1.3 Giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ cho học viên Việt Nam, người giáo viên ắt phải quan tâm đến việc lựa chọn trong số những trường hợp hiện thực hóa của to be trong ngôn bản, tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CẤN THỊ THU HÀ
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ
TO BE TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁCH CHUYỂN
DỊCH SANG TIẾNG VIỆT
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CẤN THỊ THU HÀ
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ
TO BE TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁCH CHUYỂN DỊCH
SANG TIẾNG VIỆT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS BÙI KHÁNH THẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2007
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn GS TS Bùi Khánh Thế đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin cảm ơn Thầy Cô khoa Ngữ văn – Báo chí đã hết lòng giảng dạy và cung cấp cho tôi nguồn kiến thức vững chắc trong những năm học vừa qua Đặc biệt xin cảm ơn Quý Thầy Cô trong hội đồng chấm luận văn đã đọc, góp ý và cho nhiều nhận xét quý báu về nội dung lẫn hình thức để giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Bên cạnh đó tôi cũng cảm ơn những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày kết quả, mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn tôi không thể tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong đón nhận những nhận xét góp ý và đánh giá của Quý Thầy Cô
Tp Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 06 năm 2007
Cấn Thị Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
6 Bố cục của luận văn .9
Chương 1: Các vấn đề lý thuyết liên quan đến việc chuyển dịch to be sang tiếng Việt 11
1.1 Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu ứng dụng vào việc phiên dịch 11
1.1.1 Phương pháp đối chiếu và vị trí của ngôn ngữ học đối chiếu trong ba hướng nghiên cứu so sánh trong ngôn ngữ học 11
1.1.2 Các nguyên tắc đối chiếu 15
1.1.3 Vấn đề đối chiếu trong từ vựng .16
1.1.4 So sánh hai khối từ vựng 21
1.2 Vấn đề từ và các đơn vị từ vựng hoặc từ vựng- ngữ pháp tương đương với từ: trong tiếng Anh- trong tiếng Việt 23
1.2.1 Những vấn đề chung về từ 23
1.2.2 Định nghĩa về từ trong tiếng Anh 24
Trang 51.2.3 Định nghĩa về từ trong tiếng Việt 25
1.2.4 Các từ loại trong tiếng Anh 26
1.2.5 Các từ loại trong tiếng Việt 27
1.3.Những vấn đề chung về phiên dịch 29
1.3.1 Một vài nguyên tắc cơ bản của dịch thuật 29
1.3.2 Phân loại dịch .31
1.3.3 Những khó khăn trong dịch thuật 31
Chương 2 : Những đặc điểm ngữ pháp của to be trong tiếng Anh 34
2.1 Cơ sở lý luận 34
2.2 To be trong lịch sử 35
2 2 1 To be trong tiếng Anh cổ đại (old english: 450 → 1100) 35
2.2.2 To be trong tiếng Anh trung đại (midle english:1400 →1500)38 2.3 To be trong tiếng Anh hiện đại ( modern english 1500 → đến nay) 40 2.3.1 To be giữ vai trò làm trợ động từ 41
2.3.2 To be giữ vai trò làm động từ 49
2.3.3 To be giữ vai trò hệ từ ( copula) 51
2.4 Nghĩa của to be theo từ điển 55
Chương 3: Đối chiếu cách chuyển dịch to be trong tiếng Anh sang tiếng Việt .64
3 1 Việc dịch to be 64
Trang 63.1.1 Việc chuyển dịch to be khi là hệ từ ( copula) .68
3.1.2 Cách dịch to be kết hợp với một giới từ định vị .71
3.1.3 Việc chuyển dịch to be dựa theo đối tượng định vị .77
3.1.4 Ngữ cảnh quyết định việc dịch to be .81
3.2 Việc giảng dạy to be 82
3 2.1 To be với phạm trù thời 83
3 2.2 To be với phạm trù bị động 85
3 2.3 To be mang nghĩa tương ứng với “là” ( hệ từ) .87
3.2.4 To be kết hợp với một giới từ định vị không gian (in, on, at) 89 3 2.5 Những trường hợp không nên dùng to be hay cụm từ to be 92
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Tiếng Anh đã và đang được sử dụng khá rộng rãi và phổ biến trong nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam tiếng Anh đã trở thành một trong những môn học bắt buộc trong hệ thống các trường học: từ các cấp phổ thông đến đại học Nó là môn thi tốt nghiệp trong các trường phổ thông Ở một số trường khi tuyển nhận vào lớp một cũng yêu cầu phải kiểm tra môn tiếng Anh Khi kiếm việc làm, biết tiếng Anh là một trong những điều kiện quan trọng để kiếm được một việc làm tốt Biết tiếng Anh là một lợi thế của người làm khoa học: tiếng Anh là một trong những công cụ để tìm kiếm thông tin khoa học trong sách, trên mạng Đó là lý do khách quan khiến cho số người chọn tiếng Anh như ngoại ngữ chính ngày một tăng cao ở Việt Nam
1.2 Trong tiếng Anh to be là động từ có tần số xuất hiện lớn trong cả văn nói và văn viết To be được thể hiện và có những sắc thái ngữ nghĩa
rất khác nhau khi xuất hiện trong các văn bản tiếng Anh Thực tế đó khiến cho nhiều người học tiếng Anh gặp khó khăn trong việc học và chuyển dịch động từ này sang tiếng Việt Người ta thường phụ thuộc vào nghĩa gốc của động từ này theo từ điển mà không chú ý đến loại hình ngữ pháp khác nhau giữa tiếng Anh ( biến hình ) và tiếng Việt ( đơn lập ) Trong tiếng Việt người dịch có thể dùng nhiều từ, nhiều cách để diễn đạt các ý
nghĩa của to be tùy trường hợp dùng nó cụ thể Vấn đề ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ TO BE TRONG TIẾNG ANH VÀ
Trang 8CÁCH CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT được chọn làm đề tài cho luận văn này nhằm góp một phần nhỏ vào việc giải quyết khó khăn đó
1.3 Giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ cho học viên Việt Nam, người giáo viên ắt phải quan tâm đến việc lựa chọn trong số những trường
hợp hiện thực hóa của to be trong ngôn bản, trong văn bản đâu là trường
hợp khó sử dụng hơn, xuất hiện thường xuyên hơn… để giúp cho người học dùng từ này đúng nhất, hiệu quả nhất Có như vậy người giáo viên dạy tiếng Anh mới chủ động và sáng tạo trong việc sử dụng sách giáo khoa khi dạy( nếu sách ấy là do người khác soạn), hoặc trong khi soạn các bài học, các bài thực hành Đề tài nghiên cứu này, thiết tưởng, cũng có thể dẫn tới những gợi ý hữu ích cho người giáo viên dạy tiếng Anh
