Một trong những học thuyết Trung Quốc, đi sâu vào cấu tạo sinh lý, thể chất, tâm lý, y học của con người đã đưa ra phương pháp phát triển tâm sinh lý con người, đó là học thuyết Ngũ hành
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
ĐOÀN NGỌC MINH
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH VỚI VIỆC GIẢI THÍCH CHỨC NĂNG
SINH LÝ CƠ THỂ NGƯỜI THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Chuyên ngành : TRIẾT HỌC
Mã số : 602280
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2009
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
Đại Học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học :
Có thể tìm hiểu luận văn tại :
- Thư viện Trường Đại học KHXH&NV - Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
- Văn phòng Khoa triết Trường Đại học KHXH&NV
Trang 3Trong tiến trình vận động và phát triển của thế giới, con người luôn là yếu tố quan trọng nhất Con người không chỉ được coi là tinh hoa trong sự phát triển của thế giới mà còn là tác nhân quan trọng trong sự phát triển xã hội nói riêng và sự phát triển thế giới nói chung Quan niệm trên đã phản ảnh khá đậm nét trong toàn bộ
hệ thống triết học từ phương Đông đến phương Tây, từ thời cổ đại đến ngày nay Để đề cao giá trị con người, triết học phương Tây cổ đại với trường phái ngụy biện do Protagoras và Gorgias chủ xướng
có câu nói đã trở thành bất hủ “Con người là thước đo vạn vật”1
Cùng lúc ấy ở phương Đông, trong triết học Nho giáo cho rằng : con người là yếu tố quan trọng nhất trong thế giới, được thể hiện rất rõ trong quan điểm Thiên - Địa - Nhân (thuyết tam tài) Trong thuyết tam tài, con người là yếu tố trung tâm giữa hai yếu tố trời và đất Tiếp tục trên tinh thần tư tưởng nhân văn đó, các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác, cũng như Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Muốn
xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã
Đồng trong cuộc gặp các nhà giáo ngày 20/11/1983 đã nói sau :
“Nói cho cùng, chiến lược của chúng ta là từ chiến lược con người
Điều đó có nghĩa là, chiến lược của chúng ta, từ chiến lược cách mạng nói chung hay chiến lược kinh tế, chiến lược xã hội văn hóa nói riêng đều nhằm phục vụ con người”
Trang 4Tiếp thu và kết thừa các giá trị tinh hoa nhân loại về vị trí vai trò của con người, xuất phát từ thực tiễn của lịch sử xã hội Việt Nam trong suốt quá trình cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và quan tâm đến yếu tố con người, vấn đề giáo dục giải phóng con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của xã hội Vì lẽ đó, trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Khóa VIII về các văn kiện tại Đại hội đại biểu lần thứ
IX của Đảng do Tổng bí thư Lê Khả Phiêu ngày 19/4/2001, tr.28 đã
có viết : “Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ, phát huy nhân tố con người” Theo tài liệu trên,
tr.201 nói tiếp : “Để đáp ứng yêu cầu về con người, về nguồn nhân
lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công
Tuy nhiên, để con người thực sự đóng vai trò thước đo vạn vật, trung tâm của vũ trụ trời đất, nhân tố quan trọng cho sự phát triển xã hội, cải tạo thế giới thì con người phải được phát triển toàn diện từ tinh thần đến thể xác, từ trí tuệ đến sức khỏe Phản ánh tư tưởng đó,
nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại Homère đã nói : “Một tâm hồn minh
đổi mới đất nước, cùng với sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng giáo dục phát
triển con người Việt Nam toàn diện Trong tài liệu các Nghị quyết
của Trung ương Đảng 1996, 1998, tr.18 đã viết : “ Nhiệm vụ và mục
Trang 5tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người toàn diện và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí
kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc,
có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
“chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nền khoa học thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn trong các lĩnh vực: chinh phục vũ trụ, phát triển công nghệ điện tử, công nghệ sinh học…, đã tác động lớn đến cuộc sống con người Một mặt, khoa học đã giúp con người phát triển tri thức, khám phá thế giới, có một cuộc sống nâng cao, sung túc, tiện ích nhưng mặt khác, khoa học cũng tác động xấu đến chất lượng sống của con người, như: làm mất cân bằng sinh thái, mất cân bằng đời sống … cho nên việc khắc phục mặt trái đó đã giúp cho yếu tố phát triển con người toàn diện, là vấn đề có tính nhân văn, nhân bản, vừa có tính cấp bách vừa là chiến lược lâu dài
Để con người phát triển toàn diện như trên, chúng ta một mặt vừa phát huy khoa học, y học hiện đại, một mặt cần kế thừa truyền
Trang 6thống tri thức y học của nhân loại ở phương Đông lẫn phương Tây Một trong những học thuyết Trung Quốc, đi sâu vào cấu tạo sinh lý, thể chất, tâm lý, y học của con người đã đưa ra phương pháp phát triển tâm sinh lý con người, đó là học thuyết Ngũ hành, một học thuyết cổ xưa đã được thấy từ thế kỷ XIV trước Công nguyên, thời
kỳ nhà Thương, nhà Chu trong những tác phẩm kinh điển như Kinh
Thư, Kinh Dịch, Hoàng đế Nội kinh Trong chiều dài lịch sử, học
thuyết Ngũ hành đã được vận dụng và phát triển trong y học cổ truyền của Trung Hoa Học thuyết Ngũ hành trở thành một bộ phận khắn khít và cơ bản trong nền y học cổ truyền Trung Hoa nói riêng
và phương Đông nói chung Vì thế việc vận dụng học thuyết Ngũ hành vào nền y lý cổ truyền nhằm giúp con người nâng cao sức khỏe nằm trong chiến lược xây dựng con người toàn diện Đó là tính
cấp thiết của đề tài “Học thuyết Ngũ hành với việc giải thích chức
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Hướng thứ nhất : Các công trình nghiên cứu về Ngũ hành
trong tổng thể nền văn hóa Trung Quốc Tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu này là các tác phẩm : Đại cương lịch sử văn hóa Trung
Quốc do Ngô Vinh Chính – Vương Niệm Quý chủ biên, Nhà xuất
bản văn hóa Thông Tin Hà Nội, 1994; Lịch sử văn minh Trung Hoa
của Will Dunant, Nhà xuất bản văn hóa Thông tin , 2002 (bản dịch
của Nguyễn Hiến Lê); Lịch sử văn hóa Trung Quốc, Đàm Gia Kiện
chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 (bản dịch
của Trương Chính – Phan Văn Các – Thanh Giang); Lịch sử triết
học Trung Quốc của Hồng Tiềm – Nhiệm Hoa – Uông Tử Trung,
Trang 7Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1957; Trung Quốc triết học sử đại
cương của Hồ Thích, Nxb Văn hóa Thông tin, 2004 (bản dịch của
Minh Đức); Lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva,
1985 (tiếng Nga); Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, Dương
lịch, Nxb Văn hóa thông tin, 2002 (Chủ tịch Hội đồng dịch thuật :
Trần Thị Thanh Liêm); Lịch sử triết học Trung Quốc, Phùng Hữu
