1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hư từ liên kết trong câu phức của tiếng hán hiện đại (so sánh với các từ tương ứng trong tiếng việt hiện đại)

121 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại (so sánh với các từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại)
Tác giả Phương Khánh Thông
Người hướng dẫn PGS.TS Đặng Ngọc Lệ
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy việc nghiên cứu hư từ nói chung là một phần quan trọng trong nghiên cứu và so sánh hai ngôn ngữ Hán – Việt, hơn nữa, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong học tập, nghiên cứu, g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

PHƯƠNG KHÁNH THÔNG

HƯ TỪ LIÊN KẾT TRONG CÂU PHỨC

CỦA TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI (SO SÁNH VỚI CÁC TỪ TƯƠNG ỨNG TRONG

TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH

MÃ SỐ: 05.04.27

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG NGỌC LỆ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2005

Trang 2

Xin trân trọng gửi lời tri ân đến các thầy cô đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Đặng Ngọc Lệ, người thầy đã tận tình hướng dẫn luận văn cho tôi

Xin gửi lời cảm ơn đến trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Phòng Sau đại học, Khoa Ngữ văn – Báo chí của trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin tri ân sự hậu thuẫn quí báu của gia đình và bè bạn, đã cho tôi những lời động viên và góp thêm sức mạnh để tôi hoàn thành tốt chương trình cao học

Phương Khánh Thông

Trang 3

Đề mục -Trang

Phần Mở đầu .1

1 Lý do chọn đề tài .1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài .4

3 Lịch sử vấn đề .5

3 Phương pháp nghiên cứu .6

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .7

5 Bố cục của luận văn .8

Chương 1: Vấn đề hư từ trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại .9

1.1 Lịch sử nghiên cứu hư từ .9

1.2 Vấn đề hư từ trong tiếng Hán hiện đại 12

1.3 Vấn đề hư từ trong tiếng Việt hiện đại 20

Chương 2: Hư từ liên kết trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại .33

2.1 Hư từ liên kết trong tiếng Hán hiện đại 33

2.2 Hư từ liên kết trong tiếng Việt hiện đại 51

Chương 3: So sánh hư từ liên kết trong câu phức (câu ghép) của tiếng Hán hiện đại với các từ tương ứng trong tiếng Việt 62

3.1 Một số vấn đề về câu phức (câu ghép) và từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại 62

3.2 Vấn đề câu ghép và từ liên kết trong câu ghép của tiếng Việt hiện đại .76

3.3 So sánh hư từ liên kết trong câu phức (câu ghép) của tiếng Hán hiện đại với các từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại .86

3.3.1 Nhận xét chung .86

3.3.2 Nét tương đồng .87

3.3.3 Nét khác biệt .98

3.3.4 Bảng đối chiếu .101

Kết luận 103

Danh mục các tài liệu tham khảo .106

Phần phụ lục 110

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước ta, sự giao lưu văn hóa và kinh tế với thế giới ngày càng được mở rộng, nhu cầu học và sử dụng ngoại ngữ càng trở nên vô cùng cần thiết đối với cộng đồng Ngoài tiếng Anh được nhiều người theo học và nghiên cứu vì vốn được xem là thứ ngôn ngữ phổ biến nhất, được nhiều quốc gia chọn làm ngôn ngữ chính và được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp quốc tế, nhu cầu học tập và sử dụng tiếng Hán (tiếng Trung Quốc) trên thế giới nói chung và Việt Nam chúng ta nói riêng cũng ngày càng được quan tâm Người ta ước tính có khoảng 1/4 số người trên hành tinh này sử dụng tiếng Hán, đây thật sự là một ngôn ngữ có số lượng người sử dụng đông đảo nhất Nhiều người còn dự đoán rằng trong thế kỷ 21 tiếng Hán sẽ vươn lên ngang hàng cùng tiếng Anh, trở thành một trong số những ngôn ngữ thông dụng nhất trên trường quốc tế Từ thực tế trên, một vấn đề được nhiều người, nhất là các nhà nghiên cứu, giảng dạy ngôn ngữ trong và ngoài nước quan tâm là nghiên cứu thấu đáo thứ ngôn ngữ này để mọi người dễ dàng tiếp cận, nắm bắt và sử dụng thật hiệu quả trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nó đang ngày càng tăng và có một vị trí nhất định trên trường quốc tế

Đạt được kết quả cao trong nghiên cứu và học tập tiếng Hán không phải là điều dễ dàng, điều quan trọng là cần nắm thật vững hệ thống ngữ pháp thì mới có thể nói đúng, viết đúng và dịch đúng được, nghĩa là trong giao tiếp chúng ta không dừng lại ở chỗ biết nên nói, nên viết như thế nào mà còn phải biết vì sao phải nói và phải viết như vậy

Trang 5

Tiếng Hán và tiếng Việt là hai ngôn ngữ cùng thuộc loại hình đơn lập – âm tiết tính, hơn nữa hai nước Trung – Việt đã từng có một quá trình tiếp xúc lâu dài, việc hai ngôn ngữ này chịu tác động và ảnh hưởng lẫn nhau là điều không thể tránh khỏi Ngữ pháp tiếng Hán và tiếng Việt tuy có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có những điểm khác nhau rất căn bản, thậm chí trái ngược nhau rất đáng để mọi người quan tâm, nghiên cứu Trong đó, vấn đề chúng tôi nhận thấy cần ưu tiên quan tâm nghiên cứu hàng đầu bằng phương pháp so sánh ngôn ngữ là lớp hư từ liên kết trong câu phức của hai ngôn ngữ Hán – Việt Về hư từ tiếng Việt, nhà ngôn ngữ học Hoàng Trọng Phiến cho rằng

“Vai trò hư từ đối với tiếng Việt là một phương thức ngữ pháp quan trọng” [13] Về hư từ trong tiếng Hán, nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Vương Tự Cường cũng cho rằng vai trò hư từ rất quan trọng: “Nếu không có hư từ hoặc sử dụng hư từ không thỏa đáng thì không thể tổ chức thành câu, đặc biệt là câu dài, câu phức” [62] Qua hai ý kiến trên, chúng ta có thể nhận thấy việc nắm vững kiến thức về hư từ là một khâu quan trọng để tiếp cận hai ngôn ngữ Hán – Việt

Nhận thấy việc nghiên cứu hư từ nói chung là một phần quan trọng trong nghiên cứu và so sánh hai ngôn ngữ Hán – Việt, hơn nữa, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy và sử dụng tiếng Hán của cộng đồng trong tình hình mới, chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài “Hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại (so sánh với các từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại) với các mục đích sau:

- Đây là một đề tài hấp dẫn, mới, và khó tiếp cận vì sách báo

Trang 6

viết về hư từ tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại một cách riêng biệt tuy có nhiều, nhưng đi vào so sánh cụ thể hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại với các từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại thì chưa được ai quan tâm đến Việc thực hiện đề tài này là dịp để bổ sung, hoàn chỉnh kiến thức và nghiên cứu một khía cạnh của hư từ

- Thông qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi có thể hệ thống hóa lại toàn bộ những kiến thức về hư từ và hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại, từ đó có cái nhìn khái quát hơn, toàn diện hơn về một vấn đề khá phức tạp vốn đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau

- So sánh để thấy hết những điểm tương đồng và khác biệt của các hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại với các từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại nhằm giúp cho người học và nghiên cứu ngôn ngữ Hán – Việt nắm vững hơn nữa ngữ pháp tiếng Hán hiện đại nói chung, tạo điều kiện để tiếp cận tốt với các tài liệu về văn hóa, lịch sử, kinh tế bằng chữ Hán, hiểu rõ những điểm tương đồng và dị biệt để có thể diễn đạt chính xác, phiên dịch chuẩn xác giữa hai ngôn ngữ Việt – Hán và ngược lại, chuyển tải được các nét tinh túy về văn hóa, ngôn ngữ của hai dân tộc, của hai nền văn hóa Việt – Trung vốn có nhiều tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn như tên đề tài đã nêu ra là: Nghiên cứu so sánh tất cả các hư từ liên kết thường dùng trong câu phức của tiếng Hán hiện đại và các từ tương ứng của nó trong tiếng Việt hiện đại

