1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Xây dựng nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

257 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh trung học cơ sở thành phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Ngọc Khôi
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Tuấn Hiếu, TS. Phan Hồng Minh
Trường học Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 257
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.33 Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 8 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm trước thực nghiệm 127 3.34 Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 9 nhóm đối chứng v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

-

NGUYỄN NGỌC KHÔI

XÂY DỰNG NỘI DUNG DẠY NGOẠI KHÓA

MÔN TAEKWONDO NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

BẮC NINH - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

-

NGUYỄN NGỌC KHÔI

XÂY DỰNG NỘI DUNG DẠY NGOẠI KHÓA

MÔN TAEKWONDO NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Nguyễn Ngọc Khôi

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVHTT&DL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 5

MỤC LỤC Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Mục lục

Danh mục các biểu bảng, biểu đồ trong luận án

1.2 Đặc điểm Công tác Giáo dục thể chất ngoại khóa trong các

1.3 Những yếu tố tự nhiên và xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất của học sinh trung học cơ sở thành phố Hà Nội 17

1.5 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở trong

1.6 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 39

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 48

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu tham khảo 48

Trang 6

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 59

3.1 Đánh giá thực trạng công tác giáo dục dục thể chất và thực trạng hoạt động ngoại khóa của các câu lạc bộ võ Taekwondo dành cho học sinh các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

61

3.1.1 Thực trạng công tác giáo dục thể chất cho học sinh các

3.1.2 Lựa chọn các tiêu chí và test đánh giá thể chất của học sinh

3.1.3 Thực trạng thể chất của học sinh Trung học cơ sở thành phố

3.1.4 Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1 86

3.2 Nghiên cứu xây dựng nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo nhằm phát triển thể chất của học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

98

3.2.1 Lựa chọn nội dung giảng dạy ngoại khóa môn Taekwondo cho học sinh khối Trung học cơ sở thành phố Hà Nội 98 3.2.2 Xây dựng chương trình và phương pháp giảng dạy môn

3.2.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2 118

3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo đối với sự phát triển thể chất của học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

120

3.3.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 3 144

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

3.1 Khung phân phối chương trình môn học thể dục cho học

sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (70 tiết)

Sau tr.61 3.2

Thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn Giáo dục thể chất nội khóa tại các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=40)

67

3.6

Thực trạng nội dung tập luyện thể thao ngoại khóa của học sinh các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=40)

69

3.7 Thực trạng hình thức tập luyện thể thao ngoại khóa

của học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=40) 71 3.8

Nhận thức của học sinh các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội về vấn đề tập luyện thể thao ngoại khóa (n=1236)

72

3.9 Nhu cầu tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa của học

sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=1236) 74 3.10

Thực trạng các câu lạc bộ ngoại khóa giảng dạy môn Taekwondo cho học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=20)

75

3.11 Thực trạng nội dung giảng dạy môn võ Taekwondo tại

các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=20) 76 3.12 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá thể chất của

học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=57) 80 3.13 Thực trạng thể chất của học sinh khối 6 các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=400) tr.82 Sau 3.14 Thực trạng thể chất của học sinh khối 7 các trường

Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=400)

Sau Tr.83

Trang 8

3.15 Thực trạng thể chất của học sinh khối 8 các trường

Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=400)

Sau Tr.83 3.16 Thực trạng thể chất của học sinh khối 9 các trường

Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=400)

Sau Tr.84 3.17 So sánh mức độ phát triển thể chất của nam học sinh

Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=800)

Sau Tr.84 3.18 So sánh mức độ phát triển thể chất của nữ học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (n=800) Tr.85 Sau 3.19 Phân phối thời gian và cấp đai môn Taekwondo 99 3.20 Nội dung giảng dạy đai trắng cấp 10 cho học sinh

Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 101 3.21 Nội dung giảng dạy đai trắng cấp 9 cho học sinh Trung

học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 102 3.22 Nội dung giảng dạy đai vàng cấp 8 cho học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 103 3.23 Nội dung giảng dạy đai vàng cấp 7 cho học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 104 3.24 Nội dung giảng dạy đai xanh cấp 6 cho học sinh Trung

học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 105 3.25 Nội dung giảng dạy đai xanh cấp 5 cho học sinh Trung

học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 106 3.26 Nội dung giảng dạy đai đỏ cấp 4 cho học sinh Trung

học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 107 3.27 Nội dung giảng dạy đai đỏ cấp 3 cho học sinh Trung

học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 108 3.28 Nội dung giảng dạy đai đỏ cấp 2 cho học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (30 buổi) 109 3.29 Nội dung giảng dạy đai đỏ cấp 1 cho học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (120 buổi) 110 3.30 Nội dung giảng dạy đai đen nhất đẳng cho học sinh

Trung học cơ sở thành phố Hà Nội (120 buổi) 111 3.31

Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 6 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm trước thực

nghiệm

125

3.32

Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 7 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm trước thực

nghiệm

126

Trang 9

3.33

Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 8 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm trước thực

nghiệm

127

3.34

Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 9 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm trước thực

nghiệm

128

3.35

Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 6 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm sau 12 tháng

thực nghiệm

130 3.36 Nhịp tăng trưởng thể chất của học sinh khối 6 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm 131 3.37

Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 7 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm sau 12 tháng

thực nghiệm

133

3.38 Nhịp tăng trưởng thể chất của học sinh khối 7 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm 135 3.39

Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 8 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm sau 12 tháng

thực nghiệm

137

3.40 Nhịp tăng trưởng thể chất của học sinh khối 8 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm 138 3.41

Kết quả kiểm tra thể chất của học sinh khối 9 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm, thời điểm sau 12 tháng

thực nghiệm

141

3.42 Nhịp tăng trưởng thể chất của học sinh khối 9 nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm 142

1.1 Đặc điểm hoạt động thể thao ngoại khóa 16

1.2 Nền tảng cơ bản của môn võ Taekwondo Sau

3.1 Thực trạng tập luyện thể thao ngoại khóa của học sinh

các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội 70 3.2

Thực trạng nhận thức của học sinh các trường Trung

học cơ sở thành phố Hà Nội về vấn đề tập luyện thể thao

ngoại khóa

73

3.3

Tỷ lệ thành phần đối tượng phỏng vấn lựa chọn test

đánh giá sự phát triển thể lực cho học sinh Trung học

cơ sở thành phố Hà Nội

79

Trang 10

3.4

Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nam khối 6

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng

thực nghiệm

132

3.5

Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nữ khối 6

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng

thực nghiệm

132

3.6

Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nam khối 7

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng

thực nghiệm

136

3.7

Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nữ khối 7

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng

thực nghiệm

136

3.8

Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nam khối 8

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng

thực nghiệm

139

3.9

Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nữ khối 8

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng

thực nghiệm

139

3.10

Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nam khối 9

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng

thực nghiệm

143

3.11

Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nữ khối 9

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng

thực nghiệm

143

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Sức khỏe được xem như một bộ phận cấu thành của nền văn hoá xã hội

Đó là một mặt quan trọng của chất lượng đời sống, là nguồn tài sản quý báu của mỗi quốc gia, là sản phẩm phản ánh một cách khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có sự đóng góp quan trọng của ngành Thể dục thể thao (TDTT) nói chung và Giáo dục thể chất (GDTC) nói riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài báo Sức khoẻ và Thể dục nhân ngày 27/3/1946 đã khuyên nhân dân: “ Mỗi người dân khỏe mạnh tức là cả nước khỏe mạnh, mỗi một người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt” [114] GDTC là một bộ phận quan trọng góp phần hình thành con người mới phát triển toàn diện (theo Luật Giáo dục 1998) [82], [85] Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước, công tác GDTC và thể thao trong nhà trường các cấp là một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cũng như trong chiến lược phát triển sự nghiệp TDTT Về mặt này trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng VII đã nêu rõ “Công tác TDTT cần coi trọng nâng cao chất lượng GDTC trong trường học” [4]

Trong những năm qua công tác GDTC và thể thao trong các trường học đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng, nhiệm vụ giáo dục đào tạo Do nhiều nguyên nhân như: Học sinh chưa nhận thức được toàn diện về mục đích ý nghĩa của môn học, chất lượng giờ học TDTT còn thấp, tác dụng phát triển thể chất học sinh còn nhiều hạn chế Do chưa có biện pháp tổ chức hợp lý, thiếu giáo viên thể dục chuyên trách, nhất là các trường tiểu học và trung học cơ sở (THCS), nội dung giờ học TDTT còn thiếu hấp dẫn, không gây được hứng thú cho học sinh tập luyện Thực tế này đã được chỉ rõ trong chỉ thị 36 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Hiệu quả giáo dục thể chất trong trường học còn thấp” [5], ngoài ra giờ học ngoại khóa ở trường học hiện nay hầu như chưa thực hiện được những chức năng vốn có của nó Tập luyện ngoại khóa có ý nghĩa quan trọng nhằm động viên thu hút học sinh tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rèn luyện thân thể

Giờ học ngoại khóa là thời gian để học sinh tự rèn luyện và củng cố kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên với hình thức hoạt động hấp dẫn, phong phú và đa dạng Vì thế việc sử dụng giờ học ngoại khóa hợp lý sẽ nâng cao chất lượng GDTC mà trước hết là nâng cao thể chất, phát triển thể lực, thỏa mãn nhu cầu vận động của học sinh Có rất nhiều môn thể thao đã và đang được học sinh trong trường học các cấp yêu thích và lựa chọn để tập luyện thể thao ngoại khóa, trong đó có các môn võ thuật nói chung và môn võ Taekwondo nói riêng

Trang 12

Đưa võ thuật vào giảng dạy trong nhà trường là một hình thức rèn luyện thể chất hiệu quả đồng thời góp phần giáo dục học sinh ý chí vượt khó, khổ luyện, nâng cao ý thức kỷ luật và đạo Đảng và nhà nước ta đã thấy rõ hiệu quả của việc đưa võ thuật vào giảng dạy tập luyện trong nhà trường Tại Quyết định

số 72/2008/QĐ-BGDĐT ngày 23/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên và ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trong Hội nghị triển khai công tác ngành Văn hóa,Thể thao và Du lịch ngày 17/2/2009 tại Hà Nội đã nhấn mạnh: “…vận động người dân tập thể dục thường xuyên, đưa võ cổ truyền vào nhà trường, phát động những cuộc thi võ cổ truyền trên cả nước…” [10]

Năm 2015, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đồng ý việc triển khai từ năm học 2015-2016 các nội dung đã được Bộ GD&ĐT, Bộ VD,TT&DL thống nhất

về tập thể dục buổi sáng, thể dục giữa giờ và đưa võ cổ truyền Việt Nam vào chương trình GDTC trong các cấp học phổ thông phù hợp với điều kiện thực tiễn các địa phương Trong đó, ông đã nhấn mạnh: Phát triển giáo dục toàn diện đối với học sinh phổ thông không thể thiếu vai trò của GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường, trong đó việc duy trì đều đặn hoạt động tập thể dục, tập luyện các bài võ cổ truyền là hết sức cần thiết, vừa rèn luyện sức khỏe, vừa góp phần xây dựng lối sống lành mạnh, có kỷ cương, nền nếp, ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần thượng võ của dân tộc Như vậy, có thể nói, võ thuật là môn thể thao thích hợp phát triển trong các trường học các cấp

Một quốc gia đi đầu trong việc đưa võ thuật giảng dạy trong nhà trường tại tất cả các cấp và bậc học là Hàn Quốc Môn võ Taekwondo đã được giảng dạy chính thức trong chương trình GDTC trường học và đã đem lại hiệu quả nâng cao thể lực, ý chí và lòng tự hào của người Hàn Quốc

Taekwondo là môn võ truyền thống của Triều Tiên, do tổ sư HongHi sáng lập, được tổ chức tập luyện chính thức vào năm 1955 Tuy ra đời khá muộn so với các phái võ khác song tới nay Taekwondo đã phát triển mạnh trên toàn thế giới, được Ủy ban Olympic thế giới công nhận chính thức là môn thể thao võ thuật, được đưa vào thi đấu chính thức tại các thế vận hội Hiện nay Việt Nam là một trong những thành viên tích cực tham gia tập luyện môn võ này

Choi-và giành được thành tích thi đấu cao [27], [126], [128]

Cho đến nay phong trào Taekwondo đã phát triển và lan rộng ra khắp hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, có đủ mọi tầng lớp xã hội tham gia đặc biệt là thanh thiếu niên Taekwondo hiện được xác định là môn thể thao trọng điểm

Trang 13

được đầu tư trong “Chương trình thể thao Quốc gia” Để có thể phát hiện và bổ sung tốt nhất những học viên có năng khiếu môn Taekwondo cho đội tuyển cấp thành phố, phát triển môn Taekwondo trong các trường THCS là cần thiết và cấp thiết

Thành phố Hà Nội là một Trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế lớn của

cả nước Với số đông dân cư tập trung nhưng cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu tập luyện TDTT của người dân trên địa bàn lại không nhiều Mặt khác học sinh trong thành phố ngoài các hoạt động học tập thì có nhiều điều kiện vui chơi hơn các bạn bè ở khu vực nông thôn Các loại hình giải trí đa dạng, phong phú nhưng

do áp lực về học tập và bị ảnh hưởng bởi những loại hình giải trí không lành mạnh dẫn tới thiếu rèn luyện về thể chất, Kèm theo đó là các loại bệnh học đường có xu hướng phát triển như: cận thị, béo phì, lười, ngại vận động, thể chất kém Vì thế tập luyện Thể thao ngoại khóa trong trường học sẽ rất bổ ích và hiệu quả cho học sinh, với gia đình, nhà trường và toàn xã hội

Từ nhiều năm nay, hình thức tập luyện ngoại khóa môn Taekwondo ở các trường hoạt động dưới dạng câu lạc bộ đã tồn tại do sự phối hợp của nhà trường, Trung tâm TDTT các quận, huyện của Sở Văn hóa, Thể thao Hà Nội, Hiệp hội Taekwondo Hà Nội Với ưu điểm phù hợp với đối tượng học sinh, có yêu cầu đơn giản về cơ sở vật chất tập luyện Taekwodo nhanh chóng phát triển mạnh

mẽ trong các trường học tại Hà Nội Tuy nhiên nội dung và chương trình giảng dạy chưa có và chưa thống nhất Các huấn luyện viên giảng dạy chủ yếu dựa vào nội dung thi lên cấp đai Đây là một nguyên nhân rất lớn ảnh hưởng đến sự phát triển của hình thức tập luyện này

Như vậy qua loại hình tập luyện ngoại khóa sẽ giúp phong trào tập luyện Taekwondo vì sức khỏe được mở rộng, thu hút hoạt động tập luyện đồng thời thông qua đó có thể tuyển chọn, phát hiện và đào tạo nhân tài Tuy nhiên quan trọng hơn là thông qua đó nâng cao thể chất, giáo dục đạo đức và tâm lý cho các

em học sinh

Đã có một số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của võ thuật đến sự phát triển như: Nguyễn Thành Tuấn (1999 [100], Trần Tuấn Hiếu (2004) [49], Nguyễn Đương Bắc (2007) [16], Vũ Xuân Thành(2012) [89] Các đề tài trên đã nghiên cứu phát triển các tố chất thể lực riêng lẻ qua tập luyện võ thuật Nhưng chưa có đề tài nghiên cứu ứng dụng giảng dạy môn võ Taekwondo trong nhà trường

Trang 14

Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của GDTC với học sinh và thực trạng những hạn chế về mặt thể chất của học sinh trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ ý nghĩa và tầm quan trọng theo định hướng của Đảng và nhà nước về GDTC và nâng cao tầm vóc người Việt Nam đặc biệt là thể chất của học sinh Chúng tôi thấy việc đưa môn võ Taekwondo giảng dạy trong nhà

trường là cần thiết, vì thế chúng tôi đi đến nghiên cứu:“Xây dựng nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh Trung học

cơ sở thành phố Hà Nội”

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp, đánh giá thực trạng của công tác GDTC trong các trường THCS tại thành phố Hà Nội, chúng tôi tiến hành lựa chọn và ứng dụng các nội dung giảng dạy môn võ Taekwondo vào giờ ngoại khóa để nâng cao thể lực cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh THCS thành phố Hà Nội

Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC và thực trạng hoạt động

ngoại khóa của các câu lạc bộ võ Taekwondo cho học sinh các trường THCS

thành phố Hà Nội

Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu xây dựng nội dung dạy ngoại khoá môn

Taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh THCS thành phố Hà Nội

Nhiệm vụ 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các nội dung dạy ngoại

khóa môn Taekwondo đối với sự phát triển thể chất của học sinh THCS thành

phố Hà Nội

Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo phù hợp,

có hiệu quả áp dụng trong giờ ngoại khóa cho học sinh sẽ giúp phát triển thể chất cho học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC trong trường học các cấp

Ý nghĩa khoa học của luận án

Luận án tiến hành tìm hiểu và làm rõ các hệ thống lý luận liên quan như: Giáo dục và giáo dưỡng thể chất, phát triển thể chất, hoàn thiện thể chất, sức khỏe, tố chất thể lực và công tác GDTC, thể thao ngoại khóa trong trường học các cấp và trường THCS Tiến hành tìm hiểu những yếu tố tự nhiên và xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất của học sinh THCS thành phố Hà Nội; các lý

Trang 15

luận về xây dựng nội dung dạy ngoại khoá môn Taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh THCS thành phố Hà Nội

Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Luận án lựa chọn được 11 tiêu chí và test đủ tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho học sinh THCS thành phố Hà Nội, bao gồm: Đánh giá hình thái cơ thể (2 tiêu chí), Đánh giá chức năng sinh lý (2 tiêu chí), Đánh giá chức năng tâm lý (3 tiêu chí) và Đánh giá trình độ thể lực (4 tiêu chí), trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng thể chất của học sinh THCS thành phố Hà Nội từ đó đánh giá được nội dung dạy ngoại khoá môn Taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh THCS thành phố Hà Nội

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng nội dung dạy ngoại khoá môn Taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh THCS thành phố Hà Nội, luận

án đã lựa chọn được 8 nội dung giảng dạy ngoại khóa cho học sinh THCS thành phố Hà Nội tương ứng 4 năm học Cụ thể đã xác định nội dung và định lượng cụ thể theo 11 chương trình giảng dạy tương ứng với 11 cấp đai, tương ứng với 11 chương trình giảng dạy ngoại khóa cho học sinh THCS thành phố Hà Nội

Đồng thời luận án tiến hành ứng dụng nội dung và hình thức giảng dạy ngoại khóa môn Taekwondo đã xây dựng trong giảng dạy ngoại khóa môn Taekwondo cho học sinh THCS thành phố Hà Nội Kết quả, chương trình đã xây dựng của luận án đã có hiệu quả cao trong việc phát triển thể chất cho học sinh THCS thành phố Hà Nội

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm cơ bản có liên quan

Theo Nôvicốp A.D và Matvêep L.P, GDTC là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục-giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này

là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm [75]

Theo Vũ Đức Thu, GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ [95]

Tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn thì cho rằng, GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người [112]

Theo Nghị định Số: 11/2015/NĐ-CP quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [98]

Đặc điểm nổi bật của GDTC là quá trình hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực của con người như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo Như vậy, GDTC là một hình thức giáo dục

mà đặc điểm thể hiện ở việc giảng dạy các động tác (hành vi vận động) và giáo dục (điều khiển sự phát triển) các tố chất thể lực của con người

Tác giả Nôvicôp A.D và Mátvêép L.P cho rằng: Trong suốt quá trình GDTC “giảng dạy các động tác và giáo dục các tố chất thể lực luôn gắn bó chặt

Trang 17

chẽ với nhau, chúng có thể “chuyển” lẫn nhau nhưng không đồng nhất với nhau,

và trong các giai đoạn giáo dục khác nhau lại có quan hệ khác nhau” [75]

Như vậy, GDTC bao gồm dạy học động tác và giáo dục các tố chất thể lực Dạy học động tác là nội dung cơ bản của của quá trình giáo dưỡng thể chất

Đó là quá trình tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển động tác, vốn kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn Còn giáo dục các tố chất thể lực là sự tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất đảm bảo năng lực vận động Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng này của GDTC gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ dục và giáo dục lao động

1.1.2 Thể thao ngoại khóa

Theo luật TDTT năm 2007, Hoạt động thể thao trong nhà trường (ở đây được hiểu là Thể thao ngoại khóa) là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao [84]

Theo Nghị định Số: 11/2015/NĐ-CP quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi

và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục thể chất thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao” [98]

Thể thao ngoại khóa là hoạt động TDTT tự nguyện là chính, diễn ra theo hình thức tổ chức có người hướng dẫn hoặc tự tập, thường được tiến hành ngoài giờ học nội khóa, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe của học sinh, sinh viên Thể thao ngoại khóa có lịch sử gần 100 năm nay, cụ thể là vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, với mục đích tổ chức giao lưu trong giáo hội, các cộng đồng dân cư, giữa các trường chủ yếu ở các môn điền kinh, thể dục và các môn bóng

1.1.3 Giáo dưỡng thể chất

Theo P.Ph Lexgaphơtơ (1837 - 1909) nhà bác học Nga nổi tiếng, nhà sư phạm, nhà hoạt động xã hội, người sáng lập học thuyết về giáo dưỡng thể chất,

bản chất của giáo dưỡg thể chất là làm sao để học: Tách riêng các cử động ra và

so sánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích nghi với

Trang 18

các trở ngại, đồng thời khắc phục các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất, nói một cách khác, rèn luyện để với sức lực ít nhất, trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể tiến hành có ý thức một hoạt động thể lực lớn nhất

“Giáo dưỡng thể chất” chính là quá trình trang bị những kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản và quan trọng trong đời sống của con người, giúp con người hoạt động có hiệu quả cao và tốn ít năng lượng trong quá trình sống, tồn tại và phát triển Trong TDTT đây là việc truyền thụ cho người tập kỹ thuật của các môn thể thao, cũng như vận dụng tốt những kỹ thuật đã tiếp thu được để củng cố nâng cao sức khoẻ duy trì và kéo dài tuổi thọ Đối với VĐV việc tiếp thu tốt kỹ thuật các môn thể thao sẽ là điều kiện tiên quyết giúp họ thi đấu đạt thành tích

thể thao cao trên các đấu trường trong khu vực và Quốc tế [75], [96], [101]

1.1.4 Thể chất

Thể chất là chất lượng cơ thể con người Đó là những đặc trưng tương đối

ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhau theo quy luật sinh học Thể chất được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và những điều kiện sống tác động (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện)

1.1.5 Phát triển thể chất

Theo Nôvicốp A.D và Mátvêép L.P, “Phát triển thể chất của con nguời là quá trình biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể con người trong suốt cả cuộc sống cá nhân của nó” [75]

Cũng có quan điểm cho rằng: Phát triển thể chất là quá trình biến đổi và hình thành các tính chất tự nhiên về hình thái, chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội Phát triển thể chất của mỗi người phụ thuộc vào những đặc điểm sinh học, điều kiện sống và giáo dục, môi trường tự nhiên và mỗi trường xã hội

Sự phát triển thể chất biểu hiện qua các chỉ số bên ngoài như: kích thuớc không gian và trọng luợng cơ thể, còn sự phát triển về chức năng thể hiện ở sự biến đổi các khả năng chức phận của cơ thể theo các thời kỳ và các giai đoạn

phát triển theo lứa tuổi của nó, sự biến đổi này thể hiện qua các tố chất thể lực

như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khả năng phối hợp vận động Sự biến đổi các khả năng hoạt động của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí Sự phát triển thể chất tuân theo các quy luật tự nhiên, trong các quy luật đó có quy luật tác động lẫn nhau của các xu huớng phát triển

di truyền và các xu hướng bị điều kiện sống tác động; quy luật xác định lẫn nhau của các biến đổi cấu trúc và chức năng; các thời kỳ theo lứa tuổi phát triển từ từ

Trang 19

và thay thế nhau (các thời kỳ phát triển nhanh đuợc thay thế bằng các thời kỳ ổn định tuơng đối về cấu trúc và chức năng, sau đó đến các thời kỳ biến đổi sút kém) ; đồng thời, phát triển thể chất phụ thuộc vào các điều kiện sống của xã hội và hoạt động của con nguời(điều kiện phân phối và sử dụng sản phẩm vật chất, giáo dục, lao động, sinh hoạt v.v ) và do đó sự “phát triển thể chất của con nguời là do xã hội tác động và tác động ở mức độ quyết định” [18], [51], [75]

1.1.6 Tố chất thể lực

Theo tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, tố chất thể lực (hay tố chất vận động) là những đặc điểm, một phần tương đối riêng biệt trong thể lực của con người và thường được chia thành năm loại cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động và mềm dẻo (còn gọi là độ dẻo) Trong đó:

Sức nhanh: “Sức nhanh là một tổ hợp những đặc điểm chức năng của con

người xác định trực tiếp và chủ yếu tính chất nhanh của động tác, cũng như xác định thời gian của phản ứng vận động” [112]

Sức mạnh: “Là khả năng của con người chống lại lực cản hoặc khắc phục một lực cản nào đó nhờ sự nỗ lực của cơ bắp” hoặc “là khả năng sinh lực lớn của

cơ bắp để thực hiện các hoạt động khác nhau trong cuộc sống” [20], [96], [112]

Sức bền: “Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng” [112] Hay “sức bền là khả năng của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó (là khả năng duy trì hoạt động khi mệt mỏi xuất hiện trong thời gian dài)”

Năng lực phối hợp vận động: Là một phức hợp các tiền đề của VĐV (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển (các quá trình thông tin) và được VĐV hình thành và phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và năng lực khác như sức nhanh, sức mạnh, sức bền… và thường gồm 7 loại: Năng lực liên kết vận động, năng lực định hướng, năng lực thăng bằng, năng lực nhịp điệu, năng lực phản ứng, năng lực phân biệt vận động và năng lực thích ứng Việc phân chia năng lực phối hợp vận động thành bảy năng lực riêng có tính đặc thù khác nhau không có nghĩa là chúng tách rời nhau và ngược lại, các năng lực này luôn có môi quan hệ khăng khít, hống nhất, là một tập hợp các tiền đề cho các hoạt động thể thao khác nhau Từng năng lực thể hiện rõ yêu cầu nổi trội của nó trong các hoạt động cụ thể [75], [107], [112]

Trang 20

Mềm dẻo: Là khả năng thực hiện những bài tập thể chất có biên độ lớn đòi hỏi các nhóm cơ, khớp, dây chằng tham gia vào hoạt động có độ đàn hồi cao đáp ứng được yêu cầu của bài tập [18], [75], [107]

Trong quá trình GDTC cho con người nhất là với học sinh, giáo dục các tố chất thể lực luôn được coi là vấn đề quan trọng, vì vậy việc phát triển các tố chất thể lực một cách toàn diện là nhiệm vụ bắt buộc đối với những người làm công tác TDTT Các tố chất thể lực của con người (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, năng lực phối hợp vận động, mềm dẻo ) có mối quan hệ biện chứng, thống nhất

và giàng buộc chặt chẽ với nhau Với nguyên lý có tính quy luật là: “Sự phát triển cực hạn của một năng lực thể chất nào đó chỉ có được trên cơ sở nâng cao các khả năng chức phận chung của toàn cơ thể” [75], [107], [112]

1.2 Đặc điểm Công tác Giáo dục thể chất trong các trường Trung học

Hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa thông qua là Pháp lệnh TDTT được ban hành năm 2000 [81] Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 2006 Luật TDTT được Quốc hội thông qua, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà Luật TDTT đã dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT nói chung, công tác TDTT trong trường học nói riêng [84]

Không chỉ lãnh đạo TDTT và GD&ĐT bằng đường lối, chính sách, mà Nhà nước còn đề ra những giải pháp chỉ đạo thực hiện hiệu quả Một trong những giải pháp là đẩy mạnh công tác xã hội hóa (XHH) GD và TDTT Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về việc đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và TDTT (2005) về chính sách XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, văn hóa, thể thao nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để các ngành đẩy mạnh công tác XHH,

Trang 21

làm cho mọi thành phần trong xã hội đổi mới quan điểm, nhận thức và giải pháp thực hiện XHH, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia HĐ và đầu tư các nguồn lực để phát triển công tác GDTC và phong trào thể thao cho mọi người, nâng cao thành tích thể thao đỉnh cao và hội nhập quốc tế [99]

Theo Luật Thể dục, Thể thao được ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Giáo dục thể chât và thể thao trong nhà trường bao gồm 2 nội dung chính:

“GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”, đây còn được gọi là Thể dục nội khóa;

“Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao”, còn được gọi là thể dục, thể thao ngoại khóa [83]

Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ

“Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường”: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, HS, SV các kiến thức,

kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [98]

Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của HS, SV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong

số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các hoạt động thể thao ngoại khóa” [91, tr.5] Trong đó đã nêu ra các tiêu chí đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC đủ phục vụ

Trang 22

cho hoạt động TDTT, có đủ GV và hướng dẫn viên TDTT, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [102]

Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong

đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy và học TD chính khóa, các hoạt động thể thao ngoại khóa cho HS, xây dựng chương trình GDTC hợp lý ” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” [103, tr.162]

Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01 tháng 12 năm 2011

về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020: “Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường CSVC, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT; đến năm 2020” [9]; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ) đã khẳng định: “Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe

và kỹ năng sống của HS, SV Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng: Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao…; Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác thể dục, thể thao” [104]

Tóm lại, các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của TDTT trong xã hội, trong đó có TDTT trong trường học các cấp; đồng thời, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách tại nước ta trong giai đoạn hiện nay GDTC là một môn học thuộc chương trình giáo dục quốc dân, là một mặt giáo

Trang 23

dục toàn diện cho thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước nhằm đào tạo cho đất nước một thế hệ phát triển cao về trí tuệ, cường tránh về thể chất, phong phú

về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Chính vì vậy, đổi mới công tác GDTC và thể thao trong trường học các cấp cũng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Đặc điểm Giáo dục thể chất nội khóa trong các trường Trung học

cơ sở

Theo Luật Thể dục, Thể thao được ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường bao gồm 2 nội dung chính là GDTC nội khóa và hoạt động Thể thao ngoại khóa

GDTC nội khóa (Còn gọi là Thể dục nội khóa) là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện"

Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ

“Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường”: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”

Chương trình GDTC nội khóa cho học sinh trong các trường THCS được tiến hành trong 70 tiết/ năm học, mỗi tiết 45 phút, tương đương 2 tiết/tuần và có

quy định rõ các nội dung bắt buộc và tự chọn cho học sinh

1.2.3 Đặc điểm hoạt động thể thao ngoại khóa trong các trường Trung học cơ sở

Cùng với giờ học GDTC nội khóa, Thể thao ngoại khóa có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục phẩm chất ý chí, nhân cách cho học sinh, sinh viên Ngoài ra, Thể thao ngoại khóa còn là môi trường thuận lợi, đầy tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao Trong điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, Thể thao ngoại khóa càng có ý nghĩa tích cực về mặt cộng đồng, hướng thế hệ trẻ vào các sinh hoạt thể thao lành mạnh,

tránh xa tệ nạn xã hội

Trang 24

1.2.3.1 Nguyên tắc tổ chức thể thao ngoại khóa

Hoạt động Thể thao ngoại khóa có vị trí quan trọng trong giáo dục nói chung và TDTT trường học nói riêng Các hoạt động ngoại khóa kết hợp cùng với các hoạt động dạy học cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục Thể thao ngoại khóa cùng với GDTC nội khóa là một thể thống nhất của TDTT trường học và song song tồn tại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau Hoạt động thể ngoại khoá được tổ chức trong trường học các cấp sao cho phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao [50], [51]

Tác giả V.P.Philin khi nghiên cứu về công tác tổ chức hoạt động Thể thao ngoại khóa cho rằng: Việc tổ chức GDTC ngoại khóa được thực hiện trên các cơ

sở luận điểm: Phù hợp với các mục tiêu, nhiệm vụ và nguyên tắc GDTC; Có sự liên hệ phối hợp chặt chẽ của các ngành, cơ quan, tổ chức quan tâm trực tiếp đến hoạt động này cũng như của gia đình và toàn xã hội; Kế thừa kết quả GDTC trong trường học, giúp cho trường học tăng cường, nâng cao và mở rộng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo TDTT, tổ chức nghỉ ngơi lành mạnh cho học sinh; Sử dụng các hình thức hoạt động đa dạng, phù hợp với sự ham thích, đặc điểm lứa tuổi và trình độ thể lực của người tập; Thường xuyên dựa trên kỷ luật tự giác, sự ham thích và lợi ích của đối tượng tập luyện; Bảo đảm sự chỉ đạo về phương pháp và việc kiểm tra y học có chất lượng đối với tất cả các hình thức cơ bản về tập luyện TDTT ngoài trường học [77]

Tác giả Trịnh Trung Hiếu khi nghiên cứu về công tác GDTC cũng đã đưa

ra 3 nguyên tắc chung của giáo dục TDTT là: Kết hợp giáo dục TDTT với thực tiễn lao động và chiến đấu; Phát triển con người toàn diện; Nâng cao sức khỏe [48]

Như vậy, khi tổ chức, hướng dẫn hoạt động Thể thao ngoại khóa cần nắm

rõ đặc điểm phát triển tâm sinh lý đối tượng (lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, chuyên ngành, nhu cầu, sở thích thể thao…), các điều kiện cần và đủ để thực hiện công tác này

1.2.3.2 Mục đích của tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa

Việc tổ chức hoạt động Thể thao ngoại khóa trong trường học các cấp nhằm mục đích:

Thỏa mãn nhu cầu vận động của học sinh

Trang 25

Trong suốt những năm học phổ thông, học sinh chỉ có khoảng 700 giờ học TDTT nội khóa, trong khi đó thời gian tập luyện Thể thao ngoại khóa nhiều gấp bội [110, tr.404] vì không bị giới hạn thời gian Nội dung hoạt động TDTT ngoại khoá của học sinh cũng rất đa dạng và phong phú nên đáp ứng tốt nhu cầu vận động của học sinh

Hình thành chế độ học tập nghỉ ngơi hợp lý

Theo Nôvicôp A.D và Matvêep L.P: Sự phát triển của khoa học kỹ thuật

và lượng thông tin mới ngày càng nhiều, sự bùng nổ của các loại trò chơi trên máy vi tính làm cho lao động học tập của học sinh trong trường học các cấp càng trở nên nặng nhọc, căng thẳng TDTT là phương tiện để hợp lý chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động trong tất cả các thời

kỳ học tập ở trường, cho nên tầm quan trọng của TDTT cũng tăng lên tương ứng

Phát triển toàn diện thể chất và nhân cách học sinh, sinh viên

Phát triển toàn diện về thể chất lẫn nhân cách là phát triển cả đức dục, trí dục, mỹ dục và thể dục Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Đức dục là tư tưởng Trí dục là sự hiểu biết về văn hóa, khoa học, kỹ thuật Mỹ dục là sự hiểu biết về những cái hay, cái đẹp Cuối cùng là thể dục một mục tiêu không thể thiếu theo quan điểm giáo dục của chúng ta, là cơ sở để tiếp thu tốt đức dục, trí dục, mỹ dục” [26] Do đó, cùng với GDTC thể chất nội khóa, Thể thao ngoại khóa thể hiện rõ mục đích này

Rèn luyện kỹ năng sống qua các hoạt động giao lưu, giao tiếp

Qua tham gia hoạt động Thể thao ngoại khóa, học sinh sẽ có cơ hội cùng gặp gỡ, tập luyện, giao tiếp với một nhóm người, một tập thể, một cộng đồng…, qua đó sẽ hình thành ở họ các kỹ năng sống như: Giao tiếp, ứng xử, quyết định, thay đổi hành vi, lập mục tiêu, sự tự tin, giảm căng thẳng, sự thành công cũng như học tập tinh thần đoàn kết và sự công bằng Những tác động tích cực này

Trang 26

cũng giúp chống lại những nguy cơ và tác hại do lối sống tĩnh tại, căng thẳng, cạnh tranh và nhiều áp lực gây ra khá phổ biến trong cuộc sống giới trẻ ngày nay

1.2.3.3 Đặc điểm hoạt động thể thao ngoại khóa

Khi nghiên cứu về hoạt động Thể thao ngoại khóa, tác giả Nguyễn Toán

và Phạm Danh Tốn đã chỉ ra rằng: Các buổi tập Thể thao ngoại khóa thường có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn so với buổi tập nội khóa (chính khóa) Hình thức tập luyện Thể thao ngoại khóa cũng đòi hỏi ý thức kỷ luật, tinh thần độc lập và sáng tạo cao Nhiệm vụ cụ thể và nội dung buổi tập ngoại khóa chủ yếu phụ thuộc vào sở thích và hứng thú cá nhân [112 tr.404, 405]

Theo Lê Văn Lẫm và các cộng sự [66] khi nghiên cứu về hoạt động Thể thao ngoại khóa cũng đã khẳng định: Khi tổ chức hoạt động Thể thao ngoại khóa cần lưu ý đến các mặt: Tính chất hoạt động mềm hóa giữa bắt buộc và tự nguyện; Nội dung phong phú, linh hoạt không bị hạn chế; Không gian địa điểm tiến hành rộng lớn (trong trường hoặc ngoài trường); Hình thức đa dạng có thể tiến hành theo cá nhân, nhóm, khóa, trường; Thời gian hoạt động có thể tiến hành bất kỳ lúc nào trong ngày tùy theo điều kiện thời gian của học sinh

Thể thao ngoại khóa vừa bổ sung kiến thức thực hành cho giờ nội khóa nhưng nó cũng có những đặc thù riêng mà GDTC nội khóa không có được Thể thao ngoại khóa cùng với GDTC nội khóa hình thành nên một thể thống nhất của TDTT trường học [10], [14], [38], [103]

Có thể khái quát đặc điểm hoạt động Thể thao ngoại khóa theo sơ đồ 1.1 [66]

Sơ đồ 1.1 Đặc điểm hoạt động thể thao ngoại khóa

ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG THỂ THAO NGOẠI KHÓA

và không gian hoạt động

Hình thức

và thời gian hoạt động

Vai trò của giáo viên

và học sinh

Quy

mô hoạt động

Quan

hệ phổ cập

và nâng cao

Tính

bổ sung

và độc lập

Trang 27

1.2.3.4 Các điều kiện đảm bảo cho công tác tổ chức Thể thao ngoại khóa

Để công tác tổ chức Thể thao ngoại khóa cho học sinh trong trường học các cấp được tiến hành thuận lợi, cần đảm bảo một số điều kiện như sau:

Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách, đường lối, các văn bản quy phạm phạm pháp luật; Sự ủng hộ của ban lãnh đạo và các bộ phận chức năng của trường qua việc đầu tư kinh phí cho hoạt động TDTT nói chung và Thể thao ngoại khóa nói riêng; Các điều kiện cơ sở vật chất, sân bãi, phòng tập, trang thiết bị phục vụ Thể thao ngoại khóa; Đội ngũ cán

bộ, giảng viên TDTT đủ về số lượng và có năng lực chuyên môn tốt, có tâm huyết với phong trào; Học sinh có nhận thức đúng đắn và có nhu cầu lớn về Thể thao ngoại khóa; Sự hỗ trợ và phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức xã hội, các hiệp hội, liên đoàn thể thao từ cơ sở đến trung ương

Ngoài các điều kiện trên, để Thể thao ngoại khóa phát triển thuận lợi không thể không kể đến vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội thể thao trường, Phòng TDTT, Sở TDTT, các Liên đoàn thể thao và một số doanh nghiệp, các nhà tài trợ….Chính các tổ chức này đã đứng ra hoạch định, huy động kinh phí, tổ chức các giải đấu cấp khu vực và quốc gia hàng năm cho học sinh trong trường học các cấp [10], [24], [51], [83]

Qua đó có thể thấy, để tổ chức hoạt động Thể thao ngoại khóa trong trường học các cấp không hề đơn giản, phải có sự hỗ trợ, phối hợp đồng bộ của nhiều bộ phận liên quan

1.3 Những yếu tố tự nhiên và xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất của học sinh Trung học cở sở thành phố Hà Nội

1.3.1.1 Yếu tố bẩm sinh, di truyền

Di truyền là cơ sở, là nền tảng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất của một cá thể, là yếu tố thể hiện khả năng tiềm ẩn của cá thể đó Khi nắm bắt được những khả năng ấy chúng ta có thể điều khiển sự phát triển thể chất của cá thể đó đi đúng hướng phù hợp với cá nhân và xã hội thông qua

Trang 28

quá trình giáo dục, giáo dục thể chất, điều kiện sống, sinh hoạt và học tập khác nhau [46], [47]

Với học sinh THCS thành phố Hà Nội, các em được sống trong điều kiện kinh tế tương đối tốt hơn so với các bạn đồng trang lứa ở các vùng miền trên cả nước nên có điều kiện phát huy tối ưu những thuận lợi của yếu tố di truyền Vậy nên những cá thể có yếu tố di truyền tốt sẽ có điều kiện phát triển thể chất tốt hơn hẳn so với những cá thể có yếu tố di truyền không tốt

1.3.1.2 Môi trường tự nhiên (nước, ánh sáng, không khí, địa hình tự nhiên )

Nhiệt độ không khí, khí hậu thời tiết, nước, ánh sáng, địa hình tự nhiên được coi như là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển thể chất của con người Bên cạnh đó các yếu tố này còn được sự dụng để tôi luyện, củng cố sức khoẻ và nâng cao năng lực hoạt động của con người Có thể nói đây chính là môi trường sống tồn tại và phát triển của mọi sinh vật trên trái đất trong đó có

con người

Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ của không khí có ảnh hưởng đến chức năng cơ bản của sự sống

đó là quá trình trao đổi nhiệt Cơ thể con người có khả năng chịu đựng sự thay đổi đáng kể về nhiệt độ của môi trường bên ngoài nhờ những cơ chế sinh lý điều hoà thân nhiệt đặc biệt Tuy nhiên khả năng điều hoà thân nhiệt của cơ thể cũng

có những giới hạn nhất định, khi có những biến đổi nhiệt độ không khí quá lớn, các cơ chế điều nhiệt có thể không đảm bảo được việc duy trì sự cân bằng thân nhiệt

Nhiệt độ không khí lạnh có thể gây nên một số bệnh cho cơ thể như các bệnh cơ, khớp, thần kinh, đặc biệt là các bệnh cảm cúm, viêm họng Khi nhiệt độ không khí cao, do sự truyền nhiệt không thuận lợi nên cơ thể có thể bị nóng.Sự rối loạn điều hoà thân nhiệt của cơ thể người có thể xuất hiện khi nhiệt độ không khí đạt 30-310 C và độ ẩm 80-90% hoặc khi nhiệt độ 400 và độ ẩm 40-50% trong yên tĩnh

Độ ẩm không khí

Độ ẩm của không khí có ảnh hưởng rõ rệt đến sự toả nhiệt của cơ thể Khi

độ ẩm của không khí tăng cao, nhất là trong điều kiện nhiệt độ không khí cũng cao, cơ thể dễ bị say nóng do quá trình thải nhiệt bị hạn chế, chủ yếu là vì sự bay hơi mồ hôi từ bề mặt da gặp khó khăn khi nhiệt độ không khí cao hơn 25-300C

Trang 29

thì con đường thải nhiệt chủ yếu của cơ thể sẽ là bay hơi mồ hôi và để bay hơi 1g

mồ hôi cần tiêu hao 0,6 kcal Hiện tượng giảm sự thải nhiệt, cụ thể là sự bay hơi

mồ hôi sẽ hạn chế đáng kể khi độ ẩm không khí tăng lên, đặc biệt là trong hoạt động thể lực, khi sự sản nhiệt tăng cao hơn mức bình thường Ngược lại khi độ

ẩm không khí giảm, nhất là trong điều kiện nhiệt độ không khí cao, sự thải nhiệt

do bay hơi mồ hôi sẽ thuận lợi hơn và vì vậy cơ thể chịu nóng tốt hơn Độ ẩm cao khi nhiệt độ không khí tương đối thấp có thể làm cho cơ thể bị nhiễm lạnh

do tăng cường quá trình thải nhiệt Hiện tượng nêu trên xảy ra chủ yếu là do không khí có độ ẩm cao có tính dẫn nhiệt cao hơn vì hơi nước có tính dẫn nhiệt cao hơn không khí

Thời tiết và khí hậu

Thời tiết là một tổ hợp phức tạp các yếu tố môi trường khí quyển khác nhau có khả năng gây ảnh hưởng đến cơ thể con người và điều kiện sống.Thời tiết được hình thành do sự tác động qua lại giữa các yếu tố khí quyển và bề mặt trái đất.Thời tiết thường được đánh giá bằng nhiều chỉ số như nhiệt độ, độ ẩm, áp xuất không khí, tốc độ gió, bức xạ mặt trời, lượng mây, mưa, từ trường của trái đất, tính dẫn điện của không khí và được gọi chung là các yếu tố khí tượng Tất

cả các yếu tố khí tượng nêu trên gây nên một tác động tổng hợp đối với cơ thể người [75], [93], [112]

1.3.1.3 Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên tới sự phát triển thể chất học sinh Trung học cơ sở

Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên tới sự phát triển thể chất học sinh THCS là một quá trình thích nghi có tính sinh học, xã hội của con người với các điều kiện địa lý, khí hậu, thời tiết mới Về mặt sinh học, sự thích nghi với môi trường tự nhiên chính là quá trình hình thành những phản ứng của cơ thể nhằm làm cho hoạt động của toàn bộ cơ thể phù hợp với các điều kiện mới của môi trường bên ngoài Vì vậy, trong sự thích nghi với môi trường tự nhiên, hệ thần kinh trung ương có vai trò rất quan trọng Sự thích nghi với môi trường tự nhiên đòi hỏi cơ thể phải có những nỗ lực nhất định và gây nên một số biến đổi về chức năng, ảnh hưởng đáng kể đến khả năng hoạt động, nhất là khả năng hoạt động thể lực Để giảm nhẹ và thúc đẩy quá trình thích nghi với môi trường tự nhiên của cơ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau như chế độ làm việc

và nghỉ ngơi hợp lý, trang phục phù hợp, chế độ ăn uống hợp lý, áp dụng các biện pháp rèn luyện cơ thể bằng yếu tố tự nhiên, tập luyện thể lực có hệ thống

Trang 30

1.3.1.4 Ứng dụng môi trường tự nhiên trong quá trình giáo dục thể chất cho học sinh Trung học cơ sở

1 Sử dụng điều kiện tự nhiên để kèm theo tập luyện TDTT như: Tập ngoài trời, tập dưới ánh nắng, tập trong các điều kiện địa hình đồi núi và thời tiết khác nhau, múi giờ khác nhau… khi đó các yếu tố tự nhiên sẽ có ý nghĩa như một điều kiện bổ xung và làm tăng cường hiệu quả sự tác động của các bài tập thể chất qua đó nâng cao được sức khoẻ và năng lực vận động của cơ thể con người

2 Sử dụng điều kiện tự nhiên để tôi luyện cơ thể nhằm nâng cao sức khoẻ cho con người Nước, ánh sáng, không khí được người ta sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau với mục đích làm cho cơ thể thích nghi với các điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như: nóng, lạnh, không khí loãng thiếu oxy qua đó nâng cao được sức khoẻ và năng lực vận động kéo dài được tuổi thọ cho con người

Môi trường sống và di truyền còn có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều có vai trò quyết định đến bất kỳ một tính chất nào đó của cơ thể Môi trường xung quanh không thuận lợi sẽ kìm hãm những khả năng di truyền tiềm tàng và dẫn đến phát triển không đầy đủ Môi trường thuận lợi sẽ mở cửa cho mọi khả năng tiềm tàng của cấu trúc di truyền, môi trường ấy sẽ “vẫy gọi” những tiềm năng đó đạt tới giới hạn cao nhất mà cá thể đó có thể

1.3.2 Các yếu tố xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất của học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

1.3.2.1 Điều kiện sống và sinh hoạt

Bao gồm các yếu tố chăm sóc y tế, vệ sinh, dinh dưỡng và sinh hoạt trong chế độ sống của con người Điều kiện cần thiết để con người có thể tồn tại và phát triển là sự cân bằng giữa cơ thể và môi trường bên ngoài, các tác động không thuận lợi của môi trường vượt quá khả năng thích nghi của cơ thể có thể gây nên những rối loạn khác nhau về sức khoẻ Môi trường bên ngoài là tổ hợp phức tạp của các yếu tố tự nhiên, xã hội và kinh tế khác nhau

Các yếu tố chăm sóc y tế, vệ sinh cá nhân và vệ sinh xã hội, vệ sinh trong học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí, ăn uống và thể dục thể thao Vệ sinh tốt (sạch sẽ, đủ ánh sáng, đủ không khí, thoáng mát, lao động, tập luyện, học tập và nghỉ ngơi khoa học.v.v ) sẽ tạo ra sự cân bằng của cơ thể với môi trường sống,

đó là điều kiện cần thiết để sự PTTC của cơ thể con người phù hợp với mỗi cá nhân và xã hội Trong quá trình GDTC việc thực hiện nguyên tắc vệ sinh tốt sẽ

Trang 31

quyết định tới hiệu quả của quá trình tập luyện TDTT Điều đó nghĩa là việc sử dụng phương tiện, phương pháp, điều kiện chuyên môn bổ xung trong tập luyện, chế độ ăn, mặc, nghỉ ngơi và hồi phục sau các lượng vận động tập luyện phải đảm bảo cho cơ thể người tập hồi phục và hồi phục vượt mức, tạo tiền đề để tiếp thu lượng vận động ở lần tập sau, buổi tập sau, có hiệu quả cao hơn Đối với học sinh THCS vệ sinh trường sở và vệ sinh dinh dưỡng có vai trò quan trọng quyết định tới sự trưởng thành và phát triển của các em Trường học cần phải được xây dựng ở khu đất rộng, thoáng mát có nhiều cây xanh và có đủ sân bãi để các em

có thể tập luyện và vui chơi thoải mái Nguồn nước cung cấp cho các em phải đảm bảo các yêu cầu vệ sinh cần thiết Lớp học phải đảm bảo đủ ánh sáng, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, bàn ghế và dụng cụ học tập phải đúng kích cỡ và phù hợp với từng độ tuổi

Dinh dưỡng được coi là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự PTTC, đặc biệt là chiều cao và các năng lực hoạt động của con người Vì vậy chăm lo

về dinh dưỡng phải là một quá trình lâu dài suốt cả đời người 6 đến 10 tuổi là lứa tuổi tiền dậy thì, đây là giai đoạn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển đột phá để trẻ em bước vào tuổi trưởng thành, lứa tuổi quan trọng của cả một đời người Vì vậy chăm sóc về dinh dưỡng càng có vai trò đặc biệt quan trọng Lứa tuổi này chăm sóc về dinh dưỡng cần chú ý tới các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự PTTC của cơ thể như đường, đạm, mỡ, vì đây là những yếu tố cơ bản mang tính nền tảng tạo điều kiện cho sự phát triển về cấu trúc và chức năng của cơ thể con người

Chế độ sinh hoạt (sự hợp lý và khoa học trong học tập, lao động, hoạt động TDTT và vui chơi giải trí) cũng là vấn đề liên quan chặt chẽ tới sức khoẻ của con người Vận động là nhu cầu tự nhiên không thể thiếu được của mỗi cơ thể sống, đồng thời là điều kiện để cơ thể tồn tại và phát triển Vì vậy thỏa mãn nhu cầu vận động tự nhiên của cơ thể là vấn đề cần phải được chú trọng Vận động không chỉ đơn thuần là những hoạt động của cơ bắp mà nó bao gồm tất cả các hoạt động khác trong đời sống của con người như: Học tập, lao động, hoạt động TDTT và vui chơi giải trí… Các hoạt động này phải vừa đủ để kích thích được cơ thể phù hợp với các quy luật tự nhiên của quá trình phát triển

1.3.2.2 Hoạt động vận động

Vận động không ngừng đó chính quy luật và điều kiện quyết định sự tồn tại của vũ trụ bao la xung quanh chúng ta cũng như mỗi sinh vật trên trái đất

Trang 32

Con người không thể sống và phát triển nếu không tích cực vận động Ngay từ khi mới sinh ra, trưởng thành rồi già yếu nhu cầu vận động bằng cơ bắp của chúng ta luôn được đặt ra hàng đầu Nó giống như nhu cầu ăn khi đói, khát khi uống Vận động tích cực là tổng số hoạt động (hành vi) vận động mà chúng ta thực hiện trong cuộc sống hàng ngày và trong suốt cả cuộc đời mỗi con người Những hoạt động ấy bao gồm tổng hợp các tố chất thể lực tham gia như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo và mềm dẻo Tùy thuộc hoạt động khác nhau

mà sự biểu hiện của tố chất thể lực này hay tố chất thể lực kia nhiều hay ít Bên cạnh đó vận động tích cực còn bao hàm cả khả năng động não, chủ động tư duy

và sáng tạo của mỗi người trong việc học và tự học để năng cao tri thức cho chính bản thân mình Như vậy vận động tích cực chính là điều kiện cần thiết cho

sự phát triển và hoàn thiện thể chất của cơ thể con người

Vận động tích cực không phân biệt lứa tuổi, giới tính và trình độ tập luyện, nó diễn ra trong suốt cả đời người Để có được những con người phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, chúng ta phải quan tâm giáo dục toàn diện ngay từ khi trẻ em mới cắp sách đến trường Việc giáo dục ấy bên cạnh trang bị tri thức cho các em chúng ta còn cần phải giáo dục thể chất đầy đủ để trang bị cho các em vốn kỹ năng kỹ xảo vận động phong phú và quan trọng trong đời sống cùng những tri thức có liên quan cũng như giáo dục các tố chất thể lực cần thiết để các em có cơ thể khỏe mạnh, cân đối Giáo dục thể chất trường học thực hiện tốt sẽ giúp quá trình giải quyết các nhiệm vụ giáo dục chung như đạo đức, thẩm mỹ, lao động tốt hơn, đồng thời đây cũng là phương tiện rèn luyện

có tác dụng tăng cường sức khoẻ chung và duy trì hoạt động sống một cách bình thường, lành mạnh Các em học sinh được rèn luyện tốt sẽ ít đau ốm hơn và vì vậy, có thể tập luyện thường xuyên, có sức đề kháng cao trong điều kiện khí hậu thời tiết phức tạp đòi hỏi phải có sự thích nghi nhanh Mặt khác việc tích cực tham gia tập luyện trong nhà trường sẽ giúp các em học sinh tránh xa được những thói hư tật xấu và những hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội

Theo GS Dương Nghiệp Chí và PGS Vũ Đức Thu nếu thiếu vận động sẽ dẫn tới suy giảm sức khỏe, sức đề kháng thấp và cơ thể phát triển không bình thường Sự vận động tích cực của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiện kinh tế của gia đình và xã hội, công tác GDTC và thể thao trong nhà trường, hoạt động của các câu lạc bộ TDTT ngoài trường, sự quan tâm của gia đình và

xã hội đối với hoạt động của các em Ngoài ra còn một yếu tố không thể thiếu

Trang 33

được đó là thái độ tự giác, chủ động và hứng thú của các em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện Tóm lại vận động tích cực bằng cơ bắp có ý nghĩa rất to lớn đối với con người Một trong những hình thức vận động có hiệu quả đó chính là hoạt động TDTT

1.4 Đặc điểm môn võ Taekwondo

Taekwondo là môn thể thao võ thuật truyền thống của Hàn Quốc hiện được phát triển rộng rãi trên toàn thế giới Đến nay, Liên đoàn Taekwondo Thế giới đã

có 204 quốc gia thành viên (Tính đến ngày 22 tháng 10 năm 2012 ) với khoảng trên 60 triệu người tập luyện Uỷ ban Olympic thế giới (IOC) đã công nhận Taekwondo là môn thể thao quốc tế tại Đại hội lần thứ 83 năm 1980, từ đó Taekwondo được công nhận là một trong những môn thi đấu chính thức tại các Thế vận hội Olympic từ năm 2000 đến nay [15], [27], [127]

Taekwondo là tổng hợp của ba từ:

TAE có nghĩa là “hệ thống đòn chân”

KWON có nghĩa là “hệ thống đòn tay”

DO có nghĩa là “con đường đạt đến sự phát triển cao nhất về thể

chất và tình thần”

Taekwondo là một chương trình hoàn toàn thống nhất, nếu Taekwon là những biểu hiện bên ngoài thì Do là bản chất bên trong Bản chất này được thể hiện ở tinh thần thi đấu và cũng là phương pháp hoàn thiện bản thân trong quá trình đấu tranh nội tâm liên tục giữa cái tốt và cái xấu [59], [65], [129], [130]

Taekwondo được tạo nên từ bản thân sinh tồn của con người, với việc sử dụng các kỹ năng chiến đấu bằng tay để tự bảo vệ trước các mối đe dọa từ bên ngoài Môn võ này được phát triển và được huấn luyện một cách có hệ thống trong thời kỳ hình thành phát triển của ba triều đại là Silla, Koguryo và Paekje

Do luôn đối nghịch và muốn thôn tính lẫn nhau để hợp nhất bán đảo Triều Tiên

và đồng thời đều phải chịu sự đe dọa từ phía Trung Quốc, Nhật Bản, nên các triều đại này đều cố gắng củng cố sự đoàn kết và tăng cường tinh thần dân tộc của mình Tinh thần này được xây dựng trên cơ sở của hệ tư tưởng truyền thống

và các chiến binh đã lấy nó làm tinh thần chiến binh của môn Taekwondo Hơn

ai hết, các lính Ngự lâm trong triều đại Silla là những người thể hiện một cách rõ rệt nhất sự kết thừa và phát huy tinh thần đó Ngoài lòng trung thành và tính hiếu đạo, điều đã giúp họ sẵn sàng hi sinh lợi ích của quốc gia, thông qua rèn luyện

võ thuật họ đã được trang bị thêm lòng quả cảm "không hề lùi bước trước nguy

Trang 34

hiểm" Ba môn này cùng song song tồn tại và phát triển trong tinh thần của họ và biến đổi họ trở thành những con người kiên định, không chấp nhận sự giải dối và tuyệt đối không bao giờ phản bội hoặc đi ngược là lợi ích của quốc gia

Nhờ có tinh thần này mà Ngự lâm quân triều Silla mới bảo vệ triều đại của mình và thôn tính được hai triều đại kia để hợp nhất bán đảo Triều Tiên Có thể những người lính Ngự lâm này đã kế thừa và phát huy truyền thống lâu đời của dân tộc để tạo ra một bản sắc riêng của mình và đó cũng chính là tinh thần của môn võ Taekwondo với sự đề cao lòng trung thành, tính hiếu đạo và lòng quả cảm "không hề lùi bước trước nguy hiểm

Trải qua nhiều biến cố, cùng với sự phát triển của môn võ Taekwondo, tinh thần của môn võ này cũng ngày một phát triển và được truyền bá rộng khắp

Truyền thống dân tộc, và lịch sử phát triển của môn võ Taekwondo là sự phản ánh sống động nhất về lịch sử phát triển của xã hội Triều Tiên Không chỉ

vì những kỹ năng hoàn thiện của nó mà còn bởi vì nó chính là sản phẩm của truyền thống dân tộc và điều này đã biến Taekwondo trở thành một trong các môn võ thuật mang tính triết học trên thế giới Tuy phải đấu tranh khốc liệt với thiên nhiên và các chủng tộc khác để duy trì sự tồn tại của mình, nhưng nhân dân Triều Tiên vẫn luôn giữ được tinh thần dân tộc trong suốt lịch sử 5.000 năm dựng nước và giữ nước Dựa trên nền tảng tinh thần này, tinh thần Taekwondo cũng từng bước được hình thành phát triển cùng với lịch sử phát triển của Triều Tiên

Trang sử của Triều Tiên được khởi đầu bằng thời kỳ dựng nước của Tangun, người đã đưa ra tư tưởng "Vì lợi ích của tất cả mọi người" và "Tổ chức lại cuộc sống của xã hội loài người" Tư tưởng đã được thể hiện rõ nét trong triều đại Silla để sản sinh ra tinh thần của các Ngự Lâm quân tiền thân của tinh thần Taekwondo với sự kết hợp hài hòa giữa đạo Phật và đạo Khổng Trong triều địa Koryo và Chosun, truyền thống dân tộc của Triều Tiên có sự tương đồng rất lớn với "Chủ nghĩa nhân đạo" Con người trong các triều đại này luôn đặc biệt coi trọng tính mạng của người khá, và họ luôn tỏ ra kính trọng, lễ phép với cấp trên nhưng đồng thời lại luôn đối xử thân ái, chân tình với cấp dưới Trong giai đoạn này, ngoài tư tưởng của Đạo Phật và Đạo Khổng, truyền thống dân tộc Triều Tiên còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi tư tưởng của Triết học phương Tây, học thuyết Yoga của Ấn Độ và thuyết Thiên Chúa giáo phương Tây Là sản phẩm của truyền thống dân tộc, tinh thần Taekwondo bị ảnh hưởng trực tiếp của các học

Trang 35

thuyết này và vì vậy, có thể nói rằng tinh thần của môn võ này đã mang tính triết học rất cao

Taekwondo hiện đại chú trọng đặc biệt những đòn chân và nhấn mạnh tính chất thể thao của môn này và có một số nét tương tự các môn võ Triều Tiên khác như Hapkido, Tangsudo Taekwondo theo hướng sử dụng bàn chân và cẳng chân thể hiện bằng những đòn đá đầy uy lực Nhưng, thực tế Taekwondo vẫn có một số lượng đòn tay khá lớn Nghiên cứu các bài quyền và chương trình luyện tập, dễ nhận thấy số lượng đòn tay của Taekwondo nhiều gấp ba lần các đòn tấn công hoặc phòng ngự bằng chân Trong huấn luyện và thi đấu thì Taewkondo có giá trị một môn thể thao hơn là một môn võ tự vệ, luôn coi trọng vai trò của các đòn chân nên đòn tay không thể tránh khỏi sự mai một do ít được trau chuốt, tinh lọc để đạt được tính hiệu quả [27], [69], [71]

Taekwondo là môn giao đấu đối kháng trực tiếp, là tổng hợp của sức mạnh thể chất và sức mạnh ý chí Do đặc điểm là môn thể thao đối kháng mạnh

mẽ và hấp dẫn nên Taekwondo đã trở thành một môn thi đấu của Thế vận hội Olympic Trong thi đấu Taekwondo, các vận động viên lấy cương thắng nhu, lấy sức mạnh tốc độ làm cơ bản, do đó cần phải có những phương pháp huấn luyện chuyên biệt Theo lý thuyết huấn luyện các môn giao đấu đối kháng nhằm mục đích cao nhất là chiến thuật để đột phá phòng thủ đối phương giành chiến thắng

Vì vậy trong huấn luyện cần huấn luyện chuyên sâu, chuyên môn đối kháng, hệ thống lâu dài để nâng cao năng lực giao đấu tối ưu nên trong thời gian dài phải chịu đựng lượng vận động lớn và tương đối lớn xen kẽ cường độ và số lần lớn nhất, gần lớn nhất

Ở nước ta, Taekwondo là một trong những môn thể thao có hệ thống tổ chức rất khoa học và chặt chẽ do phù hợp cho tập luyện của mọi người nên đã phát triển nhanh chóng và sâu rộng Từ 1986 đến nay, qua hơn 20 năm, phong trào tập luyện Taekwondo từng bước đi vào nề nếp, cả nước có 60 tỉnh, thành, ngành có phong trào tập luyện Taekwondo (miền Bắc: 19 tỉnh, thành; miền Trung: 17 tỉnh, thành; miền Nam: 21 tỉnh, thành và 3 ngành là Giáo dục, Quân đội, Công an) Taekwondo hiện được coi là một trong những môn thể thao mũi nhọn của ngành TDTT giành huy chương trên đấu trường quốc tế [69], [72], [73]

Trong môn võ Taekwondo, kỹ thuật được coi như một phương tiện để giải quyết những tình huống nảy sinh trong thi đấu Thông qua sự phân tích chính

Trang 36

xác các tình huống, mỗi vận động viên sẽ phải tự quyết định sử dụng các kỹ thuật tấn công hay phản công để vô hiệu hóa hoạt động của đối phương nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra Trên thực tế, có sự phân tích chính xác và phản ứng mau lẹ trong các tình huống là điều rất quan trọng trong thi đấu Taekwondo đỉnh cao Để có thể sử dụng thuần thục được tất cả các kỹ thuật trong tập luyện

và thi đấu thì bắt buộc vận động viên phải thường xuyên luyện tập và hoàn thiện từng kỹ năng trong quá trình tập luyện Trong thi đấu quyền Taekwondo đỉnh cao, việc thực hiện các kỹ năng thi đấu rất khó, đòi hỏi phải tổng hợp tập trung cao của các yếu tố: linh hoạt, sức mạnh, sự phối hợp, khả năng biểu cảm Các

kỹ thuật Taekwondo có thể được thể hiện một cách hết sức đa dạng thông qua sự kết hợp và biến thể của chúng, ta phân tích nền tảng của môn võ Taekwondo theo Sơ đồ 1.2

Qua sơ đồ 1.2 cho thấy: Trong quá trình tập luyện Taekwondo, các võ sinh sử dụng rất nhiều các kỹ thuật khác nhau, nhưng trên thực tế những kỹ thuật thường được sử dụng nhất là:

Kỹ thuật đấm: Jireugi

Đấm thuận Baro jireugi Đấm nghịch: Bandae Jireugi Đấm cao: Olgul Jireugi Đấm trung: Momtong Jireugi Đấm thấp: Arae Jireugi Đấm móc (momtong jecho jireugi)

Đấm ngang (yop jireugi)

Kỹ thuật đỡ bằng cổ tay: Palmok Makki

Đỡ trung đẳng từ ngoài vào: Momtong makki

Đỡ thượng đẳng: Olgul makki

Trang 37

Bàn tay Cẳng tay

Đứng một chân Thủ kín hai chấn

Bàn chân Chân

Thủ mở trái phải Thủ mở trướcsau Cẳng tay

Bàn tay Bàn chân Cẳng chân Nắm đấm Khuỷu tay Bàn chân Đầu Gối Cạnh ngoài

Trang 38

Kỹ thuật đỡ bằng cạnh bàn tay: Sonnal makki, Hansonal makki

Thế thủ cao – Trung Thấp (Kodureo bakkat makki) (Palchagi) Thế thủ tay đao cao – Trung Thấp (Sonnal bakkat makki)

Kỹ thuật tấn công: Chigi

Xỉa dọc bàn tay (Pyongsonnkeut Sewotzireugi

Xỉa bàn tay úp (Pyongsonnkeut Epeo tzireugi) Xỉa mũi bàn tay ngửa (Pyongsonnkeut Jecho tzireugi)

Kỹ thuật chém cổ bằng cạnh bàn tay (HanSonnal mok chigi) Đánh Lưng nắm đấm đánh trước (Deung jumeok ap chigi)

Đòn phối hợp chém cổ + Đỡ thượng (Jebipoom mok chigi) Đánh cùi trỏ (Palkup chigi)

Đánh bằng đầu gối (Mureup chigi)

Kỹ thuật chân cơ bản: Chagi

Đá lăng trước: Apoto olygi

Đá lăng từ trong ra ngoài: Bakkat olygi

Đá lăng từ ngoài vào: An olygi

Đá tống trước: Ap chagi

Đá vòng cầu: Dollyo chagi

Đá tống ngang: Yop chagi

Đá tống sau (Dwit chagi)

Đá chẻ (Naelyo chagi)

Đá vòng cầu sau (Dwit dollyo chagi)

Đá phối hợp 2 đòn trước và sau

Di chuyển Baljitgi

Di chuyển tiến về trước

Di chuyển lùi về phía sau

Di chuyển sang hai bên

Quay

Phòng thủ trực tiếp là gạt gỡ các đòn tấn công của đối phương bằng cách dùng tay che chắn những mục tiêu tấn công Đây là hình thức phòng thủ hiệu quả nhất nhằm ngăn cản khả năng ghi điểm của đối phương

Phòng thủ gián tiếp là tránh né đòn tấn công của đối phương bằng cách

di chuyển tránh đòn hoặc thay đổi tư thế đứng Phòng thủ gián tiếp luôn được phối hợp với các đòn đánh phản công Trên thực tế những đòn phản công chính

Trang 39

xác được hiện ngay sau một đòn tấn công của đối phương thì bao giờ cũng là những đòn đánh hiệu quả nhất và thường hay ghi điểm nhất

Theo luật thi đấu của Liên đoàn Taekwondo thế giới ( WTO), trong thi đấu các vận động viên có thể dụng rất nhiều những kỹ thuật khác nhau, nhưng trên thực tế chủ yếu chỉ có kỹ thuật chân là được tính điểm Theo thống kê, có tới 90 95 % nhóm đòn đá trước ( bao gồm đá trước và đá vòng cầu) được sử dụng

1.5 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa học sinh Trung học cơ sở trong tập luyện Taekwondo

1.5.1 Đặc điểm giải phẫu của học sinh Trung học cơ sở và việc tập luyện võ Taekwondo

5-Ở lứa tuổi 11-14 vẫn còn các đốt sụn chưa hoàn toàn mất giữa các đốt xương sống nên cột sống dễ bị cong vẹo khi đứng, ngồi không đúng tư thế Trong tập luyện võ Taekwondo, do đặc điểm môn võ thiên nhiều về các đòn đá nên trong quá trình tập luyện, cần đặc biệt chú ý hướng dẫn các em giữ thăng bằng trong quá trình tập luyện

Sự phát triển cơ thể diễn ra không cân đối làm cho các em lúng túng, vụng

về, lóng ngóng Trong quá trình tập luyện, HLV cần đặc biệt chú ý tới đặc điểm này để tạo không khí tập luyện thoải mái, từ từ hướng dẫn các em trong quá trình tập luyện

Sự tăng khối lượng các bắp thị và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhất vào cuối thời kỳ dậy thì khiến các em khỏe ra rõ rệt Tuy hiên, sự phát triển cơ của các em trai khác biệt nhật định báo hiệu sự hình thành ở các em những nét khác biệt về cơ thể: Con trai cao lên, vai trộng ra, con gái tròn trặn dần, xương chậu rộng ra [46], [79]

Xương chân và tay dài nhanh nhưng cơ phát triển chậm hơn và lồng ngực phát triển chậm nên đầu tuổi thiếu niên thường có thân hình dài, hơi gầy và ít

Trang 40

nhiều không cân đối Trong quá trình tập luyện võ Taekwondo cần chú ý đặc điểm này để lựa chọn các bài tập phù hợp, tránh tập luyện quá sức

1.5.5.2 Đặc điểm về cơ, xương

Hệ xương đang diễn ra quá trình cốt hóa về hình thái, làm cho thiếu niên lớn lên rất nhanh, xương sọ phần mặt phát triển mạnh Ở các em gái đang diễn ra quá trình hoàn thiện các mảnh của xương chậu (chứa đựng chức năng làm mẹ sau này) và kết thúc vào tuổi 20-21; Xương sống phát triển chậm hơn so với nhịp

độ lớn lên về chiều cao thân thể Trong quá trình tập luyện võ Taekwondo cần chú ý tránh những bài tập tác động quá mạnh tới cột sống của trẻ

Hệ cơ: Sự tăng khối lượng các bắp thị và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhất vào cuối thời kỳ dậy thì khiến các em khỏe ra rõ rệt Đặc điểm này cho phép vào những năm cuối của học sinh THCS, có thể tác động các bài tập sức mạnh với cường độ lớn hơn [46], [47], [64], [125]

Trong quá trình hướng dẫn tập luyện môn võ Taekwondo, cần đặc biệt chú ý tới đặc điểm phát triển hệ cơ, xương của học sinh để tác động các bài tập phù hợp và tạo tâm lý thoải mái cho học sinh trong quá trình tập luyện

1.5.5.3 Đăc điểm phát triển các tố chất vận động của học sinh Trung học

cơ sở

Các tố chất thể lực có thể chia làm 5 loại: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền, năng lực phối hợp vận động và mềm dẻo (độ linh hoạt các khớp)

Sự thay đổi các tố chất thể lực trên dựa trên cơ sở sự phát triển hình thái

cơ năng Sự thay đổi không ngừng theo lứa tuổi và có tính làn sóng, tính giai đoạn Sức mạnh cơ có quan hệ mật thiết với sự phát triển của tổ chức xương cơ,

sự phát triển của hệ thống dây chằng khớp, nó còn được quyết định bởi năng lực khống chế điều hoà các cơ Sợi cơ của tuyến nhi đồng tương đối mạnh, hàm lượng các chất đạm của cơ còn ít, sự điều tiết của hệ thần kinh đối với cơ chưa hoàn thiện, hoạt động các cơ chưa nhịp nhàng, do đó sức mạnh cơ còn yếu Nhưng cũng bởi sự tăng trưởng của lứa tuổi, sức mạnh cơ cũng được tăng lên Sức mạnh cơ duỗi lưng lúc 11 tuổi là 72,0kg tới 14 tuổi tăng tới 90,8kg, từ 14-17 tuổi 144kg Theo tài liệu của Trung quốc từ 10-13 tuổi sức bật tăng rõ ràng, lực bóp tay từ 14 đến 16 tuổi tăng tương đối nhiều

Tố chất tốc độ của nhi đồng và thiếu niên tăng tự nhiên theo lứa tuổi, đặc biệt nó phát triển sớm hơn các tố chất khác Kết quả nghiên cứu của CHLB Nga cho thấy: Tố chất tốc độ phát triển nhanh nhất đối với lứa tuổi 10-13 Sau 14 tuổi

Ngày đăng: 30/06/2023, 20:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu (1993), Chương trình đồng bộ có mục tiêu về cải tiến công tác GDTC trong nhà trường các cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình đồng bộ có mục tiêu về cải tiến công tác GDTC trong nhà trường các cấp
Tác giả: Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu
Năm: 1993
2. Ngũ Duy anh, Hoàng Công Dân, Nguyễn Hữu Thắng (2008), Kết quả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá xếp loại thể lực học sinh, sinh viên Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá xếp loại thể lực học sinh, sinh viên Việt Nam
Tác giả: Ngũ Duy anh, Hoàng Công Dân, Nguyễn Hữu Thắng
Năm: 2008
3. Amy M.Tenhouse (2008), Các hoạt động ngoại khóa trong trường ĐH Tác động đến sinh viên, Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hoạt động ngoại khóa trong trường ĐH Tác động đến sinh viên
Tác giả: Amy M.Tenhouse
Năm: 2008
4. Ban chấp hành Trung ương Đảng (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
5. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1994), Chỉ thị 36/ CT-TW của Ban bí thư TW Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới, ngày 24/03/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 36/ CT-TW của Ban bí thư TW Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 1994
6. Ban chấp hành trung ương Đảng (1999), Nghị quyết Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII về công tác giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII về công tác giáo dục
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng
Năm: 1999
7. Ban chấp hành trung ương Đảng (2001), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng
Năm: 2001
8. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên, ban hành kèm theo Quyết định số 72/2008/QĐ-BGDĐT ngày 23 tháng 12 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Phân phối chương trình môn thể dục THCS, Tài liệu dùng cho các cơ quan quản lý giáo dục và giáo viên, áp dụng từ năm học 2009-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân phối chương trình môn thể dục THCS
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Tài liệu dùng cho các cơ quan quản lý giáo dục và giáo viên
Năm: 2009
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Điều lệ trường THCS và trung học phổ thông và trường phổ thông nhiều cấp, ban hành kèm theo quyết định số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường THCS và trung học phổ thông và trường phổ thông nhiều cấp
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008),Quyết định Số: 53/2008/QĐ- BGDĐT quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV, ngày 18 / 9 / 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Số: 53/2008/QĐ- BGDĐT quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể, ngày 24/1/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2017
15. Bộ môn Võ, Quyền Anh, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh (2009), Ngân hàng câu hỏi và đáp án môn học Taekwondo), Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng câu hỏi và đáp án môn học Taekwondo
Tác giả: Bộ môn Võ, Quyền Anh
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2009
16. Nguyễn Đương Bắc (2006), Nghiên cứu các bài tập phát triển sức bền đối với vận động viên nam 15 - 17 tuổi (dẫn chứng ở môn Karatedo), Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện Khoa học TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các bài tập phát triển sức bền đối với vận động viên nam 15 - 17 tuổi (dẫn chứng ở môn Karatedo)
Tác giả: Nguyễn Đương Bắc
Nhà XB: Viện Khoa học TDTT
Năm: 2006
17. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
18. Nguyễn Thanh Bình và cộng sự (2001), “Thực trạng công tác GDTC trong các trường THCS tỉnh Tiền Giang”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học GDTC, sức khỏe trong trường học các cấp,Nxb TDTT, Hà Nội, tr.100-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác GDTC trong các trường THCS tỉnh Tiền Giang
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, cộng sự
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2001
19. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1986), Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao, NXB TDTT Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao
Tác giả: Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền
Nhà XB: NXB TDTT Thành phố HCM
Năm: 1986
20. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1991), Lý luận và phương pháp thể thao trẻ, NXB TDTT Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp thể thao trẻ
Tác giả: Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền
Nhà XB: NXB TDTT Thành phố HCM
Năm: 1991
21. Nguyễn Văn Châm (2004), Nghiên cứu một số giải pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khoá cho học sinh phổ thông THCS Bắc Giang, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học TDTT I, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khoá cho học sinh phổ thông THCS Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Châm
Nhà XB: Trường Đại học TDTT I
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w