Chính những lý đó đã thôi thúc chúng tôi chọn: “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ gốc tiếng Anh trên các báo, tạp chí tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong thời đại hội nhập, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ quốc tế, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật, giải trí và truyền thông Tiếng Anh đang thu hút sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là về tác động của nó đối với các ngôn ngữ khác trên toàn cầu Hai công trình tiêu biểu của David Crystal, “Cambridge Encyclopedia of the English Language” (1995) và “English as a Global Language” (1997), đã cung cấp số liệu thống kê về số người sử dụng tiếng Anh như ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai Ngoài ra, David Graddo cũng thể hiện mối quan tâm về ảnh hưởng của tiếng Anh trong tương lai qua tác phẩm “English Next” (1996).
“The future of English?” (The British Council, 1997); Tom McAthur trong bài viết
“English as Asian language” Về vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ, có các bài viết như
“Language contact and Lexicon innovation” của Benjamin K T’Sou; “Language,
Trong tác phẩm "Culture and Globalisation of Discourse" của Diana M Lewis, vấn đề vay mượn ngôn ngữ đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và đề cập.
“Language Borrowing and Diffusion: An overview” của Battes L Hoffer (Trinity University, 2002); “Borrowing as a Word-Finding Process in Cognitive Historical
Onomasiology” của Grzega, Joachim đăng trên Onomasiology Online (OnOn) - một trang tạp chí ngôn ngữ học trực tuyến; “Towards a Typological Classification of
Linguistic Borrowing (Illustrated with Anglicsms in Romance Languages)” của
Nghiên cứu về từ vay mượn trong tiếng Việt, đặc biệt là từ gốc Châu Âu như Pháp và Anh, đã thu hút sự chú ý của các nhà Việt ngữ học Mức độ nghiên cứu các từ gốc Hán, Pháp hay Anh thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, phản ánh sự khác biệt trong việc vay mượn từ vựng trong tiếng Việt Nhiều công trình nghiên cứu và bài viết đã đề cập đến sự tiếp xúc ngôn ngữ tại Việt Nam và sự xuất hiện của từ tiếng Anh trong tiếng Việt.
Nguyễn Văn Khang (1998) đã trình bày trong bài viết “Tiếng Việt trong sự tiếp xúc và tiếp nhận các yếu tố của ngôn ngữ nước ngoài: hiện trạng và dự báo” tại Hội thảo quốc tế về sự tương tác ngôn ngữ Bài viết phân tích tình hình hiện tại của tiếng Việt trong bối cảnh tiếp xúc với các ngôn ngữ nước ngoài và đưa ra những dự báo về sự phát triển của ngôn ngữ này trong tương lai.
Việt Nam học, Nxb.Thế giới
- Nguyễn Kiên Trường (chủ biên) (2005), “Tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam”,
Nxb Khoa học Xã hội
- Phú Văn Hẳn (2004), “Ngôn ngữ dân tộc trước sự phát triển của tiếng Anh ở khu vực Đông Nam Á”, Ngôn ngữ và đời sống, số 142, trang 72-74
- Huỳnh Công Minh Hùng (2004), “Tiếng Anh trong thời đại toàn cầu hóa”, Ngôn ngữ và đời sống, số 10 (108), trang 37-39
- Bùi Hiền (2006), “Ngôn ngữ quốc tế và ngôn ngữ toàn cầu”, Ngôn ngữ và đời sống, số 9, trang 42-43
Trong bài viết này, các tác giả đã nghiên cứu sự giao thoa, vay mượn và lai tạp giữa tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ Họ cũng đưa ra dự báo về tình hình này trong tương lai Một số công trình gần đây đã đề cập đến vấn đề này.
Trong tác phẩm “Từ ngoại lai trong tiếng Việt” của Nguyễn Văn Khang (nhà xuất bản Giáo dục, 2006), tác giả đã nghiên cứu các từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt, tập trung vào những đặc điểm chung về từ loại, hình thức xuất hiện và ngữ nghĩa, bao gồm nghĩa gốc, chuyển nghĩa và thu hẹp nghĩa Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc điểm qua sơ lược những từ tiếng Anh phổ biến trong tiếng Việt.
Bài viết "Vấn đề sử dụng các yếu tố Anh ngữ trong giao tiếp xã hội của người Việt đương đại" của Nguyễn Thị Bích Thủy (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, ĐHSP TP.HCM, 2006) chỉ đề cập một cách sơ lược về sự hiện diện của từ gốc Anh trong văn bản báo chí.
Ngoài ra, một số các luận án, luận văn, khóa luận như:
- Khóa luận “Tình hình tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài trong tiếng Việt trên cứ liệu tiếp nhận thuật ngữ kinh tế” của Phạm Thị Thu Hiền (ĐHQGHN,
- “Cấu tạo và ngữ nghĩa danh từ ghép tiếng Anh (so sánh với danh từ ghép tiếng Việt)” - luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Uyên Phương năm 2003;
- “Khảo sát về cấu tạo và cách giải nghĩa của quyển “Từ điển y học Anh – Việt” (do bác sĩ Phạm Ngọc Trí biên soạn năm 2000) (so sánh với quyển
“Từ điển y học Anh – Việt” do Lâm Phương Thảo biên soạn năm 2003)” –
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Bích Vân năm 2004;
- Luận án “Khảo sát hệ thống thuật ngữ tin học – viễn thông” của Nguyễn Thị Kim Thanh (ĐHQGHN, 2005);
- Khóa luận “Khảo sát các từ mượn tiếng Anh đang sử dụng trong tiếng Việt đời sống” của Đỗ Hồng Dương (ĐHQGHN, 2005);
- Luận văn “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ gốc tiếng Anh trên văn bản báo chí tiếng Việt từ năm 2000 đến 2008” của Vũ Văn Lăng (2009)
Đề tài của chúng tôi nghiên cứu từ tiếng Anh trong tiếng Việt, với phạm vi khảo sát tương tự như các công trình trước, nhưng có nguồn ngữ liệu và đối tượng nghiên cứu riêng biệt Chúng tôi tập trung vào các báo và tạp chí tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay, điều này làm cho luận văn của chúng tôi trở thành công trình đầu tiên khảo sát về từ gốc tiếng Anh trong lĩnh vực này Mặc dù vậy, các công trình trước vẫn là tài liệu tham khảo quý giá cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Phương pháp nghiên cứ u Để thực hiện luận văn này, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp thống kê đã được áp dụng để phân tích sự xuất hiện của các từ gốc tiếng Anh trong gần 300 số báo và tạp chí tiếng Việt về y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay.
- Phương pháp miêu tả: được vận dụng để miêu tả đối tượng (về cấu tạo và hình thức xuất hiện)
Phương pháp phân tích ngữ nghĩa được sử dụng để khám phá và phân tích ý nghĩa của các từ, từ đó giúp phân loại chúng theo các tiêu chí của trường từ vựng và ngữ nghĩa.
Chúng tôi đã khảo sát hai tạp chí y học được công nhận bởi Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước và hai báo y học uy tín từ năm 2009 đến nay Tạp chí “Y học TP.HCM” do Đại học Y Dược TP.HCM xuất bản, cung cấp thông tin về y học và sức khỏe cộng đồng với các mục như tổng quan kiến thức y học, nghiên cứu y học, và diễn đàn ý kiến bạn đọc Tạp chí “Y học thực hành” do Bộ Y tế phát hành hàng tháng, đăng tải các công trình nghiên cứu và thông tin y học trong và ngoài nước, cùng với các hướng dẫn thực hành nhằm nâng cao trình độ chuyên môn Báo “Sức khỏe & Đời sống” là cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế, phát hành các ấn phẩm hàng tuần và cuối tuần, tập trung vào các chủ đề như bài thuốc hay, y học thường thức, và dinh dưỡng Cuối cùng, báo “Thuốc & Sức khỏe” là ấn phẩm của Hội Dược học Việt Nam, cung cấp thông tin về thuốc và sức khỏe qua các bài viết chuyên đề từ các bác sĩ và thầy thuốc.
Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu về từ gốc tiếng Anh trong lĩnh vực y học tại Việt Nam là một vấn đề mới mẻ trong lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và ngôn ngữ học xã hội Dựa trên ngữ liệu sưu tầm và các phương pháp nghiên cứu đa dạng, luận văn sẽ cung cấp dữ liệu quan trọng để xác định vai trò và phạm vi của từ tiếng Anh du nhập vào tiếng Việt Qua đó, nghiên cứu này sẽ đóng góp tích cực vào xu hướng phát triển vốn từ của ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng thông qua hình thức vay mượn.
Luận văn này không chỉ giúp người Việt Nam thích nghi với thực tế giao tiếp, mà còn làm nổi bật sự giao thoa giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác, đặc biệt là tiếng Anh Bên cạnh đó, nó cũng là tài liệu tham khảo quý giá cho những ai quan tâm đến các vấn đề liên quan.
Kết cấu của luận văn
Lý thuyết về từ
Từ được coi là đơn vị trung tâm và cơ bản trong hệ thống ngôn ngữ, nhưng việc xác định và đưa ra một định nghĩa chung cho tất cả các ngôn ngữ vẫn là thách thức đối với các nhà ngôn ngữ học Saussure đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khái niệm này trong nghiên cứu ngôn ngữ.
Từ là một đơn vị ngôn ngữ trung tâm, nhưng khó định nghĩa do sự đa dạng về hình thức, chức năng và ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau Có những từ mang chức năng định danh sự vật (như danh từ, động từ, tính từ) và những từ không mang chức năng này (như số từ, thán từ) Các từ cũng có thể biểu thị khái niệm hoặc chỉ là dấu hiệu của cảm xúc, liên hệ với sự vật ngoài thực tế hoặc chỉ biểu thị quan hệ trong ngôn ngữ Hiện nay, đã có hơn 300 định nghĩa khác nhau về từ, với các quan điểm khác nhau từ các nhà nghiên cứu Ví dụ, Bloomfield định nghĩa từ là hình thái nhỏ nhất mà tự do, trong khi Kasevich đưa ra ba tiêu chí cốt lõi để xác định từ: độ độc lập, tính toàn vẹn bên trong và quan hệ cú pháp độc lập Các định nghĩa này chủ yếu xuất phát từ ngôn ngữ Ấn – Âu, trong khi trong giới Việt ngữ học cũng có những quan điểm khác nhau.
Theo định nghĩa, từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có hình thức âm tiết và chữ viết liền Các tác giả như Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến nhấn mạnh rằng từ không chỉ có cấu trúc âm thanh bền vững mà còn có chức năng gọi tên, có thể được sử dụng độc lập và tái hiện tự do trong lời nói để tạo thành câu.
Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau, để phục vụ cho nghiên cứu, người ta thường chấp nhận một khái niệm về từ, mặc dù chưa thể bao quát toàn bộ, nhưng có khả năng bao quát tương đối Trong luận văn này, chúng tôi theo quan điểm của các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, và Hoàng Trọng Phiến, cho rằng “từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [19, tr.161].
Trong ngôn ngữ học, từ được hình thành từ các hình vị, tức là sự kết hợp của một hoặc nhiều hình vị theo những nguyên tắc nhất định Do đó, khi thảo luận về cấu tạo của từ, hình vị là một yếu tố không thể thiếu.
Hình vị được định nghĩa là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc giá trị ngữ pháp Theo Kasevich, hình vị có thể được phân chia thành hai nhóm chính: hình vị thực (từ vựng) và hình vị hư (ngữ pháp) Các tác giả như Mai Ngọc Chừ cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến khái niệm này.
Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến cho rằng hình vị được phân chia thành hai loại chính: hình vị tự do và hình vị hạn chế Hình vị tự do có khả năng xuất hiện độc lập như những từ riêng lẻ, trong khi hình vị hạn chế chỉ có thể xuất hiện khi đi kèm và phụ thuộc vào hình vị khác.
Trong nội bộ các hình vị hạn chế, có hai loại chính: hình vị biến đổi dạng thức và hình vị phái sinh Nghiên cứu cấu tạo từ chú trọng đến hình vị tự do và hình vị phái sinh, phân chia chúng thành gốc từ và phụ tố dựa trên vị trí trong từ Gốc từ mang ý nghĩa từ vựng riêng, trong khi phụ tố mang ý nghĩa ngữ pháp chung Phụ tố có thể đứng trước, trong hoặc sau gốc từ, được gọi lần lượt là tiền tố, trung tố và hậu tố Ví dụ, từ "indecipherability" có gốc từ "cipher", kết hợp với tiền tố "de" tạo thành động từ "decipher", sau đó thêm hậu tố "able" để có tính từ "decipherable", và cuối cùng phủ định bằng tiền tố "in" để tạo thành "indecipherable".
Cuối cùng, khi kết hợp với hậu tố "ility", chúng ta có danh từ "indecipherability", mang nghĩa là tính chất không thể đọc hay hiểu được Quá trình cấu tạo từ này có thể được minh họa bằng sơ đồ: in + de + cipher + ability.
Phương thức tạo từ mới là cách hình thành từ mới dựa trên căn tố hoặc từ có sẵn, tuân theo các nguyên tắc ngữ pháp nhất định, do đó, nó là một phần của ngữ pháp Việc tạo từ mới không chỉ dựa vào ngữ pháp mà còn liên quan chặt chẽ đến từ vựng học, làm phong phú thêm kho từ vựng Nhiều nhà ngữ pháp coi phương thức tạo từ là ranh giới giữa từ vựng học và ngữ pháp học, vì vậy nó được đề cập trong cả sách về từ vựng và ngữ pháp Các phương thức cấu tạo từ thường gặp bao gồm: a Dùng một hình vị để tạo thành một từ, ví dụ như nhà, người, xe trong tiếng Việt; b Ghép các hình vị chính tố để tạo ra từ mới, như house + work = housework (công việc nhà) và home + land = homeland.
Trong tiếng Anh, có nhiều phương thức tạo từ như phái sinh, chuyển loại và tổ hợp ghép Đối với các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt hay tiếng Hán, việc xác định từ hay tổ hợp từ trở nên khó khăn, ví dụ như "áo quần" hay "nhà cửa" Phái sinh là phương thức thêm phụ tố vào chính tố để tạo thành từ mới, như "impossible" (không thể) hay "ex-president" (cựu tổng thống) Phương thức này phổ biến trong các ngôn ngữ biến hình nhưng không có trong ngôn ngữ đơn lập Chuyển loại cho phép một từ thay đổi chức năng, ví dụ như danh từ "paper" hay "butter" có thể được sử dụng như động từ trong một số ngữ cảnh.
He’s papering the bedroom walls (Anh ấy đang dán giấy tường phòng ngủ)
Have you buttered the toast? (Anh đã phết bơ lên bánh mì chưa?)
We bottled the home-brew last night (Chúng tôi đóng chai (bia làm tại nhà) tối qua)
Trong tiếng Việt, chuyển loại là một hiện tượng phổ biến Phương thức láy (reduplication) là việc lặp lại hoàn toàn hoặc một phần âm thanh của từ gốc, tạo ra từ mới theo quy tắc cho phép Ví dụ như các từ "co ro", "lúng túng", "giỏ i giang" thể hiện rõ hiện tượng này trong ngôn ngữ.
Trong tiếng Nhật, có những từ như "どんどん" (don don = ùn ùn) và "ときどき" (toki doki = thỉnh thoảng) Một phương thức tạo từ phổ biến là tạo từ tắt (acronym), tức là ghép các chữ cái đầu của các từ trong một tổ hợp định danh.
XHCN (Xã Hội Chủ Nghĩa); TƯ hay TW (Trung Ương), trong tiếng Việt NATO (North Atlantic Treaty Organization = Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) sử dụng nhiều phương thức tạo từ mới trong ngôn ngữ Một trong những phương thức này là rút ngắn từ, ví dụ như "prof" từ "professor" và "doc" từ "doctor" Ngoài ra, trộn từ hay ghép nhập cũng là một cách tạo từ mới, như "motel" được hình thành từ "motor" và "hotel" Vay mượn từ là một phương pháp phổ biến khác để mở rộng vốn từ, mặc dù có thể gây cản trở cho người bản ngữ Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và giao lưu văn hóa, những rào cản này đang dần được xóa bỏ.
Các phương thức tạo từ phổ biến trong ngôn ngữ không đồng nhất và hoạt động khác nhau giữa các ngôn ngữ Trong các ngôn ngữ biến hình như Ấn – Âu, phương thức phái sinh rất hiệu quả nhờ vào sự phân định rõ ràng giữa hình vị gốc và các phụ tố Ngược lại, ở các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt và tiếng Hán, phương thức ghép và phương thức láy là chủ yếu.
Vấn đề vay mượn từ vựng
Vay mượn từ vựng là kết quả của sự ảnh hưởng qua lại giữa các ngôn ngữ, xuất phát từ hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Do đó, việc nghiên cứu vay mượn từ vựng không thể tách rời khỏi khái niệm tiếp xúc ngôn ngữ.
Tiếp xúc ngôn ngữ, theo O.S Akhmanova, là sự giao thoa giữa các ngôn ngữ do điều kiện địa lý và lịch sử, xã hội, dẫn đến nhu cầu giao tiếp giữa các cộng đồng nói tiếng khác nhau Giao tiếp này có thể diễn ra trực tiếp qua cá nhân song ngữ, trong các xã hội đa ngữ, hoặc gián tiếp qua văn tự Hiện tượng này phổ biến trong đời sống xã hội và xuất hiện khi con người sử dụng hai hay nhiều ngôn ngữ, cho thấy rằng ở đâu có song ngữ hoặc đa ngữ, ở đó tiếp xúc ngôn ngữ sẽ diễn ra.
1.2.2 Hiện tượng vay mượn trong ngôn ngữ
Vay mượn ngôn ngữ là quá trình chuyển giao các đơn vị ngôn ngữ giữa các nền văn hóa có tiếp xúc Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do sự thiếu hụt từ vựng trong một ngôn ngữ, dẫn đến việc vay mượn từ ngôn ngữ khác Ngoài ra, còn có trường hợp vay mượn mặc dù ngôn ngữ đã có từ tương ứng, nhằm đáp ứng nhu cầu định danh chính xác và nhu cầu gợi cảm Các nghiên cứu về vay mượn ngôn ngữ đã chỉ ra rằng dấu ấn rõ nét nhất của hiện tượng này thể hiện ở phạm trù từ vựng, bên cạnh các yếu tố âm vị và ngữ pháp.
1.3 Về thuật ngữ “từ vay mượn” và cách gọi “từ gốc tiếng Anh” trong luận văn
1.3.1 Thuật ngữ “từ vay mượn”
Thuật ngữ “từ vay mượn” trong ngôn ngữ đang gây ra nhiều tranh cãi và có nhiều cách gọi khác nhau Trong tiếng Anh, hai thuật ngữ phổ biến nhất là "borrowed" và "loan word" Tương ứng, tiếng Việt hiện sử dụng ba cách gọi: "từ vay mượn", "từ mượn", và "từ ngoại lai" Tuy nhiên, khi xem xét về từ vay mượn, vẫn còn nhiều vấn đề cần được thảo luận.
Theo từ điển, "mượn" có nghĩa là nhận được một vật tạm thời từ ai đó với cam kết sẽ trả lại Hành vi mượn cần có hai bên: bên cho mượn và bên đi mượn Khi đó, tài sản của bên cho mượn sẽ chuyển sang bên mượn, và bên mượn có trách nhiệm hoàn trả theo quy luật có vay có trả.
Việc vay mượn từ vựng trong ngôn ngữ khác với các hình thức vay mượn thông thường, vì không chỉ không có sự trả lại mà bên cho vay cũng không mất đi đơn vị từ vựng đó Ralph Fasold đã đề xuất thay cụm từ “vay mượn từ vựng” bằng “sao chép” để phản ánh chính xác hơn khái niệm này Tuy nhiên, tên gọi “từ vay mượn” vẫn được sử dụng phổ biến đến mức việc thay đổi nó trở nên vô nghĩa.
1.3.2 Cách gọi “từ gốc tiếng Anh” trong luận văn
Theo Nguyễn Văn Khang, các từ tiếng Hán nhập vào tiếng Việt đã được Việt hóa về mặt ngữ âm, hình thành nên các từ Hán Việt Tên gọi Hán Việt thể hiện rõ sự Việt hóa này Đối với từ mượn Pháp, chúng cũng được Việt hóa qua cách phỏng âm, tạo ra cách đọc và viết theo kiểu Việt Trong khi đó, từ tiếng Anh có những điểm tương đồng và khác biệt với từ mượn Hán và Pháp: một số từ tiếng Anh được Việt hóa theo cách phỏng âm, nhưng phần lớn vẫn giữ nguyên dạng viết, với cách đọc có thể là phỏng âm hoặc theo cách đọc tiếng Việt Điều này đặt ra câu hỏi về việc những từ tiếng Anh này có phải là từ mượn hay chỉ là từ được sử dụng theo cách trộn mã Nguyễn Văn Khang đã tạm gọi chúng là “từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt”, và chúng tôi đồng ý với quan điểm này Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, bên cạnh các từ tiếng Anh nguyên dạng, còn có những từ gốc tiếng Anh được phỏng âm và viết bằng chính tả tiếng Việt Do đó, chúng tôi tạm gọi chúng là “từ gốc tiếng Anh” để phản ánh đúng hơn đối tượng khảo sát.
Tiếng Anh, như nhiều ngôn ngữ khác, có hiện tượng vay mượn từ ngữ từ hơn 350 ngôn ngữ trong suốt hơn một nghìn năm phát triển Việc phân biệt từ vay mượn và từ gốc bản địa không hề đơn giản, đặc biệt là với các thuật ngữ y học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp và Latin Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào việc xác định "từ gốc tiếng Anh" dựa trên các từ điển tiếng Anh và từ điển y học, mà không xem xét nguồn gốc của những từ này.
Mặc dù chúng tôi đã nỗ lực hết mình, vẫn có thể có một số từ tiếng Pháp hoặc ngôn ngữ châu Âu khác có hình thức viết giống tiếng Anh mà chúng tôi không nhận diện được trong nghiên cứu Chúng tôi rất mong quý thầy cô và độc giả thông cảm nếu gặp phải những sai sót như vậy trong luận văn này.
Tiểu kết
Chúng tôi đã tóm tắt một số vấn đề lý thuyết cơ bản về từ và vay mượn ngôn ngữ Theo quan điểm của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, và Hoàng Trọng Phiến, từ được định nghĩa là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong ngôn ngữ, có thể sử dụng độc lập để tạo thành câu Về lý thuyết trường từ vựng, chúng tôi đồng thuận với Đỗ Hữu Châu, và trong việc gọi tên đối tượng, chúng tôi phần nào thống nhất với Nguyễn Văn Khang Việc áp dụng những lý thuyết này vào việc phân tích cấu tạo và ngữ nghĩa của từ gốc tiếng Anh trong tiếng Việt, đặc biệt trong lĩnh vực y học, sẽ giúp xác định vai trò và phạm vi hoạt động của những từ ngữ này trong tiếng Việt.