Đối với tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại thì hư từ là một phạm

Trang 7

trù tương đối rộng và phức tạp Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc về hư từ trong tiếng Hán hiện đại khá thống nhất, nhưng trong tiếng Việt, hư từ là một vấn đề vô cùng phức tạp, rắc rối, nhất là phần lý luận hư từ vẫn đang còn là vấn đề tranh cãi, chưa có ý kiến thống nhất Vì vậy, để giải quyết nhiệm vụ chính của luận văn, chúng tôi hệ thống hóa các quan niệm về hư từ nói chung, hư từ trong tiếng Hán và tiếng Việt nói riêng, tìm hiểu kỹ về nhiều vấn đề liên quan đến

hư từ liên kết, nhất là hư từ liên kết trong câu phức (câu ghép) của tiếng Hán hiện đại và trong câu ghép của tiếng Việt hiện đại

Nhiệm vụ chính của luận văn là so sánh các cặp hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại với các từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại Chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau một cách cụ thể trên các mặt như: tên gọi, cấu tạo, chức năng, vị trí trong câu v.v…

Trên cơ sở những kết quả thu được từ việc so sánh nêu trên, chúng tôi sẽ tiến hành đối chiếu một cách cụ thể một số hư từ liên kết trong câu phức thường dùng của tiếng Hán hiện đại với các từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại theo từng nhóm chức năng ngữ nghĩa

Trang 8

3 Lịch sử vấn đề

Trước đây, ranh giới giữa thực từ và hư từ trong tiếng Hán vừa không chặt chẽ về phân loại dựa trên ý nghĩa, lại vừa không rõ ràng về phạm vi và chủng loại Khi tiếng bạch thoại chính thức trở thành tiếng thông dụng thì việc nghiên cứu hư từ mới thật sự được coi trọng Cho đến cuối thế kỷ 19, Mã Kiến Trung mới viết ra quyển sách ngữ pháp tiếng Hán đầu tiên của Trung Quốc có tựa là “Mã thị văn thông”, trong đó, ông đã cho thấy cách xác định ranh giới giữa thực từ và hư từ gắn với sự phân loại dựa trên ý nghĩa như hiện nay

Từ cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, việc nghiên cứu hư từ tiếng Hán bước vào thời kỳ mới, có những bước tiến dài, có nhiều quyển từ điển tổng hợp hư từ khá quan trọng như: “Bắc Kinh khẩu ngữ ngữ pháp”, “Ngữ pháp tu từ giảng thoại”, “Hiện đại Hán ngữ ngữ pháp”, “Hiện đại Hán ngữ thường dùng hư từ từ điển”, nhiều luận văn nghiên cứu về hư từ cũng đã được thực hiện Việc nghiên cứu về hư từ chủ yếu thể hiện ở hai mặt:

- Phân định thực từ và hư từ, xác định tính chất, phạm vi của hư từ và phân loại nó

- Tiến hành phân tích và so sánh về các mặt chức năng, ý nghĩa, cách dùng của phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ, ngữ khí từ, thán từ, tượng thanh từ

Về hư từ liên kết và nhất là hư từ liên két trong câu phức của tiếng Hán hiện đại, thường chỉ được lồng ghép trong các tài liệu nói về

hư từ và các mục nói về từ liên kết và câu ghép của các sách ngữ pháp như: “Ngữ pháp nghiên cứu nhập môn” của Lữ Thúc Tương, (Nxb Thương vụ ấn thư quán, Bắc kinh, 2003) “Thực dụng Hán ngữ ngữ

Trang 9

pháp” của Phòng Ngọc Thanh, (Nxb Học viện ngôn ngữ Bắc Kinh, 1991) “Ngoại quốc nhân thực dụng Hán ngữ ngữ pháp” của Lý Đức Tân – Trình Mỹ Trân, (Nxb Hoa ngữ giáo học, Bắc kinh, 1994) v.v…

4 Phương pháp nghiên cứu

Đây là một đề tài tương đối khó và phức tạp Khi nghiên cứu,

phương pháp mà chúng tôi sử dụng chủ yếu là thống kê, mô tả, so sánh và đối chiếu

Trước hết, chúng tôi đọc và kế thừa tất cả các kết quả của các công trình đi trước, tận dụng phần ngữ liệu là các câu làm ví dụ Sau đó chúng tôi thống kê, bổ sung các câu phức (câu ghép trong tiếng Việt) có các cặp từ liên kết trong nhiều loại văn bản khác nhau của cả hai ngôn ngữ Sau khi có được phần thống kê ngữ liệu tương đối đầy đủ, chúng tôi tiến hành xem xét, phân tích riêng từng ngôn ngữ

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số sách lý luận ngôn ngữ, nhất là sách ngữ pháp của các tác giả Trung Quốc và Việt Nam, các giáo trình tiếng Hoa đang được sử dụng rộng rãi ở các trường đại học và cao đẳng trong nước, các giáo trình ngữ pháp tiếng Việt đang được giảng dạy ở các trường phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân và một số bài nghiên cứu về hư từ và các vấn đề liên quan đã công bố trên tạp chí Ngôn ngữ Các ví dụ, các câu trích dẫn được lấy từ các bản dịch Hán – Việt và Việt – Hán của các nhà xuất bản và dịch giả có uy tín của Việt Nam và Trung Quốc

Chúng tôi dựa trên cơ sở ngữ nghĩa để đi vào tìm hiểu về mặt hình thức của từng ngôn ngữ đang khảo sát về các nét tương đồng và dị biệt, dựa trên những kiến thức đã tương đối thống nhất, được đưa vào sách giáo khoa và được giảng dạy ở các bậc học trong hệ thống giáo

Trang 10

dục của Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề hư từ và hư từ liên kết trong câu phức (câu ghép) để so sánh, chỉ ra những điểm giống nhau và sự khác nhau giữa các hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại và các từ tương ứng trong tiếng Việt

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cố gắng mô tả các đối tượng được nghiên cứu của từng ngôn ngữ để góp phần làm sáng tỏ hơn nữa các vấn đề liên quan đến hư từ và hư từ liên kết trong câu phức và câu ghép của tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại, qua đó, nhắm đến mục đích tìm hiểu những nét giống nhau và khác nhau cơ bản nhất của các cặp hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại và các từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại-hai ngôn ngữ rất gần gũi, cùng một loại hình đơn lập – âm tiết tính, từ đó nắm vững hơn về sự tiếp xúc, tác động qua lại của hai ngôn ngữ này

Khi nắm vững được các vấn đề nêu trên, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần tri thức nhỏ bé vào kho tư liệu dùng cho việc dạy và học tiếng Hán hiện đại, cũng như giúp cho công tác phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Hán – Việt và Việt – Hán được tiến hành dễ dàng, thuận tiện và chuẩn xác hơn

Thông qua bảng đối chiếu, chúng tôi sẽ cố gắng cung cấp một danh sách tương đối đầy đủ và chính xác về các cặp hư từ liên kết thường dùng trong câu phức của tiếng Hán hiện đại và các cặp từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại để những người quan tâm dễ dàng trong việc tra cứu, tìm hiểu

Trang 11

Những gì làm được trong luận văn này sẽ là tiền đề để những người quan tâm tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các mặt nội tại của hai ngôn ngữ Việt – Hán, tiến đến so sánh hai ngôn ngữ một cách toàn diện, so sánh hai nền văn hóa lâu đời thông qua hai ngôn ngữ rất đặc sắc của hai nước Việt – Trung hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn và bổ ích

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận ra, luận văn gồm có ba chương chính sau:

Chương 1 Vấn đề hư từ trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại Chương 2 Hư từ kiên kết trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại

Chương 3 So sánh hư từ liên kết trong câu phức của tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại

Trang 12

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ HƯ TỪ TRONG TIẾNG HÁN VÀ

TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI

1.1 Lịch sử nghiên cứu hư từ

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu hư từ tiếng Hán hiện đại

Vấn đề hư từ trong tiếng Hán hiện đại đã được nhiều nhà ngôn ngữ học Trung Quốc và Việt Nam quan tâm, nghiên cứu và đã đạt được một số kết quả nhất định

Các tác phẩm và các nhà nghiên cứu của Trung Quốc đề cập đến vấn đề này rất nhiều, nhưng mỗi tác giả, mỗi tác phẩm đều có đặc điểm riêng, có những giá trị và cống hiến nhất định trong việc nghiên cứu hư từ nói riêng, ngôn ngữ nói chung Dưới đây, xin được trình bày về một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu mà chúng tôi có điều kiện tiếp cận được thông qua các tài liệu

Về các tài liệu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Sầm Kỳ Tường trong “Phổ thông ngôn ngữ học” [50], Hoàng Bá Tông trong

“Hiện đại Hán ngữ” [61], cả hai đều đã đề cập đến hư từ nhưng rất khái quát và chung chung Lý Tề Trung trong “Hán ngữ ngữ pháp tu từ” [46] đã bàn về hư từ tương đối cụ thể nhưng tác giả chưa nêu ra được các hư từ thông dụng Lăng Băng trong “Ngữ pháp tiếng Hán” [42] đã đề cập đến vấn đề hư từ một cách khá rõ ràng nhưng số lượng hư từ liệt kê lại không được phong phú lắm Vương Tự Cường trong “Hiện đại Hán ngữ hư từ” [59] đã nói rất rõ ràng và kỹ lưỡng về hư từ tiếng Hán hiện đại Tác giả này đã liệt kê ra hơn 700 hư từ, chỉ rõ các tầng ý

Trang 13

nghĩa, cách sử dụng và có ví dụ để minh họa Lục Minh Kiệm trong

“Hiện đại Hán ngữ hư từ tản luận” [57] đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề hư từ của tiếng Hán hiện đại Ông dành phần đầu để trình bày về các vấn đề lý luận của hư từ, rồi sau đó liệt kê cụ thể từng hư từ thông dụng, đề cập đến tác dụng cơ bản, cách sử dụng cũng như các tầng ý nghĩa của chúng một cách rất tỉ mỉ

Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã biên soạn và biên dịch nhiều tác phẩm liên quan đến hư từ trong tiếng Hán hiện đại Trong đó có: “Thực hành ngữ pháp tiếng Hán hiện đại” [20], ở đây hư từ được đề cập đến khá nhiều và rõ ràng: Dựa trên ý nghĩa ngữ pháp, từ trong tiếng Hán hiện đại được chia thành hư từ và thực từ Hư từ gồm 6 loại (phó từ, liên từ, trợ từ, giới từ, thán từ, tượng thanh từ) Tác giả đã nêu định nghĩa cho từng loại hư từ và sau đó phân chia thành các tiểu loại rồi nói đến đặc điểm ngữ pháp, chức năng ngữ pháp của từng loại, nêu lên những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng có kèm ví dụ để dẫn chứng

Trong sách “Ngữ pháp tiếng Hoa hiện đại” [11] cũng đề cập đến hư từ nhưng rất ít Tác giả chỉ giới thiệu sơ lược và chỉ rõ tầm quan trọng của hư từ rồi nêu các ví dụ minh họa cho tầm quan trọng đó chứ không đi sâu vào việc tìm hiểu kỹ lưỡng từng loại hư từ

Sách “Luyện thi chứng chỉ B tiếng Hoa” [5] viết khá tỉ mỉ và chi tiết về từng loại hư từ trong tiếng Hán hiện đại, đi từ nêu khái quát chung cách sử dụng, vai trò và tác dụng đến trình bày đặc điểm của từng loại hư từ cụ thể

Ngoài những sách trên, trên thị trường sách hiện nay còn nhiều quyển sách do các tác giả Việt Nam biên soạn và biên dịch có đề cập đến vấn đề này Nói chung, vấn đề hư từ trong tiếng Hán hiện đại được nhiều tác giả cả Việt Nam và Trung Quốc quan tâm và mỗi tác giả đã

Trang 14

có cách đặt vấn đề riêng của mình, có nhiều phát biểu đáng quan tâm

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu hư từ tiếng Việt hiện đại

Hư từ trong tiếng Việt là một vấn đề vô cùng phức tạp, còn nhiều vấn đề tranh cãi chưa có hồi kết, ngay cả thuật ngữ gọi tên cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có người không gọi là hư từ mà gọi là từ

công cụ (Đỗ Thanh, Từ điển từ công cụ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1998),

có người gọi là từ ràng buộc (Trần Ngọc Thêm – Hoàng Huy Lập, Tạp chí Ngôn ngữ số 2, 1991), còn Nguyễn Văn Thành thì cho rằng không nên dùng thuật ngữ “thực từ”, “hư từ” mà nên dùng các thuật ngữ “từ chính yếu”, “từ phụ trợ” v.v… Việc phân định những từ nào thuộc hư từ cũng là một vấn đề khó khăn và phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các nhà Việt ngữ học cho rằng “từ” trong tiếng Việt có hai loại: thực từ và hư từ, hư từ có vai trò rất quan trọng trong việc biểu thị quan hệ ngữ pháp, luôn được đề cập đến khi học tập và nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt

Sách “Ngữ pháp tiếng Việt” của Diệp Quang Ban [1] đã đề cập đến vấn đề hư từ khá rõ ràng Tác giả đưa ra khái niệm hư từ, phân loại

hư từ Đối với từng loại, tác giả nêu lên đặc trưng và phân loại miêu tả

Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp tiếng Việt” [7] đã đề cập đến

hư từ nhưng rất vắn tắt Tác giả cho rằng trong hệ thống từ loại tiếng Việt xét về mặt ngữ pháp có thể chia làm 3 loại: Thực từ, hư từ và tình thái từ Theo tác giả hư từ được chia làm hai loại, đó là hư từ cú pháp và hư từ từ pháp

Nguyễn Đức Dân trong “Dẫn luận ngôn ngữ” [6] cũng quan niệm từ loại tiếng Việt được chia thành hai loại từ lớn: Thực từ và Hư

Trang 15

từ Ông nêu lên quan điểm khái quát về hư từ, phân loại hư từ, những

hư từ thông dụng

Nguyễn Anh Quế trong “ Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” [14] đã bàn về hư từ rất chi tiết, tác giả phân hư từ thành nhiều nhóm, đưa ra các ví dụ và phân tích ý nghĩa rất tỉ mỉ

Ngoài những tác giả và tác phẩm trên, còn nhiều tác giả đã đề cập đến hư từ trong tiếng Việt hiện đại như: “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt” [16], “ Từ loại tiếng Việt hiện đại” [2], “Ngữ pháp tiếng Việt” [13], “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt” [3] v.v… Tạp chí Ngôn ngữ cũng có nhiều bài viết về hư từ trong tiếng Việt hiện đại

1.2 Vấn đề hư từ trong tiếng Hán hiện đại

1.2.1 Những quan niệm về hư từ trong tiếng Hán hiện đại

Hư từ trong tiếng Hán hiện đại được nhiều nhà nghiên cứu đề cập: Nghê Hải Thự trong lời giới thiệu quyển sách “Hiện đại Hán ngữ

hư từ từ điển” của Vương Tự Cường cho rằng “Hư từ là một loại lớn của từ loại tiếng Hán, trái ngược với thực từ Về chức năng, thực từ có thể đơn độc làm thành phần câu, còn hư từ thì không thể, nó chỉ có tác dụng liên kết Nói một cách hình tượng là: Thực từ giống như gạch, gỗ, đá trong kiến trúc, còn hư từ thì giống như vôi, hồ, bùn, cát” Ông còn cho rằng: “Học ngôn ngữ thực từ dễ nắm vững hơn, còn hư từ thì rất khó Không có hư từ, hoặc giả hư từ được sử dụng không thích hợp thì sẽ không thể tổ chức thành câu, đặc biệt là những câu phức”.[59]

Theo Vương Tự Cường trong “ Hiện đại Hán ngữ hư từ từ điển” thì nêu rõ hư từ có ý nghĩa trừu tượng, rỗng không, nhưng nó có tác dụng giúp thực từ biểu đạt ý nghĩa Hư từ trong từ vựng của các ngôn

Trang 16

ngữ đều có số lượng ít hơn so với thực từ nhưng cách dùng của nó thì linh hoạt và phức tạp hơn nhiều Vì vậy, hư từ khó nắm vững hơn”.[59]

Lý Tề Trung trong sách “Hán ngữ ngữ pháp tu từ” cho rằng “Hư từ không có ý nghĩa từ vựng như thực từ, nhưng có ý nghĩa ngữ pháp rất quan trọng Hư từ không thể làm thành phần câu, chủ yếu có tác dụng ngữ pháp, nó có tác dụng kết hợp ngữ pháp giữa thực từ với thực từ”.[46, 20]

Lăng Băng cho rằng số lượng hư từ tuy ít nhưng tần số xuất hiện trong câu thì cao, còn ý nghĩa và cách sử dụng thì rất khó nắm vững [42, 93]

Phòng Ngọc Thanh trong “Thực dụng Hán ngữ ngữ pháp” (chỉ rõ hư từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp, không có ý nghĩa từ vựng [52, 47-48]

Trong quyển “ Hiện đại Hán ngữ hư từ tản luận”, Lục Kiệm Minh quan niệm “Hư từ trong các ngôn ngữ có một vị trí rất quan trọng, mà trong tiếng Hán lại càng quan trọng hơn vì so với các ngôn ngữ khác, tiếng Hán thuộc vào nhóm ngôn ngữ có loại hình đơn lập nên vai trò của hư từ phải đảm nhận nhiệm vụ ngữ pháp là rất quan trọng Vì vậy, muốn học tập, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán, không thể không coi trọng việc học tập và nghiên cứu hư từ tiếng Hán”.[60]

Về phía các nhà nghiên cứu tiếng Hán ở Việt Nam, cũng có một số quan niệm rất đáng lưu ý Soạn giả Phan Kỳ Nam trong “Phương pháp học tiếng Hoa hiện đại” cho rằng “Hư từ tiếng Hán là những từ tuy không có ý nghĩa từ vựng cụ thể, không tự mình tạo thành câu, nhưng ý nghĩa ngữ pháp và tác dụng của nó ở trong câu mà nó thể hiện thì không thể coi thường”.[12]

Trong “Ngữ pháp tiếng Hoa”, soạn giả Lê Đình Khẩn cho rằng

Trang 17

“Từ có thể phân chia thành thực từ và hư từ, thực từ là những từ có ý nghĩa tương đối thực, có thể đơn độc dùng để trả lời vấn đề, còn hư từ thì ngược lại, không có ý nghĩa thực tại, không thể đơn độc trả lời vấn đề mà có tác dụng trợ giúp tạo câu”

Trong “Tài liệu luyện thi Chứng chỉ B tiếng Hoa”, Nguyễn Thiện Chí quan niệm “Hư từ không có ý nghĩa thực tại như thực từ, song vai trò của chúng trong ngữ pháp lại vô cùng quan trọng, đó chính là ý nghĩa ngữ pháp của hư từ”.[5]

Nguyễn Hữu Trí trong “Thực hành ngữ pháp tiếng Hán hiện đại” cho rằng “Tùy theo ý nghĩa hay đặc điểm ngữ pháp của từ mà có thể phân thành hai loại từ: Thực từ và hư từ Thực từ có ý nghĩa tương đối rõ ràng, có khả năng đứng độc lập để đảm nhiệm thành phần câu nhưng hư từ thì ngược lại, hư từ hầu như không có ý nghĩa thực tại, do đó nó không thể độc lập đảm nhận thành phần câu”.[20]

Qua các ý kiến mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên, có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu đều tương đối nhất trí về tính chất của hư từ trong tiếng Hán hiện đại Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy hư từ tiếng Hán bao gồm bốn đặc điểm sau:

- Không có ý nghĩa từ vựng cụ thể

- Không thể đơn độc làm thành phần câu

- Không thể đơn độc trả lời câu hỏi

- Có tác dụng ngữ pháp: Giúp thực từ biểu đạt ý nghĩa

1.2.2 Giới thiệu sơ lược về sự phân loại hư từ trong tiếng Hán hiện đại

Trang 18

Các nhà Hán ngữ học căn cứ vào đặc điểm của hư từ đã phân chia từ loại thành hai nhóm thực từ và hư từ Tuy đã có kết luận tương đối nhất trí giữa các nhà nghiên cứu Hán ngữ hiện đại về đặc điểm của

hư từ, nhưng khi đi vào phân loại các từ loại thuộc hư từ thì chúng ta thấy vẫn còn một số ý kiến chưa được thống nhất cao

Để tiện theo dõi, chúng tôi xin đưa vào đây bảng đối chiếu để thấy rõ sự khác nhau giữa thực từ và hư từ trong tiếng Hán hiện đại

Trang 19

Đặc điểm hư từ

của tiếng Hán hiện đại

Đặc điểm thực từ của tiếng Hán hiện đại

-Không có ý nghĩa từ vựng cụ

-Đại đa số vị trí kết cấu ngữ

pháp trong câu là cố định

-Có tác dụng ngữ pháp giúp

thực từ biểu đạt ý nghĩa

-Có ý nghĩa từ vựng cụ thể

-Có thể đơn độc làm thành phần câu

-Có thể đơn độc trả lời câu hỏi

-Đại đa số vị trí kết cấu ngữ pháp trong câu không cố định

Thông qua bảng đối chiếu trên, chúng ta thấy đặc điểm nổi bật nhất của

hư từ trong tiếng Hán hiện đại (và cũng là đặc điểm mang tính phổ quát của nhiều ngôn ngữ khác) là không có ý nghĩa từ vựng cụ thể và vì vậy nó không thể độc lập trả lời câu hỏi, nhưng trong thực tế có một số phó từ (vẫn thường được xếp vào nhóm hư từ) lại có thể đơn độc trả lời câu hỏi Trong “Hiện đại Hán ngữ hư từ tản luận” Lục Kiệm Minh đã chứng minh có 65 phó từ có thể đơn độc trả lời câu hỏi trong tổng số 486 phó từ thường dùng mà ông ta khảo sát (khoảng 13,4%) Đó là những phó từ như: 不,也许,一定 v.v… [41]

Trang 20

Ngược lại, có một số từ tuy có ý nghĩa từ vựng cụ thể (tức thuộc thực từ) nhưng lại không thể sử dụng đơn độc để trả lời câu hỏi, đó là trường hợp của các lượng từ

Từ đó, nảy sinh ra việc có một số nhà nghiên cứu đã xem phó từ là hư từ, hoặc cho rằng nó vừa là hư từ vừa là thực từ Vương Lực trong

“Trung Quốc hiện đại ngữ pháp” đã xem lượng từ là “bán hư từ”, xem phó từ là “bán thực từ” [65]

Một số nhà nghiên cứu cũng cho rằng từ tượng thanh, thán từ là thực từ (Lý Tề Trung – “Hán ngữ ngữ pháp tu từ”) và số khác đông hơn lại cho rằng đó là hư từ Đưa ra những thực tế nêu trên để chúng ta nhận thức được sự phân chia các từ loại thuộc nhóm hư từ trong tiếng Hán hiện đại là một thực tế đầy phức tạp với nhiều quan niệm chưa được thống nhất Sau đây là một số khuynh hướng phân chia các từ loại thuộc hư từ của các nhà nghiên cứu

