Mục đích giao tiếp của con người đều nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân dựa trên những chuẩn mực xã hội, chính vì vậy mà câu cầu khiến giữ một vai trò hết sức quan trọng, trong đó con người s
Trang 1***************
NGUYỄN THỊ MAI SƯƠNG
CÂU CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI-ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
W X
NGUYỄN THỊ MAI SƯƠNG
CÂU CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI-
ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT CHO
HỌC VIÊN TRUNG QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Trang 3Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hướng dẫn khoa học, sự giúp đỡ, chỉ dạy tận tình và động viên của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Đình Phức
Xin cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô trong hội đồng khoa học
Xin cảm ơn sự giảng dạy nhiệt tình của các Giáo Sư, Tiến Sĩ đã giúp hoàn thành các chuyên đề trong chương trình cao học, và phòng Đào tạo sau đại học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, với tư cách là đơn vị đào tạo và tổ chức cho luận văn này được bảo vệ
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2012
Trang 4MỤC LỤC
DẪN NHẬP 5
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Phạm vi nghiên cứu 9
4 Đóng góp của luận văn 10
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
6 Bố cục của luận văn 11
Chương 1 12
TỔNG QUAN VỀ CÂU CẦU KHIẾN 12
1.1 CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ CÂU CẦU KHIẾN 12
1.1.1 Quan điểm truyền thống 12
1.1.2 Quan điểm chức năng 16
1.2 PHÂN LOẠI CÂU CẦU KHIẾN 19
1.2.1 Khái niệm về câu cầu khiến 19
1.2.2 Các kiểu loại cầu khiến trong tiếng Việt 22
1.2.3 Các tiểu loại cầu khiến trong tiếng Hán 26
1.3 Tiểu kết: 28
CHƯƠNG 2 28
SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC 28
CỦA CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN 28
2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC 29
Trang 52.1.1 Đặc điểm cấu trúc câu cầu khiến trong tiếng Việt 29
2.1.2 Đặc điểm cấu trúc câu cầu khiến tiếng Hán 33
2.1.2.1 Động từ trong câu cầu khiến tiếng Hán 33
2.1.2.2 Hình dung từ trong câu cầu khiến tiếng Hán 38
2.1.2.3 Trợ từ động thái và bổ ngữ trong câu cầu khiến tiếng Hán 40
2.1.2.4 Câu liên động, câu kiêm ngữ, câu có chữ “把”, chữ “被” và câu tồn tại 44
2.1.2.5 Chủ ngữ trong câu cầu khiến tiếng Hán 44
2.1.2.6 Về ngữ điệu của câu cầu khiến tiếng Hán 45
2.1.2.7 Tiêu chí về mặt hình thức của câu cầu khiến tiếng Hán 46
2.2 NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN 48
2.2.1.Tương đồng giữa câu cầu khiến tiếng Việt và tiếng Hán 49
2.2.1.1 Về cấu trúc 49
2.2.1.2 Về nội dung 50
2.2.1.3 Về ngữ điệu 51
2.2.2 Khác biệt giữa câu cầu khiến tiếng Việt và tiếng Hán 52
2.2.2.1 Trong câu cầu khiến có sự xuất hiện của đại từ 52
2.2.2.2 Hô ngữ trong câu cầu khiến 54
2.3 SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN TÌNH THÁI CỦA CÂU CẦU KHIẾN 57
2.3.1 Các phương tiện biểu hiện tình thái của câu cầu khiến tiếng Việt 57
2.3.1.1 Các phụ từ “hãy”, “đừng”, “chớ” trong câu cầu khiến 58
Trang 62.3.1.2 Tình thái cầu khiến với các tiểu từ “đi”, “nào”, “với”, “xem”, “nhé”, “đã”, “cứ”,
“thôi” trong câu cầu khiến 65
2.3.1.3 Các phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Hán 74
2.4 SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN TÌNH THÁI CỦA CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN 79
2.4.1 Những điểm giống nhau của các phương tiện biểu hiện tình thái câu cầu khiến trong tiếng Việt và tiếng Hán 79
2.4.2 Những điểm khác nhau của các phương tiện biểu hiện tình thái câu cầu khiến trong tiếng Việt và tiếng Hán 81
2.5 Tiểu kết 83
CHƯƠNG 3 84
KHÁI NIỆM LỊCH SỰ VÀ CÁCH THỂ HIỆN TRONG CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN – ÁP DỤNG TRONG VIỆC DẠY TIẾNG ĐỐI VỚI NGƯỜI HỌC TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN 84
3.1 KHÁI NIỆM LỊCH SỰ VÀ CÁCH THỂ HIỆN LỊCH SỰ TRONG CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN 84
3.1.1 Khái niệm lịch sự 84
3.1.2 Cách thể hiện lịch sự trong câu cầu khiến tiếng Việt 89
3.1.3 Cách thể hiện lịch sự trong cầu khiến tiếng Hán 103
3.2 ÁP DỤNG CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TIẾNG 116
3.2.1 Phân tích ngữ liệu trong câu cầu khiến tiếng Việt và tiếng Hán 116
3.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong câu cầu khiến đối với việc dạy – học tiếng Việt và tiếng Hán 123
3.2.2.1 Thuận lợi trong câu cầu khiến đối với việc dạy – học tiếng Việt và tiếng Hán 123
Trang 73.2.3 Một số giải pháp về việc dạy câu cầu khiến cho người học tiếng Việt và tiếng Hán 128
3.3 TIỂU KẾT 132
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
A TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 136
B TÀI LIỆU TIẾNG HÁN 140
C – TÀI LIỆU TIẾNG ANH 141
NGUỒN DẪN LIỆU VĂN HỌC 142
A NGUỒN DẪN LIỆU TIẾNG VIỆT 142
B NGUỒN DẪN LIỆU TIẾNG HÁN 143
PHỤ LỤC 01 144
TƯ LIỆU CÂU CẦU KHIẾN SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 144
PHỤ LỤC 02 153
PHIẾU KHẢO SÁT CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT 153
PHỤ LỤC 03 156
PHIẾU KHẢO SÁT CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG HÁN 156
Trang 8Bên cạnh đó, người dạy và học về câu cầu khiến vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi sử dụng các kiểu câu cầu khiến Đó là việc nhận biết về một loại câu
có nội dung cầu khiến trong tiếng Việt mà không quan tâm việc hiểu về nó cũng như sử dụng nó trong thực tế giao tiếp như thế nào Vì vậy vấn đề đặt ra
là cần dạy câu cầu khiến như thế nào để đạt hiệu quả cao, và việc sử dụng sao cho câu cầu khiến có tính lịch sự cả khi nói cũng như khi viết một cách đúng lúc, đúng chỗ, qua đó hiểu một cách sâu sắc về tác dụng của câu cầu khiến trong việc giao tiếp
Trang 9Mục đích giao tiếp của con người đều nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân dựa trên những chuẩn mực xã hội, chính vì vậy mà câu cầu khiến giữ một vai trò hết sức quan trọng, trong đó con người sử dụng hoạt động ngôn ngữ là thực hiện sự giao tiếp giữa người và người trong xã hội, kể từ việc truyền đạt cho nhau những điều cần biết, hoặc yêu cầu, thỉnh cầu người khác làm theo những gì mình mong muốn, chẳng hạn muốn cho người nghe mở cửa sổ, người nói có thể dùng một câu có thể thức mệnh lệnh như “Mở cửa sổ ra!” hoặc một câu hỏi “Cửa sổ này sao cứ đóng im ỉm thế này?” Vì vậy, trong hoạt động ngôn ngữ, nhóm cầu khiến là một nhóm thể hiện tương tác rất rõ, hành động cầu khiến là hành động ngôn từ có chức năng quan trọng trong hoạt động giao tiếp và được sử dụng phổ biến; trong xã hội hiện nay, mục đích giao tiếp của con người cũng nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân dựa trên các chuẩn mực xã hội, thế nhưng không phải bao giờ một hành động cầu khiến đưa ra cũng được đối phương thực hiện theo đúng mục đích của chủ thể phát ngôn, một trong những lý do rất quan trọng, có tính quyết định đó chính
là tuỳ thuộc vào hiệu lực ngôn trung của câu cầu khiến
Vì vậy mà câu cầu khiến là một trong những đối tượng được ngữ dụng học quan tâm, ngữ pháp truyền thống đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến câu cầu khiến chủ yếu ở khía cạnh phân loại câu theo mục đích phát ngôn; gần đây câu cầu khiến được xem xét ở nhiều gốc độ hơn, được thể hiện trong các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Diệp Quang Ban trong
Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Hồ Lê trong Cú pháp tiếng Việt, quyển 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Hoàng Trọng Phiến trong Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội; Vũ Thị Thanh Hương trong bài viết “Gián tiếp và lịch sự trong cầu khiến tiếng Việt”, đăng tải trên Tạp chí Ngôn ngữ số 1(1999); và một số công trình nghiên cứu về câu cầu khiến khác như Câu cầu khiến tiếng Việt của Chu Thị
Trang 10Thuỷ An – Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,…Xét những thành tựu nêu trên, có thể thấy rõ một điều, việc đem câu cầu khiến trong tiếng Việt xét trong quan hệ so sánh với các hệ thống ngôn ngữ khác trên thế giới, cụ thể là câu cầu khiến trong tiếng Hán hiện đại vẫn là một khoảng trống hầu như rất ít hoặc chưa hề được đề cập
Chính vì thế, luận văn này chúng tôi với tên gọi Câu cầu khiến trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại – Áp dụng vào thực tế giảng dạy tiếng Hán cho học viên Trung Quốc, hy vọng có thể khuất lấp một phần khoảng trống
trong mảng nghiên cứu nêu trên Xuất phát từ việc tham khảo của những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, đồng thời qua các cứ liệu thu thập được, chúng tôi mong muốn có thể góp phần nhận diện rõ hơn đặc điểm cấu trúc câu cầu khiến, làm tăng thêm hiệu quả giao tiếp khi sử dụng câu cầu khiến Đồng thời qua đó còn thấy được những điểm tương đồng và dị biệt giữa câu cầu khiến trong tiếng Việt và câu cầu khiến trong tiếng Hán hiện đại, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giảng dạy tiếng Việt cho người học có ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Hán, và cả việc giảng dạy tiếng Hán cho người Việt một cách có hiệu quả hơn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây ở Việt Nam, vấn đề về hành vi ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học, trong đó câu cầu khiến trở thành vấn đề ngữ dụng quen thuộc, câu cầu khiến là một trong bốn kiểu câu được phân theo mục đích phát ngôn, bao gồm câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến Việc phân chia như trên, được đề cập khá nhiều trong các công trình thuộc mảng ngữ pháp học và trong ngữ dụng học,
tiêu biểu có thể kể tới Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân, đây là công trình
tập hợp các nội dung cơ bản nhất của lý thuyết ngữ dụng học, đặc biệt trong
Trang 11sách này, tác giả còn nêu lên những điều kiện của hành động ngôn từ và phân
loại các hành động tại lời Hai công trình Đại cương ngôn ngữ học (tập 2) và Giản yếu ngữ dụng học của tác giả Đỗ Hữu Châu nêu lên những vấn đề khái
quát ngữ dụng học, trong sách có một chương nói về hành động ngôn từ và phân biệt khá rõ hai loại phát ngôn: phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngôn hành, đồng thời tác giả còn tiến hành phân loại các hành động ngôn từ
Ngoài ra bộ Dụng học Việt ngữ của tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng là một
công trình đáng chú ý Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, ở Việt Nam đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu chọn câu câu cầu khiến làm đối tượng nghiên cứu, đồng thời được tiến hành xem xét ở khá nhiều góc độ khác nhau
Một số tác giả với quan điểm truyền thống nghiên cứu câu cầu khiến,
đó là các tác giả như Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Hồ Lê với Cú pháp tiếng Việt, quyển 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992; Đỗ Thị Kim Liên trong Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999; Hoàng Trọng Phiến với Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội; Đỗ Ảnh với Thử vận dụng quan điểm cấu trúc chức năng để nhận diện, miêu tả câu cầu khiến tiếng Việt v.v
Các tác giả này cho rằng, câu cầu khiến là một tiểu loại trong hệ thống câu chia theo định hướng phát ngôn, và cũng thống nhất rằng câu cầu khiến tồn tại bên cạnh câu kể, câu hỏi, câu cảm thán, là kết quả phân loại theo mục đích phát ngôn Các tác giả đã tiến hành định nghĩa, phân loại các phương tiện biểu hiện
Một số tác giả xuất phát quan điểm của ngữ pháp chức năng, thường nghiên cứu câu cầu khiến trong hoạt động hành chức và trong hoàn cảnh giao
tiếp Đó là các tác giả như: Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng quyển 1, NXB Khoa học xã hội, 1991; Nguyễn Thị Hoàng Chi trong Khảo sát hoạt động của các hư từ biểu thị tình thái cầu khiến trong câu
Trang 12tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học quốc gia Hà Nội, 1998; Nguyễn Văn Độ trong Các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện hành động thỉnh cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội,1999; Vũ Thị Thanh Hương trong “Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu
khiến tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ số 1( 1999), “Chiến lược lịch sự thay đổi mức lợi thiệt trong lời cầu khiến tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ số 10(1999); Chu Thị Thuỷ An trong Câu cầu khiến tiếng Việt – Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Kim Thản Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt
(1981) vv…Với quan điểm này thì Cao Xuân Hạo nghiên cứu theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, ông cho rằng tiêu chí để phân ra: câu kể, câu cầu khiến, câu hỏi… là tiêu chí hành động ngôn trung, ngoài ra ông còn khẳng định, nếu căn cứ vào hình thức cú pháp câu thì có thể chia câu làm hai loại lớn: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh( câu cầu khiến) Như vậy câu cầu khiến được xem là giá trị tình thái, giá trị ngôn trung của một nhóm câu trần thuật, cho nên với quan điểm nghiên cứu này đã đánh dấu một cái nhìn mới về câu cầu khiến tiếng Việt
3 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở tham khảo các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn này giới hạn:
Khảo sát các câu cầu khiến tiếng Việt và phân loại theo các kiểu câu và
có đối chiếu với câu cầu khiến tiếng Hán Ở đây câu cầu khiến được tập hợp
và xem xét trong các hình thức, và hình thức câu cầu khiến được đánh dấu bởi các phương tiện với các từ ngữ như: hãy, nhé, đi, đừng, chớ, nào, chứ, cấm, cho phép, đề nghị, yêu cầu và các ngữ điệu kèm hoặc không kèm từ tình thái, một số mô thức “đi + thôi”, “quá + đi”, và những nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp
Trang 13Đối chiếu các kiểu câu tiếng Hán gồm các tiểu loại như: mệnh lệnh, thỉnh cầu, cấm đoán, mời mọc, khuyên bảo, phẫn nộ, các phương tiện tình thái với các từ ngữ như : đừng, hãy, đi, xin, muốn Và những từ tình thái đăt cuối câu : thôi, đi, nhỉ, nhé, này…
Với định hướng nghiên cứu của luận văn, luận văn chỉ nghiên cứu trên bình diện cấu trúc câu cầu khiến trong tiếng Việt và tiếng Hán, trong đó có đề cập đến những vấn đề thuộc ngữ dụng học
4 Đóng góp của luận văn
4.1 Về mặt lý thuyết
Tìm hiểu về những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ ở khía cạnh câu cầu khiến Những kết quả mà luận văn thu được, sẽ có đóng góp nhất định cho ngành ngôn ngữ học so sánh, đặc biệt là mảng so sánh giữa tiếng Việt và tiếng Hán
4.2 Về mặt thực tiễn
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu câu cầu khiến cả hai bình diện hình thức và chức năng, khi hiểu được cấu trúc câu cầu khiến người sử dụng tiếng Việt và tiếng Hán sẽ thực hiện một cách có hiệu quả những mong muốn của người nghe, mặt khác có thể đạt được hiệu quả trong việc giảng dạy
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tiến hành bằng một số phương pháp như sau:
Phương pháp khảo sát, tập hợp, phân loại dữ liệu
Phương pháp đối chiếu, phân tích, miêu tả
Trang 14Phương pháp lập luận như : diễn dịch, quy nạp
5.2 Nguồn ngữ liệu
Tác phẩm văn học tiếng Việt: Truyện ngắn tuyển chọn (Nam Cao), Dế
mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài)…
Tác phẩm văn học Trung Quốc: Các tác phẩm thuộc hàng kinh điển của
mảng văn học hiện đương đại Trung Quốc, đồng thời bao gồm cả nguồn ngữ
liệu thực tế được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của người dân Trung
Quốc Cụ thể như Truyện ngắn hiện đại Trung Quốc, kịch bản Lôi Vũ của
Tào Ngu,…
6 Bố cục của luận văn
Luận văn của chúng tôi được chia thành ba phần: dẫn nhập, nội dung và
kết luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm có ba chương:
Chương 1: Tổng quan về câu cầu khiến Trong chương này đề cập đến
các quan điểm nghiên cứu về câu cầu khiến, khái niệm về câu cầu khiến và
các kiểu loại của câu cầu khiến
Chương 2: So sánh – Đối chiếu đặc điểm cấu trúc của câu cầu khiến
Luận văn trình bày đặc điểm về cấu trúc, những tương đồng và dị biệt của câu
cầu khiến tiếng Việt, tiếng Hán và so sánh đối chiếu các phương tiện biểu
hiện tình thái của câu cầu khiến tiếng Việt và tiếng Hán
Chương 3: Khái niệm lịch sự và cách thể hiện trong câu cầu khiến
tiếng Việt và tiếng Hán Chúng tôi tiến hành khái niệm giao tiếp và lịch sự
trong câu cầu khiến, cách thể hiện câu cầu khiến trong tiếng Việt và tiếng Hán
và áp dụng trong việc dạy tiếng đối với tiếng Việt và tiếng Hán.
Trang 15Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CÂU CẦU KHIẾN
1.1 CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ CÂU CẦU KHIẾN
1.1.1 Quan điểm truyền thống
Theo các nhà ngôn ngữ học truyền thống, câu chia theo mục đích nói bao gồm bốn kiểu câu: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến và câu cảm thán
Vì vậy chúng ta cần phải xuất phát từ hệ thống phân loại này để hiểu rõ hơn
về đối tượng nghiên cứu này
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp xuất phát từ quan điểm ngữ pháp truyền thống khi căn cứ vào mục đích nói, phân chia câu thành bốn loại, đó là: câu trần thuật (indicative sentence), câu nghi vấn (interogative sentence), câu mệnh lệnh (imperative sentence) và câu cảm thán (interjective sentence) [16, tr.298-299]
Các tác giả của bộ sách Ngữ pháp tiếng Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa
học Liên Xô cho rằng: câu cầu khiến chỉ là một tiểu loại của câu trần thuật, khác các loại câu khác về tình thái, đồng thời căn cứ vào dấu hiệu hình thức,
họ chia câu làm hai loại: câu hỏi và câu trần thuật.[1, tr.7-8] Tác giả Cao
Xuân Hạo trong Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991) cũng theo quan điểm
này [21, tr.211]
Quan điểm của những nhà ngữ pháp tiền dụng học đã chia câu thành ba loại: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến (mệnh lệnh) Ở đây, việc phân loại
Trang 16câu chủ yếu vẫn dựa vào các dấu hiệu hình thức Ba tác giả Hoàng Trọng
Phiến, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (1991) cho rằng: có 3 căn cứ phân loại câu nhưng phân loại theo
mục đích nói thì có 4 kiểu, đó là câu tường thuật (câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu mệnh lệnh (câu cầu khiến) và câu cảm thán (câu cảm) [44, tr 316-317]
Theo R Quirk trong Ngữ pháp tiếng Anh hiện đại và R E Asher trong công trình Từ điển bách khoa ngôn ngữ và ngôn ngữ học cho rằng, sai lầm
của ngữ pháp truyền thống là lấy chức năng của câu để gọi tên kiểu câu đó Hai tác giả này đã tiến hành phân loại câu theo hình thức và chức năng
Theo R Quirk, câu phân chia theo hình thức sẽ có bốn loại: câu trình bày (declaratives), câu nghi vấn (introgatives), câu mệnh lệnh (imperatives), câu cảm thán (exclamatives); câu phân chia theo chức năng cũng có bốn loại: câu trần thuật (statement), câu hỏi (question), câu ra lệnh (command) và cảm thán (exclaration) [89, tr.403]
Theo R E Asher, câu phân chia theo hình thức gồm bốn loại: câu trình bày (declaratives), câu nghi vấn (introgatives), câu mệnh lệnh (imperatives);
hệ thống thứ hai bao gồm: câu trần thuật (statement), câu hỏi (inquiry) và câu cầu khiến (directive) [ 86, tr.3045]
Các nhà Hán ngữ học nhìn chung xuất phát từ ba khía cạnh chức năng, kết cấu và ngữ khí, phân chia câu thành bốn loại: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán (Lư Phúc Ba, Thiệu Kính Mẫn, Hồ Dụ Thụ,…)
Chẳng hạn, với câu nghi vấn “Anh có thể chuyển cho tôi ly nước được không?”, có thể thực hiện chức năng yêu cầu người nghe chuyển cốc nước cho mình Câu trần thuật “Trong này nóng quá!”, có thể thực hiện chức năng
Trang 17Về mặt hình thức, câu cầu khiến ở tất cả ngôn ngữ đều gắn với thức mệnh lệnh của động từ Ví dụ:
Trong tiếng Hán, câu: 请把帽子摘下来! (Xin hãy bỏ mũ xuống!)
Trong tiếng Anh, câu: You be careful ! (Hãy cẩn thận!)
Trong ngữ pháp tiếng Hán, dấu hiệu hình thức đặc trưng của thức mệnh lệnh là động từ “请” (xin) thường được đặt ở đầu câu, ngoài ra, còn có thể dùng phó từ “别” (đừng, chớ),“不要” (không nên),…ở đầu câu hoặc trước
vị ngữ Ví dụ:
别大声说话!(Đừng nói lớn!)
我们不要这样做! (Chúng ta không nên làm thế này!)
Trong ngữ pháp tiếng Anh truyền thống, phương tiện hình thức đặc trưng nhất của thức mệnh lệnh là động từ “be” (nguyên dạng) Ngoài ra, có một số phương tiện khác đi kèm với “be” như “let”, “please”, “do (don’t)”,
Ví dụ:
Be quiet, please! (Xin giữ im lặng!)
Do drive slowly, please! (Xin hãy lái xe chậm một chút!)
Trong tiếng Việt, dấu hiệu hình thức đặc trưng của thức mệnh lệnh cũng khá đa dạng, trong đó các từ như “hãy”, “đừng”, “chớ”, “cấm”,… thường có tần số sử dùng khá cao Ví dụ:
Hãy im lặng!
Cấm hút thuốc!
Các phương tiện hình thức thể hiện câu cầu khiến trong tiếng Hán khá phong phú, bao gồm các tiểu loại như: 命令(mệnh lệnh), 请求(yêu cầu, thỉnh
Trang 18cầu), 劝止(cấm đoán), 请(mời mọc), 劝导 (khuyên bảo),催促 (thúc giục), 气
恼 (phẫn nộ),…; các phương tiện tình thái với các từ ngữ như: 别(đừng), 吧(đi, nhé), 想 (muốn), 哪 (nào), 请 (xin), 不要(nên, không nên)…
Trong tiếng Việt, các phương tiện hình thức được dùng để thể hiện câu cầu khiến cũng hết sức phong phú, bao gồm các phụ từ như: hãy, đừng, chớ,…; các từ tình thái như: đi, lên, thôi, nào, đã, nhé,…; các động từ tình thái như: nên, cần, phải, và cả các động từ bản thân đã mang ý nghĩa cầu khiến như: cấm, mời, xin, yêu cầu,
Vì vậy, sau này những quan điểm chức năng cũng nghiên cứu về phương tiện này trong hoạt động của câu đặt trong ngữ cảnh và hoàn cảnh giao tiếp chứ không tách câu ra khỏi ngữ cảnh Theo các tác giả này, điều kiện quy định một phát ngôn có giá trị cầu khiến còn là ngữ cảnh chứ không phải hoàn toàn là ngữ điệu (Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm) Ví dụ:
Trời sắp mưa rồi! ( Ý người nói có thể yêu cầu lấy quần áo phơi bên ngoài vào…)
Ở đây, ngột ngạt quá! ( Ý người nói có thể yêu cầu mở cửa sổ hoặc ra ngoài đi dạo…)
Về nội hàm của câu cầu khiến hiện giới nghiên cứu vẫn chưa đi đến cách hiểu thống nhất, các thuật ngữ như mệnh lệnh, cầu khiến,… vẫn được sử dụng lẫn lộn, hoàn toàn chưa được cố định hoặc có sự phân biệt rạch ròi Nhìn chung, nội hàm của câu cầu khiến theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học truyền thống thường bao gồm một số nội dung sau: mệnh lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, đề nghị, cấm đoán, khuyên răn, dặn dò, chúc tụng, cầu mong, mời mọc, thách thức, cỗ vũ,
Trang 191.1.2 Quan điểm chức năng
Theo tác giả Cao Xuân Hạo, ngữ pháp chức năng là một lý thuyết đồng thời là một hệ phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ bao gồm: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời
và hành vi ở lời Khi chúng ta nói năng cũng chính là chúng ta đang thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện của nó chính là ngôn ngữ
Quan điểm của ngành Ngữ dụng học cho rằng: hành vi ở lời “là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ có nghĩa là chúng gây một phản ứng tương ứng ở người nhận.” [7, tr.240] Hành vi ở lời được thực hiện bởi một người nói một phát ngôn, là hành động được nhìn nhận ở phương diện trọng yếu của phát ngôn, trong một hệ thống ước lệ tương tác xã hội Hiệu lực ở lời là bản chất ngữ vi, tác giả J Searle từng nêu ra những trường hợp sau: khẳng định, miêu
tả, suy đoán, khuyến cáo, nhận xét, ra lệnh, chú thích, cầu xin, phê phán, xin lỗi, khiển trách, sỉ nhục, tán đồng, chúc mừng, hứa hẹn, trách móc, đòi hỏi
Theo tác giả O Ducrot, các hành vi ở lời có hiệu lực thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó Tác động hầu như buộc vai nghe phải hồi đáp lại đối với một
hành động ở lời trong câu nói ra được gọi là hiệu lực ở lời.[1, tr.12-13]
Chính vì thế, các nhà ngữ pháp chức năng thấy được rằng, trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán, chính là các hành vi ngôn ngữ Bên cạnh đó, sự phát hiện của Austin đã đưa lại một cách nhìn mới mẻ về hệ thống câu chia theo mục đích nói Một câu có hình thức là trần thuật cũng có thể có lực ở lời là
Trang 20cầu khiến, một câu có hình thức là nghi vấn nhưng lực ở lời của nó có thể là khẳng định, phủ định hoặc đề nghị
J Searle đã dựa trên bốn tiêu chí đích ở lời, hướng ghép lời – hiện thực, trạng thái tâm lý và nội dung mệnh đề đã chia hành vi ngôn ngữ thành năm loại: xác tín (assertives), điều khiển (directives), cam kết (commissives), biểu cảm (expressives), tuyên bố (declaratives) Vì vậy, các hành vi cầu khiến trong ngôn ngữ học hiện đại chính là nhóm các hành vi điều khiển theo hệ thống phân loại của J Searle Cho nên để làm rõ khái niệm hành vi cầu khiến chúng ta phải xuất phát từ hệ thống các loại hành vi ở lời
Quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại về các hành vi ở lời thuộc nhóm cầu khiến vẫn chưa thống nhất Nếu cho rằng, cầu khiến tức là những phát ngôn mà người nói nhằm hướng người nghe đến việc thực hiện một hành động nào đó, thì tất cả các hành vi ra lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, xin phép, cho phép, đề nghị, khuyên răn, mời mọc, chỉ dẫn, thách thức, cổ vũ, cảnh báo, thúc giục, dặn dò,… đều thuộc nhóm cầu khiến Còn J Searle (1972), S C Levinson (1983) lại cho rằng cầu khiến là những hành vi mà người nói thực hiện nhằm buộc người nghe làm một việc gì đó đem lại lợi ích cho mình [24, tr.39-48]
Theo tác giả J Searle, hành vi cầu khiến gồm có: ra lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, đề nghị, cấm đoán, khuyên răn, dặn dò, chúc tụng, cầu mong, mời mọc, kêu gọi, thách thức, cổ vũ, cảnh báo, thúc dục Cho nên, khi tiếp nhận hành vi cầu khiến, người nghe nhất định phải hồi đáp lại bằng một hành động tương ứng
Dựa trên hệ thống phân loại của J Searle, tác giả Đào Thanh Lan cũng tiến hành phân loại hành vi cầu khiến ra các tiểu loại chi tiết thể hiện mức độ cầu khiến cao hay thấp khi căn cứ vào lực ngôn trung cầu khiến bao gồm: ra
Trang 21lệnh, cấm, cho/cho phép, yêu cầu, đề nghị, dặn, khuyên, rủ, mời, nhờ, chúc, xin, xin phép, cầu, nài, van, lạy [33 Tr41-42]
Cho nên, có thể thấy rõ, hiệu lực gián tiếp của các hành vi ở lời phụ thuộc rất lớn vào hoàn cảnh giao tiếp Ví dụ:
Nóng quá! ( Ý người nói có thể yêu cầu mở cửa sổ hoặc mở quạt)
Trời mưa rồi kìa! (Ý người nói có thể yêu cầu lấy quần áo vào)
Theo các nhà nghiên cứu, hành vi cầu khiến thường nằm trong các cặp thoại được ưa thích như: đề nghị - chấp nhận, động viên - khuyến khích, khuyên nhủ… Hành vi cầu khiến thuộc vào loại phản ứng tích cực có sự chờ đợi, không gây nên trạng thái phản cảm từ đối tác giao tiếp, đồng thời không gây khó dễ cho người thực hiện
Xuất phát từ việc nghiên cứu hiệu lực ở lời của các hành vi ngôn ngữ, ngữ pháp hiện đại đã phát hiện ra sự phong phú của các phương tiện, phương thức chuyển tải các hành vi cầu khiến Theo chúng tôi, cầu khiến chính là người nói đưa ra các nhu cầu, nguyện vọng của mình để người khác thực hiện theo
Trang 221.2 PHÂN LOẠI CÂU CẦU KHIẾN
1.2.1 Khái niệm về câu cầu khiến
Hiện có khá nhiều quan niệm về câu cầu khiến, tiêu biểu có thể kể tới một số quan điểm sau đây:
Các nhà nghiên cứu ngữ pháp truyền thống thường nhìn nhận nội dung câu cầu khiến theo hai hướng, rộng và hẹp Xu hướng rộng cho rằng: “câu cầu khiến nhằm mục đích nói lên ý chí của người nói và đòi hỏi mong muốn đối phương thực hiện những điều nêu ra trong câu nói.” [26, tr 261] Xu hướng hẹp cho rằng: câu cầu khiến là câu đưa ra một ý nguyện nào đó, yêu cầu đối tượng tiếp nhận thực hiện Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến, câu cầu khiến nêu lên ý muốn của chủ thể phát ngôn và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động Do đó, câu cầu khiến gắn liền với ý nghĩa hành động bao gồm sự mời mọc, yêu cầu, mệnh lệnh, cấm đoán và chúc tụng Dạng thức gồm cả
khẳng định và phủ định (hãy, xin,…; đừng, chớ,…) Phương tiện cầu khiến có
hư từ (hãy, đừng, chớ, nghe, cứ, chứ, nào,…), thực từ (cấm, không được, mời, cho phép, chúc,…), ngữ điệu dùng như nhau cho mọi ngôi của chủ ngữ [25,
tr 288-292]
Trong sách Ngữ pháp tiếng Việt, nhóm tác giả thuộc Ủy ban Khoa học
Xã hội Việt Nam cho rằng: câu cầu khiến là nói chung về các trường hợp yêu cầu, chúc tụng, sai bảo Có thể dùng các phụ từ ( hãy, đừng, chớ…), động từ (cầu xin, van xin) và các từ “đi”, “nào” khi đặt ở vị trí cuối câu, cũng có thể dùng làm phụ từ biểu thị sự sai khiến [63,tr 204]
Tác giả Bùi Đức Tịnh cho rằng: “Câu khuyến lệnh là những câu dùng
để khuyên, mời, hoặc ra mệnh lệnh.” [59, tr.468] Còn tác giả Diệp Quang
Ban lại cho rằng: “Câu mệnh lệnh (còn gọi là câu cầu khiến) được dùng để
Trang 23trong câu.” Theo tác giả Hồ Lê, nội dung cầu khiến bao gồm các loại: mệnh lệnh, yêu cầu, khuyên răn, dặn dò [35,tr.424]
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong Ngữ pháp tiếng Việt (1999) đã quan
niệm về nội hàm khái niệm cầu khiến, bao gồm: ra lệnh, ngăn cấm, thúc giục, yêu cầu, chúc, khuyên, cầu mong, mời, kêu gọi, thách thức, cổ vũ… đây cũng
là tác giả có quan niệm rộng nhất về nội hàm câu cầu khiến
Tác giả Trung Quốc Lư Phúc Ba trong Đối ngoại Hán ngữ giáo học thực dụng ngữ pháp cho rằng: câu cầu khiến là loại câu mà người nói muốn
người nghe nên hoặc không nên làm một việc gì đó Về mặt hình thức, câu thường kết thúc bằng dấu cảm thán (!), chủ ngữ thường là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, nhưng cũng thường xuyên bị tỉnh lược Bà chia câu cầu khiến thành hai nhóm lớn, trong đó có năm loại nhỏ, bao gồm mệnh lệnh, cấm chỉ thuộc nhóm A và kiến nghị, thôi thúc, thỉnh cầu thuộc nhóm B [Đại học Ngôn ngữ Văn hóa Bắc Kinh, 1997, tr.240-241]
Nhóm học giả Thiệu Kính Mẫn, Hồ Dụ Thụ,… trong Hiện đại Hán ngữ thông luận cho rằng: câu cầu khiến là loại câu người nói hướng đến người
nghe nêu ra yêu cầu, hoặc mong muốn người nghe nên hoặc không nên làm một việc gì đó Chủ ngữ của loại câu này thường là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, nhưng thường xuyên bị tỉnh lược Về việc phân loại, họ chủ trương chia thành ba loại: câu cầu khiến mang hình thức khẳng định, câu cầu khiến mang hình thức phủ định và câu cầu khiến có hình thức khẳng định và phủ định không tương xứng [Thượng Hải giáo dục xuất bản xã, 2001, tr.220-222]
Tác giả Lưu Nguyệt Hoa trong cuốn Ngữ pháp thực hành tiếng Hán hiện đại, quyển hạ, đưa ra định nghĩa về câu cầu khiến như sau: câu cầu khiến
là loại câu biểu thị mệnh lệnh hoặc thỉnh cầu, bao gồm mệnh lệnh hoặc thỉnh cầu người khác (đôi khi bao gồm cả chính mình) nên làm hoặc không nên làm
Trang 24một điều gì đó Về việc phân loại, bà chủ trương chỉ nên chia thành hai loại: câu cầu khiến mang hình thức khẳng định, câu cầu khiến mang hình thức phủ định [Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004, quyển hạ, tr.336]
Tác giả Phòng Ngọc Thanh trong Thực dụng Hán ngữ ngữ pháp cho
rằng: “câu cầu khiến là loại câu dùng để biểu đạt ý chí của người nói (như thỉnh cầu, mệnh lệnh, thương lượng,…), yêu cầu người nghe nên làm hoặc không nên làm một việc gì đó Chủ ngữ của câu thường là ‘你’,‘您’,‘你們’ hoặc ‘們’,‘我們’, nhưng thường bị tỉnh lược trong quá trình đối thoại; vị ngữ cũng thường do động từ hoặc những từ ngữ tương đương với động từ đảm nhiệm Ngữ điệu của câu nhìn chung hơi trầm, những âm tiết cuối của những câu dài thường nhanh hơn.” [Đại học Bắc Kinh, 2001, tr.77]
Hai tác giả Brown và Levison (1987) cho rằng: khái niệm câu cầu khiến có thể hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Trong đó câu cầu khiến hiểu theo nghĩa hẹp tức loại câu người nói thực hiện buộc người nghe làm một điều gì đó theo ý muốn của mình, mục đích cốt đem lại lợi ích cho người nói
và thường gây thiệt cho người nghe, như ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vả [Levinson 1983] Hiểu theo nghĩa rộng, tức câu cầu khiến là hành vi mà thông qua đó người nói muốn tạo ra bất kỳ một sự thay đổi nào trong hành động của người nghe, bất kể hành động nào đó có lợi hay hại cho người nghe hay người nói Câu cầu khiến không chỉ bao gồm ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vả, mà còn cả mời mọc, xin phép,…( Austin 1975, Tamen 1981, Brown và Levison 1987) [ 41, tr.17-18]
Tác giả Nguyễn Thị Lương thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội trong bài
viết đăng trên Ngôn ngữ và đời sống số 5/2006, câu cầu khiến (còn được gọi
là mệnh lệnh hay khuyến lệnh) thuộc kiểu câu phân chia theo mục đích nói,
Trang 25có dấu hiệu hình thức riêng nhằm yêu cầu, nhắc nhở, khuyên nhủ người nghe nên (phải thực hiện) hay không nên thực hiện một hành động nào đó Ví dụ:
Không được nói chuyện trong lớp!
Tất cả hãy im lặng!
Vì vậy, với cách nhìn khái quát, chúng ta có thể đưa ra kết luận: câu cầu khiến là loại câu có nội dung bao gồm các khía cạnh như: mệnh lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, đề nghị, cấm đoán, khuyên răn, dặn dò, chúc tụng, cầu mong, mời mọc, kêu gọi, thách thức, cổ vũ,…
1.2.2 Các kiểu loại cầu khiến trong tiếng Việt
Ở phần này của luận văn, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các kiểu loại cầu khiến trong tiếng Việt, bao gồm: (1) Mời mọc, (2) Nhờ vả, (3) Rủ rê, (4) Yêu cầu (5) Cấm đoán (6) Ra lệnh (7) Chúc tụng, (8) Kêu gọi, thúc giục, (9) Khuyên bảo, (10) Động viên, khuyến khích Ví dụ:
1 Tôi cấm anh không được nói chuyện đó với ai cả!
2 Tôi cấm anh hút thuốc trong phòng!
3.Tôi đã cấm anh không được hút thuốc lá trong phòng!
4 Tôi đã cấm anh ấy không được hút thuốc trong phòng!
5 Cô ấy đã cấm tôi không được hút thuốc trong phòng!
Chúng ta thấy rằng, “cấm” có nghĩa “không cho phép làm việc gì đó hoặc không cho phép được tồn tại” [46, tr.128] Chủ ngôn của hành động cấm thường là người có quyền lực so với tiếp ngôn Cho nên, tất cả những câu trên đều sử dụng động từ “cấm” Thế nhưng, chỉ có động từ “cấm” trong hai câu (1) và (2) mới dùng biểu thị hành vi cấm Cho nên, hai câu (1) và (2) ở đây thuộc loại câu cầu khiến tường minh; còn các câu (3), (4) và (5), tuy vẫn dùng
Trang 26động từ “cấm”, nhưng không được dùng để biểu thị hành vi cấm, mà chỉ để kể lại việc “tôi đã cấm anh ấy không được hút thuốc trong phòng” hay “cô ấy cấm tôi không được hút thuốc lá” Ở đây chúng thuộc loại câu kể, chứ không phải là câu cầu khiến Thông qua những ví dụ trên đây, chúng ta đã có thể nhận ra những khác biệt của câu cầu khiến trong so sánh với các kiểu câu kể, câu hỏi và câu cảm thán
Như vậy, có thể hiểu câu cầu khiến là câu mà trong quá trình sử dụng, người nói đã thực hiện hành vi cầu khiến Các động từ cầu khiến như “yêu cầu, ra lệnh, chỉ thị, đề nghị, phân công, cấm, nghiêm cấm, phái, buộc, bắt, cấm chỉ, xin phép, can, bảo, cử, khuyên, mời, xin, cầu, cầu xin, cầu mong, năn nỉ, nài nỉ, nài xin, van, van nài, van xin, nhờ,…” dùng để biểu thị hành vi cầu khiến.[41, tr22]
“Nhờ vả” có nghĩa dựa vào sự giúp đỡ của người khác, nói một cách
khái quát là làm phiền đến người khác [65, tr.724] Ví dụ:
Nhờ cậu làm bài này giúp mình với nhé!
Cậu giặt hộ mình chiếc quần này nhé!
Trang 27(3) Rủ rê
“Rủ rê” nghĩa là bảo, khuyến khích người khác nghe theo và cùng làm với mình [65, tr.836] Ví dụ:
Hôm nay chúng ta đi xem phim nhé!
Ngày mai cậu đến nhà mình học bài nhé!
(4) Yêu cầu
“Yêu cầu” nghĩa là nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, dẫu biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy [65, tr.1169] Ví dụ:
Yêu cầu mọi người giữ trật tự!
Tôi yêu cầu anh đứng lại!
“Ra lệnh” có nghĩa trực tiếp đưa ra mệnh lệnh [65, tr818] Ví dụ:
Tôi - hạ sĩ Nguyễn Thành Nguyên ra lệnh cho binh nhất Nguyễn Văn
Trung phải chấp hành mệnh lệnh! (Mặt trời bé con của tôi – Thùy Linh –
tr.38)
Anh kia đứng lại!
Trang 28(8) Kêu gọi, thúc giục
“Kêu gọi” có nghĩa là lên tiếng yêu cầu, động viên ai đó làm một việc
gì đó [65, tr.962] Ví dụ:
Mau lên, trễ giờ xe chạy rồi!
Tỉnh dậy đi Lan, sáng rồi!
(9) Khuyên bảo
“Khuyên bảo” có nghĩa dùng lời khuyên với thái độ ân cần, để người nghe biết điều hay lẽ phải, điều nên làm hoặc không nên làm [65, tr.516] Ví dụ:
Em khuyên anh nên đổ đi cho được việc! (Lá Non– Ngô Ngọc Bội –
Trang 29Cứ yên tâm, đừng lo lắng quá! ( Mảnh đất lắm người nhiều ma-
Nguyễn Khắc Trường, Tr.168)
1.2.3 Các tiểu loại cầu khiến trong tiếng Hán
Như trên đây đã đề cập, liên quan đến việc phân loại câu cầu khiến, các
nhà Hán ngữ học thường có thói quen phân thành ba loại, tức câu cầu khiến
mang hình thức khẳng định, câu cầu khiến mang hình thức phủ định và câu
cầu khiến có hình thức khẳng định và phủ định không tương xứng Thế nhưng,
nếu xét từ khía cạnh nội dung, vẫn có thể phân tách cầu khiến trong tiếng Hán
thành một số tiểu loại sau đây: (1) Biểu thị mệnh lệnh, (2) Biểu thị thỉnh cầu,
(3) Biểu thị cấm đoán, (4) Biểu thị mời mọc, (5) Biểu thị kiến nghị, (6) Biểu
thị khuyên bảo, (7) Biểu thị chán ghét, phẫn nộ
你帮我做一件事好吗? Xin anh giúp tôi một việc nhé!
请递给我那个杯子! Xin vui lòng đưa giúp tôi cái tách đó!
我打开窗户不会影你吧? Anh có thấy phiền nếu tôi mở cửa sổ không?
(3) Biểu thị cấm đoán
Trang 30我要求你立刻离开这果。Tôi đề nghị anh rời khỏi đây ngay lập tức
(6) Biểu thị khuyên bảo
Trang 31Nhìn từ khía cạnh hình thức, câu cầu khiến cũng bao gồm các phó từ: hãy, đừng, chớ (Các động từ tình thái có ý nghĩa cầu khiến) trước vị từ: nên, cần, phải và gồm các tiểu từ tình thái cuối câu: đi, lên, thôi, nào, đã, nhé…Hoặc các cấu trúc chứa động từ ngữ vi có ý nghĩa cầu khiến.
CHƯƠNG 2
SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
CỦA CÂU CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN
Trang 32
2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC
2.1.1 Đặc điểm cấu trúc câu cầu khiến trong tiếng Việt
Về mặt cấu trúc của câu, câu cầu khiến để đạt được mục đích giao tiếp
là “cầu khiến” nhất định phải có những đặc điểm khác biệt với các cấu trúc trần thuật, hỏi, cảm thán,… Trong đó, một cấu trúc ngữ nghĩa - cú pháp bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với tiền giả định dụng pháp Vì vậy trong quá trình nghiên cứu về cấu trúc câu cầu khiến, luận văn hướng tới làm rõ những vấn đề này
Về cấu trúc câu cầu khiến tiếng Việt hiện tồn tại hai hướng phân tích khác nhau: Nguyễn Thị Thanh Bình trong “Ngôn từ giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt”[29, tr.275] cho rằng một lời cầu khiến đầy đủ nhất bao gồm ba phần:
Xu hướng thứ nhất cho rằng một lời cầu khiến đầy đủ nhất bao gồm
ba phần:
- Thành phần báo hiệu
- Thành phần biểu hiện mệnh đề chính
- Thành phần bổ trợ
Ví dụ: Nam ơi, đừng khóc nữa, rồi chị cho ra chùa chơi
- Thành phần báo hiệu : Nam ơi
- Thành phần biểu hiện: đừng khóc nữa
- Thành phần bổ trợ: rồi chị cho ra chùa chơi
Hiện nay lối phân tích thành phần đầy đủ của lời cầu khiến như trên đang được nhiều người quan tâm Bởi ngoài nội dung cầu khiến cốt lõi được biểu hiện ở thành phần biểu hiện mệnh đề chính, lời cầu khiến còn thu hút sự
Trang 33chú ý của người nghe, thuyết phục người nghe thực hiện nội dung yêu cầu bằng ngữ nghĩa của thành phần báo hiệu và thành phần bổ trợ Hay nói cách khác, hiệu quả giao tiếp của lời cầu khiến phụ thuộc vào các thành phần này
Xu hướng thứ hai là xu hướng nghiên cứu cấu trúc cốt lõi (thành phần
biểu hiện mệnh đề chính)
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của mỗi thành tố tạo nên cấu trúc trong mối quan hệ với chức năng của nó trong câu, và chức năng của câu trong hoạt động giao tiếp, để từ đó phát hiện
ra mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc cú pháp của câu với tiền giả định dụng pháp của nó Vì vậy, một cấu trúc muốn trở thành một hệ thống hoạt động chức năng không thể không có các phương tiện tình thái
Ở đây chúng tôi tiến hành mô hình hóa cấu trúc câu cầu khiến thành hai loại:
Loại thứ nhất, là loại mà nội dung cầu khiến được chuyển tải bằng cấu trúc vị từ chứa các phương tiện tình thái như: phụ từ, động từ tình thái, tiểu từ tình thái, ngữ điệu
Loại thứ hai, là loại mà nội dung cầu khiến được chuyển tải bằng cấu trúc ngữ vi
Mô hình loại thứ nhất bao gồm những thành phần sau: Chủ thể tiếp nhận và thực hiện nội dung cầu khiến luôn luôn ở ngôi thứ hai số ít, số nhiều
(mày, chúng mày) và các danh từ làm đại từ nhân xưng lâm thời có ý nghĩa tương đương (anh, chị, các anh, các chị,…) hoặc ngôi gộp của ngôi thứ nhất
và ngôi thứ hai như chúng ta, chúng mình, được ký hiệu là C
Trang 34Vị ngữ cầu khiến là vị trí chuyển tải nội dung cầu khiến chính của câu,
thường được biểu hiện bằng vị từ hoặc vị từ + bổ ngữ, được ký hiệu là V
Các phương tiện tình thái cầu khiến: thông thường chúng trong câu
được phân thành hai nhóm, đứng trước V, đó là các phụ từ và động từ tình thái, ký hiệu là A, và nhóm tiểu từ tình thái đứng sau V, ở cuối câu, được ký hiệu là B
Loại câu cầu khiến này có dạng cấu trúc đầy đủ và tỉnh lược như sau: (1) C 2 - A - V - B
Lan hãy ngồi đây nhé!
Trang 35Đối với mô hình loại cấu trúc cầu khiến thứ hai, ngoài các thành phần
C và V, còn có thêm hai thành phần nữa Đó là chủ thể câu cầu khiến luôn ở
ngôi thứ nhất số ít hoặc số nhiều Vị trí này được biểu thị bằng đại từ nhân
xưng ngôi thứ nhất tôi, chúng tôi, được ký hiệu là C1 Động từ ngữ vi có giá trị cầu khiến xuất hiện trong quan hệ ngữ pháp là vị ngữ so với chủ thể cầu khiến, được ký hiệu là Đck
Loại thứ hai này có các dạng cấu trúc đầy đủ và tỉnh lược như sau: (1) C1 - Đck - C2 - V
Tôi đề nghị anh nói tiếp!
[Đổ Ảnh, Thử vận dụng quan điểm cấu trúc chức năng để nhận diện
miêu tả câu cầu khiến tiếng Việt (1990), Ngôn ngữ (2) tr.40]
Về mặt phương tiện tình thái cầu khiến các cấu trúc cầu khiến loại này có đặc điểm riêng biệt Giá trị cầu khiến trong các cấu trúc do các động từ ngữ vi
có giá trị cầu khiến như: (cấm, mời, xin, yêu cầu, đề nghị, cho phép…) đem lại Vì vậy trong bất cứ hoàn cảnh nào các câu chứa động từ có ý nghĩa cầu khiến này cũng có hiệu lực cầu khiến Cho nên, các động từ ngữ vi trên là các phương tiện chuyển tải tình thái cầu khiến – một loại phương tiện đặc biệt
Trang 362.1.2 Đặc điểm cấu trúc câu cầu khiến tiếng Hán
Tác giả Lưu Nguyệt Hoa trong cuốn Ngữ pháp thực hành tiếng Hán hiện đại cho rằng: câu cầu khiến biểu thị mệnh lệnh, yêu cầu khả năng làm
việc gì, và quyết định hình thức cấu tạo của nó, đặc điểm không giống với câu trần thuật, câu nghi vấn [37, tr.369-383] Vì vậy, ở phần này chúng tôi chủ
yếu tập trung khảo sát một số vấn đề dưới đây:
2.1.2.1 Động từ trong câu cầu khiến tiếng Hán
Mệnh lệnh là để ra lệnh cho người khác làm một việc nào đó, cho nên, bất luận là câu cầu khiến khẳng định hay câu cầu khiến phủ định bắt buộc đều phải dùng động từ chỉ động tác, nói cụ thể hơn là động từ biểu đạt động tác của con người Theo quan niệm thông thường, động tác mà động từ biểu đạt càng cụ thể, càng dễ dàng tạo thành câu cầu khiến, thế nhưng hoàn toàn không phải tất cả các động từ đều cấu thành câu cầu khiến
Có một số loại động từ sau đây cần phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định mới có thể trở thành câu cầu khiến:
Thứ nhất, một số động từ yêu cầu lặp lại, hoặc phụ thêm động lượng từ
“一下” (một chút, chút nào) ở phía sau Ví dụ:
Trang 37Những động từ loại này thông thường bao gồm: 醒 (tỉnh),叙 (thuật),
逛 (dạo),宣传 (tuyên truyền),反映 (phản ánh),活动 (hoạt động, vận động),打听 (hỏi thăm),… Các động từ như “歇”(nghỉ),“躺”(nằm) cũng không thể một mình cấu thành câu cầu khiến, nếu muốn sử dụng nó với nghĩa cầu khiến, chỉ có thể lặp lại hoặc thêm “一下” Bên cạnh đó, một số loại động
từ này lại có thể một mình cấu thành câu cầu khiến dạng phủ định như “别宣
传!” (Đừng tuyên truyền!), “别反应!” (Chớ phản ứng!), “别活动!” (Chớ hoạt động!), “别打听!” (Đừng hỏi dò!), Có khi động từ khi tham gia vào câu cầu khiến, việc lặp hay không lặp động từ sẽ cho ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Ví dụ:
(1) a 对方的代表来了,你们谈谈/一下吧。(Đại diện phía đối tác đến rồi, các vị bàn bạc đi nhé/ chút nhé!)
b 你们谈吧,我走了。(Các bạn bàn đi nhé/các bạn cứ bàn tiếp
đi nhé, tôi đi đây!)
(2) a 你们收拾收拾吧,我们不吃了。(Các vị cứ dọn đi, chúng tôi không ăn nữa đâu!)
b 你们收拾吧,我走了。(Các vị cứ dọn đi nhé/các vị cứ tiếp tục dọn đi nhé, tôi đi đây!)
Trong ví dụ (1) và (2), a biểu thị động tác chưa bắt đầu, b vừa có thể biểu thị động tác chưa bắt đầu, cũng có thể biểu thị động tác đã tiến hành được một khoảng thời gian
Thứ hai, có loại động từ muốn trở thành câu cầu khiến, cần thiết sau động từ phải có “着”, hoặc thêm “着” Ví dụ:
Trang 38跪着! Quỳ đó!
躺着! Nằm đó!
Nhưng hai ví dụ trên đây quyết không thể nói thành: 跪!hoặc 躺! Động từ loại này thông thường vừa có thể biểu thị động tác của con người, vừa có thể biểu thị một loại trạng thái, một kiểu tư thế sau động tác Ví như “仰” (ngẩng),“站” (đứng),“躺” (nằm), “跪” (quỳ), “伸” (vươn), “趴” (nằm sấp), “托” (ký thác), Về hình thức phủ định của loại này, cũng có thể thêm “别” (đừng, chớ) để biểu đạt, như “别跪!” (Đừng quỳ!), “别躺!” (Đừng nằm!),
Thứ ba, có thể thêm bổ ngữ vào phía sau động từ để tạo thành câu cầu khiến Ví dụ:
你批准吧! Cậu phê chuẩn nhé!
你代表! Anh thay mặt nhé!
Trang 39Trong số những động từ thuộc loại này, cũng có động từ có thể kết hợp với “别” để hình thành câu cầu khiến ở dạng phủ định Ví như “别批准!” (Chớ phê chuẩn)
Thứ năm, cần thiết tân ngữ cũng phải xuất hiện, bởi nếu không, đối tượng của động tác sẽ không rõ ràng Ví dụ:
帮助你弟弟!Hãy giúp em trai anh đi!
救人! Hãy cứu người!
Nhưng hai ví dụ trên đây quyết không thể nói thành: 帮助!hoặc 救! Thứ sáu, một số động từ khi cấu thành câu cầu khiến, yêu cầu trạng ngữ đồng thời phải xuất hiện Tức có một số động tác không chỉ do một phía hoàn thành, nên khi tổ hợp thành dạng khẳng định của câu cầu khiến, cần thiết phải nêu ra phía đối tác (tức người nghe), trong trường hợp này thông thường dùng các giới từ như “对” (dẫn ra đối tượng, biểu thị một cách nhìn nhận, đánh giá), “向” (dẫn ra đối tượng, biểu đạt sự kính trọng), “跟” (dẫn ra đối tượng, biểu đạt nghĩa hợp tác để hoàn thành động tác),…để nêu ra Ví dụ:
向他赔罪!Hãy tạ lỗi cùng anh ấy!
跟他道歉! Xin lỗi nó đi!
Một số động từ loại này có thể một mình cấu thành câu cầu khiến dạng phủ định, khi thêm “别”, “不要” (đừnng, không nên, không được phép) vào phía trước Ví dụ như: “别道歉!” (Đừng xin lỗi!), “别怕!” (Đừng sợ!), “别要求!” (Đừng yêu cầu!), “不要赔罪!” (Đừng xin lỗi!),…
Trang 40Thứ bảy, cần lấy hình thức liên động từ cấu thành nên câu cầu khiến
Có một số động tác bắt buộc phải rời khỏi vị trí hiện tại (ban đầu) mới có thể thực hiện, cho nên khi cấu thành câu cầu khiến, cần dùng hình thức liên động của kiểu này “去+动词” (đi + động từ) để biểu đạt Ví dụ:
去旅游吧! Đi du lịch đi!
去出差吧! Đi công tác đi!
Nhưng hai ví dụ trên đây quyết không thể nói thành: 旅游吧! hoặc 出
差吧!
Thứ tám, đôi khi phải đến dùng động từ năng nguyện “要” (phải, cần, nên),… Ví dụ:
要节约,不要浪费!Phải uống thuốc, không được lãng phí!
Cuối cùng, có một số động từ không thể một mình làm thành câu cầu khiến, khi cần phải thêm “请” (xin, xin hãy) vào phía trước mới có thể biểu đạt nghĩa cầu khiến Ví dụ:
请帮忙! Xin hãy giúp đỡ!
请指教!Xin dạy bảo cho!
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rõ rằng, động từ cấu thành câu cầu khiến phủ định ít bị giới hạn hơn so với việc cấu thành câu cầu khiến khẳng định Tất nhiên vẫn cần phải chú ý một điều, không phải tất cả mọi động từ đều có thể tổ hợp thành câu cầu khiến, ví dụ những động từ không mang tính động tác như 是 (là, tồn tại), 有 (có, tồn tại), 在 (ở, tồn tại),… và