CHƯƠNG HAI ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ GỐC TIẾNG ANH TRÊN CÁC BÁO, TẠP CHÍ TIẾNG VIỆT Y HỌC CHUYÊN NGÀNH VÀ THƯỜNG THỨC TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ quan trọng tại Việt Nam, không chỉ được học tập và sử dụng rộng rãi mà còn ảnh hưởng đến vốn từ vựng tiếng Việt Nhiều yếu tố từ vựng tiếng Anh đã du nhập vào tiếng Việt, đặc biệt trong các lĩnh vực giao tiếp và văn bản báo chí, bao gồm cả y học.
Một số thuật ngữ y học tiếng Anh như cholesterol, vitamin, và aspirin đã trở nên quen thuộc với người dân Việt Nam Tuy nhiên, những thuật ngữ phức tạp hơn như Otorhinolaryngology hay electroencephalography vẫn còn xa lạ Những từ này thường được hình thành từ các bộ phận nhỏ hơn, và theo Ralph Rickards, nếu hiểu nghĩa của các bộ phận này, ta có thể suy ra nghĩa của thuật ngữ phức tạp.
Ví dụ otorhinolaryngology có thể được phân thành:
(tai) (mũi) (thanh quản) (sự nghiên cứu)
Theo đó, otorhinolaryngology có nghĩa là môn học về tai, mũi, họng Cần lưu ý là từ otorhinolaryngology nay được rút gọn là otolaryngology trong tiếng Anh - Mỹ
Khi nắm vững cấu trúc và các thành phần của từ/thuật ngữ y học cơ bản, người đọc có thể dễ dàng hiểu và "xây dựng" hầu hết các từ/thuật ngữ y học Chương này sẽ khảo sát đặc điểm cấu tạo và hình thức xuất hiện của các từ gốc tiếng Anh được thu thập từ các báo, tạp chí tiếng Việt chuyên ngành y học và thường thức từ năm 2009 đến nay.
Trong nghiên cứu về cấu tạo từ tiếng Anh, chúng tôi phân loại thành ba nhóm: từ đơn, từ phái sinh và từ ghép Đáng chú ý, từ đơn chủ yếu là từ không biến tố, không có sự phân biệt giữa số ít và số nhiều, cũng như không thay đổi theo ngôi và thời gian Mặc dù từ ghép và từ phái sinh ít xuất hiện hơn, nhưng chúng lại có cấu trúc đa dạng Về mặt từ loại, danh từ chiếm ưu thế với 98%, tiếp theo là tính từ và động từ, trong khi trạng từ và một số từ loại khác chỉ xuất hiện với số lượng không đáng kể.
Đặc điểm cấu tạo
Trong tiếng Anh, từ có thể là một hình vị đơn giản như "go", "book", "cat" hoặc có cấu trúc phức tạp hơn thông qua biến tố, phái sinh và ghép Từ trong tiếng Anh bao gồm các loại như từ đơn, từ biến tố, từ phái sinh và từ ghép Tính chất biến hình của tiếng Anh góp phần mở rộng vốn từ vựng của ngôn ngữ này.
Trong tiếng Anh, từ đơn được hình thành từ hình vị (morpheme), là đơn vị nhỏ nhất mang nghĩa và có giá trị ngữ pháp Hình vị bao gồm căn tố (root), tiền tố (prefix) và hậu tố (suffix) Về mặt ngữ pháp, từ đơn trong tiếng Anh được phân chia thành nhiều loại khác nhau.
Từ đơn có hình vị trùng với gốc từ, là các gốc từ mang nghĩa xác định Chúng có khả năng kết hợp với các hình vị phụ tố hoặc biến tố để chuyển đổi từ loại, thay đổi nghĩa hoặc bổ sung ý nghĩa.
- Từ đơn phái sinh (deriative) bao gồm một gốc từ kết hợp với ít nhất một hình vị phụ thuộc để tạo ra từ mới hay chuyển loại từ
- Từ đơn biến hình (inflection) bao gồm một gốc từ với một hay hơn một hình vị biến tố (inflectional morpheme) để thực hiện chức năng ngữ pháp [68]
Trong nghiên cứu về từ gốc tiếng Anh, chúng tôi phát hiện rằng 76,2% là từ đơn, chủ yếu là từ đơn có hình vị trùng với gốc từ và từ đơn phái sinh Từ đơn biến hình rất hiếm, chỉ xuất hiện trong một vài trường hợp Đặc biệt, từ đơn có hình vị trùng với gốc từ chiếm 73,5%, với các ví dụ như: stent, sonde, ion, botox, laser, cholesterol, aspirin, motrin, ibuprofen, steroid, condom, protein, isoleucin, leucin, lysin, methionin, melanin, gamma, placebo, và vaccine.
Cần nhanh chóng bổ sung năng lượng cần thiết cho bệnh nhân bằng cách bù đắp lượng năng lượng thiếu hụt qua đường tĩnh mạch và qua sonde dạ dày.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học, nhiều công cụ hiện đại đã được áp dụng trong phẫu thuật nạo VA, bao gồm thìa Moure, La Force, Laser, dao điện đơn cực và lưỡng cực, cũng như Microdebrider.
Nguy cơ ung thư trực tràng hậu môn giảm 40% ở người mắc viêm khớp dạng thấp nhờ việc sử dụng thường xuyên các loại thuốc kháng viêm như aspirin, motrin và ibuprofen, giúp ngăn ngừa bệnh ung thư.
Khi thực hiện thuyên tắc toàn bộ động mạch thận, chúng tôi sử dụng ethanol tuyệt đối (10-15ml) và nút mạch bằng spongel tán nhuyễn Đối với một số trường hợp dị dạng động-tĩnh mạch thận, chúng tôi áp dụng stent.
Phương pháp này đã hoàn toàn thay thế cho mổ ngực kinh điển và các thủ thuật triệt hạch như tiêm cồn, nước sôi qua thành ngực, cũng như các liệu pháp điện ion hóa, botox và laser trong điều trị bệnh tăng tiết mồ hôi.
- Làm tăng cholesterol tốt (HDL-c) trong máu và giảm lượng cholesterol/máu)
- Giảm triệu chứng: giảm đau và căng tức vú: Thuốc Acetaminophen (paracetamol) hoặc nhóm thuốc không steroid
- Chiến bào đó, có người gọi là “áo mưa”, “bao cao su”, “cabot”,
“condom”, ngày nay được xem như phương tiện để quan hệ tình dục an toàn
- Protein chiếm khoảng 20-26%, trong đó có các acid amin thiết yếu như isoleucin, leucin, lysin, methionin
- Đối với u melanin ác tính di căn, phẫu thuật sử dụng tia gamma (dao gamma) là một hướng điều trị
Theo từ điển, placebo (plaxơbô) được định nghĩa là "thuốc vờ" Trong y văn Pháp, có hai loại placebo: một loại thuần khiết dùng trong kiểm nghiệm lâm sàng và một loại không tinh khiết, có tạp chất, được sử dụng trong điều trị thực tiễn với mục đích tận dụng "hiệu năng placebo" mà khoa học chưa thể giải thích.
Dự phòng cấp 1 bao gồm việc tổ chức các chương trình truyền thông giáo dục nhằm nâng cao kiến thức về ung thư cổ tử cung, đồng thời hướng dẫn cách phòng bệnh thông qua lối sống lành mạnh và tiêm vắc xin HPV.
Phương thức phụ tố là cách tạo từ, dẫn đến sự hình thành của từ phái sinh Một từ mới được hình thành khi gốc từ kết hợp với một hoặc nhiều phụ tố (tiền tố hoặc hậu tố), tạo ra từ mang nghĩa mới hoặc thay đổi từ loại, làm phong phú thêm từ vựng tiếng Anh Tương tự như từ vựng chung, từ phái sinh trong lĩnh vực y học cũng được tạo ra từ sự kết hợp giữa gốc từ và các phụ tố.
Tiền tố + gốc từ như tachycardia (chứng tim đập nhanh), polysaccharide (đường đa phân tử);
Gốc từ + hậu tố như scanner (máy chụp cắt lớp)
Hoặc cả ba yếu tố: tiền tố + gốc từ + hậu tố như biomarker (chất đánh dấu sinh học)
Chúng tôi sẽ trình bày các mô hình cấu tạo từ phái sinh mà chúng tôi đã ghi nhận trong quá trình khảo sát, bao gồm mô hình từ có cấu tạo là Tiền tố + Gốc từ.
Tiền tố, hay tiếp đầu ngữ, là thành phần cấu tạo từ có chức năng kết hợp với gốc từ để tạo ra từ mới với nghĩa mới Tiền tố có thể là hình vị một âm tiết hoặc nhiều âm tiết, thường xuất phát từ giới từ hoặc trạng từ Đặc biệt, tiền tố đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các thuật ngữ y học.
Trong tiếng Anh phổ thông, có nhiều tiền tố thường gặp như Anti- (chống/kháng), Auto- (tự động), Un- (không), Non- (không), và Extra (vượt trội/ngoài) Khi kết hợp với gốc từ, các tiền tố này tạo ra từ mới với nghĩa kết hợp giữa tiền tố và gốc từ Các kiểu cấu tạo này có thể được phân loại thành các mô hình nhất định.
Anti + A: kháng A (như antithrombin (chống/kháng đông máu);
Auto + A: tư động A (như autofocus: tự động điều chỉnh trọng tâm);
Un/Non + A: Không A (như nonsteroid: không steroid)
Đặc điểm về từ loại
Thông thường, các nhà ngôn ngữ phân định từ loại dựa trên một tiêu chí hoặc kết hợp các tiêu chí:
Về hình thái (đặc biệt là tiếng Anh)
Trong các ngôn ngữ biến hình, đặc biệt là tiếng Anh, sự khu biệt giữa các từ loại thể hiện rõ ràng về hình thái và ngữ nghĩa Qua khảo cứu, chúng tôi nhận thấy rằng trong các báo y học tiếng Việt, phần lớn từ vựng là danh từ, chiếm hơn 98%, chủ yếu được sử dụng để định danh Bên cạnh đó, cũng có sự xuất hiện của các từ với vai trò động từ, tính từ và trạng từ.
Sau đây, chúng tôi sẽ miêu tả những từ loại mà chúng tôi đã ghi nhận được trong nguồn ngữ liệu khảo sát
Theo [118, tr.56], danh từ trong tiếng Anh được phân loại dựa trên ý nghĩa và chức năng ngữ pháp, bao gồm danh từ chung và danh từ riêng Danh từ chung có thể được chia thành danh từ đếm được và danh từ không đếm được.
Danh từ chung đếm được là những thực thể có thể đếm, tồn tại ở cả dạng số ít và số nhiều, ví dụ như "a cow" (một con bò) và "two cows" (hai con bò) Chúng có sự phân biệt giữa tính xác định và không xác định, được nhận diện qua mạo từ "a/an" cho danh từ không xác định và "the" cho danh từ xác định.
Danh từ chung không đếm được chỉ những thứ không thể đếm và không khác nhau về số lượng Loại danh từ này không bao giờ đi kèm với mạo từ không xác định a/an.
Danh từ riêng luôn ở dạng số ít và không có sự tương phản về số lượng hay tính xác định, nghĩa là chúng luôn là danh từ xác định Ví dụ, danh từ riêng chỉ tên.