Vương Tự Cường trong sách “Hiện đại Hán ngữ hư từ từ điển” (Sđd) cho rằng hư từ bao gồm năm loại: Phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ và thán từ

Lý Tề Trung trong sách “Hán ngữ ngữ pháp hư từ” (Sđd) quan niệm hư từ chỉ bao gồm bốn loại: Giới từ, liên từ, trợ từ và ngữ khí từ

Lục Kiệm Minh trong sách “Hiện đại Hán ngữ hư từ tản luận” (Sđd) cho rằng hư từ bao gồm: Phó từ, giới từ, liên từ, thán từ, trợ từ và ngữ khí từ

Trang 21

Trong “Hiện đại Hán ngữ từ điển” do Ban biên soạn từ điển của Sở Nghiên cứu ngôn ngữ thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc biên soạn đã khẳng định hư từ bao gồm sáu loại sau: Phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ, tượng thanh từ

Lăng Băng trong “Ngữ pháp tiếng Hán” (Sđd) cho rằng hư từ bao gồm: Phó từ, liên từ, trợ từ, ngữ khí từ, tượng thanh từ

Phòng Ngọc Thanh trong “Thực dụng Hán ngữ ngữ pháp” (Sđd) cho rằng hư từ bao gồm: Phó từ, liên từ, trợ từ và giới từ

Chu Đức Hy trong “Ngữ pháp giảng nghĩa” thì cho rằng hư từ chỉ gồm có: Phó từ, giới từ, trợ từ, ngữ khí từ.[62]

Nghê Hải Thự trong lời giới thiệu quyển “Hiện đại Hán ngữ hư từ từ điển” của Vương Tự Cường (Sđd) có viết: “Từ loại nào trong tiếng Hán thuộc về hư từ là một vấn đề có nhiều ý kiến bất đồng Nói chung việc xếp giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ thuộc hư từ thì không có vấn đề gì, nhưng ý kiến bất đồng là xoay quanh phó từ Nếu xét về phương diện chức năng, phó từ có thể đảm nhiệm thành phần câu, nên thuộc về thực từ, nhưng cũng có người xét từ phương diện ngữ nghĩa thì phó từ không có ý nghĩa thực tại nên phải thuộc về hư từ Từ đó, đã xuất hiện ý kiến trung hòa cho rằng phó từ là “bán thực từ” Và theo ông thì hư từ chỉ bao gồm giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ, còn phó từ ông xếp vào loại thực từ

Để dễ hình dung các quan niệm nêu ở phần trên, chúng tôi xin trình bày một bảng khảo sát các quan niệm phân loại hư từ trong tiếng Hán hiện đại

Trang 22

từ từ từ từ từ Khí

từ

Thanh từ

Qua bảng khảo sát trên chúng tôi nhận thấy các nhà ngôn ngữ học và nhà nghiên cứu đều có ý kiến tương đối thống nhất khi quan niệm năm loại: Phó từ, liên từ, giới từ, thán từ, trợ từ thuộc hư từ, chỉ có Nghê Hải Thự cho rằng phó từ không thuộc hư từ và Lý Tề Trung quan niệm phó từ và thán từ không thuộc hư từ Trong tám nhà nghiên cứu thì có bốn vị xếp ngữ khí từ vào hư từ, nhưng thật ra nhiều nhà nghiên cứu đã nhập ngữ khí từ vào trong thán từ Đây là một hướng đi hợp lý vì trong trợ từ có ba tiểu loại: Trợ từ kết cấu, trợ từ động thái và trợ từ ngữ khí, ngữ khí từ đưa vào phần trợ từ ngữ khí là rất hợp lý Về Tượng thanh từ, theo các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc, đây là từ mô phỏng âm thanh của động tác hoặc sự vật, nó không có ý nghĩa thực tại mà chỉ hiển thị một loại âm thanh nào đó, nhưng nó cũng không diễn đạt ý

Trang 23

nghĩa ngữ pháp, vì thế, việc xếp nó vào hư từ như Lã Thúc Tương và Lăng Băng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi

Chúng tôi ủng hộ quan điểm tương đối thống nhất là hư từ bao gồm năm loại sau: Phó từ, liên từ, giới từ, thán từ, trợ từ như các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Lã Thúc Tương, Vương Tự Cường, Chu Đức

Hy v.v… đã quan niệm Cách dùng của hư từ tiếng Hán hiện đại trong thực tế là rất phức tạp và linh hoạt, để nắm vững và sử dụng hiệu quả tiếng Hán nhất thiết phải quan tâm thích đáng đến từng khía cạnh của từng loại hư từ (như định nghĩa, đặc điểm ngữ pháp và phạm vi sử dụng)

1.3 Vấn đề hư từ trong tiếng Việt hiện đại

Các nhà Việt ngữ học có rất nhiều phát biểu đáng chú ý liên quan đến hư từ Trong đó, có nhiều ý kiến trái ngược nhau về quan điểm, về cách phân loại, về các tiểu loại trong hư từ v.v… Đây là vấn đề còn tranh luận, chưa được thống nhất, vì trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, việc phân loại vốn từ của một ngôn ngữ cụ thể có thể được xem xét dưới nhiều góc độ, với nhiều phương pháp tiếp cận vấn đề khác nhau, ứng với nó là những tiêu chuẩn phân loại khác nhau như tiêu chuẩn về ý nghĩa, tiêu chuẩn về hình thức, về khả năng kết hợp, về chức năng ngữ pháp v.v… Vì thế, tùy theo yêu cầu, mục đích, xu hướng nghiên cứu, cách tiếp cận mà các nhà ngôn ngữ học có thể phân loại vốn từ theo nhiều cách rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Chẳng hạn, khi xuất phát từ tính hoàn chỉnh về ngữ pháp để phân chia vốn từ thì xuất hiện hai nhóm từ lớn: Từ độc lập về nghĩa và từ ràng buộc về nghĩa, còn khi dựa vào cấu trúc và chức năng của các từ người

Trang 24

ta lại chia vốn từ thành hai nhóm: Thực từ và hư từ

Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi sẽ chủ yếu chỉ căn cứ vào những quan niệm đã được số đông nhất trí, dựa vào những tri thức đã chính thức được đưa vào giảng dạy trong các trường phổ thông

và đại học của nước ta Chúng tôi đề cập hư từ như một khái niệm mang tính phổ biến, khái quát

1.3.1 Những quan điểm về hư từ trong tiếng Việt hiện đại

Chúng tôi xin phép được chọn lọc để trình bày tóm tắt một số quan điểm được nhiều người chú ý của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học nước ta Đây là những quan niệm về hư từ tương đối thống nhất, được nhiều người đồng thuận và được sử dụng trong giảng dạy và học tập chính khóa trong hệ thống giáo dục của nước ta từ nhiều thập kỷ nay

Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt – Tập 1” (Nxb

Giáo dục) quan niệm: Hư từ là lớp từ có số lượng ít hơn so với thực từ, có ý nghĩa phạm trù mờ nhạt, chuyên dùng để biểu thị các quan hệ ngữ pháp, không có khả năng làm thành tố chính trong đoản ngữ hoặc câu, chuyên dùng để làm thành tố phụ đi kèm thực từ, hoặc dùng để liên kết từ trong câu

Lê Biên trong “Từ loại tiếng Việt hiện đại” [2] cho rằng: Hư từ chiếm số lượng từ không lớn, hư từ không có ý nghĩa định danh, ý nghĩa của các hư từ có tính chất ngữ pháp Các hư từ không có khả năng dùng độc lập và không thể đảm nhận những chức vụ cú pháp chính của câu Trong những tình huống giao tiếp nhất định, một vài hư từ cũng có thể dùng độc lập (như: chưa, rồi … )

Trang 25

Các tác giả trong “Hỏi đáp về ngữ pháp tiếng Việt” chỉ ra rằng:

