1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồ chí minh với việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang trong quá trình tiến tới cách mạng tháng tám

147 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồ Chí Minh với việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang trong quá trình tiến tới cách mạng tháng Tám
Tác giả Nguyễn Thị Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Minh Hồng
Trường học Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình đó đòi hỏi chúng ta tiếp tục đi sâu nghiên cứu về sự nghiệp và phương pháp đấu tranh vũ trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần làm rõ thêm công lao vĩ đại của Người đối với c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS HÀ MINH HỒNG

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 02 – 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, dữ liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Phượng

Trang 3

1.1 Về khái niệm “Khởi nghĩa vũ trang” 8

1.2 Sơ lược những cuộc khởi nghĩa vũ trang trong lịch sử dân tộc

Việt Nam 10

1.3 Chủ nghĩa Mác – Lênin bàn về khởi nghĩa vũ trang 16

1.4 Nguyễn Ái Quốc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều

kiện Việt Nam hình thành con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo

phương pháp vũ trang khởi nghĩa……… ……… 22

Chương 2 NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ NƯỚC HOÀN CHỈNH CHỦ

TRƯƠNG KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH

QUYỀN……….…………

29

2.1 Phong trào cách mạng Việt Nam theo phương pháp khởi nghĩa vũ

trang trước khi Nguyễn Ái Quốc về nước (1930 – 1940)……… …… 29

2.2 Nguyễn Ái Quốc về nước hoàn chỉnh chủ trương khởi nghĩa vũ

trang giành chính quyền (1941 – 1942)……… ……….….……… 54

Chương 3 HỒ CHÍ MINH VỚI QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

PHƯƠNG PHÁP KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH

QUYỀN (1941 – 8/1945)……… ……… ……… 71

Trang 4

3.1 Quá trình chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang, cụ thể hóa phương

pháp khởi nghĩa vũ trang trong những năm 1941 – 1944……… 71

3.2 Hồ Chí Minh với những hoạt động chuẩn bị trực tiếp cho khởi nghĩa vũ trang……….………….……….……… 88

3.3 Hồ Chí Minh chớp thời cơ và quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền 102

KẾT LUẬN 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……… 117

PHỤ LỤC……….……… 126

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, đồng thời là nhà quân sự xuất sắc của dân tộc ta Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người đã giải quyết một loạt vấn đề then chốt về phương pháp khởi nghĩa vũ trang cách mạng thành công trong thực tiễn

Phương pháp đấu tranh vũ trang được Hồ Chí Minh hoàn chỉnh trong thời

kỳ 1941 – 1945, thời kỳ Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người

đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc, trong đó nổi bật là hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang tiến tới Cách mạng Tháng Tám nhằm lật đổ sự thống trị của kẻ thù Sự ra đời và lớn mạnh của lực lượng vũ trang đã làm nòng cốt cho toàn dân giành được những thắng lợi vẻ vang trong Cách mạng Tháng Tám 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Những thắng lợi đó đã minh chứng cho sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo và vai trò to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, nhà chiến lược thiên tài, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, người sáng lập, rèn luyện quân đội ta

Ngày nay, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới với những cơ hội và nhiều thách thức gay gắt Nhiệm vụ xây dựng gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, bảo vệ vững chắc thành quả mà nhân dân ta đã dày công đấu tranh mới giành được

Tình hình đó đòi hỏi chúng ta tiếp tục đi sâu nghiên cứu về sự nghiệp và phương pháp đấu tranh vũ trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần làm rõ thêm công lao vĩ đại của Người đối với cách mạng Việt Nam, nhất là về phương pháp khởi nghĩa vũ trang Qua đó khẳng định thêm sự cần thiết kế thừa, vận dụng sáng tạo phương pháp khởi nghĩa vũ trang vào sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân,

Trang 6

tạo nên sức mạnh vô địch cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Sẵn sàng kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam của các thế lực thù địch

Lịch sử hơn nửa thế kỷ qua khẳng định rằng, lực lượng vũ trang, nòng cốt

là quân đội nhân dân liên tục phát triển chiến đấu lập nên những chiến công huy hoàng là bắt nguồn từ đường lối quân sự của Đảng, phương pháp khởi nghĩa vũ trang Tư tưởng khởi nghĩa vũ trang của Người đã hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa của cha ông ta – Đây là một tài sản vô giá của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang – một bộ phận trọng yếu trong tư tưởng quân

sự Hồ Chí Minh, được đặt ra như một yêu cầu khách quan trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, tôi chọn vấn đề “Hồ Chí Minh với

việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang trong quá trình tiến tới Cách mạng Tháng Tám” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử của mình

Trên cơ sở nghiên cứu những hoạt động lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh với việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang trong quá trình tiến tới Cách mạng Tháng Tám, chúng tôi mong muốn góp một phần làm rõ thêm vai trò, cống hiến lớn lao của Người đối với cách mạng Việt Nam, nhất là về sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Người Qua đó, luận văn khẳng định sự cần thiết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố nền quốc phòng toàn dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Đề tài trình bày có hệ thống quá trình hình thành, phát triển và hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang của Hồ Chí Minh, những hoạt động xây dựng lực lượng chủ yếu của Người trong giai đoạn 1941 – 1945 Qua đó làm sáng tỏ thêm vai trò của Người trong việc xây dựng lực lượng vũ trang tiến tới cách mạng Tháng Tám Luận văn cũng rút ra được những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng để tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong thời kì

Trang 7

giải phóng dân tộc và sự cần thiết phải vận dụng những tư tưởng của Người vào sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn của nhân loại, đồng thời là nhà chiến lược quân sự thiên tài Vì vậy, Hồ Chí Minh là đối tượng được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm qua dưới nhiều gốc độ khác nhau

Riêng trong lĩnh vực quân sự đã có nhiều tác phẩm, bài viết của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị tướng lĩnh, các nhà khoa học bàn về vai trò của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết những vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam

Trước hết phải kể đến những công trình sâu sắc như cuốn “Hồ Chí Minh

những vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam” của đồng chí Trường Chinh,

Nxb Quân Đội Nhân dân, H.1971 Hay “Chủ tịch Hồ Chí Minh sự nghiệp vĩ đại,

gương sáng đời đời” cũng của đồng chí Trường Chinh, Nxb Sự Thật, H.1980

Đặc biệt từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới đất nước (1986), việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả Về Hồ Chí

Minh với quân sự, đáng chú ý có các tác phẩm: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ

vĩ đại của Đảng và dân tộc ta” của Lê Duẩn, Nxb Sự Thật, H.1986 Đồng chí

Phạm Văn Đồng có các tác phẩm: “Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc,

một thời đại, một sự nghiệp”, Nxb Sự Thật, H.1990; “Hồ Chí Minh quá khứ, hiện tại, tương lai” Nxb Sự Thật, H.1990; “Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam trên con đường giải phóng dân tộc” Nxb Chính Trị Quốc Gia,

H.1993 Đại tướng Võ Nguyên Giáp có các tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh

quá trình hình thành và phát triển” Nxb Quân Đội Nhân Dân, H.1993; “Hồ Chí Minh nhà chiến lược thiên tài, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam” Nxb Sự Thật, H.1997; “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, Nxb Chính Trị Quốc Gia, H.1997

Trang 8

Là những nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhiều năm hoạt động gần gũi bên chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng Người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, nên các tác giả của những công trình kể trên đã đánh giá chính xác, sâu sắc những đóng góp của Người đối với cách mạng Việt Nam nói chung và về vấn đề quân sự nói riêng

Tuy nhiên, trong các tác phẩm nêu trên do nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp của Người nên phần nghiên cứu đánh giá về vai trò của Người đối với việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang của cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 – 1945 mới chỉ nêu những nét chung nhất

Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động và vai trò của

Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam do các nhà khoa học, các tập thể nghiên cứu Có thể chia ra làm hai loại:

Một là, những công trình nghiên cứu trực tiếp sự nghiệp Hồ Chí Minh như

cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp” của Ban nghiên cứu lịch sử

Đảng Trung ương, Nxb Sự Thật, H.1970, sau được tái bản nhiều lần Trong cuốn sách này có một chương viết về hoạt động của Người thời kỳ 1940 – 1945

với nhan đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước cùng Trung ương Đảng trực tiếp

lãnh đạo cuộc vận động giải phóng dân tộc và cách mạng Tháng Tám” Do

khuôn khổ của một cuốn sách có tính chất vắn tắt, do yêu cầu thể loại tiểu sử, chương này chỉ mới nêu được những hoạt động chính, những đánh giá chung về

vai trò của Người đối với lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam Cuốn “Tư

tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân” của Trần Văn Trà, Nxb

Quân đội nhân dân, H.1994; “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự cuả Chủ tịch Hồ

Chí Minh” của Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt nam, Nxb Quân đội

nhân dân, H.1990

Hai là, những công trình nghiên cứu lịch sử Đảng, đặc biệt là những công trình

lớn như: “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tập 1 (1920 – 1954) của Học viện

Nguyễn Ái Quốc – Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Sự Thật, H.1982, có một chương

Trang 9

trình viết về “Đảng lãnh đạo toàn dân nổi dậy giành chính quyền (1939 – 1945)” cũng có trình bày một số hoạt động của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này Cuốn “Lịch

sử quân sự Việt Nam” Tập 9 (1890 – 1945) của Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử

Quân sự, Nxb Chính Trị Quốc Gia, H.2000 cũng có chương đề cập đến tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh

Các cuốn sách nêu trên có đề cập đến hoạt động và vai trò của Hồ Chí Minh

về phương pháp khởi nghĩa vũ trang cách mạng Việt Nam thời kì 1941 – 1945, nhưng do đối tượng và phương pháp nghiên cứu rộng, giải quyết nhiều vấn đề, nên các tác giả chỉ nêu những nét lớn khái quát, những nét lớn đó giúp chúng tôi phương pháp và hiểu biết để giải quyết nhiệm vụ cụ thể của luận văn

Bên cạnh những cuốn sách đã nói ở trên, còn có những bài viết đề cập đến hoạt động và vai trò của Hồ Chí Minh về việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng Việt Nam được đăng trên các tạp chí nghiên cứu

và các báo cáo khoa học in trong kỷ yếu của các hội thảo: “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về xây dựng quân đội nhân dân”, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, H.1996;