Lan, Nxb khoa học – xã hội, Hà Nội, 2006 (bản dịch của Lê Anh Minh)
Hướng thứ hai : Là các công trình nghiên cứu tư tưởng
Ngũ hành nằm trong dòng phát triển của Lịch sử Triết học Trung
Quốc Các quyển sách cho hướng này gồm : Đại cương triết học
Trung Quốc; Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê, Nxb Thanh Niên, 2004;
Đạo, chủ biên Trương Lập Văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1998, (người dịch Hồ Châu – Tạ Phúc Chinh – Nguyễn Văn Đức)
Triết giáo Đông Phương – Dương Ngọc Dũng – Lê Anh Minh,
Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh,2003
Tuy vào thập niên gần đây ở Việt Nam có nhiều công trình
nghiên cứu triết học phương Đông như quyển : Đại cương lịch sử
triết học Trung Quốc do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc
gia Hà Nội, 1997; Triết lý phương Đông – Giá trị và bài học lịch sử của Doãn Chính, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Lịch sử triết
học Trung Quốc của Hà Thúc Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
1988, (tập 1), 1999 (tập 2); Lịch sử triết học của Bùi Thanh Quất và
Vũ Tình, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1999
Hướng thứ ba : Các tác phẩm nói về Ngũ hành và Y học hiện
Trang 8đại Đó là những tác phẩm, tài liệu, bản viết của tác giả chuyên nghiên cứu dịch thuật và giới thiệu về Tư tưởng Kinh Dịch, Ngũ
hành Đó là các cuốn: Chu Dịch và Đông y học – Dương Lục do
Lê Quý Ngưu, Lương Tú Vân biên dịch, Nxb Thanh Hóa, 2006;
Kinh Dịch về cấu hình tư tưởng Trung Quốc – Dương Ngọc Dũng,
Lê Anh Minh – Nxb Khoa học xã hội, 1999; Tìm hiểu và ứng dụng
học thuyết Ngũ hành – Nguyễn Đình Phu – Nxb Văn hóa dân tộc
Hà Hội 2001; Châm cứu – Học thuyết ngũ hành kim vàng kim bạc
– Lê Quý Ngưu – Trần Thị Như Đức, Nxb Thuận Hóa – Huế 1993
Kinh Dịch với Vũ trụ quan Đông phương – Nguyễn Hữu Lượng,
Nxb Tp Hồ Chí Minh 1997; Đoán bệnh qua tướng mạo – Nguyễn Văn Đức, Nxb Phương Đông, 2006; Chu Dịch với dự đoán học, Thiện Vĩ Hòa, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2003; Tâm thiền
lẽ dịch xôn xao, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2008; Dịch học tân thư, Lý Minh Tuấn, không rõ xuất bản 1997; Lập tứ trụ dự đoán đời người; Phương Sinh, Cát Hùng, Nxb Đà Nẵng, 2007; Học thuyết âm dương và phương dược cổ truyền, Nxb Văn hóa
Thông tin, 2001; Chữa bệnh theo Chu Dịch – Lý Ngọc Sơn, Lý Kiện Dân, Nxb Văn hóa Thông tin, 2004; Bài giảng Y lý cổ truyền
chuyên khoa Y học cổ truyền, lưu hành nội bộ, 1997; Bài giảng bệnh học và điều trị chuyên khoa Y học cổ truyền, Lưu hành nội
bộ, 1998; Lý pháp phương dược – Lương y Trần Khiết, Nxb.Y
học, 1991
Hướng thứ tư : Kinh Thư hay Kinh Thượng thư do Đức Khổng
Phu Tử san định lại gồm tất cả 100 thiên, trong đó có thiên Hồng
Trang 9phạm là điều mà trời ban cho vua Vũ làm lẽ trị an thiên hạ Trong Hồng phạm có 9 trù Trong 9 trù có trù đầu tiên là Ngũ hành : Thủy,
Hỏa, Mộc, Kim, và Thổ, mà vua Vũ gọi là “Lạc thư”
Lã thị Xuân thu là tác phẩm cổ, như là một pho sách đặc sắc
của thừa tướng là Lã Bất Vi Ông có công triệu tập ba ngàn người
viết thành “Bát lãm”, “Lục luận”, “Thập nhị kỉ” cộng tất cả có hơn
hai mươi vạn chữ, coi là có đủ “Thiên địa vạn vật kim chi sư”
Trong tác phẩm này, có thiên Nguyệt lệnh có trình bày học thuyết Ngũ Hành đưa ra lý luận “ngũ
đức chung thủy” để thuyết minh sự luân phiên bốn mùa trong năm
và ngũ hành tương sinh, tương khắc trình bày trong 12 kỷ bao gồm : ngũ sắc, ngũ âm, ngũ phương.v.v…
Tác phẩm Xuân thu Phồn lộ của Đổng Trọng Thư, gồm 17
quyển phát triển học thuyết Khổng Tử là “Thiên mệnh”, từ đó rút ra luân lý đạo đức “Tam cương ngũ thường” Từ Ngũ thường đến học thuyết Ngũ hành với thứ tự mới Cái cũ của Ngũ hành trong Hồng Phạm là : Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ Cái mới của Ngũ hành của Đổng Trọng Thư là : Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy và ông phát triển quy luật tương sinh, tương khắc trong Ngũ hành
Tác phẩm Hoàng đế Nội kinh là bộ sách Đông y căn bản do
Hoàng Đế hỏi và 6 bày tôi là : Kỳ Bá, Qui An Khu, Bá Cao, Thiếu
Sư, Thiếu Du, Lôi Công trong đó phần Ký Bá trả lời là phần lớn, đã
lý giải về cách chẩn trị con người cho được sống khỏe mạnh, trường
sinh Hoàng Đế Nội Kinh gồm hai phần: phần Linh khu có trước 81 thiên và tiếp theo phần Tố vấn có sau 81 thiên
Trang 10Nội dung học thuyết Ngũ hành có quan hệ cơ chế sinh lý cơ thể con người qua các thiên : Chương 10 : Ngũ hành sinh thành thôi; Chương 11: Ngũ hành biệt luận; Chương 12 : Dị, pháp, phương nghi luận ; Chương 22: Tàng khí phát thời luận; Chương
23 : Tuyên minh ngũ khí thiên; Chương 24 : Huyết khí hình và chí thiên; Chương 70 và 71 : Ngũ thường chính đại luận thiên
3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích của đề tài là tìm hiểu học thuyết Ngũ hành của triết
lý phương Đông, từ đó vận dụng nội dung tư tưởng của học thuyết này vào việc giải thích các chức năng sinh lý của cơ thể con người
để làm cơ sở cho việc phục vụ sức khỏe cho con người
3.2 Nhiệm vụ
Xuất phát từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ của đề tài là :
- Tìm hiểu nguồn gốc và lịch sử của học thuyết Ngũ hành, luận văn trình bày và phân tích nội dung cơ bản của học thuyết ngũ hành
- Vận dụng học thuyết Ngũ hành vào giải thích các chức năng sinh lý của cơ thể con người
3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tác giả chỉ nghiên cứu những vấn đề của học thuyết Ngũ hành
Trang 11liên quan đến việc giải thích các chức năng sinh lý của cơ thể người Ngoài ra tác giả còn cố gắng đề xuất vài cách sống phù hợp với sức khỏe của con người
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Để nghiên cứu và trình bày luận văn, tác giả dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của triết học mácxít, đồng thời tác giả cũng dựa trên lý luận triết học phương Đông và y học như sinh
lý học, giải phẩu cơ thể người v.v…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp
và mô tả
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Học thuyết Ngũ hành đã có từ lâu đời ở phương Đông, có ý nghĩa rất lớn về lý luận cơ bản được áp dụng vào các ngành như: thiên văn, thời khí, đất đai thổ nhưỡng, văn hóa xã hội, tâm lý con người… đặc biệt vận dụng rất nhiều vào y học phương Đông Vì thế học thuyết Ngũ hành có giá trị rất lớn về khoa học bao trùm nhiều lĩnh vực trong cuộc sống của người phương Đông, nó hòa vào dòng chảy lớn tư tưởng triết học phương Đông góp phần làm nền tảng bản sắc tư tưởng triết học phương Đông, đặc biệt ở Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của Trung Quốc
Trang 12Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy chẩn đoán và hướng điều trị cũng như phòng bệnh cho việc nâng cao sức khỏe con người
Về mặt thực tiễn, đề tài đã nêu ra được các hướng điều trị bệnh lý của con người biến hóa theo hoàn cảnh thời gian thích hợp
cụ thể để phục vụ cho sức khỏe con người, phục vụ cuộc sống
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có phần mở đầu, nội dung và phần kết luận, Cuối cùng là phần danh mục tham khảo gồm 57 tài liệu, và phần phụ lục
B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
1.1 Khái quát về nguồn gốc và lịch sử của học thuyết
Ngũ hành
Thật khó minh định một cách chính xác rằng học thuyết Ngũ hành xuất hiện từ lúc nào và ai là tác giả, chỉ được thấy xuất hiện
trong Kinh Thư ở đời nhà Hạ (2204-1766 TCN) Chính xác hơn, thuật ngữ “Ngũ hành” xuất hiện trong thiên “Hồng phạm” của Kinh
Thư (hay còn gọi Kinh Thượng thư) Quyển 4 Trong Hồng phạm có
chín trù (nghiên cứu phép trị mới) thì trù thứ nhất là Ngũ hành
Tiếp theo, đến thời Chiến Quốc, học thuyết Ngũ hành phát
Trang 13triển thành một hệ thống hành chánh Trong thiên Nguyệt lệnh trong các sách Lễ ký, Lã thị Xuân thu và được Trâu Diễn (thế kỷ thứ III
TCN) phát triển Đến thời Hán sơ, tác giả Đổng Trọng Thư đã nhắc lại học thuyết Ngũ hành và bàn thêm nội dung về sự tương sinh, tương khắc giữa các hành
1.2 Nội dung cơ bản của học thuyết Ngũ hành
1.2.1 Các hành chất và biểu hiện của học thuyết Ngũ hành trong tự nhiên, con người, xã hội
Học thuyết Ngũ hành theo quan điểm kinh điển của người Trung Quốc cổ đại là năm yếu tố vật chất đầu tiên, năm thứ khí cơ bản của vũ trụ là : kim (kim khí), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa (lửa), thổ (đất) Theo các Âm dương gia, mỗi yếu tố ở ngũ hành có đặc trưng riêng biểu hiện trong mỗi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và con người như các con số trong Hà đồ, ngũ sự, ngũ tạng, lục phủ, ngũ đức, ngũ khí, ngũ uẩn, ngũ âm, được tóm tắt ở bảng sau :
Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
chung
Trang 14Hoa quả mận mơ táo,
chà là
Tinh)
Hỏa tinh (Huỳnh tinh)
Thổ tinh (Trấn tinh)
Kim tinh (Thái Bạch)
Thủy tinh (Thần tinh)
Sửu, Mùi
Thời gian trong
ngày
trưởng hạ
Quan hệ Ngũ hành với các phần trong con người
Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
Ngũ thể của
cơ thể
Ngũ chí (xúc
cảm)
Trang 15Giọng hét, thét cười, nói ca, hát khóc rên
quắp
Ngoài ra, phát triển với quan niệm mới về ngũ hành là 5 biểu tượng, 5 giai đoạn, 5 trạng thái của sự vận động phát triển như :
Hành Kim có biểu hiện là sự thu gom, tích lũy năng lượng,
tiền bạc, tài năng, đức độ, sức mạnh, khối lượng, vật chất Cái hiểu mới ngày nay coi kim là sự học tập không ngừng
Hành Thủy có biểu hiện cho sự lan tỏa cái tinh túy thu góp
của giai đoạn kim Nó lặng lẽ, từ tốn, thấm sâu, sửa chữa
Hành Mộc là sự sáng tạo ra cái mới (một mô hình, một đối
tượng, một quần thể, một tổ chức…) Tính chất của Mộc vô cùng mạnh mẽ và cứng rắn, đôi khi rất mềm dẽo và uyển chuyển
Hành Hỏa là cái biểu hiện ở ngoài về độ cao, số lượng, mạnh
về cường độ, ít sáng tạo, nhiều sao chép, thu nạp năng lượng bên ngoài ít khắc khe Biểu hiện ào ào, mãnh liệt, biến đổi nhanh về lương
Hành Thổ là sự tàn lụi của Hỏa, sự xuống dốc, suy kiệt Biểu
Trang 16hiện ra ngoài là sự nặng nề, chậm biến đổi, cam chịu, chấp nhận…
Các hành chất trong học thuyết Ngũ hành còn quan hệ với học thuyết Âm dương ở việc : trong ngũ hành có âm dương, trong âm
dương có ngũ hành Do Hà lạc nguyên lý viết : “Nguyên khí Thái
cực sinh ra âm dương, âm dương hóa hợp sinh ra ngũ hành, ngũ hành chứa vạn vật”
1.2.2 Quy luật vận động Ngũ hành theo học thuyết Ngũ hành
Các hành chất của học thuyết Ngũ hành không thụ động, tĩnh tại mà chúng tác động quan hệ lẫn nhau được biểu hiện trong 7 quy luật, trong đó có hai quy luật căn bản là tương sinh và tương khắc,
và có 5 quy luật khác: tương thừa, tương vũ, phản sinh, phản khắc, hổn mang
1.2.3 Quy luật Ngũ hành với học thuyết Tạng tượng
Nội dung học thuyết Tạng tượng bao gồm mọi tổ chức cơ quan trong nội bộ cơ thể con người và các quy luật âm dương, ngũ hành thống lãnh mọi hoạt động của tạng tượng Tùy theo vai trò, tính chất và công năng của mỗi cơ quan trong tạng phủ mà quy nạp theo ngũ hành “Tạng” là các tổ chức cơ quan trong cơ thể, “tượng”
là biểu hiện của hình thái sinh lý, bệnh lý của nội tạng phản ánh ra bên ngoài cơ thể Vì thế quan sát cơ thể để nghiên cứu quy luật hoạt động của nội tạng gọi là “tạng tượng” Tạng tượng gồm 2 phần : Một là các cơ quan nội tạng Hai là cơ năng hoạt động và tính chất của các cơ quan trong mối quan hệ giữa các tạng (đó là tượng) Các
cơ năng hoạt động được kết hợp chung nhất, liên hệ chặt chẽ trong
Trang 17hệ thống luận trị trong toàn thân người
Chương 2 VẬN DỤNG HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH TRONG VIỆC GIẢI THÍCH CÁC CHỨC NĂNG SINH LÝ CỦA CƠ THỂ CON NGƯỜI
2.1 Học thuyết Ngũ hành với học thuyết Tạng tượng : những biểu hiện, chức năng, bệnh lý
2.1.1 Hành Kim, thuộc phế khí, thuộc phương Tây, mùa Thu,
buổi chiều tối là biểu hiện của thiếu âm Sự tương ứng vào tạng tượng của Kim khí vào cơ thể con người biểu hiện ra mũi và khứu giác, nước mũi, ra họng, thanh quản, giọng nói, da lông Về bệnh
lý của phế Kim thể hiện qua bệnh lý tuyến giáp, bệnh lý ho, bệnh lý hen suyển, bệnh lý đàm, màu trắng, vị cay ra tạng phế
Về chức năng của phế kim là hơi khí, là hô hấp
Về tính chí của phế kim là buồn sầu, lo âu
Y Tông Kim Giám có nói : “ Trên trời là Táo, dưới đất là Kim,
ở người là Phế, ở thể là Bì” Kim khí thông bới phế khí, do đó các
bệnh do táo khí gây ra đều thuộc về phế kim Triệu chứng của Táo
là khô ở cổ, khát nước, hao hụt tân dịch, da khô tróc vẩy, bón, tiểu ít
2.1.2 Hành Mộc, thuộc can khí, thuộc phương Đông, mùa
Xuân, buổi sáng, là biểu hiện của Thiếu dương Sự tương ứng vào tạng tượng của Mộc khí vào cơ thể con người biểu hiện ra : mắt và thị giác, nước mắt, ra gân cơ, ra móng tay, móng chân, biểu hiện
Trang 18viện hay nói, tiếng la hét, sự nắm tay, ra màu xanh, vị chua, ra phong khí
Về bệnh lý của can mộc là bệnh về phong khí các loại như phong hàn, phong thấp, phong nhiệt…(bệnh cảm, đau gân khớp…)
Về chức năng của can mộc là tàng huyết
Về tình chí của can mộc là sự tức giận, phẩn nộ
2.1.3 Hành Thủy thuộc Thận khí, thuộc phương Bắc, mùa
Đông, buổi tối khuya là biểu hiện của Thái âm Sự tương ứng vào tạng tượng của Thủy khí vào cơ thể con người biểu hiện ra : tóc, tai
và thính giác, xương và răng, nước tiểu, sự sợ hãi, việc sợ lạnh, viện run rẩy, tiếng rên rỉ, hắt hơi, màu đen, vị mặn, hàn khí
Về chức năng của thận thủy là tinh dịch, ra trí nhớ và ý chí
Về bệnh lý của thận thủy là bệnh lý của mộng tinh, di tinh, tảo tinh, bệnh lý về liệt âm, liệt dương, về tình chí thận thủy là sợ sệt
2.1.4 Hành Hỏa, thuộc tâm khí, thuộc phương Nam, mùa Hè,
buổi trưa, là biểu hiện của Thái dương Sự tương ứng vào tạng tượng của tâm khí vào cơ thể con người biểu hiện ra lưỡi và vị giác,
mồ hôi, tạng tâm, thể hiện chủ thần minh, chủ huyết, tiếng cười, màu sắc đỏ
Về bệnh lý của tâm hỏa là bệnh lý sự phát nhiệt, mắt sưng, miệng lở, lòng bàn chân nóng), bệnh lý về huyết (cao máu, xuất huyết não, xuất huyết mắt)
Về chức năng của tâm hỏa là nhiệt khí, hỏa khí
Về tình chí của tâm hỏa là mừng vui
Trang 192.1.5 Hành Thổ, thuộc tỳ thổ, thuộc trung ương, cuối các
mùa Sự tương ứng vào tạng tượng của tỳ khí vào cơ thể con người biểu hiện ra: miệng môi, nước miếng, cơ nhục, tiếng hát, mùi thơm, vị ngọt, màu sắc vàng
Về chức năng của tỳ thổ là tiêu hóa, hấp thu, vận chuyển các chất dinh dưỡng cho toàn cơ thể, chức năng sự thống huyết, sự suy
tư, về tư tưởng
Về bệnh lý của tỳ thổ là bệnh thấp khí (bệnh bụng sưng to, cổ trướng, huyết bị ứ đọng), bệnh lý về tiêu hóa, đau nhức, tê mỏi, nặng nề
Về tình chí của tỳ thổ là lo nghỉ
2.2 Học thuyết Ngũ hành với sức khỏe: dưỡng sinh, phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh cho con người
Để tìm hiểu về sức khỏe con người cần phải hiểu về nhịp sống
cơ thể con người Nhịp sống con người có ảnh hưởng đến môi trường bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, tư tưởng, tiếng động, tương tác vật chất, quan hệ giao tiếp với các cơ thể sống khác xung quanh Như vậy theo môi trường có lúc thịnh, lúc suy ảnh hưởng các tạng phủ, kinh mạch, khí, huyết, dịch vệ, tân dịch trong cơ thể người Từ đó ứng dụng cho phương pháp Tý Ngọ lưu chú trong châm cứu, trong bảo vệ sức khỏe, trong sinh hoạt, trong dùng thuốc, chẩn bệnh, trị bệnh
Trang 20TT
Chân khí vượng Thời gian trong ngày
Chân khí vượng (Tối đa)
Chân khí suy (Tối thiểu)
10 17 – 19h (5-7h chiều) Tạng thận Phủ đại trường
11 19 – 21 h ( 7-9h chiều) Tạng tâm bào Phủ vị
12 21-23 h (9-11h đêm) Phủ tam tiêu Tạng tỳ
Học thuyết Ngũ hành còn được vận dụng trong chẩn bệnh qua vọng, văn, vấn, thiết Riêng trong thiết chẩn có phương pháp xem mạch Khi bắt mạch, thầy thuốc có thể thấy hai dạng phổ biến của mạch : Phù và Trầm
Bộ mạch Phù Mạch phù là mạch nổi, mạch rõ ngay khi vừa
ấn tay vào Mạch phù thuộc về phủ Nếu có bệnh thì bệnh mới, cấp tính, từ bên ngoài vào
Tả thốn phù : thuộc tính của tiểu trường
Tả quan phù : thuộc tính của đởm
Tả xích phù : thuộc tính của bàng quang
Hữu thốn phù : thuộc tính của đại trường
Hữu quan phù : thuộc tính của vị
Trang 21 Hữu xích phù : thuộc tính của tam tiêu
Bộ mạch Trầm Mạch trầm là mạch chìm, mạch nằm dưới da
thịt Ấn tay vào chưa thấy, mạch trầm thuộc tạng Nếu có bệnh thì bệnh lâu ngày, thuộc nội tạng, từ trong ra
Tả thốn trầm : thuộc tính của tâm
Tả quan trầm : thuộc tính của can
Tả xích trầm : thuộc tính của thận
Hữu thốn trầm : thuộc tính của phế
Hữu quan trầm : thuộc tính của tỳ
Hữu xích trầm : thuộc tính của tâm bào
Ngoài ra, còn 2 dạng mạch: trì và sác Mạch trì là mạch chậm hơn bình thường, tức dưới 80 nhịp trên 1 phút, là mạch thuộc bệnh
về âm hàn chứng Mạch sác là mạch nhanh hơn bình thường, tức trên 80 nhịp trên 1 phút, là mạch thuộc bệnh về dương nhiệt chứng Trong y lý phương Đông thì Khí là dương; Huyết là âm, nên khi bắt
mạch: Khí bên tay phải; Huyết bên tay trái Bắt mạch là mục đích
biết sự thịnh, suy của Khí, Huyết của tạng, phủ Âm quá dương thì bệnh và dương quá âm cũng bệnh Khí, huyết thịnh thì mạch thịnh, mạnh; Khí, huyết suy thì mạch yếu; Khí, huyết loạn thì bệnh và mạch biểu hiện khác nhau Chúng ta sẽ bàn đến trong phần Tượng mạch
MẠCH TƯỢNG Bắt mạch, xem mạch, nghe mạch… cảm
nhận được bệnh lý ở cơ quan nội tạng hay ở các phủ là cả một nghệ thuật, khác với bắt mạch Tây y chỉ đếm số nhịp của tim; bắt mạch Đông y có một y lý vô cùng hay và tinh tế
Trang 22Người xưa chia mạch thành 28 kiểu mạch với hai đặc trưng : Biểu hiện và bệnh lý kèm theo như bảng dưới đây :
02 Mạch trầm
- Mạch chìm dưới da thịt
ấn tay xuống mới thấy
Chủ nội thương, khí kết trong mình đau nhức
03 Mạch trì
- Trì là chậm chạp, một hơi thở mạch đi 1-3 lần
- Dương hư, lý hàn, trong ngoài đều lạnh
04 Mạch sác
- Sác là nhanh, luôn một hơi thở mạnh 6-8 lần
- Lý nhiệt, trong nóng phát ra ngoài Sác mà không lực thì lại hàn
05 Mạch hư
- Hư là trống không, ấn tay xuống nhấc tay lên đều rỗng, không có mạch
- Khí huyết đều hư, sợ hãi, hoảng hốt
06 Mạch thực
- Thực là thừa dày đặc, mạch chắc, dảy đặc như một vật gì đó
- Khí huyết đều thực nóng nhiều, bất an
07 Mạch hồng
- Mạch chảy cuồn cuộn như nước lụt
- Khí, huyết đều bị thiêu đốt, trong ngoài đều nóng
08 Mạch vi
- Nhỏ ly ti không rõ, mạch mảnh như tơ nhện
- Khí huyết đều hư Bệnh đang phát mạnh
09 Mạch huyền - Mạch đi căng như dây
cung
- Mệt, suy nhược quá
độ hại đến khí huyết
Trang 2310 Mạch khẩn
- Mạch găng, căng tức như dây đàn, có vặn xéo
- Tà khí ngoài quấy nhiễu khí huyết rối loạn, đau nhức mình mẩy
11 Mạch hoãn
- Mạch tịch mạch trì, nhưng 4-5/lần nhịp thở
- Khí huyết không lưu thông Da thịt đau như dao cắt
12 Mạch sắc
- Mạch không tụ, tà khí thoát ra Mạch nguy
- Khí huyết khô kiệt Hết tinh dịch, ứ trệ
13 Mạch khâu
- Mạch thấy ống nhung rỗng khi ấn vừa tay
- Huyết hư bại quá; hay đau bụng
15 Mạch phục
- Mạch đi như nấp, lặn ấn mạnh tay sát xương mới thấy
- Bệnh tà khí nhập lý,
dễ đau bụng, tiêu chảy
17 Mạch nhược
- Mạch nhỏ, trầm, ấn nặng tay thì thấy, nhẹ tay thì mất
- Tinh khí hao tổn, xương tủy bị đau
18 Mạch trường
- Mạch đi thẳng, dài, ra khỏi cả 3 ngón tay bắt mạch,
- Khí huyết tráng thịnh, điều độ
Trang 2419 Mạch đoản
- Mạch đi ngắn, không có hai đầu chỉ nổi lên ở giữa
- Vị suy kém, khí đọng, ứ trệ, chứng bất cập
20 Mạch tế
- Mạch nhỏ, nhanh, mảnh như sợi dây, mềm
- Nguyên khí và tinh huyết đều không đủ Chứng hư lao và bệnh nặng
21 Mạch đại
- Mạch không đều, nhiều lúc không thấy mạch
- Nguyên khí và tinh huyết đều suy kiệt Bệnh nguy cấp
22 Mạch xúc
- Mạch đi nhanh, thúc nhưng lại không đều
- Nhiệt tích bên trong, khí không lưu thông, dương thịnh
23 Mạch kết
- Mạch đi chậm chạp nhưng lại không đều
- Ngưng kết bên trong,
26 Mạch cách
- Mạch lớn, huyền cấp trong rỗng, ngoài căng
- Tinh huyết thay đổi : Đàn ông : Di tinh, mộng tinh
Đàn bà : Lậu huyết, nếu có thai thì sắp sinh
Trang 2527 Mạch tán
- Mạch đi nổi mà tán loạn,
ấn tay nhẹ thì thấy, ấn nặng lại mất
- Tà khí thoát ra, khí của tạng phủ cũng kiệt Bệnh quá nguy kịch, tiểu tiện, đại tiện
tự động chảy ra
28 Mạch tuyệt
- Không có mạch, mất mạch
- Thể trạng kiệt, sắp chết
Ngoài mạch tượng vừa nêu, nhiều thầy thuốc còn phân 28 mạch nói trên thành từng nhóm mạch để tiện tiên lượng khi chẩn mạch Có người còn dựa vào 4 mùa trong năm để phân loại mạch cho hợp với khí trời…và cả tuổi tác: trẻ - già Vì vậy mạch trong Đông y thật sự là một nghệ thuật tinh tế dùng để chẩn đoán bệnh lý
Bắt mạch giỏi thường xuất phát từ hai vấn đề : Thầy thuốc phải thấu đạt y lý theo Âm Dương – Ngũ Hành và có kinh nghiệm thực hành khám chữa bệnh, đồng thời có cái TÂM trong Y ĐỨC
Học thuyết Ngũ hành còn đưa ra các phương pháp trị bệnh như phương pháp hậu thiên : tự điều chỉnh quân bình cơ thể, phương pháp chữa bệnh Mẹ - Con, phương pháp chữa bệnh theo ngũ sắc, ngũ vị, phương pháp chữa bệnh theo Ngũ chí, phương pháp
Tỳ thổ khí huyết , phương pháp ăn uống theo mùa, theo bệnh, về phần dưỡng sinh, học thuyết Ngũ hành chỉ cho con người sống hợp với tự nhiên để sống khỏe Cụ thể : thứ nhất là dưỡng bổ thận : là bế tinh, tránh phòng dục và dùng thức ăn, uống thuốc, luyện bổ thận tinh; thứ hai thanh tâm là giữ cho tâm thanh tịnh, không bị khuấy động; thứ ba bớt lòng ham muốn để tránh khi ham muốn không đạt được sẽ dẫn đến lòng sân giận hại can, hại huyết; thứ tư bổ phế kim
Trang 26là hô hấp dưỡng khí; thứ năm là kiện vận tỳ thổ, biết cách ăn uống dưỡng sinh và cách tiết thực
Còn phương pháp ăn uống rất thiết thân với con người theo học thuyết Ngũ hành – âm dương Đối với thức ăn, thuốc thì sự bổ dưỡng của chúng được cơ thế hấp thụ qua con đường tiêu hóa Phương dược và thức ăn cần phải dựa trên học thuyết Tỳ thổ khí
huyết Phải thấm nhuần hai nguyên tắc : Thức ăn cũng là thuốc và
thuốc dù bổ đến mấy cũng gây độc (khi chúng ta sử dụng quá nhiều,
quá liều và không đúng bệnh, đúng tuổi)
KẾT LUẬN
Từ ngàn xưa, tư tưởng Đông Tây đã có quan niệm rằng “con
người là thước đo vũ trụ”, con người trung tâm giữa trời và đất
trong học thuyết tam tài Con người muốn tồn tại, phát triển mọi phương diện từ vật chất đến tinh thần Đó là con người toàn diện Muốn xây dựng con người toàn diện phải khởi nguồn từ sức khỏe
cơ thể con người “phù hợp với tinh thần”, “một tinh thần minh mẫn
trong một thể xác tráng kiện” Nội dung đó xuất phát từ học thuyết
phương Đông, có nền lý luận y lý phương Đông, đặc biệt tác phẩm Hoàng đế Nội kinh Trong nền y lý phương Đông có nhiều học thuyết trong đó có học thuyết Ngũ hành được vận dụng để giải thích
cơ thể sinh lý con người
Học thuyết Ngũ hành có xuất xứ từ Kinh Thư trong “Hồng
phạm” nghĩa là “khuôn lớn” có chín trù thì trù thứ nhất là Ngũ hành
: Thủy (nước), Hỏa (lửa), Mộc (gỗ), Kim (vàng, chỉ chung kim loại), Thổ (đất)
Trang 27Sau đó học thuyết Ngũ hành phát triển các quy luật “tương
sinh”, “tương khắc” trong tác phẩm Lã thị Xuân thu, trong sách Lễ
ký, trong thiên Nguyệt lệnh Đến thời Hán sơ, Đổng Trọng Thư lại
phát triển học thuyết Ngũ hành hoàn chỉnh hơn Đặc biệt là bộ sách
Hoàng đế Nội kinh là bộ sách y dựa vào triết học phương Đông là
học thuyết Âm dương, Ngũ hành, Ngũ vận lục khí, Thiên nhân hiệp nhất để giải thích cơ chế sinh lý cơ thể người, vào việc phòng bệnh, cách chẩn đoán và điều trị để con người sống lâu, sống khỏe
Nội dung học thuyết Ngũ hành trình bày : Một là các hành chất của Ngũ hành là Thủy, Mộc, Hỏa, Kim, Thổ; hai là các quy luật quan hệ giữa các hành chất Ngoài ra học thuyết Ngũ hành còn quy kết tất cả các hiện tượng xã hội, tự nhiên, con người Nội dung trên của học thuyết Ngũ hành cùng với học thuyết Âm dương và các
học thuyết khác của Kinh Dịch được vận dụng vào học thuyết Tạng
tượng
Với nội dung lý luận của học thuyết Ngũ hành đã giải thích rõ ràng các biểu hiện, triệu chứng bệnh lý, các chức năng sinh lý của các tạng tượng, cơ thể người để giúp cho con người biết cách phòng bệnh, chẩn bệnh và điều trị bệnh cho cơ thể người được khỏe mạnh, sống lâu Từ sống khỏe, con người mới trở thành con người toàn
diện, làm chủ được cuộc sống
Trang 28PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình vận động và phát triển của thế giới, con người luôn là yếu tố quan trọng nhất Con người không chỉ được coi là tinh hoa trong sự phát triển của thế giới mà còn là tác nhân quan trọng trong sự phát triển xã hội nói riêng và sự phát triển thế giới nói chung Dòng tư tưởng nêu trên đã phản ảnh khá đậm nét trong toàn bộ hệ thống triết học từ phương Đông đến phương Tây, từ thời cổ đại đến ngày nay Để đề cao giá trị con người, ở triết học phương Tây cổ đại với khuynh hướng hoài nghi, tương đối của trường phái ngụy biện do Protagoras và Gorgias chủ xướng với những câu nói đã trở
thành bất hủ “Con người là thước đo vạn vật” [33,15] Cùng lúc ấy ở phương
Đông, trong triết học Nho giáo cho rằng : con người là yếu tố quan trọng nhất trong thế giới, được thể hiện rất rõ trong quan điểm Thiên - Địa - Nhân (thuyết tam tài) Trong thuyết tam tài, con người là yếu tố trung tâm giữa hai yếu tố trời và đất Tiếp tục ngày nay, trên tinh thần tư tưởng nhân văn các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, cũng như Hồ Chí Minh đã từng khẳng định
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [29, 310] và diễn đạt một cách nói khác, thủ tướng Phạm Văn
Đồng trong cuộc gặp các nhà giáo ngày 20/11/1983 đã nói sau : “Nói cho
cùng chiến lược của chúng ta từ chiến lược con người Điều đó có nghĩa là chiến lược của chúng ta từ chiến lược cách mạng nói chung hay chiến lược kinh tế, chiến lược xã hội văn hóa nói riêng đều nhằm phục vụ con người”
Tiếp thu và kết thừa các giá trị tinh hoa nhân loại về vị trí vai trò của con người, xuất phát từ thực tiễn của lịch sử xã hội Việt Nam trong suốt quá trình cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và quan tâm đến yếu tố con người, vấn đề giáo dục giải phóng con người, coi con người vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của xã hội Vì lẽ đó, trong báo cáo của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ IX KhóaVIII do Tổng bí thư Lê Khả
Trang 29Phiêu trình bày ngày 19/4/2001 : “Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người” Theo tài liệu trên,
tr.201 nói tiếp : “Để đáp ứng yêu cầu về con người, về nguồn nhân lực là
nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[11,tr.28]
Tuy nhiên, để con người thực sự đóng vai trò thước đo vạn vật, trung tâm của vũ trụ trời đất, nhân tố quan trọng cho sự phát triển xã hội, cải tạo thế giới thì con người phải được phát triển toàn diện từ tinh thần đến thể xác, từ trí tuệ đến sức khỏe Phản ánh tư tưởng đó, nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại
Homère đã nói : “Một tâm hồn minh mẫn trong một thể xác tráng kiện”
[48,1511] Chính vì thế, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, cùng với sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng
giáo dục phát triển con người Việt Nam toàn diện Trong các Nghị quyết của
Trung ương Đảng 1996, 1998, đã viết : “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người toàn diện và thế hệ thiết tha gắn
bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng,
có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có
kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật,
có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ” [11,tr.18]
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nền khoa học thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực như: chinh phục vũ trụ, phát triển công nghệ điện tử, công nghệ sinh học…, chúng
đã tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con người Một mặt, khoa học đã giúp
Trang 30con người phát triển tri thức, khám phá thế giới, có một cuộc sống nâng cao, sung túc, tiện ích nhưng mặt khác, khoa học cũng tác động xấu đến chất lượng sống của con người, như: làm mất cân bằng sinh thái, mất cân bằng đời sống … cho nên việc khắc phục mặt trái đó đã giúp cho yếu tố phát triển con người toàn diện, là vấn đề có tính nhân văn, nhân bản, vừa có tính cấp bách vừa là chiến lược lâu dài
Để con người phát triển toàn diện như trên, chúng ta một mặt vừa phát huy khoa học, y học hiện đại, một mặt cần kế thừa truyền thống tri thức y học của nhân loại ở phương Đông lẫn phương Tây Một trong những học thuyết Trung Quốc, đi sâu vào cấu tạo sinh lý, thể chất, tâm lý, y học của con người
đã đưa ra phương pháp phát triển tâm sinh lý con người, đó là học thuyết Ngũ hành, một học thuyết cổ xưa đã được thấy từ thế kỷ XIV trước Công nguyên,
thời kỳ nhà Thương, nhà Chu trong những tác phẩm kinh điển như Kinh Thư,
Kinh Dịch, Hoàng đế Nội kinh Trong chiều sâu lịch sử, học thuyết Ngũ hành
đã được vận dụng và phát triển trong y học cổ truyền của Trung Hoa Học thuyết Ngũ hành trở thành một bộ phận khắn khít và cơ bản trong nền y học
cổ truyền Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung Vì thế việc vận dụng học thuyết Ngũ hành vào nền y lý cổ truyền nhằm giúp con người nâng cao sức khỏe nằm trong chiến lược xây dựng con người toàn diện Đó là tính
cấp thiết cho cuộc sống hiện nay Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Học thuyết
Ngũ hành với việc giải thích chức năng sinh lý cơ thể người theo y học cổ truyền”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Học thuyết Ngũ hành là một khoa học xuất phát từ triết lý Trung Quốc
xa xưa từ trước đến nay đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt khác nhau Có thể khái quát các kết quả công trình nghiên cứu đó trên ba hướng sau :
Hướng thứ nhất: Đó là các công trình nghiên cứu ngũ hành và âm
Trang 31dương trong tổng thể nền lịch sử và văn hóa Trung Quốc Tiêu biểu cho
hướng nghiên cứu này là các tác phẩm : Đại cương lịch sử văn hóa Trung
do Ngô Vinh Chính – Vương Niệm Quý chủ biên, Nhà xuất bản văn
hóa Thông Tin Hà Nội, 1994; Lịch sử văn minh Trung Hoa của Will Dunant
[6]
, Nhà xuất bản văn hóa Thông tin , 2002 (bản dịch của Nguyễn Hiến Lê);
học xã hội, Hà Nội, 1993 (bản dịch của Trương Chính – Phan Văn Các –
Thanh Giang); Lịch sử triết học Trung Quốc [47] của Hồng Tiềm – Nhiệm Hoa
– Uông Tử Tung, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1957; Trung Quốc triết học
Huỳnh Minh Đức); Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, Dương lịch [22]
, Nxb Văn hóa thông tin, 2002 (Chủ tịch Hội đồng dịch thuật : Trần Thị Thanh
Liêm); Lịch sử triết học Trung Quốc [19]
, Phùng Hữu Lan, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2006 (bản dịch của Lê Anh Minh)
Hướng thứ hai: Đó là các công trình nghiên cứu ngũ hành và âm dương chủ yếu là mặt triết học nằm trong dòng phát triển của lịch sử triết học
Trung Quốc Trong hướng nghiên cứu trước hết là các tác phẩm: Đại cương
; Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê, Nxb Thanh Niên,
2004; Đạo [51], chủ biên Trương Lập Văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1998, (người dịch Hồ Châu – Tạ Phúc Chinh – Nguyễn Văn Đức) Triết giáo
– Dương Ngọc Dũng – Lê Anh Minh, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2003
Vào thập niên gần đây ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về
triết học phương Đông như quyển : Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc [2]
do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1997; Triết lý
Trang 32Hướng thứ ba: Đó là các tác phẩm nói về ngũ hành và y học hiện đại
như tác phẩm Kinh Dịch cấu hình tư tưởng Trung Quốc [9]
, đồng tác giả
Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm
1998, độ dày sách gồm 770trang,khổ(16x 24cm) Nội dung sách gồm : Dẫn nhập, và có 5 phần:
Phần I : Kinh Dịch và cấu hình tư tưởng Trung Quốc, gồm 3 chương : Chương 1 : Tổng quan về Kinh Dịch; Chương 2 : Vấn đề bói toán trong vũ trụ quan Trung Quốccổ đại;Chương3: Phiên dịchChu Dịch thượng hạ kinh64 quẻ
Phần II : Phép bói của người Trung Quốc ngày xưa Phần III : Tình hình nghiên cứu Kinh Dịch cận đại ở Trung Quốc, Đài Loan và Hương cảng Phần IV : Chu Dịch thư mục Phần V: Phụ lục
1 Đối chiếu thứ tự các quẻ theo Bạch thư Chu Dịch và Chu Dịch hiện hành; 2 So sánh 8 quẻ đơn (Bát quái) theo Bạch thư Chu Dịch và Chu Dịch hiện hành ; 3 Khẩu quyết ghi nhớ 8 quẻ; 4 Bát quái Tiên thiên và Bát quái Hậu thiên; 5 Giải thích thứ tự 64 quẻ của Bạch thư Chu Dịch; 6 Phân tích thượng hạ quái của 64 quẻ của Bạch thư Chu Dịch; 7 Thứ tự 64 quẻ của bản Chu Dịch hiện hành; 8 Tổng kết số bộ, số quyển sách liên quan đến Chu Dịch gồm 1379 bộ, 4863 quyển
ví dụ có giải từ trang 529 đến trang 800 Lần lượt được trình bày là : Lời nói
đầu của tác giả, trích báo : Văn hóa nghệ thuật Thượng Hải, về bài báo : Mao
Trạch Đông rút thẻ, về thay lời tựa của ông Lý Trình đăng ở báo Nam Phong
Trang 33số 7 tháng 3 – 1989)
Tập I gồm 2 phần, phần I có 5 chương, phần II có 18 chương Tập II gồm 3 phần, phần I có 4 chương, phần II có 3 chương, phần III các phụ lục Tập III : gồm 13 chương và 6 phụ lục
Tác phẩm Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục
, tác giả Nguyễn Hoàng Phương, Nxb Giáo dục Hà Nội, năm
1996, độ dày 1175 trang, khổ (19x27)cm Nội dung thật phong phú về triết lý Đông Tây khoa học, tích hợp và phương pháp tiếp cận tích hợp và có logic riêng của nó, bao gồm 5 tập và một phụ lục như sau :
Tập I : Đại cương Đông và Tây Tập II : Cơ sở cấu trúc nhân thể theo đông y học, thời châm học và trường sinh học TậpIII : Cơ sở độn giáp,học
thuyết dự báo chung về môi trường cho cá nhân Tập IV : Cơ sở Thái Ất, Học thuyết dự báo chung cho cộng đồng – thiên cơ Tập V : Các hệ 64 quẻ,
cơ sở di truyền, địa linh và phần phụ lục gồm : Một số điểm sơ đẳng và cần thiết về lý thuyết tập mờ; Các tiết khí từ năm 1901 đến năm 2000; Thuật tạo hình vuông kỳ diệu; Các văn bản nhận xét công trình
Đỉnh cao tư tưởng của sách này là đạt đến một triết học nhất nguyên tích hợp, tổng hòa văn hóa Đông Tây để :
“ Cái đơn nhất trong cái đa dạng hay là
Cân bằng cái đơn nhất và cái đa dạng”
Và để cho một chiến lược giáo dục tương lai
Tác phẩm Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông Phương [24]
do Nguyễn Hữu Lương – nguyên Giáo sư Đại học Văn khoa Saigòn và Huế, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh năm 1997, với số trang là 472 trang, với các nội dung : Hà Đồ, Lạc thơ, Vô cực, Thái cực, Âm dương, Tứ tượng, Ngũ hành, Bát quái, 64 quái
số đại diễn, bốc phệ, Hồng phạm Cửu trù, Tiên thiên Bát quái, Hậu thiên Bát quái Có phụ chú: tiếng Pháp, tiếng Hán, tài liệu tham khảo 36 trang, 145 lài
Trang 34liệu liên quan
Tác phẩm Tâm thiền – Lẽ dịch, xôn xao [16]
do tác giả Lê Hưng, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008, số trang là 246 trang Nội dung gồm: Lời giới thiệu, Lời ngỏ, Dẫn nhập, 9 chuyên đề, 7 phụ lục và 4 tư liệu Học thuyết Ngũ hành, Tạng tượng, kinh huyệt nằm trong chuyên đề 7
Tác phẩm Lập tứ trụ dự đoán đời người [42]
do Phong Sinh và Cát Tường biên soạn, Nxb Đà Nẵng năm 2007,sốtranglà 455trang.Nội dunggồm
5chương như sau:
Chương 1 : Tìm hiểu Thiên can, Địa chi, Ngũ hành Chương 2: Áp
dụng thiên can, địa chi để tính năm, tháng, ngày giờâm lịch Chương 3 : Dự đoán tình duyên, hôn nhân gia đình, bằng phương pháp nạp tứ trụ, nạp ngũ hành Chương 4 : Lập tứ trụ để dự đoán tình duyên, hôn nhân, gia đình Chương 5 : Dự đoán vận mệnh đời người qua 12 con giáp
Tác phẩm Chu Dịch và Đông y học [23]
, tác giả Dương Lực do Lê Quý
Ngưu và Lương Tú Vân biên dịch, Nxb Thuận Hóa năm 2006, độ dày của tác phẩm là 1274 trang, nội dung gồm : Lời nói đầu của ông Dương Lực – Viện Nghiên cứu Đông y Trung Quốc (Bắc Kinh) gồm 63 chương nói về Chu Dịch với các lĩnh vực liên quan đến Đông Y tổng quát rất đa dạng và phong phú từ thời khí, vũ trụ, sinh mệnh muôn loài trong các giai đoạn cuộc sống, các phương pháp chẩn đoán, điều trị, dưỡng sinh khác nhau, tiên lượng bệnh, tâm
lý đến luân lý của các trường phái khác nhau
Tác phẩm Đoán bệnh qua tướng mạo [13]
do Nguyễn Văn Đức biên soạn, Nxb Phương Đông năm 2006, độ dày 1029 trang, có hình ảnh minh họa, nội dung gồm phần mở đầu 7 chương, phần diễn giải và thuyết minh Nội dung chẩn đoán bằng phương pháp hiện đại như siêu A, siêu B, siêu màu, tia
X quang, rồi cộng hưởng từ thành hình, kính thăm dò bên trong (nội soi), sinh
lý điện… đến phương pháp chẩn đoán cổ : vọng, văn, vấn, thiết (bắt mạch), tức là từ quan sát sự biến dạng cơ thể từ trên xuống dưới (mặt, chân, tay…)
Trang 35phân chia như sau :
Chương 1 : Phương pháp chẩn đoán đầu và mặt (gồm: đầu, tóc, vẻ mặt, lông mày, mắt, tai, mũi, môi, miệng, nhân trung, răng lợi, lưỡi, dưới lưỡi, niêm mạc vòm họng và má, yết hầu) Chương 2 : Phương pháp chẩn đoán các
bộ phận của thân thể (gồm : cổ, gáy, ngực, sườn, bụng, rốn, vai lưng, thắt lưng) Chương 3 : Phương pháp chẩn đoán tứ chi (bàn tay, móng tay, móng chân, ngón tay trỏ của trẻ con, vân da, xương bàn tay, bàn chân) Chương 4 : Phương pháp chẩn đoán bệnh qua da (xích phu chẩn pháp) Chương 5 : Phương pháp chẩn đoán phần nhị âm (tiền âm, hậu môn, đại tiện, tiểu tiện) Chương 6 : Phương pháp chẩn đoán mạch Chương 7 : Phương pháp chẩn đoán đường huyệt
Tác phẩm Chữa bệnh theo Chu Dịch [44], của hai tác giả Lý Ngọc Sơn
và Lý Kiện Dân, do Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội năm 2004, số trang là
306 trang Nội dung gồm: Lời giới thiệu của ông Bùi Biên Hóa – Viện Thông tin khoa học xã hội – Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia Phần
lời tựa do ông Trần Minh – phóng viên Xích phong Nhật báo rất ca ngợi chữa
bệnh theo Chu Dịch bằng phương pháp “Liệu pháp tượng quái bát quái thần dược số” Nội dung chính gồm 2 chương : chương 1 là cơ sở lý luận của liệu pháp tượng số bát quái và chương 2 là tài liệu lâm sàng về liệu pháp tượng số bát quái : 101 loại bệnh điển hình, 101 bài tự thuật bệnh nhân
Nội dung chương 1 gồm 3 phần; phần 1 : Liệu pháp tượng số bát quái với Chu Dịch, Phần 2: Học thuyết tạng tượng của Đông y với liệu pháp tượng
số Bát quái, phần 3: Ứng dụng lâm sàng của liệu pháp tượng số bát quái
Tác phẩm Dịch học với dưỡng sinh [20]
, do tác giả Lưu Tùng Lâm và Đặng Thủ Nghiêu, Nxb Hà Nội năm 2007, số lượng 331 trang Nội dung tác phẩm bao gồm lời tựa, lời dẫn, 9 chương và lời kết
Chương1 : Biến thông thì trường cửu- nền tảng của lý luận dưỡng sinh Chương 2 : Hoàn đạo - quy luật hành khí dưỡng sinh Chương 3 : Trung hòa,
Trang 36mục tiêu của việc giữ gìn sức khỏe Chương 4 : Thái cực - Nguồn sống quý giá Chương 5 : Hình thành động tĩnh - yếu lĩnh dưỡng sinh Chương 6 : Người hợp với trời - cảnh giới dưỡng sinh tối cao Chương 7: Tư tưởng dưỡng sinh với dịch học dưới thời Tiền Tần, lưỡng Hán Chương 8: Lý luận dưỡng sinh với Dịch học dưới thời Ngụy, Tấn, Tùy, Đường Chương 9: Lý luận dưỡng sinh với Dịch học các đời Tống, Kim, Nguyên, Minh, Thanh Lời kết : Chu Dịch và khoa học khí công hiện đại
Tác phẩm Châm cứu – Học thuyết Ngũ hành – Kim vàng – Kim bạc [35]
do tác giả Lê Quý Ngưu và Trần Thị Nhơn Đức, Nxb Thuận Hóa Huế năm
1993, số trang là 202 trang Nội dung gồm : Lời mở đầu, 2 phần : phần thứ nhất học thuyết Ngũ hành trong châm cứu và phần thứ hai : châm cứu – kim vàng, kim bạc
Trong phần thứ nhất gồm 3 nội dung :
A Vũ trụ quan Đông phương và học thuyết Ngũ hành (từ lịch sử đến triết lý)
B Nội dung học thuyết Ngũ hành trong châm cứu từ Nội kinh Linh khu, Nạn kinh, Trường phái châm cứu của Nhật Bản
Với phần thứ hai gồm khái niệm lý thuyết đến thực hành trị bệnh với
14 loại bệnh
Ngoài ra tác phẩm có kèm tài liệu hình đồ tham khảo
Tác phẩm Lý pháp phương dược [17]
, tập 1, tác giả lương y Trần Khiết,
Nxb Y học 1991, độ dày 139 trang Nội dung gồm 6 chương như sau :
Chương 1 : Âm dương ngũ hành ; Chương 2: Con người và tự nhiên; Chương 3 : Ngũ vận lục khí; Chương 4 : Tạng tượng; Chương 5 : Vinh, vệ, khí, huyết, tinh, thần, dân dịch; Chương 6 : Kinh lạc
Tài liệu Bài giảng bệnh học và điều trị chuyên khoa theo Y học cổ
truyền [55], tác giả tập thể Cán bộ giảng bộ môn Y học cổ truyền : BS
Trang 37PTS Phan Quan Chí Hiếu – Phó chủ nhiệm Bộ môn Y học cổ truyền BS.PTS Nguyễn Thị Bay, BS Ngô Anh Dũng, BS Nguyễn Thị Lina, tài liệu lưu hành nội bộ năm 1998 Nội dung gồm 15 bài thuộc 15 thể bệnh như bệnh loét dạ dày tá tràng, rối loạn hấp thu, hội chứng đại tràng để tích ứng, viêm gan mạn,
xơ gan, nhiễm trùng tiểu, chứng bất lực, viêm phế quản cấp mạn, hen phế quản, tiểu đường, viêm sinh dục nữ, rối loạn kinh nguyệt, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp xương, bệnh goutte Trong mỗi loại bệnh, các tác giả song song với lý giải bằng tây y, họ còn dùng lý luận y học đông phương với triết lý đông phương (âm dương, ngũ hành, ngũ vận lục khí, học thuyết tạng tượng.v.v…) để giải thích cơ chế sinh bệnh, trình bày vấn đề chẩn đoán và điều trị cho từng loại bệnh để giúp học viên y học cổ truyền nắm bắt chuyên môn của người thầy thuốc theo phương pháp Đông Tây kết hợp
Tài liệu Bài giảng y lý cổ truyền chuyên khoa Y học cổ truyền [56]
, tác giả tập thể: BS.PTS Phan Quan Chí Hiếu – Phó chủ nhiệm Bộ môn Y học cổ truyền, BS.PTS Nguyễn Thị Bay, BS Ngô Anh Dũng, BS Nguyễn Thị Lina,
BS Lê Hoàng Sơn, tài liệu được lưu hành nội bộ năm 1997, độ dày gồm 191 trang Nội dung gồm 7 bài như sau : đại cương về Kinh Dịch; học thuyết Âm dương – Ngũ hành – Thiên nhân hợp nhất; học thuyết Tạng tượng; Tinh – Khí – Huyết- Thần –Tân dịch; nguyên nhân gây bệnh; phương pháp chẩn đoán Y học cổ truyền; bát pháp
Hướng thứ tư: Là các tác phẩm kinh điển nói về ngũ hành và y học làm
nền tảng cho lý luận phương Đông vào việc ứng dụng cho việc chẩn đoán và
điều trị y học phương Đông Đó là cuốn Kinh Thư [51]
hay Kinh thượng thư do
Đức Khổng Phu Tử san định lại gồm tất cả 100 thiên, làm rõ tâm pháp các đời vua Nghiêu, vua Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ và Chu Công Do Hạng Vũ đánh nhà Tấn, kéo quân vào đất Hàm Dương, đốt phá sách không còn lại nguyên bản Đời Văn Đế nhà Hán sưu tầm lại 28 thiên là Kinh Văn Thượng Thư Đến đời Cảnh Đế nhà Hán tìm trong nhà cũ Đức Khổng Tử 30 thiên cổ văn Thượng Thư Tổng số 58 thiên: cổ văn, kim văn nói lên ý từ của nhà vua
Trang 38răn bề tôi, bầy tôi khuyên vua rất hợp thời, nhân dân hưởng thụ cảnh thái bình, hạnh phúc
Khâm phục nhất các minh quân coi thiên hạ là của công, nên hình thức quân chủ tiến bộ là “truyền hiền”, tinh thần dân chủ mới mẻ, mà mãi sau này đến thế kỷ 18, bên Âu Châu Jean Jacques Rousseau mới phát huy ra chánh thể dân chủ
Trong Kinh thượng thư, có thiên Hồng Phạm: là điều mà trời cho vua
Vũ 9 trù trong Hồng phạm làm lẽ an trị thiên hạ Trong 9 trù ấy có trù đầu tiên là Ngũ hành: Thủy, hỏa, mộc, kim, và thổ Ngũ hành là số đầu tiên ở giữa, chỗ giao nhau mà trời cho vua Vũ trên con rùa thần có 9 con số, mà vua
Vũ đặt 9 loài gọi là Lạc thư Trong Ngũ hành thổ là hành chính, ở giữa của
Ngũ hành
Tác phẩm Lã thị Xuân thu, một pho sách cổ đặc sắc của thời Tiên Tần
Trung Quốc, chủ biên là Lã Bất Vi làm thừa tướng nước Tần, chiêu hiền đại
sĩ có đến ba ngàn người, tập hợp lại thành Bát lãm và Lục luận, thập nhị kỉ
cộng hơn hai mươi vạn chữ, coi là có đủ “Thiên địa vạn vật cổ kim chi sự”
Học thuyết Ngũ hành có trong thiên Nguyệt lệnh Học thuyết Ngũ hành
rút ra lý luận “ngũ đức chung thủy” để thuyết minh sự luân phiên bốn mùa đắp đổi, ngũ hành tương sinh, tương khắc, cùng với thuyết “Thiên khiển thiên thụy” (trời quở trách, trời ban phúc) Những quan điểm này đều xuyên suốt từ
đầu đến cuối Lã thị Xuân thu Cả 12 kỉ, đầu mỗi kỉ đều lấy Ngũ hành, ngũ sắc,
ngũ âm, ngũ phương, ngũ tự tương phối với bốn mùa và cho rằng nếu không
tương phối thì sẽ gây ra tai dị Lã thị Xuân thu coi trọng dưỡng sinh cốt để
toàn sinh Mười hai kỉ sắp xếp theo trình tự bốn mìa, mỗi mùa có ba kỷ: mạnh, tạng, quý Mùa xuân nói về “dưỡng sinh”, mùa hạ nói về “trồng người”, về giáo hóa, lớn mạnh, mùa thu nói về dụng binh, dụng hiền, mùa đôngnóivềnghỉngơi, cất giấu lương thực,về tử táng, về phẩm chất con người
Từ Hán sơ, Xuân thu phồn lộ được xuất hiện Xuân thu phồn lộ là trước
Trang 39tác chủ yếu của Đổng Trọng Thư, tổng cộng có 17 quyển Đổng Trọng Thư đã
phát triển học thuyết của Khổng Mạnh là “Thiên mệnh”, đề cao thuyết “ Thiên
nhân cảm ứng” cho rằng tất cả vạn vật kể cả con người trên thế gian đều được trời sắp đặt : một cách có mục đích, không thể chống lại, vì đó là ý chí của
Trời, Xuân thu phồn lộ đã đưa ra vũ trụ quan siêu hình “Thiên bất biến, đạo
diệc bất biến” Cho rằng địa chủ quý tộc bóc lột nông dân là tuân theo Đạo Trời Đặc biệt, lý luận luân lý đạo đức “Tam cương ngũ thường” rất khắt khe nhằm trói buộc nhân dân lao động trong trật tự thể chế của xã hội phong kiến
Từ Ngũ thường với Ngũ hành được Đổng Trọng Thư trình bày với thứ tự mới Cái cũ của ngũ hành trong Hồng Phạm là : Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ Cái mới của ngũ hành của Đổng Trọng Thư là : Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy Ông còn đưa ra mối quan hệ giữa âm dương và ngũ hành Trong Ngũ hành của ông bắt đầu có quy luật tương sinh, tương khắc tác lồng vào trong ngũ hành
Tác phẩm Hoàng đế Nội kinh [41]
gồm 2 phần : một là Hoàng đế Nội kinh
Tố vấn, hai là Hoàng đế Nội kinh Linh khu Hoàng đế Nội kinh Tố vấn là bộ
sách Đông y căn bản do Hoàng Đế hỏi và 6 bày tôi là Kỳ Bá, Qui An Khu, Bá Cao, Thiếu Sư, Thiếu Du, Lôi Công trong đó phần Kỳ Bá trả lời phần lớn
Hoàng đế Nội kinh gồm hai phần: phần Linh khu 81 thiên có trước và tiếp
theo phần Tố vấn có 81 thiên có sau (số 81 do số 9x9 mà ra) Hoàng đế Nội
kinh Tố vấn là bộ sách lâu đời của phương Đông giải về cách chẩn trị kinh,
mạch con người để sống lâu, khỏe, mạnh, trường sinh Nội dung quan hệ giữa học thuyết Ngũ hành và cơ chế sinh lý cơ thể con người qua các thiên :
Chương 10 : Ngũ hành sinh thành thôi; Chương 11 : Ngũ hành biệt luận; Chương 12 : Dị, pháp, phương nghi luận; Chương 22 : Tàng khí phát thời luận; Chương 23 : Tuyên minh ngũ khí thiên; Chương 24 : Huyết khí hình và chí thiên; Chương 70 và 71 : Ngũ thường chính đại luận thiên
Hướng của đề tài
Trang 40Ngoài các công trình nêu trên, đã có công trình như sách Linh khu và Tố
vấn của Hoàng đế Nội kinh có từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên, và sau đó
nhiều thế hệ học giả đã đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống sự vận dụng học thuyết Ngũ hành với việc giải thích cơ chế sinh lý cơ thể con người Chính vì vậy trong luận văn này, tác giả trên tinh thần tiếp thu, kế thừa các công trình đã công bố để cố gắng trình bày, giải thích một cách đầy đủ, và hệ
thống theo hướng hiện đại nội dung “Học thuyết Ngũ hành với việc giải thích
các chức năng sinh lý của cơ thể người theo y học cổ truyền”
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Từ việc tìm hiểu học thuyết Ngũ hành của triết lý phương Đông, mục đích của đề tài là vận dụng nội dung tư tưởng của học thuyết này vào việc giải thích các chức năng sinh lý của cơ thể con người để làm cơ sở cho việc gìn giữ và nâng cao sức khỏe cho con người
3.2 Nhiệm vụ
Xuất phát từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ của đề tài là :
- Tìm hiểu nguồn gốc và lịch sử của học thuyết Ngũ hành để trình bày và phân tích nội dung cơ bản của học thuyết ngũ hành
- Vận dụng học thuyết Ngũ hành vào giải thích các chức năng sinh lý của
cơ thể con người
3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thuyết Ngũ hành và sinh lý cơ thể con người, từ đó đề xuất vài cách sống phù hợp với việc giữ gìn và nâng cao sức khỏe của con người
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận