Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường.
Trang 1LƯU VĂN MINH
BIỂU THỨC NGÔN NGỮ SO SÁNH
TRONG TIẾNG MƯỜNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9.22.90.20
Trang 2Hà Nội - 2023
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS TS Đỗ Việt Hùng
2 PGS TS Hà Quang Năng
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Văn Khang
Viện Ngôn ngữ học
Phản biện 2: PGS.TS Tạ Văn Thông
Viện Từ điển và Bách khoa Thư Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS Trần Kim Phượng
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 3họp tại: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 41 Lưu Văn Minh – Trần Thị Oanh (2016), Một số miền nguồn cơ bản của miền đích “con người” trong mô hình so sánh “A như B” ở thành ngữ của người Việt, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1 (243) 2016,
tr.33-40.
Trang 5MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 So sánh là một phạm trù của tư duy So sánh cũng là hiện tượng quen
thuộc trong cuộc sống nên trở thành đối tượng của nhiều ngành nghiên cứukhác nhau trong ngôn ngữ học Với ngôn ngữ học, cụ thể là phân ngành phongcách học, so sánh là một biện pháp tu từ nhằm thể hiện một lối tri giác mới mẻ
về đối tượng hướng tới hiệu quả thẩm mĩ Do đó, nghiên cứu các biểu thức sosánh có thể chỉ ra được quan điểm tri nhận thế giới theo nguyên tắc “dĩ nhân vitrung” của mỗi dân tộc, cộng đồng
So sánh có thể có từ chỉ ra sự so sánh hoặc không có từ để so sánh, thậmchí có những biểu thức ngôn ngữ không nói về so sánh nhưng lại nhằm mụcđích để so sánh Tuy nhiên, không phải bao giờ người ta dùng so sánh cũng chỉ
để cho biết cái này giống/khác cái kia mà có khi dùng so sánh để hướng tới mộtđích khác ngoài việc chỉ ra sự giống và khác nhau giữa các đối tượng Vớimong muốn tìm hiểu xem đằng sau việc chỉ ra cái này giống/khác với cái kia,người Mường muốn hướng tới những đích gì, chúng tôi chọn các biểu thứcngôn ngữ so sánh (BTNNSS) trong tiếng Mường để nghiên cứu
2 Với mỗi dân tộc, yếu tố văn hóa có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng.Văn hóa được tạo thành từ nhiều yếu tố và ngôn ngữ là một yếu tố rất quan trọngcủa văn hóa Ngôn ngữ có vai trò lưu trữ, bảo tồn, sáng tạo và phát triển văn hóa.Qua ngôn ngữ của một dân tộc, chúng ta có thể hiểu được những đặc trưng văn hóacủa dân tộc đó
Từ những lí do trên, đề tài nghiên cứu “Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường” được chọn dùng cho luận án này
II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài “Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường” mong muốn đạt
được các mục đích sau: làm sáng rõ đặc điểm của các BTNNSS trong tiếng Mường
về phương diện cấu tạo, chức năng phản ánh và đặc trưng văn hóa của ngườiMường ở Việt Nam; góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị của ngôn ngữ, văn hóaMường; cung cấp tài liệu tham khảo cần thiết trong nghiên cứu, dạy học về tục ngữ,dân ca Mường nói riêng và ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Mường nói chung
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định các nhiệm vụ chínhcần hoàn thành như sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về so sánh, tình hình nghiên cứu về tiếngMường và BTNNSS trong tiếng Mường
- Xác lập cơ sở lí thuyết cần thiết cho việc nghiên cứu BTNNSS trong tiếngMường
Trang 6- Thống kê, phân loại và mô tả đặc điểm của các BTNNSS trong tiếngMường.