Trang 9các động tự khác để tạo thành thụ động cách to be” được dùng để diễn tả một sự dàn xếp ( arrangement), một mệnh lệnh ( command), một ý định ( intention) trong quá khứ “ to be” không bao giờ chia với “ to do” trừ mệnh thái( imperative Mood)” [dẫn theo 23; tr 81, 82]
Khi nói về to be thì người ta thường nhớ đến câu nói nổi tiếng của Shakespear trong vở kịch Ham let : To be or not to be, that is the question
Giáo sư Đỗ Khánh Hoan, khi dịch vở kịch Ham let, đã chuyển câu thơ trên
“thành: Sống hay thôi không sống, vấn đề là đây
( Bản mới đây của Bùi Ý, Bùi Phụng, Bùi Anh Khoa ( NXB Văn học
1986, tr 91 cũng dịch như vậy)
Sống hay không nên sống, đó mới là vấn đề Nói chung, các bản
dịch Pháp, Đức , Ý , Tây Ban Nha đều theo chung mỗt khuôn , nghĩa là hiểu rằng to be trong câu thơ trên có nghĩa là to live hay to exit Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu kỹ lại vở kịch và bối cảnh tôn giáo của thế kỷ XVI ở Anh- Công Giáo, Tin Lành hoài nghi, thì cần phải dịch câu thơ trên theo phương pháp giao tiếp như sau:
Có phải hồn ma của cha ta hay không, đó mới là vấn đề?” [dẫn theo 22; tr 14]
Đề tài của chúng tôi nói về cách dùng to be trong một tác phẩm cụ
thể viết bằng tiếng Anh được chuyển dịch sang tiếng Việt
3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Như đã nêu qua ở 1.2 to be có cách dùng rất đa dạng và cũng có thể
nói rất phức tạp trong tiếng Anh Nếu khảo sát cả quá trình phát triển cách dùng động từ này trong lịch sử nhiều thế kỷ của tiếng Anh ta còn có thể
thấy nhiều hình thức biến đổi của to be do một số nhân tố tác động, trong
đó có nhân tố tiếp xúc ngôn ngữ Phong cách ngôn ngữ của các tác giả khác nhau thuộc một nền văn học có lịch sử lâu đời như văn học Anh lại
càng làm cho sự biến hóa của to be hết sức phong phú Tuy nhiên do yêu cầu giới hạn của một luận văn, phạm vi nghiên cứu của to be ở đây chỉ
hướng vào văn bản tiếng Anh và văn bản dịch sang tiếng Việt ở thời kỳ tiếng Anh đương đại ( later Modern English)
3.2 Đối tượng nghiên cứu và ngữ liệu
To be là một động từ trung tính( neuter verb) Việc chuyển dịch cách
dùng đơn vị từ vựng này từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác cũng không giống nhau Ýù thức rõ hiện tượng ngôn ngữ ấy, người viết luận văn này
xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động của to be trong
một văn bản tiếng Anh cụ thể thuộc loại phong cách chính luận- xã hội của một tác giả cụ thể và một văn bản dịch tương ứng sang tiếng Việt Đó
là tác phẩm After sorrow, An American Among the Vietnamese nhà xuất
bản Kodansha International New york Tokyo London, 1995 của Lady
Borton và bản dịch sang tiếng Việt Tiếp sau nỗi buồn , Một người Mỹ giữa
làng quê Việt Nam, nhà xuất bản Thế giới, 1997
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 114.1 Để thực hiện luận văn này, phương pháp nghiên cứu tổng quát được sử dụng là phương pháp so sánh đối chiếu( dưới đây gọi là phương pháp đối chiếu) Để đối chiếu một hiện tượng ngôn ngữ được thể hiện trong hai ngôn ngữ, lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu cho biết, có nhiều thủ pháp và biện pháp nghiên cứu khoa học nói chung
4.2 Trước tiên là thủ pháp thống kê Nó giúp người nghiên cứu xác
định được to be xuất hiện bao nhiêu lần trong văn bản tiếng Anh và có bao
nhiêu hình thức được diễn đạt để chuyển dịch những trường hợp ấy sang tiếng Việt Thống kê cũng cho phép người nghiên cứu hình dung được tần
số xuất hiện của to be trong toàn bộ vốn từ được dùng trong văn bản tiếng
Anh và tần số xuất hiện trong tiếng Việt các trường hợp chuyển dịch một đối một về cấu trúc và về ngữ nghĩa trong văn bản tiếng Việt
4.3 Tiếp theo là phương pháp phân tích miêu tả- miêu tả về cấu trúc và miêu tả về ngữ nghĩa Nhờ các số liệu, kết quả đạt được qua thống kê và phân tích miêu tả – những bước đi chuẩn bị để thực hiện việc đối chiếu -, cuối cùng việc đối chiếu giúp cho người nghiên cứu rút ra được những kết luận có sức thuyết phục về sự so sánh hiện tượng tương ứng hoặc tương đương nhau trong cách diễn đạt ở hai thứ tiếng là đối tượng so sánh
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
5.1 Ý nghĩa khoa học
Trong những công trình về ngữ pháp tiếng Anh , do các tác giả người Anh hoặc người Việt viết, hầu như không có công trình nào không
đề cập đến to be ở mức độ này hay mức độ khác Trong luận văn này
Trang 12người viết tìm hiểu hoạt động của to be trong một văn bản có giới hạn về
dung lượng, xác định về phong cách và của một tác giả cụ thể( xem mục 2.2 ở trên), viết về các vấn đề của nhân dân và đất nước có ngôn ngữ mà tác phẩm ấy được dịch sang, có thể sẽ góp thêm ít nhiều tia sáng cho lý thuyết phiên dịch Đó là vấn đề dịch một hiện tượng ngôn ngữ có biểu hiện hết sức phong phú về mặt hành chức, từ một ngôn ngữ thuộc loại hình ngữ pháp này ( biến hình, hình thái) sang một ngôn ngữ thuộc loại hình ngữ pháp khác ( đơn lập, dựa nhiều về ngữ nghĩa)
5.2 Về mặt thực tiễn, các kết quả phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa và đối chiếu hiện tượng ngôn ngữ này giữa hai thứ tiếng sẽ là tài liệu quý đối với các nhà giáo : các giáo viên dạy tiếng Anh cho người Việt cũng như các giáo viên dạy tiếng Việt cho người nói tiếng Anh Kết quả nghiên cứu cũng có ích đối với giáo viên dạy môn dịch ( dịch Anh – Việt, hay Việt – Anh)
5.3 Ý nghĩa khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn nêu trên cũng chính là sự đóng góp mà người viết luận văn này hy vọng sẽ đạt tới trong
quá trình thực hiện đề tài: ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA
ĐỘNG TỪ TO BE TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁCH CHUYỂN DỊCH
SANG TIẾNG VIỆT
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn của chúng tôi gồm 108 trang Ngoài phần mở đầu (7 trang), phần kết luận (6 trang), có ba chương nội dung như sau:
Trang 13Chương 1 giới thiệu tổng quát về vấn đề lý thuyết liên quan đến
việc chuyển dịch to be sang tiếng Việt Cụ thể chương này đề cập tới lý
thuyết ngôn ngữ học đối chiếu ứng dụng vào việc phiên dịch( mục §1), vấn đề về từ và các đơn vị từ vựng hoặc từ vựng- ngữ pháp tương đương
với từ : trong tiếng Việt – trong tiếng Anh (mục §2), những vấn đề chung
về phiên dịch (mục §3)
Chương 2 nêu lên những đặc điểm ngữ pháp của to be trong tiếng Anh Cụ thể chương này đề cập đến cơ sở lý luận ( mục §1), to be trong lịch sử (mục §2), to be trong tiếng Anh hiện đại (mục §3), nghĩa của to be
theo từ điển (mục §4)
Chương 3 trình bày vấn đề đối chiếu cách chuyển dịch to be trong
tiếng Anh sang tiếng Việt Chúng tôi cho rằng chương này có thể ứng
dụng nhiều vào việc dạy, học và dịch to be Chúng tôi đưa ra một vài ý kiến trong việc dịch to be(mục §1) và giảng dạy to be ( mục §2)
Ngoài ra thì phần tài liệu tham khảo của luận văn là 6 trang
CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CHUYỂN
DỊCH TO BE SANG TIẾNG VIỆT
Trang 141.1 LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU ỨNG DỤNG VÀO VIỆC PHIÊN DỊCH
1.1.1 Phương pháp đối chiếu và vị trí của ngôn ngữ học đối chiếu (
contrastive linguistics ) trong ba hướng nghiên cứu so sánh trong ngôn ngữ học
Luận văn này nghiên cứu việc chuyển dịch to be sang tiếng Việt
thông qua việc đối chiếu Đối chiếu là phương pháp chủ đạo được áp dụng trong việc nghiên cứu đề tài luận văn này nhằm mục đích tìm ra các hoạt động tức là quá trình hành chức của một đơn vị từ vựng ngữ pháp, cụ thể
là to be – một động từ đặc biệt trong tiếng Anh, và các hình thức biểu hiện tương ứng trong tiếng Việt khi to be qua các hoạt động cụ thể của nó trong
tiếng Anh được chuyển sang tiếng Việt Trong lý thuyết ngôn ngữ học thì ngôn ngữ học so sánh có ba hướng chuyên biệt quan trọng
Trước hết là Ngôn ngữ học so sánh lịch sử Đây là một khuynh hướng ngôn ngữ học phát triển mạnh mẽ vào vào thế kỷ XIX và có những ảnh hưởng hết sức to lớn trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học thế giới Ngôn ngữ học so sánh lịch sử có đối tượng nghiên cứu các ngôn ngữ được giả định là có quan hệ cội nguồn để xác định các nhóm , các nhánh ngữ hệ có nguồn gốc xa hoặc gần nhau cũng như quá trình lịch sử phát triển của các ngôn ngữ hoặc của một thứ tiếng cụ thể
Tiếp theo là ngôn ngữ học loại hình hay loại hình ngôn ngữ học Nó có mục đích là phân loại tất cả các ngôn ngữ theo loại hình dựa vào các đặc điểm giống nhau nhất định trong các cấu trúc ngôn ngữ khi các ngôn
Trang 15ngữ hành chức, tức khi ngôn ngữ làm chức năng một công cụ giao tiếp Nghiên cứu so sánh các ngôn ngữ về mặt loại hình có tính bao quát hơn về đối tượng, tức là tất cả các ngôn ngữ, xét về mặt lý thuyết cùng mang một số đặc trưng tiêu biểu nào đó mà không nhất thiết phải có mối quan hệ về cội nguồn Như vậy là đối tượng nghiên cứu của hướng so sánh này vừa dựa trên kinh nghiệm , vừa được mở rộng hơn về đối tượng so với Ngôn ngữ học so sánh lịch sử, và trong lịch sử ngôn ngữ học nó được hình thành hầu như song song với Ngôn ngữ học so sánh lịch sử
Cuối cùng là ngôn ngữ học đối chiếu Hướng nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh nhằm vào đối tượng nghiên cứu của mình là hai hoặc hãn hữu là hơn hai ngôn ngữ bất kỳ để xác định đặc điểm giống nhau hay khác nhau trong các ngôn ngữ mà không cần phải tính đến việc ngôn ngữ được
so sánh có quan hệ cội nguồn hoặc thuộc cùng một loại hình hay không Việc lựa chọn ngôn ngữ để đối chiếu hoàn toàn phụ thuộc vào những yêu cầu về lý luận và thực tiễn của người nghiên cứu Nhờ có ngôn ngữ học đối chiếu mà ngôn ngữ học đã mở ra một thời kỳ mới, nhằm phục vụ cho mục đích lý thuyết và ứng dụng, cụ thể là dạy- học ngôn ngữ thứ hai ( teaching second language) và phiên dịch
Như đã nói ở trên trước thời kỳ ngôn ngữ đối chiếu là ngôn ngữ học
so sánh các ngôn ngữ Aán Aâu và phương pháp so sánh lịch sử là một thành công rực rỡ của thế kỷ thứ 19 và thế kỷ 20 với những tên tuổi đã đi vào lịch sử ngôn ngữ học như: Bopp, Rusk, Grimm…
Trang 16Cùng với Ngôn ngữ học so sánh lịch sử, Ngôn ngữ học so sánh loại hình cùng với các tác giả lớn từ F Schlegel, A Schlegel, W Humboldt đến E Sapir đã có những đóng góp cho sự phân loại ngôn ngữ thế giới để giúp người nghiên cứu ngôn ngữ học vừa có cái nhìn bao quát hơn về bức tranh ngôn ngữ trên thế giới, vừa có những ứng dụng thiết thực trong việc miêu tả các ngôn ngữ Tuy nhiên khi sự phát triển các mối quan hệ quốc tế , đòi hỏi việc dạy – học tiếng nói ( ngôn ngữ ) của nhau trở nên cấp thiết, việc chuyển dịch nội dung các thành tựu khoa học để giới thiệu rộng rãi cho các dân tộc, các quốc gia khác nhau, thì ngôn ngữ học có nhiệm vụ đáp ứng các nhu cầu thực tế khách quan đó Chính vì lý do đó mà ngôn ngữ học đối chiếu ra đời
Ngôn ngữ học đối chiếu đã giúp chúng ta dựa vào những cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học để giải quyết các yêu cầu và ứng dụng cụ thể hơn khi so sánh hai ngôn ngữ ( hãn hữu có thể vài ba) với nhau Người ta có thể đối chiếu các ngôn ngữ khác loại hình, khác ngữ hệ Nhờ vậy mà người ta có thêm nhiều phát hiện về quy luật hoạt động, nét đặc thù của các cấu trúc Lý luận ngôn ngữ học đối chiếu cũng dần mở rộng và hoàn thiện và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực Nó đối chiếu trên các cấp độ: ngữ âm – âm vị học, từ vựng, ngữ pháp ( hình thái học và cú pháp học), ngữ dụng học; qua tất cả các đơn vị ngôn ngữ: âm vị, hình vị, từ, cấu trúc ngữ đoạn và cấu trúc câu Dĩ nhiên các khuynh hướng lý thuyết khác nhau có thể có những cách phân chia hệ thống ngôn ngữ khác nhau và không phải tất cả đều chú ý tới các bình diện và các cấp độ ngôn ngữ như nhau