“55 năm Quân đội nhân dân – Miền đất khai sinh và quá trình phát triển” của

Tỉnh ủy Cao Bằng – Bộ Tư lệnh quân khu I – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,

1999; Trong đó chú ý có các bài viết như: “Xây dựng thí điểm Việt Minh ở Cao

Bằng – khởi nguồn một quyết định lịch sử” của Trần Bích Hải; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng lý luận tổ chức quân sự tiến tới thành lập quân đội chính quy đầu tiên” của Lê Văn Thái in trong sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân”, Nxb Quân đội nhân dân, H.1996; Bài viết “Hồ Chí Minh – Người đặt nền móng cho sự ra đời Quân đội nhân dân Việt Nam”

của Phạm Xanh, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 5 (tháng 5/1994), tác giả Nguyễn

Minh Đức có bài viết “Di sản Quân sự Phương Đông cổ đại qua một số tác

phẩm của Hồ Chí Minh”, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, số 4, 1993; Hay bài viết

“Bác Hồ với lực lượng vũ trang thời kì chuẩn bị khởi nghĩa” của tác giả Nguyễn

Quang Tiến, Tạp chí Lịch sử Đảng số 34 (6.1990)

Trang 10

Những bài viết in trên các tạp chí giải quyết một vài vấn đề cụ thể về vai trò

Hồ Chí Minh trong việc xây dựng lực lượng vũ trang và hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang thể hiện trong việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ, phổ biến tri thức quân sự và huấn luyện quân sự Tuy nhiên, chưa có bài viết nào đề cập một cách hệ thống về vai trò của Hồ Chí Minh đối với việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang tiến tới Cách mạng tháng Tám thời kì 1941 – 1945 Song kết quả nghiên cứu của các đề tài trên đã gợi mở hoặc đi vào nghiên cứu mặt nào đó về hoạt động và phương pháp khởi nghĩa vũ trang tiến tới Cách mạng Tháng Tám thời kì 1941 – 1945 Đó sẽ là cơ sở để chúng tôi tham khảo, kế thừa khi viết luận văn của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những hoạt động và đóng góp của Hồ Chí Minh vào việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang trong quá trình tiến tới Cách mạng Tháng Tám trong thời kì 1941 – 1945

Luận văn giới hạn ở việc nghiên cứu những hoạt động chuẩn bị về cả lý luận

và thực tiễn cho việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang bao gồm cả việc xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tiến tới Cách mạng Tháng Tám, cụ thể là từ khi Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (5/1941) đến Cách mạng Tháng Tám thành công (8/1945)

4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu sử dụng

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện dựa trên phép biện chứng duy vật, phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, thống

kê tài liệu, tổng hợp, so sánh… và một số phương pháp liên ngành khác

4.2 Nguồn tài liệu sử dụng trong luận văn

Để hoàn thành đề tài này tôi sẽ tiếp cận với những nguồn tài liệu cơ bản sau: Thứ nhất, là các tác phẩm kinh điển, lý luận chủ nghĩa Mác – Ăngghen – Lênin bàn về phương pháp khởi nghĩa vũ trang

Trang 11

Thứ hai, là các tác phẩm của Hồ Chí Minh, chủ yếu các bài viết, bài nói của Người trong thời kì hoạt động cách mạng mà đề tài xác định

Thứ ba, là một số văn kiện của Đảng về phương pháp khởi nghĩa vũ trang thời kì 1941 – 1945

Thứ tư, là các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, các tập hồi ký về Hồ Chí Minh đối với việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang ở thời kì đã nêu

Ngoài ra, các bài viết trên các báo và tạp chí khoa học có chủ đề liên quan

về Hồ Chí Minh với những vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn có kết cấu 3 chương, gồm:

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Về khái niệm “Khởi nghĩa vũ trang”

Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, khởi nghĩa là hoạt động “nổi dậy

có tổ chức của đông đảo quần chúng bị áp bức, dùng bạo lực lật đổ chế độ thống trị của giai cấp trong nước hoạt sự đô hộ của nước ngoài, giành chính quyền ở địa phương hoặc cả nước Lực lượng quyết định thắng lợi của khởi nghĩa là lực lượng chính trị của quần chúng, có sự phối hợp của lực lượng vũ trang Các cuộc khởi nghĩa trong lịch sử thường phải dùng đến sức mạnh vũ trang; việc dùng sức mạnh vũ trang đến mức nào tùy thuộc vào sự phản kháng của giai cấp thống trị Nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa đòi hỏi phải nắm vững thời cơ và chủ động tiến công kiên quyết liên tục mới giành được thắng lợi” [86, 554]; và khởi nghĩa vũ trang là một

cuộc“khởi nghĩa chủ yếu bằng bạo lực vũ trang Khởi nghĩa vũ trang xảy ra

trong trường hợp các giai cấp phản động dùng bạo lực vũ trang để đàn áp quần chúng khởi nghĩa” [86, 566] Có thể kể tới cách mạng tháng Mười Nga (1917) là

cuộc khởi nghĩa vũ trang lật đổ chính phủ tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết toàn Nga; Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam là cuộc khởi nghĩa toàn dân, dựa vào sức mạnh chính trị của quần chúng, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân lật đổ ách thống trị của thực dân nước ngoài và phong kiến trong nước, giành độc lập dân tộc, lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Như vậy, có thể hiểu khởi nghĩa vũ trang là sự nổi dậy của đông đảo quần

chúng bị áp bức, giành chính quyền bằng con đường bạo lực vũ trang khi mà thời cơ và điều kiện khởi nghĩa xuất hiện Trong nội hàm khởi nghĩa vũ trang

cũng cần làm rõ khái niệm thời cơ và điều kiện khởi nghĩa

Trước hết, thời cơ là “tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi

cho việc phát huy sức mạnh thắng lợi trong khởi nghĩa, trong chiến tranh và trong tác chiến Thời cơ có thể do năng động chủ quan tạo nên và cũng có thể do

Trang 13

sai lầm của đối phương hoặc điều kiện khách quan đưa đến Thời cơ thường xuất hiện rất nhanh, đột ngột và qua đi cũng rất nhanh Có thời cơ chiến lược, thời cơ chiến dịch và thời cơ chiến thuật Tạo thời cơ, kịp thời, nắm bắt thời cơ và hành động đúng thời cơ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giành thắng lợi” [86, 941]

Vấn đề thời cơ trong khởi nghĩa được hiểu là sự “đảm bảo cho khởi nghĩa

giành thắng lợi” “Đó là: kẻ thù khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng; đa số quần chúng ủng hộ khởi nghĩa; tổ chức lãnh đạo khởi nghĩa đã sẵn sàng hành động Thời cơ khởi nghĩa chỉ xuất hiện khi các điều kiện khách quan và chủ quan chính muồi, có sự tác động và kết hợp với nhau chặt chẽ Chớp đúng thời cơ để khởi nghĩa thì thành công Khởi nghĩa non (chưa có thời cơ) hoặc chậm khởi nghĩa (để lỡ thời cơ) thì sẽ thất bại” [86, 941] Ví dụ Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945

của nhân dân Việt Nam là một điển hình của việc tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ khởi nghĩa Vào thời điểm, phát xít Nhật và tay sai đã hoang mang tan rã, quần chúng lao động và tầng lớp trung gian đã ngả hẳn về phía cách mạng, gia nhập, ủng hộ Mặt trận Việt Minh; Đảng Cộng sản Đông Dương đã trở thành đội tiên phong có đủ uy tín và năng lực lãnh đạo khởi nghĩa của cả dân tộc; Ủy ban khởi nghĩa đã kịp thời ra lệnh tổng khởi nghĩa trong cả nước (13/08/1945)

Về điều kiện khởi nghĩa, có thể hiểu là“những nhân tố cần thiết để tiến

hành khởi nghĩa thắng lợi” Theo Lênin, một cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi

phải có ba điều kiện:“có giai cấp tiên phong lãnh đạo; có cao trào cách mạng

của nhân dân; có bước ngoặt trong lịch sử của cuộc cách mạng đang lên (khí thế của quần chúng lên cao, đối phương và lực lượng trung gian hoang mang dao động” [86, 354] Đối với cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh cho

rằng muốn khởi nghĩa thắng lợi phải hội đủ ba điều kiện, đó là: “lực lượng đế

quốc thống trị lung lay bối rối, có cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng; có chính đảng cách mạng và đường lối khởi nghĩa đúng” [86, 354]

Quá trình khởi nghĩa có thể bắt đầu bằng những cuộc khởi nghĩa từng phần

ở địa phương rồi tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Khởi

Trang 14

nghĩa từng phần là cuộc “khởi nghĩa diễn ra ở từng địa phương, từng vùng, giành

chính quyền ở cơ sở” [86, 565] Thời gian chuyển biến này dài hay ngắn tùy thuộc

vào sự thay đổi của tình thế và khi nào thời cơ tổng khởi nghĩa xuất hiện và được

nắm bắt như thế nào Như vậy, tổng khởi nghĩa là cuộc “khởi nghĩa diễn ra trên

phạm vi cả nước, trong một thời gian tương đối ngắn, theo một kế hoạch và sự chỉ đạo tập trung thống nhất nhằm giành chính quyền trong cả nước” [86, 987] Ví dụ

đối với nước ta, tháng 8/1945 Tổng khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra trên cả nước nhưng trước đó đã có nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra ở địa phương làm điều kiện thực tế cho Tổng khởi nghĩa

Khái niệm Khởi nghĩa vũ trang cũng cần phải được phân biệt rõ với đấu

tranh vũ trang Đấu tranh vũ trang là “hình thức đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc bằng sử dụng lực lượng vũ trang và biện pháp quân sự nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định; hình thức đặc trưng của chiến tranh; giữ vai trò trực tiếp trong việc tiêu diệt lực lượng quân sự đối phương Ở Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị là hai hình thức cơ bản của bạo lực cách mạng, được kết hợp chặt chẽ với nhau; đi đôi với nhiệm vụ tiêu diệt địch, đấu tranh vũ trang còn có nhiệm

vụ bảo vệ dân, giữ dân, giành dân, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh chính trị và nổi dậy giành quyền làm chủ” [86, 346] Như vậy, khởi nghĩa vũ trang có

thể được hiểu là một cuộc nổi dậy trong thời gian ngắn có sử dụng bạo lực vũ trang khi mà thời cơ và điều kiện khởi nghĩa cho phép với mục tiêu giành chính quyền Trong khi đấu tranh vũ trang là một hình thức đấu tranh xuyên suốt một cuộc chiến tranh

1.2 Sơ lượ c những cuộc khởi nghĩa vũ trang trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Khởi nghĩa vũ trang không phải là một khái niệm lạ trong lịch sử một đất nước có lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh giành và giữ độc lập như Việt Nam ta Trong lịch sử chống ngoại xâm hàng ngàn năm đó, hầu hết kẻ thù xâm lược là những quốc gia lớn có quân đội, vũ khí và phương tiện chiến tranh hùng mạnh

Trang 15

Năm 218 trước Công nguyên (TCN), một bộ phận trong 50 vạn quân Tần đánh xuống phương Nam của Tần Thủy Hoàng đã tiến đánh nước Văn Lang, bị quân dân ta anh dũng chống lại Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam dùng

du kích chiến để chống quân xâm lược Sau 10 nămkiên trì chống quân Tần, quân dân ta đã đẩy lui được quân xâm lược dưới sự lãnh đạo của Thục Phán An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc (208 TCN) Năm 179 TCN, Triệu Đà của Nam Việt tiến quân đánh chiếm nước Âu Lạc, nước ta lại rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc

Năm 40, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, dân tộc ta đã nổi dậy giành 65 thành trì, lật đổ bọn thống trị, khôi phục nền tự chủ trong 3 năm Sau đó lại bị nhà Hán đặt ách nô dịch Tiếp theo những cuộc khởi nghĩa của Chu Đạt (năm 160), Lương Long (178), là cuộc nổi dậy anh dũng của nhân dân ta năm 218, dưới sự lãnh đạo của Bà Triệu Tiếp đó năm 541 Lý Bôn nổi dậy lật ách thống trị của nhà Lương, khôi phục chủ quyền dân tộc, lập nên nước Vạn Xuân Nước Vạn Xuân tồn tại đến năm 602 thì bị Nhà Tùy thôn tính

Nhà Đường thay thế nhà Tùy đô hộ nước ta không lâu sau đó Với chính sách cai trị hà khắc, các sản vật của đất nước bị vơ vét về Trung Hoa để phục vụ thú xa xỉ của giai cấp phong kiến Năm 722, Mai Thúc Loan liên minh với các nước Lâm Ấp và Chân Lạp nổi lên đuổi bọn thống trị nhà Đường, nhưng sau đó

đã bị nhà Đường tăng viện đánh bại

Năm 776, Phùng Hưng và Phùng Hải phát động khởi nghĩa ở Đường Lâm (Hà Tây), nghĩa quân chiếm được thành Tống Bình, được nhân dân hưởng ứng,

đã giành được quyền làm chủ vùng đất của mình Tuy nhiên, đến năm 791, nhà Đường đem quân sang đàn áp

Đến đầu thế kỷ X, nhân lúc chính quyền thống trị đang lúc suy yếu trầm trọng, Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân ta nổi dậy lật đổ chính quyền đô hộ tiến quân chiếm lấy thành Tống Bình, quét sạch quân Đường, bước đầu gây dựng nền

tự chủ (năm 905) Họ Khúc đã tạo cơ sở cho các cuộc khởi nghĩa của Dương

Trang 16

Đình Nghệ năm 931 và đặt biệt là chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm

938, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc sau hơn 1000 năm dưới ách đô

hộ của phong kiến phương Bắc

Năm thế kỷ tiếp sau đó (938 – 1407) là quãng thời gian dân tộc ta phải liên tục đối đầu với các cuộc xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc nhưng lần lượt đánh bại các âm mưu xâm lược ấy, giữ vững nền độc lập và không ngừng xây dựng, phát triển đất nước đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Năm 1407, nhà Minh – Trung Quốc lại cất quân xâm lược nước ta Cuộc kháng chiến của nhà Hồ bị thất bại nhưng nhân dân ta liên tục vùng lên Tiêu biểu là khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng Năm 1418, cờ khởi nghĩa lại phất lên từ Lam Sơn Trải qua 10 năm chiến đấu gian khổ và anh dũng, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi – Nguyễn Trãi, dân tộc ta liên tục tiến công, tiêu diệt hết đạo quân này đến đạo quân khác của địch, mở rộng vùng giải phóng, tiến lên hoàn toàn tiêu diệt địch ở Chi Lăng – Xương Giang, kết thúc 20 năm thống trị của nhà Minh (1427)

Đến thế kỷ thứ XIX, dân tộc Việt Nam lại đứng trước một kẻ thù mới: chủ nghĩa thực dân phương Tây Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước

ta Triều đình nhà Nguyễn bất lực và đến năm 1883 đã hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp Nhưng ngay từ khi quân xâm lược đặt chân vào nước ta, nhân dân đã anh dũng đứng lên cầm vũ khí đánh quân thù

Năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định Trương Định tổ chức nghĩa quân chống giặc ở Gò Công, Tân An, được triều đình Huế giao chức Lãnh binh Năm 1862, triều đình ra lệnh giải binh để thương thuyết với Pháp, nhưng Trương Định cương quyết kháng Pháp đến cùng, được nhân dân suy tôn là Bình Tây Đại nguyên soái Ngày 20/8/1864, Trương Định bị thương nặng đã rút gươm

tự sát Con trai là Trương Quyền tiếp tục chiến đấu đến năm 1867

Cùng với khởi nghĩa Trương Định, năm 1861, Nguyễn Trung Trực (tức Nguyễn Văn Lịch) cũng nổi dậy ở Tân An, chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu Hy

Trang 17

Vọng (Espérance) của giặc Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (12/1861), rồi lập căn

cứ kiên trì chống giặc khắp vùng Rạch Giá, Hà Tiên và đảo Phú Quốc, gây cho giặc Pháp nhiều nổi kinh hoàng:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần

Trong khoảng 30 năm cuối của thế kỷ XIX, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, tuy thất bại nhưng lòng yêu nước và ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc của quân dân ta vẫn chưa bao giờ tắt nguội, vẫn âm ỉ cháy trong mỗi người dân nước Việt chờ ngày bùng lên mạnh mẽ Ở khắp nơi, hàng loạt cuộc khởi nghĩa đã nổ

ra khi ngọn cờ Cần Vương của vua Hàm Nghi phất lên ở Tân Sở, Quảng Trị Trong đó, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa:

- Khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887) do Đinh Công Tráng cùng một số văn thân, thổ hào yêu nước như Phạm Bành, Nguyễn Khế, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước lãnh đạo, lập chiến khu ở Ba Đình (Nga Sơn, Thanh Hóa) tổ chức chống giặc, gây cho chúng nhiều thiệt hại

- Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 – 1889) do Nguyễn Thiện Thuật (tức Tân Thuật) lãnh đạo, dựng cờ khởi nghĩa lập căn cứ kháng Pháp ở Bãi Sậy (thuộc hai huyện Văn Giang và Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên cũ) Với lối đánh du kích, biến hóa phân tán, dựa vào thiên nhiên của nghĩa quân Bãi Sậy, khởi nghĩa Bãi Sậy

đã gây cho quân Pháp nhiều tổn thất

- Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 – 1892) do Tống Duy Tân cùng với Cao Điền lãnh đạo, dựng cờ khởi nghĩa ở Hùng Lĩnh (Thanh Hóa) cùng lúc với cuộc khởi nghĩa Phạm Bành, Đinh Công Tráng Sau khi nghĩa quân Ba Đình bị tan

rã, Tống Duy Tân tạm thời phân tán lực lượng rồi lánh sang Trung Quốc Năm

1888, ông trở về Thanh Hóa, tổ chức lại nghĩa quân, xây dựng cứ điểm, đánh địch sáu năm ròng, lập nhiều chiến công Năm 1892, cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, Tống Duy Tân bị giặc bắt và hy sinh anh dũng

Trang 18

- Trong khi đó ở Gia Định, năm 1885, Phan Văn Hớn lãnh đạo nhân dân quyết định khởi nghĩa Ngày 25 tháng chạp năm Giáp Thân (ngày 8 rạng ngày 9/2/1885), hàng ngàn nghĩa quân chia làm ba mũi, tấn công vào dinh huyện Bình Long nhưng nhanh chóng thất bại Rạng sáng ngày 30/3/1886, Phan Văn Hớn bị hành hình ở Hóc Môn cùng với những người đồng chí của mình

- Khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1896) là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, kéo dài suốt thời Cần Vương Kế thừa cuộc khởi nghĩa đầu tiên của Lê Ninh ở Đức Thọ - Hà Tĩnh, Tiến sĩ Phan Đình Phùng với sự trợ giúp của Cao Thắng, Ngô Quảng, Cao Đạt, Hà Văn Mỹ, Nguyễn Chanh, Nguyễn Trạch đã đưa cuộc khởi nghĩa này lên tầm vóc lớn nhất, độc đáo nhất thời Cần Vương Thực dân Pháp phải huy động một lực lượng quân sự lớn để đàn áp Cuối năm 1895, Phan Đình Phùng lâm bệnh từ trần, cuộc khởi nghĩa suy yếu dần và tan rã Thất bại của khởi nghĩa Hương Khê cũng chấm phong trào kháng Pháp do Văn thân, sĩ phu yêu nước dưới ngọn cờ Cần Vương (1885 – 1896)

Khởi nghĩa Yên Thế (1887 – 1913) là một cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đã đương đầu trực tiếp với Pháp nhiều lần, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất Bọn thực dân Pháp nhiều lần mở những cuộc tiến công lớn, hai lần phải đình chiến và dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ nhưng đều thất bại Cuối cùng chúng phải lập mưu sát hại Hoàng Hoa Thám (10/12/1913) mới dập tắt được cuộc khởi nghĩa

Những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào đấu tranh của nhân dân lại tiếp tục diễn ra mạnh mẽ Các cuộc khởi nghĩa vũ trang tiếp tục nổ ra với quy mô và biện pháp quyết liệt hơn Có thể kế đến một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thời kỳ này như: khởi nghĩa Thái Nguyên (1917 – 1918); khởi nghĩa Yên Bái (1930)

Khởi nghĩa Thái Nguyên - do Đội Cấn làm Tư lệnh trưởng, Lương Ngọc Quyến làm quân sư - nổ ra đêm 30 rạng 31/8/1917 Nghĩa quân lấy lá cờ có 5 ngôi sao lớn đề 4 chữ “Nam binh phục quốc’ làm quân kỳ, tuyên bố Thái Nguyên độc lập, đặt quốc hiệu là Đại Hùng Nhưng sau đó, ngày 4/9/1917,

Trang 19

Lương Ngọc Quyến hy sinh, các tuyến phòng thủ của nghĩa quân bị phá vỡ, nghĩa quân phải rút khỏi thị xã và phân tán về các vùng xung quanh Tại núi Pháo, thuộc huyện Đại Từ, trong cuộc đánh trả các cuộc tấn công của địch, Đội Cấn cũng bị thương nặng tự sát Năm 1918, cuộc khởi nghĩa bị tan rã

Khởi nghĩa Yên Bái là một cuộc tổng nổi dậy bằng vũ trang, nhằm đánh chiếm một số tỉnh và thành phố trọng yếu ở miền Bắc vào đầu năm 1930, do Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức và lãnh đạo Mục đích của cuộc nổi dậy là lật đổ chính quyền thuộc địa của Pháp để xây dựng một nước Việt Nam theo chính thể cộng hòa Tỉnh lỵ Yên Bái chỉ là một trong những mục tiêu của cuộc tổng tấn công của Việt Nam Quốc dân Đảng vào quân đội và chính quyền thuộc địa Đêm 9/2/1930 khởi nghĩa nổ ra Yên Bái, tiếp đó là Hải Dương, Phú Thọ, Thái Bình và

Hà Nội cùng ném bom phối hợp Tại Yên Bái quân khởi nghĩa đã chiếm được trại lính, giết và làm bị thương 1 số sỹ quan, hạ sỹ quan nhưng chính quyền thực dân nhanh chóng làm chủ được tỉnh lỵ Ngày hôm sau cuộc khởi nghĩa bị Pháp tập trung phản công, các lãnh tụ của Đảng đều bị bắt Ở những nơi khác quân khởi nghĩa làm chủ tạm thời vài huyện lỵ nhưng cũng nhanh chóng bị thực dân Pháp chiếm đóng Các lãnh tụ Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính bị Pháp áp giải

từ Hà Nội lên Yên Bái xử bắn cùng với 11 đồng chí sáng sớm ngày 17/6/1930 Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc, hình thức chủ yếu của các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc là đều được tiến hành bằng các cuộc khởi nghĩa vũ trang, dùng vũ lực để chống lại vũ lực Phương pháp này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các giai đoạn lịch sử sau này Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, các hình thức đấu tranh được kế thừa và phát triển hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình cách mạng

1.3 Chủ nghĩa Mác – Lênin bàn về khởi nghĩa vũ trang

Chủ nghĩa Mác – Lênin với tư cách là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân,

có sứ mệnh không chỉ trang bị những vấn đề lý luận về vai trò, sứ mệnh, con

Trang 20

đường giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức; mà còn

“vũ trang cho công nhân” để họ có được những “vũ khí” để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Từ những thập niên 80 thế kỷ XIX, Mác – Ănghen đã bàn về vấn đề khởi nghĩa vũ trang như là một trong những phương pháp đấu tranh

Trong tác phẩm Cách mạng và phản cách mạng ở Đức, Ănghen đã viết về khởi

nghĩa vũ trang như sau:

“Khởi nghĩa là một nghệ thuật, cũng y như chiến tranh hay bất cứ nghệ thuật nào khác; khởi nghĩa phải tuân theo một số quy tắc nhất định, đảng nào

mà quên mất những quy tắc ấy sẽ không tránh khỏi bị tiêu vong Những quy tắc

ấy, được suy ra một cách lô–gích từ bản chất của các đảng và từ bản chất của những điều kiện phải tính đến trong trường hợp như thế….”

Những vấn đề cơ bản của khởi nghĩa đã được Ănghen nêu rõ, theo cách nói

của Lênin là“Ănghen đã nhai và mớm cho những người Mác-xít” Theo đó, hai

nguyên tắc cơ bản mà Ănghen đưa ra đối với vấn đề khởi nghĩa vũ trang là: Thứ nhất, khởi nghĩa vũ trang không phải là một hành động nhất thời cảm tính mà phải có sự tính toán kỹ lưỡng, cố gắng tính đến tất cả những khả năng,

sự biến có thể xảy ra; “không bao giờ được đùa với khởi nghĩa, nếu không có

quyết tâm tiến hành đến cùng Khởi nghĩa là một bài toán có những đại lượng rất bất định mà giá trị có thể thay đổi hàng ngày; lực lượng chiến đấu của đối phương có đủ mọi ưu thế về tổ chức, về kỷ luật và về quyền uy vốn có từ lâu; nếu những người khởi nghĩa không có những lực lượng mạnh hơn hẳn để đối phó với đối phương thì chắc chắn là sẽ thua và sẽ bị tiêu diệt”

Thứ hai, khi khởi nghĩa phải biết nắm bắt thời cơ, nhanh chóng tiến công,

không ngừng tiến lên: “một khi đã bước vào con đường khởi nghĩa, phải hành

động với một quyết tâm rất lớn và phải giành thế tấn công Phòng ngự là sự diệt vong của mọi cuộc khởi nghĩa vũ trang; nếu phòng ngự, khởi nghĩa sẽ thất bại ngay trước khi đọ sức với kẻ thù Phải tấn công đối phương một cách bất ngờ khi lực lượng của nó còn tản mạn; từng ngày, phải giành được những thắng lợi mới,

Trang 21

dù nhỏ đi nữa; phải giữ vững ưu thế tinh thần do cuộc nổi dậy thắng lợi đầu tiên đem lại; phải tranh thủ những phần tử dao động bao giờ cũng đi theo lực lượng mạnh hơn và luôn luôn tìm đứng về phía vững chắc hơn; phải buộc kẻ thù rút lui trước khi nó có thể tập hợp được lực lượng chống lại mình, tóm lại là phải hành động theo lời của Đăng–tông, người thầy vĩ đại nhất từ trước đến nay về sách lược cách mạng: de l'audace, de l'audace, encore de l'audace (Dũng cảm, dũng cảm, dũng cảm nữa!)” [21, 379 – 380]

Ănghen còn nói về vấn đề lực lượng trong khởi nghĩa vũ trang Trong một cuộc khởi nghĩa vũ trang lực lượng nòng cốt sẽ là lực lượng công nhân với sự hợp tác của giai cấp nông dân, tầng lớp tiểu tư sản và binh lính Ănghen cũng nêu rõ giai cấp công nhân phải là hạt nhân và là lực lượng tiên phong cầm vũ khí chiến đấu, để thu hút về phía mình những người nông dân, tầng lớp tiểu tư sản Tuy nhiên, Ănghen cũng phân tích rõ tính bất ổn và không vững vàng trong lập

trường tư tưởng của những người tiểu tư sản; “những lực lượng chiến đấu thực

sự của quân khởi nghĩa, cái hạt nhân đó, cái hạt nhân gồm những người đầu tiên cầm vũ khí và chiến đấu với quân đội, là những công nhân thành thị Một bộ phận những tầng lớp dân cư nghèo ở nông thôn – những cố nông và những tiểu nông – nói chung là đi theo công nhân, sau khi cuộc xung đột đã nổ ra Đa số thanh niên của tất cả các giai cấp ở dưới, giai cấp các nhà tư bản đều đứng trong hàng ngũ của quân khởi nghĩa, ít ra cũng là trong một thời gian, nhưng cái mớ chắp nhặt hỗn tạp gồm những đám thanh niên ấy đã nhanh chóng thưa dần đi khi tình thế càng trở nên nghiêm trọng hơn” [21, 383] Bên cạnh đó, Ănghen đặc biệt nhấn mạnh vấn

đề sức mạnh tinh thần của lực lượng quân cách mạng: “Cũng như trong bất cứ

một cuộc chiến tranh khởi nghĩa nào trong đó quân đội là một hỗn hợp gồm những binh sĩ thiện chiến và những tân binh không được huấn luyện thì trong quân đội cách mạng có rất nhiều biểu hiện anh dũng nhưng đồng thời cũng có rất nhiều cảnh hoảng hốt không hợp với bản chất quân đội và nhiều khi khó hiểu; nhưng mặc dầu không tránh khỏi có những thiếu sót, quân đội cách mạng

Trang 22

ít ra cũng có quyền tự hào rằng một lực lượng đông hơn gấp bốn lần vẫn không được coi là đủ để đánh bại nó, và 10 vạn quân chính quy khi đánh với 2 vạn quân khởi nghĩa thì về mặt quân sự, cũng phải tỏ ra kính trọng quân khởi nghĩa

ấy như đối với đội vệ binh già dặn của Na–pô–lê–ông”

Lênin khi hoàn chỉnh những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác trong hoàn cảnh thế giới mới khi mà Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc cũng đã chú trọng trang bị và diễn giải những vấn đề về khởi nghĩa vũ trang Một phương thức đấu tranh phù hợp hơn với hoàn cảnh mới, khi mà giai cấp thống trị không còn bị tác động nhiều bởi các cuộc bãi, biểu tình đơn thuần

Lênin bảo vệ quan điểm của Mác xem “khởi nghĩa là một nghệ thuật”

trước các thế lực chủ hòa, phản cách mạng, những người dùng dằng chẳng dám

khởi nghĩa với lý do đã là một “nghệ thuật” khởi nghĩa phải được chuẩn bị tính

toán, ngay cả khi thời cơ đã xuất hiện, các điều kiện chủ quan và khách quan đều

có lợi cho khởi nghĩa Lênin cho rằng“khởi nghĩa là một nghệ thuật và nguyên

tắc chủ yếu của nghệ thuật ấy là tấn công, tấn công thật dũng cảm, thật kiên quyết không gì lay chuyển được” [88; 132]

Lênin nêu rõ quan điểm của những người Mácxít và khởi nghĩa: “Muốn

thắng lợi, khởi nghĩa không được dựa vào một cuộc âm mưu, một chính đảng mà phải dựa vào giai cấp tiên phong Đó là điểm thứ nhất Khởi nghĩa phải dựa vào cao trào cách mạng của nhân dân Đó là điểm thứ hai Khởi nghĩa phải dựa vào một bước ngoặt trong lịch sử của cuộc cách mạng đang lên, khi mà tính tích cực của các bộ phận tiên tiến trong nhân dân lên cao hơn cả, khi mà những dao động trong hàng ngũ địch và trong hàng ngũ những người bạn mềm yếu, lừng chừng và không kiên quyết của cách mạng mạnh hơn cả Đó là điểm thứ ba” [94; 322]

Về lực lượng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, theo Lênin, đó phải là chính đảng của giai cấp công nhân, lực lượng tiên phong giữ vai trò vạch ra kế hoạch, chuẩn

bị và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Đảng phải linh hoạt với tình thế chứ không thể

cứng nhắc giáo điều mà không theo kịp với thực tế để bỏ lỡ thời cơ:“không hạn

Trang 23

chế hoạt động của mình vào một kế hoạch đã hoạch sẵn hay một phương thức đấu tranh chính trị đã quy định từ trước; đảng dùng mọi phương pháp đấu tranh, miễn là phương pháp ấy phù hợp với điều kiện có sẵn của đảng và khiến cho đạt được kết quả tối đa trong những điều kiện nhất định Nếu đảng mạnh và có

tổ chức thì một cuộc bãi công riêng lẻ có thể biến thành một cuộc biểu tình chính trị, một thắng lợi chính trị trong cuộc đấu tranh chống chính phủ Nếu đảng mạnh

và có tổ chức thì một cuộc khởi nghĩa địa phương có thể phát triển thành một cuộc cách mạng thắng lợi” [89; 474]

Giai cấp vô sản do chính địa vị của mình là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng triệt để duy nhất, vì thế mà có sứ mệnh giữ vai trò lãnh đạo trong phong trào cách mạng dân chủ Giai cấp vô sản nhất định sẽ kiên quyết tham gia cuộc khởi nghĩa và việc tham gia đó sẽ quyết định vận mệnh cuộc cách mạng Tuy

nhiên, “Giai cấp vô sản chỉ có thể giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc cách mạng

này nếu nó tập hợp thành một lực lượng chính trị duy nhất và độc lập dưới ngọn

cờ của Đảng công nhân xã hội dân chủ [ở đây là Đảng công nhân xã hội dân chủ

Nga, Đảng của giai cấp vô sản Nga – TG] là đảng không chỉ lãnh đạo về mặt tư

tưởng mà cả về mặt thực tiễn nữa” (Nghị quyết về khởi nghĩa vũ trang của Đại

hội lần thứ 3 của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga năm 1905) [88; 10] Trong khi chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, cần phải hoàn thiện trước nhất là nội

bộ “Kẻ nào phản đối khởi nghĩa vũ trang, kẻ nào không chịu chuẩn bị khởi nghĩa vũ

trang thì phải đuổi cổ ra khỏi hàng ngũ cách mạng một cách không thương tiếc, tống

cổ chúng sang hàng ngũ kẻ thù cách mạng, sang phía những kẻ phản bội hay những

kẻ hèn nhát, vì đã sắp đến ngày mà sức mạnh của sự biến và hoàn cảnh đấu tranh bắt buộc chúng ta phải căn cứ vào đó để phân định bạn và thù” [88; 132]

Đối với lực lượng cách mạng, phải làm cho quần chúng cần phải hiểu rằng

họ sẽ tiến hành một cuộc đấu tranh vũ trang đẫm máu, một mất một còn Tấn công kẻ thù phải hết sức kiên quyết, tấn công chứ không phải phòng thủ, phải trở thành khẩu hiệu của quần chúng, tiêu diệt kẻ thù không thương tiếc là nhiệm vụ

Trang 24

của họ Tổ chức đấu tranh cơ động và linh hoạt, những phần tử dao động của quân đội sẽ được lôi cuốn vào cuộc đấu tranh tích cực Chính đảng của giai cấp

vô sản phải làm tròn trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh vĩ đại ấy Chính đảng phải “tập hợp được ngày càng đông vô sản, nông dân và quân đội” Tuy nhiên, xem trọng việc quân đội ngã sang quần chúng, và kết quả của công tác

binh vận nhưng“quyết không nên tưởng rằng sự chuyển biến ấy của quân đội là

một việc đơn giản và lẻ loi nào đó, là kết quả một mặt là của sự thuyết phục và mặt khác là của sự tự giác (…) Kỳ thực trong mọi phong trào thực sự nhân dân, khi mà đấu tranh cách mạng trở nên mãnh liệt thì tình trạng dao động không thể tránh được của quân đội, nhất định sẽ dẫn đến một cuộc đấu tranh thực sự để giành lấy quân đội” [88; 129]

Công tác chuẩn bị khởi nghĩa cần được coi trọng bởi vì khởi nghĩa là chấp

nhận hi sinh Chuẩn bị khởi nghĩa, cần phải hiểu không chỉ đơn thuần là chuẩn bị

vũ khí và lập các tổ chuyên môn… mà còn là tích lũy kinh nghiệm bằng những hành động vũ trang thực tập lẻ tẻ, thí dụ bộ đội vũ trang tập kích cảnh sát và quân đội trong trường hợp nhân dân có cuộc tụ họp công khai nào đó hoặc bộ đội vũ trang tập kích nhà tù, cơ quan chính phủ… (Dự thảo nghị quyết về khởi nghĩa vũ trang

của Đại hội lần thứ 3 của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga năm 1905) [88; 6]

Lênin còn nói thêm về nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang giành

chính quyền “Chiến thuật quân sự là tùy ở trình độ kỹ thuật quân sự quyết

định… Kỹ thuật quân sự hiện nay không giống như kỹ thuật quân sự vào giữa thế kỷ XIX nữa Lấy số đông mà chọi lại đại bác và dùng súng lục mà phòng thủ các lũy chướng ngại, thì thật là ngu xuẩn” Lênin nhấn mạnh tính linh hoạt trong

chiến đấu và phân tích rõ về chiến tranh du kích và dựng lũy trong thành phố như là những chiến thuật quân sự mới

Khi mà lực lượng cách mạng – giai cấp vô sản đã lớn mạnh, những điều kiện chủ quan đã được chuẩn bị thì phải biết chớp lấy thời cơ để nổi dậy khởi nghĩa vũ trang Đó là khi cách mạng càng tạo ra một thế lực phản cách mạng

Trang 25

mạnh mẽ và cố kết với nhau thì càng tiến lên một bước, nghĩa là cách mạng buộc

kẻ thù phải dùng những thủ đoạn tự vệ ngày càng cực đoan và do đó cách mạng cũng định ra những phương pháp tấn công ngày càng mãnh liệt hơn Thời cơ được cảm nhận bởi chính những người công nhân – những người sống hằng ngày trong thời cuộc; “Sự thay đổi những điều kiện khách quan của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải chuyển từ bãi công lên khởi nghĩa, sự thay đổi ấy đã được giai cấp vô sản cảm thấy sớm hơn là những người lãnh đạo của họ Thực tiễn bao giờ cũng vậy, đều đi trước lý luận” Vì vậy hướng dẫn lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng nhưng cũng phải biết quan sát, khi nào thì phong trào cách mạng đang lên cao, cùng với những điều kiện khách quan từ lực lương đối địch, để

quyết định khởi nghĩa Lênin chỉ rõ: “đã kêu gọi phải quyết định chứ không chỉ

nói suông, phải hành động chứ không phải chỉ ra những nghị quyết, chúng ta phải tung tất cả đảng đoàn của chúng ta vào trong các nhà máy và trại lính…”,

“một khi vấn đề được đặt ra như thế rồi, mọi hoạt động của đảng đoàn chúng ta

đã tập trung trong các nhà máy và trại lính rồi, thì chúng ta sẽ biết được lúc nào nên phát động khởi nghĩa” [94; 237]

Về việc xây dựng chính quyền sau khởi nghĩa vũ trang Lênin từng đề cập:

“Bãi công có tính chất quần chúng và khởi nghĩa vũ trang tất phải đặt vấn đề chính quyền cách mạng và chuyên chính thành vấn đề trước mắt vì các hình thức đấu tranh đó nhất định dẫn đến (trước hết, trong phạm vi địa phương) việc truất bỏ chính quyền cũ, đến việc giai cấp vô sản và các giai cấp cách mạng giành lấy chính quyền, đến việc trục xuất bọn địa chủ, đôi khi đến việc chiếm các nhà máy ” Vì

vậy, cần thiết phải thành lập chính quyền mới – chính quyền “chuyên chính của

nhân dân cách mạng” (V.I.Lênin, Bàn về lịch sử vấn đề chuyên chính)

Những lý luận của Lênin về khởi nghĩa vũ trang hình thành dựa trên những

tư tưởng bàn đầu của Mác – Ănghen và bài học thực tiễn từ cách mạng ở Nga; được Lênin phát triển khi áp dụng vào cuộc Cách mạng tháng Mười 1917

Trang 26

1.4 Nguyễn Ái Quốc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam hình thành con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo phương pháp vũ trang khởi nghĩa

Ngày 5/6/1911, trên tàu Đô đốc Latouche Tréville, từ Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước

Trong suốt hành trình buôn ba đi tìm con đường giải phóng dân tộc mình, Nguyễn Tất Thành đã đi nhiều nơi, tìm hiểu nhiều cuộc cách mạng trên thế giới (Cách mạng Mỹ năm 1776, Cách mạng Pháp năm 1789…) Đây đều là những cuộc cách mạng tư sản, và Người đã nhận xét rằng đây là những cuộc cách mạng

“không tới nơi” vì không mang lại được quyền lợi, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân, nhất là nhân dân lao động cùng khổ bị áp bức Đến khi Người bắt gặp được cách mạng Tháng Mười Nga thành công năm 1917 – cuộc cách mạng đã giải phóng nhân dân Nga khỏi áp bức bóc lột – Người đã có một cách nhìn khác về con đường cách mạng Mặc dù Người chưa thể hiểu rõ ý nghĩa của Cách mạng tháng Mười Nga ngay từ đầu, nhưng cuộc cách mạng vang dội thế giới đó cũng

đã gây cho Người một ấn tượng mới lạ và tốt đẹp “Giống như mặt trời chói lọi,

Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hành triệu hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên thế giới” “Từ khi nghe tin có cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công Bác liền có ý định đi Nga, mặc dù lúc đó chưa hiểu hết ý nghĩa cực kỳ to lớn của cuộc cách mạng ấy” [51; 90] Người hân hoan nhìn

về cách mạng Tháng Mười với tâm trạng của một người dân thuộc địa đang khao khát được giải phóng

Tháng 7/1920, Người đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về

vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin (7/1920) đăng trên báo Nhân đạo – cơ

quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, đánh dấu sự hình thành con đường giải

phóng dân tộc của Hồ Chí Minh theo con đường của cách mạng Tháng Mười – cách mạng vô sản Bản Luận cương đã giải đáp những vấn đề mà bao lâu nay Người nung nấu, mong đợi: con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho

Trang 27

đồng bào Sau này Người nhớ lại: “Luận Cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” Từ đây Người tìm thấy con đường giải phóng dân tộc Việt Nam, tiếp thu chủ nghĩa Lênin một cách tự giác và hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III

Đi theo con đường cách mạng vô sản và trở thành người cộng sản (12/1920), Nguyễn Ái Quốc bắt tay vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về nước Quá trình đó cũng chính là quá trình Người từng bước vạch ra đường lối chiến lược cho cách mạng Việt Nam

Tháng 4/1921, khi còn ở Pháp, trong bài báo “Đông Dương”, Người phê phán sai lầm của một số Đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển chưa quan tâm đến vấn đề thuộc địa Tháng 5 năm đó cũng trong bài báo “Đông Dương”,

Người cho rằng “chế độ cộng sản có thể áp dụng được ở Châu Á nói chung và ở

Đông Dương nói riêng” [67; 33] Người dự đoán “ngày mà hàng trăm triệu nhân dân Châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ,

và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” [67; 36]

Tháng 7/1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số chiến sĩ cách mạng ở nhiều

nước thuộc địa của Pháp lập Hội liên hiệp thuộc địa Tuyên ngôn của Hội do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã nêu bật tư tưởng tự lực tự cường: “Công cuộc giải

phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”

[67; 28] Hội đã ra báo Người cùng khổ (Le Paria) làm cơ quan ngôn luận Trong

truyền đơn cổ động mọi người mua báo, Nguyễn Ái Quốc đã phát triển lời kêu gọi đoàn kết quốc tế của Mác và Lênin: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!”

Trang 28

Báo Người cùng khổ đã tạo một luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp

bức, đã làm cho nước Pháp chân chính biết rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa, đã thức tỉnh đồng bào các dân tộc thuộc địa Ngoài việc viết bài cho báo

Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc còn viết bài cho các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân Người đã dự Đại hội lần thứ nhất và thứ hai của Đảng Cộng sản

Pháp Trong thời gian này, Người tiếp tục chỉ ra sai lầm của Đảng Cộng sản Pháp về vấn đề thuộc địa

Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Pêtơrôgrát (Liên Xô) Ở đó, Người

có điều kiện học tập, nghiên cứu sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác – Lênin Người phát triển thêm những quan điểm chính trị của mình đã hình thành ở Pháp Người tiếp tục tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc, qua bài “Hành hình kiểu Linsơ” Người coi tội ác đó chiếm vị trí vinh dự trong toàn bộ những tội ác của nền văn minh

Mỹ Người vạch trần chính sách thực dân trá hình của đế quốc Anh muốn chiếm

cả Trung Quốc, phê phán đế quốc Ý đồng lõa với đế quốc Pháp đàn áp phong trào cách mạng ở Bắc Phi Thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và những bài viết về Lênin, về nước Nga Xôviết, về Trung Quốc, về An Nam như: “Tình cảnh nông dân An Nam”; “Lênin và các dân tộc phương Đông”; “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa”, đăng trên các báo, tạp chí nhằm định hướng cuộc vùng dậy tương lai của dân tộc theo Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại và đề cập đến những vấn đề căn bản của đường lối cách mạng Việt Nam, về Đảng cộng sản, về giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đoàn kết quốc tế… “Bản án chế độ thực dân Pháp” nhằm vạch trần bản chất chủ nghĩa đế quốc và kêu gọi người bản xứ vùng lên đấu tranh tự giải phóng Người nêu lên mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc qua hình ảnh chủ nghĩa đế quốc là “một con đỉa hai vòi”

Muốn giết con vật ấy “người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt

một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật

Trang 29

vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” [68; 120] Tác phẩm “Bản án

chế độ thực dân Pháp” có giá trị lớn về mặt lý luận và thực tiễn

Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) làm nhiệm vụ đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản và trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Tại đây, Người cùng với một số nhà cách mạng lập

Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, do ông Liêu Trọng Khải (người

Trung Quốc) làm Hội trưởng và Người làm Bí thư Tại Quảng Châu, cuối năm

1924 đã diễn ra điểm hẹn lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và một tổ chức của

những thanh niên yêu nước Việt Nam trong nhóm Tâm tâm xã đang sẵn sàng tiếp nhận những điều mới mẻ nhất, tích cực nhất, cách mạng nhất Do đó, Hội

Việt Nam cách mạng Thanh niên được thành lập tháng 6 năm 1925

Sau khi chuẩn bị những bước cần thiết, những tiền đề cơ bản về chính trị, tổ chức Nguyễn Ái Quốc đi đến phác thảo đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc đồng thời với chuẩn bị về mặt tổ chức và điều này đã được thể hiện tập trung ở

tác phẩm Đường kách mệnh xuất bản lần đầu năm 1927 Đường kách mệnh đã

phác thảo đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo quan điểm mới:

Một là, chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đại đa

số nhân dân lao động Thông qua giới thiệu, phân tích những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới (từ cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp, cách mạng Anh, Thổ Nhĩ Kỳ… đến cách mạng tháng Mười Nga năm 1917); trên cơ sở so sánh cách

mạng tư sản với cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách mạng

Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” [68; 274]

Người chỉ ra: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và

thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình

Trang 30

đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam” [68; 280]

Hai là, mục tiêu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Muốn xóa bỏ chế độ bóc lột, muốn có tự do, hạnh phúc, bình đẳng thật sự thì phải trải qua hai cuộc cách mạng là cách mạng giải phóng dân tộc

và cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai cuộc cách mạng này có mối quan hệ mật thiết với nhau

Ba là, về lực lượng cách mạng Xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt của cách mạng giải phóng dân tộc là đánh đổ đế quốc và bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc nên Nguyễn Ái Quốc đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, chủ trương tập hợp quần chúng rộng rãi Nguyễn Ái Quốc nhấn

mạnh: “Công nông là người chủ cách mạng”, “là gốc cách mạng”; “còn học trò,

nhà buôn điền chủ nhỏ cũng bị tư sản áp bức, song không cực khổ bằng công nông;

ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi” [34; 266]

Bốn là, về phương pháp cách mạng Quan điểm về phương pháp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc về phương pháp cách mạng thể hiện rõ quan điểm cách

mạng bạo lực Người chỉ ra những hạn chế của những người đi trước như: “xúi

dân bạo động mà không bày cách tổ chức” [68; 261], hoặc “làm cho dân quen thói ỷ lại mà quên tính tự cường” [68; 301]

Năm là, đoàn kết quốc tế Đi đôi với đại đoàn kết dân tộc, Đường kách

mệnh đã sớm chỉ ra tầm quan trọng của đoàn kết quốc tế: Cách mệnh An Nam

cũng là một bộ phận của cách mạng thế giới Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả… Đồng thời cũng phải phát huy cao độ yếu tố nội lực “Đem sức ta mà giải phóng cho ta” tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại Sáu là, cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng Ngay từ khi tìm thấy chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã nắm vững quy luật, Đảng có vững cách mệnh mới thành công, Đảng vững là nhờ chủ nghĩa đồng thời còn ở phẩm chất

Trang 31

chính trị, đạo đức của mỗi đảng viên Do đó, Nguyễn Ái Quốc đã đề cập trong

Đường kách mệnh những quy định về “Tư cách của một người cách mệnh”

Đường kách mệnh ngoài việc giải đáp những vấn đề cơ bản về đường lối,

phương pháp giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam, còn tổng kết những kinh nghiệm của cách mạng thế giới trong vòng 150 năm qua Đặc biệt, Người giới thiệu những nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang và nghệ thuật chọn thời cơ khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Mười như là những bài học kinh nghiệm cho việc lựa chọn con đường khởi nghĩa vũ trang của cách mạng Việt Nam

Những điều đã đề cập trên cho thấy, tư tưởng cơ bản trong con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với đặc điểm thực tiễn của cách mạng Việt Nam Đặt cơ sở cho sự hình thành một cương lĩnh chính trị đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường khởi nghĩa vũ trang giành độc lập

* * *

Từ những thập niên 80 thế kỷ XIX, Mác – Ăngghen đã bàn về vấn đề khởi nghĩa vũ trang như là một trong những phương pháp đấu tranh của giai cấp công nhân Những quan điểm về khởi nghĩa vũ trang được hoàn thiện hơn bởi Lênin

và thực tiễn cuộc cách mạng Nga, theo đó khởi nghĩa là một nghệ thuật và nguyên tắc chủ yếu của nghệ thuật ấy là tấn công, tấn công thật dũng cảm, thật kiên quyết không gì lay chuyển được Trên con đường tìm đường cứu nước, tiếp xúc với chủ nghĩa Mác – Lênin, với tinh thần học hỏi và lối tư duy biện chứng,

Hồ Chí Minh đã tiếp thu những lý luận về khởi nghĩa vũ trang của những bậc thầy vĩ đại này cũng như những bài học kinh nghiệm từ cuộc cách mạng tháng Mười để áp dụng vào tình hình thực tế ở Việt Nam Với những kinh nghiệm truyền thống về khởi nghĩa vũ trang của lịch sử đánh giặc giữ nước, lại được trang bị thêm những lý luận về khởi nghĩa vũ trang một cách khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh từng bước xây dựng, chuẩn bị cho cách mạng

Trang 32

Việt Nam một cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Đó là một quá trình dài, không ngừng, vừa áp dụng vừa cải tiến, bổ sung, hoàn chỉnh Có thể khẳng định, khởi nghĩa vũ trang - sự nổi dậy của đông đảo quần chúng bị áp bức, giành chính quyền bằng con đường bạo lực vũ trang khi thời cơ và điều kiện khởi nghĩa xuất hiện – là phương pháp mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta

đã lựa chọn để giành chính quyền thành công vào trong Cách mạng Tháng 8/1945

Trang 33

Chương 2 NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ NƯỚC HOÀN CHỈNH CHỦ TRƯƠNG KHỞI

NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN

2.1 Phong trào cách mạng Việt Nam theo phương pháp khởi nghĩa vũ trang trước khi Nguyễn Ái Quốc về nước (1930 – 1940)

2.1.1 Luận cương của Đảng cộng sản Việt Nam (1930) với con đường đấu tranh bạo lực giành chính quyền

Từ ngày 14 đến 31/10/1930, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam họp Hội nghị lần thứ I tại Hương Cảng – Trung Quốc Hội nghị quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương và thông qua bản “Luận cương chính trị” do đồng chí Trần Phú khởi thảo

Luận cương chính trị (10 – 1930) của Đảng (thường được gọi là Luận

cương cách mạng tư sản dân quyền) gồm ba phần:

1 Tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương

2 Những đặc điểm về tình hình ở Đông Dương

3 Tính chất và nhiệm vụ cách mạng Đông Dương

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình thế giới và trong nước,

đặc điểm xã hội và mâu thuẫn giai cấp ở Đông Dương, Luận cương chính trị đã

nêu rõ tính chất của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo, là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng,

bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa phát triển tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương thời kỳ đầu là đánh đổ thực dân Pháp giành độc lập dân tộc và đánh đổ phong kiến mang lại ruộng đất cho dân cày

Hai nhiệm vụ ấy quan hệ khăng khít và không thể tách rời nhau: “có đánh đổ đế

quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa” [29; 25]

Trang 34

Về lực lượng cách mạng, Luận cương xác định: Giai cấp vô sản vừa là

động lực chính vừa là giai cấp lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh Dân cày là động lực mạnh Các phần tử lao khổ ở thành phố như người bán rao, thủ công nghiệp nhỏ do đời sống cực khổ nên đều tham gia cách mạng Đối với các đảng phái quốc gia cải lương, Đảng kiên quyết vạch trần tính chất nguy hiểm, lừa gạt

và phá hoại phong trào cách mạng công nông của họ Đối với các đảng phái tiểu

tư sản, Đảng có thể tạm thời hợp tác, với điều kiện là họ phải thật sự chống đế quốc, không cản trở công tác tuyên truyền cộng sản trong công nông

Về phương pháp cách mạng, Luận cương chỉ rõ rằng, phải có phương pháp

cách mạng trong lúc bình thường và có phương pháp cách mạng trong lúc có tình thế trực tiếp cách mạng Khi có tình thế trực tiếp cách mạng thì Đảng phải

lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền “Võ trang bạo

động không phải là một việc thường phải theo khuôn phép nhà binh” [26;

101]

Về thời cơ khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, Luận cương viết: “Đến

lúc sức cách mạng lên rất mạnh, giai cấp thống trị đã rung động, các giai cấp đứng giữa đã muốn ngã về phe cách mạng, quần chúng công nông thì sôi nổi cách mạng, quyết hy sinh phấn đấu thì Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để đánh

đổ chính phủ của địch và giành lấy chính quyền cho công nông” [26;102] Luận

cương chính trị cũng nhắc nhở nguy cơ chiến tranh đế quốc ngày càng gần, cho nên phải làm cho khẩu hiệu chống chiến tranh ăn sâu trong quần chúng như khẩu hiệu: “Đổi chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng”, “Phản đối binh bị” đồng thời tăng cường công tác vận động binh lính địch, tổ chức đội tự vệ của công nông Để bảo vệ cho hoạt động của Đảng và cũng là để chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang, trong số các tố chức phụ thuộc, Đảng đã cho tổ chức những

“đội tự vệ” với mục đích là: “a)– Tập hợp và thanh lập những lực lượng công

nhân (hoặc nông dân) thành đơn vị vũ trang; b)– Chống lại những thủ đoạn cướp đoạt và đàn áp của địch và bảo vệ mọi cuộc đấu tranh chính trị và kinh tế

Trang 35

của công nhân (hay nông dân); c)– Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang; d) – Đấu tranh đòi thực hiện những khẩu hiệu của công nhân (hay nông dân)” (Điều lệ

chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương và các tổ chức phụ thuộc) [26; 153]

2.1.2 Đấu tranh bạo lực trong cao trào cách mạng 1930 – 1931

Ngay khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2/1930), một cao trào cách mạng trong cả nước đã bùng nổ

Mở đầu cho phong trào cách mạng của quần chúng là cuộc bãi công của 3.000 công nhân đồn điền Phú Riềng (2/1930), của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định (3/1930), của 400 công nhân nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thuỷ (4/1930)…

Trên cơ sở phong trào cách mạng của công nhân, nông dân đã phát triển, Đảng chủ trương phát động một cao trào cách mạng rộng lớn trong cả nước nhân ngày Quốc tế lao động 1/5 Để chuẩn bị cho ngày kỷ niệm, ngày 22/4/1930 ở Hà Nội, công nhân đã rãi truyền đơn hô hào dân chúng hưởng ứng ngày kỷ niệm Cùng ngày, ở nhà máy chai Cửa Cẩm - Hải Phòng và phố Tam Giang cũng có nhiều truyền đơn về ngày 1/5 Tình hình tương tự cũng diễn ra ở Nam Định và Thái Bình Sáng ngày 25/4 ở Huế và Vinh xuất hiện nhiều truyền đơn có vẽ cờ

đỏ búa liềm, ký tên “Việt Nam Cộng sản Đảng” kêu gọi công, nông, sinh, binh, phụ nữ tham gia kỷ niệm ngày 1/5 Ở Nam Kỳ, tối ngày 27, rạng sáng ngày 28/4, nhiều truyền đơn rải xung quanh nhà máy xe lửa Dĩ An Ngày 28/4, nông dân Cao Lãnh rãi truyền đơn vận động xin hoãn thuế hai tháng… Ngày 1/5/1930 khắp nơi trong cả nước diễn ra các hình thức đấu tranh sôi nổi như: mít tinh, biểu tình, rải truyền đơn, cắm cờ búa liềm, căng khẩu hiệu Tiêu biểu là công nhân nhà máy diêm Bến thuỷ và hàng ngàn nông dân ở các vùng lân cận, thị xã Vinh rầm rộ biểu tình thị uy đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống khủng bố chính trị, đòi thi hành Luật lao động, đòi giảm sưu thuế Cùng ngày hôm đó, 3.000 nông dân huyện Thanh Chương nổi dậy phá đồn Ký Viễn, cắm cờ lên nóc nhà, tịch thu ruộng

Trang 36

đất của tên chủ đồn điền chia cho nông dân Không khí ngày Quốc tế Lao động sôi nổi từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến nông thôn

Sang tháng 6, 7, 8/1930 phong trào tiếp tục dâng cao Tính chung từ tháng

6 đến tháng 8 cả nước đã diễn ra 121 cuộc đấu tranh trong đó có 95 cuộc đấu tranh của nông dân, 22 cuộc đấu tranh của công nhân, 4 cuộc đấu tranh của tiểu

tư sản Từ tháng 9/1930, trong khi phong trào Nghệ – Tĩnh đã tiến tới giai đoạn lập chính quyền Xô Viết, thì tại Quảng Ngãi và một số tỉnh ở Nam Kỳ, cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh được tự vệ bằng vũ trang Trong cuộc biểu tình ở Vĩnh Lộc, Gò Vấp (Gia Định) đêm 11 rạng ngày 12/9, đoàn biểu tình đã xung đột với quân lính Pháp Ngày 14/9, tại Chợ Lớn và Tân An, đoàn biểu tình phá cầu Rạch Cấm để ngăn không cho xe địch qua lại rồi tiến vào làng Ba Cun Đồng thời, một đoàn biểu tình khác xung đột với lính tại Long Hiệp, giữa Gò Đen và Bến Lức Từ ngày 12 đến 29/9 nhiều cuộc biểu tinh

đã diễn ra ở Trà Ôn, Cần Thơ, Tân An và Gia Định Trong tháng 10, phong trào tiếp tục dâng cao Cuộc mít tinh đêm 2/10 tại Châu Phú (Bến Tre) quần chúng đã

tự vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác và súng trường đến để nghe diễn thuyết và bảo vệ người diễn thuyết…

Tại Bắc Kỳ, tuy không có những cuộc biểu tình rầm rộ, nhưng các cuộc đấu tranh đã diễn ra với nhiều hình thức Ngoài các khẩu hiệu đấu tranh trước đây, có nhiều khẩu hiệu phản đối Hội đồng đề hình với những án xử tử các chiến sĩ cách mạng Cuối tháng 9 và đầu tháng 10, tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Kiến An, Thái Bình, Hà Đông, Hồng Gai… giăng đầy các khẩu hiệu đấu tranh Đến cả tại những đám hội hè ở thôn quê cũng có cờ đỏ búa liềm và những biểu ngữ kêu gọi nhân dân đấu tranh

Trong cao trào này, Nghệ An và Hà Tĩnh là nơi phong trào phát triển mạnh nhất Từ tháng 9/1930 phong trào lên đến đỉnh cao ở đây với những cuộc đấu tranh chính trị qui mô lên đến hàng vạn người tham gia Quần chúng đã mít tinh biểu tình, phá nhà lao, đốt huyện đường, vây đồn lính làm cho chính quyền của

Trang 37

thực dân – phong kiến ở nhiều nơi bị tan rã Cuộc biểu tình lớn của 2 vạn nông dân huyện Hưng Nguyên – Nghệ An ngày 12/9/930 tại huyện lỵ sau đó dự định kéo về Vinh để đưa yêu sách đã bị thực dân Pháp đã đàn áp bằng máy bay ném bom vào đoàn biểu tình, làm 217 người chết, 125 người bị thương Hành động tội ác này của chính quyền thực dân Pháp chỉ làm tăng thêm ngọn lửa căm thù của quần chúng Phong trào vẫn tiếp tục lan rộng với quy mô ngày càng lớn Đến đầu 1931, khí thế đấu tranh của quần chúng lên rất mạnh làm cho chính quyền của thực dân - phong kiến ở một số nơi bị tan rã, nhiều địa phương Hào lý đã trả lại triện cho Tri huyện và xin thôi việc Trước tình hình đó, Đảng

bộ các địa phương đã kịp thời đứng ra thành lập một hình thức chính quyền mới theo mô hình liên minh Xô Viết ở Liên Xô Tuy còn thô sơ nhưng các Xô viết thực chất đã làm chức năng của một chính quyền cách mạng Trước việc cao trào đấu tranh lan khắp hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, thực dân Pháp dùng đủ thủ đoạn

từ quân sự đến chính trị để đàn áp phong trào Phong trào trở nên sôi nổi, dữ dội, chuyển từ biểu tình yêu sách đến chống khủng bố trắng Nhiều đoàn tuần hành

đã mang tính chất quân sự, trực tiếp đối đầu với địch Những cuộc phản công vào đồn địch đã vượt ra khỏi phạm vi đấu tranh chính trị để bước vào đấu tranh

vũ trang một cách bị động trong khi phong trào đang đi xuống Từ tháng 5/1931, phong trào toàn quốc nói chung đã gần như kết thúc Những cán bộ lãnh đạo của Đảng ở miền Trung lần lượt bị bắt, nhiều tỉnh ủy, huyện ủy bị phá vỡ, làm cho

bộ máy lãnh đạo không thể xây dựng lại được nữa Những phần tử tích cực trong dân chúng không được lãnh đạo, lại bị địch liên tục dồn ép, nên dần đi vào bế tắc Cho đến đầu tháng 8/1931, sau những trận xô xát với binh lính và một số hoạt động lẻ tẻ, phong trào Nghệ – Tĩnh chìm trong biển lửa Cao trào cách mạng 1930 – 1931 kết thúc, với một đợt khủng bố trắng của kẻ thù

Cao trào cách mạng 1930 – 1931 phát triển mạnh đã dẫn tới sự thành lập

Xô Viết Nghệ – Tĩnh Đây là hình thức chính quyền nhà nước công nông đầu tiên ở Việt Nam Tuy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng chính quyền Xô viết

Trang 38

đã để lại ấn tượng sâu sắc trong quần chúng cách mạng, có tác dụng cổ vũ khích

lệ nhân dân tiến lên Chính quyền Xô Viết trở thành biểu tượng về lòng tin và sức mạnh của quần chúng công nông Tuy thất bại, Xô Viết Nghệ - Tĩnh đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc, đặc biệt là kinh nghiệm trong đấu tranh vũ trang và chính quyền cách mạng, là cuộc diễn tập đầu tiên cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám về sau

2.1.3 Xây dựng và phát triển lực lượng bạo lực quần chúng trong giai đoạn đấu tranh 1931 – 1939

Cao trào cách mạng 1930 – 1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ – Tĩnh là cuộc diễn tập đầu tiên của cách mạng Việt Nam Với cuộc diễn tập đó, nhiều vấn đề, nhiều bài học từ thực tiễn đã được rút ra, có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành đường lối khởi nghĩa vũ trang của Đảng

Cao trào cách mạng 1930 - 1931, khẳng định tư tưởng quân sự mà Nguyễn

Ái Quốc đã nêu trước đó rằng: ở nước ta, công cuộc giải phóng dân tộc không thể thực hiện được bằng phương pháp hòa bình, mà phải dùng bạo lực cách mạng để phá bỏ nền móng của chủ nghĩa thực dân, đế quốc

Thực tiễn cao trào cách mạng 1930 - 1931 cũng gợi ra rằng: bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng, bao gồm hai lực lượng: chính trị và quân sự; với hai hình thức đấu tranh: chính trị và vũ trang Khi phong trào cách mạng phát triển, trên cơ sở lực lượng cách mạng của quần chúng mạnh mẽ, lực lượng vũ trang xuất hiện dưới hình thức các đội tự vệ, đồng thời cũng xuất hiện hình thức đấu tranh nửa vũ trang hoặc vũ trang Đến lúc đó, vấn đề kết hợp hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự sao cho phù hợp với diễn biến

và đặc điểm phong trào là một vấn đề nghệ thuật chỉ đạo cách mạng, nếu giải quyết đúng đắn sẽ thúc đẩy phong trào phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, Cao trào

Xô Viết Nghệ - Tĩnh bắt đầu là một phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, do sự đàn áp của địch mà chuyển sang bạo lực vũ trang một cách bị động Lúc ấy lực lượng của quân địch còn mạnh nếu so về tương quan lực lượng Do

Trang 39

đó, các cuộc đấu tranh đã chuyển sang khởi nghĩa khi mà thời cơ chưa xuất hiện, một cuộc khởi nghĩa “non”

Cao trào cách mạng 1930 - 1931 là một trong những căn cứ thực tiễn của đường lối quân sự của Đảng để giải quyết và rút kinh nghiệm một loạt vấn đề về xây dựng lực lượng, kết hợp các hình thức đấu tranh, vấn đề chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần… ở giai đoạn sau Từ cao trào cách mạng năm 1930-1931, Đội tự vệ công nông đã xuất hiện Trong cuộc biểu tình, bãi công của 3.000 công nhân đồn điền Phú Riềng (2/1930), đội tự vệ của công nhân đã ra đời, gồm một

số đảng viên và quần chúng trung kiên Trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, ở những nhà máy, thôn xã có Công hội, Nông hội, Đoàn thanh niên cộng sản, thì các tổ chức quần chúng đó đã chọn những người có tinh thần hăng hái, can đảm,

có sức khoẻ để lập ra các đội tự Vệ của công nhân và nông dân Các đội tự vệ đó

có trang bị thô sơ, chỉ bằng giáo mác, liềm hái, gậy gộc Các đội tự vệ ngay khi được tổ chức đã thực hiện chức năng bảo vệ các cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng Cuộc biểu tình ngày 1/9/1930 của trên 20.000 quần chúng ở Thanh Chương (Nghệ An), các đội tự vệ đã phá Rào Gang, triệt đường hàng tỉnh số 4, bắt giữ bọn hào lý không cho chúng trên lạc với nhau nhằm đề phòng quân địch đưa lính đến khủng bố Khi biểu tình, tuần hành, tự vệ xếp thành hai hàng ngang

đi đầu và hai hàng dọc đi hai bên Khi binh lính đến đàn áp, đội viên tự vệ xông lên giằng súng với lính, tạo điều kiện để đoàn biểu tình tiếp tục tiến lên Ngày 18/9/1930, cuộc mít tinh của 22.000 người được tổ chức ở Thanh Chương có 1.000 đội viên tự vệ bảo vệ Những người dũng cảm nhất xung phong vào Đội cảm tử Các đội ấy gọi là Tự vệ Đỏ Ở những nơi gần đồn địch, mỗi khi binh lính

đi tuần, tự vệ đánh trống uy hiếp tinh thần chúng Một số xã ở huyện Thanh Chương, Anh Sơn, nhân dân và tự vệ còn rào làng chống địch Tự vệ Đỏ thường theo dõi, đón đường lính đi tuần, đón đường lính giải người, giành lại người bị bắt Ở Lương Điền (Thanh Chương), Tự vệ Đỏ còn đốt phá điếm canh, cắt đường dây liên lạc và tổ chức phục kích địch có kết quả… Đội tự vệ không

Trang 40

những làm nhiệm vụ bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng trong có cuộc biểu tình, mít tinh; trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ chính quyền Xô viết ở các thôn, xã mà còn thực hiện chức năng vận động quần chúng Tự vê Đỏ ở nhiều nơi còn đến các làng, xã khác phong trào chưa mạnh để trấn áp trừng trị bọn cường hào gian ác, tổ chức cứu đói cho dân Trong các đợt lấy thóc của địa chủ chia cho dân nghèo, các đội tự vệ canh giữ các ngả đường, đề phòng quân giặc đến ứng cứu bảo vệ nhân dân chuyển thóc Lúc phong trào tạm lắng xuống, khi cán bộ rút vào rừng núi, Tư vệ Đỏ vẫn bám địa bàn, bảo vệ cơ quan, rải truyền đơn, cảnh cáo, trấn áp bọn hào lý… Tháng 9/1931, Tự vệ Đỏ còn tổ chức phá đồn Lương Điền, đánh lính tuần tiễu ở Ngọc Sơn (Anh Sơn cũ), giải thoát cho cán bộ bị bắt Ở các địa phương khác, đội tự vệ cũng phát huy chức năng của mình Cuối tháng 10/1930, các cuộc đấu tranh của thợ thuyền khu vực Sài Gòn

đã có các đội tự vệ công nhân bảo vệ Ở xí nghiệp dầu Sôcôny (Nhà Bè), đội tự

vệ đã đánh nhau với cảnh sát, buộc chúng thả người diễn thuyết, bảo vệ cuộc nói chuyện có kết quả

Trong quá trình tổ chức các đội tự vệ, đã xuất hiện những tư tưởng và quan điểm sai lầm đối với việc tổ chức các đội tự vệ Có ý kiến cho rằng, không nên tổ chức các đội tự vệ vì nếu tổ chức các đội tự vệ sẽ dẫn đến xung đột với binh lính Hoặc, không tổ chức được đội tự vệ vì không có vũ khí Nếu tình thế buộc phải

tổ chức, thì chỉ tổ chức tự vệ tạm thời trong từng cuộc đấu tranh rồi giải tán đi Hoặc, không nên tổ chức tự vệ thường trực, hoặc nếu đã tổ chức đội tự vệ thường trực rồi thì không nên chú trọng huấn luyện quân sự và vận động quần chúng tham gia Bên cạnh các quan điểm đó, lại xuất hiện những quan điểm khác cho rằng, cần phải quyên tiền để mua vũ khí trang bị cho đội tự vệ, từ đó chuyển lên đấu tranh vũ trang, trong khi chưa có đủ điều kiện Đối với vấn đề này, Đảng chủ trương cho rằng ngăn cản tự vệ, phản đối tự vệ tức là muốn xoay về chủ nghĩa bất bạo động

Ngày đăng: 30/06/2023, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w