Sarah không có a Sarah hay the Sarah
Trong số các từ ngữ được khảo sát, danh từ chung được phân loại thành ba nhóm: danh từ đếm được, danh từ không đếm được và danh từ vừa đếm được vừa không đếm được Các danh từ chung đếm được bao gồm những từ như retractor, stent, sonde, hood, tube, và transmitter, chủ yếu xuất hiện ở dạng số ít.
Dụng cụ banh bên trong (Retractor) có thiết kế với một đầu giống Farabeuf, cán nhỏ với đường kính 1,2 mm và chiều dài 15 cm Đầu nhọn của dụng cụ này cho phép xuyên qua da và được cố định vào bộ giữ đặc biệt.
- Từ micro âm thanh được truyền đến bộ phận xử lý ngôn ngữ qua transmitter
Sau khi thực hiện tạo hình động mạch vành qua lòng trong mạch và xuyên da, việc kết hợp với việc đặt tại chỗ một stent hoạt chất (lò xo giá đỡ nong mạch có tẩm thuốc) là bắt buộc.
Cần nhanh chóng bổ sung năng lượng cần thiết cho bệnh nhân bằng cách bù đắp lượng năng lượng thiếu hụt qua đường tĩnh mạch và qua sonde dạ dày.
Phương pháp lấy dị vật dài và bén nhọn trong y văn thường sử dụng mũ chụp (hood) hoặc ống nhựa bọc ngoài đèn soi (overtube) để bảo vệ tâm vị và thực quản khỏi tổn thương trong quá trình kéo dị vật ra ngoài.
(YHTPHCM, Tập 13 - Phụ Bản Của Số 1 - 2009, tr.3)
Khi sử dụng vòng hút để tạo vạt giác mạc dưới áp lực cao, các tế bào đài kết mạc có thể bị tổn thương, dẫn đến giảm tiết mucin và ảnh hưởng đến tính ổn định của phim nước mắt.
Các danh từ chung không đếm được bao gồm những tên gọi của các chất hóa sinh như lympho, glucose, alcohol, corticoid, collagen, nylon, và nhiều chất khác.
- Thống kê cho thấy, nguy cơ bị u lympho của người bị viêm khớp dạng thấp chỉ bằng phân nửa người bình thường
- Đề kháng insulin làm giảm sự thu nạp glucose ở mô ngoại vi, đây là hiện tượng quan trọng khởi đầu trong bệnh ĐTĐ típ 2
(YHTPHCM, Tập 13 - Số 6 - 2009 - Chuyên đề BVND Gia Định, trang 1)
Bệnh nhân cần uống thuốc giảm đau trong 3 ngày đầu, gỡ kính tiếp xúc vào ngày thứ 3, và nhỏ kháng sinh trong tuần đầu Ngoài ra, cần sử dụng kháng viêm corticoid trong 1 tháng đầu và nước mắt nhân tạo trong 3 tháng đầu hoặc lâu hơn nếu cần thiết.
(YHTPHCM, Tập 13 - Số 1 - 2009 - Chuyên Đề Mắt - TMH, trang 3)
Nghiên cứu của Blak cho thấy mức độ đau sau phẫu thuật laser bề mặt bóc biểu mô sử dụng alcohol và phương pháp cơ học cao hơn vào ngày thứ nhất và thứ 3, với các chỉ số lần lượt là 4,7 và 3,3 so với 1,8 và 1,4 Torres và cộng sự cũng ghi nhận rằng mức độ đau sau Epi-LASIK và PRK đạt đỉnh vào ngày thứ 3, mặc dù đã giảm vào ngày thứ 6 sau phẫu thuật.
(YHTPHCM, Tập 13 - Số 1 - 2009 - Chuyên Đề Mắt - TMH, trang 6)
Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các trường hợp như mắt độc nhất, viễn thị, hở mi, quặm mi, và những bệnh lý khác ở nhãn cầu đang tiến triển như viêm màng bồ đào Ngoài ra, các bệnh lý collagen toàn thân, bệnh tự miễn, suy giảm miễn dịch và tiểu đường cũng nằm trong danh sách loại trừ.
(YHTPHCM, Tập 13 - Số 1 - 2009 - Chuyên Đề Mắt - TMH, trang 2)
So sánh đặc điểm cấu tạo và tỉ lệ sử dụng từ loại các từ gốc tiếng
Khi so sánh cấu trúc và tỉ lệ sử dụng từ loại của từ gốc tiếng Anh trên các tạp chí chuyên ngành và báo thường thức, chúng tôi đã ghi nhận một số đặc điểm nổi bật.
Về đặc điểm cấu tạo
Trong các tạp chí tiếng Việt y học chuyên ngành và báo tiếng Việt y học thường thức, cấu tạo từ ngữ bao gồm từ đơn, từ ghép và từ phái sinh Số lượng từ đơn xuất hiện trên báo thường thức cao hơn, chiếm 79% so với 59% trên các tạp chí chuyên ngành Ngược lại, từ ghép lại xuất hiện nhiều hơn trên các tạp chí chuyên ngành với 37% so với 21% trên báo phổ thông.
Về tỉ lệ sử dụng từ loại
Các từ tiếng Anh trong báo và tạp chí tiếng Việt y học chủ yếu là danh từ, tiếp theo là tính từ và động từ Danh từ chiếm ưu thế trong cả hai loại báo, với tỉ lệ sử dụng 94,6% trên tạp chí chuyên ngành và 98,9% trên báo thường thức Tình hình này phản ánh xu hướng vay mượn từ vựng trong ngôn ngữ.
Theo khảo sát của chúng tôi, trong số 546 từ tiếng Anh xuất hiện trong tiếng Việt, danh từ chiếm 98%, trong khi động từ và tính từ chỉ chiếm 0,8% và 1,2% tương ứng Điều này cho thấy nhu cầu vay mượn từ tiếng Anh chủ yếu phục vụ cho việc định danh trong cả đời sống xã hội và chuyên môn, đặc biệt là trong y học Mặc dù động từ có mật độ sử dụng cao trong giao tiếp, các văn bản học thuật lại thiên về việc sử dụng danh từ Tính từ thường đi kèm với danh từ để bổ nghĩa, do đó, trong các văn bản thông tin có mật độ danh từ cao, tỉ lệ sử dụng tính từ cũng tăng Ngược lại, trạng từ thường gắn liền với động từ, và việc thiếu động từ trong các văn bản báo chí cũng dẫn đến sự vắng mặt của trạng từ.
Tiểu kết
Qua chương trình bày, chúng tôi đã phân tích các từ tiếng Anh xuất hiện trên báo và tạp chí tiếng Việt y học từ năm 2009 đến nay, tập trung vào cấu tạo và từ loại Từ khảo sát, chúng tôi rút ra một số nhận xét ban đầu về đặc điểm cấu tạo của các từ này.
Các từ tiếng Anh trên các báo tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức từ năm
Từ năm 2009 đến nay, cấu trúc từ vựng bao gồm từ đơn, từ phái sinh và từ ghép, trong đó từ đơn chiếm ưu thế rõ rệt Các từ đơn chủ yếu là từ không biến tố, trong khi từ phái sinh thường được hình thành từ các phụ tố như giới từ, tính từ hoặc thuật ngữ chuyên ngành Khi so sánh giữa tạp chí chuyên ngành và báo thường thức, cả hai loại đều có sự xuất hiện của từ đơn, từ phái sinh và từ ghép Tuy nhiên, số lượng từ đơn trên báo thường thức nhiều hơn so với tạp chí, trong khi từ ghép lại phổ biến hơn trong các tạp chí chuyên ngành.
Trong các ngữ liệu khảo sát, từ gốc tiếng Anh chủ yếu là danh từ, chiếm hơn 98%, với phần lớn là danh từ định danh như tên thuốc, chất, bệnh lý, và tên tổ chức, cá nhân Điều này cho thấy nhu cầu định danh các khái niệm và sự vật mới trong y học rất lớn Mặc dù động từ và tính từ cũng xuất hiện, nhưng tỷ lệ của chúng khá khiêm tốn so với danh từ Một số từ được ghi nhận có vai trò là giới từ và tính từ, nhưng chúng thường được sử dụng như phụ tố chứ không độc lập.
CHƯƠNG BA ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC XUẤT HIỆN CỦA TỪ GỐC TIẾNG ANH TRÊN CÁC BÁO, TẠP CHÍ TIẾNG VIỆT
Y HỌC CHUYÊN NGÀNH VÀ THƯỜNG THỨC
Dẫn nhập
Các từ gốc tiếng Anh xuất hiện trong ngữ liệu khảo sát có những xu hướng chính như sau: nguyên dạng, phỏng âm, viết tắt và chuyển dịch sang tiếng Việt.
Việc vay mượn từ tiếng Anh trong các báo tiếng Việt thông qua việc chuyển dịch sang ngôn ngữ bản ngữ mang lại những lợi ích riêng Tuy nhiên, việc nhận diện các từ này không hề đơn giản Đặc biệt, trong lĩnh vực y học - vốn có tính khoa học và quốc tế cao, xu hướng này xuất hiện với tỉ lệ thấp hơn so với các lĩnh vực khác.
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ không khảo sát xu hướng chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, mà chỉ tập trung vào các xu hướng khác.
Nguyên dạng
Trong bối cảnh phát triển liên ngành và quốc tế của y học, việc sử dụng các từ ngữ và thuật ngữ chung là rất quan trọng, vì chúng phản ánh những khái niệm tương đồng Xu hướng sử dụng nguyên dạng các thuật ngữ này không chỉ tích cực mà còn phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ trong thời đại hội nhập Việc dịch âm các từ này có thể dẫn đến sai lệch về nghĩa, gây ra những hậu quả khó lường Như Peter Newmark đã nhận xét, "Dịch kỹ thuật được phân biệt với các dạng dịch thuật khác chủ yếu bởi hệ thuật ngữ." Hệ thuật ngữ khoa học - kỹ thuật, bao gồm y học, có những đặc trưng riêng mà người đọc và người dịch cần chú ý.
Trong khảo sát các từ tiếng Anh trên báo tiếng Việt y học, chúng tôi phát hiện 87,1% từ được giữ nguyên dạng Đặc biệt, nhóm từ liên quan đến y sinh – hóa học chiếm tỷ lệ cao nhất, bao gồm các từ quen thuộc như protein, cholesterol, vitamin, calcium, glucose, acid, cùng với những thuật ngữ chuyên môn như polysaccharid, pectin, hemicellulose, gluco mannan, acemannan, mannose, heliotrin, alcaloid pyrolizidin, indixin, và indixin N-Oxyd.
Một con chip có khả năng đo lường một loại protein trong nước bọt, cho phép phát hiện dấu hiệu nhồi máu cơ tim từ sớm, trước khi xe cấp cứu đưa bệnh nhân đến phòng cấp cứu.
- Hàm lượng cholesterol của sữa trâu thấp hơn: 0,65mg/g chỉ bằng 1/5 so với sữa bò (3,14mg/g)
- Không biết có nguyên do nào khác khiến bác sĩ cho ông dùng Amlodipin (Amlor) là thuốc chẹn kênh calcium
- Nhiều Vitamin A hơn: Trâu có khả năng chuyển hóa hết mọi chất caroten thành vitamin A, và chuyển toàn thể vào sữa
Ngưu tất và Cỏ xước chứa các hoạt chất saponin triterpen, chủ yếu là Oleanolic acid, cùng với các đường như glucose, galactose và rhamnose Chúng có tác dụng kháng viêm, giảm đau trong cả giai đoạn cấp tính và mãn tính, đồng thời hỗ trợ bổ gan, thận, hạ cholesterol và huyết áp.