Trang 17Sự xuất hiện hướng nghiên cứu mới này một mặt dựa vào những quan niệm ngữ nghĩa học kinh điển như việc phân biệt các bình diện đồng đại và lịch đại, ngôn ngữ và lời nói , mặt khác cũng chú ý các phát triển mới trong ngữ nghĩa học như: lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ , vấn đề song ngữ, đa ngữ luận Khi hệ thống ngôn ngữ được nghiên cứu mà gắn chặt với ngữ cảnh giao tiếp thì chúng ta phải tiếp cận các phương tiện trong hệ thống ngôn ngữ và chú ý đến việc sử dụng nó Ngoài ra còn phải chú ý đến phong cách cấu trúc diễn ngôn, bình diện văn hóa xã hội và tâm lý ngôn ngữ học, các vấn đề giao tiếp ngôn ngữ nằm ở miền ranh giới liên ngành giữa ngôn ngữ học và một số ngành khoa học khác như tâm lý học xã hội học, sư phạm- giáo dục học .Như vậy, chúng ta có thể so sánh các ngôn ngữ ở bất kỳ bình diện và cấp độ nào
Nhờ có ngôn ngữ học đối chiếu mà nhãn quan của các nhà ngôn ngữ học lý thuyết và thực hành được mở rộng, việc xác định các phổ niệm( universal) của ngôn ngữ được mở rộng hơn và bao quát hơn Dựa vào tình hình thực tế như vậy cũng như khả năng ứng dụng trong nghề nghiệp của mình, chúng tôi chọn một vấn đề vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn ứng dụng trong việc dạy ngôn ngữ thứ hai làm đối tượng nghiên cứu đối chiếu cho đề tài luận văn, cụ thể là dạy tiếng Anh cho học viên nói tiếng Việt Hai thứ tiếng này là những ngôn ngữ không có quan hệ họ hàng thân thuộc Chúng cũng không cùng loại hình với nhau (tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập trong khi tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình) dù rằng từng mặt cụ thể trong cơ cấu ngữ pháp thì tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 18cũng có những nét gần giống nhau trong việc sử dụng một số phương thức ngữ pháp
1 1.2 Các nguyên tắc đối chiếu
Trong quá trình đối chiếu các ngôn ngữ cần tuân thủ các nguyên tắc
cơ bản sau:
Nguyên tắc 1: Các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác, sâu sắc và theo cùng một quan điểm lý thuyết trước khi tiến hành đối chiếu để tìm thấy điểm giống nhau và khác nhau ở chúng
Nguyên tắc 2: Việc nghiên cứu đối chiếu không chỉ chú ý đến những phương tiện ngôn ngữ nào đó được tách biệt một cách khiên cưỡng mà phải đặt trong hệ thống
Nguyên tắc 3: Phải xem xét các phương tiện đối chiếu không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp
Nguyên tắc 4: Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc sử dụng các mô hình lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu
Nguyên tắc 5: Có tính đến mức độ gần gũi về loại hình giữa các ngôn ngữ đối chiếu
Nguyên tắc 6: Ngoài năm nguyên tắc nêu trên còn một nguyên tắc nữa là nguyên tắc về tính đơn giản, thiết thực đối với người dạy và học.(theo Bùi Mạnh Hùng)
Trang 19Từ những nguyên tắc chung trên đây, người nghiên cứu có thể có những giải pháp cụ thể, chi tiết giúp cho việc đối chiếu trở nên dễ dàng và từ đó rút ra các kết luận có sức thuyết phục cao
Luận văn này lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt là ngôn ngữ để đối chiếu
Khi cần kiểm tra các kết luận, việc đối chiếu cũng được tiến hành theo huớng ngược lại Thao tác này có thể làm cho các luận điểm được rutù
ra từ sự đối chiếu Anh – Việt có độ chính xác và đáng tin cậy hơn
Hai hướng đối chiếu này là những thao tác phân tích, miêu tả ngữ liệu bổ sung cho nhau
Trong khi tiến hành phân tích ngữ liệu việc đối chiếu về cơ bản được tuân thủ theo giới hạn đã định, tức nghiên cứu đối chiếu trên bình diện từ vựng- ngữ nghĩa Nhưng ngữ nghĩa của từ chỉ có thể bộc lộ cụ thể trong ngữ cảnh Vì vậy đối chiếu trên bình diện từ vựng không thể không quan tâm đến các quan hệ kết hợp , tức là bình diện cú pháp
1 1.3 Vấn đề đối chiếu trong từ vựng
Trong luận văn này việc chuyển dịch to be được đối chiếu sang
tiếng Việt Đối tượng của việc phân tích đối chiếu từ vựng là những điểm giống nhau và khác nhau của thành phần từ vựng và quan hệ từ vựng trong các ngôn ngữ đối chiếu Về nguyên tắc, ta có thể đối chiếu cả hệ thống từ vựng, một nhóm từ cùng trường nghĩa hoặc đối chiếu chi tiết một từ cụ thể tương đương trong hai ngôn ngữ Dưới đây chúng tôi dẫn ra một số quan
Trang 20niệm về từ trong tiếng Anh để làm chỗ dựa về lý thuyết khi phân tích đối chiếu một từ giữa tiếng Anh và tiếng Việt
Quá nhấn mạnh vào ngữ nghĩa của từ mà bỏ qua phát âm và ngữ pháp là điều không phù hợp với tư duy của ngôn ngữ học hiện đại Theo quan điểm của Sapir thì sinh viên ngôn ngữ học không thể bằng lòng đồng nhất nghĩa của từ trong từ điển Ngoài ra người ta cũng không thể bỏ qua sự tồn tại của từ như một đơn vị hữu hình của ngôn ngữ Sapir đã đưa ra một nhận xét, đại ý: Có một phép thử rất tốt, rằng người Mỹ Anh Điêng ngây thơ hoàn toàn chưa biết gì về khái niệm từ được viết ra, tuy nhiên họ cũng chẳng gặp khó khăn gì trong việc đọc từng từ cho sinh viên ngôn ngữ song có lẽ họ sẽ có xu hướng đọc những từ giống như lời nói thực tại, nhưng nếu ta yêu cầu họ dừng lại và dạy cho họ hiểu cái yêu cầu thì họ sẵn sàng đọc tách các từ ra và nhắc lại chúng như là những đơn vị Họ thường không tách thành phần ngữ pháp vì nó không có nghĩa.( theo Robert Lado)
Và theo Bloomfield thì một hình thức tự do bao gồm toàn bộ hay
nhiều hơn hai hình thức ít tự do hơn, ví dụ như poor John hay John ran
away hay yes, sir, là một cụm từ Và từ là một hình thức tự do tối thiểu
Sự giống nhau và khác nhau vói các ngôn ngữ bản địa về mặt hình thức ý nghĩa và phân bố sẽ dẫn đến việc phân chia khó hay dễ tùy thuộc vào việc thụ đắc khối từ vựng của tiếng nước ngoài với khối từ vựng của tiếng mẹ đẻ chúng ta sẽ thấy các từ ( 1) giống nhau về hình thức và ý nghĩa ( 2) giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về ý nghĩa ( 3) giống
Trang 21nhau về ý nghĩa nhưng khác nhau về hình thức (4 )khác nhau về hình thức và ý nghĩa ( 5) khác nhau về loại hình cấu tạo ( 6) giống nhau về ý nghĩa nhưng lại khác nhau về ý nghĩa biểu niệm ( 7) giống nhau về ý nghĩa nhưng lại có những giới hạn vào sự phân bố địa lý
Các nhóm từ này chồng chéo lên nhau và có một số từ lại rơi vào hơn một nhóm Nhưng người ta vẫn dựa vào tiêu chí trên để chia thành ba cấp độ khó, bình thường và dễ
Robert Lado chia khối từ vựng nói chung thành bảy nhóm từ:
a Những từ cùng gốc: nhưng từ giống nhau về hình thức và nội dung Kiểu từ như thế này xuất hiện nhiều ở tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha Thực tế là những từ cùng gốc này tồn tại trong tiếng Tây Ban Nha vì nó tiến hóa từ tiếng La tinh và được mượn sang tiếng Anh từ tiếng La tinh hay tiếng Pháp
b Những từ cùng nguồn gốc dễ gây nhầm lẫn Đây là những từ giống nhau về mặt hình thức nhưng khác nhau về mặt ý nghĩa Đây là những từ khó Chúng không được lấy mẫu đầy đủ theo các tiêu chí tần số là vì sự giống nhau về hình thức của chúng so với những từ trong tiếng mẹ đẻ làm tăng tần số của chúng trong cách sử dụng
c Hình thức khác nhau: những từ giống nhau ở một nét nghĩa đặc biệt nào đó nhưng lại khác nhau về mặt hình thức Những nghĩa nào đó của một từ trong ngôn ngữ này đôi khi được dịch sang một từ của ngôn ngữ kia nhưng rất hiếm có các từ trong hai ngôn ngữ giống nhau ở mọi nét nghĩa
Trang 22d Những ý nghĩa lạ : Những từ khác nhau về hình thức và mang một nghĩa “lạ” đối với người nói một ngôn ngữ bản địa nào đó Một số từ mang ý nghĩa lạ có thể giống nhau về mặt hình thức trong cả hai ngôn ngữ Nhưng đó chỉ là sự tình cờ
e Các kiểu hình thức mới Các từ khác nhau về cấu trúc hình thái học Tiếng Anh có các hình thức từ được hình thành từ những mẫu thức từ
riêng biệt Ví dụ: bring up, look after, turn on
f Nghĩa biểu niệm khác nhau Những từ có nghĩa hàm chỉ khác nhau ở cả hai ngôn ngữ là những từ khó
g Những giới hạn về địa lý Những từ bị giới hạn trong các khu vực địa lý nào đó thuộc phạm vi của tiếng nước ngoài Những giới hạn trong việc phân bố từ theo vị trí địa lý của các từ rất quan trọng đối với việc lựa chọn từ cho giảng dạy và kiểm tra
To be thuộc loại khó do việc tìm hiểu sự tương ứng giữa to be và
hình thức tương ứng trong tiếng Việt là khó
Theo Robert Lado thì có ba cấp độ đối chiếu từ: hình thức, ý nghĩa và phân bố
Trong hầu hết tất cả các ngôn ngữ hình thức của một từ bao gồm âm thanh, trọng âm, cấp độ âm thanh, trong các ngôn ngữ thanh điệu như tiếng Hán, tiếng Thái Lan Hình thức của từ thay đổi theo nghi thức tình huống tốc độ nói , vị trí trong câu, vị trí liên quan đến trọng âm
Ví dụ : is sẽ xuất hiện như là /iz/, /s/ hay /z/
Trang 23Một đặc điểm hình thức khác liên quan đến các bộ phận của từ Ví
dụ như từ happily trong tiếng Anh được hình thành từ happy và hậu tố – ly
Các ngôn ngữ khác nhau thì sự phân loại các ý nghĩa và đơn vị trong ngôn ngữ cũng khác nhau Có thể một từ trong ngôn ngữ này mang ý nghĩa từ vựng nhưng sang ngôn ngữ kia nó lại mang ý nghĩa hình thái học Các ý nghĩa được người nói ấn định một cách có ý thức thì có thể coi là ý nghĩa chính nhưng trên thực tế các ý nghĩa khác cũng được truyền tải
Phân bố của các từ đối với chúng ta là vô cùng quan trọng vì ở bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử một ngôn ngữ những người nói ngôn ngữ thường mang trong mình một thói quen về những hạn chế trong phân bố Trong thực tế các từ có thể chỉ ra sự phân bố địa lý khác nhau hoặc là nhập vào hoặc là tách ra khỏi một phương ngữ
Từ không chỉ bị giới hạn bởi địa lý và xã hội mà chúng còn bị giới hạn bởi phong cách nói và viết Ví dụ nhiều từ có trong thơ ca nhưng lại không dùng trong hội thoại hàng ngày
1.1.4 So sánh hai khối từ vựng
a Khối từ vựng hạn chế
Trong bất kỳ ngôn ngữ nào thì khối từ vựng đầy đủ là vô cùng to lớn Bởi lý do này cho nên chúng ta hạn chế khối từ vựng thành một khối lượng nhỏ hơn Cách giới hạn khối từ vựng cụ thể sẽ phụ thuộc vào việc khối từ vựng đó dùng để nói hay nghe, đối với người lớn hay trẻ em hay để phục vụ cho các mục đích đa dạng hay đặc biệt
Trang 24Việc giới hạn này không gây ảnh hưởng đến mục đích sử dụng của một số từ Fries chia tiếng Anh ra thành bốn nhóm: các từ chức năng, các từ thay thế, các từ được phân bố về ngữ pháp và các từ diễn đạt nội dung
Càng cụ thể bao nhiêu trong việc lựa chọn khối từ vựng thì chúng ta sẽ dễ dàng xác định khối từ vựng hạn chế bấy nhiêu Ta có thể quyết định giới hạn trong vòng 2000 thậm chí chỉ là 1000 từ Hay ta có thể tăng giới hạn trên 2000 từ Ví dụ là 4000 đến 7000 từ phụ thuộc vào vấn đề nắm vững dự kiến cần có Cần phải quyết định những ý nghĩa nào trong những từ này rồi đưa vào khối từ vựng đó Xác định phạm vi văn cảnh nào thuộc mối quan tâm nhằm đưa vào những từ cần thiết và loại bỏ những từ không cần thiết Trong quá trình này ta cũng phải lựa chọn những mẫu thức ngữ pháp Những mẫu thức ngữ pháp này sẽ quyết định những từ chức năng nào và cách sử dụng những từ chức năng đó ra sao mà ta thấy cần Từ sự quyết định độ tuổi nào mà khối từ vựng của chúng sẽ được nhằm tới, ta có thể lựa chọn thêm các từ phân bố theo tuổi tác
Khối từ vựng được lựa chọn trên thực tế là vẫn khác nhau nên không có thể có cách giải quyết đơn lẻ một trường hợp nào ở đây Nhưng nếu có 2000 từ với ý nghĩa phù hợp với mục đích nghiên cứu thì chúng ta cũng sẽ có thể tiến hành so sánh hai khối từ vựng
b So sánh hai khối từ vựng
- Bước thứ nhất là so sánh về hình thức để phân những từ giống nhau về hình thức và những từ khác nhau về hình thức
Trang 25- Bước thứ hai là so sánh về ý nghĩa Ở bước này những từ giống nhau về hình thức được so sánh với nhau về ý nghĩa Kết quả là sẽ có các từ giống nhau về hình thức lẫn về nghĩa và các từ chỉ giống nhau về hình thức và khác nghĩa nhau
- Bước thứ ba là so sánh về sự phân bố và ý nghĩa hàm chỉ Kiểm tra lần cuối cùng để tìm ra những từ có dị biệt lớn về phân bố hay nghĩa hàm chỉ
Trên thực tế, việc so sánh hai khối từ vựng này có tác dụng trong việc xây dựng các loại từ điển và tìm hiểu về các đặc điểm về đồng âm, đồng nghĩa ( tương đương về nghĩa) giữa hai ngôn ngữ được đối chiếu Nếu muốn ứng dụng kết quả này trong việc dạy ngôn ngữ thứ hai về từ vựng hoặc phục vụ cho việc phiên dịch, người nghiên cứu cần có những thao tác phân tích sâu hơn về ngữ nghĩa từ vựng
1.2 VẤN ĐỀ TỪ VÀ CÁC ĐƠN VỊ TỪ VỰNG HOẶC TỪ VỰNG- NGỮ PHÁP TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI TỪ: TRONG TIẾNG ANH- TRONG TIẾNG VIỆT
1.2.1 Những vấn đề chung về từ
Trong ngôn ngữ, đơn vị được gọi là từ có những đặc tính hết sức phức tạp Việc nhận diện, Xác định nó là một việc làm hết sức khó khăn Ferdinand de Saussure có nói rằng: “ từ, mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” [dẫn theo 24; tr 193]
Trang 26Khi trẻ con bắt đầu đi học chúng phải học từng từ Chúng ta học tiếng nước ngoài chúng ta cũng phải học từ và nhớ từ Nhưng để trả lời cho câu hỏi từ là gì thì quả là không dễ Và trên thực tế có phải tất cả các ngôn ngữ tự nhiên đều có từ hay không? Từ trong các ngôn ngữ khác nhau có giống nhau không? Những câu hỏi này thật không dễ trả lời Hơn nữa, từ có thể được xem một cách thuần túy là những dạng thức được nói hay viết ra, hoặc xem xét như là một biểu thức phức hợp bao gồm dạng thức và nghĩa Vấn đề càng trở nên rắc rối hơn khi mà trong ngôn ngữ học từ “ dạng thức” lại được dùng theo rất nhiều nét nghĩa mặc dù chúng có liên quan tới nhau
Đã có rất nhiều định nghĩa về từ song chưa có định nghĩa nào thỏa mãn đựơc mọi người Và hiện nay có hai khuynh hướng:
a Cố gắng đưa ra một định nghĩa chung nhất cho mọi ngôn ngữ Điều này là rất khó vì trong các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau Đó đó tất nhiên không có khái niệm từ nói chung
b Khảo sát từ cho từng ngôn ngữ riêng biệt để đưa ra một định nghĩa chỉ đúng cho một ngôn ngữ là rất khó Chúng ta chỉ có thể đưa ra những thuộc tính cho bản chất chung cho từ của mọi ngôn ngữ Đó là:
- Từ là đơn vị ngôn ngữ độc lập, có sẵn, là chỉnh thể gồm hai mặt âm và nghĩa
- Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu
- Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của ngôn ngữ
Trang 271.2.2 Định nghĩa về từ trong tiếng Anh
Trong tiếng Anh cũng như mọi ngôn ngữ khác, có rất nhiều cách định nghĩa về từ
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì từ là một đơn vị ngôn ngữ, có mang nghĩa Nó bao gồm một hay nhiều hình vị, liên kết với nhau
ở mức độ này hay mức độ khác và có giá trị về mặt ngữ âm Điển hình một từ thì có căn tố và có phụ tố thể hiện qua hình thái vật chất hoặc phụ tố zero Từ có thể kết hợp với nhau để tạo thành cụm từ, mệnh đề hay câu Một từ bao gồm hai hay nhiều căn tố kết hợp với nhau gọi là từ ghép
Theo Dictionary.com unabridged thì từ là một đơn vị ngôn ngữ bao gồm một hay nhiều âm được nói ra hay được thể hiện bằng chữ viết Chức năng chủ yếu của từ là mang nghĩa Từ bao gồm một hay nhiều hình vị hay là những đơn vị nhỏ hơn có thể được sử dụng độc lập hay là bao gồm hai hay ba đơn vị kết nối với nhau theo một đơn vị nào đó Trong khi viết người ta để khoảng cách giữa các từ và đánh dấu âm vị bằng dấu phẩy trong một vài ngôn ngữ
1.2.3 Định nghĩa về từ trong tiếng Việt
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về từ trong tiếng Việt Quan điểm thứ nhất thì cho rằng từ tiếng Việt trùng với âm tiết Tiêu biểu cho khuynh hướng này là: Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hạo
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng từ là một đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói, nó có hình thức là một âm tiết và là một khối viết liền
Trang 28Quan điểm thứ hai thì cho rằng từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết Tiêu biểu cho quan điểm này có Đái Xuân Ninh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Kim Thản
Theo Nguyễn Văn Tu thì từ là đơn vị nhỏù nhất và nó độc lập, nó có hình thức vật chất, có nghĩa, có tính biện chứng và tính lịch sử
Theo Nguyễn Kim Thản thì từ là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Nó có thể tách khỏi các đơn vị khác để vận dụng một cách độc lập, và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, từ vựng
Đứng trước tình hình này, người nghiên cứu không trực tiếp giải quyết mặt lý thuyết về từ, mà chỉ chấp nhận một định nghĩa phù hợp với đề tài khoa học của mình để làm việc Trong luận văn này chúng tôi quan niệm về từ trong tiếng Việt dựa theo quan điểm thứ hai, tức là quan điểm từ không hoàn toàn trùng âm tiết
1.2.4 Các từ loại trong tiếng Anh
Việc đối chiếu hoạt động to be của tiếng Anh với hình thức tương đương trong tiếng Việt cần được đặt to be trong mối tương quan với các
thành phần khác của cụm từ hay ngữ đoạn hoặc câu vì vậy cần hình dung qua quan niệm về các từ loại trong tiếng Anh và từ loại trong tiếng Việt
Theo tác giả Dave Willis thì trong tiếng Anh có các từ loại sau: danh từ, tính từ, động từ, trạng từ, giới từ, đại từ , từ nối, từ hạn định
a Danh từ ( noun )
Trang 29Danh từ là những từ chỉ người hay đồ vật Nhóm danh từ có thể làm chủ ngữ, tân ngữ hay bổ ngữ cho một động từ hay tân ngữ của một
giới từ ( object of preposition) Ví dụ: girl, school
Động từ là từ được dùng với chủ ngữ để nói ai hay vật gì đó đã làm
gì hay điều gì đã xảy ra với họ Ví dụ: study, be, teach
Đại từ là một từ dùng để thay thế cho ngưới hoặc vật khi người ta
không muốn hoặc không cần nhắc lại tên của người hay vật đó Ví dụ: he,
she, it
g Từ nối ( conjuntion)
Trang 30Từ nối là một từ như and, because dùng để nối hai mệnh đề, hai
từ Có hai loại từ nối: từ nối kết hợp ( coordinating conjuntions ) như:
and, or, but và liên từ phụï( subordinating conjunctions) như: because, when, unless
h Từ hạn định ( determiner)
Từ hạn định là những từ như: a, an, the, some Và nó đứng trước
danh từ
1.2.5 Các từ loại trong tiếng Việt
Đinh Văn Đức chia từ loại trong tiếng Việt ra thành sáu từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, quan hệ từ, tình thái từ
a Danh từ
Danh từ là từ loại mang ý nghĩa “sự vật tính” Trong tiếng Việt điều này đúng với đa số trường hợp- các danh từ gắn với tên gọi các khái niệm về sự vật như: đồ đạc, sự vật, người, động thực vật, các khái niệm trừu tượng
b Động từ
Động từ là những từ chỉ hành động , trạng thái của sự vật Điều này
đúng nhưng chưa đủ Động từ chỉ các hành động (ví dụ: tôi chạy), trạng thái (ví dụ: tôi thức), các quan hệ dạng tiến trình có mối quan hệ với chủ thể và diễn ra trong thời gian (ví dụ: tôi yêu quê hương)
c Tính từ
Trang 31Tính từ là từ loại có ý nghĩa chỉ tính chất, rộng hơn là chỉ các đặc trưng nói chung
d Đại từ
Đại từ là từ loại của các từ có chức năng thay thế Nói đến đại từ
người ta thường nghĩ đến những từ như: tôi, mày, ta và các từ khác chỉ chung hơn như: đâu, đấy, đó
e Quan hệ từ
Quan hệ từ không được dùng để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp của thực từ này hay khác mà dùng để diễn tả mối quan hệ giữa thực từ với thực từ trong các phát ngôn- nghĩa là diễn đạt mối quan hệ giữa các khái niệm
trong tư duy trừu tượng Ví dụ: bằng, của, để, vì
f Tình thái từ
Theo ngữ pháp truyền thống thì từ tình thái được chia ra làm hai loại là: trợ từ và thán từ nhưng nếu ta lập danh sách các từ tình thái và miêu tả các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa thì ta sẽ thấy rằng đây là tập hợp khá thuần về những đặc trưng chung
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHIÊN DỊCH
1.3.1 Một vài nguyên tắc cơ bản của dịch thuật
Quan điểm truyền thống về dịch là dùng một thứ ngôn ngữ khác để truyền đạt nội dung vốn có của một thứ ngôn ngữ nào đó
Trang 32Dịch là quá trình chuyển đổi sản phẩm ngôn ngữ của thứ ngôn ngữ này trên cơ sở bảo đảm không thay đổi về nội dung, ý nghĩa- thành một sản phẩm ngôn ngữ của một thứ tiếng khác
Dịch là đưa vào ngôn ngữ những sản phẩm tương đương có khả năng tái hiện một cách tự nhiên nhất, gần sát nhất những thông tin của ngôn ngữ gốc
E A Nida đã đưa ra một định nghĩa đại ý: Dịch thuật là tái tạo lại trong ngôn ngữ tiếp nhận sự tương đương và gần gũi nhất đối với thông điệp của ngôn ngữ gốc, trước hết là về phương diện ý nghĩa và sau đó là về phương diện phong cách
Ông cho rằng công tác dịch thuật có thể được mô tả ở ba cấp độ chức năng:
- Như một khoa học
- Như một kỹ năng
- Như một nghệ thuật ( theo E A Nida)
Ở Trung Quốc có thuyết Nghiêm Phục: tín, đạt, nhã Và hiện nay quan điểm này vẫn đang còn gây nhiều tranh cãi Quan điểm thứ nhất thì cho rằng một bản dịch phải trung thành với nguyên bản, phải dễ hiểu, lĩnh hội được nguyên ý của tác giả, lời văn phải trôi chảy lưu loát , đó chính là tín, đạt, nhã Quan điểm thứ hai thì cho rằng chỉ cần hai chữ tín, đạt là đủ
vì chữ nhã là vô nghĩa Quan điểm thứ ba thì cho rằng chỉ cần chữ tín là đủ Vì theo họ chữ tín bao gồm tất cả tức là chuyển được tất cả những gì
Trang 33mà tác giả đã làm và người đọc cảm nhận được nguyên bản trong một ngôn ngữ khác
E A Nida đã đưa ra một sơ đồ tổng quát về quá trình chuyển từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích:
Source language (Ngôn ngữ nguồn) Target language(Ngôn ngữ đích)
Text (Văn bản) Translation (Phiên dịch)
Analysis(Phân tích) Restructuring( tái cấu trúc hóa)
Transfer ( chuyển di) Người phiên dịch cần phải phân tích rõ : mối quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố, ý nghĩa quy chiếu của các đơn vị nghĩa, ý nghĩa liên hội của các cơ cấu ngữ pháp và đơn vị nghĩa
1.3.2 Phân loại dịch
Theo Peter Newmark thì có chín phương pháp dịch Đó là: dịch từ ( word – for – word translation), dịch sát theo nghĩa đen ( literal translation), dịch trung thực ( faithfull translation), dịch ngữ nghĩa (semantic translation), dịch phóng tác ( adaptation), dịch tự do ( free translation), dịch thành ngữ ( idiomatic translation), dịch giao tiếp (communicative translation), dịch giao tiếp và ngữ nghĩa (communicative and semantic translation)
1.3.3 Những khó khăn trong dịch thuật
Trang 34Có ba khó khăn thường gặp phải trong quá trình dịch: người dịch không nắm vững cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, người dịch không có kiến thức chuyên môn cần thiết về lĩnh vực mà mình cần chuyển dịch, khó khăn liên quan đến phong cách học
Khó khăn thứ nhất thường thấy ở sinh viên, kể cả là sinh viên khoa ngoại ngữ nhưng những khó khăn này có thể khắc phục nếu được hướng dẫn tốt Khó khăn này bắt nguồn từ việc cấu trúc của hai ngôn ngữ quá khác nhau ( Anh và Việt hay Nga và Việt ) Ngay cả giữa tiếng Anh và tiếng Pháp cũng vậy Tưởng chừng như giữa chúng giống nhau nhưng
không phải là như vậy Ví dụ: demander trong tiếng Pháp không hề tương đương với demand trong tiếng Anh mà nó lại tương đương với request
Ngay cả từ Hán trong tiếng Hán của người Trung Quốc cũng có nhiều khác biệt so với từ gốc Hán được vay mượn và được Việt hóa trong tiếng
Việt Ví dụ: Người Trung Quốc dùng từ đáo để có nghĩa là đi đến tận đáy
chứ không có ý nghĩa xấu như trong tiếng Việt Khi chúng ta xem những
bộ phim chưởng của Trung Quốc, chúng ta thấy từ công phu xuất hiện khá nhiều nhưng với nét nghĩa là quyền cước, võ thuật chứ không phải là các
nét nghĩa: “1 Việc đòi hỏi nhiều công sức và thì giờ 2 Tốn nhiều sức lực” [dẫn theo 25; tr 259] như trong tiếng Việt hiện đại
Khó khăn thứ hai là khó khăn về kiến thức trong lĩnh vực mà mình chuyển dịch Không chỉ sinh viên gặp khó khăn trong lĩnh vực này mà cả những nhà dịch thuật đôi khi cũng thấy khó vì họ không có kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa trong lĩnh vực đó Và trong thực tế không
Trang 35phải ai cũng có thể biết hết được mọi lĩnh vực Nhưng để dịch cho tốt một lĩnh vực nào đó thì đương nhiên chúng ta phải trang bị cho mình một lượng kiến thức cần thiết thì việc dịch mới tốt được
Khó khăn cuối cùng là khó khăn về phong cách Mỗi nhà văn đều có một phong cách riêng Nếu xem một bản dịch ở góc độ dịch ngữ nghĩa thì vấn đề về phong cách học là không quan trọng Nhưng nếu nhìn từ góc độ phương pháp hay góc độ phong cách thì vấn đề phong cách lại vô cùng quan trọng, thậm chí nó ảnh hưởng đến độ “bền” của tác phẩm dịch Người dịch phải dịch làm sao để giữ được cả cái “thần” phong cách của nguyên bản làm sao để độc giả đọc bản dịch mà họ có cảm tưởng như là đang đọc nguyên tác vậy
TIỂU KẾT Tóm lại, người dịch và người học ngôn ngữ thứ hai cần phải nắm rõ chức năng của ngôn ngữ, nắm rõõ từng phương pháp dịch, giá trị ngữ nghĩa của văn bản trong một ngữ cảnh cụ thể, để tiến tới xác lập văn bản và xác lập thể loại văn bản và phương án chuyển dịch sao cho phù hợp Bên cạnh đó chúng ta cũng thấy được vai trò hết sức quan trọng của từ, một yếu tố không thể thiếu được để tạo nên câu và từ câu mới có thể hình thành nên
văn bản Từ hoạt động trong ngữ cảnh cụ thể Nghĩa của từ cũng được xác định cụ thểå trong ngữ cảnh Vì vậy xem xét từ được dịch từ ngôn ngữ này
sang ngôn ngữ khác không chỉ cần biết các vấn đề lý thuyết và ứng dụng
liên quan đến khái niệm và đơn vị ngôn ngữ là từ, mà còn phải hiểu biết
rõ vấn đề từ loại trong ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích Bởi vì có như
Trang 36vậy ta mới có thể hình dung được từ trong ngữ cảnh ở cả hai ngôn ngữ-
ngôn ngữ nguồn cũng như ngôn ngữ đích Và nhờ đó người dạy, người học mới hình dung được hoạt động cụ thể của từ trong cả hai ngôn ngữ và có cách chuyển dịch chính xác theo đúng nguyên tắc của dịch thuật
CHƯƠNG 2
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TO BE TRONG TIẾNG ANH
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Ai đã từng học tiếng Anh thì chắc hẳn đều thường xuyên tiếp cận
với to be To be không phải là nội động từ hay ngoại động từ mà nó là
động từ trung tính ( neuter )
Trước đây động từ này có dạng thức như thế nào chưa? Nghiên cứu
về động từ to be trong giai đoạn hiện nay và các hình thức chuyển của hai
động từ này sang cách dịch tiếng Việt có những vấn đề không chỉ liên quan tới cơ cấu ngôn ngữ hiện đại mà còn có cả những vấn đề mang tính lịch sử cần được làm sáng tỏ Việc tìm hiểu lịch sử hoạt động của động từ này trong quá khứ và trong cả hiện đại là vấn đề hết sức quan trọng Vì như chúng ta đã biết, các vấn đề về ngôn ngữ trong lịch sử có thể là những tia sáng giúp chúng ta hiểu những vấn đề về cơ cấu và đặc điểm của ngôn ngư õtrong hoạt động của nó hiện nay
Trang 37Theo Peter Moor, Sarah Cunningham thì lịch sử tiếng Anh chia ra làm năm thời kỳ chính Đó là: thời kỳ cổ đại ( old English) Nó được tính từ năm 450 tới năm 1100 Thời kỳ thứ hai là trung đại ( middle English) thời kỳ này là thời kỳ trung chuyển từ cổ đại sang trung đại Thời kỳ này bắt đầu từ năm 1200 tới năm 1400 Mặc dù thời kỳ này không kéo dài song nó lại là một thời kỳ quan trọng không thể thiếu được Thời kỳ thứ ba là giai đoạn sơ kỳ của tiếng Anh hiện đại ( early modern English) Nó bắt đầu từ năm 1450 đến 1750 Thời kỳ thứ tư là tiếng Anh hiện đại (modern English), được bắt đầu từ năm 1750 đến 1950 Thời kỳ cuối cùng là thời kỳ muộn hơn của tiếng Anh hiện đại (later modern English) Nó bắt đầu từ năm 1950 Ba thời kỳ cuối tiếng Anh không có nhiều thay đổi nên theo tôi chúng ta có gọi chung là thời kỳ tiếng Anh hiện đại Ngoài ra nó còn hai thời kỳ phụ khác Đó là thời kỳ chuyển tiếp cổ đại ( Transition Old English 1100- 1200) và chuyển tiếp trung đại ( Transition Middle English 1400- 1500) Việc nghiên cứu động
từ to be trong hai thời kỳ cổ đại và trung đại chưa có nhiều người ở
Việt Nam quan tâm
Trang 38Ở bất kỳ ngôn ngữ nào thì động từ luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng và động từ trong tiếng Anh cũng nằm trong quy luật này
Động từ trong tiếng Anh cổ được chia thành ba loại: động từ mạnh (strong verb) , động từ yếu( weak verb), động từ bất quy tắc( anomalous verbs)
Động từ mạnh trong tiếng Anh cổ thì giống như những động từ bất qui tắc trong tiếng Anh hiện đại Đó là những động từ mà khi chúng ta
biến đổi hình thái của nó tương hợp với phạm trù ngôi, phạm trù thì
thì động từ đó sẽ biến đổi không theo một quy tắc nào cả
Động từ yếu thì gần giống như động từ có qui tắc trong tiếng Anh hiện đại Đó là những động từ được thể hiện chủ yếu bằng việc thêm
vào một hậu tố khi nó biểu thị các phạm trù ngôi, thì
Động từ bất quy tắc là động từ chỉ dùng để kết hợp mà thôi
Người ta đã nghiên cứu động từ yếu cách đây hơn 1200 năm Trong thời kỳ tiếng Anh cổ, đặc biệt là giai đoạn đầu , động từ mạnh chiếm ưu thế vượt trội nhưng cho tới ngày nay thì động từ yếu lại hoạt động nhiều hơn động từ mạnh Một vài động từ trước đây là động từ
mạnh( ví dụ : help) nhưng dần dần đã trở thành động từ yếu Và tất cả
những động từ trước đây là những động từ yếu thì bây giờ vẫn là động từ
yếu còn những động từ được hình thành từ danh từ ( ví dụ: to water, to
scroll) cũng là những động từ yếu Thêm vào đó còn có một đặc điểm nữa
là động từ yếu thì dễ dàng kết hợp với những từ khác Vì những nguyên
Trang 39nhân này làm số lượng những động từ mạnh giảm dần Bởi vậy, nên trong
tiếng Anh hiện đại động từ yếu đã chiếm ưu thế vượt trội về số lượng
b Động từ to be( béon)
Theo Ferdinand de Saussure thì một xã hội nào cũng chỉ biết được
ngôn ngữ dưới hình thức là sản phẩm thừa hưởng từ các thế hệ trước và
phải chấp nhận nó y nguyên như thế Và chúng ta hãy thử xét xem động
từ to be đã thay đổi như thế nào khi nó trải qua một thời kỳ phát triển lâu
dài như vậy Kết quả của quá trình thay đổi đó là ngày nay chúng ta đang
chấp nhận cách dùng to be sau một diễn trình lịch sử của nó
Trong tiếng Anh cổ, to be có vai trò quan trọng Như đã nêu ở trên
động từ to be thuộc nhóm động từ bất quy tắc Trong suốt thời kỳ tiếng
Anh cổ, động từ to be có hai căn tố ( stem) Một căn tố có dạng nguyên
mẫu là wesan và một căn tố có dạng nguyên mẫu là béon Cả hai đều là
nguyên mẫu cho dù chúng được sử dụng trong những thì nhất định Béon
được dùng trong thì hiện tại nhằm thể hiện một sự thực vĩnh hằng trong
khi đó wesan được dùng trong phân từ hiện tại và thì quá khứ Sự kết hợp
của to be trong thời kỳ tiếng Anh cổ được chỉ ra khá rõ ở bảng 1
BẢNG 1 Conjugation
(Cách chia động từ)
Pronoun Đại từ
Present Hiện tại
Future Tương lai
Past Quá khứ Infinitive
(Nguyên mẫu) – sindon béon wesan
Trang 40Ic eom béo wese
hé/hit/héo is bið wes(t)
Past Indicative
(Hình thức quá khứ)
wé/gé/híe – – wǽron ic/þú/hé/hit/
Present Subjunctive
(Giả định của hiện
tại) wé/gé/híe síen béon wesen