- Tìm hiểu các đặc trưng văn hóa của người Mường được thể hiện và lưu trữtrong các BTNNSS trong tiếng Mường Ở một mức độ nhất định, luận án có liên hệvới với BTNNSS của tiếng Việt để tìm ra những tương đồng và khác biệt về phươngdiện ngôn ngữ và văn hóa giữa hai dân tộc
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI TƯ LIỆUKHẢO SÁT
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các BTNNSS trong tiếng Mường (khảosát trong tục ngữ, dân ca Mường)
2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đặc điểm cấu tạo của BTNNSS trong tiếng Mường vàtìm hiểu đặc trưng văn hóa của dân tộc Mường thể hiện ở các BTNNSS Ngoài ra,luận án bước đầu đối chiếu với các BTNNSS trong tiếng Việt để tìm ra sự tươngđồng và khác biệt giữa người Mường và người Việt
3 Phạm vi tư liệu khảo sát
Để thực hiện đề tài “Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường”, luận
án đã khảo sát tổng số 1.571 BTNNSS từ các công trình nghiên cứu về tục ngữ vàdân ca Mường đã được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam sưu tầm và xuất bản
IV PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp chủ yếu sau:
1 Các phương pháp nghiên cứu
1.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả đặc điểm mô hình cấutrúc, các dạng thức của BTNNSS trong tiếng Mường và đặc điểm văn hóacủa người Mường được lưu giữ trong các BTNNSS
1.2 Phương pháp phân tích thành tố ngôn ngữ
Phương pháp phân tích thành tố ngôn ngữ được sử dụng để phân tích từngthành tố có trong mô hình cấu trúc và các dạng thức của BTNNSS trong tiếngMường
2 Các thủ pháp nghiên cứu
2.1 Thủ pháp thống kê, phân loại và hệ thống hóa
Thủ pháp này được vận dụng trong việc khảo sát, thống kê các BTNNSS,các thực thể so sánh trong trong tục ngữ, dân ca Mường, sau đó phân loại và hệthống hóa chúng trên các bình diện để tiến hành miêu tả
Trang 7Thủ pháp phân tích ngữ cảnh được vận dụng khi đặt các thực thể so sánhtrong từng ngữ cảnh cụ thể mà nó xuất hiện để tìm ra giá trị biểu đạt của chúng.
V ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
1 Về mặt lí luận
Luận án góp phần củng cố thêm cách tiếp cận trong nghiên cứu về so sánhtheo hướng liên ngành ngôn ngữ học, tâm lý học và văn hóa học Lần đầu tiênBTNNSS trong tiếng Mường được nghiên cứu theo hướng tìm đến các dạng cấutrúc biểu thức so sánh Thông qua việc tìm hiểu nội dung của các BTNNSS trongtiếng Mường có thể nhận ra các dấu ấn văn hóa về thế giới quan và nhân sinh quancủa người Mường
2 Về mặt thực tiễn
Những kết quả đã trình bày trong luận án có giá trị thực tiễn đối với việcnghiên cứu, học tập và giảng dạy về so sánh Các kết quả này rất hữu ích vớingười học tập, nghiên cứu về tiếng Mường và văn hóa Mường Đồng thời,những đóng góp của luận án cũng rất hữu dụng đối với việc tạo lập và sử dụngBTNNSS trong giao tiếp đời thường cũng như trong sáng tác thơ ca
VI BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 3chương:
Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2 Cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường
Chương 3 Biểu thức ngôn ngữ so sánh và đặc trưng văn hóa Mường
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về so sánh
1.1.1.1 Nghiên cứu về so sánh từ góc độ phong cách học
Từ xa xưa, so sánh là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực ngôn từ trong thơ
ca Lịch sử nghiên cứu phương thức nghệ thuật trong văn thơ nói chung và thủpháp so sánh nói riêng gắn liền với tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạccủa Hy Lạp cổ đại Aristotle (384-322 TCN)
Ở Trung Hoa cổ đại, thời kì trước Aristotle, tư tưởng về so sánh cũng đượcquan tâm từ rất sớm, cụ thể bộc lộ qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứngtrong thơ ca dân gian
Ở Việt Nam, từ năm 1958 khi Bộ môn Tu từ học chính thức được đưa vàogiảng dạy ở bậc đại học thì tên gọi thủ pháp so sánh mới ra đời Bộ môn Tu từ học
ra đời đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu các biện pháp tu từ trong đó thủ pháp
so sánh được sâu hơn
Cho đến nay, so sánh là đối tượng nghiên cứu thuộc nhiều phân ngành củangôn ngữ học Nhưng tiêu biểu hơn vẫn là xu hướng nghiên cứu so sánh như mộtbiện pháp tu từ với những gương mặt điển hình như: Đinh Trọng Lạc, Bùi MinhToán, Nguyễn Thế Lịch, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Đào Thản, Hoàng TrọngPhiến, Hữu Đạt Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả này đã đề cậpđến việc hình thành khái niệm so sánh, cấu trúc so sánh, các kiểu so sánh và hiệuquả sử dụng của so sánh Những lí thuyết về so sánh trên đây là cơ sở quan trọng
để các nhà nghiên cứu sau tham khảo theo hướng đi sâu vào nghiên cứu biện pháp
so sánh trong thơ ca
1.1.1.2 Nghiên cứu về so sánh từ góc độ liên ngành tâm lí học ngôn ngữ học văn hóa học
-Vào những năm đầu thế kỉ XXI, bên cạnh hướng tiếp cận so sánh theo lốitruyền thống của phong cách học, một số hướng tiếp cận mới về so sánh đã manhnha xuất hiện Trong đó, đáng chú ý là cách tiếp cận của nhà nghiên cứu ngôn ngữNguyễn Đức Tồn Ông đã tiếp cận so sánh theo hướng ngôn ngữ học tâm lí và lí
thuyết giao tiếp để nghiên cứu về Chiến lược liên tưởng - so sánh có định hướng [143, 533] Những kết quả nghiên cứu của tác giả đã mở ra cách tiếp cận mới trong
nghiên cứu về so sánh: tiếp cận liên ngành giữa ngôn ngữ học và tâm lí học
Những năm gần đây, việc nghiên cứu so sánh theo hướng tiếp cận liênngành của tâm lí học, ngôn ngữ học và văn hóa học đã được quan tâm Luận án
Biểu thức so sánh trong tiếng Việt [103] của Trần Thị Oanh đã tiếp cận theo
hướng này Qua nghiên cứu BTNNSS trong tiếng Việt, tác giả khẳng định mụcđích của so sánh không dừng lại ở việc chỉ ra sự giống / khác nhau; hơn / kémnhau; hoặc là bằng / không bằng nhau mà so sánh có thể để tả, kể, xác nhận, khen,
Trang 9chê, yêu cầu, đề nghị,… hướng tới những hành động ngôn ngữ cụ thể Thông quaviệc tìm hiểu nội dung của các BTNNSS, tác giả đã chỉ ra dấu ấn văn hóa thếgiới quan và nhân sinh quan của người Việt Hướng tiếp cận này là một gợi ý tốtcho chúng tôi nghiên cứu luận án này
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về tiếng Mường và biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường
1.1.2.1 Nghiên cứu về tiếng Mường
Mặc dù từ 2016 trở về trước, tiếng Mường “chưa có chữ viết chính thức”(chưa có được một cách ghi thống nhất), nhưng tiếng Mường đã được các nhànghiên cứu quan tâm
- Nghiên cứu của học giả nước ngoài: M L Cadière (1905), M.A Chéon
(1905) là những người đầu tiên, từ những năm đầu của thế kỉ XX đã giới thiệu vềcác thổ ngữ Mường ở thượng nguồn sông Gianh, ở Ba Vì (Sơn Tây cũ) Tư liệu dohai ông cung cấp trong các bài báo của mình có lẽ là những tư liệu về tiếngMường xưa hơn cả mà chúng ta có được trên sách báo từ trước đến nay Cả haiông đều cho thổ ngữ Nguồn thuộc tiếng Mường Tiếp đến là các công trình nghiêncứu của H Maspero (1912), J Cuisiner (1946,1951), E P Hamp (1966), L C.Thompson (1967), M E Barker (1963, 1966, 1970), M Ferlus (1974, 1975), N.KXokolovxkaya (1978), Nhờ có các công trình này mà giới Đông phương học biết
rõ hơn về tiếng Mường và tiếng Mường được định vị trong việc nghiên cứu lịch sửcủa nhóm ngôn ngữ mà nó là một thành viên
- Nghiên cứu của học giả trong nước: Ở Việt Nam, nghiên cứu liên quan
đến tiếng Mường có một quá trình khá dài, với sự ghi nhận qua một số công
trình tiêu biểu ở một số phương diện:
+ Về nguồn gốc, mối quan hệ của tiếng Mường có một số tác giả nghiên cứu như: Nguyễn Thế Phương, Phạm Đức Dương, Nghiên cứu của các tác giả
dừng lại ở phạm vi những bài báo đề cập đến nguồn gốc, mỗi quan hệ của tiếngMường với các ngôn ngữ trong nhóm Việt Mường
+ Vấn đề ngữ âm tiếng Mường đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Các nghiên cứu về ngữ âm tiếp cận ở những phạm vi và góc độ khác nhau.Nguyễn Văn Tài là tác giả có nhiều nghiên cứu về ngữ âm tiếng Mường Trong đó
đặc biệt, năm 2012, ông đã xuất bản công trình Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn [121] Bên cạnh nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tài, một số
tác giả khác có nghiên cứu về ngữ âm tiếng Mường như: Đoàn Thiện Thuật,Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Thị MinhChâu,…
+ Về từ vựng tiếng Mường, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu, tìm
hiểu từ trong phạm vi nhỏ gắn với một địa phương là chủ yếu Các nhà nghiên
cứu có công trình được kể đến như: Nguyễn Văn Tài, Hoàng Văn Hành,Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thị Kim Thoa,…
Trang 10Như vậy, các công trình nghiên cứu về tiếng Mường thời gian qua chủ yếu
là các bài viết tập trung vào một số khía cạnh cụ thể của tiếng Mường như: nguồngốc, mối quan hệ, ngữ âm, từ vựng của tiếng Mường
1.1.2.2 Nghiên cứu về biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường
Trong quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về BTNNSS trong tiếngMường, chúng tôi nhận thấy mặc dù tiếng Mường được rất nhiều nhà nghiêncứu quan tâm, tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu
về BTNNSS trong tiếng Mường
Năm 2019, trong công trình nghiên cứu Đặc điểm tục ngữ Mường [68],
tác giả Hoàng Thị Liên Hương có đề cập đến những đặc điểm về cấu trúc vàngữ nghĩa của tục ngữ Mường Khi nghiên cứu về những kiểu cấu trúc thường
sử dụng để xây dựng hình tượng trong tục ngữ Mường, tác giả nhận thấy kiểucấu trúc so sánh là rất phổ biến Cấu trúc so sánh của tục ngữ Mường thường là
sự so sánh định nghĩa, so sánh ngang bằng, so sánh hơn kém Đây là công trìnhduy nhất đề cập đến cấu trúc so sánh trong tục ngữ Mường
Tóm lại, trong các tư liệu hiện có, cho đến nay chưa có công trình, bàiviết nào nghiên cứu về BTNNSS trong tiếng Mường theo hướng tiếp cận liênngành của tâm lí học, ngôn ngữ học và văn hóa học Trên cơ sở kế thừa những
thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi lựa chọn đề tài Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường để nghiên cứu, với mong muốn
đóng góp thêm những nghiên cứu mới mẻ về khía cạnh ngôn ngữ thú vị này.1.2 KHÁI QUÁT TỤC NGỮ, DÂN CA MƯỜNG
1.2.1 Dân ca Mường
Dân ca là một thể loại đặc sắc nhất của dòng chảy văn hóa dân tộc Mường.Người Mường hát dân ca khi lao động sản xuất ngoài nương rẫy; hát ru và răn dạycon cái, người thân trong nhà; trong lễ hội truyền thống; khi gặp bạn bè; ở tiệcrượu; lúc tỏ tình nam, nữ… Người Mường sử dụng các làn điệu dân ca tùy thuộcvào bối cảnh cụ thể để có nội dung phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh đó Trong
đó nổi bật là các làn điệu dân ca: Hát Xắc bùa, Rằng thường, Bộ mẹng, Ví đúm,…
1.2.2 Tục ngữ Mường
Tục ngữ cũng là thể loại văn học dân gian có giá trị của người Mường Tụcngữ Mường đó là một kho trí tuệ, một kho “cái khôn”, “cái khéo” của ngườiMường [dẫn theo IV, 19] Tục ngữ Mường đúc kết những kinh nghiệm hiểu biết
về thời tiết, về sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, quy tắc ứng xử với cộng đồng
và với chính bản thân mình,…
1.3 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.3.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.3.1.1 Khái niệm về so sánh
a) So sánh theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới
Trong giới Anh ngữ học, quan niệm về so sánh (comparison) có hai
khuynh hướng Khuynh hướng thứ nhất tách so sánh (comparison) ra khỏi đối chiếu (contrast) với các đại diện như Oshima, Hogue, Jordan, A Macdonal,
Trang 11Khuynh hướng thứ hai không tách đối chiếu khỏi so sánh: trong so sánh đã baohàm đối chiếu
b) So sánh theo quan niệm của các nhà Việt ngữ học
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy đã có nhiều quan niệm khác nhau về sosánh: quan niệm của các tác giả Hoàng Phê, Đào Thản, Đinh Trọng Lạc, CùĐình Tú, Hữu Đạt, Lưu Quý Khương,… Các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ củaViệt Nam đều cho rằng so sánh là lối nói hoặc biện pháp tu từ, có mục đích tìm
ra sự giống nhau, khác nhau, hơn kém của các đối tượng được so sánh
1.3.1.2 Cấu tạo của cấu trúc so sánh
a) So sánh logic và so sánh tu từ
So sánh logic (so sánh luân lý) được xác lập trên cơ sở tư duy khoa học đểbiểu thị mối tương đồng giữa hai đối tượng So sánh logic chỉ có giá trị thông báo,không tạo ra giá trị biểu cảm
So sánh tu từ lựa chọn cái được so sánh trong mối quan hệ với cái sosánh So sánh tu từ vừa mang chức năng nhận thức vừa có giá trị biểu cảm
1.3.1.3 Cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ so sánh
a) Cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng đầy đủ
Những quan niệm và vấn đề trình bày ở trên là tiền đề cơ sở để chúng tôi
đi đến quan niệm về BTNNSS So sánh là thao tác của tư duy Kết quả của thao
tác so sánh sẽ được thể hiện cụ thể bằng biểu thức ngôn ngữ Biểu thức ngôn ngữ thể hiện kết quả của thao tác so sánh trong tư duy gọi là BTNNSS.
Ví dụ, khi phát ngôn BTNNSS sau: Ló tỏ nhừ thồm luộc (Lúa đỏ như tôm
luộc) [IV, 67], người Mường đã sử dụng ngôn ngữ để thực hiện thao tác so sánh
trong tư duy Thao tác này xem xét hai đối tượng ló tỏ (lúa đỏ) và thồm luộc (tôm luộc - tôm đã luộc chín) về tính chất Kết quả của thao tác tư duy so sánh được người Mường nói ra thành một BTNNSS như sau: Ló tỏ nhừ thồm luộc.
Một cách khái quát, BTNNSS dạng đầy đủ có cấu trúc chung gồm 4 yếu
tố như sau: Thực thể được so sánh, viết tắt bằng TTĐSS và được kí hiệubằng A; Phương diện được so sánh (phương diện của thực thể được so sánh),viết tắt bằng PDĐSS và được kí hiệu bằng x; Từ ngữ so sánh, viết tắt bằngTNSS và được kí hiệu bằng T; Thực thể so sánh (thực thể làm chuẩn để sosánh), viết tắt bằng TTSS và được kí hiệu bằng B
Cụ thể mô hình sau:
Trang 12b) Cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng khuyết thiếu
Bên cạnh mô hình cấu trúc dạng đầy đủ như trên, BTNNSS còn có dạngkhuyết thiếu BTNNSS có thể khuyết thiếu một hoặc hai yếu tố, cụ thể như sau:
b.1) BTNNSS khuyết thiếu một yếu tố cấu thành:
- BTNNSS khuyết thiếu yếu tố thực thể được so sánh (A): Ác/ nhừ (nhờ)/ lịnh lế - Tế/ nhừ/ còn puồn (Ác/ như/ lính lệ - Tệ/ như/ con buôn) [IV, 43].
- BTNNSS khuyết thiếu yếu tố phương diện được so sánh (x): Quần thân lồi tì /nhừ/ páy cạ - Quần xĩa lồi tì/ nhừ/ đạm mầy (Quân thần kéo đi/như/vảy cá
- Quân xã kéo đi/như/đám mây) [I, 438]
b.2) BTNNSS khuyết thiếu hai yếu tố cấu thành:
- BTNNSS khuyết thiếu thực thể được so sánh (A) và phương diện được
so sánh (x): Lúc tì rềng tực rềng cại - tlở lái nhừ/ cại châm mionh (Lúc đi nên trai nên gái - trở lại như/ cái thuổng mòn) [IV, 109].
- BTNNSS khuyết thiếu phương diện được so sánh (x) và từ ngữ chỉ kết
quả so sánh (T): Nang úch thại, mặt/ tlại tlôi - Mồi mồi/ tlại tlạm (Nàng Út
Thái, mặt/ quả trôi - Môi, môi/ quả trám) [II, 322]
- BTNNSS khuyết thiếu phương diện được so sánh (x) và thực thể so
sánh (B): Chông chà cạy vớ/ thi hờn (Cha chồng mẹ vợ/ thì hơn) [II, 64]
Ngoài các biểu thức ngôn ngữ thể hiện thao tác so sánh trong tư duy đãtrình bày trên còn có biểu thức ngôn ngữ thể hiện thao tác so sánh trong tư duy,nhưng đồng thời khuyết thiếu 3 yếu tố: thực thể được so sánh (A), phương diệnđược so sánh (x) và từ ngữ so sánh (T); chúng tôi không lựa chọn biểu thức
dạng này là đối tượng nghiên cứu Ví dụ: Thuyền về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền (Ca dao).
Từ những nội dung trình bày và phân tích ở trên, chúng tôi chỉ lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các BTNNSS tường minh (dạng đầy đủ hoặc khuyết thiếu), có thể là so sánh logic hoặc so sánh tu từ Các biểu thức ngôn ngữ thể
hiện thao tác so sánh nhưng đồng thời khuyết thiếu 3 yếu tố cấu thành
(BTNNSS dạng khuyết thiếu 3 yếu tố) như ví dụ trên không thuộc đối tượng
nghiên cứu của luận án
1.3.2 Cơ sở tâm lí học
Theo tâm lí học, tháo tác so sánh là một trong những thao tác thuộc về
tư duy và đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nhận thức của conngười nói chung, quá trình tư duy nói riêng Vì vậy, việc tìm hiểu cấu trúccủa các BTNNSS đòi hỏi phải bàn đến thao tác so sánh trong tư duy
1.3.3 Cơ sở văn hóa học
Trang 131.3.3.1 Khái niệm văn hóa
Khi nghiên cứu về văn hóa, chúng tôi thấy có rất nhiều khái niệm, định
nghĩa về văn hóa Chúng tôi sử dụng cách tiếp cận về văn hóa theo định nghĩa của Trần Ngọc Thêm: “VĂN HÓA là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.”
[135, 10]
1.3.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau Thứ nhất, ngônngữ là sản phẩm văn hóa nhưng đồng thời lại là công cụ, phương tiện để ghi lại,phản ánh văn hóa Thứ hai, do là một bộ phận của văn hóa nên mọi thuộc tínhcủa văn hóa đều ẩn chứa trong ngôn ngữ Sự biến đổi và phát triển của ngônngữ đi đôi với sự biến đổi và phát triển của văn hóa F de Saussure cho rằng:
“Phong tục của một dân tộc có tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [114, 47].
1.3.3.3 Vài nét về văn hóa của tộc người Mường Việt Nam
Người Mường là một dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc của Việt Nam.Người Mường có cùng nguồn gốc với người Việt cổ, cư trú rải rác ở các tỉnh miềnnúi phía Bắc, tập trung đông nhất là ở tỉnh Hòa Bình và một số huyện miền núicủa tỉnh Thanh Hóa, Phú Thọ Người Mường có nét văn hóa đặc trưng và rất độcđáo Trong quá trình giao thoa giữa các nền văn hóa, tuy có bị ảnh hưởng, songdân tộc Mường vẫn giữ được những nét văn hóa truyền thống của mình
Phần cơ sở lí luận, luận án đề cập đến cơ sở ngôn ngữ học, cơ sở tâm líhọc học và cơ sở văn hóa học Về cơ sở ngôn ngữ học, luận án tập trung tìmhiểu so sánh nhìn từ góc độ ngôn ngữ học (khái niệm về so sánh, đặc điểm củacấu trúc so sánh, quan niệm về BTNNSS và mô hình cấu trúc của BTNNSS).Đây là những cơ sở quan trọng để luận án đi vào tìm hiểu đặc điểm cấu tạo củaBTNNSS trong tiếng Mường và đặc trưng văn hóa Mường Bên cạnh cơ sởngôn ngữ học, luận án cũng quan tâm tới cơ sở tâm lý học Những thành tựunghiên cứu của ngành Tâm lí học là cơ sở cần thiết đối với việc triển khai đề tàicủa luận án Cơ sở văn hóa học được nêu trong luận án là căn cứ để chúng tôitìm hiểu đặc điểm văn hóa của người Mường được thể hiện trong các BTNNSS
Trang 14Chương 2 CẤU TẠO CỦA BIỂU THỨC NGÔN NGỮ
SO SÁNH TRONG TIẾNG MƯỜNG
2.1 DẪN NHẬP
Chương 2 luận án tập trung tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của BTNNSS trongtiếng Mường Trong đó, luận án phân tích rõ mô hình cấu trúc BTNNSS dạngđầy đủ và mô hình BTNNSS dạng khuyết thiếu Từ đó, luận án đi đến nhữngkhái quát chung về mô hình cấu trúc của BTNNSS trong tiếng Mường
2.2 THỐNG KÊ VÀ CẤU TẠO CỦA BIỂU THỨC NGÔN NGỮ SO SÁNHTRONG TIẾNG MƯỜNG
Khảo sát BTNNSS trong tục ngữ, dân ca Mường, chúng tôi nhận thấy cóBTNNSS dạng đầy đủ và BTNNSS dạng khuyết thiếu, cụ thể như sau:
Trong tổng số 1.571 BTNNSS khảo sát có:
- 723 BTNNSS dạng đầy đủ, chiếm 46%;
- 848 BTNNSS dạng khuyết thiếu, chiếm 54%
2.2.1 THỐNG KÊ VÀ CẤU TẠO BIỂU THỨC NGÔN NGỮ SO SÁNH DẠNG ĐẦY ĐỦ TRONG TIẾNG MƯỜNG
Khảo sát trong tục ngữ, dân ca Mường, chúng tôi nhận thấy BTNNSStrong tiếng Mường ở dạng đầy đủ nhất gồm có 4 yếu tố: thực thể được sosánh (A), phương diện được so sánh (x), từ ngữ chỉ kết quả so sánh (T) vàthực thể so sánh (B)
Trong tục ngữ, dân ca Mường, BTNNSS ở dạng đầy đủ có mô hìnhchung và các biến thể, cụ thể:
(i) BTNNSS dạng đầy đủ (mô hình chung);
(ii) BTNNSS dạng đầy đủ có yếu tố đảo lộn trật tự (biến thể 1);
(iii) BTNNSS dạng đầy đủ có một hoặc hai yếu tố được lặp lại (biến thể 2);(iv) BTNNSS dạng đầy đủ có một, hai hoặc ba yếu tố gồm nhiều thành phầncấu tạo khác nhau (biến thể 3);
(v) BTNNSS dạng đầy đủ biểu thức chồng biểu thức (biến thể 4)
Trong tổng số 723 BTNNSS dạng đầy đủ được khảo sát có: BTNNSSdạng (i): 538 BTNNSS, chiếm 74,4%; BTNNSS dạng (ii): 49 BTNNSS, chiếm6,8%; BTNNSS dạng (iii): 16 BTNNSS, chiếm 2,2%; BTNNSS dạng (iv): 119BTNNSS, chiếm 16,5%; BTNNSS dạng (v): 01 BTNNSS, chiếm 0,1%
Như vậy, trong tục ngữ, dân ca Mường, BTNNSS mô hình dạng (i) chiếm
số lượng nhiều nhất 74,4%, tiếp đến là mô hình BTNNSS dạng biến thể 3, chiếm16,5% Mô hình BTNNSS dạng biến thể 4 chiếm tỷ lệ ít nhất 0,1%
2.2.1.1 Biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng đầy đủ (mô hình chung)
Mô hình BTNNSS dạng có đủ 4 yếu tố A, x, T, B, các yếu tố được sắp xếptheo trình tự thông thường chiếm tỉ lệ rất lớn Cấu trúc của BTNNSS dạng này có
mô hình như sau: