Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy, cô và bạn đọc bài vở c
Trang 1MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài : lý luận, thực tiễn 2
II Mục đích nghiên cứu 4
III Đối tượng nghiên cứu 5
IV Đối tượng khảo sát, thực nghiệm 5
V Phương pháp nghiên cứu 5
VI Phạm vi và thời gian nghiên cứu 6
B NỘI DUNG
I Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu 6
II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 7
III Mô tả, phân tích các giải pháp 8
1 Rèn cho học sinh thực hiện tốt nề nếp học tập, tư thế ngồi viết, cách cầm bút,
để vở khi viết 8
2 Dạy cho học sinh kĩ năng viết đúng, viết đẹp 12
3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Tập viết 19
4 Kết hợp song song và đồng bộ với các môn học khác 23
5 Khắc sâu những lỗi học sinh thường gặp khó khăn 24
6 Tổ chức các trò chơi, phong trào thi đua “Giữ vở sạch-Viết chữ đẹp” 25
II Đề xuất, kiến nghị 29
Tài liệu tham khảo31
Nhận xét đánh giá của Hội đồng khoa học cấp trường 32
Nhận xét đánh giá của Hội đồng khoa học cấp huyện 33
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng Để học tốt được TiếngViệt học sinh cần được rèn luyện qua 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Rèn kĩ năngviết chữ là việc rất cần thiết và không bao giờ thiếu được khi dạy Tiếng Việt, đặcbiệt là dạy cho học sinh đầu cấp Tiểu học, nó đặt nền móng cơ bản cho toàn bộquá trình học tập, rèn luyện của các em Như cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói
"Chữ viết cũng là một biểu hiện của người viết Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy, cô và bạn đọc bài vở của mình”.
Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng Việt và tập viết Tiếng Việt là chúng
ta đã trao cho các em chìa khóa để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, làcông cụ để các em vận dụng suốt đời Bởi vậy, chữ viết và dạy viết được cả xãhội quan tâm Nhiều thế hệ thầy cô giáo đã trăn trở, góp công, góp sức để cải tiếnkiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy học chữ viết Tuy vậy, nhiều họcsinh vẫn viết sai, viết chưa chuẩn, viết chậm Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tớicác môn học khác
Là một giáo viên ,việc nghiên cứu giáo dục lại là một vấn đề hết sức cầnthiết Đó là niềm vinh dự cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ phải thực hiện; tổ chứccho các em bằng những phương pháp tích cực giúp các em nắm bắt, tiếp thu kiếnthức có hiệu quả Với suy nghĩ, trăn trở như vậy trong quá trình giảng dạy theođúng nhiệm vụ năm học 2022-2023, tôi luôn nghiên cứu tìm hiểu phương pháplàm thế nào để rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh lớp 1, với mục đích góp phầnvào việc đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả của giờ học
Trong năm học này, bản thân tôi trực tiếp dạy lớp 1, tôi đã đầu tư nhiềuthời gian để tìm ra phương pháp, biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 đạtkết quả cao Để góp phần nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, hôm nay tôimạnh dạn đưa ra đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh lớp
1” để tiến hành nghiên cứu.
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT
CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 1
Trang 31 Cơ sở lý luận
Từ ngàn xưa, trong nền văn hóa của dân tộc, chữ viết đã được ông cha ta rấtcoi trọng Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường dùng thành ngữ “Văn haychữ tốt” để khen những học trò giỏi Rõ ràng chữ viết cũng được coi trọng chẳngkém gì nội dung văn chương Chữ viết đẹp, dễ xem sẽ gây được thiện cảm chongười đọc Mặt khác, chữ viết phần nào phản ánh ý thức rèn luyện, óc thẩm mỹ
và tính nết của con người. Song song với đó thì tâm lý chung của học sinh Tiểu
học là ngây thơ, hay bắt chước, học đòi, không nhớ lâu và trẻ rất thích tiếp thunhững cái mới, cái lạ
Trẻ tiếp thu hình ảnh của chữ viết qua mắt Ngoài chức năng ghi nhận hìnhchữ, mắt còn có nhiệm vụ hướng dẫn, tác động để tái hiện các đường nét của chữviết Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình dạng của mẫu chữ.Chỉ sau một số lần luyện tập, số lần nhắc đi nhắc lại nhiều hay ít tuỳ theo từng
em thì các em mới chép lại đúng mẫu
Khi cầm bút (nhất là trẻ lớp 1) các em có tâm lý sợ rơi bút ra khỏi lòng bàntay nên đã có một phản ứng tự nhiên là các em cầm bút chặt, cầm bút bằng bốnhoặc năm ngón tay Vì thế, các cơ tay căng nên khi viết vận động cổ tay, cánh tay
sẽ mau mệt mỏi, rất khó di chuyển dẫn đến sức chú ý kém, kết quả chữ viếtkhông đúng, không nhanh
Đối với học sinh lớp 1, việc dạy viết trọng tâm là rèn kĩ năng viết các chữcái cỡ vừa và nhỏ, tập ghi dấu thanh đúng vị trí, làm quen với chữ hoa cỡ lớn và
cỡ vừa theo mẫu quy định Rèn chữ viết cho học sinh không chỉ rèn luyện chocác em kĩ năng viết chữ đẹp, viết đúng, viết nhanh phục vụ tốt cho việc chép đểhọc tốt các môn học khác mà còn rèn cho các em tính cẩn thận, tỉ mỉ, tính kỉ luật
Trang 4Phụ huynh cũng rất quan tâm đến việc học tập của con em mình
Nhà trường, ngành giáo dục luôn quan tâm đến chất lượng chữ viết của các
em ngay từ lớp 1 nên đã đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ: Bộ chữ mẫu của giáo viên,các bảng chữ mẫu (với nhiều kiểu chữ) để cho học sinh quan sát, Ti vi để hỗ trợcho việc dạy học bằng phần mềm công nghệ số, bài giảng điện tử
2.2 Khó khăn
Dựa vào kết quả theo dõi tình hình chữ viết của học sinh trong đầu năm học
2022 – 2023, tôi nhận thấy các em học sinh lớp 1 gặp rất nhiều khó khăn khi viếtchữ như:
+ Chưa xác định được đường kẻ ngang, đường kẻ dọc; điểm đặt bút, điểmdừng bút khi viết chữ; khoảng cách viết giữa các con chữ và các chữ trong từ + Các em viết không đúng mẫu chữ, ngồi viết chưa đúng tư thế, chưa tậptrung vào bài, còn mải chơi, hay đùa nghịch
+ Chưa nắm được độ cao, độ rộng của từng con chữ; nối nét giữa các conchữ chưa được đẹp (ch, tr, nh, ph, ng, ngh, gh, gi), chưa nắm được cấu tạo nét,điểm đặt bút, dừng bút của các nét cơ bản, các con chữ … Chưa nắm được quytrình viết hay viết ngược chữ
+ Các em chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học nhiều hơn, phảiviết nhiều nên các em mỏi tay dẫn đến nản trí khi viết
+ Bên cạnh đó gia đình học sinh đa số ở vùng nông thôn sống bằng nghềnông, gia đình đông con, hoàn cảnh kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nên cha
mẹ chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con em
+ Bản thân mỗi em chưa phát huy được tính tự học tự rèn ở trường cũngnhư ở nhà Mặt khác phụ huynh chưa đôn đốc nhắc nhở còn thơ ơ với việc họctập
+ Các em còn ham chơi hơn ham học
II Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nghiên cứu là giới thiệu những biện pháp tích cựctrong việc dạy chữ viết Tiếng Việt , góp phần giúp học sinh lớp 1 viết đúng vàđẹp Thông qua các biện pháp này tôi có thể nâng cao kiến thức của bản thân và ýthức được việc nghiên cứu , tìm tòi phương pháp giảng dạy là một nhu cầu cũngnhư nhiệm vụ của mình Đồng thời tìm ra những cơ sở lí luận, vai trò vị trí,nhiệm vụ và phương pháp dạy học, hệ thống hóa những vấn đề lí luận có liênquan đến đề tài Ngoài ra còn khảo sát quá trình dạy học tập viết ở trường Tham
Trang 5khảo 1 số phương pháp của các bạn đồng nghiệp , của các nhà nghiên cứu trên cơ
sở tìm ra những cái hay, cái đúng và những cái còn hạn chế , từ đó biết cải tiến ,
áp dụng vào trường lớp của mình và đề xuất những biện pháp tích cực, khắc phụchạn chế của việc dạy chữ viết rèn chữ viết cho học sinh lớp 1, giải quyết nhữngkhó khăn trong giảng dạy cũng như trong công tác chủ nhiệm của mình Rèn chữcho học sinh làm cho học sinh có tính cẩn thận , óc thẩm mỹ, kiên trì và chịu khó.Qua đó , giáo dục các em ý thức tự trọng và tôn trọng người khác
III Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những biện pháp góp phần rèn chữviết cho học sinh lớp 1 ở trường tiểu học hiện nay nói chung và học sinh lớp 1A2trường Tiểu số 1 Phước Quang nói riêng
Tổng số học sinh 33 em, trong đó nữ 21 em
IV Đối tượng khảo sát, thực nghiệm
- Đối tượng khảo sát, thực nghiệm là học sinh lớp 1A2, Trường Tiểu học
số 1 Phước Quang
V Phương pháp nguyên cứu
Để việc nghiên cứu đạt kết quản tốt, tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiêncứu, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:
Phương pháp điều tra
Theo dõi, kiểm tra chất lượng chữ viết của học sinh trong lớp
Phương pháp đàm thoại, trao đổi
Cùng với giáo viên trong tổ chuyên môn, tôi bàn bạc và trao đổi về phươngpháp, cách rèn chữ viết cho học sinh lớp 1
Phương pháp thực nghiệm
Khi đưa ra biện pháp khắc phục, tôi áp dụng trực tiếp vào quá trình giảngdạy ở lớp Vận dụng giải pháp mới vào giảng dạy để rút ra kết luận Song songvới biện pháp, tôi luôn tìm ra cách rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh lớp 1 saocho phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học, không làm cho môn học trởnên đơn điệu, học sinh nhàm chán, lười luyện viết
Không hướng dẫn sơ lược hoặc giao hẳn phần luyện viết cho học sinh màphải thường xuyên quan tâm đến học sinh, khuyến khích các em chú ý đến việcrèn kĩ năng viết
Trang 6Phương pháp thống kê
Tôi sử dụng các bài kiểm tra trước khi thực nghiệm và sau khi thực nghiệm
để tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả khi chưa thực hiện giải pháp mới với khi
đã thực hiện giải pháp mới
VI Phạm vi và thời gian nghiên cứu
1 Phạm vi nghiên cứu
Qua việc dạy và học ở đơn vị mà tôi công tác, tôi đã khảo sát và tìm ra được
những sai lầm về kĩ thuật viết chữ của học sinh lớp 1 cũng như nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó Từ đó, tôi đưa ra biện pháp khắc phục những sai lầm này
trong quá giảng dạy để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 1
2 Thời gian nghiên cứu
và Đào tạo đã có quyết định về việc tổ chức thi viết chữ đẹp hàng năm cho giáoviên và học sinh tiểu học Chính tầm quan trọng đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đãban hành Quyết định số 31/QĐ-BGD&ĐT ngày 14/6/2002 về việc ban hành mẫuchữ viết trong trường tiểu học, cũng như hướng dẫn số 5150/TH/BGD&ĐT ngày17/02/2002 về việc hướng dẫn dạy và học viết chữ ở trường tiểu học Cho đếnnay đã khơi dậy trong học sinh, giáo viên và xã hội về ý thức cần viết chữ đẹp.Đây chính là việc nhìn nhận tầm quan trọng về ý nghĩa của chữ viết
“Nét chữ, nết người” chữ viết là một công cụ giao tiếp, trao đổi thông tin, làphương tiện để ghi chép, tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đời sống.Không những thế chữ viết còn thể hiện tính cách con người Vì vậy, dạy học sinhviết chữ, từng bước làm chủ được công cụ chữ viết để phục vụ cho học tập vàgiao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của môn Tiếng Việt, cũng như các mônhọc khác
Tiếng Việt là môn học có vai trò quan trọng đối với học sinh tiểu học nóichung và học sinh dân tộc thiểu số nói riêng Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
Trang 7nhằm trang bị cho học sinh một công cụ để giao tiếp, phát triển tư duy là cơ sởcho việc học tập các môn học Trong bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết chúng takhông quá coi trọng kĩ năng này mà cũng không coi nhẹ kĩ năng khác Chúngluôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau Một học sinh có kĩ năng viết nhanh, đẹp thì việctiếp thu kiến thức của môn học sẽ tốt hơn, tư duy phát triển nhanh hơn và dẫn đếnkhả năng đọc, nói cũng tốt hơn.
Việc rèn chữ viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinhnhững phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, kỉ luật, óc thẩm mĩ Chính vì lí
do đó năm 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định 31 về việc thay đổimẫu chữ viết trong trường Tiểu học gồm có 4 kiểu chữ:
+ Kiểu chữ viết đứng - nét đều
+ Kiểu chữ viết nghiêng - nét đều
+ Kiểu chữ viết đứng - nét thanh nét đậm
+ Kiểu chữ viết nghiêng - nét thanh nét đậm
Trong đó có kiểu chữ viết nghiêng nét thanh - nét đậm được đặc biệt chú ý, bởikhi viết kiểu chữ này là một nghệ thuật, nét chữ mềm mại, mượt mà hơn Tuynhiên, sau mỗi lần thay đổi như vậy lại có những điều làm được và chưa làmđược Thực trạng chữ viết của học sinh hiện nay còn chưa đúng mẫu Các em cònviết sai chính tả, viết quá chậm hay có những học sinh viết tốt, viết nhanh, làmtính giỏi nhưng chữ viết lại chưa đẹp, trình bày chưa sạch sẽ, rõ ràng thì khôngthể trở thành một học sinh giỏi toàn diện được Điều đó ảnh hưởng không nhỏđến chất lượng học tập của các em
II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Qua những năm được giảng dạy ở trường Tiểu học và trực tiếp giảng dạylớp 1, tôi nhận thấy thực trạng chung trong chữ viết của học sinh hiện nay:
+ Chữ viết chưa đúng độ cao, độ rộng của từng con chữ
+ Điểm đặt bút, dừng bút chưa đúng; chữ viết chưa liền mạch
+ Dấu thanh, dấu phụ ghi chưa đúng vị trí, đa số viết dấu quá to, dấu đặt xachữ, có em viết dấu chạm vào chữ, dấu không đúng chữ ghi âm chính
+ Chữ viết chưa được đẹp, các nét nghiêng ngả, khoảng cách các chữ khôngđều, Đặc biệt, càng lên lớp trên các em càng lười rèn chữ viết nên chữ của các
em càng ngày càng không đúng mẫu, chưa chuẩn
+ Học sinh được luyện viết nhiều nhưng chỉ tiêu “rèn chữ giữ vở” ở các lớpcòn chưa đạt, năm nay đạt, năm sau mất
Trang 8Để theo dõi khảo sát trình độ chữ viết của 33 học sinh lớp 1A2 đầu nămhọc 2022-2023, tháng 9 năm 2022, tôi cho học sinh thực hiện bài kiểm tra sau:
Sau khi chấm bài tôi thu được kết quả như sau:
Bài tập Viết đẹp Viết đúng Viết chậm
Viết khôngđúng mẫuSố
III Mô tả, phân tích các giải pháp
1 Rèn cho học sinh thực hiện tốt nề nếp học tập, tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở khi viết
1.1 Một số quy định về nề nếp học tập
Tôi hướng dẫn cho học sinh nắm được một số các kí hiệu mà tôi đã quy định
và ghi kí hiệu này lên góc trái phía trên bảng để các em thực hiện trong các giờhọc như sau:
- Kí hiệu ngồi đúng tư thế học tập và trật tự khi giáo viên chỉ vào trong hình:
- Kí hiệu lấy bảng khi giáo viên chỉ vào trong hình, cất bảng khi giáo viênchỉ ra ngoài hình:
- Kí hiệu V: vở ( mở vở khi giáo viên chỉ vào kí hiệu )
- Kí hiệu ngồi giãn khoảng cách khi giáo viên chỉ vào hình:
- Kí hiệu ngồi thẳng lưng khi giáo viên chỉ vào hình:
Trang 9Việc hướng dẫn học sinh thực hiện tốt các kí hiệu trên nhằm mục đích đảm bảo tính kỉ luật, trật tự trong lớp học, giúp học sinh tập trung chú ý vào các hoạtđộng học tập tránh gây mất trật tự và lộn xộn trong giờ học nhất là khi thao tác sửdụng đồ dùng học tập
1.2 Tư thế ngồi viết
Hoạt động viết thuận lợi phụ thuộc rất nhiều vào tư thế ngồi viết và cách cầmbút Việc giúp học sinh ngồi viết đúng tư thế và cầm bút đúng sẽ giúp các em viếtđúng và viết nhanh được Bởi vậy, muốn rèn chữ cho học sinh trước hết giáo viênphải rèn cho các em tư thế ngồi viết đúng: lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầuhơi cúi, mắt cách vở 25 - 30cm, tay phải cầm bút, tay trái tì nhẹ lên mép vở đểgiữ, hai vai ngang bằng, hai chân để song song vuông góc với mặt đất, thoải mái.Học sinh mới vào lớp 1 chưa có khái niệm về đơn vị đo độ dài nên chưa thể
tự ước lượng được khoảng cách từ 25cm - 30cm Vì thế, tôi đã hướng dẫn các emcách ngồi viết như sau: cho học sinh chống cùi chỏ tay trên mặt bàn, ngửa bàntay ra, áp trán vào sát lòng bàn tay để ước lượng khoảng cách mặt với vở và luôngiữ ở vị trí cố định như vậy khi viết, em nào quên có thể tự ước lượng lại được
Hình ảnh các bạn học sinh lớp 1A2 trong giờ học Tập viết
Để học sinh ngồi viết đúng tư thế, tôi cho các em đọc và làm theo nội dungsau:
“Lưng thẳng, đầu hơi cúi, ngực không tì vào bàn,.
Trang 10Tay phải cầm bút, tay trái giữ vở, hai chân để song song thoải mái.” 1.3 Cách cầm bút
Bút được cầm đúng với 3 ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa Khi viết
ba ngón này sẽ tạo độ linh động và đảm nhận vai trò viết chữ Đầu ngón trỏ cầmbút cách ngòi 2,5cm là vừa phải, cầm bút xuôi theo chiều ngồi, thân bút tạo vớimặt phẳng giấy là 45 độ Tuyệt đối không được cầm bút dựng đứng 90 độ Lòngbàn tay và cánh tay làm thành một đường thẳng
Cần hướng dẫn cho học sinh cách đặt bút viết bằng 2 cách:
+ Bút có thể nghiêng sang bên phải một chút, mặt ngòi viết luôn song songvới dòng kẻ ngang
+Thân bút ngả về vai, đầu ngòi tiếp xúc hoàn toàn với giấy
Hình ảnh cầm viết đúng của học sinh lớp 1A2
Đối với những học sinh gặp khó khăn trong cách cầm bút Luôn cầm búttheo thói quen dựng đứng 90 độ thì lúc bắt đầu viết, tôi cho các em viết bút chì2B và kèm theo đó là 1 sợi dây để giữ nguyên vị trí khi cầm bút Sau một thời
Trang 11gian, thói quen cầm bút dựng đứng sẽ biến mất và thay thế vào đó là cách cầmbút đúng (thân bút tạo với mặt giấy là 45 độ).
Hình ảnh cách hỗ trợ đối với những học sinh gặp khó khăn trong cách cầm bút
1.4 Cách để vở, xê dịch vở khi viết
Khi viết chữ đứng học sinh cần để vở ngay ngắn trước mặt Nếu tập viết chữnghiêng (tự chọn) cần để vở hơi nghiêng sao cho mép vở phía dưới cùng với mépbàn tạo thành một góc khoảng Khi viết độ nghiêng của nét chữ cùng vớimép bàn sẽ tạo thành một góc vuông như vậy dù viết theo kiểu chữ đứnghay chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước mặt (chỉ khác nhau về cách đểvở) Khi viết xuống những dòng dưới, các em tự đẩy vở lên trên để cánh tay luôn
tì lên mặt bàn làm điểm tựa khi viết
- Trước lúc viết tôi thường cho học sinh nhắc lại tư thế ngồi học, cách cầm
bút để vở để học sinh thực hiện theo đúng quy định Trong quá trình học sinh viếtrất hay quên, thay đổi tư thế ngồi đúng, lúc đó tôi lại phải kiên nhẫn chỉnh sửacho từng em Lặp đi lặp lại nhiều lần, các em cũng dần dần ngồi đúng, cầm bútđúng
Trang 12- Mặt khác tôi phô tô gửi mỗi phụ huynh một bản hướng dẫn về tư thế ngồi
học, cách cầm bút, để vở Khuyên phụ huynh mua bảng chữ mẫu viết thường của
Bộ Giáo dục và Đào tạo để hướng dẫn học sinh luyện viết ở nhà
2 Dạy cho học sinh kĩ năng viết đúng, viết đẹp
2.1 Cách xác định tọa độ và chiều hướng chữ
Để rèn cho học sinh kĩ năng viết chữ thì công đoạn đầu tiên là tôi hướng
dẫn học sinh nắm chắc các thuật ngữ: “Đường kẻ ngang 1, đường kẻ ngang 2, ….
đường kẻ ngang 5; đường kẻ dọc 1, đường kẻ dọc 2, … đường kẻ dọc 5” ở trong
vở ô li, vở Tập viết, trên bảng con, bảng lớp
Đường kẻ ngang
Đường kẻ dọc
Cách xác định tọa độ trên khung chữ phải dựa vào đường kẻ dọc, đường kẻngang và các ô vuông làm định hướng Đây là một trong những điều kiện để dạychữ viết thành một quy trình Quy trình được thực hiện lần lượt bởi các thao tác
mà hành trình ngòi bút đi qua tọa độ các chữ
Xác định tọa độ cấu tạo các chữ viết hoa đều phải căn cứ vào các ô vuôngcủa khung chữ mẫu để phân tích cách viết
2.2 Hướng dẫn học sinh nắm chắc các thuật ngữ
Ngoài việc thống nhất các khái niệm về đường kẻ, ô vuông như trên, để việc
tổ chức dạy tập viết có hiệu quả hơn, cần chú ý thêm một số thuật ngữ có liênquan:
+ Điểm đặt bút là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái Điểm đặt bút
có thể nằm ngay trên đường kẻ ngang, hoặc không nằm trên đường kẻ ngang
Ví dụ:
Điểm đặt bút nằm ngay trên đường Điểm đặt bút không nằm trênđường kẻ ngang (chữ y) đường kẻ ngang (chữ q)
Trang 13+ Điểm dừng bút là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái, đa số điểmkết thúc ở 1/3 đơn vị chiều cao của thân chữ Riêng đối với con chữ o vì là nétcong tròn khép kín nên điểm đặt bút trùng với điểm dừng bút Điểm dừng có thểtrùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
Trường hợp 1: Nét móc của chữ cái trước nối với nét móc đầu tiên của chữcái sau Ví dụ: a – m – am
Trường hợp 2: Nét cong cuối cùng của chữ cái trước nối với nét móc đầu tiêncủa chữ cái sau Ví dụ: c – ư – cư
+ Kĩ thuật rê bút: Rê bút là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấytheo đường nét viết trước hoặc tạo ra vệt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên.+ Kĩ thuật lia bút: Lia bút là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sangđiểm đặt bút khác, không chạm vào mặt giấy Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên đểđưa nhanh sang điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặtgiấy
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ t, hướng dẫn như sau :
Nét 1: Đặt bút trên đường kẻ 2 (ĐK2), viết nét xiên phải đến ĐK2 dừnglại
Nét 2: Từ điểm dừng bút của nét 1, lia bút lên tới ĐK4 rồi chuyển hướngngược lại viết nét móc ngược phải; dừng bút ở ĐK2
Trang 14Nét 3: Từ điểm dừng bút của nét 2, lia bút lên ĐK3 viết nét thẳng ngangngắn (viết nét trùng với đường kẻ)
Học sinh nắm chắc cách viết các nét sẽ nắm được cấu tạo của từng chữ cái
và việc nối chữ cái thành chữ sẽ dễ dàng hơn
Để học sinh viết không bị rời rạc, đứt nét phải nhấn mạnh hơn chỗ nối nét,nối chữ nhất là chỗ rê bút, nhắc các em viết liền mạch đến đâu mới được nhấcbút, ở phần đầu học chữ ghi âm, học âm nào học sinh nắm chắc độ cao, độ rộng,từng nét từng chữ Khi dạy sang phần vần, tuy không cần hướngdẫn quy trìnhviết từng con chữ song tôi vẫn thường xuyên cho học sinh nhắc lại độ cao cácchữ cái, những chữ cái nào có độ cao bằng nhau, khoảng cách giữa các chữ cáitrong mộtchữ, giữa chữ với chữ
2.3 Luyện viết các nét cơ bản
Tôi sẽ hướng dẫn cho học sinh nắm chắc và viết tốt các nét cơ bản của chữ;nắm được tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản bao gồm: Nét ngang, nét sổthẳng, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu(là kết hợp của nét móc xuôi và nét móc ngược), nét cong hở phải, nét cong hởtrái, nét cong khép kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt, nét gút
* Cách viết nét cong
+ Nét cong hở phải: Điểm đặt bút bên dưới đường kẻ thứ ba một chút, đưa
nét bút sang trái và lượn cong xuống chạm đến nét một rồi đưa bút về bên phải vàlượn cong cho đến điểm dừng bút khoảng ở giữa đường kẻ 1 và đường kẻ 2.Điểm dừng bút lệch về phía phải một chút so với điểm đặt bút
+ Nét cong hở trái: Điểm đặt bút bên dưới đường kẻ ba một chút, đưa nét
bút sang phải và lượn cong xuống cho đến đường kẻ 1 rồi đưa bút về bên trái vàlượn cong lên cho đến điểm dừng bút khoảng ở giữa đường kẻ 1 và đường kẻ 2.Điểm dừng bút lệch về phía trái so với điểm đặt bút một chút
+ Nét cong kín: Điểm đặt bút bên dưới đường kẻ 3 một chút, đưa nét bút
sang trái và lượn cong xuống chạm đường kẻ 1 rồi đưa bút về bên phải và lượnlên cho đến khi chạm nét đặt bút
Trang 15
* Cách viết nét móc
+ Nét móc xuôi: Điểm đặt bút từ đường kẻ 2 lượn sang bên phải về phía trên
chạm đường kẻ 3 rồi kéo thẳng xuống chạm đường kẻ 1 Độ rộng của đườngcong gần ½ đơn vị
+ Nét móc ngược, móc hai đầu, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt,nét gút: điểm bắt đầu, điểm uốn lượn, điểm dừng bút
Học sinh được luyện viết các nét trên vào bảng con nhiều lần, vì khi các nét
cơ bản này có viết đẹp thì sẽ viết đẹp các con chữ
2.4 Rèn viết đúng trọng tâm các nhóm chữ
* Nhóm 1: Gồm các chữ m, n, u, ư, i, t, v, r, p
Với nhóm này, các lỗi học sinh hay mắc là viết chưa đúng nét nối giữa các nét,nét móc thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường bị choãi chân ra không đúng
Cách khắc phục:
+ Cho học sinh luyện viết nét sổ có độ cao 2 ô li, sau đó mới viết nét mócxuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu có độ cao 2 ô li thật đúng, thật thẳng + Khi học sinh viết thành thạo các nét đó, cho học sinh ghép các nét thànhchữ Khi ghép chữ luôn chú ý điểm đặt bút, điểm dừng bút, độ cao, độ rộng củamỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp
* Nhóm 2: Gồm các chữ b, l, h, k, y
Các lỗi hay mắc: Học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét, chữ viết còncong vẹo
Cách khắc phục:
Trang 16+ Trước tiên cho bé viết nét sổ thẳng có độ cao 5 ô li một cách ngay ngắn,thành thạo để rèn tư thế cầm bút chắc chắn cho học sinh
+ Sau đó dạy bé viết nét khuyết trên có độ cao 5 ô li, độ rộng trong lòng 1 ô li
* Nhóm 3: Gồm các chữ o, ô, ơ,a, ă, â, c, x, d, đ, q, g, e, ê, s
Các lỗi hay mắc: Viết chữ o chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữkhông tròn đều đầu to, đầu bé, chữ o méo Hầu hết các em viết chữ o chưa đượcđẹp
2.5.Luyện viết chữ thường
Ở mỗi giờ tập viết, tôi luôn yêu cầu các em phải nắm vững cấu tạo từng conchữ (hình dáng, độ cao, độ rộng)
+ Các chữ cái b, g, h, k, l, y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị
+ Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị
+ Chữ cái d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị
+ Các chữ cái còn lại o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, n, m, v, x được viết vớichiều cao 1 đơn vị
+ Các chữ s, r được viết với chiều cao hơn 1 đơn vị
+ Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị+ Quy trình viết các con chữ (điểm đặt bút, điểm uốn lượn, điểm dừng bút)
Ví dụ: Khi viết chữ g: điểm đặt bút ở dưới dòng kẻ ba một chút và điểm dừngbút ở dòng kẻ hai (chữ g kéo xuống 2,5 đơn vị)
Trang 17Khi viết phải viết liên kết, viết liền mạch trong một chữ, chỗ nào cần nối nétbằng nét phụ Muốn thế, khi giáo viên viết mẫu trên bảng phải viết chậm, vừaviết, vừa thuyết trình cho các em nghe, thấy để các em quen dần.
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh viết từ xinh đẹp
x nối với inh → xinh
đ nối với ep → đep → thêm dấu nặng → đẹp
2.6 Luyện viết dấu phụ và dấu thanh
Quy trình viết dấu thanh (và dấu phụ) là một khâu không thể thiếu trong quytrình chung viết chữ ghi âm tiếng Việt
* Viết dấu phụ
Dấu ở các chữ cái ă, â, ê, ô, đặt ở vị trí phía trên đầu các chữ cái Điểm caonhất của dấu không quá 1/3 đơn vị, điểm thấp nhất của dấu không chạm vào đầucác chữ cái (cách đầu chữ cái một khe hở), chiều ngang của dấu bằng 1/3 đơn vịchữ
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ ă, hướng dẫn như sau:
Nét 1: Đặt bút dưới đường kẻ 3 (ĐK3) một chút, viết nét cong kín từ phảisang trái
Nét 2: Từ điểm dừng bút của nét 1, lia bút lên ĐK3 viết nét móc ngượcphải sát nét đường cong kín Đến ĐK2 dừng lại