Hạt điều chứa nhiều acid béo không bão hòa, là món ăn lý tưởng trong ẩm thực trị liệu cho những người mắc chứng mỡ máu cao và xơ vữa động mạch, giúp phòng ngừa nghẽn mạch tim và đột quỵ.
- Chất gel này chứa 1 loại polysaccharid gồm: pectin, hemicellulose, gluco mannan, acemannan và các chuyển hóa chất mannose
Cây chứa heliotrin, một alcaloid pyrolizidin có khả năng gây ung thư, nhưng đồng thời cũng chứa indixin và indixin N-Oxyd, trong đó indixin N-Oxyd có tác dụng ức chế khối u.
Theo Hoàng Xuân Hãn, đã có hơn 400.000 chất hóa học được biết đến vào thời điểm nghiên cứu, và con số này tiếp tục tăng theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật Việc tìm kiếm tên riêng thuần Việt cho tất cả các chất này với độ chính xác khoa học là điều không thể, do đó, việc sử dụng nguyên dạng tiếng Anh cho nhóm từ này là hợp lý và dễ hiểu.
The second most frequently rewritten terms in their original English form are names of medications and pharmaceutical substances, such as paracetamol, aspirin, and streptothricin Other examples include Acephen, Babifever, DecolgenAce, Efferalgan, Larylin, Mexcol, Panadol, Servigesic, Temol, Vadol, Zumol, streptomycin, gentamycin, tetracycline, chloramphenicol, doxycycline, and trimethoprim-sulfamethoxazole.
- Cafein còn làm giảm thời gian phản ứng kết hợp với paracetamol hay aspirin, sẽ tăng cường tác dụng giảm đau
- Tiến sĩ Selman A.Waksman, trong bài diễn văn khi nhận giải Nobel đã nói:
“Streptothricin có nhiều tiềm năng và triển vọng cho điều trị vì nó có thể bổ sung mặt thiếu sót của Penicillin đối với vi khuẩn gram âm
- Có các loại biệt dược chỉ chứa paracetamol như Acephen, Babifever, Bé nóng, Camol, Dafalgan, DecolgenAce, Efferalgan, Larylin, Mexcol, Panadol, Servigesic, Temol, Vadol, Zumol,
Trong 6 trường hợp nhiễm trùng vết mổ không có ghi nhận vi khuẩn gây bệnh, bệnh nhân đã được điều trị nội khoa bằng kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3 kết hợp với Metronidazol và Gentamycin.
Bệnh nhân được gây mê nội khí quản và nằm ngữa với gối dưới vai để tăng tầm nhìn vùng đáy sọ Khu vực phẫu thuật được cạo tóc rộng, từ trên tai xuống cổ, và sát trùng kỹ lưỡng Lidocaine 2% pha adrenalin 1:100000 được tiêm vào da và mô dưới da ở vùng trên, sau tai, cổ cao, tuyến mang tai và vùng dây thần kinh VII Cuối cùng, phẫu trường được sát trùng một lần nữa, trải ra và phủ opsite.
- Hậu phẫu không nhỏ Pilocarpine, nh ỏ collyre Predfort trong 3 tuần
Các loại kháng sinh hiệu quả trong điều trị bao gồm streptomycin, gentamycin, tetracyclin, chloramphénicol, doxycyclin và trimethoprim-sulfamethoxazol Ngược lại, penicillin, cephalosporin và macrolid không được khuyến cáo sử dụng Bệnh nhân cần được theo dõi và cách ly tại bệnh viện để đảm bảo an toàn.
Sử dụng các chất ức chế để tiêu diệt gen quy định sự hình thành tân mạch sẽ khiến tế bào ung thư bị "bỏ đói" Các loại thuốc như Bevacizumab, Angiostatin và Endostatin được phát triển dựa trên nguyên lý này.
- Nhận biết gen khiếm khuyết để dùng thuốc: Mercaptopurin dùng chữa bệnh bạch cầu cấp Bình thường, người có gen sản xuất ra enzym TPMT giúp phân hủy thuốc
- Năm thuốc (ngũ quả thứ ba) bán chạy nhất là: Lipitor, Nexium, Plavix, Seretide và Eubrel
- Viên nang gọi là Invocell cho phép thụ tinh nhân tạo xảy ra trong cơ thể người phụ nữ thay vì ở trong phòng thí nghiệm
- Dùng Herceptin khóa các thụ thể HERS2 lại, hay dùng các nhóm thuốc tinib (như Imatinib, Suntinib) ức chế tyrosine kinase
Nhóm từ thứ ba liên quan đến danh (địa danh, nhân danh, ) thường được viết lại nguyên dạng Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hầu hết tên riêng tiếng Anh trên các báo, đặc biệt là báo y học, đều được giữ nguyên ngữ Cụ thể, tên các quốc gia trong các bài viết thường được trình bày dưới hình thức nguyên dạng.
- Các nhà khoa học Hoa Kỳ và Uganda đã phát hiện một thể virus Ebola mới, đặt tên Bundibugyo ebolavirus, là nguyên nhân gây bùng phát dịch ở Uganda năm
- Ở Indonesia, giã lá đắp chữa rắn độc cắn, nước ép chữa ho
- Ở Malaysia, dùng lá trị mụn nhọt, rễ trị tiêu chảy, trị bỏng
- Hiện nay số ca bại liệt đã giảm đến 99%, nhưng vẫn còn 4 ổ dịch ở Nigeria, Bắc Ấn Độ, Afghanistan và Pakistan
- Ông Nimal S.De Silva, Bộ trưởng bộ sức khỏe và dinh dưỡng Sri Lanka được bầu làm Chủ tịch Đại hội đồng Sức khỏe thế giới lần thứ 62
Đối với các địa danh và vùng miền của một quốc gia, cần viết lại nguyên dạng và kèm theo chú thích về quốc gia đó bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh.
Illinois (Mỹ), California, Hoa Kỳ, California, Hoa Kỳ, Chicago (Hoa k ỳ , Montreal (Canada), Boston, Massachusset, Hoa K ỳ , Toronto (Canada), Northampton Shire (Anh), Geneva (Thụy Sĩ), Ví dụ:
- Các nhà nghiên cứu Illinois (Mỹ) sàng lọc từ 200 hợp chất PAC1 có vai trò kích hoạt chất pro-caspace-3, giúp tế bào tự sát
Vào tháng 9 năm 1998, ba ca cấy điện ốc tai đơn kênh đầu tiên đã được thực hiện tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM, với sự hỗ trợ và hướng dẫn của giáo sư Whitaker từ Viện House, California, Hoa Kỳ.
Nguyên dạng khuyết
Chúng tôi đã ghi nhận một xu hướng mới trong việc viết lại các từ tiếng Anh nguyên dạng, đặc biệt là các từ chỉ tên các chất Nhiều từ được viết lại nguyên dạng nhưng bị lược bỏ phần đuôi, mà chúng tôi gọi là “nguyên dạng khuyết” Những từ này chiếm 11,9% tổng số từ khảo sát, chủ yếu là do lược bỏ đuôi “e” Để dễ dàng theo dõi, chúng tôi đã tổng hợp các từ nguyên dạng khuyết này trong bảng dưới đây.
Từ bị lược bỏ phần đuôi “e” Từ nguyên dạng Từ bị lược bỏ phần đuôi “e” Từ nguyên dạng
Sulphur dioxid Sulphur dioxide Morphin Morphine
Từ bị lược bỏ phần đuôi “e” Từ nguyên dạng Từ bị lược bỏ phần đuôi “e” Từ nguyên dạng
Carbon dioxid Carbon dioxide Aldosteron Aldosterone
Glycosid apigenin Glycosid apigenine Sulfat Sulfate
Ngoài kiểu viết “nguyên dạng khuyết”, còn tồn tại một số kiểu “khuyết” khác, trong đó phần đuôi từ có thể bị lược bỏ thành “um” hoặc “ium”, như trong trường hợp tên các chất.
Calci (Calcium), Natri (Natrium), Kali (Kalium),… hay Magne (Magnesium), Selen (Selenium),
Dưới đây là một số ví dụ về các trường hợp "nguyên dạng khuyết" mà chúng tôi đã ghi nhận trên các báo và tạp chí tiếng Việt trong lĩnh vực y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay.
- Khi mẹ thiếu i ốt, dẫn đến thiếu hormon tuyến giáp, sự phá triển của bào thai bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là bộ não của thai nhi
Phương pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa nhiễm virus là thông qua việc tiêm chủng Vaccin được chế tạo từ protein của virus hoặc từ virus đã được biến đổi để không gây bệnh Khi được tiêm cho người khỏe mạnh, vaccin giúp tăng cường hệ miễn dịch và tạo ra kháng thể chống lại virus.
Thuốc giảm đau tác dụng trung ương như morphin, petidin, pentazocin và buprenorphin cần được kê đơn và sử dụng theo chỉ định của bác sĩ.
- Bình thường, peroxid hydrogen bị các enzym biến đổi thành nước và oxy
- Các thuốc gây độc cho gan như nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, nhóm thuốc có codein
Bile contains several important substances, including cholic acid, deoxycholic acid, cholesterol, bilirubin, taurocholic acid, glycine, alanine, methionine, asparagine, arginine, sodium, magnesium, calcium, phosphate, carotene, amino acids, and vitamin D.
- Nhiều Vitamin A hơn: Trâu có khả năng chuyển hóa hết mọi chất caroten thành vitamin A, và chuyển toàn thể vào sữa
- Protein chiếm khoảng 20-26%, trong đó có các acid amin thiết yếu như isoleucin, leucin, lysin, methionin
- Melamin trong sữa, Bisphenol A trong bình plastic đựng sữa: vấn đề an toàn thực phẩm cho trẻ ở năm đầu đời là thời sự
- Urê, creatinin, hemoglobin, protid, không thực hiện được lúc nhập viện
Các từ tiếng Anh trong nhóm từ khảo sát được viết lại gần như nguyên dạng nhưng lược bỏ một phần đuôi từ, cho thấy một xu hướng nổi bật Điều này đặt ra câu hỏi liệu đây có phải là thói quen của người viết nhằm rút gọn từ ngữ mà vẫn giữ lại bản chất của chúng, hay có ý nghĩa khác Trong luận văn này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát và mô tả xu hướng này, mà chưa đi sâu vào lý do sâu xa của sự xuất hiện của các từ tiếng Anh này, và vấn đề này sẽ được thảo luận trong các công trình nghiên cứu khác.
Phỏng âm
Trong bài viết này, chúng tôi định nghĩa "phỏng âm" là việc biến đổi từ gốc tiếng Anh mà không giữ nguyên hình thức viết, nhưng vẫn duy trì mối liên hệ về âm thanh với từ gốc.
So với việc sử dụng nguyên dạng từ tiếng Anh trong các ngữ liệu khảo sát, hình thức phỏng âm chỉ chiếm 6,4%, cho thấy tỉ lệ này không đáng kể Mặc dù số lượng từ phỏng âm không nhiều, nhưng chúng lại xuất hiện với nhiều biến thể trong cách viết, bao gồm việc viết có gạch nối, có dấu mũ, và dấu thanh.
Việc nhận diện các từ có nguồn gốc tiếng Anh trong tiếng Việt không hề đơn giản do sự phức tạp của dấu mũ và dấu thanh Tuy nhiên, dấu gạch nối giữa các từ lại là yếu tố quan trọng giúp dễ dàng nhận diện các từ được phỏng âm Đa số các từ phỏng âm này không thuộc nhóm từ chuyên môn sâu mà thường là những từ quen thuộc với người Việt Nam.
V ắ c-xin, áp-xe, xì- că ng- đan, mát-xa, mi-xen , Ví dụ:
Vắc-xin có thể được sản xuất từ các chủng vi sinh vật như virus hoặc vi khuẩn đã giảm độc tố, hoặc từ vi sinh vật chết, còn gọi là vắc-xin bất hoạt.
Liệu pháp miễn dịch đặc hiệu có khả năng phòng ngừa nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp, nhưng hiện tại chỉ áp dụng cho một số loại vắc-xin như Influenza, Pneumococcus và Haemophilus Phương pháp này thường được sử dụng cho những bệnh nhân chọn lọc, bao gồm những người suy giảm miễn dịch và người lớn tuổi.
Các dấu hiệu quan trọng trên hình ảnh MRI và trong quá trình phẫu thuật bao gồm những đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu, như tuổi tác, giới tính và tiền sử phẫu thuật liên quan đến rò hoặc áp-xe quanh HM.
Trẻ em có nguy cơ cao bị tử vong do tình trạng thiếu dưỡng khí nghiêm trọng, có thể xảy ra do cơn thiếu oxy cấp, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, huyết khối mạch máu não hoặc áp-xe não.
Vào tháng 05.2011, Đài Loan đã phải đối mặt với một vụ xì-căng-đan lớn liên quan đến thực phẩm nhuộm DEHP, như một cơn sóng thần ập đến Trên thực tế, đây không phải là lần đầu tiên, mà là một cuộc thử nghiệm lâm sàng âm thầm và đau đớn về DEHP đã diễn ra trên lãnh thổ này từ lâu.
Từ giữa thập niên 1980, TS Tiffany Field đã chứng minh rằng liệu pháp mát-xa có tác dụng tích cực trong việc cải thiện sức khỏe chung của trẻ sinh non ngay từ giai đoạn sơ sinh, cụ thể là trong 40 ngày đầu sau khi sinh.
Sữa trâu có hạt mi-xen casein lớn hơn, cùng với hàm lượng protein dạng keo, canxi và phosphor cao hơn, khiến cho sữa trâu trông trắng đục hơn so với sữa bò.
Các loại rượu phổ biến thường có nồng độ cồn nhất định, chẳng hạn như: Sa-kê (Nhật) với 27 độ, V ố t-ka (Nga) đạt 40 độ, Cô-nhắc 42 độ, whisky 45 độ, và Mao đài (Trung Quốc) lên tới 52 độ.
(T&SK, số 371 - 372 trang 42) b Vi ế t r ờ i, không có g ạ ch n ố i, có d ấ u m ũ, dấ u thanh
Các từ phỏng âm được viết lại với dấu mũ, dấu thanh và không có gạch nối như vắc xin, I ốt, Nơ vi, ê kíp cũng đã trở nên quen thuộc.
Dự phòng cấp 1 bao gồm việc tổ chức các chương trình truyền thông giáo dục nhằm nâng cao kiến thức về ung thư cổ tử cung, đồng thời hướng dẫn cách phòng bệnh thông qua lối sống lành mạnh và tiêm vắc xin HPV.
- I ố t là một vi chất dinh dưỡng, chỉ cần lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể
- Một ê kíp các nhà khoa học Hungary đã khám phá ra một “siêu nơron” trong bộ não của con người
- Các loại thực vật như: dầu quả Óc chó, dầu Đậu nành, dầu Ô liu, Hướng dương, chứa một lượng ít hơn loại acid béo này
Bệnh Gút là một loại viêm khớp do rối loạn chuyển hóa axit uric Cây Tơm Trơng Atao nenso, phổ biến ở Tây Nguyên, có khả năng ức chế các enzym liên quan đến tổng hợp cholesterol, từ đó giúp giảm mức cholesterol trong máu.
- Tại Geneva (Thụy Sĩ), Đại hội đồng Sức khỏe thế giới họp phiên họp lần thứ
Từ ngày 18 đến 22 tháng 5 năm 2009, hội nghị đã thảo luận về các vấn đề sức khỏe cộng đồng, bao gồm sự chuẩn bị ứng phó với dịch cúm, chia sẻ thông tin về virus cúm, tiếp cận vắc xin và các lợi ích liên quan Ông Nimal S De Silva, Bộ trưởng Bộ Sức khỏe và Dinh dưỡng Sri Lanka, đã được bầu làm Chủ tịch Đại hội đồng Sức khỏe Thế giới lần thứ 62.
Tiểu kết
Trong lĩnh vực y học, các từ gốc tiếng Anh xuất hiện trong tiếng Việt chủ yếu dưới ba hình thức: nguyên dạng, phỏng âm và viết tắt Hình thức nguyên dạng đảm bảo tính “trung thực” nhưng gây khó khăn cho người đọc không chuyên Phỏng âm dễ đọc và nhớ hơn, nhưng thiếu sự thống nhất trong cách phiên âm Viết tắt đơn giản và ngắn gọn, nhưng có thể gây khó khăn cho người đọc nếu không có chú thích Xu hướng chủ đạo vẫn là sử dụng nguyên dạng và viết tắt chữ cái đầu.
CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA CỦA TỪ GỐC TIẾNG ANH TRÊN CÁC BÁO, TẠP CHÍ TIẾNG VIỆT Y HỌC
CHUYÊN NGÀNH VÀ THƯỜNG THỨC
Trong chương này, chúng tôi khảo sát nghĩa của các từ tiếng Anh trên báo tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức, theo hướng phân loại dựa vào trường từ vựng – ngữ nghĩa Mục đích là tìm ra đặc điểm ngữ nghĩa chung của từ thuộc các trường này Các từ này có thể là đơn vị từ vựng với nghĩa được tạo nên từ nghĩa của các thành tố hợp thành, hoặc có thể là nghĩa tổng hợp, không phải từ nghĩa của từng thành tố.
Trong luận văn này, chúng tôi thực hiện việc phân loại và mô tả các đặc điểm ngữ nghĩa của các trường từ vựng phổ biến trong lĩnh vực y học.
Các trường từ vựng – ngữ nghĩa
4.1.1 Trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ sinh lý bệnh
Sinh lý bệnh nghiên cứu quy luật hoạt động của cơ thể trong các trường hợp bệnh lý cụ thể, từ đó rút ra quy luật của các quá trình bệnh lý điển hình và tìm hiểu quy luật hoạt động của bệnh nói chung Đây là trường từ vựng lớn thứ hai trong tổng số từ khảo sát, và do bao gồm nhiều phân ngành nhỏ, chúng tôi chia thành các tiểu trường khác nhau.
4.1.1.1 Ti ể u t rườ ng ch ỉ h ộ i ch ứ ng/b ệ nh lý
Hội chứng là tập hợp các triệu chứng đặc trưng cho một bệnh, ví dụ như hội chứng nhiễm trùng với các triệu chứng như sốt cao và mạch nhanh Bệnh lý là nhóm các bệnh liên quan đến một cơ quan, chẳng hạn như bệnh lý gan bao gồm viêm gan và u gan Đáng chú ý, nhiều hội chứng và bệnh lý được đặt tên theo tên của các nhà khám phá Khi tra cứu trong từ điển y học, những tên riêng này được giải thích như các đơn vị từ vựng thông thường, không còn mang ý nghĩa tên riêng Ví dụ, Hirschsprung không chỉ là tên bác sĩ mà còn là tình trạng bẩm sinh liên quan đến sự phát triển của trực tràng và đại tràng Tương tự, Klinefelter cũng là tên bác sĩ nhưng khi tra cứu, nó chỉ tình trạng di truyền liên quan đến giới tính.
Klinefelter là một rối loạn di truyền đặc trưng bởi sự hiện diện của ba nhiễm sắc thể giới tính XXY, thay vì chỉ có XX hoặc XY như bình thường Hội chứng này mang ý nghĩa từ vựng riêng và được đặt theo tên của người phát hiện ra bệnh Dưới đây là một số ví dụ tiêu biểu về các trường hợp liên quan đến hội chứng này.
Bệnh Hirschsprung là nguyên nhân phổ biến gây tắc ruột ở trẻ em, và nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng.
Bệnh Hirschsprung, lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1691, được đặt theo tên của bác sĩ người Đan Mạch Harald Hirschsprung, người đã mô tả hai trường hợp trẻ em tử vong do rối loạn này vào năm 1888.
Trong số 22 bệnh nhân có bệnh lý nền, có 7 trường hợp mắc bệnh ác tính, 2 trường hợp tim bẩm sinh (thông liên nhĩ và tứ chứng Fallot), 2 trường hợp hen, 2 trẻ sơ sinh non tháng, 2 bệnh nhi điều trị corticoid kéo dài (do hội chứng thận hư và xuất huyết giảm tiểu cầu), cùng 7 trường hợp mắc các bệnh lý khác như áp xe gan, β Thalassemia, bại não, động kinh, thiếu máu tán huyết, viêm gan siêu vi B và viêm ruột Đáng chú ý, 85% bệnh nhân bị lây nhiễm từ các thành viên trong gia đình.
Năm 1672, nhà giải phẫu học Đan Mạch Niels Stensen đã mô tả các tổn thương giải phẫu liên quan đến bệnh lý bẩm sinh này Tuy nhiên, phải đến năm 1888, những nghiên cứu sâu hơn mới được thực hiện.
Fallot là người đầu tiên phát hiện mối liên hệ giữa tổn thương giải phẫu bệnh và biểu hiện lâm sàng của bệnh, mà ông đã gọi là bệnh xanh tím (la maladie bleue).
- Hội chứng Klinefelter: đây là một rối loạn về di truyền ảnh hưởng trên trẻ em nam
Hội chứng Klinefelter, được đặt theo tên Bác sĩ Harry Klinefelter, là một tình trạng y học lần đầu tiên được ông mô tả lâm sàng vào năm 1942 tại Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Boston, Massachusetts.
Nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng một số yếu tố nguy cơ đã được nhận diện, bao gồm bệnh Crohn, bệnh phì đại lan tỏa u lympho ở ruột non, tình trạng giảm gammaglobulin máu, và hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải.
Bệnh Crohn, được mô tả lần đầu bởi bác sĩ phẫu thuật người Ba Lan vào năm 1904, đã trở nên phổ biến hơn với tên gọi này do sự ưu tiên theo thứ tự chữ cái alphabet.
Nghiên cứu kéo dài 22 năm trên 100 người dân ở vùng xích đạo mắc hội chứng Laron, một dạng lùn do đột biến di truyền trên nhiễm sắc thể số 5, cho thấy không có trường hợp nào mắc đái tháo đường hay ung thư, trong khi hai bệnh này thường chiếm gần 25% số ca tử vong trong cộng đồng.
Laron : người đầu tiên báo cáo về hội chứng này vào năm 1966
- Một phụ nữ vô sinh do mắc hội chứng Turner, một đột biến di truyền không có hay chỉ có một phần nhiễm sắc thể X và noãn
Turner: Bệnh được đặt theo tên của Bác sĩ Henry Turner
Chứng không yên chân (restless legs syndrome - RLS), hay còn gọi là hội chứng Wittmaack - Ekbom, là một tình trạng mà người bệnh cảm thấy cần phải cử động một phần cơ thể, và cảm giác này trở nên không thể cưỡng lại Nếu không cử động, họ sẽ trải qua cảm giác khó chịu rất mạnh mẽ.
Hội chứng liệt rung Parkinson là một rối loạn thường gặp ở người trung niên và người cao tuổi, với các triệu chứng đặc trưng như cơ run, cứng và giảm cử động tự phát Ban đầu, triệu chứng run thường xuất hiện ở một tay, sau đó lan sang chân cùng bên và cuối cùng ảnh hưởng đến các chi khác Nghiên cứu não bộ của bệnh nhân Parkinson đã qua đời do các nhà khoa học Pháp (Inserm và Viện Đại Học Pierre và Marie Curie) cho thấy rằng trong bệnh Parkinson, các tế bào thần kinh bị hủy hoại và bị bao vây bởi các lympho bào T của hệ miễn dịch Theo Etienne Hirsch, trưởng phòng nghiên cứu bệnh Parkinson, các tế bào thần kinh này chết theo cách lập trình.
OSI, Genentech và Cơ quan Quản lý Thực Dược phẩm Mỹ (FDA) đã đưa ra cảnh báo về thuốc Tarceva (erlotinib) do những tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm thủng dạ dày ruột, da bị tróc vảy và nổi mụn nước Ngoài ra, thuốc này còn có thể gây ra hội chứng Stevens-Johnson (hoại tử thượng bì nhiễm độc) và rối loạn thị giác, bao gồm loét và rách giác mạc.
Các hiện tượng về nghĩa
Theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các từ tiếng Anh trong các báo tiếng Việt về y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay vẫn giữ nguyên nghĩa so với từ tiếng Anh thông thường.
- Người ta đã phát minh ra dụng cụ soi tế bào (cellscope) có độ phóng đại gấp
5 đến 60 lần, gắn vào điện thoại di động có chức năng chụp hình; nó sẽ ghi lại hình ảnh của da và tế bào chuyển đến các chuyên gia
Clopidogrel (75mg/ngày) là lựa chọn thay thế cho aspirin khi bệnh nhân gặp vấn đề về hệ tiêu hóa Hiện nay, việc kết hợp cả hai loại thuốc này được khuyến nghị trong vòng một năm sau hội chứng mạch vành cấp Sự kết hợp này là bắt buộc sau khi thực hiện tạo hình động mạch vành qua lòng mạch, xuyên da, và đặt stent có hoạt chất.
- Gamma knife (hay dao gamma) cổ điển có tên là Leksell gamma knife, được sáng chế năm 1968
- Ngày nay có nhiều cải tiến, ít xâm lấn hơn như lấy sỏi, tán sỏi qua da với sóng điện từ, tia laser, nong đường mật hẹp, đặt nòng
Bệnh nhân viêm vùng này thường gặp khó khăn trong việc ăn uống, dẫn đến tình trạng mất nước và suy kiệt Do đó, việc bổ sung nhanh chóng năng lượng cần thiết cho bệnh nhân là rất quan trọng Chúng tôi thực hiện việc bù đắp năng lượng thiếu hụt qua đường tĩnh mạch và qua sonde dạ dày.
Phương pháp lấy dị vật dài và bén nhọn thường được mô tả trong y văn là sử dụng mũ chụp (hood) hoặc ống nhựa bọc ngoài đèn soi (overtube) để bảo vệ tâm vị và thực quản khỏi tổn thương trong quá trình kéo dị vật ra ngoài.
(YHTPHCM, Tập 13 - Phụ Bản Của Số 1 - 2009, trang 3)
Khi sử dụng vòng hút để tạo vạt giác mạc dưới áp lực cao, các tế bào đài kết mạc có thể bị tổn thương, dẫn đến giảm tiết mucin và ảnh hưởng đến tính ổn định của phim nước mắt.
Phương tiện nghiên cứu bao gồm bộ nội soi treo thanh quản, camera, nguồn sáng và màn hình Các dụng cụ cần thiết khác là ống nội khí quản số 5 có bóng, ống Nelaton, Kelly, kìm gắp dài của thanh khí quản, chỉ nylon 1.0, kìm kẹp kim, ống hút thanh khí quản, que bông thanh khí quản và ống chích.
- Rất nhiều dạng thuốc đường miệng được sử dụng bằng cách đặt dưới lưỡi (sublingual) hoặc ở khoang giữa răng dưới và môi dưới
(SK&ĐS, số 686 - tháng 2/2012, trang 28)
Viêm mũi xoang dị ứng là tình trạng viêm mũi xoang mạn tính, với triệu chứng chính là chảy nước mũi, kèm theo ít nhất một trong ba triệu chứng: ngứa mũi, hắt hơi hoặc nghẹt mũi Để chẩn đoán, cần thực hiện xét nghiệm skin prick test cho kết quả dương tính, theo tiêu chuẩn viêm mũi dị ứng (IPAG).
Bệnh nhân được gây mê nội khí quản qua đường miệng Hệ thống Coblation được khởi động với mức độ 7 cho chế độ "cắt" (ablation) và 3 cho chế độ "đông" (coagulation), sau đó mở van xả nước (flow valve control).
- Phương pháp Stripping: là phương pháp phẫu thuật bóc tách một phần hay toàn bộ các tĩnh mạch bị suy giãn
Hiện tượng này, mặc dù không phổ biến, vẫn xuất hiện trong một số từ tiếng Anh trên các báo và tạp chí tiếng Việt về y học chuyên ngành và thường thức.
Từ năm 2009 đến nay, hiện tượng ngôn ngữ trong lĩnh vực y học đã trở thành một chủ đề đáng chú ý, đặc biệt do yêu cầu khắt khe về độ chính xác của từng từ ngữ Một số thuật ngữ như “bypass” (đường vòng) và “waterworks” (nhà máy nước) đã trở nên quen thuộc với người học tiếng Anh phổ thông, nhưng trong y học, ý nghĩa và cách sử dụng của chúng cần được xem xét kỹ lưỡng.
Từ “bypass” không chỉ có nghĩa là “bypass” mà còn được hiểu là “phẫu thuật bắc cầu” Trong khi đó, “waterworks” mang nghĩa là “hệ tiết niệu” Khi kết hợp với các từ khác, “bypass” tạo ra những nghĩa mới Chẳng hạn, “bypass” kết hợp với “cardio-pulmonary” tạo thành “cardio-pulmonary bypass”, có nghĩa là “tim phổi nhân tạo”, là một phương pháp cho phép sự tuần hoàn tới cơ thể tiếp tục trong khi tim ngừng đập để thực hiện phẫu thuật Chức năng của tim và phổi được thay thế bởi một máy bơm (máy tim phổi) cho đến khi tuần hoàn tự nhiên được khôi phục.
Một vài ví dụ điển hình:
Tuần hoàn ngoài cơ thể và liệt tim có thể gây ra nhiều tai biến và biến chứng nghiêm trọng ở tim, phổi, thận, não, cũng như rối loạn chức năng đông máu Phẫu thuật không sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể, hay còn gọi là phẫu thuật bắc cầu động mạch vành không dùng máy (Off Pump Coronary Artery Bypass - OPCAB), đã được nghiên cứu và thực hiện nhằm giảm thiểu những rủi ro và biến chứng này.
Phẫu thuật Colon Bypass chỉ được chỉ định cho bệnh nhân ung thư thực quản ở giai đoạn sớm, khi khối u nằm trong nội thành thực quản Phương pháp này mang lại hiệu quả sinh lý tốt và có ít biến chứng liên quan đến trào ngược.
Hiện tượng đa nghĩa trong y học có thể gây khó khăn cho những người không chuyên, như khi gặp từ “cabbage” mà thực chất là viết tắt cho “coronary artery bypass” (phẫu thuật tạo vòng nối động mạch vành) hoặc “coronary artery bypass graft” (CABG) Trong ngữ cảnh này, “cabbage” được coi là một từ lóng trong lĩnh vực y tế.
Hay với từ shock trong trường hợp sau:
Suy tim trong nhồi máu cơ tim là yếu tố tiên lượng nặng, với tỉ lệ tử vong tăng cao theo độ nặng phân loại Killip Đặc biệt, khi có choáng tim xảy ra, tỉ lệ tử vong đạt 80% ở Killip class IV nếu nguyên nhân gây ra shock không được giải quyết kịp thời.
Tiểu kết
Qua khảo sát các từ gốc tiếng Anh trong báo, tạp chí tiếng Việt y học từ năm 2009 đến nay, chúng tôi nhận thấy rằng tất cả các từ này đều xuất hiện dưới hình thức nguyên dạng, chủ yếu mang chức năng định danh và hầu hết là danh từ Điều này phản ánh nhu cầu định danh các khái niệm mới trong tiếng Việt, đặc biệt trong lĩnh vực y học Các từ thuộc tiểu trường chỉ hội chứng/bệnh lý thường được định danh theo tên người phát hiện hoặc mô tả đầu tiên Trong khi đó, từ thuộc trường thuốc/dược chất gắn liền với biệt dược hoặc chỉ định của chúng, giúp chuyên môn dễ phân loại và ghi nhớ Tương tự, các từ trong tiểu trường chỉ phương pháp/thiết bị/thử nghiệm cũng được định danh theo tên người phát minh hoặc đặc điểm của phương pháp/thiết bị/thử nghiệm.
Hình thức xuất hiện nguyên dạng của từ trong các trường từ vựng – ngữ nghĩa là hợp lý, đặc biệt đối với thuật ngữ y học Giá trị định danh chính xác của thuật ngữ là yêu cầu hàng đầu, vì một sự nhầm lẫn nhỏ trong việc phiên chuyển hệ thuật ngữ này có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng con người.
Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát các từ gốc tiếng Anh xuất hiện trên các báo và tạp chí tiếng Việt về y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay Chúng tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu để phân tích cấu trúc, hình thức và đặc điểm ngữ nghĩa của những từ này Qua đó, một số nhận xét ban đầu đã được rút ra, góp phần làm rõ sự ảnh hưởng của từ gốc tiếng Anh trong ngữ cảnh y học tại Việt Nam.
Từ năm 2009 đến nay, các từ tiếng Anh xuất hiện trên các báo tiếng Việt trong lĩnh vực y học chuyên ngành và thường thức chủ yếu được cấu tạo từ từ đơn, từ ghép và từ phái sinh Đặc biệt, phần lớn các từ này là danh từ, dùng để định danh sự vật và hiện tượng, trong khi một phần nhỏ là động từ, tính từ, cùng với một lượng không nhỏ giới từ và tính từ đóng vai trò phụ tố.
Các từ tiếng Anh trên các báo tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức từ năm
Từ năm 2009 đến nay, các từ tiếng Anh chủ yếu xuất hiện dưới ba hình thức: nguyên dạng, phỏng âm và viết tắt, trong đó hình thức nguyên dạng là phổ biến nhất Hình thức viết tắt thường sử dụng các chữ cái đầu (acronym) Mỗi hình thức đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng Việc viết lại từ tiếng Anh nguyên dạng có ưu điểm là đảm bảo tính chính xác và rõ ràng trong giao tiếp.
Tính "nguyên ngữ" trong y học đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo độ chính xác khi định danh sự vật và hiện tượng Tuy nhiên, nó có thể gây khó khăn cho người đọc phổ thông trong việc hiểu và nhớ nghĩa nếu không có chú thích bằng tiếng Việt Ngược lại, việc sử dụng chữ viết tắt (acronym) giúp tiết kiệm thời gian cho cả người viết và người đọc, nhưng nếu không có chú thích, người đọc có thể không hiểu rõ nghĩa của từ viết tắt đó.
C V ề các trườ ng t ừ v ự ng – ng ữ ngh ĩa
Lớp từ phổ biến nhất là lớp từ chỉ hóa sinh, tiếp theo là các từ thuộc tiểu trường chỉ hội chứng/bệnh lý, thuốc/dược chất, tác nhân gây bệnh và danh Những từ ngữ này có thể được định danh theo tên người khám phá hoặc mô tả trong tiểu trường hội chứng/bệnh lý, theo tên hóa chất hoặc biệt dược trong trường thuốc/dược chất, hoặc theo nghĩa từ vựng trong tiểu trường chỉ phương pháp, thiết bị và thử nghiệm.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng từ gốc tiếng Anh trong văn bản xuất hiện không quá dày đặc, thường chỉ chiếm một hoặc hai, ba từ Sự xuất hiện khiêm tốn này không làm mất đi tính chủ thể của tiếng Việt, điều mà nhiều người Việt Nam hiện nay quan tâm, đặc biệt là trước sự du nhập ồ ạt của tiếng Anh Chúng tôi đồng tình với quan điểm của Hoàng Tuệ rằng việc mượn từ xuất phát từ nhu cầu định danh chính xác, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và y học Giá trị định danh chính xác là yêu cầu hàng đầu, nhằm tránh tình trạng một khái niệm được định danh bằng nhiều từ khác nhau Chúng ta cần cân nhắc giữa việc giữ ngôn ngữ khoa học gần gũi với ngôn ngữ chung và việc tránh nhầm lẫn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển khoa học Việc thay thế từ mượn bằng bản ngữ cần thời gian để nội dung đi sâu vào đời sống Trong tiếng Việt, vẫn có những thuật ngữ cần phải sử dụng từ mượn, đặc biệt với những khái niệm mới Việc mượn từ cũng giúp tiết kiệm thông tin, như việc sử dụng từ "stent" thay vì mô tả dài dòng Trong thời đại hội nhập, tiếng Anh không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn giúp chúng ta tiếp cận với sự phát triển khoa học hiện đại Do đó, việc sử dụng yếu tố tiếng Anh trong các báo, tạp chí y học tiếng Việt là điều hợp lý và cần thiết.
Hiện nay, việc sử dụng từ tiếng Anh trong tiếng Việt đang gây ra nhiều ý kiến trái chiều Chúng tôi, những người nghiên cứu ngôn ngữ học, mong muốn đóng góp vào cuộc thảo luận này để mọi người có cái nhìn đa chiều hơn về thực trạng này Trong quá trình vay mượn ngôn ngữ, chúng ta cần tiếp nhận một cách có phương pháp và văn hóa để bảo vệ “sự trong sáng” của tiếng Việt Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ góp phần tạo nên cái nhìn đa dạng về việc sử dụng tiếng Anh trong tiếng Việt Nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này trong tương lai.
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tôn Nữ Nguyệt An (2007), Sự thâm nhập của tiếng Anh vào tiếng Việt trên một số phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM, TP.HCM
2 Hoàng Anh (2003), Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội
3 Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb.Giáo Dục, Hà Nội
4 Nguyễn Trọng Báu (2000), “Về vấn đề phiên chuyển từ ngữ nước ngoài ra tiếng Việt”, Tạp chí ngôn ngữ (9), tr.70-71
5 Nguyễn Trọng Báu (2007), Từ điển chính tả tiếng Việt thông dụng, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội
6 Phạm Thị Bền (viết chung với Phạm Thị Hằng) (2011), “Sử dụng tiếng
Anh lẫn vào tiếng Việt: Cảm nhận từ một cuộc khảo sát các bài báo”, Tạp chí Ngôn ngữ, (3), tr.43-47
7 Dương Hữu Biên (2004), Cơ sở ngôn ngữ học (tái bản lần thứ hai),
Nxb.ĐH Đà Lạt, Đà Lạt
8 Nguyễn Huy Cẩn (2002), “Ngôn ngữ dân tộc trước tiến trình toàn cầu hóa”, TTKHXH, Hà Nội, tr.45-64
9 Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Tiếng – Từ ghép, Đoản ngữ, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội
10 Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb.Giáo dục, Hà
11 Đỗ Hữu Châu (2000), “Tìm hiểu văn hoá qua ngôn ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ, (10), tr.1-18
12 Đỗ Hữu Châu (2001), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb ĐHQG,
13 Đỗ Hữu Châu (viết chung với Bùi Minh Toán) (2003), Đại cương Ngôn ngữ học – Tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội
14 Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập Đỗ Hữu Châu, tập 1 Nxb Giáo dục, Hà
15 Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập Đỗ Hữu Châu, tập 2 Nxb Giáo dục, Hà
16 Hoàng Thị Châu (2007), “Vai trò của “F, J, W, Z” đối với việc phân chuyển địa danh nước ngoài”, Tạp chí Ngôn Ngữ, 3 (214), tr 60-64
17 Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt
(Nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa), Nxb.Khoa học Xã hội Hà Nội, Hà
18 Nguyễn Phước Vĩnh Cố (2011), “Thuật ngữ Y học tiếng Anh – Một số vấn đề cơ bản”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, ĐH Đà Nẵng, 2(43), tr.209-217
19 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, Hà Nội
20 Nguyễn Đức Dân (1990), Nhập môn thống kê Ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
21 Nguyễn Quốc Dân (1999), Về âm và chính tả các từ Việt gốc Pháp trong giao lưu ngôn ngữ và văn hóa Việt Pháp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
22 Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội
23 Trần Trí Dõi (2003), Chính sách ngôn ngữ văn hoá dân tộc ở Việt Nam,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
24 Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng (2007), Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb ĐHSP, Hà Nội
25 Đỗ Hồng Dương (2005), Khảo sát các từ mượn tiếng Anh đang sử dụng trong tiếng Việt đời sống, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, ĐHQGHN
26 Hữu Đạt (1999), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
27 Đào Mục Đích (2003), “Về một số phương thức tạo từ ngữ trong tiếng
Việt hiện đại”, Tập san KHXH-NV – chuyên đề Ngôn ngữ học, ĐH.KHXH-NV, TP.HCM, tr.163-171
28 Nguyễn Văn Độ (2004), Tìm hiểu mối liên hệ ngôn ngữ - văn hóa, Nxb Đại học Hà Nội, Hà Nội
29 Nguyễn Công Đức, Nguyễn Hữu Chương (2004), Từ vựng tiếng Việt, Tủ sách ĐHKHXHNV TP.HCM, TP.Hồ Chí Minh
30 Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb Đại học và
Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội
31 Đinh Lư Giang, (viết chung với Trần Thị Kim Anh) (2004), “Thử tìm hiểu từ vay mượn tiếng Anh trong thuật ngữ thông tin tiếng Việt hiện đại”, Tập san KHXH-NV – chuyên đề Ngôn ngữ học, ĐH.KHXH-NV,
32 Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ Tiếng Việt, Nxb.GD, Hà
33 Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà
34 Nguyễn Thiện Giáp (2000), “Mấy suy nghĩ về cách phiên chuyển từ ngữ nước ngoài sang tiếng Việt” Tạp chí Ngôn ngữ (2), tr 67-80
35 Nguyễn Thiện Giáp (2000), “Những con đường làm giàu từ vựng tiếng
Việt” Trong “Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học”, Nxb Khoa học
36 Nguyễn Thiện Giáp (2000), “Quá trình hiện đại hóa tiếng Việt từ sau
Cách mạng tháng Tám đến nay” Tạp chí Ngôn ngữ, (9), tr 29-40
37 Nguyễn Thiện Giáp (2004), “Tiếng Việt trên đường hiện đại hóa” Trong
Tiếng Việt thời kỳ công nghiệp hóa, Viện thông tin Khoa học Xã hội và
38 Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2005), Lược sử Việt ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
39 Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) – Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh
Thuyết (2009), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội
40 Hoàng Xuân Hãn (1948), Danh từ khoa học, Nxb.Trường Thi, Sài Gòn, in lần thứ 6
41 Hoàng Văn Hành (1991), Từ ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám phá, Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội
42 Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Hà Nội
43 Cao Xuân Hạo (ed., 2005), Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm, Bùi
Tất Tươm, Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 2 – Ngữ đoạn và từ loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội
44 Phú Văn Hẳn (2004), “Ngôn ngữ dân tộc trước sự phát triển của tiếng
Anh ở khu vực Đông Nam Á”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, (142), tr.72-74
45 Bùi Hiền (2006), “Ngôn ngữ quốc tế và ngôn ngữ toàn cầu”, Tạp chí
Ngôn ngữ và đời sống, (9), tr.42-43
46 Phạm Thị Thu Hiền (1999), Tình hình tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài trong tiếng Việt trên cứ liệu tiếp nhận thuật ngữ kinh tế, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, ĐHQGHN
47 Lê Trung Hoa (2003), Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh
(Địa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh), Nxb Khoa học Xã hội, TP.HCM
48 Huỳnh Công Minh Hùng (2004), “Tiếng Anh trong thời đại toàn cầu hóa”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, 10 (108), tr.37-39
49 V.B Kasevich (1998), Những yếu tố cơ sở của Ngôn ngữ học đại cương,
Nxb.Giáo dục, Hà Nội
50 Lê Khả Kế (1979), “Về vấn đề thống nhất và chuẩn hoá thuật ngữ khoa học tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, (3 + 4), tr.25-44
51 Nguyễn Văn Khang (1998), “Những biến động trong tiếng Việt dưới tác động của bối cảnh đổi mới”, Xây dựng và phát triển các ngôn ngữ quốc gia trong khu vực Thông tin Khoa học xã hội - chuyên đề, tr.71-92
52 Nguyễn Văn Khang (1998), “Vấn đề chính tả tiếng Việt cho các đơn vị từ vựng nước ngoài và gốc nước ngoài trên sách báo tiếng Việt”, Tiếng Việt
& các ngôn ngữ dân tộc thiểu số của Việt Nam - Viện Ngôn ngữ học, Hà
53 Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
54 Nguyễn Văn Khang (1999), “Tiếng Việt trên báo trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường”, Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng, Viện Ngôn ngữ học - Hội ngôn ngữ học Tp.HCM; ĐH KHXH và NV Tp.HCM, tr.53-58
55 Nguyễn Văn Khang (2000), “Chuẩn hoá thuật ngữ, nhìn lại từ góc độ bối cảnh xã hội”, Tạp chí Ngôn ngữ, (1), tr 46-54
56 Nguyễn Văn Khang (2000), “Những vấn đề đặt ra đối với việc xử lí từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, (10), tr.70-76
57 Nguyễn Văn Khang (2001), “Tiếng Việt trong sự tiếp xúc và tiếp nhận các yếu tố của ngôn ngữ nước ngoài: hiện trạng và dự báo”, Hội thảo quốc tế về Việt Nam học, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.174-180
58 Nguyễn Văn Khang (2003), Kế hoạch hoá ngôn ngữ, Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội
59 Nguyễn Văn Khang (2006), Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nxb.Giáo dục,
60 Nguyễn Văn Khang (2010), “Sự tác động của xã hội đối với ngôn ngữ và những vấn đề đặt ra đối với chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí Ngôn ngữ, 8 (255), tr.12-30
61 Lê Đình Khẩn (2001), Từ vựng gốc Hán trong Tiếng Việt, Nxb.ĐHQG,
62 Đinh Trọng Lạc (1997), Phong cách học tiếng Việt, Nxb.ĐHQG, Hà Nội
63 Robert Lado (2003), Ngôn ngữ qua các nền văn hóa, (Hoàng Văn Vân dịch), Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội