp

mạng hoặc một nghịch cảnh, một thách đố của nhân vật nào đó Tựu trung, đấy là

những bất công, bất nhân mà nhân vật gây tai họa đẩy đến cho nhân vật bất hạnh

Trong bối cảnh như vậy, nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ xuất hiện

Thỏ xuất hiện trong vai trò trợ thủ, là đồng minh của nhân vật bất hạnh Sau

khi nắm biết tình hình, thỏ gỡ rối những bế tắc đang có bằng những mưu mẹo như nguỵ trang thành vật lạ, thi tài, phân xử, xúi bậy …Những mưu mẹo này sẽ được

chúng tôi tìm hiểu kỹ hơn ở chương sau trong các motif “Sự giả mạo”, motif “Sự thi tài”, motif “Sự phân xử”, motif “Sự xui bẩy”…

Với mưu cao kế giỏi đó, nhân vật thỏ – kẻ trợ thủ đã giải quyết những bế

tắc đó một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng Khó khăn đang gặp được giải quyết Tài sản đã mất nay được hoàn trả Mạng sống bị đe dọa nay được sống bình an Sự giúp đỡ của thỏ đã làm một cuộc đổi ngôi

Như vậy, ở nhóm truyện thỏ – kẻ trợ thủ gồm một số tình tiết sau:

- Nhân vật bất hạnh, nhân vật gieo tai hoạ xuất hiện;

- Mâu thuẫn nảy sinh Tình huống truyện xuất hiện (thường đây là một bất công hay là một bất nhân);

Ngày đăng: 01/07/2023, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
01. Lê Thị Thanh An (2003), Kiểu truyện “Người em út” trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, luận văn thạc sĩ, Thư viện trường ẹHKHXH&NVTPHCM, Tp. Hoà Chớ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu truyện “Người em út” trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Thanh An
Nhà XB: Thư viện trường ẹHKHXH&NVTPHCM
Năm: 2003
02. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hoá dân gian Việt Nam – những suy nghĩ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian Việt Nam – những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
03. Trương Bi (chủ biên) (2003), Văn học dân gian Ê đê - M’nông, Sở Văn hóa Thoõng tin ẹaờk Laờk, ẹaờk Laờk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Ê đê - M’nông
Tác giả: Trương Bi
Nhà XB: Sở Văn hóa Thoõng tin ẹaờk Laờk
Năm: 2003
04. Trương Bi (chủ biên) (2004), Nghi lễ cổ truyền của đồng bào M’nông, Sở Văn hóa Thông tin Đăk Lăk, Đăk Lăk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ cổ truyền của đồng bào M’nông
Tác giả: Trương Bi
Nhà XB: Sở Văn hóa Thông tin Đăk Lăk
Năm: 2004
05. Ngô Vĩnh Bình (1981), Truyện cổ Xê đăng, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Xê đăng
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1981
06. Nông Quốc Chấn (chủ biên) (1981), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam – văn học dân tộc ít người, quyển hai, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam – văn học dân tộc ít người, quyển hai
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1981
07. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nxb Giáo dục, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
08. Nguyễn Văn Dân (2001), Văn học so sánh – lý luận và ứng dụng, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh – lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2001
09. Chu Xuân Diên (1995), Văn hóa dân gian (Folklore) và phương pháp nghiên cứu liên ngành, Nxb ĐHTHTPHCM, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian (Folklore) và phương pháp nghiên cứu liên ngành
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb ĐHTHTPHCM
Năm: 1995
10. Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian – mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian – mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
11. Chu Xuân Diên (1989), Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học, Nxb ẹHTHTPHCM, Tp.Hoà Chớ Minh.12. Chu Xuaân Dieân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb ẹHTHTPHCM
Năm: 1989
17.Lê Tiến Dũng (2004), Nhà phê bình và cái roi ngựa, Nxb ĐHQGTPHCM, Tp. Hoà Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà phê bình và cái roi ngựa
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb ĐHQGTPHCM
Năm: 2004
18. Nguyễn Tấn Đắc, “Văn học dân gian trong các nền văn học dân tộc Đông Nam Á”//Văn hoá dân gian, Hà Nội, 1984, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian trong các nền văn học dân tộc Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Văn hoá dân gian
Năm: 1984
19. Nguyễn Tấn Đắc (2000), Truyện kể dân gian đọc bằng Type và Moitf, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kể dân gian đọc bằng Type và Moitf
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2000
20. Cao Huy Đỉnh (1998), Bộ ba tác phẩm nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ ba tác phẩm nhận giải thưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1998
21. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2003
22. Hà Giao (1998), Truyện cổ Bana kriêm, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Bana kriêm
Tác giả: Hà Giao
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 1998
23. Nguyễn Bích Hà (1998), Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
24. M. Gorki (1970), Gorki bàn về văn học, T 2, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gorki bàn về văn học
Tác giả: M. Gorki
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1970
25. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1992), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w