“Hư từ là những từ không dùng để làm các thành phần câu (tức là không có chức năng cú pháp trong câu) mà chỉ có tác dụng gắn kết các thực từ lại với nhau khi những từ ấy hoạt động trong lời nói Có thể ví một cách thô thiển là hư từ như chất hồ vữa, được dùng để gắn với các từ khác khi ta muốn tạo nên một công trình xây dựng là câu” [4]

Hoàng Trọng Phiến trong “Ngữ pháp tiếng Việt” viết: “Tiếng Việt có một hệ thống hư từ rất phong phú và tế nhị về ý nghĩa Vai trò của chúng là công cụ ngữ pháp, mang chức năng ngữ pháp nên người ta gọi chung hư từ là từ chức năng Về phương diện ngữ pháp, các từ chức năng có vai trò quan trọng”.[13]

Nguyễn Anh Quế trong “Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” có phát biểu: “hư từ là những từ không có ý nghĩa thực (nghĩa từ vựng) mà chỉ có nghĩa ngữ pháp Hư từ được dùng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp, các ý nghĩa ngữ pháp của từ trong cụm từ và trong câu Nó có số lượng

ít nhưng tần số xuất hiện trong thực tiễn ngôn ngữ rất cao và có vai trò rất quan trọng về mặt ngữ pháp” [14]

Nguyễn Văn Thành trong “Hệ thống các từ chỉ thời thể và phạm trù ngữ pháp của các cấu trúc thời thể của động từ trong tiếng Việt” quan niệm hư từ là những từ có ý nghĩa từ vựng độc lập và nghĩa từ vựng của chúng đồng nhất với ý nghĩa ngữ pháp nhưng không đóng vai trò thành phần cú pháp nào trong câu Theo ông không nên dùng thuật ngữ “thực từ” và “hư từ” mà nên dùng các thuật ngữ “từ chính yếu” và

“từ phụ trợ” vì trong câu từ nào cũng là thực cả, đối lập “thực – hư” không nói lên được bản chất ngữ pháp của hai loại từ nói trên.[34]

Nguyễn Minh Thuyết trong “Thảo luận về vấn đề cần xác định

Trang 26

hư từ trong tiếng Việt” cho rằng hư từ về mặt ngữ nghĩa thì không có ngữ nghĩa chân thực, về mặt hình thức thì không có khả năng làm thành phần câu và làm nên câu độc lập.[36]

Nguyễn Đức Dân trong “Dẫn luận ngôn ngữ” [5], Nguyễn Kim Thản trong “Nghiên cứu ngữ nghĩa tiếng Việt” [16], Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) trong “Dẫn luận ngôn ngữ học” [8] đều cùng chung quan điểm cho rằng hư từ là lớp từ không có ý nghĩa từ vựng, chuyên biểu thị ý nghĩa ngữ pháp Hư từ rất quan trọng đối với các ngôn ngữ không biến hình

Hư từ trong tiếng Việt còn được rất nhiều sách ngôn ngữ đề cập đến nhưng do khuôn khổ, phạm vi và mục đích của luận văn nên chúng tôi chỉ nêu ra một số ý kiến tiêu biểu như trên Qua những ý kiến đó, chúng tôi thấy các nhà ngôn ngữ đã có những quan niệm về hư từ tương đối thống nhất Trên cơ sở các quan niệm về hư từ nêu trên có thể đưa

ra bộ tiêu chí nhận diện hư từ như sau:

- Không có ý nghĩa từ vựng, số lượng ít nhưng tần số xuất hiện trong câu nhiều

- Chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp

- Không có khả năng tham gia vào các kết cấu khác nhau và không có khả năng làm thành tố chính trong câu

- Thường dùng làm thành tố phụ đi kèm danh từ

1.3.2 Giới thiệu sơ lược về sự phân loại hư từ trong tiếng Việt hiện đại

Định nghĩa hư từ trong tiếng Việt hiện đại đã không đơn giản, sự

Trang 27

phân loại hư từ lại càng khó khăn và phức tạp hơn Vì lẽ đó, đầu tiên, chúng tôi xin trình bày một số ý kiến tiêu biểu của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, sau đó, tiến hành tìm hiểu cách thức phân loại hư từ trong tiếng Việt thông qua các quan niệm của sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy đang được sử dụng rộng rãi trong hệ thống giáo dục của chúng ta

Như đã trình bày ở phần trên, cơ sở phân định hư từ (và thực từ) khác nhau sẽ dẫn đến hướng phân loại hư từ khác nhau Nếu dựa vào tiêu chí từ vựng, chức năng để phân loại vốn từ tiếng Việt thành thực từ và hư từ thì đương nhiên khi phân loại hư từ cũng sẽ phải đi theo hướng tiếp cận đó Vì thế, khi phân loại hư từ các nhà nghiên cứu cũng có nhiều ý kiến khác nhau bởi họ đã xuất phát từ những tiêu chí nghiên cứu, yêu cầu và mục đích nghiên cứu khác nhau Ngay cả tên gọi cũng vậy, trong các công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến phó từ với nhiều tên gọi khác hẳn như: phó từ (Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban), trạng từ (Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh), từ kèm (Đái Xuân Ninh, Hồng Dân), từ phụ (Đinh Văn Đức), phụ từ (Bùi Tất Tươm, Hoàng Trọng Phiến), phụ vị từ (Trần Hoàng) Chỉ một loại

hư từ – phó từ mà ít nhất đã có đến sáu tên gọi khác nhau, qua đó ta càng thấy rõ sự phức tạp của hư từ nói chung

Sau đây, chúng tôi trình bày cụ thể một số quan niệm phân loại

hư từ trong tiếng Việt hiện đại theo hướng tiếp cận của luận văn

Nguyễn Đức Dân trong “Dẫn luận ngôn ngữ” (Sđd) cho rằng hư từ bao gồm năm loại, đó là: Phụ từ, kết từ, trợ từ, thán từ và tình thái từ Trong đó, Phụ từ là những từ làm nên thành phần phụ cho những kết cấu do thực từ làm trung tâm, thường được phân làm hai tiểu loại: Phụ

Trang 28

từ đi chung với danh từ và phụ từ đi chung với động từ, tính từ; kết từ là những từ có chức năng liên kết các yếu tố trong một cụm từ, các thành phần trong một câu, các vế câu trong một câu ghép gồm có liên từ và giới từ, trợ từ là những từ dùng để nhấn mạnh, thán từ là những từ biểu

hiện cảm xúc như: ơi, ôi, ái , á … , tình thái từ như: à, ư, nhé, hình như …

Dưới đây, là phần trình bày quan niệm của ông thông qua sơ đồ:

Trang 29

SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI HƯ TỪ CỦA NGUYỄN ĐỨC DÂN

Đi với động từ Đi với tính từ

Hư từ Thực từ

Trợ từ Tình thái Thán từPhụ từ

Phân loại từ

Kết từ

Nguyễn Kim Thản trong “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt” (Sđd)

thì cho rằng hư từ tiếng Việt bao gồm: Phụ trợ từ và quan hệ từ (chia theo ý nghĩa hình thức) Chúng ta có thể tìm hiểu cách phân loại của ông qua sơ đồ sau:

Giới từ Liên từ Hệ từ

Từ

Phó từ

Trang 30

Nếu Nguyễn Đức Dân xếp tình thái từ vào hư từ thì Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp tiếng Việt” [7] lại cho rằng tình thái từ là một lớp

từ chuyên biệt ngang hàng với thực từ và hư từ Tác giả cho rằng quan hệ từ thuộc về hư từ và cho rằng hư từ bao gồm hai tập hợp: “Hư từ cú pháp và hư từ từ pháp” Các hư từ từ pháp có chức năng diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp của thực tư,ø trong quan hệ cấu trúc chúng chuyên dùng làm thành tố phụ trong các đoản ngữ Còn hư từ cú pháp thì ngược lại, không được dùng để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp của thực từ, mà dùng để diễn đạt mối quan hệ giữa thực từ với thực từ trong các phát ngôn Theo ông, ngữ pháp truyền thống từ trước đến nay vẫn chia quan hệ từ ra làm hai từ loại nhỏ là liên từ và giới từ

Nguyễn Hữu Quỳnh trong “Tiếng Việt hiện đại” [15] quan niệm

hư từ gồm: Phó từ và quan hệ từ Nguyễn Đức Dân và Nguyễn Kim Thản cho rằng: Quan hệ từ bao gồm liên từ và giới từ (Nguyễn Kim Thản còn có thêm hệ từ), còn Nguyễn Hữu Quỳnh lại phân ra thành hai loại: Quan hệ từ liên hợp và quan hệ từ chính phụ

Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong “Ngữ Pháp Tiếng Việt - tập 1” [1] phân loại hư từ tương đối giống quan niệm của Nguyễn Đức Dân Diệp Quang Ban cho rằng hư từ bao gồm: Phụ từ, kết từ, tiểu từ

SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI HƯ TỪ CỦA DIỆP QUANG BAN

Hư từThực từ

Vốn từ

Trang 31

Theo ông, phó từ là những từ dùng kèm với thực từ (động từ, tính từ) Ta thấy Nguyễn Đức Dân cũng có quan niệm tương tự với Diệp Quang Ban nhưng chẳng qua ông đã sử dụng thuật ngữ khác đi mà thôi: Với phó từ thì ông gọi là phụ từ, với định từ thì ông gọi là

“phụ từ đi với danh từ” với động từ thì ông gọi là “phụ từ đi với động từ”, với tính từ thì ông gọi là “phụ từ đi với tính từ” Về vấn đề kết từ, Diệp Quang Ban đã chia kết từ thành hai lớp: Lớp kết từ chính phụ (chính là giới từ), lớp kết từ đẳng lập (chính là liên từ) Quan điểm này cũng tương tự như quan điểm của Nguyễn Đức Dân và Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức Các thuật ngữ Diệp Quang Ban dùng hoàn toàn giống với thuật ngữ mà Đinh Văn Đức sử dụng (quan hệ từ còn gọi là kết từ cũng phân làm hai: đẳng lập và chính phụ) và Nguyễn Đức Dân và Diệp Quang Ban đều gọi là kết từ, nhưng khi phân loại Nguyễn Đức Dân gọi là giới từ và liên từ Tiểu từ được Diệp Quang Ban chia làm hai loại: Trợ từ và tình thái từ, còn Nguyễn Đức Dân cũng cho rằng trợ từ và tình thái từ thuộc về hư từ nhưng không quy chúng về từ loại tiểu từ như Diệp Quang Ban Thật ra, ở đây, chỉ có tên gọi là khác nhau còn

Trang 32

bản chất ngữ nghĩa và chức năng ngữ pháp thì hoàn toàn giống nhau

Ngoài những nhà nghiên cứu với các cách thức phân loại hư từ mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên, chúng tôi nhận thấy còn nhiều nhà nghiên cứu cũng tiến hành phân loại hư từ như: Nguyễn Văn Thành, Lê Biên … Đặc biệt, Nguyễn Anh Quế trong “Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” đã phân hư từ ra làm bốn nhóm, rất rõ ràng và tỉ mỉ: Nhóm hư từ làm thành tố phụ đứng trước danh từ; nhóm hư hừ làm thành tố phụ đứng trước động từ; nhóm quan hệ từ và nhóm hư từ tình thái Sau đây là sơ đồ phân loại hư từ của Nguyễn Anh Quế (trang sau)

Trang 33

SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI HƯ TỪ THEO NGUYỄN ANH QUẾ

Nhóm hư từ làm thành tố phụ đứng trước danh từ: Những, các, mọi, cái

Nhóm hư từ đứng trước động từ: Những từ: Cũng, đều, vẫn, còn, cứ

Biểu thị thời gian: Đã, đang, sẽ, vừa, mới ngay.Biểu thị phụ định: Không, chưa, chẳng

Biểu thị mệnh lệnh cầu khiến: Hãy, đừng, chớ.Biểu thị mức độ: Rất, hơi, lắm, quá

Quan hệ chính phụ: Của, bằng, cho, mà, bởi

Quan hệ thời gian: (vd: rồi) lựa chọn (vd: hoặc)trái ngược (vd: nhưng, mà, song)

Quan hệ chính phụ:

♦ Thời gian – điều kiện: Tuy, dù, mặc dù

♦ Nguyên nhân kết quả: Giả sử, giá mà

♦ Nhượng bộ tăng tiến: Thà, chứ, vì, tại

Nhóm quan hệ từ Giới từ

Liên từ

Một số hư từ đặc biệt: mà, thì, kẻo Nhóm hư từ tình thái: à, ứ, nhỉ, nhé, ạ, đấy

Phụ từ: Ngữ khí từ: Ngữ khí tạo câu (vd: à, ư, nhỉ …)

Ngữ khí biểu thị thái độ (vd: ạ, kia …)

Cảm thán từ Trợ từ: Đến cả, cả đến, đích, chính, ngay

Qua sự phân loại hư từ của các nhà nghiên cứu mà chúng tôi đã

tiếp cận ở phần trên, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng

Trang 34

Đa số đều cho rằng: Phó từ, quan hệ từ, trợ từ, tình thái từ là hư từ, có những trường hợp dùng thuật ngữ để định danh không giống nhau nhưng họ cùng nói về một vấn đề, cùng chỉ một sự vật Chẳng hạn như: Tiểu từ chính là trợ từ và tình thái từ; kết từ chính là quan hệ từ, hay phó từ chính là phụ từ v.v…

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những ý kiến chưa thống nhất như: Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Hữu Quỳnh, Diệp Quang Ban, Lê Biên cho rằng phó từ hoàn toàn thuộc về hư từ, nhưng có nhà nghiên cứu cho rằng nó là bán thực từ, bán hư từ, cũng có người không xếp nó vào hư từ như Đinh Văn Đức Lại có người cho là trợ từ và tình thái từ thuộc hư từ như: Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Anh Quế, Diệp Quang Ban …, nhưng cũng có người không quy nó vào hư từ như: Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Nguyễn Hữu Quỳnh Thậm chí Nguyễn Kim Thản còn cho rằng lượng từ (phó danh từ) cũng thuộc hư từ Mỗi người có một quan điểm khác nhau vì xuất phát từ hướng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu khác nhau và ai cũng có lý lẽ riêng của họ Qua đó, chúng tôi càng thấy rõ hơn sự phức tạp của hư từ tiếng Việt hiện đại

Tiểu kết:

Hư từ trong tiếng Hán hiện đại và trong tiếng Việt hiện đại đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Khác với sự thống nhất trong quan niệm về hư từ trong tiếng Hán hiện đại, trong tiếng Việt hư từ vẫn đang còn là vấn đề tranh luận của nhiều nhà Việt ngữ học Hiện chưa có ý kiến thống nhất

Về phân loại hư từ tiếng Hán, ý kiến được số đông các nhà ngôn ngữ học đồng tình là bao gồm năm loại: Phó từ, liên từ, giới từ, thán từ,

Trang 35

trợ từ, chúng tôi cũng ủng hộ cách phân loại này Hư từ là một bộ phận quan trọng của Hán ngữ, cách sử dụng phức tạp, là đối tượng cần được chú trọng trong nghiên cứu và học tập tiếng Hán của mọi đối tượng

Trong tiếng Việt, tuy có nhiều ý kiến khác nhau về hư từ, nhưng Nguyễn Đức Dân và Diệp Quang Ban là hai tác giả có quan điểm tương đối thống nhất và những quan điểm ấy trên thực tế đã được đưa vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục của nước ta từ phổ thông đến đại học Chúng tôi cũng tán thành với quan niệm của hai nhà nghiên cứu này, và lấy đó làm căn cứ để đi vào nghiên cứu về hư từ liên kết ở những phần sau của luận văn

Trang 36

CHƯƠNG 2

HƯ TỪ LIÊN KẾT TRONG TIẾNG HÁN VÀ

TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI

2.1 Hư từ liên kết trong tiếng Hán hiện đại

2.1.1 Tính chất và đặc điểm của hư từ liên kết trong tiếng Hán hiện

đại

Theo “Hiện đại Hán ngữ hư từ”, hư từ liên kết (thường còn gọi là liên từ) trong tiếng Hán hiện đại là hư từ có chức năng liên kết nhiều tầng cấp, nó vừa có thể liên kết từ với đoản ngữ, lại vừa có thể liên kết tiểu câu với câu, liên kết câu với nhóm câu Hơn nữa, ngoài chức năng liên kết ngữ pháp ra, từ liên kết còn có chức năng ngữ nghĩa là bổ ngữ Về mặt chức năng cú pháp, hư từ liên kết (liên từ) có bốn đặc trưng sau đây

Đặc trưng 1:

Hư từ liên kết luôn là loại từ bám theo, bản thân từ liên kết không thể dùng riêng một mình, cũng không thể tách riêng nửa vế được liên kết để nói

Ví dụ:

- 桌子和椅子(cái bàn và cái ghế); *和椅子(và cái ghế)

(Nếu anh bận, có thể xin nghỉ phép)

Trang 37

Đặc trưng 2:

Từ liên kết không thể nhận bổ nghĩa từ các từ khác Cũng có nghĩa là thành phần bổ nghĩa xuất hiện trước liên từ không thể bổ nghĩa cho bản thân liên từ, mà nếu có thì chỉ có thể bổ nghĩa cho cả phần câu mà liên từ đang dẫn dắt

Trang 38

Không thể viết thành:

- Nếu liên kết hai vị ngữ, thì từ liên kết đương nhiên chỉ có thể đứng sau chủ ngữ mà thôi

Ví dụ:

chỉ có nội dung tốt, mà giá cũng không đắt.)

2.1.2 Các tiêu chí nhận diện và sự phân loại hư từ liên kết trong

tiếng Hán hiện đại

a Các tiêu chí nhận diện hư từ liên kết

Để nhận biết một từ nào đó có phải là liên từ hay không, ta có thể dựa vào ba tiêu chí sau đây để xác định Chỉ cần phù hợp với một trong ba tiêu chí ấy, ta có thể khẳng định đó chính là liên từ

Tiêu chí 1:

Nối kết hai hoặc trên hai kết cấu song song, đứng giữa hai kết cấu hoặc hai kết cấu song song nếu có nhiều kết cấu song song Kết cấu ngôn ngữ được liên kết có thể dùng đơn độc để thể hiện trong lời nói

Ví dụ:

(Tham gia hay không tham gia, bạn tự quyết định)

Trang 39

Ví dụ:

(Tuy tôi không được khỏe,) nhưng tôi đồng ý tham gia

Trang 40

b Phân loại hư từ liên kết trong tiếng Hán hiện đại

Chúng ta có nhiều cách để phân loại hư từ liên kết (Lk) trong tiếng Hán hiện đại xuất phát từ nhiều góc nhìn khác nhau Sau đây, chúng tôi xin trình bày một số cách phân loại Mỗi cách phân loại đều có ưu điểm riêng, chúng ta nên căn cứ vào tình hình thực tế khi có nhu cầu phân loại cũng như mục đích phân loại mà kết hợp vận dụng để đạt hiệu quả

Cách 1:

Căn cứ vào vị trí của liên từ (Lt), chúng ta có thể chia hư từ Lk

ra hai loại: Lt đứng trước và Lt đứng sau Lt đứng trước là những Lt có

vị trí ở phiá trước thành phần bị liên kết hoặc bộ phận bị liên kết; Lt đứng sau là chỉ những Lt đứng sau thành phần bị liên kết

Chúng ta cũng có thể chia thành hai loại từ Lk định vị và từ Lk

di động Nếu như vị trí của từ Lk ở trong câu là cố định, không thể thay đổi ta gọi là Lt định vị, nếu vị trí của Lt mà có thể thay đổi thì ta gọi đó là Lt di động

Ngày đăng: 01/07/2023, 11:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. DIỆP QUANG BAN (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: DIỆP QUANG BAN
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2. LÊ BIÊN, Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: LÊ BIÊN
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
21. Giáo trình tiếng Việt, trường Trung học sư phạm TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tiếng Việt
Nhà XB: trường Trung học sư phạm TP. HCM
22. Từ điển Trung Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992. Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Trung Việt
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1992
24. HỒNG DÂN, Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt
Tác giả: HỒNG DÂN
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1982
25. NGUYỄN ĐỨC DÂN, Ngữ nghĩa các hư từ: định hướng nghĩa của từ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa các hư từ: định hướng nghĩa của từ
Tác giả: NGUYỄN ĐỨC DÂN
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1984
26. NGUYỄN ĐỨC DÂN-LÊ ĐÔNG, Phương thức liên kết của từ nối, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức liên kết của từ nối
Tác giả: NGUYỄN ĐỨC DÂN-LÊ ĐÔNG
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1985
27. NGUYỄN ĐỨC DÂN-TRẦN THỊ CHUNG TOÀN, Ngữ nghĩa một số hư từ : Cũng, Chính, Cả, Ngay, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa một số hư từ : Cũng, Chính, Cả, Ngay
Tác giả: NGUYỄN ĐỨC DÂN-TRẦN THỊ CHUNG TOÀN
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1982
28. ĐINH TRỌNG ĐẠT-BÙI CÔNG CẨN, Trường cú trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường cú trong tiếng Việt
Tác giả: ĐINH TRỌNG ĐẠT-BÙI CÔNG CẨN
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2000
29. LÊ THỊ MINH HẰNG, Một đề nghị phân loại câu điều kiện tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một đề nghị phân loại câu điều kiện tiếng Việt
Tác giả: LÊ THỊ MINH HẰNG
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2004
30. NGUYỄN CHÍ HÒA, Về khái niệm ngữ pháp hóa và câu ghép không liên từ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 9/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm ngữ pháp hóa và câu ghép không liên từ
Tác giả: NGUYỄN CHÍ HÒA
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1999
32. NGUYỄN VĂN HIỆP, Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt
Tác giả: NGUYỄN VĂN HIỆP
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2002
35. NGUYỄN THỊ THÌN, Các từ Thì, Mà, Nhưng ở đầu câu trong chức năng liên kết nghĩa học, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các từ Thì, Mà, Nhưng ở đầu câu trong chức năng liên kết nghĩa học
Tác giả: NGUYỄN THỊ THÌN
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2002
36. NGUYỄN MINH THUYẾT, Thảo luận về vấn đề cần xác định hư từ trong tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ, số 4/1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo luận về vấn đề cần xác định hư từ trong tiếng Việt
Tác giả: NGUYỄN MINH THUYẾT
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 1985
37. 對外漢語教學語法探索。/國家漢辦教學處編/中國社會科學出版 社,北京,2003 年。 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 對外漢語教學語法探索
Tác giả: 國家漢辦教學處
Nhà XB: 中國社會科學出版社
Năm: 2003
38. 對外漢語教學實用語法。/盧福波/北京語言文化大學出版社。 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 對外漢語教學實用語法
Tác giả: 盧福波
Nhà XB: 北京語言文化大學出版社
39. 二十世紀的漢語語法學。/陳昌來/書海出版社,2002 年。 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 二十世紀的漢語語法學
Tác giả: 陳昌來
Nhà XB: 書海出版社
Năm: 2002
40. 二十世紀的漢語詞匯學。/許威漢/書海出版社,2000 年。 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 二十世紀的漢語詞匯學
Tác giả: 許威漢
Nhà XB: 書海出版社
Năm: 2000
41. 漢語和漢語研究十五講。/陸儉明、沈陽熹/北京大學出版社,2003年。 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 漢語和漢語研究十五講
Tác giả: 陸儉明, 沈陽熹
Nhà XB: 北京大學出版社
Năm: 2003
42. 漢語語法。/凌冰/中國科學出版社,1954 年。 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 漢語語法
Tác giả: 凌冰
Nhà XB: 中國科學出版社
Năm: 1954

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w