Lòng yêu nước của người Việt không chỉ thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà còn thể hiện trong lao động sản xuất xây dựng quê hương; trong việc tìm ra những phương hướn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc Tư tưởng chủ đạo của dân tộc Việt Nam là tư tưởng yêu nước Sự hình thành và phát triển của tư tưởng yêu nước Việt Nam đi đôi với sự hình thành và phát triển của quốc gia dân tộc Qua bao nhiêu thăng trầm của thời cuộc, dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là tình cảm đơn thuần đối với non sông, đất nước mà còn là hệ thống tiêu chuẩn để nhận định đúng - sai, tốt - xấu, hơn nữa nó luôn là kim chỉ nam cho hành động cho mọi thành viên Lòng yêu nước bao giờ cũng gắn với hành động vì đất nước, vì sự phát triển và phồn vinh của dân tộc Lòng yêu nước của người Việt không chỉ thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà còn thể hiện trong lao động sản xuất xây dựng quê hương; trong việc tìm ra những phương hướng, những bước đi mới cho đất nước, làm cho đất nước phát triển; có tư tưởng và hành động canh tân, cải cách đáp ứng yêu cầu của lịch sử dân tộc
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng canh tân, cải cách có một
vị trí đặc biệt Nó được hình thành và phát triển do yêu cầu của lịch sử; nó hoàn toàn phù hợp với qui luật phát triển của dân tộc trong lịch sử Nước Việt Nam chúng ta ở mỗi thời kỳ lịch sử đều có những tư tưởng cải cách, những cuộc cải cách do nhà nước chủ trương hoặc do cá nhân đề xướng như cuộc cải cách của Khúc Hạo ở thế kỷ X, của Hồ Quý Ly vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, của Lê Thánh Tông vào nửa cuối thế kỷ XV, của
Trang 2Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và của Đảng Cộng sản Việt Nam vào những năm 80 của thế kỷ XX Trong số những tư tưởng cải cách nêu trên, tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam thời kỳ trung đại Nó mở đầu cho bước phát triển mới của Nhà nước trung ương tập quyền và sau đó được hoàn thiện dần dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 -1497)
Tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV đầu
thế kỷ XV, đúng vào lúc lịch sử nước ta đứng trước hai đòi hỏi lớn: một là,
phải loại bỏ vai trò của quý tộc Trần (lúc này đã bị suy thoái) trên vũ đài
chính trị và tư tưởng; hai là, mở đường cho đất nước tiến lên theo một
hướng mới hơn, tiến bộ hơn Tư tưởng của Hồ Quý Ly đã tấn công vào toàn bộ cơ sở chính trị, kinh tế và xã hội của nhà Trần, đó là mặt tích cực nhất, táo bạo nhất Song tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly cũng có nhiều điểm chưa thành công, thậm chí là thất bại dẫn đến việc triều Hồ đã không thể tập hợp và huy động được sức mạnh và trí tuệ của toàn dân vào sự nghiệp chống Minh cứu nước (điều mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã làm được và làm rất thành công)
Trải qua sáu thế kỷ, nội dung và tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly được lịch sử ghi nhận như một bằng chứng về sự tiến bộ xã hội Hậu thế rất trân trọng và ghi nhận những cố gắng của ông Bản thân ông có một vị trí thích đáng trong lịch sử
Những tư tưởng cải cách của ông rất có ý nghĩa cho hậu thế Những
gì ông nêu ra mà chưa thực hiện đã được nhà Lê sơ cơ bản hoàn thành Tư tưởng của ông còn có ý nghĩa to lớn trong giai đoạn hiện nay, khi mà Đảng
Trang 3Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Những bài học lịch sử quý báu đúc kết từ chính sự thành bại trong
tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly sẽ giúp cho các thế hệ người Việt Nam nay mai có thêm điều kiện để đẩy nhanh công cuộc đổi mới đất nước; đồng thời tránh được những vấp váp, sai lầm mà tiền nhân đã mắc phải
Thiết nghĩ, việc nghiên cứu tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly và rút
ra những bài học kinh nghiệm từ sự nghiệp cải cách của ông là một điều cần thiết và bổ ích Nó không chỉ góp phần cho việc hiểu biết sâu sắc, đúng đắn hơn về vai trò của cá nhân trong lịch sử, về tư tưởng của cá nhân ấy mà còn làm phong phú thêm việc nhận thức về lịch sử tư tưởng Việt Nam (qua các thời kỳ) Đồng thời cũng góp thêm cơ sở cho việc xây dựng lý luận đổi mới của cách mạng nước ta hiện nay Từ những lý do đó, tôi
mạnh dạn chọn đề tài: “ Góp phần tìm hiểu tư tưởng cải cách của Hồ Quý
Ly ” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Tuy nhiên tìm hiểu và đánh giá đúng được tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly và ý nghĩa lịch sử của nó là một việc không đơn giản, chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly đã và đang trở thành đề tài được nhiều người quan tâm nghiên cứu, nhất là từ sau cách mạng tháng Tám (năm 1945) đến nay Một số công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo có
thể kể như: Chính trị Hồ Quý Ly của Chu Thiên, NXB Đại La, Hà Nội,
1945 Tác giả Chu Thiên đã nhìn nhận và đánh giá cải cách của Hồ Quý
Ly là không có hiệu quả, không ảnh hưởng trực tiếp và lớn lao gì trong
Trang 4quần chúng, xem Hồ Quý Ly là nhà cải cách chính trị không tròn phận sự Tác giả đã ví cuộc cải cách của Hồ Quý Ly như đắp một con đường trên con đường cũ gần như hủy diệt, ngoằn ngèo, lồi lõm và Quý Ly chỉ làm cái việc san chỗ lồi, lấp chỗ lõm chứ không đắp hẳn một con đường mới mặc dù có đủ vật liệu và nhân công Điều mà tác giả Chu Thiên muốn nói ở đây là sau cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, cái khung chính trị vẫn giữ nguyên như cũ
Trong chuyên khảo có tên Hồ Quý Ly - Mạc Đăng Dung do Quốc
học thư xã xuất bản, Hà Nội, ấn hành năm 1952, tác giả Lê Văn Hòe đã nhìn nhận cải cách của Hồ Quý Ly là thất bại Nguyên nhân thất bại theo tác giả là cải cách của Hồ Quý Ly không sát với tình trạng xã hội lúc bấy giờ và thực hiện cải cách bằng chính sách ép buộc Bên cạnh đó, tác giả Lê Văn Hòe còn cho rằng nguyên nhân thất bại trong cuộc kháng chiến chống Minh là do nhà Hồ có quan niệm sai lầm về chiến lược, chiến thuật, không biết lợi dụng thiên thời địa lợi mà ỷ vào quân số, vũ khí và hệ thống phòng ngự
Sách giáo khoa lịch sử có tên Việt Nam sử lược, Quyển I của Trần Trọng Kim, Bộ Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1971, trong chương XI: nhà Hồ, tác giả đã nhìn nhận: “Công việc của Hồ Quý Ly làm thì không phải
một người tầm thường, nhưng tiếc thay một người có tài kinh tế như thế, mà giả sử cứ giúp cho nhà Trần cho có thủy có chung thì dẫu giặc Minh có thế mạnh đến đâu đi nữa, cũng chưa hầu dễ đã cướp được nước Nam, mà mình lại được tiếng thơm để lại nghìn thu Nhưng vì cái lòng tham xui khiến hễ đã có thế lực là sinh ra bụng muốn tranh quyền cướp nước Bởi thế mới làm
Trang 5sự thoán đạt và nhà Minh mới có cớ mà sang đánh lấy nước An Nam Cái tội làm mất nước thì ai gánh vác cho Quý Ly” [34, 197]
Nhìn chung, các công trình trên do sự chi phối của thời đại, của quan điểm và lập trường giai cấp nên cách nhìn nhận và đánh giá về Hồ Quý Ly còn phiến diện, lệch lạc và không thấy được vai trò tích cực của Hồ Quý
Ly trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động
Đến năm 1974, có thêm một sách chuyên khảo về Hồ Quý Ly đó là
Hồ Quý Ly, nhân vật lỗi lạc nhất thời đại từ Đông sang Tây của Quốc Ân,
tác giả xuất bản, in tại Tân Sanh ấn quán, Sài Gòn, 1974 Trong chuyên khảo này, tác giả đánh giá rất cao những tư tưởng và nội dung cải cách của Hồ Quý Ly, xem ông là một nhà chính trị có tư tưởng cải cách tiến bộ, táo bạo và đặc biệt tác giả đánh giá ông là một nhân vật lỗi lạc nhất thời đại
Sang thập niên 90 của thế kỷ XX xuất hiện thêm một số sách chuyên
khảo về Hồ Quý Ly như Cải cách Hồ Quý Ly của Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hoà, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Hồ Quý Ly của
Nguyễn Danh Phiệt, Viện sử học và NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội,
1997; Thể chế chính trị, hành chính và pháp quyền trong cải cách Hồ Quý
Ly của Trương Thị Hòa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997; Hồ Quý Ly
- nhà cải cách của Võ Xuân Đàn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 Các tác
giả của những công trình trên vừa đề cao những nội dung tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly, khẳng định mặt tích cực, tiến bộ trong những cải cách, đồng thời cũng nêu lên những hạn chế của nó Họ nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa công cuộc cải cách nhằm giải quyết những yêu cầu phát triển của xã hội với cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, bảo vệ đất
Trang 6nước Cũng theo các tác giả này, không thể từ sự thất bại của cuộc kháng chiến mà quy nguyên nhân vào sai lầm của cải cách, để rồi từ đó phủ nhận mặt tích cực, tiến bộ của cải cách
Riêng về những bài viết về Hồ Quý Ly và nhà Hồ từ năm 1955 đến năm 1986, chúng ta có thể điểm lại như sau: nhà sử học Minh Tranh mở
đầu với bài: “Sự phát triển của chế độ phong kiến ở nước ta và vai trò của Hồ Quý Ly trong cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV”, đăng trên Tập san nghiên
cứu Văn - Sử - Địa, Hà Nội (số 11), 1955 Sau đó 5 năm, nhà sử học Trương Hữu Quýnh công bố công trình nghiên cứu về Hồ Quý Ly mang tên
“Đánh giá lại về vấn đề cải cách của Hồ Quý Ly” đăng trên Tạp chí nghiên
cứu lịch sử, số 20, 1961 Từ năm 1961, liên tiếp có 7 tác giả công bố các bài luận về Hồ Quý Ly, công cuộc cải cách, kháng chiến chống Minh và nguyên nhân thất bại của nhà Hồ Đó là các tác giả: Minh Tranh, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Phan Quang, Nguyễn Gia Phu, Dương Minh, Trần Văn Khang, Hồ Hữu Phước Từ năm 1990 trở đi, vấn đề cải cách của Hồ Quý Ly trở thành đề tài hấp dẫn lôi cuốn nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khoa học tham gia như sử học, văn học, luật học,
Bên cạnh những sách chuyên khảo, những bài viết vừa kể trên, trong
các bộ thông sử của nhà nước do các nhà sử học biên soạn như quyển Lịch sử Việt Nam, tập I, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976; Sơ thảo lược sử Việt Nam quyển I của Minh Tranh, NXB Giáo dục phổ thông, Hà Nội, 1954; Lịch sử Việt Nam của Đào Duy Anh, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1958,
cùng các giáo trình lịch sử Việt Nam thời phong kiến được viết bởi các nhà sử học Trần Văn Giàu, Phan Huy Lê, Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn,
Trang 7Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Phan Quang, đều có chương mục đề cập đến triều đại nhà Hồ và công cuộc cải cách Hồ Quý Ly
Hồ Quý Ly và tư tưởng cải cách của ông cũng được một số nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm chẳng hạn như: John K Whitmore với
VietNam, Ho Quy Ly and the Ming (1371-1421), Yale Southeast Asia
Studies, 1985 (Việt Nam, Hồ Quý Ly và nhà Minh); nhà sử học Nga
Maslov với Nước Việt Nam phong kiến thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV; nhà sử học Nga A B Pôliacốp với Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X đến thế kỷ XIV (do TS Vũ Minh Giang và PTS Vũ Văn Quân dịch ra tiếng Việt, NXB
Chính trị Quốc gia - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam xuất bản năm 1996) Tuy với những cách tiếp cận khác nhau, nhưng cả 3 tác giả trên đều muốn vạch ra mối quan hệ giữa cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối triều Trần với những cố gắng giải quyết bằng những biện pháp cải cách của Hồ Quý Ly và khuynh hướng phát triển của triều Lê sau đó Cả ba tác giả đều đánh giá cao những cải cách của Hồ Quý Ly
Tóm lại, về Hồ Quý Ly và tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, song chủ yếu là những công trình sử học, luật học, văn học, chính trị học Các công trình trên tiếp tục gợi mở những suy nghĩ mới, những hướng tiếp cận mới chứ chưa dừng lại ở một kết luận chung thống nhất Do vậy, việc tìm hiểu để làm rõ thêm vai trò của cá nhân Hồ Quý Ly trong lịch sử và tư tưởng cải cách của ông trên bình diện triết học luôn là điều bổ ích và thiết thực
Trang 83 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ những nội dung tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly trên một số lĩnh vực chính trị - quân sự, kinh tế - xã hội, tư tưởng - văn hoá, giáo dục; nêu ra ý nghĩa lịch sử của cuộc cải cách toàn diện đất nước của ông trong giai đoạn cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đồng thời cũng vạch ra những hạn chế, sai lầm của tư tưởng cải cách để nhằm đúc kết những bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp cải cách, đổi mới đất nước sau này Từ mục đích trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ của luận văn là:
Thứ nhất, làm rõ những tiền đề về kinh tế, chính trị - xã hội và tiền
đề về lý luận cho tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly;
Thứ hai, làm rõ nội dung tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội; nêu ra những giá trị trong tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly, đồng thời vạch ra những hạn chế của tư tưởng cải cách nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa tính đảng, tính khách quan và tính khoa học; sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; nguyên tắc tính toàn diện và lịch sử cụ thể trong nghiên cứu Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nhận thức như: lịch sử và logic; kết hợp lịch sử và logic; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp văn bản học
Trang 95 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn một mặt góp thêm tư liệu về tư tưởng cải cách của Hồ Quý
Ly ở thời kỳ trung đại trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nêu ra những nét đặc sắc có tính vượt trước thời đại của ông, từ đó giúp cho việc đánh giá vai trò của cá nhân Hồ Quý Ly và triều Hồ trong lịch sử Việt Nam thời kỳ trung đại được khách quan, khoa học và đầy đủ hơn
Luận văn còn đi đến khẳng định: để đất nước phát triển, trở nên cường thịnh thì vấn đề cải cách, đổi mới luôn là yêu cầu khách quan, nhiều khi có tính chất sống còn của mỗi quốc gia, dân tộc hay rộng hơn là mỗi thời đại Mỗi thời kỳ do điều kiện lịch sử khác nhau mà nội dung, phương pháp, tính chất và yêu cầu cải cách khác nhau Song sự thắng lợi của cách mạng hôm nay bao giờ cũng là kết quả của quá trình đúc kết kinh nghiệm và phát huy, phát triển những giá trị lịch sử trước đó Nghiên cứu tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly tạo cơ sở khoa học cho việc “gạn đục khơi trong” những mặt tích cực và hạn chế của nó sẽ ít nhiều góp thêm nguồn tư liệu để đánh giá đúng được vị trí, giá trị của tư tưởng này đồng thời cũng là cơ sở cho việc tổng kết thực tiễn để tiến hành đưa công cuộc đổi mới ở nước
ta đi vào chiều sâu
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; nội dung gồm có hai chương
Trang 10NỘI DUNG
Chương 1: Những tiền đề cho tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly
1.1 Tiền đề về kinh tế
1.2 Tiền đề về chính trị - xã hội
1.3 Tiền đề về lý luận
Chương 2: Nội dung tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly
2.1 Thân thế và sự nghiệp Hồ Quý Ly
2.2 Những tư tưởng cải cách đặc sắc của Hồ Quý Ly
2.2.1 Chính trị - quân sự 2.2.2 Kinh tế - xã hội 2.2.3 Tư tưởng - văn hoá , giáo dục 2.3 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng cải cách Hồ Quý Ly
2.3.1 Những mặt tích cực và sai lầm của tư tưởng cải cách Hồ
Quý Ly 2.3.2 Một số bài học lịch sử
Trang 11Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY
1.1 Tiền đề về kinh tế
Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIV, triều đại nhà Trần sau một thời gian hưng thịnh đã bắt đầu bước vào giai đoạn khủng hoảng toàn diện với những biến động xã hội sâu sắc Đó là việc triều đình chiếm đoạt một số lượng lớn ruộng đất của công xã để phong cấp cho các
vương hầu và công thần có công với triều đình để lập thái ấp Thái ấp
là loại hình ruộng đất đặc sắc trong thời Trần, được triều đình phong cấp cho các vương hầu, quí tộc và những trụ cột của vương triều Nó là sản phẩm của thể chế chính trị dựa trên quan hệ đồng tộc Trong thái ấp, các vương hầu, quý tộc được quyền lập phủ đệ và quân đội riêng Các vương hầu, quý tộc lại lợi dụng quyền thế chiếm đoạt thêm ruộng đất của dân và ruộng đất công của làng xã Vào cuối đời nhà Trần, chế độ đại điền trang, thái ấp có chiều hướng mở rộng, bởi lẽ nhà Trần
“cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng
hoang lập làm điền trang” [9, 38] Điền trang (hay còn có thể gọi là trang thực, tư trang) là những trang trại lớn do quý tộc sở hữu và trực
tiếp quản lý, sử dụng sức lao động của gia nô, nô tì để sản xuất Điền trang là đặc quyền, đặc lợi dành cho vương hầu, quý tộc họ Trần Với thế lực hiện có, bọn quý tộc nhà Trần càng đẩy mạnh công cuộc khai hoang cướp đất, mở rộng phần sở hữu của mình Chế độ đại điền trang,
Trang 12chế độ nông nô, nô tì do đó ngày càng mở rộng, phát triển với quy mô lớn, đặc biệt chế độ đại điền trang hàm chứa những yếu tố và xu thế cát cứ Sự việc hoàng hậu Bạch Ngọc, vợ vua Trần Duệ Tông (1372 - 1377) đưa 172 người về khai hoang vùng đất nằm giữa núi Cốc và núi Trà (giáp giới huyện Can Lộc và Đức Thọ - Hà Tĩnh) và về sau số người theo bà khai hoang lên đến 3.000 người, thành lập được 4 trang mới: Lai Sơn, Hằng Nga, Ngũ Khê, Tùng Chinh với tổng diện tích các trang trại của Bạch Ngọc có đến 3985 mẫu là một bằng chứng trong rất nhiều sự việc tương tự diễn ra bấy giờ Bên cạnh đó, nhà Trần còn cho phép bán ruộng đất Cụ thể là năm 1254, nhà nước “bán ruộng công, mỗi một diện là 5 quan tiền (bấy giờ gọi mẫu là diện), cho nhân dân mua làm của tư” [9, 26] Việc nhà nước cho phép mua bán ruộng đất, khai khẩn đất hoang, lập điền trang cho tư nhân tất yếu dẫn đến hai tình trạng:
Một là, do mất mùa, đói kém ngày càng có nhiều nông dân rơi
vào cảnh bần cùng, phải cầm cố, bán ruộng đất của mình cho nhà giàu
Ngô Sĩ Liên, một sử gia thời Lê chép trong Đại Việt sử ký toàn thư:
“Đói to, ba thăng gạo trị giá một quan tiền, nhân dân nhiều người phải bán ruộng đất và bán con trai, con gái làm nô tì cho người khác, một người trị giá một quan tiền”[9, 74]
Hai là, ruộng đất thực sự biến thành hàng hóa, kích thích tầng
lớp quý tộc xúc tiến mạnh mẽ việc khai khẩn đất hoang lập điền trang, mua bán, cướp đoạt ruộng đất để kinh doanh làm giàu Sử cũ ghi:
Trang 13“Thái Bình Trần thị, cung tần của thượng hoàng (Anh Tông - TG), tính tham lam, thường lấn cướp ruộng của dân”[9, 117]
Tình trạng trên làm phát triển mạnh mẽ việc chiếm hữu tư nhân về ruộng đất Một số vương hầu, tôn thất dòng họ nhà Trần chiếm hữu số lớn ruộng đất và tiền bạc Họ thật sự đại diện cho một thành phần kinh tế mới - thành phần kinh tế địa chủ quý tộc Sự phát triển của chế độ tư hữu về ruộng đất cũng đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thành phần kinh tế địa chủ bình dân và thương nhân Tầng lớp địa chủ mới này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Sử cũ cho biết trại chủ xã Đại Lại là Ngô Dẫn xuất thân trong một gia đình làm nghề buôn bán “cha Dẫn về đời Minh Tông bắt được một viên ngọc rết rất to, đem đến Vân Đồn, các thuyền buôn tranh nhau mua, một người thuyền buôn muốn được của báu đã đem hết cả vốn để mua Dẫn từ đó trở nên giàu có Ở đây, gia đình Ngô Dẫn là một gia đình địa chủ thương nhân Những gia đình ở làng Đình Bảng thuộc Bắc Giang và làng Nga Đính thuộc Quốc Oai được vua Trần Dụ Tông mời vào đánh bạc ở trong cung “có tiếng bạc đặt gần ba trăm quan tiền, ba tiếng đặt thì đã gần 1000 quan rồi” đã cho thấy sự phát triển của giai cấp địa chủ và thương nhân ở nửa sau thế kỷ XIV
Quan hệ sản xuất trong thành phần kinh tế địa chủ bình dân là quan hệ nông nô tá điền So với quan hệ giữa địa chủ quý tộc và người sản xuất trong các đại điền trang ở nửa sau thế kỷ XIII cũng như ở đầu thế kỷ XIV thì quan hệ này tiến bộ hơn Người sản xuất ở đây - những người nông dân tá điền được tự do hơn, ít bị ràng buộc về thân thể, do
Trang 14đó họ phấn khởi trong sản xuất Tính năng động của người sản xuất được nâng cao, năng suất lao động nhờ đó được cao hơn, khối lượng sản phẩm trong xã hội nhiều hơn
Tính chất tiến bộ của thành phần kinh tế địa chủ bình dân và kinh tế thương nhân đã tác động mạnh vào kinh tế địa chủ quý tộc, làm cho kinh tế địa chủ quý tộc suy yếu Sỡ dĩ như vậy là vì những nô tì, nô lệ trong các đại điền trang đấu tranh quyết liệt với quý tộc đòi phá vỡ sự ràng buộc về thân thể, đòi chuyển sang quan hệ nông nô tá điền Đó chính là tình hình mà sử cũ có ghi, chẳng hạn năm 1343, “năm ấy mất mùa đói kém, nhân dân nhiều người trộm cắp, nhất là gia nô các vương hầu”; năm 1354 “bấy giờ vì đói nghèo dân gian khổ vì giặc cướp Có người tự xưng là cháu của Hưng Đạo Đại vương tên là Tề tụ họp những gia nô trốn tránh các vương hầu làm giặc, cướp bóc ở xứ Lạng Giang, Nam Sách” Cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nô tì, nô lệ trong các đại điền trang đã đánh vào nền kinh tế địa chủ quý tộc, đã phá vỡ trạng thái ổn định tương đối của xã hội
Sự phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu ruộng đất tất yếu dẫn đến sở hữu nhà nước bị thu hẹp Mặt khác sự phân hóa xã hội diễn ra nhanh chóng, dẫn đến tình trạng “bần dân” xuất hiện ngày càng nhiều Không có con đường nào khác, họ trở thành nông nô, nô tì (nô lệ) trong các điền trang, thái ấp của địa chủ các loại Đó là nguyên nhân gây ra tình trạng xã hội không ổn định, nguồn tô thuế và nhân lực của nhà nước bị bào mòn, làm suy yếu bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền
Trang 15Từ sự phân tích trên cho thấy sang nửa cuối thế kỷ XIV, cơ sở kinh tế của xã hội thời Trần tồn tại hai hình thức sở hữu: sở hữu công (công điền) và sở hữu tư (tư điền) Do vậy, mâu thuẫn kinh tế cơ bản trong xã hội là mâu thuẫn giữa chế độ công hữu về ruộng đất với sự
chiếm dụng riêng lẽ Mâu thuẫn này biểu hiện thành hai mặt - một là,
mâu thuẫn giữa sở hữu toàn quốc - tối cao và danh nghĩa của nhà nước
với sự chiếm dụng riêng biệt của từng tập thể công xã; hai là, mâu
thuẫn giữa chế độ sở hữu công xã với sự chiếm dụng tư nhân Những mâu thuẫn này đem đến những bài toán nan giải cho người đứng đầu quốc gia nông nghiệp với chế độ quân chủ trung ương tập quyền xây dựng trên cơ sở chế độ sở hữu lớn về ruộng đất, trong đó ruộng đất công của làng xã giữ một vai trò khá quan trọng đó là: tiếp tục cho ruộng tư phát triển hay quay về duy trì, củng cố sở hữu ruộng đất của nhà nước cho sự tồn tại của một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền vững mạnh
Yêu cầu của xã hội Đại Việt lúc này là phải có một nhà nước trung ương tập quyền đủ mạnh để giải quyết những mâu thuẫn trong xã hội, chấm dứt loạn lạc trong nước và đủ sức chống giặc ngoại xâm Do vậy Hồ Quý Ly đã tấn công vào thành phần kinh tế đại điền trang của tầng lớp địa chủ quý tộc và hạn chế sự chiếm dụng ruộng đất tư của tầng lớp địa chủ bình dân hòng làm suy giảm thế lực kinh tế - xã hội của các tầng lớp này để nhằm xây dựng một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền theo hướng quan liêu
Trang 161.2 Tiền đề về chính trị - xã hội
Sự phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất tất yếu dẫn đến những biến động về kết cấu giai cấp trong xã hội Trước hết, trong nội bộ giai cấp thống trị đã phân hóa thành hai tầng lớp Tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần và tầng lớp địa chủ quan liêu (các nho sĩ trong bộ máy quản lý nhà Trần) Hai tầng lớp này có sự khác nhau về kinh tế và địa vị xã hội Nếu như trước đây, giai cấp thống trị quản lý nhà nước bao gồm các tầng lớp quý tộc, công thần, quan liêu, cao tăng và giữa các tầng lớp này chưa có sự phân biệt rõ ràng; những chức vụ cao trong bộ máy nhà nước không chỉ có quý tộc, công thần nắm giữ, mà nhiều trọng trách khác còn do cao tăng đảm nhiệm Sử cũ cho biết năm
971, “mới định ra giai phẩm cho các quan văn võ và tăng đạo Cho Nguyễn Bặc làm Định quốc công, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, cho tăng thống Ngô Chấn Lưu là Khuông Việt Đại sư, cho Trương Ma Ni làm Tăng lục Đạo sĩ, Đặng Quyền Quang làm Sùng chân uy nghi” [8,155] Sang cuối thế kỷ XIII, kết cấu trong nội bộ giai cấp thống trị đã có sự chia rõ ràng Tầng lớp quý tộc tôn thất nắm giữ những chức vụ cao nhất trong triều đình, có ruộng phong, có điền trang, có số nô tì lên tới hàng ngàn người Tầng lớp địa chủ quan liêu đóng vai trò thừa hành trong bộ máy quản lý nhà nước Tầng lớp này chủ yếu là nho sĩ và các quan lại không thuộc dòng họ nhà Trần Sử cũ ghi: “Bấy giờ quan trong triều như bọn Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Tứ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dữ, Phạm
Trang 17Mại, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Lê Duy ( ) Trương Hán Siêu, Lê Cự Nhân nối nhau làm quan, nhân tài đầy rẫy” [9,125] Họ không được phong cấp đất đai, không có nô tì Họ là những người điều hành bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương
Đồng thời với việc hình thành tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần, trong xã hội cũng hình thành một tầng lớp đông đảo những người nông nô, nô tì Sự hình thành tầng lớp này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là nông dân làng xã bị bần cùng hóa do mất hết ruộng đất Tầng lớp nông nô, nô tì không phụ thuộc hoàn toàn vào chủ, có tự do nhân thân, được đối đãi khá tử tế, được quyền tố cáo về pháp lý Sử cũ ghi:
“Hưng Đạo Vương có gia nô tên là Dã Tượng, Yết Kiêu, đối đãi rất hậu” [9, 56] Trần Nhật Duật “là người nhã nhặn độ lượng, mừng giận không lộ ra sắc mặt Trong nhà không hề chứa roi vọt để đánh nô lệ Có khi đánh thì trước hết kể tội lỗi rồi sau mới đánh”[9, 139] Về mặt nhân thân, nô tì có gia đình và tài sản riêng (điều này có thể biết được qua chính sách hạn điền của Hồ Quý Ly - TG), có thể chuộc lại thân phận bằng tiền để trở thành lương dân, thậm chí từ tư nô có thể trở thành quan nô
Cùng với việc phân hóa trong kết cấu giai cấp thống trị và sự hình thành tầng lớp nông nô, nô tì là sự xuất hiện những mâu thuẫn cơ
bản trong xã hội Thứ nhất là mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc tôn thất
nhà Trần có đặc quyền, đặc lợi, chủ nhân của các đại điền trang và tầng lớp địa chủ quan liêu nắm công việc quản lý hành chính nhà nước,
Trang 18nhưng không có điền trang, nô tì Thứ hai là mâu thuẫn giữa giai cấp
địa chủ quý tộc và giai cấp nông dân, nô tì Trong hai mâu thuẫn trên, mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn chủ yếu
Mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần và tầng lớp địa chủ quan liêu - nho sĩ thể hiện ở khuynh hướng bảo thủ và khuynh hướng cải cách Tầng lớp địa chủ quan liêu - nho sĩ muốn cải cách đất nước theo mô hình nhà Đường, Tống (Trung Quốc), trong khi đó tầng lớp quý tộc tôn thất muốn giữ nguyên cơ chế cũ Sử cũ ghi: “Triều thần bấy giờ như Lê Bá Quát, Phạm Sư Mạnh muốn thay đổi chế độ Vua (Trần Minh Tông - TG) nói: “Nhà nước đã có phép tắc nhất định, Nam Bắc khác nhau, nếu nghe theo kế hoạch của kẻ học trò mặt trắng tìm đường tiến thân thì sinh loạn ngay”[9,161] Như vậy tầng lớp địa chủ quan liêu - nho sĩ có tinh thần canh tân, nhưng lại dựa vào mô hình của nước ngoài Còn vua Trần, đại diện cho tầng lớp địa chủ quý tộc tỏ ra
bảo thủ, chống lại cải cách, nhưng lại nhân danh “phép cũ của tổ tông” và “nước nào làm chủ nước đó”, tức là nhân danh truyền thống và tinh
thần độc lập tự chủ Trong cuộc đấu tranh đó, dĩ nhiên ưu thế thuộc về tầng lớp quý tộc đang chấp chính
Mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân, nô tì và giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến là mâu thuẫn cơ bản của xã hội phong kiến Vào nửa cuối đời nhà Trần, mâu thuẫn này càng trở nên gay gắt hơn khi bọn vương hầu, quý tộc tìm đủ mánh khóe để áp bức bóc lột nhân dân Trần Khánh Dư, một quý tộc tôn thất đã cho người nhà mua nón “ma lôi” (tên một làng chuyên làm nón) về để bắt dân, quân trong địa phận
Trang 19cai quản của mình mua để thu lợi cho cá nhân Có lần vua Trần Anh Tông gọi về triều hỏi tội Khánh Dư trả lời: “Tướng là chim ưng, quân
dân là vịt, lấy vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ” [9, 82] Như vậy bọn
quý tộc coi việc tham ô, hối lộ và vơ vét của cải của nhân dân là những hành động tự nhiên và hợp pháp Từ đó, bọn họ tăng cường bóc lột nhân dân để hưởng lạc sau những năm tháng kháng chiến chống
Nguyên - Mông gian khổ Chính sách “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc” mà Trần Hưng Đạo căn dặn với vua Trần Anh Tông (khi
vua Trần Anh Tông ra thăm bệnh Trần Hưng Đạo và hỏi kế sách giữ nước) đã không được thực hiện Các vua Trần bắt đầu chỉ lo sống xa hoa hưởng lạc mà ít quan tâm đến công tác đê điều, chống thiên tai, địch họa Về chơi cung Thiên Trường (Nam Định), Thượng hoàng Trần Thánh Tông có bài thơ bộc lộ rõ tâm lý ăn chơi hưởng lạc ấy:
“Bốn biển đã yên, nhơ đã sạch Năm nay chơi thú quá năm xưa” [9,72]
Đến đời Trần Dụ Tông, tính chất xa hoa, trụy lạc của giai cấp thống trị nhà Trần đã đạt tới mức cao độ Bọn quý tộc ăn chơi phóng đãng, ngày đêm yến tiệc, ca xướng Trong triều, bọn gian thần hoành hành Chu Văn An, một nhà nho cương trực đã dâng sớ xin chém bảy
tên gian thần (hiện không rõ tên) mà đương thời gọi là thất trảm sớ
Đề nghị của ông không được chấp thuận, ông liền từ quan về quê dạy học Tình trạng quan trường rối ren như vậy khiến những người có nghĩa khí như Chu Văn An không còn quan tâm đến thời cuộc nữa
Trang 20Bên cạnh đó, tình trạng mất mùa, đói kém xảy ra liên miên do lụt lớn, vỡ đê, hạn hán càng làm cho sản xuất bị đình trệ Lại thêm ruộng đất ngày càng tập trung vào tay vương hầu, quý tộc nhà Trần làm cho nông dân không còn đất sản xuất Cuộc sống của người nông dân bị đe dọa, tình trạng nông dân bị nông nô hóa ngày càng mạnh,
một số trở thành lưu vong chạy vào các điền trang “làm nô cho các thế gia”, khiến cho số lượng nông nô, nô tì vào cuối đời nhà Trần tăng lên
đáng kể
Để bảo vệ quyền sống của mình, quần chúng nông dân, nông nô, nô tì đã đứng dậy chống lại giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến Hành động đầu tiên là họ bỏ trốn khỏi điền trang thái ấp Đó là hình thức đấu tranh đầu tiên của họ Nhưng dù thoát khỏi điền trang thái ấp, họ cũng không được giải phóng mà còn bị chính quyền lùng bắt và trừng phạt nặng nề bằng hình phạt thích chữ lên trán Từ đó, họ tiến lên hình thức đấu tranh cao hơn là bạo động Những người nông dân, nông nô, nô tì nghèo khổ đã tự vũ trang thành các đội quân khởi nghĩa Từ giữa thế kỷ XIV, phong trào bạo động của nô tì và nông dân bắt đầu bùng nổ khắp nơi, những cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ ở Hải Hưng, của Tề ở vùng Lạng Giang (Lạng Sơn, Hà Bắc) và Nam Sách (Hải Hưng), của nhà sư Phạm Sư Ôn, v.v liên tục nổ ra vào các năm 1343, 1351, 1378,
1389, 1399,
Phong trào đấu tranh của nông dân, nông nô, nô tì cuối đời nhà Trần kéo dài hơn nửa thế kỷ nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đó đều
Trang 21thất bại Những cuộc nổi dậy này đều có tính chất tự phát Những người nông dân đói khổ và nô tì ở các điền trang cảm thấy chế độ bóc lột phong kiến đối với họ là nặng nề và bất công Họ nổi dậy và cướp phá bọn nhà giàu là lấy làm hả giận rồi, chứ không biết làm thế nào để thủ tiêu chế độ bóc lột ấy Là những đám quân không có tổ chức chặt chẽ, họ không thể chống chọi lâu dài với quân đội của bọn quý tộc và của Nhà nước phong kiến có tổ chức và võ trang hơn Tuy thất bại nhưng các phong trào đấu tranh này thể hiện tinh thần chiến đấu bền bỉ, sức mạnh vùng lên và tiến công mãnh liệt của các giai cấp, tầng lớp bị áp bức nhất trong xã hội Các cuộc đấu tranh đó đã giáng những đòn chí mạng vào chế độ đại điền trang thái ấp, chế độ nông nô, nô tì và là minh chứng về tình trạng nguy biến của Nhà nước và chế độ phong kiến nhà Trần
Từ giữa thế kỷ XIV, nhà Trần lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện Chính quyền nhà Trần suy yếu trầm trọng, không còn khả năng kiểm soát đối với đất nước Nếu trong nửa đầu thế kỷ XIII, Việt Nam có đủ khả năng đánh bại quân Nguyên-Mông thì từ thập kỷ 70 của thế kỷ XIV trở đi, trong các cuộc đụng độ với nước Chiêm Thành, Đại Việt thậm chí đã không đủ sức tự vệ Chính thể bị đe dọa từ phía người Chiêm, khi quân đội của họ tiến vào châu thổ sông Hồng và đánh chiếm Thăng Long nhiều lần [9,179-188] Đặc biệt nghiêm trọng là từ cuối thế kỷ XIV, nhà Minh sau khi giành được quyền bính, thiết lập nền độc lập và thống nhất trên toàn lãnh thổ Trung Hoa thì cũng
Trang 22bắt đầu xúc tiến việc xâm lược Việt Nam Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam lúc này cả trên bình diện tư tưởng, lý luận và thực tiễn là phải phấn đấu cho mục tiêu độc lập dân tộc và bình đẳng với Trung Quốc Những thách thức cả bên trong và bên ngoài đất nước càng tăng lên đối với triều Trần và truyền thống chính trị của nó Mô hình nhà nước quân chủ quý tộc - với một hệ thống chính trị tương đối lỏng lẻo mà quyền lực thuộc về các thân vương, quý tộc, tôn thất dựa trên cơ sở kinh tế đại điền trang tỏ ra không còn phù hợp nữa; trái lại đang là vật cản của sự phát triển xã hội Hơn nữa, các cuộc tấn công của Chế Bồng Nga cho thấy, sự kiểm soát lỏng lẻo đó đã dẫn đến việc chính quyền có thể bị lật đổ dễ dàng như thế nào
Như vậy, đất nước đang đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, trước xu hướng phân tán, ly tâm đang phát triển và lan rộng, trước nguy cơ bị xâm lược, chính quyền nhà Trần lại suy yếu bất lực, không còn đủ khả năng điều hành đất nước nhưng lại muốn giữ nguyên
cơ chế cũ Có thể nói vào cuối thế kỷ XIV, giai cấp quý tộc nhà Trần gần như đã hết vai trò lịch sử Đất nước muốn vượt qua khỏi cuộc khủng hoảng cuối thế kỷ XIV thì phải thực hiện cải cách, muốn cải cách để đổi mới phải loại bỏ giai cấp quý tộc bảo thủ nhà Trần, phải thủ tiêu chế độ đại điền trang - thế lực kinh tế, chính trị của giai cấp này và chế độ nô tì Việc xóa bỏ này là điều kiện tiên quyết để đưa xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV bước sang một giai đoạn lịch sử tiến bộ hơn
Trang 231.3 Tiền đề về lý luận
Chúng ta biết rằng, Phật giáo và Nho giáo vốn không phải là sản phẩm tư tưởng bản địa Sau khoảng 5 thế kỷ ra đời, Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Hoa và Nho giáo từ Trung Hoa du nhập vào nước ta theo những phương thức khác nhau Phật giáo trước hết theo chân các nhà tu hành Ấn Độ trên con đường truyền giáo sang Phương Đông (trong đó có Trung Hoa), đã dừng chân truyền bá ở nước ta Cụ thể hơn là nhà sư Khâu Đà La (Kaudra) và đạo hữu là Ma Ha Kỳ Vực người Ấn Độ sang lưu trú tại Luy Lâu, trung tâm Phật giáo lớn đương thời Khâu Đà La truyền dạy phép cứu hạn cho đệ tử là Man Nương ở Luy Lâu mà truyền thuyết còn đến ngày nay Phật giáo từ hai hướng Ấn Độ và Trung Hoa sang đã có mặt và phổ biến trong xã hội nước ta suốt thời Bắc thuộc Cho đến nay, như đã biết về mặt giáo lý, Phật giáo Việt Nam chủ yếu ảnh hưởng Thiền Tông Trung Hoa Thiền Tông là tông phái Phật giáo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa
Tương truyền Thiền Tông Trung Hoa hình thành từ thời Nam Bắc triều (thế kỷ IV – V) do Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ Nam Ấn Độ đem đến Vào năm 520, ông đến Quảng Châu, sau đó đến Lạc Dương thuyết pháp rồi vào chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn ngồi tọa thiền quay mặt vào vách núi 9 năm Bồ Đề Đạt Ma (? - 528) là đệ nhất tổ của Thiền Tông; đệ nhị tổ là Tuệ Khả (487 - 593); đệ tam tổ là Tăng Xán (? - 606); đệ tứ tổ là Đạo Tín (579 - 652); đệ ngũ tổ là Hoằng Nhẵn (601 - 674) Đến Hoằng Nhẫn là tổ thứ năm của Thiền Tông, tông phái được chia làm Nam Tông và Bắc Tông Phía Bắc là Thần Tú (606 -
Trang 24706), phía Nam là Huệ Năng (638 - 713) Thiền Tông phía Bắc của
Thần Tú thuộc tiệm ngộ phái - phái này chủ trương tu hành lâu dài mới có thể thành Phật Phía Nam của Huệ Năng thuộc đốn ngộ phái, chủ
trương người tu hành không phải trải qua quá trình lâu dài, người tu hành có thể lập tức trở thành Phật Thậm chí ngay đến tên đồ tể, chỉ cần bỏ dao xuống là có thể thành Phật Sơ tổ của Thiền Tông là Bồ Đề Đạt Ma, nhưng người thực sự sáng lập ra Thiền Tông lại chính là Huệ Năng
Cơ sở kinh điển của Thiền Tông là kinh Lăng Già, kinh Kim Cương và Đại Thừa khởi tín luận Thiền Tông lấy Thiền định làm cơ sở cho sự tu tập Về mặt bản thể luận, Thiền Tông và các tông phái khác cũng vậy, họ cho rằng thế giới tinh thần là thứ nhất, vĩnh hằng, chân thực Họ gọi thế giới lý tưởng bất sinh bất diệt là “chân như”, “Phật tính”, “Niết bàn” Họ xem mọi sự vật trong thế giới hiện thực là sự thể hiện của bản tính “chân như” Như vậy họ đã mang màu sắc duy tâm khách quan một cách rõ ràng Thế nhưng họ không dừng bước lại ở đây, họ tiếp tục cho rằng “Phật tính”, “chân như” là vĩnh viễn thanh tịnh chứ không phải ô nhiễm, là tính thiện chứ không phải tính ác Tính thanh tịnh này thuộc về bản chất tâm tính của mỗi người, là bản chất chân thật bên trong của con người Như vậy, từ duy tâm khách quan, họ đã chuyển sang duy tâm chủ quan Đó là nét cơ bản của Thiền Tông Trung Hoa
Thiền Tông là tông phái có ảnh hưởng rộng lớn ở Trung Quốc cho đến tận ngày nay Từ cuối đời Đường, Thiền Tông ảnh hưởng ra
Trang 25nhiều quốc gia phương Đông trong đó có Việt Nam Sự ảnh hưởng của Thiền Tông Trung Hoa ở Việt Nam thể hiện ở sự xuất hiện của các dòng thiền: Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitacuri), Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và Thiền phái Trúc Lâm đời Trần Sự xuất hiện của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần được xem là một bước ngoặt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và sự ảnh hưởng của dòng thiền này rất rộng rãi trong xã hội Đại Việt từ đầu cho đến nửa cuối đời nhà Trần Trần Nhân Tông (1258 -1308) là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm và trở thành sơ tổ của thiền phái này Ông có ý nguyện phục hồi và phát huy vai trò chủ đạo của tư tưởng Phật giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Đại Việt, đồng thời xây dựng một tổ chức tôn giáo chặt chẽ, thống nhất để trở thành trung tâm liên kết toàn xã hội trên lãnh vực tư tưởng Mong muốn này của ông không chỉ có ý nghĩa tôn giáo mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu xa, bởi vì nó nhằm khắc phục những hạn chế của Phật giáo thời Lý và đầu đời Trần, đồng thời nhằm thiết lập hệ tư tưởng độc lập, thống nhất cho xã hội Đại Việt
Trong triết học thiền Trúc Lâm, chúng ta gặp thường xuyên điều được các thiền sư nhắc nhở với sự quan tâm đặc biệt, đó là “cái tâm” vốn có trong mỗi con người Có thể nói toàn bộ dòng tư tưởng triết học được bắt đầu từ tâm và kết thúc cũng ở tâm Nếu ta gạt bỏ khía cạnh tâm lý và tôn giáo ra thì tâm là toàn thể vũ trụ dù tồn tại hay không tồn tại, dù hữu hạn hay vô hạn, dù thường biến hay bất biến cũng nằm trong cái tâm Đối tượng là cái tâm và mục đích của triết học thiền Trúc Lâm cũng là đạt tới cái tâm tĩnh lặng, hư không Các vị tổ cho
Trang 26rằng, mục đích tối hậu của mình là trở về với chính cái tâm ban đầu, uyên thâm của mình, như Tuệ Trung Thượng Sĩ đã khẳng định:“hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt được từ một ai khác”
Những vấn đề bản thể luận của thiền Trúc Lâm được thể hiện trong nội dung các khái niệm: Tâm (cita), vạn pháp (Dharma), vô thường (Anitya) Tâm là một khái niệm rất phức tạp nhưng cũng rất quan trọng trong triết học Phật giáo, nó bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau với những cấp độ khác nhau Theo kinh Kim Cương, khái niệm này bao hàm ba từ: thức (Vajana), ý (Manas) và tâm (Cita) Bộ ba này, đến lượt nó lại tạo ra những yếu tố mới như tâm ý, tâm thức, ý thức Các thiền sư Trúc Lâm nhấn mạnh đến cái tâm, coi nó là cái gốc của vạn pháp, sinh ra, hàm chứa cả thế giới, điều này có nghĩa là họ đã xuất phát từ mặt chủ quan, tình cảm của tâm để triển khai ra thế giới hiện tượng Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là nguyên nhân nào, bằng cách nào mà từ cái tâm không hư, tĩnh lặng dẫn đến thế giới hình sắc vô thường? Các thiền sư Trúc Lâm còn bỏ ngỏ câu hỏi này, như Trần Nhân Tông trước câu hỏi của một tăng sư “ xưa tăng hỏi hòa thượng Lang Da rằng: “Đã là “Thanh tịnh bản nhiên”, sao bỗng chốc sinh ra núi sông đất lớn? Ý câu ấy là thế nào?” Đáp: “Ai biết tránh
xa khỏi sóng sẽ có riêng điều bàn bạc” [71, 495] Xét về thế giới quan,
ta có thể nói thiền phái Trúc Lâm đứng hẳn trên nền tảng của chủ nghĩa duy tâm chủ quan với điểm xuất phát là tâm linh
Trang 27Trong tư tưởng triết học thiền của các vị tổ sư Trúc Lâm, có lẽ những vấn đề nhân sinh được các ông quan tâm và bàn bạc một cách đầy đủ, rõ nét và nhất quán hơn cả Theo các ông, đây mới chính là những vấn đề quan yếu cuối cùng của đời sống thiền Về mặt lý luận, mục đích cuối cùng của thiền là trực nhận và trở thành đồng nhất với chân tâm Nhưng thiền lại không chỉ là lý luận và các thiền sư cũng không bao giờ coi thiền là một hệ thống lý luận cả, thiền chỉ là bản thân cuộc sống của mỗi thiền gia.Vì thế vấn đề cốt lõi nhất trong triết lý nhân sinh của thiền phái Trúc Lâm là cái chân tâm vi diệu khi đã đạt được kia, được thể hiện trong cuộc sống của người thiền sư, và đối với họ, không thể có sự chứng minh nào hùng hồn và thuyết phục hơn về sự đắc đạo bằng chính cuộc đời mình Vì thế, chúng ta không thể không đề cập đến những quan niệm sinh tử và thái độ sống của họ Theo các thiền sư Trúc Lâm, vấn đề sinh tử là vấn đề lớn cần phải được giải quyết một cách triệt để Triệt để ở đây không phải là lãng tránh sự sinh tử, cũng không dừng lại ở chỗ thừa nhận nó về mặt lý luận mà là đạt đến nó trong sự nhận thức cái tâm “vô tâm”, “vô niệm” Đó là tinh thần chẳng vướng mắc, cũng chẳng lầm lẫn sinh tử, đã vô tâm, vô niệm thì biển sinh tử liền ngừng chỉ, tĩnh lặng Ở trạng thái đó, người thiền sư coi sinh tử là một, chỉ tồn tại tự nhiên trong thế giới hữu vi và họ ung dung “thản thiên mà đi hoặc thản nhiên mà ở” Vậy khi đã thấu đạt lẽ sinh tử, các thiền sư có thái độ sống như thế nào trong thế giới hiện tượng? Các thiền sư hiểu rất rõ cuộc đời ngắn ngủi, vô thường và không muốn thời gian trôi đi một cách vô ích nên họ tích
Trang 28cực nhập cuộc và mong muốn cống hiến toàn bộ sức lực của mình cho sự nghiệp đời và đạo Chính lẽ sống tích cực này mà các thiền sư đã có những đóng góp lớn lao cho xã hội và cho giáo hội của mình Đây có lẽ là đặc điểm nổi bật của thiền phái Trúc Lâm đời Trần
Khác với Phật giáo, Nho giáo vào nước ta bằng một con đường duy nhất là theo chân kẻ thù xâm lược Nho giáo từ Trung Hoa vào nước ta từ thời Tích Quang, Nhâm Diên (thế kỷ I-SCN) Các đại sĩ phu Trung Hoa chạy loạn Vương Mãng cũng góp phần đáng kể trong việc truyền bá Nho giáo Đến Sĩ Nhiếp sang làm thái thú Giao Chỉ (từ 187 - 226) thì Nho giáo được phổ biến hơn bằng việc mở trường dạy học Mặc dù được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, nhưng vào thời gian này Nho giáo vẫn chưa có vai trò gì đáng kể trong đời sống tinh thần lẫn đời sống chính trị, xã hội Đến nửa cuối thế kỷ XIV, khi tầng lớp nho sĩ trở nên đông đảo, có địa vị kinh tế, xã hội quan trọng trong triều đình thì Nho giáo mới chiếm ưu thế và chi phối nhiều mặt của đời sống tinh thần và xã hội Đại Việt Nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam thời Trần, chúng ta thấy ở thời kỳ này Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ Nho giáo thời Tống Tống Nho được các nhà triết học sử Trung Quốc
gọi là Đạo học và các nhà triết học sử tư sản phương Tây gọi là Tân Nho giáo
Giáo sư Cao Xuân Huy và Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng cái học của Tống Nho là cái học “tính lý” So với cái học huấn hỗ của Hán Nho và Đường Nho thì nó có hệ thống, tổ chức và giá trị lý luận hơn nhiều Ba vấn đề trọng tâm của Tống Nho là vũ trụ luận, tính luận và
Trang 29thực tế luận Về vũ trụ luận thì Tống Nho chia làm hai phái: một phái nhất nguyên luận về Vô cực và Thái cực do Chu Đôn Di (Liêm Khê) chủ trì và một phái nhị nguyên luận chủ trương đối lập giữa Hư và Khí,
do Trương Tái (Hoành Cừ) sáng lập Vô cực và Thái cực không phải là hai Xét về mặt bản thể của vũ trụ thì gọi là Thái cực; nhưng vì cái bản thể ấy không có tượng (hình tượng) cho nên gọi nó là Vô cực Quan niệm về bản thể của Liêm Khê là một sự hỗn hợp giữa thuyết Thái cực của Kinh Dịch, thuyết “Vô danh hữu danh” của Lão Tử và thuyết
“sóng thức trong biển tâm” của triết học Duy thức (Phật giáo) Trong vũ trụ luận của Trương Tái thì Hư và Khí đối lập “Hư” không phải là vô, Hư tức là Lý (quy luật) “Khí” thì có động tĩnh, phù trầm (chìm nổi), thăng giáng (lên xuống) Khí tụ thành vạn vật, vạn vật tán thì trở về “Hư” Thuyết Lý Khí của Chu Hy về sau là thoát thai từ thuyết Hư Khí của Trương Tái
Tính luận là vấn đề trung tâm của Nho giáo Đó là vấn đề: tính người thiện hay ác? Thảo luận trên hai ngàn năm, mà không có một
học giả nào tìm được một giải pháp hoàn hảo Chữ “nhân” của Khổng
Tử đã là một phạm trù mờ mịt tối tăm Đến Mạnh Tử lại thêm chữ
“nghĩa” đặt ngang hàng với chữ “nhân” rồi lại thêm vào cái cặp nghĩa” ấy chữ “lễ” và “trí” mà gọi là tứ đoan, tức là bốn cái mầm
“nhân-thiện sẵn trong tính người Như thế thì nội dung của chữ “nhân-thiện là nhân, nghĩa, lễ, trí và thêm chữ tín của nhà Nho đời sau, gọi là ngũ thường Ngũ thường có liên quan mật thiết với ngũ luân là tam cương (công thức của Hán Nho) Vậy thiện chính là tam cương ngũ thường Tính là
Trang 30sinh, tính người do trời sinh Trời sinh ra tính thiện thì trời cũng là thiện, cũng là “tam cương ngũ thường”, cho nên “tam cương ngũ thường” là quy luật hằng thường của trời đất, là định lý phổ biến của cổ kim (Đổng Trọng Thư) Chính vì nhà Nho đã luân lý hóa vũ trụ và Thượng đế, do đó mà phát sinh những vấn đề gay go không thể giải quyết được Làm sao mà chứng minh được rằng bản chất của vũ trụ là cương thường? Vũ trụ và nhân sinh đã là thiện thì ác ở đâu mà sinh ra và làm sao giải thích được nguyên do của tộc ác trong xã hội loài người?
Tuy vậy, các chi phái của Nho gia vẫn cố giải quyết vấn đề ấy Mạnh Tử thì chủ trương tính thiện, Tuân Tử chủ trương tính ác, Dương Hùng lại chủ trương thiện ác lẫn lộn, trong khi Hàn Dũ chủ trương tính chia ba bực thượng, trung, hạ
Trong phái “tính lý” đời Tống thì Liêm Khê nói rằng: “Tâm chia làm thể dụng và động tĩnh; thể của tâm là vô tư (không tư lự), dụng của tâm là tư thông (tư tưởng thông suốt); tĩnh là chí chính, động là minh đạt (sáng suốt) Động mà chưa có hình ở chỗ hư vô, gọi là cơ Cơ có thiện ác” Minh đạt có thật là động không? Dầu tĩnh hay động, nó đều là chính minh đạt cả, làm sao nó lại là cái cơ của cái ác được? Để thuyết minh thiện ác, Trương Tái phân biệt hai thứ tính: “thiên địa tính” và “khí chất tính” Ác là do tập quán ảnh hưởng đến khí chất mà sinh ra Nhưng tập quán xấu phát sinh từ trong xã hội Nếu bản tính của loài người là thiện, thì làm sao có tập quán xấu được? Từ Trương Tái
Trang 31trở đi, Trình Hạo (Minh Đạo), Trình Di (Y Xuyên), Chu Hy đều dùng nhị nguyên luận Lý Khí để thuyết minh thiện ác
Trình Hạo phân biệt tính với khí bẩm Khí bẩm là cái động của tính Vạn vật đều có khí bẩm, nhưng phân lượng không giống nhau, có khi vừa phải, có khi quá, có khi bất cập Quá và bất cập tức là ác Trình Di thì cho rằng lý tức là tính, khí tức là tình Tính là thiện, nhưng khi nó phát ra thành hỉ, nộ, ai, lạc thì gọi là tình, mà tình thì có khi thiện khi ác Chu Hy cũng nối gót Y Xuyên mà cho rằng bản nhiên tính là thiên lý, mà tác dụng của tính là tính và khí Đại khái anh em họ Trình và Chu Hy đều không thuyết minh được vì sao mà tính động và vì sao khí động thì sinh ra sự khác nhau
Về thực tế luận, thì có thể nói một cách khái quát rằng Chu Dôn
Di chủ tĩnh, Trương Tái chủ lễ, Trình Hạo chủ kính, Trình Di chủ tri, mà Chu Hy thì tổng hợp thực tế luận của hai anh em họ Trình trong cái công thức “cư kính và cùng lý” Thực tế luận tức là vấn đề thực tiễn, nhưng nặng về vấn đề tu dưỡng nội tâm và hành vi đạo đức
So với Nho giáo và Phật giáo, Đạo giáo vào Việt Nam có muộn màng hơn Theo thời gian, Đạo giáo hay còn gọi Lão giáo đã thâm nhập vào tầng lớp nho sĩ, lan rộng và thấm sâu vào xã hội của người Việt Vào thế kỷ X, chúng ta thấy vị trí và vai trò của Đạo giáo qua nhân vật đạo sĩ Đặng Huyền Quang với chức Sùng chân uy nghi trong vương triều Đinh Đến đây Đạo giáo cùng với sự phát triển của Nho giáo trở thành yếu tố cấu thành trong tư tưởng Nho giáo (tam giáo đồng nguyên) Ta thấy bóng dáng của Đạo giáo ở Chu Văn An, Trần
Trang 32Nguyên Đán và sau đó là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp
Tóm lại, sau hơn một nghìn năm dưới ách đô hộ của ngoại bang, bước sang thời kỳ xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài từ thế kỷ X, trong xã hội Việt Nam có mặt của ba dòng tư tưởng lớn: Nho - Phật - Lão cùng tồn tại lâu dài với vị trí, vai trò, phạm vi rộng hẹp khác nhau Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đều vốn không phải là sản phẩm bản địa mà được truyền bá từ các nước có nền văn minh từ rất sớm Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Hoa; Nho giáo, Đạo giáo từ Trung Hoa du nhập vào nước ta theo những phương thức khác nhau Phật giáo đến Việt Nam chủ yếu là đi theo các thương buôn người Ấn Độ (không phải con đường duy nhất -TG); còn Nho giáo du nhập vào Việt Nam chỉ duy nhất bằng một con đường là theo chân kẻ thù xâm lược và thật sự là công cụ tư tưởng của kẻ thù
Chủ trương hành động của ba dòng tư tưởng này hoàn toàn khác nhau Nho giáo với “tam cương, ngũ thường” làm rường cột, chủ trương nhập thế, lấy “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” làm phương châm đồng thời là mục đích Phật giáo chủ trương bình đẳng, từ bi, lấy việc tu hành thoát tục làm phương châm hướng về việc thiện, tìm một sự giải thoát theo thuyết nghiệp báo luân hồi Đạo giáo chủ trương xuất thế, vô vi, thoát tục tìm đến một sự thoải mái tự tại, tự nhiên Mặc dù khác nhau là vậy, nhưng giữa ba dòng tư tưởng này có sự đan xe, pha trộn vào nhau một khi chúng đi vào đời sống chung của xã hội cũng như từng con người cụ thể Điều đáng chú ý và có liên quan trực
Trang 33tiếp đến vấn đề đặt ra ở đây là vị trí của chúng trong đời sống tinh thần của xã hội trước và trong thời Trần như thế nào?, giữa chúng có sự xung đột hay không?
Phật giáo chủ yếu được truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ, Trung Quốc vào nước ta từ đầu công nguyên sớm được nhân dân ta tiếp nhận Từ khi nước nhà được độc lập, Phật giáo có điều kiện và tiếp tục phát triển, chiếm lĩnh được vị trí không chỉ trong đời sống xã hội mà còn có
uy tín cả với nhà nước quân chủ độc lập tự chủ còn non trẻ Thời Đinh
- Lê, nhà sư được phong phẩm hàm, nhà chùa được cấp ruộng đất làm
tư điền Sư tăng ngày càng có vai trò quan trọng trong triều đình (như đã dẫn ở phần trên) Sang thời Lý, Phật giáo phát triển đến giai đoạn hưng thịnh, được coi là quốc giáo Nhà chùa có những quyền lợi lớn về chính trị và kinh tế
Cũng như nhà Lý, nhà Trần vẫn tôn sùng Phật giáo Phật giáo vẫn là tín ngưỡng phổ cập khắp các tầng lớp nhân dân Thời Trần Nhân Tông (1279 -1293), Trần Anh Tông (1293 -1314), Phật giáo cực thịnh thể hiện ở sự xuất hiện của Thiền phái Trúc Lâm và ở những hoạt động mà các nho sĩ đã phê phán Nhưng đến đời vua Trần Minh Tông (1314 -1329) thì vua không chú ý mấy đến đạo Phật Đặc biệt là từ thời Trần Dụ Tông (1341 -1369) trở đi, đạo Phật đã rơi vào chỗ suy sụp Điều này có lẽ xuất phát từ những hạn chế của triết học thiền Trúc Lâm (mà cũng là hạn chế của Phật giáo nói chung): đó là sự quá thiên trọng đến đời sống nội tâm, khai thác quá sâu vào khía cạnh tâm
Trang 34linh con người mà bỏ quên những mối quan hệ rất cơ bản để hình thành con người hiện thực với toàn bộ hoạt động thực tiễn của họ Bản chất con người ở triết học thiền Trúc Lâm vì thế trở nên phiến diện và hư ảo, không phản ánh đúng bản chất con người và không hướng con người vào những hoạt động thực tiễn để chinh phục tự nhiên, cải tạo điều kiện sống nhằm giải phóng con người trong xã hội hiện thực Dù có mang khuynh hướng nhập thế tích cực, song tinh thần đó không phải là một bộ phận nội tại và hữu cơ trong hệ thống triết học vốn có của thiền tông, nó chỉ là bộ phận ghép từ bên ngoài vào thiền tông để đáp ứng tình hình chính trị, xã hội lúc đó Về bản chất, tinh thần nhập thế tích cực mâu thuẫn và khó dung hợp với triết lý giải thoát của nhà Phật Vì thế, tinh thần nhập thế tích cực đó mờ nhạt hẳn đi ở thiền sư Huyền Quang (1254 -1334) - tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, càng về sau, nó càng lu mờ để thay thế vào đó sự ảnh hưởng của tính thần
bí, mê tín của Mật Tông giáo
Chính những hạn chế vốn có của Phật giáo đã làm cho nó trở thành gánh nặng cho xã hội, không những không giải đáp những vấn đề bức thiết của cuộc sống; mà còn hướng con người ta vào nghiệp, vào quả báo, vào thần linh để mong được sự phù hộ, độ trì Do vậy mà Phật giáo càng tỏ ra kém hiệu quả trong việc giải quyết những vấn đề của đời sống xã hội nhất là đối với nhu cầu của lý luận chính trị và pháp quyền, nhu cầu củng cố nhà nước và trật tự của xã hội phong kiến Từ đó Phật giáo sa sút dần và phải nhường lại vị trí lãnh đạo tinh
Trang 35thần xã hội cho một hệ tư tưởng thực tế và gần gũi với chính trị hơn - hệ tư tưởng Nho giáo
Kể từ thời Minh Tông trở đi, trong giới cầm quyền Việt Nam thể hiện hai khuynh hướng tư tưởng Đó là khuynh hướng của nhà vua cố trung thành với tư tưởng nhân bản khai phóng của Thiền học Trần Thái Tông hợp nhất tam giáo: nhân sinh, thiên nhiên, siêu nhiên và khuynh hướng Nho học của đa số nho sĩ Khuynh hướng thứ hai này chịu ảnh hưởng của Nho giáo thời Tống mà cụ thể là ảnh hưởng phái Trình Chu Tống Nho nói chung và phái Trình Chu nói riêng đều chú trọng vào việc tranh luận về tâm với lý là một hay là hai, nhân tâm với đạo tâm là hai hay chỉ có một, cách vật là đến vật mà xét hay là chính tâm, từ đó đi đến độc tôn Nho giáo mà bài bác Phật giáo, Lão giáo Học phái Trình Chu ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nho sĩ thời Trần như Chu Văn
An, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Trần Nguyên Đán,
Ở Chu Văn An, ông vẫn giữ được tinh thần “Nho học khai phóng”, chủ trương tri hành hợp nhất, “cùng lý chính tâm” chứ không phải lý học
“cách vật trí tri” thiên về tri thức lý thuyết, còn các nho sĩ như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu lại thiên về lý học Tống Nho, chủ trương “làm sáng tỏ đạo Thánh (Nho), bài trừ các mối học khác”
“minh Thánh đạo, tịch dị đoan”, tức chủ trương bài bác Phật, Đạo Tầng lớp nho sĩ ngày càng đông đảo đang trở thành lực lượng chính trị quan trọng từng bước đẩy lùi thế lực của tầng lớp tăng lữ, quý tộc trên lãnh vực chính trị cũng như tư tưởng Quan lại xuất thân từ nho sĩ ngày
Trang 36càng chiếm ưu thế trong bộ máy chính quyền và nắm giữ các chức vụ trọng yếu trong triều đình Sử cũ ghi: “Bấy giờ quan trong triều như bọn Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Tứ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dũ, Phạm Mại, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Lê Duy ( ), Trương Hán Siêu, Lê Cự Nhân nối nhau làm quan, nhân tài đầy rẫy” [9,125] Lực lượng sáng tác văn chương cũng chuyển dần sang tầng lớp nho sĩ Từ tầng lớp này đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn và những học giả xuất sắc như Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Nho giáo đã thật sự đi vào lãnh vực tư tưởng chính trị và xã hội nước ta ngày càng vững chắc Những người đứng đầu bộ máy nhà nước phong kiến khi thảo ra những văn kiện hành chính như chiếu, chế, biểu, hịch đã không tìm thấy những căn cứ về mặt lý luận và kinh nghiệm quản lý nhà nước trong giáo lý của đạo Phật Trái lại Nho giáo bằng kinh sử của mình đã cung cấp cho văn kiện ấy những nguyên tắc và khuôn mẫu soi sáng cho hành động thực tế Thậm chí ngay cả những tín đồ
nhà Phật khi viết những trước tác Phật giáo như Khóa hư lục, Tuệ Trung Thượng Sỹ ngữ lục, cũng phải sử dụng đến Nho giáo Chính vì
vậy mà Phật giáo tựa hồ như quay về lo phần đạo, còn phần đời tức là đời sống hiện thực, địa bàn của những hoạt động chính trị xã hội thì đã phải nhường lại cho Nho giáo cai quản
Vào đầu đời nhà Trần, Phật giáo còn thịnh nhưng tầng lớp tăng lữ mất dần vai trò to lớn trong đời sống xã hội Đến cuối đời nhà Trần,
Trang 37cuộc xung đột giữa hai khuynh hướng và hai thế lực đã bắt đầu và diễn
ra có lúc âm thầm, có lúc quyết liệt liên tục suốt trong 30 năm (1370 1400), đó là khuynh hướng bảo thủ quân chủ quý tộc (của tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần) và khuynh hướng quân chủ tập trung quan liêu (đại diện là Hồ Quý Ly) Tầng lớp địa chủ quan liêu - nho sĩ đã bắt đầu lên tiếng phê phán, bài bác một cách công khai hệ tư tưởng của tầng
-lớp quý tộc tôn thất nhà Trần - hệ tư tưởng Phật giáo Khi viết Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Văn Hưu, một sử gia đời nhà Trần đã phê phán các
vua Lý đối với Phật giáo: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, Tôn Miếu chưa dựng, Xã Tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại sửa chữa chùa quán ở các lộ và “độ điệp” cho hơn nghìn người ở Kinh sư làm tăng, thế thì tiêu phí của cải sức lực về việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư ? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng ? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép cho con cháu như thế, cho nên đời sau mới xây tường cao ngất trời, tạc cột chùa bằng đá, làm chùa thờ Phật lộng lẫy hơn cung điện của vua Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, nhân dân quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa, nguồn gốc há chẳng phải là đấy” [8, 191-192] Lê Văn Hưu còn phê phán vua Thần Tông vào năm 1128, sau khi Lý Công Bình dẹp được quân Chân Lạp đến cướp phá châu Nghệ An, nhà vua ngự đến các chùa quán trong thành Thăng
Trang 38Long để tạ ơn Phật đã giúp ngầm cho Công Bình đánh được người Chân Lạp Lê Văn Hưu bàn rằng “Kể ra sự trù tính ở trong màn trướng, quyết định được sự thắng ở ngoài nghìn dặm, đó là công của người tướng giỏi cầm quân chiến thắng Thái phó Lý Công Bình phá được quân Chân Lạp cướp châu Nghệ An, sai người báo tin thắng trận, Thần Tông đáng lẽ phải cáo thắng trận ở Thái Miếu, bàn công ở triều đường để thưởng cho bọn Công Bình về công đánh giặc mới là phải; nay lại quy công cho đạo Phật, đến các chùa quán mà lễ tạ, như thế không phải là ủy lạo kẻ có công, cổ lệ khí quân lính”[8, 262]
Trương Hán Siêu, một học giả uyên thâm Nho giáo đời nhà Trần đã phê phán gay gắt Phật giáo ngay cả khi viết văn bia cho chùa Khai Nghiêm ở Bắc Giang như sau: “Chùa bỏ rồi lại dựng, đã chẳng phải ý muốn của ta Dựng bia rồi khắc chữ, ta biết nói gì? Hiện nay thánh triều muốn truyền phong hóa nhà vua, để chữa phong tục đồi bại, dị đoan đáng truất bỏ, thánh đạo nên phục hưng Làm kẻ sĩ đại phu, không phải đạo Nghiêu Thuấn không bày tỏ, không phải đạo Khổng Mạnh không trước thuật Thế mà cứ bo bo lải nhải chuyện Phật, ta định lừa ai?”[9, 156]
Bên cạnh Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, nho thần Lê Quát
“muốn làm tỏ rõ Thánh đạo, ruồng bỏ dị đoan, mà không thể làm được” [9,178] Ông đã lên tiếng công kích gay gắt như sau: “Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người, sao mà được người tin theo sâu bền như thế ! Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào
Trang 39việc nhà Phật, dù đến hết tiền của cũng không xẻn tiếc Ví ngày nay gửi gắm vào tháp chùa thì trong lòng sung sướng như nắm được khoán ước để lấy sự báo ứng ngày sau Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho đến thôn cùng ngỏ hẽm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không bắt phải thề mà giữ đúng Chỗ nào có người ở, tất có chùa Phật, bỏ đi rồi lại dựng lên, nát đi rồi sửa lại, lâu đài chuông trống chiếm đến nửa phần so với dân cư Đạo Phật thịnh rất dễ mà được rất mực tôn sùng” [9, 178]
Sự bài bác, phê phán Phật giáo của các nho thần không chỉ đơn thuần trên phương diện tôn giáo mà sâu xa hơn là bác bỏ hệ tư tưởng và thể chế tổ chức xã hội của tập đoàn quý tộc dòng họ nhà Trần Mục đích của phê phán này là đánh vào chỗ dựa tư tưởng của tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần và họ đã bị phản ứng quyết liệt như sử gia Phan Phu Tiên nói: “Triều thần bấy giờ như Lê Bá Quát, Phạm Sư Mạnh muốn thay đổi chế độ” Vua (Trần Minh Tông - TG) nói: “Nhà nước đã có phép tắc nhất định, Nam Bắc khác nhau, nếu nghe theo kế của học trò mặt trắng tìm đường tiến thân thì sinh loạn ngay”[9,161] Mười năm về sau, một dự định cải cách khác lại dấy lên trong giới nhà nho và cũng như Trần Minh Tông, Trần Nghệ Tông lại phải lên tiếng nghiêm trách: “Triều trước dựng nước, tự có pháp độ, không theo chế độ nhà Tống, là vì Nam Bắc đều chủ nước mình, không phải noi theo Khoảng năm Đại Trị, kẻ học trò mặt trắng được dùng, không hiểu được ý nghĩa
Trang 40sâu xa của sự lập pháp, đem phép vũ của tổ tông thay đổi theo tục của phương Bắc cả, như về y phục nhạc chương không thể kể hết”[9, 175]
Cuộc đấu tranh giữa quý tộc Trần và tầng lớp quan liêu - nho sĩ trong đường lối trị nước đã diễn ra thành cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng bảo thủ và cải cách Xu hướng cải cách muốn dựa vào mô hình nước ngoài (Đường, Tống) để thay đổi thể chế chính trị nhà Trần theo hướng quân chủ quan liêu nho giáo, điều mà các nho sĩ tâm đắc qua kinh điển nho giáo Xu hướng bảo thủ của tầng lớp quý tộc Trần chống lại cải cách nhưng lại được ngụy trang bởi ý thức truyền thống và tinh thần độc lập, tự chủ (thể hiện qua câu nói của Trần Minh Tông, Trần Nghệ Tông) Đây chính là mặt hạn chế của cả hai xu hướng dẫn chế độ nhà Trần đến chỗ bế tắc, sụp đổ và sau này với cương vị Thái Thượng hoàng của các triều Duệ Tông (1372 -1377), Phế Đế (1377 -1388), Thuận Tông (1388 -1398), Trần Nghệ Tông (1370 - 1372) đã tiếp nhận một quý tộc ngoại thích là Hồ Quý Ly, để rồi không ngờ từng bước tạo điều kiện cho Hồ Quý Ly xây dựng thế lực, củng cố vây cánh, sau cùng là lật đổ nhà Trần, kết thúc 175 năm thống trị của dòng họ này và lập ra triều đại nhà Hồ Sử gia Ngô Sĩ Liên nói trong
Đại Việt sử ký toàn thư: “Họ Hồ cướp ngôi nhà Trần không những là
Nghệ hoàng không biết cẩn thận từ trước, mà lại còn gây mối ra nữa”[9, 200] Song điều đáng nói ở đây không phải là sự thay đổi của một triều đại mà là sự xuất hiện của Hồ Quý Ly và những tư tưởng cải