Tình dục là một chủ đề nhạy cảm nhưng cũng là một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con người. Việc đưa yếu tố này vào các đoạn phim ngắn âm nhạc (Music Video – MV) đã xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ 20 ở các nước châu Âu (e.g., Busby, 1975, as cited in L. Monique Ward 19952015, p.562). Tuy nhiên, để được xuất hiện được trên những phương tiện truyền thông, nhà sản xuất không thể phô bày trực tiếp hình ảnh tình dục thông thường, vì nhiều vấn đề có liên quan, từ yếu tố khách quan như kiểm duyệt cho đến yếu tố chủ quan là nhãn quan nghệ thuật. Chính vì thế, yếu tố tình dục hóa ra đời, đưa ra một khái niệm mới về việc đưa những hình ảnh ẩn dụ về tình dục lên các phương tiện truyền thông đại chúng. Trên thực tế, điều này đã được diễn ra từ sớm trong dòng chảy nghệ thuật Việt Nam. Ví dụ như ở những bài thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương hay trong những câu hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên, đến tận bây giờ khái niệm tình dục hóa vẫn chưa được giải thích cụ thể ở Việt Nam. Dẫu vậy, việc các yếu tố tình dục hóa vẫn xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, cụ thể là ở những MV, cho thấy chúng vẫn luôn tồn tại và dần dần được bình thường hóa. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các MV Việt có xu hướng xuất hiện ngày càng nhiều yếu tố gợi dục. Có thể kế đến là các MV như Mời anh vào team em (2018) của Chi Pu, Tự tâm (2019) của Nguyễn Trần Trung Quân Denis Đặng, Đi đu đưa đi (2019) của Bích Phương,... Nhìn chung, các MV trên đều có những hình ảnh về một đối tượng, mà phần lớn là phụ nữ, gắn liền với tình dục. Bên cạnh đó là những hình ảnh đồ vật được tình dục hóa (sexualized objectification), có thể kể đến như các loại trái cây. Ngoài yếu tố nội dung, các video âm nhạc nói trên có cũng có ca từ ẩn ý về tình dục.
Trang 1HCMTrường ĐHKHXH&NV
ĐHQG-Ngày nhận
hồ sơ
Do P.ĐN&QLKH ghi Mẫu: SV02
Tên đề tài: CÁC YẾU TỐ TÌNH DỤC HÓA XUẤT HIỆN TRONG SẢN PHẨM
NHẠC POP Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2018 ĐẾN 2021 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần tham gia thực hiện đề tài STT Họ và tên Vai trò Điện thoại Email
1.
1 Lê Diễm Hạnh Chủ nhiệm 0937274494 2056031008@hcmussh.edu.vn
2 Nguyễn Ngọc Minh Châu Tham gia 0349272738 2056031106@hcmussh.edu.vn
3 Ngô Ngọc Phương Quyên Tham gia 0939706415 2056031028@hcmussh.edu.vn
4. Mai Nguyễn Xuân Thi Tham gia
0837554693 1956031102@hcmussh.edu.vn
TP.HCM, tháng 5 năm 2023
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG
NĂM HỌC 2022– 2023
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Khoa/Bộ môn Báo chí và Truyền thông
TÊN ĐỀ TÀI CÁC YẾU TỐ TÌNH DỤC HÓA XUẤT HIỆN TRONG SẢN PHẨM NHẠC POP Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2018 ĐẾN 2021 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngày ……
tháng…… năm 2023
Người hướng dẫn
(Ký và ghi họ tên)
Ngày ……
tháng…… năm 2023
Chủ nhiệm đề tài
(Ký và ghi họ tên)
Ngày ……
tháng…… năm 2023
Chủ tịch Hội đồng
(Ký và ghi họ tên)
Ngày ……
tháng…… năm 2023
Phòng ĐN&QLKH
(Ký và ghi họ tên)
TP.HCM, tháng
05 năm 2023
Trang 3Bên canh đó , nhóm nghiên cứu cũng xin dành lờ i cảm ơn 400 cộng tác viên hiện đang
là sinh viên đến từ các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
đã góp phần rất lớn giúp nhóm nghiên cứu xây dựng, phát triển và hoàn thành đề tài này.Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu, các nhà sáng tạo nội dung, các cá nhân, tổ chức trong và ngoà i nước đãcung cấp những tà i liệu quý giá để nhóm nghiên cứu có những nhận đi ̣ nh đa chiều, những cơ sở lý thuyết đúng đắn.Trong quá trình thưc hiện đề tài, nhóm nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót
và sai phạm gây ảnh hưởng đến những người có liên quan Nhóm nghiên cứu cũng xin chân thành gửi lời xin lỗi, đồng thời cảm ơn quý vi ̣đã thông cảm và bỏ qua cho nhóm.Nhóm nghiên cứu rất trân trong và xin đón nhận moi ̣ ý kiến đóng góp, thắc mắc để có thể cải thiện tốt hơn cho những nghiên cứu của nhóm trong tương lai
Chân thành cảm ơn
TP.HCM, ngày 11 tháng 05 năm 2023
Nhóm nghiên cứu 4
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Nhóm nghiên cứu chúng tôi gồm 4 thành viên:
- Lê Diễm Hạnh
- Ngô Ngọc Phương Quyên
- Nguyễn Ngọc Minh Châu
- Mai Nguyễn Xuân Thi
Hiện đang là sinh viên khoa Báo chí - Truyền thông, ĐH KHXH&NV, ĐHQG TPHCM.Chúng tôi xin cam đoan rằng đề tà i nghiên cứu khoa hoc ̣ “Thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đối với những yếu tố tình dục hoá xuất hiện trongcác sản phẩm nhạc POP ở Việt Nam từ năm 2018 đến 2021” đươc chúng tôi thực hiện c ̣ông khai dưa tr ̣ ên những tìm hiểu, nỗ lực nghiên cứu và khai thác tài liệu của các thànhviên trong nhóm Bên cạnh đó, nhóm cũng đã nhận được sự giúp đỡ từ các cộng tác viên
và dưới sự hướng dẫn tận tâm, nhiệt tình của Giảng viên hướng dẫn - Tiến sĩ Nguyễn Quang Dũng
Các số liệu và kết quả được trình bày trong bài nghiên cứu là trung thưc v ̣ à hoàn toàn không sao chép hoặc sử dung k ̣ ết quả của đề tà i nghiên cứu nào tương tư Các t ̣ rích dẫn được sử dụng trong nghiên cứu cũng được ghi rõ nguồn trích
Nhóm nghiên cứu hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan này
TP.HCM, ngày 11 tháng 05 năm 2023
Nhóm nghiên cứu
Trang 5A.DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ DÙNG TRONG BÀI NGHIÊN CỨU
Sexual Objectification Vật thể hoá theo hướng
tình dục
Self-Objectification Vật thể hoá tự thân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tình dục là một chủ đề nhạy cảm nhưng cũng là một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của conngười Việc đưa yếu tố này vào các đoạn phim ngắn âm nhạc (Music Video – MV) đã xuất hiện
từ những năm cuối thế kỷ 20 ở các nước châu Âu (e.g., Busby, 1975, as cited in L MoniqueWard 1995-2015, p.562) Tuy nhiên, để được xuất hiện được trên những phương tiện truyềnthông, nhà sản xuất không thể phô bày trực tiếp hình ảnh tình dục thông thường, vì nhiều vấn đề
có liên quan, từ yếu tố khách quan như kiểm duyệt cho đến yếu tố chủ quan là nhãn quan nghệthuật Chính vì thế, yếu tố tình dục hóa ra đời, đưa ra một khái niệm mới về việc đưa nhữnghình ảnh ẩn dụ về tình dục lên các phương tiện truyền thông đại chúng
Trên thực tế, điều này đã được diễn ra từ sớm trong dòng chảy nghệ thuật Việt Nam Ví dụ như
ở những bài thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương hay trong những câu hát của cố nhạc sĩ Trịnh CôngSơn Tuy nhiên, đến tận bây giờ khái niệm tình dục hóa vẫn chưa được giải thích cụ thể ở ViệtNam Dẫu vậy, việc các yếu tố tình dục hóa vẫn xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, cụthể là ở những MV, cho thấy chúng vẫn luôn tồn tại và dần dần được bình thường hóa
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các MV Việt có xu hướng xuất hiện ngày càng nhiều yếu
tố gợi dục Có thể kế đến là các MV như Mời anh vào team em (2018) của Chi Pu, Tự tâm(2019) của Nguyễn Trần Trung Quân & Denis Đặng, Đi đu đưa đi (2019) của Bích Phương, Nhìn chung, các MV trên đều có những hình ảnh về một đối tượng, mà phần lớn là phụ nữ, gắnliền với tình dục Bên cạnh đó là những hình ảnh đồ vật được tình dục hóa (sexualizedobjectification), có thể kể đến như các loại trái cây Ngoài yếu tố nội dung, các video âm nhạcnói trên có cũng có ca từ ẩn ý về tình dục
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, những MV được tình dục hóa về hình ảnh, nội dung, lời hát lại cólượt xem lớn, được chia sẻ rộng rãi trên các nền tảng mạng xã hội, thậm chí xuất hiện ở một sốchương trình biểu diễn trực tiếp, hay trên một số trang nghe nhạc trực tuyến Điển hình là MVMời anh vào team em (2018) của nữ nghệ sĩ Chi Pu đã thu về gần 30 triệu lượt xem trên nềntảng YouTube tính đến những tuần đầu tháng 10/2022 Với mục đích cuối cùng là thu hút côngchúng, việc đưa nhiều yếu tố tình dục hóa dường như là một công cụ hữu hiệu trong việc quảng
bá MV
Mặt khác, một trong số các hình thức giải trí được đông đảo người trẻ, đặc biệt là trẻ vị thànhniên, quan tâm chính là xem và nghe nhạc qua MV Có thể nói, đây là đối tượng công chúng bịảnh hưởng bởi những MV mang nhiều yếu tố tình dục hóa Theo đó, nhóm
công chúng này đang trong giai đoạn tìm hiểu, hình thành nhận thức về cơ thể và giới tính nênnhững MV như vậy góp phần không nhỏ đến tâm sinh lý của họ
Một vấn đề khác cần nói đến chính là thể loại (genre) trong âm nhạc Theo thống kê của Spotify(2020) thì độ tuổi nghe nhạc trên nền tảng này phần lớn là người trẻ trong độ tuổi từ 18-24(35.8%)1 Và thể loại chủ yếu mà nhóm đối tượng này nghe là Hip hop (hơn 50%) và Pop (hơn40%) Điều đó cũng phần nào giải thích được rằng giới trẻ có xu hướng hướng đến những thểloại âm nhạc mạnh và đem lại sự hưng phấn Đó cũng lý do những ca sĩ hoạt động trong lĩnhvực này lựa chọn loại hình âm nhạc này trong việc đưa các yếu tố tình dục hóa vào MV
Cuối cùng, theo như tìm hiểu của nhóm, đề tài về các yếu tố tình dục hóa xuất hiện trên các sảnphẩm âm nhạc hiện chưa được nghiên cứu ở Việt Nam Trong khi đó, đây không còn là một đề
Trang 8tài quá mới mẻ ở các công trình nghiên cứu nước ngoài khi nó đã được nghiên từ sớm Ngượclại, bởi vì khái niệm “tình dục hóa” vẫn chưa được làm rõ ở Việt Nam, nên chưa có những côngtrình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề này Nói cách khác, đề tài mà nhóm thực hiện
có tính mới khi áp dụng ở Việt Nam
Chính vì những lý do nói trên, nhóm lựa chọn đề tài Các yếu tố tình dục hoá xuất hiện trong sảnphẩm nhạc Pop ở Việt Nam từ năm 2018 đến 2021 và tác động của chúng đến sinh viên Đại họcQuốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để tiến hành nghiên cứu Qua đó, thu thập ý kiến và thái độcủa sinh viên về những MV mang yếu tố tình dục hóa của một số nghệ sĩ Việt Nam Từ đó,hướng đến việc đưa ra một cái nhìn khoa học cho các bạn sinh viên Đại học Quốc gia TP.HCMtrong việc tiếp cận với các sản phẩm âm nhạc có chứa các yếu tố tình dục hóa, cũng như đề xuấtnhững hướng tiếp cận mới cho những nhà sản xuất trong việc đưa các yếu tố tình dục hóa vào
MV nghệ thuật để không bị phản cảm
Trước hết, đây là vấn đề tương đối quan trọng nhưng lại khá nhạy cảm, nó không chỉ tác độngđến tư tưởng, suy nghĩ mà còn có nguy cơ ảnh hưởng đến tâm lý và hành động ở một số người.Hiện nay, các MV ca nhạc là một trong những thứ được quan tâm do sự phát triển mạnh mẽ củacác phương tiện truyền thông cũng như nhu cầu nghe nhìn của khán giả Hay nói đơn giản hơn,
về cơ bản thì MV ca nhạc đã đáp ứng được những kỳ vọng của người xem về mặt âm thanh,hình ảnh, trở thành phương tiện giải trí nhưng cũng là cơ sở để đánh giá vị thế, tài năng củanghệ sĩ (thông qua lượt xem, lượt yêu thích,…) Tuy nhiên, cũng chính vì điều này mà chúng vôtình lại trở thành công cụ để các nghệ sĩ giành sự chú ý của công chúng, các yếu tố nhạy cảm,gây sốc được đưa vào cũng vì mục đích này Nhưng đôi khi chúng còn xuất phát từ mục đíchnghệ thuật mà nhạc sĩ, nghệ sĩ, đạo diễn muốn truyền đạt Do đó, quan trọng hơn hết chính làthông điệp và cách thể hiện các yếu tố trên
Nếu như trước đây người ta vẫn thường ái ngại về các vấn đề nhạy cảm thì hiện nay, một số MV
ca nhạc đều thể hiện hết sức rõ ràng, thậm chí là trần trụi Đến đây, người xem lại phải nghi ngờrằng, bên cạnh các lợi ích về doanh thu và sự quan tâm của khán giả mà điều này mang lại thì nó
có gây hại hay không? Câu trả lời hiển nhiên là có, nhiều nghiên cứu cho rằng, việc tiếp xúc quánhiều với âm nhạc, MV, điện ảnh,… có nội dung phản cảm có thể gây nên nhiều hệ luỵ về sau.Đứng trước vấn đề này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu về việc nghệ sĩ đưa vào MVcủa mình những yếu tố mang tính tình dục
Rõ ràng, việc tình dục hóa các mv ca nhạc có mặt tiêu cực nhiều hơn mặt tích cực Việc hiểuđúng, hiểu rõ về tình dục không chỉ giúp con người hiểu về cấu tạo và chức năng của cơ thểmình hơn mà còn tránh có cái nhìn lệch lạc, hay những kiến thức sai lầm về tình dục và cơ thểcon người Mặt khác, trong quan niệm Á Đông, các bậc phụ huynh cũng ít trao đổi, giáo dục con
em mình về vấn đề này vì cho rằng đó là “vẽ đường cho hươu chạy”; sợ chúng còn quá nhỏ đểhiểu hay vì đây là một vấn đề “nhạy cảm”, không dễ trao đổi trực tiếp, nên để các em tự “tìmhiểu” Và kết quả là các em nhỏ, các bạn học sinh lên mạng học hỏi qua các MV nhưng không
hiểu chính xác Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn Các yếu tố tình dục hoá xuất hiện trong sản phẩm nhạc Pop ở Việt Nam từ năm 2018 đến 2021 và tác động của chúng đến sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học Các yếu tố tình dục hoá xuất hiện trong sản phẩm nhạc Pop ở Việt Nam từ năm 2018 đến 2021 và tác động của chúng đến sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm:
Trang 91 Phân tích các yếu tố tình dục hóa có xuất hiện trong các bài hát nhạc Pop ở Việt Nam từnăm 2018 đến 2021 Điều này có thể bao gồm nghiên cứu về ngôn từ, hình ảnh, âm nhạc
và các yếu tố khác mà mang tính chất tình dục hoá
2 Đánh giá tác động của các yếu tố tình dục hóa trong nhạc Pop đến sinh viên Đại họcQuốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu có thể tập trung vào tác động về nhậnthức, hành vi và tư duy của sinh viên đối với các vấn đề liên quan đến tình dục trong xãhội và cuộc sống hàng ngày
3 Xem xét mối quan hệ giữa việc tiếp xúc với nhạc Pop chứa yếu tố tình dục hoá và các tácđộng tiềm năng đến tình dục, sức khỏe tâm lý và quan hệ giới tính của sinh viên
Tóm lại, nhiệm vụ nghiên cứu là tập trung vào việc phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp
để hiểu và ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa sản phẩm nhạc Pop chứa yếu tố tình dục hoá và tácđộng của chúng đến sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian
từ năm 2018 đến 2021
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài nghiên cứu là các MV nhạc Pop chứa yếu tố tình dục hóa ở Việt Nam tronggiai đoạn từ năm 2018 – 2021 và tác động của nó đến sinh viên trong khối ĐHQG TP HCM
Khách thể nghiên cứu là các bạn sinh viên thuộc các trường trong khối ĐHQG TP HCM
Phạm vi nghiên cứu bao gồm sản phẩm nhạc Pop ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2018 đến
2021 Các yếu tố tình dục hóa trong nhạc Pop, bao gồm ngôn từ, hình ảnh và âm nhạc, sẽ đượcphân tích và đánh giá để hiểu tác động của chúng đến sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố HồChí Minh
Giá trị thực tiễn và giá trị khoa học
4.1 Giá trị thực tiễn
Mặc dù việc đưa yếu tố tình dục hóa vào các MV không còn quá mới mẻ đối với ngành công nghiệp âm nhạc ở Việt
Nam nhưng những ảnh hưởng của nó vẫn chưa được nhìn nhận một cách rõ ràng, cụ thể Ngày nay, dễ dàng nhận thấy
nhiều MV có sự xuất hiện của các yếu tố tình dục hóa và sự phổ biến của chúng ít nhiều có tác động đến thái độ của
giới trẻ Do đó, đây là một nghiên cứu cần thiết để phổ biến vấn đề tình dục thông qua âm nhạc, làm sao cho quá trình
tiếp cận của nó đến với giới trẻ phải lành mạnh và mang lại ý nghĩa tích cực Thông qua đó, các nhà sản xuất âm nhạc
có thể tìm được một lối đi phù hợp cho các sản phẩm tiếp theo Ngoài ra, các nhà sản xuất âm nhạc cũng như chủ nhân
bài hát cũng cần cân nhắc việc đưa tình dục hoá các chi tiết hình ảnh vào sản phẩm âm nhạc của mình
Hơn thế, trong khi nhiều bạn trẻ có cái nhìn tiêu cực về các yếu tố tình dục hóa cũng như hình ảnh người phụ nữ là đối tượngđược tình dục hóa trên màn ảnh, việc đưa ra một cái nhìn khách quan hơn dựa trên những số liệu định lượng là một bước tiền
đề cho việc xóa bỏ những định kiến giới đang tồn tại trong loại hình nghệ thuật
4.2 Giá tri khoa học
Mặc dù đề tài liên quan đến tình dục hóa không còn là mới mẻ đối với nhiều nhà nghiên cứu ở thế giới, tuy nhiên điều nàyvẫn còn khá hạn chế ở Việt Nam khi ít có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này Nghiên cứu sẽ đưa ra một cáinhìn tổng quát về cái khái niệm có liên quan đến yếu tố tình dục hóa, sự ảnh hưởng của nó đến thái độ của giới trẻ Nhận biếtđược thái độ của người trẻ đối với các yếu tố tình dục hóa thông qua các MV có thể giúp các nhà khoa học hiểu hơn về tâm
sinh lý con người, từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục giới tính phù hợp
Ngoài ra, đề tài của nhóm cũng là tiền đề để các nghiên cứu sau ở Việt Nam có cái nhìn sâu hơn về vấn đề này Từ đó đemđến góc nhìn toàn diện và đề xuất những biện pháp khắc phục hạn chế vẫn còn đang tồn tại trong việc đưa các yếu tố tình dục
Trang 10hóa tiếp cận với đối tượng trẻ
Trang 115 Lịch sử nghiên cứu
5.1 Các nghiên cứu trước về các yếu tố tình dục hóa trong truyền thông và hình ảnh tình dục hoá trong các thể loại âm nhạc
Trước tiên, nói về các nghiên cứu các yếu tố tình dục hóa trong truyền thông Việc đưa các yếu
tố tình dục vào truyền thông đã không còn là một vấn đề mới mẻ Cụ thể là từ những năm 1970,các phương tiện truyền thông đã bắt đầu diễn tả phụ nữ như một đối tượng được tình dục hóa(e.g., Busby, 1975, as cited in L Monique Ward 1995-2015: 561)
Trước tiên, có nhiều nghiên cứu đi trước (Cynthia M Frisby, 2001; Kaiser Family Foundation,2001) cho rằng MV là phương tiện phổ biến nhất để người trẻ tiếp xúc với vấn đề xã hội hóatình dục bởi vì đây là nhóm đối tượng tiếp xúc với các đoạn clip âm nhạc nhiều nhất Vào nhữngnăm 70 của thế kỷ 20, đối tượng mục tiêu của truyền hình âm nhạc (MTV) nằm trong độ tuổi từ
12 đến 34 và hình ảnh khiêu dâm trong các video ca nhạc đã tăng lên trong những năm qua.(Gan, Zillmann, & Miltrook, 1997; Jones, 1997; Pardun & McKee, 1995) Cũng theo phân tíchcủa Spotify (2020), ở Việt Nam, đối tượng trẻ trong độ tuổi từ 18-25 là đối tượng khách hàngchủ yếu của trang web này
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng, vì đối tượng chủ yếu của các MV là thanh thiếu niên nên việc đưatình dục vào các MV cũng ở mức độ nhẹ nhàng hơn, nghĩa là chỉ đưa những hình ảnh tình dụchóa chứ không đưa những hình ảnh tình dục rõ ràng Sử dụng cùng một định nghĩa hoạt động vềtham chiếu tình dục, một phân tích nội dung của các video MTV năm
Trang 121992 cho thấy khoảng 63% chứa hình ảnh tình dục (Pardun & McKee, 1995) Tình dục ngầm,chẳng hạn như đẩy vùng xương chậu, liếm môi lâu hoặc vuốt ve xuất hiện trong 89% videoMTV vào năm 1990, với tình dục rõ ràng chiếm 4% (Sommers Flanagan, Sommers- Flanagan,
& Davis, 1993)
Một trong các nguyên nhân khiến tố tình dục hoá được phổ biến đến nhiều đối tượng, nhất làthanh thiếu niên là do chủ thể thể hiện chúng là các nghệ sĩ nổi tiếng Theo Dooyoung Choi,Marilyn DeLong (2019) hình ảnh tình dục khiêu dâm cách điệu thường được dàn dựng và màntrình diễn thường do người nổi tiếng thể hiện Điều này lại liên quan đến khái niệm thần tượng,tức là yếu tố tình dục sẽ càng được phổ biến khi chúng được thể hiện thông qua người của côngchúng, bằng các sản phẩm truyền thông
Tương tự, theo L Monique Ward, nữ giới là đối tượng thường xuyên bị tình dục hóa qua truyềnthông Theo số liệu khảo sát trong nghiên cứu của Rebecca S Bigler và cộng sự (2019) cho thấy
tỷ lệ nhân vật nữ gợi cảm trong phim, âm nhạc xuất hiện ngày càng nhiều Theo Chrysalis L.Wright và Mark Rubin, các video âm nhạc thường chứa một số dạng nội dung tình dục hóa, vớiước tính khoảng 40 đến 75% có chứa hình ảnh tình dục quá đà (Frisby và Aubrey 2012; Zhang,Miller và Harrison 2008) Nhiều bài hát pop, R&B và rap ẩn ý tình dục là ưu tiên hàng đầu, coiphụ nữ là đối tượng tình dục hóa (Aubrey và Frisby 2011; Frisby và Aubrey 2012; Wallis 2011)
Và tương tự, vai trò của phụ nữ trong một số MV âm nhạc đôi khi chủ yếu là để làm hài lòngphái nam (Ward, Hansbrough và Walker 2005)
Về mặt nội dung, nghiên cứu của Rodgers, Kathleen Boyce Hust & Stacey J.T (2018) cũng chỉ
ra rằng phụ nữ có cách nhìn nhận khác, thông điệp khác khi biến bản thân thành đối tượng tìnhdục so với nam giới Âm nhạc hay MV được đánh giá là một lĩnh vực mà ở đó là hình ảnhnhững người đàn ông quyền lực và thống trị, người phụ nữ là đối tượng tình dục hóa (L.Monique Ward, Edwina Hansbrough and Eboni Walker, 2005) Trong một nghiên cứu củaConrad et al (2009), thì những nhân vật nữ thường ở vị trí khuất phục, mang tính chất hỗ trợ khi
so sánh với nhân vật nam, đặc biệt khi họ là nghệ sĩ trình diễn nhạc đồng quê (Freudiger andAlmquit, 1978) Ngược lại, những nghệ sĩ nữ có xu hướng đưa ra những quyết định có chứa tínhchất sở hữu và tình dục đối với người mà họ yêu thương, và nhờ vào làn sóng nữ quyền, họ cóthể đưa ra nhiều lựa chọn hơn, bất kể lựa chọn ấy là gì (Rodgers, Kathleen Boyce Hust & StaceyJ.T 2018) Khi đề cập đến hình ảnh người đàn ông, những tính từ gắn liền sẽ là hung hăng, độcđoán và bạo lực (Sedman, 1992; 1999) Điều đó có nghĩa là, hình ảnh tình dục hóa trên cái MV
có sự phân biệt dựa trên giới tính của chủ nhân tạo ra nó Như vậy, khái niệm tình dục hóa ở đâyđược đính kèm cả nhãn quang nam giới (male gaze) và định kiến giới (gender stereotypes)
Và thực tế, không chỉ MV mà các bài hát thông thường cũng ẩn chứa ít nhiều yếu tố tình dụchóa Hay chính bản thân video âm nhạc không chỉ lồng ghép yếu tố tình dục vào hình ảnh màcòn lồng ghép vào lời nhạc Dù đã có các công trình nghiên cứu về yếu tố tình dục
Trang 13hoá thể hiện qua các hình ảnh trong MV nhưng việc phân tích lời bài hát đi kèm thì chưa phổbiến (Report of the APA Task Force on the sexualization of girls, 2007) Nhưng theo tác giả củacông trình nghiên cứu, lời của một số bài hát nổi tiếng gần đây có nội dung khiêu dâm phụ nữhoặc đề cập đến họ theo cách hết sức hạ nhục, hoặc cả hai.
Xét về hình ảnh tình dục hoá trong các thể loại âm nhạc, những thể loại âm nhạc mang tính chấtchống đối xã hội (anti-social) như là hip hop và rap thường được cho rằng đang thúc đẩy nhữngthông điệp gây tranh cãi liên quan đến bạo lực, tình dục và chủ nghĩa duy vật (Aubrey, 2011;Johnson, Jackson & Gatto, 1995; Smith, 2005) Đồng thời, rap và hip hop cũng là một thể loạiphổ biến với thanh thiếu niên Theo kết quả nghiên cứu của Aubrey (2011) cũng cho thấyR&B/hip hop cũng là thể loại chứa nhiều hình ảnh tình dục hóa, khách thể hóa nhất khi so sánhvới các thể loại còn lại
Ngược lại, thể loại nhạc đồng quê lại ít chiếm được sự yêu thích của thanh thiếu niên hơn màmột trong những lý do là bởi vì được đánh giá là đi theo lối mòn khuôn khổ của xã hội (Aubrey,2011; Andsager & Roe, 1999; Freudiger & Almquit, 1978; Wilson, 2000) Chủ nghĩa này ít đềcập đến những hình ảnh tình dục, vẻ bề ngoài của phụ nữ hơn là những thể loại âm nhạc khác.Cũng theo nghiên cứu của Aubrey, đứng ở giữa là dòng nhạc Pop Mặc dù trong những nghiêncứu trước người ta thấy rằng các MV nhạc Pop đầy rẫy những hình ảnh tình dục nhưng ít ngườinhận thức được điều này Trong nghiên cứu của Chrysalis L Wright & Mark Rubin (2017) thì
dù những nội dung tình dục trong lời bài hát đã gia tăng, nhận thức tình dục tiêu cực của nhữngngười nghe giảm đối với dòng nhạc này Do đó, việc đặt ra vấn đề nghiên cứu về hình ảnh tìnhdục hóa trong dòng nhạc Pop là một điều cần thiết
Xem xét về mặt giới tính, tình dục hóa được xem là vấn đề của sự phân biệt giới Ví như nữnghệ sĩ có một thông điệp khác khi biến bản thân thành một đối tượng tình dục so với nam nghệ
sĩ khi tình dục hóa nhân vật nữ trong MV của anh ta (Aubrey, 2011; Jennifer Stevens; Frisby,Cynthia M., 2011) Ngoài ra hình ảnh tình dục hóa của nam và nữ thể hiện thông qua MV cũng
có sự khác biệt Hay nói cách khác là nó mang định kiến giới (gender stereotypes) Đàn ôngtrong những MV này thì thường hung hăng, chiếm thế độc đoán và bạo lực hơn so với nhân vật
nữ (Aubrey 2011; Seidman, 1992;1999) Ngoài ra, họ cũng thấy rằng phụ nữ thường được miêu
tả là hấp dẫn (Aubrey, 2011; Orange, 1996), tình cảm, bị phụ thuộc hơn (Aubrey, 2011;Siedman, 1992; 1999)
1.1 Các nghiên cứu trước về các yếu tố tình dục hóa trong truyền thông
Có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng xem nhiều MV chứa các yếu tố liên quan đến tình dục cóảnh hưởng nhất định đến tâm sinh lý của thanh thiếu niên Trước tiên, việc tiếp xúc với cácvideo âm nhạc có nội dung tình dục phản cảm sẽ dẫn đến hiệu quả xoắn ốc, tức là làm tăng sởthích xem các dạng video phản cảm như vậy (Kathrin Karsay and Jörg Matthes, 2016)
Trang 14Chúng ta phải công nhận rằng việc đánh giá các nhân vật dựa trên sức hấp dẫn tình dục hoặchành vi tình dục của họ là một thực tế phổ biến (Laura Vandenbosch, Dorien Vervloessem &Steven Eggermont, 2013) Ngoài ra, (Oosten, J M F.; Peter, J.; Valkenburg, P M., 2015) thanhthiếu niên cũng là đối tượng bị tác động tiêu cực khi xem các video âm nhạc có yếu tố tình dụcquá đà Trong một nghiên cứu của Bohye Song (2016) về 501 thanh thiếu niên, Bleakley vàcộng sự đã phát hiện ra rằng thanh thiếu niên càng tiếp xúc với nội dung tình dục trên phươngtiện truyền thông thì khả năng họ tham gia vào hoạt động tình dục càng cao Công trình nghiêncứu của Rodgers, Kathleen Boyce Hust và Stacey J.T vào năm 2018 chỉ ra rằng những ngườichấp nhận khái niệm “tình dục hóa đồ vật” (sexualized objectification) để gọi người phụ nữ thìthấy bình thường với hành vi xúc phạm đó Nhiều chứng cứ cho thấy là sinh viên chưa tốtnghiệp và thanh thiếu niên thích MV có yếu tố tình tục hơn là MV quảng cáo thông thường và
họ cũng sẽ có thái độ định kiến với tình dục hơn là những người trong nhóm được kiểm soát(Callin, Carroll, Shmitd, 1993; Greeson and Williams, 1986; Ward et al., 2005) Theo Jane D.Brown (2002) việc tiếp xúc với hình ảnh rập khuôn về giới tính và tình dục trong các MV chothấy việc thanh thiếu niên tăng tình trạng chấp nhận hành vi tình dục phi hôn nhân, bạo lực cánhân, khuôn mẫu giới hay thậm chí việc cưỡng hiếp (Greeson & Williams, 1986; Kalof, 1999;Michelle
E Kristler and Moon J Lee 2010) Việc tiếp xúc với âm nhạc được lồng ghép yếu tố tình dụchóa có thể khiến người xem, đặc biệt là thanh thiếu niên dễ có thái độ bình thường hóa, tự dohóa đối với hành vi tình dục, thậm chí là tham gia các hành vi nguy hiểm (Bleakley và cộng sự
2008, 2009; Primack và cộng sự 2009; Turchik và Garske 2009; Wright 2013; Wright vàQureshi 2015; Zhang, Miller và Harrison 2008)
Xét về mặt tích cực, Chrysalis L Wright và Mark Rubin trong nghiên cứu của mình cũng chothấy phương tiện truyền thông đã và đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóatình dục của người trẻ tuổi (Zhang, Miller và Harrison, 2008) Đến năm 15 tuổi, lượng thời gianmột thanh thiếu niên nghe nhạc vượt quá lượng thời gian họ dành để xem TV hoặc dành thờigian cho bất kỳ phương tiện nào khác (Roberts & Foehr, 2004), và đối với 13% trẻ em từ 11 đến
14 tuổi, các video âm nhạc được các em ưa thích nhất Theo một mặt tích cực, các MV kíchthích tạo ra các tác nhân kích thích, giúp nâng cao khả năng kích hoạt các sơ đồ được lưu trữ(Zillmann & Mundorf, 1987) Do đó, các MV có thể được kỳ vọng là những nguyên tố đặc biệtmạnh mẽ cho việc hỗ trợ các khái niệm liên quan đến giới tính và tình dục
Đối với nữ giới, nhiều nghiên cứu đưa ra rằng, phụ nữ hay nghệ sĩ nữ xuất hiện trên những MV
có yếu tố trên thường bị đánh giá theo cách tiêu cực Theo Sue Jackson (2015), tại nước Anh,nghệ sĩ nữ thường được cho là những người không đáng tôn trọng, đáng khinh bỉ (Negra andHolmes, 2008; Tyler and Bennett, 2010) khi dùng cơ thể của chính mình để tăng lượt xem, yêuthích cho sản phẩm âm nhạc Bên cạnh đó, theo lý thuyết vật hóa (objectification theory) hay tựvật hóa (self-objectification theory) được đề cập trong nghiên cứu của Cynthia M Frisby(2011), khi bị ảnh hưởng bởi truyền thông bởi những
Trang 15hình ảnh tình dục hóa, khán giả nữ sẽ có nguy cơ cao không chỉ có cái nhìn tiêu cực về bản thânmình mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần như trầm cảm hay rối loạn ăn uống(e.g.,Calogero, 2004; Noll & Fredrickson, 1998; Tiggemann & Lynch, 2001,(e.g., Noll &Fredrickson, 1998; Slater & Tiggeman, 2002) Ngoài ra, phụ nữ còn là nạn nhân của một số ảnhhưởng tiêu cực khác kéo theo Theo Kathrin Karsay (2018) phụ nữ Úc cho biết họ không chỉ trởthành mục tiêu soi mói trung bình 3-7 lần mỗi tuần mà 55% cá nhân trong đó còn trực tiếp bị soimói (Holland, Koval, Stratemeyer, Thomson, & Haslam, 2017) Nghiên cứu này còn đề cập đếnviệc các video âm nhạc chủ yếu thể hiện yếu tố tình dục hóa qua hình ảnh cơ thể phụ nữ, từ đódẫn đến một số quan niệm về ngoại hình.
2 Câu hỏi nghiên cứu
Q1: Có hay không những ảnh hưởng đến sinh viên khi tiếp xúc với những MV chứa yếu tố tìnhdục hóa?
Q2: Sinh viên có cho rằng những thể loại âm nhạc nhất định sẽ chứa nhiều yếu tố tình dục hóahơn những thể loại còn lại hay không?
Trang 16Q3: Việc sử dụng những yếu tố tình dục hóa trong các sản phẩm âm nhạc thu hút nhiều ngườitrẻ tiếp cận với sản phẩm hơn hay không?
Q4: Sinh viên có hay không những định kiến về giới và tình dục khi tiếp xúc với những MV cóchứa yếu tố tình dục hóa?
Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sẽ tập
trung vào mục tiêu chung là nghiên cứu các yếu tố tình dục hoá xuất hiện trong sản phẩm nhạcPop ở Việt Nam từ năm 2018 đến 2021 Bên cạnh đó cũng nghiên cứu cụ thể về tác động củacác yếu tố tình dục hóa trong nhạc Pop đối với sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ ChíMinh và đánh giá về tác động đó Do vậy, nhóm nghiên cứu đã dùng phương pháp luận để kháiquát về vấn đề gốc rễ như: các khái niệm, lý thuyết về tình dục hóa và thực tế hình ảnh tình dụchóa ở các MV nói chung và ở dòng nhạc Pop nói riêng Cũng dựa vào phương pháp luận, kếthợp với khung lý thuyết nêu trên, nhóm tìm ra được những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệntượng nói trên Từ đó, rút ra được những kết luận khách quan dựa trên những bằng chứng thuđược Qua đó đề ra những giải pháp cho những tác động tiêu cực, hạn chế của việc đưa nhữnghình ảnh tình dục hóa trong các MV nhạc Pop đối với đời sống tinh thần và thể chất của sinhviên Phương pháp nghiên cứu định lượng Nhóm quyết định dùng phương pháp nghiên cứu địnhlượng để xác định số lượng MV nhạc POP từ năm 2018-2021 có chứa hình ảnh tình dục hóa.Việc này giúp nhóm thống kê được số lượng và tần suất ra mắt của các MV có chứa yếu tố tìnhdục hoá
Sau đó, dựa vào nghiên cứu định lượng, nhóm cũng sẽ đánh giá các hình ảnh tình dục hóa xuấthiện trong MV theo một thang đo nhất định (Bảng mã hóa đã đề cập ở mục 4.4) Dựa trên thangđiểm đó, nhóm sẽ cho ra những bảng đánh giá bằng số liệu về tần suất những hình ảnh, lời nhạc
có mang yếu tố tình dục xuất hiện trong những MV Từ những số liệu cụ thể, nhóm sẽ đưa rađược những đúc kết về thực trạng của việc đưa hình ảnh tình dục hóa vào các MV ở Việt Nam ởlĩnh vực nhạc Pop nói riêng
Trang 17Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi Với đề tài Các yếu tố tình dục hoá xuất hiện trong sản phẩm nhạc Pop ở Việt Nam từ năm 2018 đến 2021 và tác động của chúng đến sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tiến hành áp dụng phương pháp nghiên cứu bằng bảng
hỏi để thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu là sinh viên của Đại học Quốc gia TP.HCM.Dựa vào công thức tính của Yamane Taro (1967), ta có: 𝑛 = 𝑁 1+𝑁.𝑒2 N = 82.586 (số liệu năm2021) Trong đó, N là tổng số sinh viên Đại học Quốc gia TP.HCM Với độ tin cậy là 95%,nhóm sẽ chọn khoảng 400 trả lời phiếu thu về trong khoảng thời gian 2 tháng
Bảng câu hỏi khảo sát gồm 21 câu, được chia thành 2 phần chính Nhằm tiết kiệm thời gian thuphiếu trả lời cũng như chi phí in ấn, nhóm quyết định sẽ tiến hành khảo sát dưới hình thức trựctuyến, cụ thể là thông qua Google Form
Phần đầu bao gồm các câu hỏi về cá nhân người tham gia khảo sát bởi những yếu tố này rất cókhả năng ảnh hưởng đến kết quả của nghiên cứu Các câu hỏi sẽ bao gồm giới tính, trường học,
… Các thông tin này sau có thể được tổng hợp, triển khai phân tích để so sánh xu hướng, mức
độ xem MV của các đối tượng khác nhau
Phần hai là những câu hỏi về tần suất xem MV, mục đích, yếu tố thu hút của MV đối với ngườixem,… Với những câu hỏi này, nhóm có thể rút ra nhận xét về mục đích xem MV của các đốitượng cũng như mức độ quan trọng của hình thức giải trí này đối với đời sống ti
nh thần của các chủ thể tham gia khảo sát Từ đó đưa ra kết luận về khả năng và phạm vi ảnhhưởng của các MV có chứa yếu tố tình dục hoá
Phương pháp phỏng vấn sâu Nhóm nghiên cứu dự định tiến hành phương pháp phỏng vấn sâuvới tối thiểu là 50 đối tượng sinh viên của các trường thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM Theo
đó, nhóm sẽ liên hệ và trao đổi (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua email, điện thoại,…) đểphỏng vấn về suy nghĩ, ý kiến của sinh viên đối với các MV nhạc Pop Việt Nam có chứa yếu tốtình dục hóa trong giai đoạn từ 2018 đến 2021 Các câu hỏi sẽ thiên về phần cảm nghĩ, thái độ
cá nhân của người làm khảo sát đối với các vấn đề xoay quanh những MV này
Bên cạnh phương pháp dùng bảng hỏi, việc phỏng vấn sâu sẽ tạo điều kiện cho nhóm có cáinhìn khách quan và sâu sắc hơn do có thể trao đổi và thảo luận nhiều hơn với các đối tượngtham gia khảo sát Các thông tin cá nhân cũng như câu trả lời cho các câu hỏi phỏng
Trang 18vấn sẽ được nhóm nghiên cứu bảo mật tuyệt đối và đảm bảo quá trình nghiên cứu dựa trên nguyên tắc tự nguyện của người tham gia Và nếu phương pháp dùng bảng hỏi có thể thống kê được số lượng thì phương pháp này sẽ mở rộng về khía cạnh mang tính chất định tính, là cơ sở để nhóm đào sâu nghiên cứu vấn đề được đưa ra
3.Bố cục đề tài
Chương I: Tổng quan đề tài nghiên cứu
- Lý do chọn đề tài
- Tổng quan đề tài
- Câu hỏi nghiên cứu
- Khung lý thuyết và giả thiết nghiên cứu
- Thao tác hoá
- Thách thức
Chương II: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn
- Những khái niệm có liên quan
- Bối cảnh nghiên cứu
- Tổng quan về các yếu tố tình dục hoá xuất hiện trong các MV nhạc Pop tại Việt Nam từ năm
Tài liệu tham khảo
- Tài liệu tiếng Anh
- Tài liệu tiếng Việt
Phụ lục
Trang 201.1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Những khái niệm có liên quan
Những khái niệm liên quan đến tình dục hóa Tình dục hóa (sexualization)
Tình dục hóa là một thuật ngữ được sử dụng nhiều vào thế kỷ thế 19 bởi những nhà văn Anh2 Đến đầu những năm 1970 , thuật ngữ này bắt đầu có thêm các hình thức biểu đạt và huy độngdiễn ngôn tổng quát hơn ở Mỹ Theo APA (2007) tình dục hóa bắt đầu từ việc giá trị của mộtngười chỉ đến từ sự hấp dẫn hoặc hành vi tình dục của anh ấy/cô ấy cho đến loại bỏ các đặcđiểm khác Và khi một người bị vật thể hóa theo hướng tình dục ví dụ, được biến thành một thứcho việc sử dụng tình dục của người khác Theo McDade-Montez (2016) “Tình dục hóa là quátrình theo đó các nhân vật được miêu tả và đối xử theo cách tình dục quá mức Thông thường,những nhân vật này là phụ nữ và cô gái Tình dục hóa có thể xảy ra thông qua các cuộc tròchuyện, nhận xét, liếc nhìn và chạm vào người khác, và cũng theo cách mà các nhân vật nữ mặcquần áo và cư xử.” Như vậy, ở McDade, tình dục hóa được chỉ ra phần lớn xảy ra đối với phụnữ
Tình dục hóa tự thân (Self-sexualization)
Theo một nghiên cứu vào năm 2019 thì những người phụ nữ chấp nhận và tham gia vào xuhướng văn hóa siêu tình dục (hyper-sexualized cultural trend) được gọi là những người tự tìnhdục hóa bản thân Ví dụ: Phụ nữ tham gia chụp ảnh khuê phòng (boudoir) hoặc pin up chuyênnghiệp, trang điểm ngực tại các sự kiện công cộng và quản lý ngoại hình của họ để giới thiệunội dung khiêu dâm chính thống (ví dụ: mặc áo phông có nhãn “ngôi sao khiêu dâm”, ăn mặcnhư gái mại dâm cho Halloween) Hay theo một định nghĩa khác, tình dục hóa tự thân là một cơchế mà phụ nữ sử dụng như một hình thức trao quyền tình dục, bao gồm các hành vi như mặcquần áo hoặc khiêu vũ nhằm mục đích thu hút sự chú ý về mặt tình dục đối với bản thân (Chul
& Liss, 2014)
Vật thể hóa theo hướng tình dục (Sexual Objectification)
Vật thể hóa theo hướng tình dục có mối liên kết với tình dục hóa Vật thể hóa theo hướng tìnhdục xảy ra khi giá trị của một người phụ nữ bị tước bỏ, chỉ còn các bộ phận cơ thể và ngoại hình
và được xem như một đối tượng vật lý tách biệt với tư cách một con người (Szymanski et al.,2011)
Vật thể hóa tự thân (Self- Objectification)
2Duschinsky, Robbie (2013) The Emergence of Sexualization as a Social Problem: 1981-2010 Social Politics: International Studies in Gender, State & Society, 20 (1) pp 137-156 ISSN 1072-4745
Trang 21Theo lý thuyết Vật thể hóa của Fredrickson & Roberts (1997) thì sự vật thể hóa theo hướng tìnhdục trên cơ thể người phụ nữ trên các phương tiện truyền thông dạy phụ nữ tiếp thu quan điểmcủa người ngoài về bản thân, xem mình là đối tượng để được đánh giá bởi người khác - xuhướng đó gọi là vật thể hóa tự thân Như vậy, vậy thể hóa tự thân cũng có một mối liên hệ chặtchẽ với định nghĩa vật thể hóa theo hướng tình dục - tức là khiến một người tự nhận thức bảnthân họ, hoặc một phần cơ thể của họ là một đồ vật.
1.2 Những khái niệm liên quan đến các thể loại âm nhạc Thể loại (Genre)
Thể loại là một từ dùng để chỉ một phong cách, đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật, bao gồmmột tập hợp các đặc điểm cụ thể Trong âm nhạc bao gồm nhiều thể loại Cách phân chia thểloại cũng tùy thuộc vào từng cá nhân, có thể chia theo đạo cụ chủ đạo, hãng phát hành hay theothị trường âm nhạc
Ở đây nhóm nghiên cứu tập trung vào phân loại theo thị trường âm nhạc, mà cụ thể là phânnhánh âm nhạc đại chúng (popular music) hay còn được gọi tắt là nhạc pop Trong dòng nhạcthị trường cũng có sự phân chia thành các nhóm nhỏ hơn, trong đó bao gồm pop, rock, jazz,blues, R&B/soul, hip hop, nhạc đồng quê, folk đương đại, nhạc điện tử, nhạc dance, easylistening và avant-garde
Nhạc pop (pop music)
Ở đây nhóm nghiên cứu không chọn khái niệm nhạc pop là toàn bộ âm nhạc đại chúng mà đisâu vào nhóm nhỏ riêng là nhạc pop Nghĩa là, ở đây, nhạc pop là một nhánh của âm nhạc phổthông (popular music) Hai khái niệm này thường xuyên bị dùng nhầm lẫn, thay thế lẫn nhau.Nhạc pop là một thể loại âm nhạc phổ biến bắt nguồn từ hình thức hiện đại vào giữa những năm
1950 tại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh
Một số đặc điểm của nhạc pop là nhịp điệu hoặc nhịp có thể khiêu vũ, giai điệu đơn giản và cấutrúc lặp lại gợi nhớ Nhạc pop có thể kết hợp với nhiều thể loại khác như R&B hay Funky,Ballad
1.3 Bối cảnh nghiên cứu Thế giới
Âm nhạc đã xuất hiện và song hành cùng với cuộc sống con người từ hàng vạn năm về trướcnhưng MV âm nhạc thì chỉ vừa mới xuất hiện và trở nên phổ biến hơn với khán giả, đặc biệt làgiới trẻ (Christenson & Roberts, 1998) vào những năm 80 của thế kỷ XX Các nghệ sĩ dần xemđây là một trong những hình thức quảng bá sản phẩm, bài hát của mình
Trang 22một cách hiệu quả khi có thể vừa thu hút khán giả về mặt âm thanh và cả hình ảnh Và MV âmnhạc cũng là một trong những phương tiện để người nghệ sĩ có thể truyền tải thông điệp, câuchuyện mà họ muốn gửi đến những người hâm mộ của họ Ở các nước phương Tây và một sốquốc gia khác trên thế giới, tình dục hoá không phải là một vấn đề mới mẻ trong xã hội Từ đó,việc đưa những hình ảnh, nội dung có chứa yếu tố tình dục hoá cũng dần trở nên phổ biến hơntrong các MV âm nhạc của các nghệ sĩ thế giới Thêm vào đó, sự phát triển của các nền tảngtruyền thông như YouTube, Facebook, Tiktok cũng làm hình ảnh tình dục hóa ngày càng dễ tiếpcận với người xem hơn trước.
Theo số liệu thống kê từ báo cáo Số lượng người dùng YouTube trên toàn thế giới từ 2016 đến
20213 của Statista - một nền tảng trực tuyến chuyên về dữ liệu thị trường và người tiêu dùng,cung cấp số liệu thống kê và báo cáo, thông tin chi tiết về thị trường, thông tin chi tiết về ngườitiêu dùng và thông tin chi tiết về công ty, cho biết số lượng người dùng YouTube trên thế giớităng từ 1.58 tỷ người vào năm 2018 lên 1.86 tỷ người vào năm 2021 Điều này cho thấy, chỉtrong vòng 3 năm, số lượng người truy cập và sử dụng nền tảng video trực tuyến YouTube tănggần 85% so với trước đó
Số lượng người dùng YouTube trên toàn thế giới từ 2016 đến 2021 (Statista, 2021)
Hubspot đã đưa ra số liệu thống kê rằng vào năm 2019 có hơn 1 tỷ giờ video được xem mỗi ngày với 1,9 tỷ người dùng đăng nhập và hoạt động hàng tháng trên nền tảng YouTube
3 Số lượng người dùng YouTube trên toàn thế giới từ 2016 đến 2021 Truy xuất từ
https://www.statista.com/statistics/805656/number-youtube-viewers-worldwide/
Trang 23Trong đó, thế hệ gen Z (từ 16 đến 24 tuổi) chiếm 59% tổng mức sử dụng YouTube và con sốnày cũng tăng lên kể từ năm ngoái Cũng theo Hubspot thì 95% video phổ biến nhất trên nềntảng YouTube là video âm nhạc Thêm nữa, video về nhạc Pop là một trong những danh mụcnội dung phổ biến nhất trên nền tảng này.
Dữ liệu từ PEX cho biết Âm nhạc và Giải trí chiếm tới 43% tổng số lượt xem trên nền tảngYouTube vào năm 2019
Phần trăm tổng số lượt xem và nội dung được chia nhỏ theo danh mục (PEX, 2019)
Trang 24Phân tích từng cấp lượt xem theo danh mục YouTube (PEX)
Cũng theo bảng số liệu thống kê về cấp lượt xem danh mục YouTube của PEX thì với lượt xem
“10 đến 100 triệu” và “100 triệu đến 1 tỷ”, Âm nhạc dẫn đầu về tỷ lệ chia sẻ trên tổng số videovới tỷ lệ lần lượt là 30% và 57% Đối với những video vượt quá 1 tỷ lượt xem, Âm nhạc chiếmtới 83% tổng số video
Từ những số liệu trên cho thấy YouTube là một trong những nền tảng được đông đảo ngườidùng tin tưởng bởi sự gần gũi và tiện lợi của nó, trong đó có cả nghệ sĩ - những người làm côngviệc sáng tạo âm nhạc Vì vậy mà hầu hết nghệ sĩ đều chọn nền tảng này là nơi giúp họ đến gầnhơn với công chúng, với khán giả thông qua việc đăng tải các sản phẩm - đơn cử là MV âmnhạc, lên YouTube Cũng chính bởi sự gần gũi và dễ dàng sử dụng của YouTube nên các MV
âm nhạc có chứa yếu tố tình dục hoá cũng xuất hiện ngày một nhiều hơn và dễ dàng tiếp cận đếnngười xem, đặc biệt là giới trẻ trong độ tuổi từ 18 đến 35
Các yếu tố, hình ảnh tình dục hóa đã được xuất hiện và hiện diện trong các MV nhạc Pop củanghệ sĩ quốc tế một khoảng thời gian rất lâu từ nhiều năm về trước Và việc đưa những hình ảnhtình dục hoá vào sản phẩm âm nhạc về mặt hình ảnh cũng đã tác động không ít đến thái độ củagiới trẻ thế giới Vậy nên đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã khai thác vấn đề nàynhằm mục đích tìm hiểu và đánh giá những tác động của hình ảnh tình dục hoá đối với ngườixem, đặc biệt là giới trẻ
Trang 25Theo Jane D Brown, Jeanne R Steele, Kim Walsh-Childers (2001), có khoảng 50% MV âmnhạc có chứa hình ảnh tình dục hoá Thêm vào đó, theo nghiên cứu của Ward và cộng sự (2014)cho biết các mối quan hệ tình dục được mô tả trên các phương tiện truyền thông chính thống rấtphổ biến và phức tạp Theo đó, nội dung tình dục được phân tích và ước tính rằng chúng xuấthiện khoảng 59% trong các video âm nhạc (Turner, 2011), 37% trong lời bài hát (Primack,Gold, Schwarz, & Dalton, 2008), bên cạnh các phương tiện truyền thông khác như phim điệnảnh, chương trình truyền hình, phân đoạn radio hay tiêu đề tạp chí.
Nhận thấy rằng đây là một đề tài rất đáng được quan tâm trong xã hội ngày càng phát triển vềmọi mặt như hiện nay, đặc biệt là sự quan tâm đến thái độ của giới trẻ về vấn đề tình dục hoátrong MV âm nhạc ngày càng phổ biến Bởi vậy, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài này để tiếptục kế thừa, phát triển, tìm hiểu sâu hơn và có cái nhìn tổng quan hơn trong bối cảnh hiện tại
1.4 Việt Nam
Tính đến hiện tại, Việt Nam vẫn chưa có thống kê cụ thể hay các nghiên cứu về vấn đề tình dụchoá trong các MV nhạc Pop Khi thực hiện tìm kiếm từ khoá “tình dục hoá" trên thanh công cụtìm kiếm của Google thì nhóm nghiên cứu nhận được khoảng 274.000.000 kết quả trong 0,32giây Chứng tỏ đây là một vấn đề rất được quan tâm tại Việt Nam Tuy nhiên, kết quả tìm kiếm
đa số là những bài báo, bài cảm nhận cá nhân về vấn đề này chứ chưa tìm thấy nhiều nghiên cứuliên quan Ngoài ra, nhóm nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm từ khoá có nội dung liên quan đến đề tài
là “tình dục hoá trong MV nhạc Pop" thì thu về được rằng là trong 0,39 giây có khoảng 184.000kết quả Điều này cho thấy vấn đề các MV nhạc Pop có chứa yếu tố tình dục hoá vẫn chưa đượcnhiều người quan tâm tại Việt Nam nói chung và các nhà nghiên cứu nói riêng
Mặc dù yếu tố tình dục hoá trong các MV âm nhạc tại Việt Nam vẫn chưa được đề cập đếnnhiều nhưng trước đó, vấn đề này cũng đã xuất hiện nhiều trong thơ ca và cả trong những lời bàihát của những thế hệ đi trước Có thể lấy một số ví dụ trong tác phẩm của nữ thi sĩ Hồ XuânHương, trong thơ bà luôn có sự xuất hiện của những hình ảnh gợi chỉ đến tình dục hoá Các bàiCái giếng, Đá chẹt thi, Núi Kẽm Trống ám chỉ sinh thực khí nữ; Dệt cửi đêm, Vịnh đấu kỳ(Vịnh đánh cờ) nói đến sự giao hoan nam nữ Ngoài ra, trong thơ của bà chúa thơ Nôm luôn
có một nhãn quan, một cái nhìn đậm đà màu sắc dục hoá Đơn cử là hình ảnh “quả mít”, “bánhtrôi nước”, “các hang động”, “việc dệt cửi”, “cảnh vật ở chốn thiền quan” đều được nhìn dướicon mắt mang tính tình dục hoá Bên cạnh thơ thì âm nhạc những thập niên trước của thế kỷ 20cũng chứa một vài hình ảnh liên quan đến tình dục hoá Đơn cử là trong những bài hát Mưahồng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có câu hát “Em đi về cầu mưa ướt áo” được giải nghĩa là
em đi về, cầu cho mưa ướt áo em Hình ảnh một người con gái đi dưới cơn mù mịt làm chiếc áomỏng của cô ướt sũng, lớp
Trang 26áo dán sát vào cơ thể và có thể để lộ ra phần nào cơ thể, da thịt cô gái ây Và hình ảnh ấy là mộthình ảnh vô cùng gợi cảm, gợi dục.
Tuy nhiên, chỉ đến những năm đầu của thập niên 2000, những yếu tố tình dục hóa từ các nướcphương Tây mới được du nhập vào Việt Nam mạnh mẽ hơn bao giờ hết Trong khi ở nướcngoài, những cái tên gắn liền với những yếu tố tình dục hóa hiện đại như Britney Spear, LadyGaga, đã xuất hiện và có sự ảnh hưởng nhất định đối với thị trường trong và ngoài nước, vàViệt Nam cũng nằm trong số đó Những nghệ sĩ bắt đầu có cái nhìn gợi mở hơn về vấn đề tìnhdục và thể hiện các yếu tố tình dục hóa một cách rõ ràng hơn vào MV, ví dụ như ca khúc Oh mychuối - Sĩ Thanh (2014), Tự sướng - Mai Khôi (2014)
Từ những tìm kiếm và quan sát về vấn đề tình dục hoá trong các MV nhạc Pop, nhóm
nghiê n cứ u đã nhận thấy đươc bối cảnh tổng quan của vấn đề này được rất nhiều học giả
và nhà nghiên cứu quan tâm trong nhiều thập niên qua Tuy vậy, trong quá trình thực hiện đề tài,chúng tôi nhận thấy tại Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đặc trưng cho chủ đề này Vậynên, việc vận dụng các yếu tố tình dục hoá vào MV âm nhạc đang dần tác động đến thái độ củangười xem, đặc biệt là giới trẻ trong độ tuổi 18 đến 22 là một vấn đề
3.1 cần đươc đào sâ u nghiê n cứ u hơn nữa Khung lý thuyết Lý thuyết về truyền thông có liên quan
Theo lý thuyết truyền thông tương tác biểu trưng (Symbolic Interactionism) thì con người đặt ýniệm của bản thân cho các ký hiệu, biểu tượng Những ý nghĩa này sau đó sẽ chi phối hành vi,suy nghĩ của con người Việc đưa những yếu tố tình dục hóa vào MV cũng tương tự như kýhiệu, nó tồn tại ý niệm của nhà sản xuất và có sự chi phối nhất định đến khác giả, tùy cách giải
mã của mỗi cá thể Theo đó, mục đích của lý thuyết truyền thông tương tác biểu trưng là nhằmthông qua ký hiệu, mỗi cá thể sẽ có những cách giải mã khác nhau, từ đó tạo nên sự tương táccho xã hội Như vậy, việc càng đưa nhiều hình ảnh có tính biểu tượng (ở đây là những hình ảnhmang tính tình dục hóa, hay hình ảnh đồ vật hóa tình dục) thì sẽ càng có nhiều tranh cãi xungquanh nó Điều đó tạo nên sức hút cho các MV
Theo lý thuyết gieo cấy truyền thông (Cultivation theory), việc tiếp xúc lâu dài với các sảnphẩm truyền thông trong một thời gian dài quyết định hành vi của người sử dụng, họ tin rằng xãhội thực tế được trình bày theo đúng những gì các sản phẩm truyền thông truyền tải Khi liên tụctiếp cận những hình ảnh mang yếu tố tính dục hoá trong các MV sẽ gây ra những lầm tưởng chongười xem, khiến họ bình thường hóa những hành động tình dục ở cuộc sống đời thường Trongmột nghiên cứu, những người tham gia nam khi xem các video nhạc Hip-hop có nội dung tìnhdục cao sẽ có suy nghĩ vật hóa phụ nữ, dễ dãi hơn trong tình dục, có định kiến giới và chấp nhậnviệc cưỡng hiếp khi so với nhóm tiếp cận âm nhạc ở mức độ thấp hơn (Michelle E Kristler andMoon J Lee, 2010)
Theo lý thuyết nhận thức học tập xã hội (Cognitive social learning theory) cho rằng mọi người
có xu hướng học tập theo những hành vi được khen thưởng hoặc những hành vi không bị xửphạt Điều đó có nghĩa là người xem có thể có xu hướng học tập theo những hành vi tương tựtrên các MV khi ở một hoàn cảnh nhất định Đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên, khi nhậnthức còn chưa chín chắn, họ sẽ dễ học theo các hành vi trong MV (như hôn chúc ngủ ngon vàocuối buổi hẹn hò, làm tình với một hoặc nhiều người) (Brown, 2002) Một điều có thể nhận thấy
là các hành vi này hoàn toàn được truyền bá công khai, do đó người xem lâu dần sẽ xem đó nhưmột việc hiển nhiên, dẫn đến học tập theo các hành vi đó
Trang 273.2 Lý thuyết về khách thể hoá
Lý thuyết vật thể hóa (Objectification Theory) được phát minh bởi Fredrickson & Roberts vàonăm 1997 và được Aubrey sử dựng cho nghiên cứu năm 2011 Nhiều nghiên cứu khác cũng dựavào khung lý thuyết này để phát triển
Lý thuyết khách thể hóa cho rằng vật thể hóa theo hướng tình dục đối với cơ thể phụ nữ khitruyền thông hướng phụ nữ đến việc họ tự xem chính bản thân mình như một đồ vật và bị đánhgiá bởi những đối tượng khác Phụ nữ tự đồ vật hóa bản thân thường có nguy cơ không chỉ cóthái độ tiêu cực đối với cơ thể của họ (Aubrey, 2011; e.g.,Calogero, 2004; Noll & Fredrickson,1998; Tiggemann & Lynch, 2001), mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần như là trầm cảmhay rối loạn ăn uống (Aubrey, 2011; e.g., Noll & Fredrickson, 1998; Slater & Tiggemann,2002)
Cụ thể, Fredrickson & Roberts cho rằng việc tự tình dục hóa đồ vật đối với bản thân có thể làmtăng sự lo lắng của phụ nữ về ngoại hình (tức là sợ về thời điểm và cách một cơ thể của mộtngười khác sẽ được nhìn vào và đánh giá); giảm cơ hội cho các trạng thái động lực cao điểmhoặc dòng chảy; Giảm nhận thức của cảm giác cơ thể bên trong (ví dụ, đói, hưng phấn tình dục,
co thắt dạ dày); Tăng cơ hội phụ nữ về sự xấu hổ cơ thể (tức là, cảm xúc kết quả từ việc đolường bản thân theo một tiêu chuẩn văn hóa và sắp tới); và làm tăng sự lo lắng của phụ nữ về sự
an toàn về thể chất của họ (ví dụ: lo ngại về việc bị hãm hiếp), từ đó có thể dẫn đến ăn uống rốiloạn và trầm cảm
Dawn M Szymanski (2011) đã diễn tả lý thuyết trên bằng mô hình những nguyên tố chính trongquá trình vật thể hóa tình dục như sau:
Trang 29Mô hình những nguyên tố chính trong quá trình tình dục hóa vật thể (Dawn M Szymanski, 2011)
Fredrickson and Roberts (1997) chỉ ra rằng truyền thông là nguyên nhân cho văn hóa vật thể hóatheo hướng tình dục Một số người có kết luận khác cho rằng truyền thông không chỉ có chứcnăng xã hội quan trọng trong việc phát triển những cấp bậc về đặc điểm của tự vật hóa (Aubrey,2006; 2007; 2011), mà còn là một điều kiện quan trọng trong việc kích hoạt việc tình dục hóa tựthân trong bối cảnh đương đại (Aubrey, 2011; Aubrey, Henson, Hopper, & Smith, 2009;Harrison & Fredrickson, 2003) Truyền thông làm việc đó thông qua tình dục hóa cơ thể nhưmột đồ vật, diễn ra khi cơ thể của một người , hay một phần cơ thể, hay những chức năng tìnhdục bị tách ra khỏi người đó, giảm đi bản chất của bộ phận đó, hoặc coi nó đại diện cho chính côấy/ anh ấy (Aubrey, 2011; Fredrickson & Roberts, 1997, p 175) Cách chính mà truyền thôngtruyền bá vật thể hóa theo hướng tình dục là phô bày cơ thể và đưa những nội dung nhấn mạnhtầm quan trọng của cơ thể và ngoại hình
Năm 2011, Dawn M Szymanski mở rộng lý thuyết này bằng cách chứng minh nó có thể hữuích trong việc hiểu lý do phụ nữ sử dụng chất gây nghiện và/hoặc lạm dụng chất gây nghiện.Một trong những lý do Dawn cho rằng phụ nữ lạm dụng chất kích thích là do tiếp xúc với nhữngsản phẩm truyền thông phản cảm về tình dục, vốn kết hợp giới tính, ngoại hình phụ nữ với việc
sử dụng chất gây nghiện
3.3Mô hình về tiền đề và hậu quả của việc cá nhân hóa (internalization) (nghĩa là sự
tự kiểm chứng của mỗi cá nhân) niềm tin tình dục hóa về phụ nữ (ISBW)
Mô hình được đề cập trong nghiên cứu Sexualization and youth: Concepts, theories, and models(2019) của Rebecca S Bigler Carlo Tomasetto và Sarah McKenney
Các mô hình riêng biệt được đề xuất cho nam và nữ Mỗi thành phần chứa bốn thành phần cungcấp và xuất phát từ cá nhân hóa niềm tin tình dục hóa về phụ nữ (ISBW):
(a) các yếu tố rủi ro khách quan liên quan đến ISBW (được mô tả bằng hình chữ nhật ở ngoài cùng bên trái),
(b)các yếu tố rủi ro chủ quan làm giảm tác động của các yếu tố rủi ro khách quan đối với ISBW (được mô tả bằng hình vuông ở trên cùng bên trái),
(c) hậu quả tâm lý của ISBW (được mô tả bằng kim cương)(d) hậu quả hành vi của ISBW (được mô tả bằng hình bầu dục)
Trang 30Mô hình quá trình cá nhân tình dục hóa ở nữ (Rebecca S Bigler Carlo Tomasetto và Sarah McKenney, 2019)
Mô hình quá trình cá nhân tình dục hóa ở nam (Rebecca S Bigler Carlo Tomasetto và Sarah McKenney, 2019)
Ngoài ra, mô hình còn phân biệt giữa các hậu quả đối với ảnh hưởng, nhận thức và hành vi liênquan đến bản thân và những hậu quả liên quan đến người khác
Theo mô hình này thì việc cá nhân tự tình dục hóa của mỗi giới có sự khác biệt Các yếu tố chủquan làm giảm tác động của các yếu tố khách quan, từ đó nhấn mạnh tính cá nhân hóa/ nội sinh(internalization) của từng cá nhân trong việc tình dục hóa Bên cạnh đó, ISBW của mỗi cá nhân,tức niềm tin/ định kiến sẵn có của mỗi cá nhân cũng tác động trở lại những yếu tố bên ngoài.ISBW dẫn đến ảnh hưởng về mặt tâm lý và sinh lý Ngoài ra, các hậu quả hành vi của ISBWcũng có tác động trở lại các yếu tố rủi ro khách quan
Đối với nam, ISBW chỉ dẫn đến hậu quả tâm lý là vật hóa phụ nữ trong khi nữ giới chịu nhiềuảnh hưởng về tâm lý hơn Điều đó cũng chứng nhận là phụ nữ chịu nhiều ảnh hưởng
Trang 31tiêu cực ở vấn đề tình dục hóa hơn nam Hơn nữa, từ những ảnh hưởng tâm lý nam giới còn có
xu hướng có hành vi tiêu cực đối với nữ giới trong khi nữ giới lại có hành vi tác động chủ yếuđến bản thân họ Bảng mã hoá Nhóm nghiên cứu quyết định chọn 2 cấp độ của nghệ sĩ theokhung lý thuyết của Aubrey (2011): Nghệ sĩ hoặc toàn bộ MV
Đối với cấp độ nghệ sĩ, chỉ đánh giá bởi nghệ sĩ chính (nghệ sĩ solo) Nếu MV ban nhạc thì dựavào diễn viên nam/ nữ chính cho MV đó Đây là điều khác biệt so với nghiên cứu trước đây bởi
có sự khác biệt về văn hóa Trong khi ở nước ngoài, chỉ có một nghệ sĩ đại diện cho ban nhạc(Aubrey, 2011) thì ở Việt Nam, vị trí ca sĩ chính không đại diện cho điều đó Đồng thời, cácthành viên của ban nhạc ở Việt Nam đa phần chỉ đảm nhiệm vai trò ca hát, không tham gia trìnhdiễn, vì vậy, không thật sự chính xác khi đánh giá chỉ một thành viên ban nhạc cho tổng thể
MV Đối tượng trang trí như vũ công sẽ không được tính ở cấp độ nghệ sĩ mà sẽ được tính ở cấp
Mã hóa về nhân khẩu học của các nghệ sĩ
Bởi vì chỉ bao quát trong các MV nhạc Pop ở Việt Nam, vì vậy, nội dung của bài nghiên cứu chỉhướng đến nhóm tuổi, không nhắm vào màu da, chủng tộc, Nhóm tuổi được chia thành 3 cấp:Thanh thiếu niên (14-18), người trẻ tuổi (19-24) và người lớn (hơn 24 tuổi) dựa vào thời điểm
mà MV ra mắt
Thứ hai, là vấn đề giới tính Có sự phân biệt giữa nam và nữ nghệ sĩ trong việc truyền tải thôngđiệp về hình ảnh tình dục hóa như đã đề cập
Mã hóa các hành vi liên quan đến tình dục hóa đồ vật (Coding of Sexual Objectification)
a Phơi bày những bộ phận của cơ thể
b Ánh nhìn: Ánh nhìn được xem xét khi nó đặt sự chú ý đến một phần hoặc toàn bộ cơ thể của người khác với sự khao khát tình dục hay ham muốn
Trang 32c Nhân vật trang trí: Những nhân vật trang trí thường được đề cập với thái độ phục tùngtrong những MV ca nhạc.
Mã hóa về sự hấp dẫn
a Khuôn mặt hấp dẫn: Đối với nam giới, sự hấp dẫn được cho là có các đặc điểm như cóxương quai hàm, khuôn mặt “baby”, trán cao Đối với phụ nữ, các đặc điểm hấp dẫn bao gồmmắt, mũi nhỏ, cằm nhỏ, đôi môi đầy đặn, xương gò má nổi bật và hẹp, và một nụ cười rộng.Dựa trên các tiêu chí này, nhóm xác định 3 mức độ: hấp dẫn, trung bình, không hấp dẫn
b Hình dạng cơ thể: Gồm có 3 mức độ (3: có chứa yếu tố khách thể hóa trong MV hoặc rất
cơ thể rất cơ bắp, 2: trung bình, 1: không có yếu tố cơ bắp) Thứ hai là sự mảnh khảnh, cả nam
và nữ đều yêu cầu một vòng eo nhỏ và đó được xem là một thước đo cho cả hai giới Thước đo
sẽ là cơ thể đồng hồ cát cho nữ và vùng tam giác ngược chữ V cho nam Vòng eo cũng đượcđánh giá theo mức độ nhỏ, trung bình và lớn
Mã hóa về tình dục hóa
a Tình dục hóa ở mức độ toàn cầu: Nghĩa là thông qua những hành động, ngôn ngữ hìnhthể mà tất cả mọi người trên thế giới đều phán đoán được về dụng ý của nghệ sĩ như là những cửchỉ quyến rũ, dáng đứng, những cử chỉ gợi dục trên khuôn mặt Có 3 mức độ là “mang tính tìnhdục hóa cao”, “mang tính tình dục hóa một phần” và “không mang tính tình dục hóa”
b Trang phục khiêu khích: Chỉ tính đối với nghệ sĩ chính, bởi vì trang phục của nghệ sĩthông thường sẽ nổi bật hơn so với những vũ công đi kèm
c Vũ đạo quyến rũ: Bao gồm cả nghệ sĩ và vũ đoàn bởi vì hiếm khi nào nghệ sĩ sẽ biểu diễn
vũ đạo một mình
Tổng quan khung lý thuyết
Lý thuyết về tình dục hóa tự thân thông thường sẽ đề cập đến nguyên nhân và tác hại của việc đó, ở cả mặt thể chất lẫn tinh thần đến với người tiếp nhận thông điệp Ngoài ra khung lý thuyết cũng lý giải tại sao những hình ảnh tình dục hóa lại có sức ảnh hưởng đến như vậy thông qua những học thuyết truyền thông và những nguyên tắc liên quan đến vấn
đề tâm lý Điểm mạnh, điểm yếu của khung lý thuyết
Khung lý thuyết đề cập khá đầy đủ đến ảnh hưởng về tâm lý và sinh lý của người xem khi đónnhận những hình ảnh tình dục hóa Ngoài ra cũng đề cập đến những nguyên nhân ảnh hưởngđến Những khung lý thuyết nhóm nghiên cứu tìm được đều cho ra kết quả tương
Trang 33tự nhau, không có sự mâu thuẫn Các khung lý thuyết được tìm thấy cũng khá mới, đảm bảo độcập nhật.
Tuy nhiên, về mặt tích cực, mặc dù ở mô hình ISBW có đề cập đến một số mặt tích cực của việc
tự tình dục hóa bản thân ở nữ giới nhưng lại không khai thác sau ở khía cạnh này
Tính ứng dụng của khung lý thuyết trong đề tài nghiên cứu
Dựa vào khung lý thuyết, nhóm nghiên cứu có thể xác định được đâu là hình ảnh tình dục hóathông qua bảng mã hóa các hành vi Thông qua đó mà có thể đánh giá các MV nhạc Pop ở ViệtNam theo một thang đo định lượng, khoa học
Cũng dựa vào khung lý thuyết, nhóm cũng có được nền tảng về các nguyên nhân cũng như hậuquả của việc xem các hình ảnh tình dục hóa hay tình dục hóa tự thân thông qua truyền thông củamọi người, từ đó có thể thiết kế bảng câu hỏi phù hợp, chi tiết
Trang 342 Tổng quan về các yếu tố tình dục hóa xuất hiện trong các MV nhạc Pop ở Việt Nam từ năm 2018-2021
Nhóm nghiên cứu khảo sát khảo sát những MV nhạc Pop trong thời gian từ năm 2018 - 2021
MV phải đáp ứng một số yếu tố để có thể được xem xét đối tượng khảo sát của nhóm Để xácđịnh là MV đó có độ nổi tiếng và gây ảnh hưởng nhất định, MV được xem xét phải có ít nhất 1triệu lượt xem MV phải thuộc thể loại nhạc Pop, do nghệ sĩ Việt Nam phát hành trong giai đoạn
từ năm 2018 - 2021 Sở dĩ chúng tôi lựa chọn giai đoạn này là vì để có độ lùi nhất định trongviệc xem xét, đánh giá những yếu tố tình dục hóa xuất hiện trong MV Đồng thời, đây cũng làgiai đoạn tiệm cận khảo sát, vẫn cho cái nhìn khách quan, không bị tụt hậu
Nhóm nghiên cứu xác định được trong giai đoạn từ năm 2018 đến 2021 tại Việt Nam có 35 MV
có yếu tố tình dục hóa Trong đó có 1 MV lyrics, còn lại đều là MV kèm hình ảnh và ca từ.100% MV được thu thập trên nền tảng mạng xã hội YouTube Nhóm nghiên cứu chỉ lựa chọnnhững MV được đăng tải bởi chính nghệ sĩ hay bên thứ ba được ủy quyền Những bên đăng tải
không được ủy quyền thì MV sẽ không được tính (ví dụ như MV Fabulous - Trang Pháp).
Nhóm nghiên cứu dựa vào bảng mã hóa để xác định những yếu tố tình dục xuất hiện trongnhững MV nói trên
Trang 352.1 Các yếu tố tình dục hóa thể hiện thông qua vũ đạo
Nhảy múa hay vũ đạo là một loại hình nghệ thuật biểu diễn gồm các chuỗi chuyển động có chủđích của con người Các động tác trong vũ đạo hầu hết đều do vũ công sáng tạo và kết hợp lạivới nhau để có một tổ hợp hoàn chỉnh Có nhiều thể loại vũ đạo khác nhau như múa đương đại,dancesport, múa ba lê, nhảy hiphop, múa dân vũ, múa cổ trang, Nhưng trong nghiên cứu này,nhóm nghiên cứu chỉ tập trung vào những vũ đạo có chứa các yếu tố tình dục hoá như vũ đạo cóyếu tố nhạy cảm khi kết hợp với việc khoe ngực, khoe mông, có sự va chạm da thịt giữa vũ côngnam và nữ,
Đối với MV âm nhạc trong thời đại ngày nay, vũ đạo là một trong những yếu tố quan trọng củanhạc Pop và thường được các nghệ sĩ đưa vào sản phẩm để góp phần làm nên sự thành công cho
MV âm nhạc đó Tuy nhiên, không phải tất cả nghệ sĩ đều chọn đưa vũ đạo vào đứa con tinhthần của họ vì không phù hợp với một số thể loại âm nhạc Đơn của là với MV Em đã thươngngười ta hơn anh, ca sĩ Noo Phước Thịnh đã lựa chọn không thể hiện vũ đạo có yếu tố tình dụchoá trong MV vì không phù hợp Ngược lại, với những MV thuộc những thể loại khác nhưDance Pop thì việc đưa vũ đạo vào lại là một trong những lựa chọn ưu tiên của người nghệ sĩ.Dựa vào số liệu được thu thập và phân tích theo số lượng MV âm nhạc có chứa yếu tố tình dụchoá tại Việt Nam được đăng tải trên nền tảng YouTube từ 2018 - 2021, nhóm nghiên cứu nhậnthấy rằng yếu tố tình dục hoá được thể hiện thông qua vũ đạo của ca sĩ, vũ công chiếm khoảng54,3% (tức 19/35) trong tổng số các MV âm nhạc có chứa yếu tố tình dục hoá Từ số liệu trên cóthể thấy, việc đưa các động tác vũ đạo có tính quyến rũ, khiêu khích như khoe mông gợi cảm,lắc mông, bắt chước hành vi quan hệ tình dục, vào MV âm nhạc là một trong những hình thứcgiúp MV thu hút nhiều lượt xem hơn từ khán giả, điển hình là các MV trong danh sách khảo sátđều đạt được trên 1 triệu lượt xem
Cũng theo số liệu thống kê được về Tổng số phơi bày một hoặc toàn bộ cơ thể trong bảng mãhoá thì trong các MV âm nhạc, phần trăm phơi bày một bộ phận chiếm 79% trong khi phần trămphơi bày toàn bộ cơ thể chỉ chiếm 29% Điều này cho thấy việc khoe một bộ phận cơ thể trong
MV âm nhạc hiện nay không phải là một điều mới lạ Và khi sử dụng kết hợp với những độngtác vũ đạo thì việc phơi bày bộ phận cơ thể nhạy cảm như ngực, mông càng dễ dàng xuất hiệnhơn trong các MV âm nhạc
Từ thông tin và số liệu thu thập được từ bảng mã hoá, nhóm nghiên cứu cho rằng vũ đạo là mộttrong những yếu tố then chốt trong các MV âm nhạc có chứa yếu tố tình dục hoá
2.2 Các yếu tố tình dục hóa thể hiện thông qua ca từ
Theo số liệu thu thập từ việc phân tích các MV âm nhạc chính thức trên nền tảng YouTube,nhóm nhận thấy việc thể hiện yếu tố tình dục hóa thông qua ca từ dường như có phần ít hơn sovới qua hình ảnh, vũ đạo,… Theo đó, có 46,29% MV sử dụng ca từ trực tiếp hoặc
Trang 36mang hàm ý về tình dục Tuy nhiên, các MV này lại có lượt xem khá lớn, cho thấy ca từ cũng làmột trong số các yếu tố thu hút người xem Thậm chí, các ca từ theo xu hướng còn dễ được pháttán rộng hơn.
Về mối liên hệ giữa ca từ và hình ảnh mang yếu tố tình dục hóa, 53,7% còn lại (tức 22 trên tổng
số các MV), nghệ sĩ vẫn đưa hình ảnh mang yếu tố tình dục hóa vào dù các ca từ ẩn ý không được vận dụng Có khi, cả hai vấn đề ca từ và hình ảnh đều được vận dụng trong cùng 1 MV Nghĩa là, ca từ và hình ảnh có chứa yếu tố tình dục hóa không nhất thiết phải được sử dụng cùngmột lúc Điều này còn tùy thuộc vào mong muốn của người sản xuất âm nhạc
Một nghiên cứu gần đây liên kết nội dung tình dục trên phương tiện truyền thông với hoạt động
tình dục của thanh thiếu niên cùng với những phát hiện chứng minh mối liên hệ giữa việc tiếpxúc với phương tiện phản cảm và hành vi tự giới tính hóa Điều này rất có ích đối với các nhàgiáo dục giới tính khi họ mong muốn cải thiện kết quả sức khỏe tình dục và thúc đẩy sự pháttriển tình dục lành mạnh của thanh thiếu niên Các nhà giáo dục giới tính nên nhận thức được xuhướng quan trọng gần đây đối với việc đưa tình dục vào lời bài hát và tác động có thể xảy ra của
âm nhạc như vậy đối với hành vi và thái độ tình dục của thanh thiếu niên theo nghiên cứu củaCougar Hall và cộng sự của ông (2012)
Nghĩa là, việc đưa yếu tố tình dục hoá vào MV âm nhạc mà cụ thể là thông qua lời nhạc cónhững tác động nhất định đối với cảm xúc và thậm chí là dẫn đến hành vi của người xem, đặcbiệt là thanh thiếu niên Trong khi đó, có đến 223 người trong tổng số 400 người tham gia khảosát (31,81%) cho rằng yếu tố tình dục hoá được đưa vào ca từ của MV Đây là một con số rấtcao cho thấy ca từ là một trong các phương tiện để các nhà sản xuất âm nhạc đan xen vào các từngữ thể hiện yếu tố tình dục hoá
Trang 372.3Các yếu tố tình dục hóa thể hiện thông qua hình ảnh/nội dung trong MV âm nhạc
Hình ảnh và nội dung của MV âm nhạc được biết là một trong những yếu tố yếu trọng trongviệc thể hiện những yếu tố tình dục hóa thông qua MV âm nhạc
Theo bảng mã hóa hành vi liên quan đến đồ vật hóa theo hướng tình dục (Coding of Sexual Objectification) (Aubrey, 2011) bao gồm việc phơi bày cơ thể, ánh nhìn và nhân vật trang trí Theo đó, phần lớn các MV nhạc Pop ở Việt Nam phơi bày một bộ phận cơ thể nhiều hơn là phơibày toàn bộ cơ thể (71% so với 29%) Trong cùng một MV có nhiều phân cảnh khác nhau, việc phơi bày cơ thể cũng khác nhau nhưng phần lớn nghệ sĩ Việt Nam chỉ chọn một số bộ phận như lưng, môi, ngực, thay vì toàn bộ cơ thể Đây cũng là đặc điểm của việc tình dục hóa, tách rời
bộ phận cơ thể khỏi chức năng của nó và gán với vấn đề tình dục Ví dụ như trong MV Gái độc thân (tlinh), ống kính đã focus vào mông của nữ nghệ sĩ khi họ đang giả vờ thực hiện hành vi
Trang 38Đồng thời, trong hầu hết các MV, nhân vật phụhay nhân vật trang trí cũng xuất hiện đều có mặt để đóng vai trò “bị phụ thuộc” và tôn lên vaitrò “chủ nhân” của một đối tượng nhất định Những nhân vật trang trí có thể là một hoặc mộtnhóm nhân vật, có Ví dụ trong MV Chạy ngay đi của Sơn Tùng M-TP, rất nhiều những cô gái
ăn mặc gợi cảm xoay quanh một người con trai và liên tục thực hiện những cử chỉ gợi dục Có91,4% MV có nhân vật trang trí (32 MV) Theo bảng mã hóa về tình dục hóa bao gồm 3 yếu tố:trang phục, ca từ và vũ đạo Ở đây sẽ phân tích yếu tố chủ yếu được thể hiện qua mặt hình ảnh
là trang phục Trang phục được thể hiện trong 35 MV gần như 100% đều xuất hiện những trangphục khiêu khích (ngoại trừ MV lyrics Nến và Hoa) tùy vào từng mức độ Ở mức độ cao nhất,nam hoặc nữ diễn viên/ ca sĩ có thể khỏa thân/ bán khỏa thân vì một mục đích nào đó Ví dụ nhưtrong MV Phút giây tuyệt vời (Tóc Tiên), 2 nhân vật nam bán khỏa thân giữa đường để chonhững nhân vật nữ lựa chọn để có thể đi nhờ xe (0:35-0:58)
Theo bảng mã hóa về sự hấp dẫn, gần như 100% nhân vật xuất hiện trong những MV có yếu tốtình dục đều có cơ thể và khuôn mặt hấp dẫn, không thấy ngoại lệ những hình ảnh cơ thể khônghoàn hảo xuất hiện trên MV Điều này có thể góp phần khẳng định thêm lý thuyết mô hìnhISBW rằng những yếu tố tình dục hóa sẽ gây áp lực lên nữ giới khi tiếp
Trang 39cận với những MV tương tự Họ tự áp lực với những khuôn mẫu về vẻ ngoài của nghệ sĩ nữ vànhãn quang nam giới về cái đẹp.
Theo thống kê, yếu tố tình dục hóa và đồ vật hóa theo hướng tình dục luôn song hành với nhau.Một số MV có chứa yếu tố cả hai yếu tố như MV Mời anh vào team em của Chi Pu Nhưngphần lớn những MV nhạc Pop ở Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn chỉ thể hiện ở dạng đưa yếu tốtình dục hóa vào MV
Không chỉ vậy, chúng tôi còn nhận thấy đi kèm với các yếu tố tình dục hóa, một số MV còn đềcập đến các hình thái khác của tình dục mà tiêu biểu là Bạo lực tình dục Hình ảnh nhân vật namtrói nhân vật nữ trong MV Mời anh vào team em (Chi Pu) được xem là một ví dụ Hoặc ngượclại là hình ảnh nam diễn viên bị trói trong tư thế tương đối phản cảm cùng với trang phục hởhang trong MV Xin lỗi anh quá phiền (Đông Nhi)
Tiểu kết chương 1
Có thể thấy, vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu tình dục hóa là khá nhạy cảm nhưng lại tương đối phổbiến trên phạm vi thế giới Ngược lại, trong giới hạn phạm vi tại Việt Nam, đây là vấn đề đượcquan tâm nhưng vẫn chưa thực sự có một nghiên cứu sâu sắc và hoàn chỉnh Trong khi đó, cáckhái niệm của chúng thường bị gộp chung, bị hiểu sai theo một cách nào đó khiến các khía cạnhcủa vấn đề vẫn chưa được làm sáng tỏ
Đặc biệt, khi yếu tố tình dục hóa được mang vào sản phẩm âm nhạc, cách nhận biết chúng ngàycàng khó hơn bởi cách thể hiện gián tiếp, ẩn dụ nhằm đáp ứng tiêu chí phù hợp với thuần phong
mỹ tục tại Việt Nam Đa phần các yếu tố tình dục hóa được thể hiện qua 2 khía cạnh là vũ đạo,
ca từ; đối với nghệ sĩ thực hiện MV thì bao gồm trang phục, biểu cảm, và cũng bao gồm cáccách thể hiện của nhân vật phụ, vũ công trong MV đó Như vậy, nghĩa là, yếu tố tình dục hóaxuất hiện ở rất nhiều khía cạnh với tần suất xuất hiện trong các MV ngày càng cao bởi sức hấpdẫn và độ thu hút của nó
Trước thực trạng yếu tố tình dục hóa trong MV có xu hướng gia tăng ngày một nhiều, nhómquyết định sẽ thực hiện nghiên cứu để người đọc có những cách hiểu, cách nhìn nhận toàn diệnhơn về vấn đề đó Các khung lý thuyết được sử dụng bao gồm lý thuyết truyền thông tương tácbiểu trưng, lý thuyết gieo cấy truyền thông, lý thuyết nhận thức học tập xã hội, lý thuyết vềkhách thể hóa Ngoài ra, mô hình về tiền đề và hậu quả của việc cá nhân hóa và bảng mã hóacũng được vận dụng Thông qua đó, nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ tìm hiểu tương đối trọn vẹncác khía cạnh thể hiện của yếu tố tình dục hóa xuất hiện trong các sản phẩm nhạc Pop ViệtNam
Trang 40CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ TÌNH DỤC HÓA XUẤT HIỆN TRONG CÁC MV NHẠC POP Ở VIỆT NAM TỪ 2018 - 2021 ĐỐI VỚI SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Để đo mức độ tác động của các yếu tố tình dục hóa xuất hiện trên các sản phẩm truyền thông, cụthể là các MV nhạc Pop ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát lên 400 sinh viêntrong khối Đại học Quốc gia TP HCM (độ tuổi từ 18-22) Sau đó tiến hành phỏng vấn sâu ngẫunhiên 50 cá nhân bằng phương pháp luận định tính để nắm bắt những trải nghiệm cá nhân củamỗi người về vấn đề trên Qua phỏng vấn sâu với 50 thông tín viên, nhóm nghiên cứu đã đođược những tác động của các yếu tố tình dục hóa lên nhận thức, cảm xúc và hành vi của ngườixem
1 Tác động lên nhận thức
Theo khảo sát nhóm đã thực hiện với số liệu thu về từ 400 người tham gia, gần một nửa ngườitham gia, cụ thể là 40,45% (tức 163 người) cho rằng việc bị tình dục hoá xuất hiện ở cả hai giớitính nam, nữ Từ đó cho thấy thực tế, tất cả mọi giới đều có thể trở thành đối tượng tình dục hoáxuất hiện trong các MV nhạc Pop
Về phương tiện truyền thông dễ xuất hiện tình trạng này được cho rằng là phim và MV âm nhạcvới tỷ lệ tương đương nhau, lần lượt là 25,81% và 25,31% Điều này cho thấy việc tình dục hoá
dễ xuất hiện ở trên các phương tiện truyền tải dưới dạng video, tập trung vào hình ảnh và là mộttrong những phương tiện truyền tải thu hút rất nhiều lượt xem, đặc biệt phục vụ cho nhu cầu giảitrí
Chỉ chú trọng vào đề tài nghiên cứu, nhóm đưa ra câu hỏi “Theo bạn, MV nhạc Pop Việt Namhiện nay có chứa yếu tố tình dục hoá không?” và nhận được câu trả lời “Có” chiếm hơn một nửa
số lượng người tham gia, cụ thể là 242 người, tương ứng với 60,05% Tức là, đối tượng khảosát, đặc biệt là sinh viên mà nhóm đang tập trung nghiên cứu đã nhận thức được các MV nhạc