1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng chuyển nghĩa trong ngôn ngữ thơ tố hữu (so sánh với đồng hiện tượng ngôn ngữ thơ huy cận)

152 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện tượng chuyển nghĩa trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu (so sánh với đồng hiện tượng ngôn ngữ thơ Huy Cận)
Tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy
Người hướng dẫn GS TS. Nguyễn Đức Dân
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Năm xuất bản 2002
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 718,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG NGÔN NGỮ THƠ TỐ HỮU So sánh với đồng hiện tượng trong ngôn ngữ thơ Huy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA

TRONG NGÔN NGỮ

THƠ TỐ HỮU

(So sánh với đồng hiện tượng trong ngôn ngữ thơ Huy Cận)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người thực hiện: Nguyễn Thị Bích Thủy

Thành phố Hồ Chí Minh – 2002

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA

TRONG NGÔN NGỮ

THƠ TỐ HỮU

(So sánh với đồng hiện tượng trong ngôn ngữ thơ Huy Cận)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn KH: GS TS Nguyễn Đức Dân

Thành phố Hồ Chí Minh – 2002

Trang 3

Lời cảm ơn

Xin trân trọng cảm ơn Gs Ts Nguyễn Đức Dân đã tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy Cô đã dạy dỗ tôi trong suốt quá trình học tập

Xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, Tổ Ngoại ngữ Chuyên ngành và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên tôi thực hiện luận văn

Xin ghi sâu công ơn Tứ thân phụ mẫu và chồng tôi đã dành những điều kiện thuận lợi nhất cho tôi học tập và nghiên cứu

Nguyễn Thị Bích Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

IV Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu 6

CHƯƠNG MỘT

THƠ VÀ HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG THƠ

B- Hiện tượng chuyển nghĩa thường gặp trong thơ 21

CHƯƠNG HAI

HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG THƠ TỐ HỮU

A- Tổng quan về ngôn ngữ thơ Tố Hữu 55

B- Hai hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng tiêu biểu (tỷ

CHƯƠNG BA

KHÁI QUÁT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TỶ DỤ VÀ ẨN DỤ

TRONG NGÔN NGỮ THƠ TỐ HỮU

(So sánh với đồng hiện tượng trong ngôn ngữ thơ Huy Cận)

A- Những đặc điểm nổi bật của hiện tượng chuyển nghĩa

Trang 5

B- So sánh hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng trong

thơ Tố Hữu với đồng hiện tượng trong thơ Huy Cận 129

PHẦN KẾT LUẬN

I- Nhìn lại nội dung chính của luận văn 145

II- Những vấn đề cần tiếp tục tìm hiểu 148

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do nghiên cứu

Khi học phổ thông, tôi được chọn vào trường chuyên Văn Hồi đó, trong

lớp có phong trào thi đua học thuộc và bình giảng thơ văn

Khi bình giảng, chúng tôi thường hay tranh cãi về ý nghĩa của các cách

nói bóng rất hay gặp trong ca dao và trong thơ

Ví dụ 1:

Thuyền ơi có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Còn Cây cay đắng có nghĩa ra sao?

Những hiện tượng ấy như là những ẩn số trong tâm trí học trò và giờ đây,

tôi muốn được đi sâu nghiên cứu

Lên tới bậc đại học, chúng tôi vẫn đố nhau tại sao lại gọi là mặt trời mọc

và mặt trời lặn? Có bạn đã phải vẽ ra hình vẽ như sau:

Mặt đất

Cái cây mọc

Trang 7

(Nhô dần lên)

Chân trời

Mặt trời mọc

(Cũng nhô dần lên)

Con cá lặn

(Chìm dần xuống)

Mặt nước

Mặt trời lặn

(Cũng chìm dần xuống)

Rõ ràng là: có mặt của hiện tượng chuyển nghĩa ở khắp nơi, gợi trong tôi ước mơ tìm hiểu Chân trời

Trong các nhà thơ lớn mà tôi học thuộc lòng có lẽ không có ai là không sử dụng các biện pháp chuyển nghĩa

Do sự hiểu biết hạn hẹp của bản thân và cũng do có sự gặp gỡ nhiều với tác giả về mặt tinh thần, tôi chọn ngôn ngữ thơ của Tố Hữu làm đề tài Ngôn ngữ thơ của ông có nhiều đóng góp cho ngôn ngữ Việt Nam Đã có rất nhiều công trình viết về thơ ông Nhưng những công trình khảo sát

riêng về mặt ngôn ngữ thơ của ông thì còn ít Đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống các hiện tượng chuyển nghĩa trong thơ Tố Hữu Trong khi đó tiếng thơ Tố Hữu đã sử dụng nhiều cách nói bóng rất phong phú và đặc sắc

Ví dụ: Trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu, THUYỀN mang nhiều nghĩa bóng trong những ngữ cảnh khác nhau:

Thuyền em rách nát còn lành được không?

(Tiếng hát sông Hương)

Trang 8

=

Thuyền

Thuyền anh đã bao lần leo ngọn sóng

Người chiến sĩ cách mạng

(Những người không chết)

Đèn vẫn tỏ, thuyền bơi tới trước

(Ba mươi năm đời ta có Đảng).

Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời

(Nước non ngàn dặm)

Tôi nghĩ rằng nghiên cứu kỹ và có hệ thống tìm ra đặc trưng và các quy luật của các hiện tượng chuyển nghĩa trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu, sẽ góp phần tìm hiểu ngôn ngữ thơ của ông, ngôn ngữ thơ Việt Nam, và cả tiếng Việt trong sáng và đẹp đẽ của chúng ta

II Phạm vi nghiên cứu

Luận văn mang tên: Hiện tượng chuyển nghĩa trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu (so sánh với đồng hiện tượng trong ngôn ngữ thơ Huy Cận) đòi hỏi phải đề cập đến:

Khái niệm về thơ và về ngôn ngữ thơ

Khái niệm về các hiện tượng chuyển nghĩa

Phong cách ngôn ngữ thơ Tố Hữu và phong cách ngôn ngữ thơ Huy Cận Hiện tượng chuyển nghĩa trong hai phong cách ấy

Các vấn đề nói trên, đều rất rộng lớn Do hạn chế bởi những điều kiện khách quan và chủ quan và cũng do dung lượng được quy định của luận văn, chúng tôi chỉ xin giới hạn đề cập tới cách hiểu khái quát về những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ và những hiện tượng chuyển nghĩa

thường gặp trong ngôn ngữ kiểu này và xem đó như là những cơ sở lý

thuyết tối thiểu để bước đầu khảo sát và nhận xét một số hiện tượng

chuyển nghĩa tiêu biểu cơ sở trên mối liên tưởng tương đồng (Tỷ dụ và ẩn dụ) trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu (có so sánh với đồng hiện tượng trong ngôn ngữ thơ Huy Cận)

Trang 9

Phần viết về các hiện tượng trên trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu sẽ được tập trung công sức nhiều hơn để cố gắng tìm ra những nét đặc sắc có tính quy luật tạo ra nét riêng trong tiếng thơ Tố Hữu

III Lịch sử vấn đề

Như đã trình bày ở phần trên, đã có rất nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà

nghiên cứu ở trong và ngoài nước viết về Tố Hữu – nhà thơ lớn đã được các giải thưởng:

– Giải nhất Giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam (1954 – 1955) cho tập thơ Việt Bắc

– Giải thưởng Văn học Đông Nam Á của Thái Lan (1996) cho tập thơ Một tiếng đờn

– Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (Đợt 1, 1996) Theo tư liệu thống kê của tập sách Tố Hữu – về tác giảû và tác phẩm của NXB Giáo dục (1999), có trên dưới 200 bài nghiên cứu phê bình về thơ Tố Hữu ở trong nước được đăng trên các báo và tạp chí Văn học, Văn nghệ, Tiền phong, Nghiên cứu văn học, Tác phẩm mới, Thủ đô Hà Nội, Độc lập, Học tập, Tuổi trẻ Thủ Đô, Nhân Dân, Văn nghệ đặc san, Nhiếp ảnh, Xứ Thanh, Phụ nữ, Ngôn ngữ, Mới, Sông Hương, Cửa Việt, Thống Nhất, Cứu quốc, Hà Nội mới, và đã in trong các sách ấn hành bởi các Nhà xuất bản Văn học, Hội nhà văn, Giáo dục, Khoa học xã hội, Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Xây dựng, Hội văn hóa Cứu quốc

Cũng có một số bài nghiên cứu mang nhiều giá trị khác nhau được in trong các Tập san lưu hành nội bộ ở các trường đại học

Những bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà văn nước ngoài về Tố Hữu, tập trung ở các tác giảû CuBa, Đức và Pháp

Các bài nghiên cứu vừa được đề cập tới, phần rất lớn được viết trên quan điểm nghiên cứu văn học

Các học giả nổi tiếng như Trần Huy Liệu, GS Đặng Thai Mai…., các nhà phê bình văn học có uy tín như Hoài Thanh, GS Hà Minh Đức, GS Nguyễn Đăng Mạnh, GS VS Hoàng Trinh, GS Hoàng Như Mai, GS Phan Cự Đệ,

GS Huỳnh Lý, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Hạnh ……., các nhà văn, nhà thơ lớn như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Đình Thi… , đã tập trung nêu rõ: Tố Hữu là người mở đầu nên thơ ca cách mạng Việt Nam

Trang 10

hiện đại; Tố Hữu là nhà thơ của những lẽ sống lớn thời đại; Tố Hữu là nhà thơ của tương lai

Trong các công trình ấy, chúng ta có thể bắt gặp một số nhận xét hết sức tinh tế về ngôn ngữ thơ Tố Hữu

Cũng có một số bài đề cập trực tiếp vài khía cạnh của ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca của ông:

– Nguyễn Phú Trọng – Phong vị ca dao dân ca trong thơ Tố Hữu – Tạp chí Văn học, số 11, 1968

– Nguyễn Trung Thu – Nhạc điệu thơ Tố Hữu – Tạp chí Văn học, số 11, 1968

– Nguyễn Đức Quyền – “Ta”với “mình”trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu – Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, 1970

– Xuân Nguyên – Từ địa phương miền Trung trong thơ Tố Hữu – Tạp chí Sông Hương, số 10, 1991

Đặc biệt lưu ý là một số tác giảû như GS Lê Đình Kỵ, GS Nguyễn Văn Hạnh, GS Trần Đình Sử đã đi sâu nghiên cứu phong cách Tố Hữu và Thi pháp thơ Tố Hữu Riêng GS Trần Đình Sử, trong cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu (NXB Giáo dục, 1995) đã dành cả một chương dày 51 trang mang tiêu đề Chất thơ và phương thức thể hiện (SĐD, tr 213-264) để viết về ngôn ngữ thơ Tố Hữu Ở chương này tác giảû – GS Trần Đình Sử – đã đề cập tới các vấn đề sau đây:

1 Ngôn ngữ thơ Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói

2 Khuynh hướng lựa chọn chất liệu ngôn ngữ và cách tổ chức lời thơ của tiếng thơ Tố Hữu

3 Các phương thức tư duy thơ tiêu biểu của Tố Hữu: tương phản, ví von và hô ứng

Số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học viết về ngôn ngữ thơ Tố Hữu chiếm tỷ lệ thật khiêm tốn Xin được kể ra ở đây:

– Lê Anh Hiền: Về cách dùng tính từ chỉ màu sắc của Tố Hữu: Ngôn ngữ, số 4, 1976

Trang 11

– Phan Thiều: Tính chất anh hùng ca trong tập thơ “Gió lộng”– Nghiên cứu văn học số 5, 1963

– Nguyễn Nguyên Trứ: Về từ “em”ở ngôi thứ hai trong thơ Tố Hữu – Ngôn ngữ H.1971

– Bùi Công Hùng: Nghệ thuật thơ của tập “Ra trận”- Văn học, số

2, 1975

…………

Điểm qua những bài viết về Tố Hữu, ta nhận thấy chưa có những công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về các hiện tượng chuyển nghĩa trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu

Đó là điều mà luận văn của chúng tôi mong muốn được đáp ứng một phần nào

IV Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu

• Về ngữ hiệu:

Với Tố Hữu, chúng tôi chủ yếu sử dụng cuốn Tố Hữu – Thơ – NXB Giáo Dục – 1999 (Kết hợp sử dụng cuốn Tố Hữu – về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo Dục – 1999)

Với Huy Cận, chúng tôi chủ yếu sử dụng cuốn Thơ Huy Cận – NXB Hội Nhà văn Hà Nội – 2001

(Kết hợp sử dụng cuốn Huy Cận – về tác giả và tác phẩm – NXB Giáo Dục – 2000)

• Về phương pháp nghiên cứu:

Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học ứng dụng mang nhiều yếu tố không đơn giản trong quá trình thực hiện

Chúng tôi sẽ phối hợp sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu sau đây để triển khai đề tài:

1 Phương pháp phân loại

Cách phân loại với những căn cứ cụ thể sẽ được sử dụng thích hợp tùy theo tình hình thực tế của đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Ví dụ: Đối với tỷ dụ, có thể phân loại theo cấu trúc và lấy mô hình dưới đây làm cơ sở:

Ví dụ: Biển cho ta cá như lòng mẹ

AnxBm

Nuôi lớn đời ta tự thuở nào

A = cái được so sánh (Biển)

n = cơ sở so sánh (cho ta cá)

x = từ so sánh (như)

B = cái so sánh (lòng mẹ)

m = phần khai triển (Nuôi lớn đời ta tự thuở nào) Từ mô hình cơ sở trên ta có:

AnxB(…)

Ví dụ: (Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân) (Tố Hữu)

A = cái được so sánh (Lòng ta)

n = cơ sở so sánh (vẫn vững)

Trang 13

m = (…)

Ví dụ: Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng

Hồn tôi vang tiếng vọng cả hai miền

(Tế Hanh)

Nếu viết theo trình tự thuận AnxBm thì sẽ biểu đạt như sau:

Hồn tôi vang tiếng vọng cả hai miền Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng ………

2 Phương pháp phân tích

Đây là việc làm quan trọng nhất và khó khăn nhất… Về thực chất, luận văn đi theo hướng tìm hiểu cấu trúc, ngữ nghĩa của hiện tượng (ở đây là hiện tượng chuyển nghĩa trong ngôn ngữ thơ của một tác giả) Sự phân tích mặt cấu trúc của hiện tượng chuyển nghĩa ở luận văn này được đặt trong cấu trúc của ngôn ngữ thơ Sự phân tích nội dung ngữ nghĩa ở đây chính là sự giải mã nghệ thuật để tìm ra nghĩa bóng trong tầng nghĩa thứ hai, tầng nghĩa hàm ẩn – của hình tượng thơ

Trở lại vần thơ của Tế Hanh:

Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng cả hai miền

Vần thơ ấy có cấu trúc đảo: xBm/An

Song do áp lực của thể thơ 8 tiếng và yêu cầu thể hiện ở đây vế xB chiếm toàn bộ dòng thơ trên, còn về A chiếm toàn bộ dòng thơ dưới Hơn thế, giữa xB và A còn tồn tại một sự liên kết đặc biệt tạo nên bởi phép đối thanh khá chặt chẽ giữa các âm tiết – đặc biệt các âm tiết ở vị trí ngừng giọng – trong hai dòng thơ:

Trang 14

xBm như chiếc đảo / bốn bề / chao mặt sóng//

Còn về mặt ngữ nghĩa, hai dòng thơ đó khẳng định dấu hiệu tương đồng nghĩa chiếc đảo giữa trùng dương muôn trùng sóng vỗ, không phân biệt Nam Bắc Đông Tây, với tâm hồn nhà thơ không phân biệt miền Nam, miền Bắc, giữa lòng Tổ quốc

Dấu hiệu tương đồng này khiến cho chiếc đảo và hồn tôi – hai đối tượng vốn rất xa nhau – bỗng xích lại gần nhau và soi tỏ cho nhau

Nét nghĩa bóng hàm ẩn đó được suy ra toát lên được từ ngữ, âm thanh, giọng điệu của lời thơ

Nét nghĩa bóng hàm ẩn ấy càng được khẳng định hơn nếu ta đặt sự biểu hiện thơ này trong bối cảnh của nền thơ ca chống Mỹ cứu nước, trong đó, tình cảm lòng ta không giới tuyến (Tố Hữu) được thể hiện như một nét nổi bật

Như vậy là, để phân tích nghĩa bóng trong tác phẩm thơ, chúng tôi một mặt phải quan sát, theo dõi thật kỹ văn bản thơ, đồng thời, trong những trường hợp cần thiết và có thể, thực hiện những liên tưởng ở ngoài văn bản Những liên tưởng đó thường nằm trong lĩnh vực các liên tưởng ngữ văn, văn hóa, tâm lý, xã hội…

Trang 15

3 Phương pháp so sánh

Đề tài của luận văn đòi hỏi phải sử dụng phương pháp so sánh Vấn đề là chúng tôi cố gắng giới hạn nội dung so sánh ở những hiện tượng chuyển nghĩa được nghiên cứu với mục đích phát hiện những nét giống nhau và những nét khác nhau giữa Tố Hữu và Huy Cận Chúng tôi cố gắng thực hiện sự so sánh trên cơ sở đối chiếu 1 đối 1 (ví dụ, tỷ dụ của Tố Hữu với tỷ dụ của Huy Cận) Sau đó, mới thực hiện sự so sánh khái quát mang tính phong cách giữa hai tác giả Như đã trình bày ở phần phạm vi nghiên cứu sự so sánh hiện tượng chuyển nghĩa giữa Tố Hữu và Huy Cận chỉ mới dừng

ở một số nhận xét nhỏ bước đầu

V Đóng góp của luận văn

Qua bước đầu tập dượt nghiên cứu, người viết luận văn mong mỏi được góp một vài suy nghĩ như sau:

– Giới thiệu một cách hiểu sáng rõ và dễ vận dụng đối với những đặc trưng của ngôn ngữ thơ

– Bằng những cứ liệu thực tế, bổ sung một phần rất nhỏ trong cách hiểu có tính lý thuyết về một số hiện tượng chuyển nghĩa

– Qua việc nêu ra một số đặc trưng mang tính quy luật của các hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng trong thơ Tố Hữu, luận văn góp phần xác định những nét riêng trong cách biểu hiện nghệ thuật của ông, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà giáo và học sinh học tập và giảng dạy về ngôn ngữ thơ Tố Hữu nói riêng và ngôn ngữ thơ nói chung

VI Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm ba chương

Chương một: Thơ và hiện tượng chuyển nghĩa trong thơ

A- Đặc trưng của ngôn ngữ thơ

B- Các hiện tượng chuyển nghĩa thường gặp trong thơ

Chương hai: Hiện tượng chuyển nghĩa trong thơ Tố Hữu

A- Tổng quan về ngôn ngữ thơ Tố Hữu

B- Hai hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng trong thơ Tố Hữu (tỷ dụ và ẩn dụ)

Trang 16

Chương ba: Khái quát những đặc điểm của hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng trong thơ Tố Hữu (so sánh với đồng hiện tượng trong thơ Huy Cận).

A- Những đặc điểm nổi bật của hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng trong thơ Tố Hữu

B- So sánh hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng trong thơ Tố Hữu với đồng hiện tượng trong thơ Huy Cận

Trang 17

CHƯƠNG MỘT

THƠ VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG THƠ

A- ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN NGỮ THƠ

Đã có nhiều công trình viết về ngôn ngữ thơ

Chỉ kể tới những công trình nghiên cứu về thơ của các tác giả trong nước, bản thống kê cũng rất dài Trước khi các nhà ngôn ngữ học đi sâu vào ngôn ngữ thơ thì đã có không ít nhà nghiên cứu văn học, mỹ học và nhà thơ viết về thơ

Vấn đề thực phong phú và phức tạp Ở luận văn này, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các người đi trước, chúng tôi xin được trình bày một cách giản lược, dễ hiểu và dễ thực hành về những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ qua hai tiểu mục:

– Chức năng và đặc trưng của ngôn ngữ văn chương

– Đặc trưng của ngôn ngữ thơ

I Chức năng và đặc trưng của ngôn ngữ văn chương

Ngôn ngữ văn chương là một trong những phong cách ngôn ngư.õ Phong cách chức năng ngôn ngữ này có sự đối lập rõ rệt với phong cách ngôn ngữ khoa học Các nhà nghiên cứu thường gọi sự đối lập này là sự đối lập hai cực của phong cách ngôn ngữ văn hóa So sánh:

PC ngôn ngữ khoa học PC ngôn ngữ văn chương

Được biểu đạt theo nguyên lý của

tư duy logic

Được biểu hiện theo nguyên lý của tư duy hình tượng

Ngôn ngữ văn chương bao gồm 2 kiểu:

– Ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật

– Ngôn ngữ thơ

Trang 18

Cũng giống như văn xuôi nghệ thuật, ngôn ngữ thơ mang chức năng và đặc trưng chung của ngôn ngữ văn chương

1 Về mặt chức năng

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đề cập tới ba chức năng được thực hiện đồng thời của ngôn ngữ văn chương Đó là: chức năng thông báo, chức năng tác động và chức năng thẩm mỹ Cách hiểu đó vừa thể hiện trong nhiều nhà nghiên cứu về phong cách học ở nước ta

Các tác phẩm nghệ thuật nói chung và tác phẩm văn chương nói riêng tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của con người Tác động này có thể tích cực cũng có thể tiêu cực Hơn ở nơi nào hết, tác phẩm văn chương đồng thời thực hiện chức năng tác động và thẩm mỹ, thậm chí có thể hòa quyện trong một chức năng phức hợp tác động - thẩm mỹ Còn chức năng thông báo, dường như chỉ là chức năng phụ hay là một hệ quả bởi vì mã ở trong ngôn ngữ văn chương không còn là mã ngôn ngữ thông thường

Chúng tôi nghĩ rằng cách hiểu như vậy, sẽ phù hợp với ngôn ngữ văn

chương nói chung và ngôn ngữ thơ Tố Hữu nói riêng

Trang 19

2 Về mặt đặc trưng

Về đặc trưng của ngôn ngữ văn chương (PPGS Đinh Trọng Lạc gọi là ngôn ngữ nghệ thuật), hai cuốn sách phong cách học được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay ( ) 1 đưa ra hai con số khác nhau

Thử so sánh

Đinh Trọng Lạc

(chủ biên) Cù Đình Tú

1 Tính hình tượng

2 Tính hệ thống

3 Tính cá thể hóa

4 Tính cụ thể hóa

1 NNVC có chức năng thẩm mỹ

2 NNVC sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ của các phong cách

3 NNVC mang dấu ấn của phong cách tác giả

Rõ ràng ở hai tác giả có hai cách nhìn nhận và làm việc khác nhau Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ, phương pháp dễ thực hiện nhất có lẽ là nhìn nhận những đặc trưng của ngôn ngữ văn chương trong thế đối lập với

những đặc trưng của ngôn ngữ khoa học

Trong cuốn Tiếng Việt thực hành, Tủ sách Đại học tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 1995, GSTS Nguyễn Đức Dân đã chỉ ra những đặc trưng sau đây của phong cách ngôn ngữ khoa học ( ) 2

– Có tính logic nhất quán chặt chẽ

– Có tính chính xác khách quan rõ ràng tường minh (hầu như không có hàm ngôn) không mơ hồ

– Có tính ngắn gọn, không chứa đựng những thông tin dư hoặc nhiễu

Đó là những đặc trưng hết sức cơ bản của ngôn ngữ khoa học

Tiếp thu ý kiến của GSTS Nguyễn Đức Dân, chúng tôi xin được trình bày thế đối lập về mặt đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học và phong cách ngôn ngữ văn chương như sau:

( ) 1 ĐTL, 1993, 139 – 159

CĐT, 2001, 113 – 124

(2) NĐD, 1995, 176 – 177

Trang 20

Ngôn ngữ khoa học Ngôn ngữ văn chương

Tính nhất quán, chặt chẽ trong

biểu đạt logic

Tính chính xác, tường minh,

không hàm ngôn, không mơ hồ

Tính súc tích, ngắn gọn, không

đòi hỏi cá tính sáng tạo riêng

Tính hấp dẫn, xúc động trong biểu hiện nghệ thuật

Tính hình tượng, hàm ẩn có thể mang nghĩa mờ

Tính súc tích trau chuốt đặc biệt mang cá tính sáng tạo riêng

II Đặc trưng của ngôn ngữ thơ

Ở bên trên, chúng tôi nhìn nhận đặc trưng của ngôn ngữ văn chương trong thế đối lập với đặc trưng của ngôn ngữ khoa học

Ở phần này, chúng tôi sẽ nhìn nhận những đặc trưng của ngôn ngữ thơ trong thế đối lập với ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật

Theo cách làm việc ấy, có thể đưa 3 đặc trưng cơ bản như sau của ngôn ngữ thơ (chủ yếu là thơ trữ tình):

1 Tính đặc thù về nhạc điệu và kết cấu của tiếng thơ

2 Tính cao cả và đẹp đẽ của hình tượng trữ tình trong giọng thơ riêng

3 Tính phổ biến của các hiện tượng chuyển nghĩa ( ) 3

1 Tính đặc thù về nhạc điệu và kết cấu của tiếng thơ

a- Tính đặc thù về nhạc điệu

Đây là một nét nổi bật cần thuyết minh kỹ trong mã nghệ thuật có tác dụng chi phối nhiều mặt của ngôn ngữ thơ Cấu trúc của hiện tượng

chuyển nghĩa trong thơ cũng chịu ảnh hưởng của nhạc điệu thơ Khai thác

( ) 3 3 đặc trưng mà chúng tôi nêu lên có nhiều phần, được gợi ý từ cách hiểu của TS Đỗ Thị Bích Lài trong công trình khoa học mang tên Ngữ Pháp – Ngữ nghĩa tiếng Việt qua văn bản thơ – Trường Đại học tổng hợp Tp Hồ Chí Minh – 1996

Ở trang 2 của công trình trên, tác giả viết:

Đứng từ góc độ ngôn ngữ, phương thức phản ánh hiện thực của thơ được biểu hiện chủ yếu qua những đặc điểm sau:

Tính đặc thù về vần, nhịp điệu và kết cấu

Tính hàm súc, ngắn gọn biểu hiện phong cách thể loại

Hiện tượng chuyển nghĩa cho từ khá phổ biến

Trang 21

mặt âm thanh của ngôn ngữ để xây dựng hình tượng văn chương thì cả văn xuôi nghệ thuật lẫn thơ đều tận dụng

Song mặt âm thanh trong ngôn ngữ thơ có tầm quan trọng đặc biệt khiến cho thơ khác với văn xuôi

Không phải ngẫu nhiên mà người ta quen gọi là tiếng thơ (mà không gọi tiếng văn)

Trong các cách hiểu về thơ, người ta thường tô đậm mặt âm thanh riêng biệt của nó

Ở nước ta, Sóng Hồng hai lần nhấn mạnh vị trí âm thanh trong ngôn ngữ thơ

Lần thứ nhất, trong một định nghĩa bằng văn xuôi:

“Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường.”

Và lần thứ hai, bằng thơ, trong bài thơ mang tên “Nói chuyện về thơ với một nhà thơ trẻ”

“Vần hay không tôi vẫn cho là thứ yếu,

Nhưng vắng âm thanh réo rắt, đố thành thơ”

“Âm thanh réo rắt” hay “nhạc điệu khác thường”đó là đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ

Vai trò của mặt tổ chức âm thanh trong ngôn ngữ thơ quan trọng tới mức hầu như các vấn đề của luật thơ đều tập trung vào thanh luật và vận

luật.Nhưng “nhạc điệu khác thường”này bao gồm những yếu tố gì?

Trang 22

b- Các yếu tố tạo nên nhạc điệu thơ

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều các hiểu, chúng tôi xin được dựa vào cách hiểu mang tính sư phạm của sách giáo khoa về tiếng Việt ở bậc phổ thông trung học

Ở đây, các tác giả khẳng định nhạc điệu của thơ tiếng Việt bao gồm hai loại yếu tố: tiết tấu và vần

Trong hai loại trên, tiết tấu là yếu tố không thể thiếu, còn vần có thể vắng mặt trong thơ tự do ở một số trường hợp Tiết tấu là sự lắp lại liên tục đều đặn các hiện tượng tương tự trên các dòng thơ, theo những quy luật phối thanh nhất định ( ) 4 Để nắm được tiết tấu thơ Việt, cần tìm hiểu kỹ về dòng thơ với số tiếng và số dòng, sự ngắt nhịp và sự phối thanh Dòng thơ là đơn

vị cơ bản của văn bản thơ (trong khi câu là đơn vị cơ bản của văn bản văn xuôi) Có bài thơ được tạo thành từ sự liên kết các dòng thơ, có bài thơ được tạo thành từ sự liên kết các khổ thơ (khổ thơ thường 4 dòng, nhưng không nhất thiết phải như vậy) Số dòng có thể được quy định sẵn (thơ tứ tuyệt, thơ bát cú … ), số dòng cũng có thể rất tự do (thơ tự do, thơ văn xuôi

…) Số tiếng (âm tiết) của dòng thơ được gọi là lượng thơ Lượng thơ được quy định sẵn trong thơ cách luật ở dạng chính thể (ngũ ngôn, thất ngôn….); lượng thơ không cần quy định sẵn trong thơ không cách luật Sự rút ngắn hoặc kéo dài lượng thơ một cách đặc biệt thường có giá trị biểu đạt nhất định Sự ngắt nhịp các dòng thơ tạo nên nhịp thơ ( ) 5 (gần với khái niệm bước thơ)

Trong luật thơ không có sự quy định nghiêm ngặt về cách phân nhịp thơ Song nhìn chung, trong thơ cách luật, thường gặp những nhịp chẵn (hình thức cơ bản là hai âm tiết) những nhịp lẻ (hình thức cơ bản là ba âm tiết) và sự phối hợp giữa hai loại nhịp cơ bản ấy Số lượng nhịp và chất lượng nhịp – bình thường hay đặc biệt – sẽ tạo nên những cảm xúc thẩm mỹ khác nhau

Sự phối thanh giữa các âm tiết trong các dòng thơ sẽ tạo nên âm điệu thơ

( ) 4 ĐTL- LXT, 1994, 173

( ) 5 PGS Đinh Trọng Lạc phân biệt bước thơ với nhịp thơ: “Bước là cái ổn định của mô hình thơ, còn nhịp là sáng tạo trong diễn xuất dựa trên mô hình, đó là cái biến hóa dựa trên cái ổn định” ĐTL, 1993, 175

Trang 23

Trong thơ Việt, sự phối thanh được thực hiện qua sự luân phiên giữa các thanh bằng (ngang, huyền) và thanh trắc (ngã, hỏi, sắc, nặng); giữa các thanh cao (ngang, ngã, sắc) và thanh thấp (huyền, hỏi, nặng)

Quy tắc phối thanh trong tiết tấu chi phối thường xuyên và rộng khắp ở các mức độ khác nhau, trong tất cả các loại thơ tiếng Việt

Thơ tiếng Việt thuộc loại hình thơ thanh điệu Âm điệu hài hòa hay không hài hòa có dụng ý sẽ mang giá trị biểu đạt nghệ thuật tương ứng

Vần không phải là yếu tố nhất thiết phải có trong thơ tự do và thơ văn xuôi Song vần là yếu tố quan trọng để liên kết các dòng thơ, tạo ra sự hòa âm, sự cộng hưởng trong tiếng thơ

Vần cũng giúp cho thơ dễ nhớ, dễ thuộc Căn cứ vào thanh điệu, người

ta chia ra vần bằng và vần trắc Căn cứ vào mức độ trùng hợp của các yếu tố trong khuôn vần, người ta chia ra vần chính và vần thông Căn cứ vào vị trí gieo vần, người ta chia ra vần lưng và vần chân

Về vần chân trong những khổ thơ 4 dòng, thường gặp các hình thức:

AABA (vần tứ tuyệt)

AABB (vần liền từng cặp)

ABAB (vần gián cách)

ABBA (vần ôm)

Số lượng và chất lượng của vần có giá trị biểu hiện cần khai thác

Trong thơ hiện đại, thường xuyên bắt gặp cách gieo vần không chính thức trong nội bộ một dòng thơ ( ) 6

c- Tính đặc thù về kết cấu

Cũng như văn xuôi nghệ thuật, thơ có kết cấu cân đối, chặt chẽ, súc tích Song cân đối, chặt chẽ, súc tích đến mức “không thêm không

( ) 6 NNT, 1989 , 78 – 80.

Trang 24

bớt”một từ, thì chỉ có ngôn ngữ thơ mới được tính đặc thù về phương diện kết cấu nói trên

Để đạt được tính cân đối, chặt chẽ, súc tích đặc biệt ấy, kết cấu thơ phải sử dụng nhiều biện pháp, trong đó nổi bật và thường xuyên là phép điệp và phép song hành

Hai biện pháp này có mặt trong hầu hết văn bản thơ cách luật và không cách luật

Phép điệp và phép song hành góp phần tạo nên nhạc điệu của thơ Chính

vì vậy mà khi phân tích tiết tấu thơ, các tác giả đã xem Điệp và Đối là những yếu tố nằm trong tiết tấu ( ) 7

Đặc biệt phép điệp và phép song hành góp phần tích cực vào việc khắc sâu ấn tượng và tạo nên hiện tượng thêm nghĩa trong thơ Thành phần được gọi là “ý tại ngôn ngoại”của thơ, phần lớn được toát lên từ phép điệp và phép song hành

• Phép điệp

Điệp trong thơ là hiện tượng lặp lại mang tính nghệ thuật các yếu tố đồng nhất trong thi phẩm

Căn cứ vào yếu tố của hiện tượng điệp, người ta chia ra: điệp âm,

điệp thanh, điệp từ, điệp ngữ, điệp dòng, điệp đoạn, điệp cấu trúc

Căn cứ vào vị trí của hiện tượng điệp, người ta chia ra: điệp dính

liền (kế tiếp), điệp cách quãng, điệp hỗn hợp

• Phép song hành

Song hành là hiện tượng bố trí sóng đôi dựa trên sự cấu tạo giống nhau giữa hai hay nhiều dòng hoặc hai hay nhiều bộ phận của dòng thơ

Song hành thường được thực hiện trên hai dòng thơ, song không nhất thiết Có thể tồn tại hiện tượng song hành trên một dòng thơ, trên nhiều dòng thơ, hoặc trên các khổ, các phần của bài thơ

Hiện tượng song hành chặt chẽ và tiêu biểu nhất trong thơ cách luật là Đối ngẫu

Ở đối ngẫu người ta đặt bên nhau hai vế sóng đôi, căn bằng về số tiếng, đối lập về bằng trắc và tương tự về cú pháp

(7) ĐTL, 1993, 173 – 176

Trang 25

Ngày nay, đối ngẫu vẫn tồn tại nhưng không nhiều Phần lớn phép song hành được thực hiện thoáng hơn, linh hoạt hơn, không câu nệ lắm về bằng trắc, về số tiếng, số dòng, song ấn tượng song hành (tương phản, hòa hợp, hô ứng ….) vẫn được duy trì trong tất cả các loại thơ kể cả thơ văn xuôi

2 Tính cao cả và đẹp đẽ của hình tượng trữ tình trong giọng điệu thơ riêng

Cũng giống như trong văn xuôi nghệ thuật, trong thơ trữ tình ta bắt gặp những hình tượng nghệ thuật xúc động qua tính sáng tạo riêng của người sáng tác

Song khác với văn xuôi nghệ thuật, trong thơ trữ tình chúng ta thường

xuyên đón nhận những cảm xúc đắm say cao cả và đẹp đẽ của nhân vật trữ tình (trong khi ở văn xuôi nghệ thuật, ta có thể bắt gặp cuộc đời của đủ loại nhân vật (chính và phụ; chính diện và phản diện … )

Trong cuốn Thơ và Thẩm bình thơ, PGS Nguyễn Nguyên Trứ viết: “Như tất cả những dẫn chứng đã kể ra trong thơ trữ tình, chúng ta chủ yếu bắt gặp những hình tượng đẹp đẽ, trong sáng, cao cả trong đau thương, mong nhớ, trong tình yêu, khát vọng, đợi chờ… Nói theo thuật ngữ chuyên môn, trong thơ trữ tình chúng ta thường xuyên đón nhận những hình tượng được xây dựng trực tiếp từ những tình cảm khẳng định”( ) 8

Trong thơ trữ tình, những yếu tố cảm xúc giữ vai trò chủ đạo Các tâm trạng ở đây mang đầy xúc cảm và những suy tư của khối óc như được

chuyển thành những rung động của trái tim (Các nhà nghiên cứu về thơ gọi đó là hiện tượng trí tuệ cảm xúc hóa)

Tác phẩm văn chương nào cũng phản ánh hiện thực qua hình tượng nghệ thuật của mình

Trong thơ trữ tình, hiện thực khách quan của cuộc sống nhiều khi được phản ánh gián tiếp thông qua thế giới nội tâm với những hiện tượng nhiều mặt về văn hóa và cuộc sống của nhân vật trữ tình

Nhân vật trữ tình thường là chính nhà thơ Nhưng cũng có thể là nhân vật mà tác giả đã hóa thân trong đó

3 Tính phổ biến của các hiện tượng chuyển nghĩa

So với văn xuôi nghệ thuật, các hiện tượng chuyển nghĩa trong thơ xuất hiện với tần số cao hơn và có vị trí đặc biệt hơn trong sáng tạo hình tượng

(8) NNT, 1991, 22

Trang 26

Đây là vấn đề trọng tâm mà chúng tôi dành cả phần B của chương một để trình bày

B- HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG THƠ

I Khái niệm về hiện tượng chuyển nghĩa

Chuyển nghĩa là một khái niệm rộng và phức tạp Các nhà nghiên cứu có những cách giải thích riêng

Đào Duy Anh xem chuyển nghĩa là từ thuộc văn chương và giải thích rất ngắn gọn:

Chuyển nghĩa (văn) theo nghĩa nguyên mà dùøng sang nghĩa khác

PGS Lê Đức Trọng, đặt chuyển nghĩa trong hệ thống thuật ngữ ngôn ngữ học và giải thích:

CHUYỂN NGHĨA (biến nghĩa)/ hiện tượng, phép, sự Sự chuyển đổi tên gọi các sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc tính khác nhau nhưng liên quan với nhau về phương diện nào đó trong phạm vi một từ đa nghĩa Có ba phương thức chuyển nghĩa cơ bản: ẩn dụ, hoán dụ, cải dung (x các mục từ tương ứng) ( ) 9

Để hiểu rõ thêm ý tưởng của PGS Lê Đức Trọng, chúng tôi xin dẫn thêm ở đây sự giải thích về ẩn dụ, một trong ba phương thức chuyển nghĩa cơ bản

ẨN DỤ

Phương thức biến nghĩa của từ đa nghĩa dựa vào sự giống nhau (hoặc tương đồng) về mặt nào đó của hai sự vật, tính chất, hành động; so sánh, hoán dụ, cải dung – “ổ gà – ổ cướp, nhẫn vàng – bàn tay vàng, chim bay – tên bay”

Phép tu từ bao hàm việc mô tả sự vật, hiện tượng nào đó qua việc so sánh kín đáo, bóng bẩy với sự vật, hiện tượng khác, làm cho lời văn tăng sức gợi cảm – “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

LĐT, 1993, 57

Trang 27

PGS Đinh Trọng Lạc không dùng thuật ngữ chuyển nghĩa mà đặt các tiểu loại của hiện tượng chuyển nghĩa tiêu biểu là ẩn dụ và hoán dụ trong

nhóm các phương tiện tu từ ngữ nghĩa và xác định vị trí của chúng trong lược đồ các phương tiện tu từ ngữ nghĩa như sau:

PHƯƠNG TIỆN TU TỪ NGỮ NGHĨA

(Chúng tôi thêm các ô chấm xen vào các ô đặc các hiện tượng chuyển nghĩa)

Để hiểu rõ thêm ý tưởng của PGS Đinh Trọng Lạc xin dẫn thêm ở đây sự giải thích về ẩn dụ của tác giả

Ẩn dụ bổ sung Ẩn dụ tượng trưng Cải danh Nhân hóa Vật hóa Phúng dụ Hình dung ngữ

Cải dung Uyển ngữ Nhã ngữ Tượng trưng Dẫn ngữ Tập kiều

Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A, ví dụ:

Giá đành trong nguyệt trên mây, Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa!

(Truyện Kiều)

Hoa (B) mang ý nghĩa ẩn dụ, chỉ người phụ nữ có nhan sắc Tiếp theo phần khái niệm (được ký hiệu là O) tác giả trình bày sang phần đặc điểm cấu trúc – nghĩa (được ký hiệu là ) với ba loại:

Ẩn dụ định danh (ví dụ: đầu làng, chân trời, tay ghế, cổ lọ, má phanh….)

Trang 28

Ẩn dụ nhận thức (ví dụ: tâm hồn giá lạnh, tuổi xuân mơn mởn, dòng sông hiền hoà, tấm gương vằng vặc ….)

Ẩn dụ hình tượng

(ví dụ:

Nàng rằng khoảng vắng đêm trường,

Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa)

Như vậy là, khi giải thích hiện tượng chuyển nghĩa nói chung (như PGS Lê Đức Trọng) hoặc giải thích hiện tượng chuyển nghĩa ẩn dụ nói riêng (như PGS Đinh Trọng Lạc), cả hai tác giả đều quan niệm khái niệm chuyển nghĩa rất rộng bao gồm những từ được ghi trong từ điển như ổâ cướp, tên bay (ví dụ của PGS Lê Đức Trọng) hoặc đầu làng, chân trời… (ví dụ của PGS Đinh Trọng Lạc) và những từ lâm thời chuyển nghĩa trong văn bản Xuất phát từ tính chất và yêu cầu của đề tài được xác định của luận văn, chúng tôi xin được phân biệt rõ ràng hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: những từ trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ được hình thành từ con đường chuyển nghĩa Đó là những từ định danh trực tiếp hiện tượng, sự vật, tính chất, hoạt động Những từ này thường được gọi một cách không thỏa đáng là ẩn dụ từ vựng, ẩn dụ định danh, ẩn dụ cố định… Số lượng những từ này được ghi rất nhiều trong từ điển Chẳng hạn, ở chữ cái B, trong cuốn từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm

1994, chúng ta có thể gặp gần 50 đơn vị như: Ba bị (tồi tàn) Ba bị (lăng nhăng) Bà cô (người đàn bà khó tính) Bà già (mẹ, má) Bán mạng (bất kể sống chết) Bạt mạng (liều lĩnh) Bạt tử (như bạt mạng) Bay (cãi bay đi) Bắt tội (hành hạ) Bần cùng (Bí, bí thế) v…v…

Trường hợp thứ hai, đó là những từ đước lâm thời chuyển nghĩa trong lời nói Nghĩa ở đây là nghĩa bóng có được trong ngữ cảnh Nghĩa bóng này chồng lên cách định danh trực tiếp đã có của hiện tượng, sự vật, tính chất, hoạt động

Xin trở lại ví dụ của PGS Lê Đức Trọng:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ở hai dòng thơ vừa dẫn, có hai từ mặt trời

Từ mặt trời 1 ơ ûdòng thơ trên mang nghĩa vốn có trong từ điển

Trang 29

Từ mặt trời 2 ở dòng thơ dưới được hiểu theo nghĩa bóng

Ở dòng thơ trên, nói mặt trời, ta hiểu là vầng dương Đó là chuyện đương nhiên

Ở dòng thơ dưới, nói mặt trời, ta lại hiểu là Bác Hồ

Dùng A để nói B Thế mà nói chung ai cũng hiểu, không có sự nhầm lẫn Hiện tượng chuyển nghĩa mà chúng tôi tìm hiểu trong luận văn thuộc vào trường hợp thứ hai và xin được định nghĩa như sau:

Chuyển nghĩa là hiện tượng tu từ, ở đấy trong ngữ cảnh, nghĩa đen của từ ngữ được lâm thời chuyển sang nghĩa bóng

Để chỉ đối tượng nghiên cứu này, hiện nay có nhiều tên gọi: sự chuyển nghĩa, phép chuyển nghĩa, biện pháp chuyển nghĩa, cách chuyển nghĩa, phương thức chuyển nghĩa, hiện tượng chuyển nghĩa

Chúng tôi xin được gọi là hiện tượng chuyển nghĩa Thông qua việc sử dụng các hiện tượng chuyển nghĩa, những phương tiện biểu đạt chính, hữu hạn của ngôn ngữ bỗng trở thành vô hạn Các hiện tượng chuyển nghĩa có

cơ sở trên những quy luật tâm lý và được thực hiện trong một ngôn ngữ nhất định của một dân tộc với bản sắc văn hóa nhất định Quy luật tâm lý mà hiện tượng chuyển nghĩa dựa vào là các hoạt động liên tưởng tương đồng và liên tưởng tương cận Ở đây, có một vấn đề chúng tôi xin được mạnh dạn nêu lên:

Trong bài báo Viết nhịu (Lapsus calami) (kỳ thứ 18) đăng trên tạp chí

“Ngôn ngữ và đời sống”, Sái Phu đã nêu ra nhiều nhận xét xác đáng về cách đặt tên và giải thích một số thuật ngữ của một số tác giả

Bài viết (kỳ thứ 18) viết:

“Sau Roman Jakobson, giới ngôn ngữ học hiện đại thường coi hai biện pháp ẩn dụ và hoán dụ như một cặp đối lập tiêu biểu cho toàn bộ hệ thống ngôn ngữ (với sự đối lập giữa trục đối vị và trục kết hợp, giữa ngôn ngữ thi

ca và ngôn ngữ thường nhật v.v….) cho nên có thể trình bày hai biện pháp

tu từ này thành một cặp: làm như vậy rất có lợi cho việc rút gọn cách hành văn”( ) 10

Chúng tôi cũng nghĩ như tác giả bài báo là nên trình bày Aån dụ và hoán dụ thành một cặp Nhưng đó là một cặp tạo nên bởi sự khác nhau của hoạt động liên tưởng : liên tưởng tương đồng / liên tưởng tương cận chứ không phải là sự đối lập giữa hai trục: Trục đối vị (trong vốn ngôn ngữ) và trục kết hợp (trên dòng lời nói) Thuộc về trục kết hợp là các hiện tượng điệp,

(10) Sái Phu – Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống – số 12 (74) 2001, tr 31

Trang 30

đối, Thuộc trục đối vị là các hiện tượng ẩn dụ, hoán dụ… Trong trường hợp này, mấy chữ cơ sở quan hệ tiếp cận, đúng như Sái Phu nhận định là hơi khó hiểu và dễ gây ngộ nhận ( ) 11 Vì vậy, xin được dùng là liên tưởng tương cận ( ) 12

Bản sắc văn hóa dân tộc trong tâm linh của con người sẽ giúp người tiếp nhận nhanh chóng hiểu đúng và sâu của những gì ẩn chứa trong tầng nghĩa bóng

Như vậy là mặc dù được hiểu theo nghĩa bóng, các hiện tượng chuyển nghĩa không hề khó hiểu đối với người bản ngữ, nếu người sử dụng biết thể hiện đúng bản sắc văn hóa của dân tộc

Dùng A để nói B, hiện tượng chuyển nghĩa về bản chất, khác với hiện tưởng trong câu mơ hồ Theo GSTS Nguyễn Đức Dân, câu mơ hồ là

“những câu có thể hiểu như thế nào cũng được”

Cũng theo GSTS Nguyễn Đức Dân, các phép hoán dụ, phúng dụ, ẩn dụ, nhân hóa, so sánh tu từ là những cách nói tu từ Chúng được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng Đó là những câu hay Quan hệ liên tưởng được hình thành theo 3 cơ chế:

* Cơ chế thứ nhất: có những nét trùng nhau

Xét các câu:

Ngủ quách, sự đời thây kẻ thức

Ông đã ngủ một giấc 30 năm Khi đất nước hoàn toàn giải phóng mới bừng

(11) Báo đã dẫn – tr 31

(12) Liên tưởng (trong tâm lý) có nhiều loại: tương đồng, tương cận, tương hợp, tương phản, tương liên …

Trang 31

b) [+ bất động] c) [+ tạm mất ý thức; không nhận thức được thế NGỦ = giới xung quanh]

Trang 32

* Cơ chế thứ hai: Có hệ quả lô gích giống nhau

Xét các câu:

Tôi mù thật, nhưng tôi nhìn thấy rõ cái bụng dạ bà rồi

(BB, II, 175)

Đôi mắt cô nói thế Đôi mắt đó không nhìn tôi Chúng nhìn vào những

tháng năm đã trở nên xa vời

(BMY, 44)

Trong hai câu trên, từ nhìn được dùng theo cơ chế liên tưởng sau:

Người nhìn đối tượng A Hệ quả lô gích là: Người nhận thức được A, chí ít

cũng về hình thức

Nếu X nhận thức được A

thì liên tưởng: X đã nhìn A

* Cơ chế thứ ba: Sự tương tự giữa hai thuộc tính

Ví dụ:

Phố chạy tới đây có vẻ như đã đuối sức

(MLR,3)

Sự liên tưởng về từ chạy và từ đuối sức như sau:

Người chạy - có chiều dài

Phố - có chiều dài

Liên tưởng - Phố chạy (theo cơ chế II)

Người chạy thì: có hiện tượng giảm dần sức lực, (đuối sức)

chuyển từ nhanh sang chậm

Phố chạy thì: từ sầm uất ở trung tâm chuyển sang thưa thớt

ở cuối phố

Do đó sự đối lập của cặp nhanh – chậm tương tự như sự đối lập của cặp sầm uất – thưa thớt Vậy có thể liên tưởng: “Phố đã đuối sức”.(13) Trong hiện tượng chuyển nghĩa, có thể xảy ra hiện tượng nghĩa mờ (nghĩa

mơ hồ nghệ thuật)

Ví dụ:

Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay

Dòng thơ trong truyện Kiều trên đây có hiện tượng nghĩa mờ:

( 13 ) NĐD- TTNL, 1993, 75 81

Trang 33

Bốn dây nhỏ máu hay năm đầu ngón tay nhỏ máu? Đó là câu hỏi mang tính chất logic hình thức Còn trong giao tiếp nghệ thuật người đọc đón nhận ở đây một nghĩa ẩn dụ biểu hiện nỗi đau đớn tột cùng!

Tiếng đàn ở đây là tiếng lòng Tơ đàn ở đây là tơ lòng

Và việc nhỏ máu ở đây là bốn dây hay là năm ngón tay không còn là vấn đề quan trọng nữa Hiện tượng mơ hồ nghệ thuật mang nét nghĩa mờ này rất hay gặp trong ngôn ngữ thơ

Sau nữa, cũng cần phân biệt hiện tượng chuyển nghĩa với hiện tượng nghĩa chuyển (nghĩa phát sinh)

Nghĩa chuyển là nghĩa được sinh ra trên cơ sở nghĩa gốc trong một từ nhiều nghĩa

Ví dụ:

Nghĩa của từ thịt trong câu “Bắt gà để thịt”là nghĩa chuyển Còn nghĩa của từ thịt trong thịt lợn là nghĩa gốc ( ) 14

II CÁC HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA THƯỜNG GẶP TRONG THƠ

Số lượng các kiểu hiện tượng chuyển nghĩa cụ thể trong lời nói (lời nói thường nhật và lời văn nghệ thuật) khá nhiều

Ở phần B này, luận văn chỉ xin trình bày một số hiện tượng chuyển nghĩa thường gặp trong thơ

Như bên trên chúng tôi đã trình bày, hiện tượng chuyển nghĩa được thực hiện thông qua hoạt động liên tưởng tương đồng và liên tưởng tương cận trong tâm lý

Tiêu biểu nhất cho hiện tượng chuyển nghĩa cơ sở trên mối liên hệ tương đồng là ẩn dụ

Tiêu biểu nhất cho hiện tượng chuyển nghĩa cơ sở trên mối liên hệ tiếp cận là hoán dụ Về thuật ngữ, chúng tôi nghĩ nhận xét của Sái Phu trong bài báo đã dẫn là rất chính xác Hoàn toàn có thể sử dụng thuật ngữ

cận dụ hoặc lân dụ thay thế cho hoán dụ

(14) ĐTL- LXT, 1994, 41

Trang 34

Chúng tôi cũng được biết, trong các sách Tu từ học tiếng Hán, người ta gọi

hoán dụ là tá đại với các tiểu loại là bàng tá và đối đại (Đại ở đây có

nghĩa là thay) Tuy nhiên, để chúng tôi vẫn xin giữ lại thuật ngữ hoán dụ để người đọc dễ theo dõi (Thuật ngữ cận dụ hoặc lân dụ cũng như thuật ngữ tá đại chưa quen)

I Các hiện tượng chuyển nghĩa cơ sở trên mối liên

tưởng tương đồng

Các hiện tượng chuyển nghĩa thường gặp cơ sở trên mối liên tưởng tương đồng (gọi tắt là hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng) bao gồm các tiểu loại gì?

PGS Đinh Trọng Lạc, đưa ra con số 8:

Ẩn dụ

Ẩn dụ bổ sung

Ẩn dụ tượng trưng

PGS Cù Đình Tú đưa ra con số 4

So sánh tu từ (so sánh hình ảnh)

Đặt cải danh nằm trong phạm trù ẩn dụ

Không đặt so sánh (tu từ) trong nhóm các phương tiện tu từ ngữ nghĩa mà lại đặt trong nhóm các biện pháp tu từ ngữ nghĩa ( ) 16

(2) CĐT, 2001, 174 - 190

(16) ĐTL, 2001, 154 - 158.

Trang 35

Việc đặt riêng ra để trình bày về phạm trù ẩn dụ có lợi ích thiết thực cho việc phân tích ngôn ngữ thơ Những hiện tượng: ẩn dụ bổ sung, vật hóa, hình dung ngữ thường được đề cập tới Riêng khái niệm ẩn dụ tượng trưng có thể được bắt gặp trong nhân hóa và hình dung ngữ và ẩn dụ bổ sung

Nên cân nhắc lại có nên đặt cải danh vào phạm trù ẩn dụ hay không? PGS Đinh Trọng Lạc đã định nghĩa như sau:

“Cải danh là một biến thể của lối nói chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ, trong đó người ta dùng tên riêng thay cho tên chung hoặc dùng tên chung thay cho tên riêng” ( ) 17

Chúng tôi nghĩ: Cặp chung / riêng mang tính chất logic nằm trong phạm trù hoán dụ (liên tưởng tương cận)

Việc đặt hay không đặt so sánh tu từ vào nhóm chuyển nghĩa là vấn đề mang tính chất lý thuyết

Ở so sánh tu từ (tỷ dụ), người ta công khai đối chiếu hai vế: cái được so sánh (A) và cái so sánh (B)

Ví dụ, thành ngữ: Mặt xanh như chàm đổ

vế A vế B Nhưng mặt xanh như chàm đổ không trực tiếp nhận theo nghĩa đen! Không tìm ra được một gương mặt có màu xanh in hệt như màu xanh chàm (nghĩa đen) Ở đây, là một nghĩa bóng: sợ hãi tuyệt đối!

Cũng vậy, câu ca dao:

Qua cầu ngả nón trông cầu, Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu

(17) ĐTL, 2001, 60

Trang 36

Được tiếp nhận theo nghĩa bóng: dạ em sầu vô hạn (chứ không phải nỗi sầu tương ứng tỷ lệ thuận: với số lượng nhịp cầu) Việc xem so sánh tu từ là một hiện tượng chuyển nghĩa đã được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận Sách lý luận văn học do Hà Minh Đức (chủ biên) cũng khẳng định: “Chức năng của các phương thức chuyển nghĩa là làm hiện lên sự vật, hiện tượng trong các tương quan ý nghĩa khác nhau, có khi nghĩa của từ vốn biểu thị đối tượng này (trong từ điển) lại được chuyển sang biểu thị đối tượng khác Thuộc phương thức này có so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, vật hóa, tượng trưng v.v ” ( ) 18

Để bảo đảm tính hệ thống của thuật ngữ, chúng tôi xin được gọi so sánh tu từ là tỷ dụ – một cách gọi đã khá quen thuộc với những người nghiên cứu ngữ văn

Tiếp thu ý kiến của những người đi trước, luận văn này sẽ trình bày hiện tượng của nghĩa tương đồng với các biện pháp như sau:

Ví dụ:

Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự thuở nào

(Con thuyền đánh cá)

Như đã nói ở phần phương pháp nghiên cứu, ví dụ trên có thể được đặt

trong mô hình cơ sở của tỷ dụ An / xBm

(18)HMĐ, 2001, 152

Trang 37

A: cái được so sánh (Biển)

n: cơ sở so sánh (cho ta cá)

x: từ so sánh (như)

B: cái so sánh (lòng mẹ)

m: thành phần khai triển (Nuôi lớn đời ta tự thuở nào)

Trong tỷ dụ, nhất thiết phải tồn tại hai vế A và B trên dòng biểu đạt (trong khi ở ẩn dụ chỉ còn lại một vế B mà thôi)

Tỷ dụ có thể tồn tại ở dạng đầy đủ (như ví dụ trên) Đó là tỷ dụ nổi

Tỷ dụ có thể khuyết yếu tố cơ sở so sánh (n) Đó là tỷ dụ chìm

Từ so sánh được dùng nhiều nhất là từ như Song có thể gặp những từ hoặc

ngữ đồng nghĩa với như: dường như, tựa, tựa hồ, chừng như…

nhẹ nhàng như…

mềm mại như…

đẹp đẽ như……

Trường hợp sử dụng từ là làm từ so sánh trong tỷ dụ có nét sắc thái riêng

Chính chị là hòn đá tảng trên trời

Nếu thay là bằng như

Chính chị như hòn đá tảng trên trời

Thì sắc thái khẳng định chuyển sang giả định mà nội dung biểu cảm cơ bản không thay đổi

Trường hợp trên, cũng có chỗ khác nhau đôi chút với trường hợp sau đây:

Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay

Trang 38

………

(Đỗ Trung Quân)

Trong ví dụ vừa kể ra, dường như không thay là bằng như được Vì vậy có

thể nghĩ tới một kiểu cấu trúc định nghĩa A là B, trong đó B là những từ có màu sắc hoán dụ?

Cũng có trường hợp tỷ dụ khuyết từ so sánh

Nếu viết theo trình tự thuận, ta có:

Anh sống tìm em mà chẳng hẹn, Qua tháng năm bao chặng đường đời

Như dòng sông trôi đi muôn nơi,

Trang 39

Không ngừng vẫn cuộn mình về biển

Về mặt quy mô, có những tỷ dụ đơn giản như: Trẻ em như búp trên cành (Hồ Chí Minh) lại có thể xuất hiện những tỷ dụ phức hợp

Tỷ dụ phức hợp được thể hiện dưới hai hình thức chính:

Các yếu tố trong mô hình cơ bản AnxBm có thể nhiều hơn 1

Như trái tim em đẹp màu đỏ thắm

(Lê Anh Xuân)

Đáng lưu ý về mặt cấu trúc hình thức, tỷ dụ và so sánh logic hoàn toàn giống nhau:

Ví dụ về so sánh logic:

Nam chăm chỉ như Bắc

Nam = A Chăm chỉ = n Như = x Bắc = B

Trang 40

Vậy, “Nam chăm chỉ như Bắc”khác “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”ở chỗ nào? Làm rõ được điều này, chúng ta sẽ hiểu được cấu trúc chiều sâu của tỷ dụ

Tại luận điểm này, chúng tôi xin được lưu ý là tỷ dụ được hiểu trong luận văn này hạn chế trong những trường hợp so sánh tương đồng nghệ thuật ( ) 19

Còn những so sánh không tương đồng như cường dụ (ví dụ: Bọn chúng khát máu người hơn quỷ dữ) hoặc nhược dụ (ví dụ: mây thua nước tóc, tuyết

nhường màu da) sẽ được nghiên cứu ở chỗ khác

Một tỷ dụ có giá trị nghệ thuật thường kết hợp hai yếu tố lạ và quen

A và B phải là những gì gẫn gũi, quen thuộc với dân tộc Còn nét giống nhau giữa A và B phải là những phát hiện mới lạ, có giá trị nghệ thuật cao của nhà văn

Nói một cách vắn tắt ẩn dụ là hiện tượng chuyển nghĩa cơ sơ trên một tỷ dụ được hiểu ngầm

Nói rõ hơn, ẩn dụ là hiện tượng chuyển nghĩa tiêu biểu trong nhóm các hiện tượng chuyển nghĩa tương đồng, ở đấy, trên dòng biểu đạt, tên gọi của cái so sánh được hiểu theo nghĩa bóng lâm thời thay thế hoàn toàn cho tên gọi của cái được so sánh

Ví dụ:

Em tưởng nước giếng sâu

Em nối sợi gầu dài

Ai ngờ nước giếng cạn

Em tiếc hoài sợi dây

(Ca dao)

Trên dòng biểu đạt ở đây, không thấy có cái được so sánh mà chỉ có cái so sánh Song bằng hoạt động liên tưởng tương đồng, ta có thể cảm nhận được

(19) NNT, 1989, 98 – 101

Ngày đăng: 30/06/2023, 17:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Khánh Thế, “Nhập môn ngôn ngữ học”, NXB Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Bùi Khánh Thế
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
2. Bùi Đức Tịnh, “Văn phạm Việt Nam”, NXB Văn hóa, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn phạm Việt Nam
Tác giả: Bùi Đức Tịnh
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1996
3. Chế Lan Viên, “Thơ Tố Hữu”, Lời giới thiệu tuyển tập thơ Tố Hữu (1937 – 1963), NXB Văn học, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tố Hữu
Tác giả: Chế Lan Viên
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1962
4. Cù Đình Tú, “ Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
5. Đào Duy Anh, “Hán Việt từ điển”, Trường thi, Sài gòn, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Trường thi
Năm: 1975
6. Đào Thản, “Một sợi rơm vàng”, NXB Trẻ, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sợi rơm vàng
Tác giả: Đào Thản
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
7. Đinh Trọng Lạc – Lê Xuân Thại, “ Sổ tay tiếng Việt phổ thông trung học”, NXB Giáo dục, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tiếng Việt phổ thông trung học
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Lê Xuân Thại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
8. Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa, “Phong cách học tiếng Việt”, NXB Giáo dục, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
9. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
10. Đinh Trọng Lạc, “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
11. Đỗ Hữu Châu, “Đại cương ngôn ngữ học – tập 2”, NXB Giáo duùc, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học – tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo duùc
Năm: 2001
12. Đỗ Lai Thúy, “Huy Cận sự khắc khoải không gian con mắt thơ”, NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận sự khắc khoải không gian con mắt thơ
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
13. Đỗ Minh Châu và Bùi Minh Toán, “Đại cương ngôn ngữ học”, NXB Giáo dục, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Minh Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
14. Đỗ Thị Bích Lài, “Ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt qua văn bản thơ”, Đề tài NCKH cấp bộ, Trường Đại học học Tổng hợp TP.HCM, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt qua văn bản thơ
Tác giả: Đỗ Thị Bích Lài
Nhà XB: Đề tài NCKH cấp bộ
Năm: 1996
15. Geoffrey Finch, “Linguistic Terms and Concepts”, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linguistic Terms and Concepts
Tác giả: Geoffrey Finch
Năm: 2000
16. Hà Minh Đức (chủ biên), “Lý luận văn học”, NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
17. Hà Minh Đức, “Giới thiệu Tố Hữu – tác phẩm”, NXB Văn học, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Tố Hữu – tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1979
18. Hà Minh Đức, “Huy Cận - Nhà văn Việt Nam 1945 – 1975”, tập 1, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận - Nhà văn Việt Nam 1945 – 1975
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1993
19. Hà Minh Đức, “Huy Cận – về tác giả và tác phẩm”, NXB Giáo duùc, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận – về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo duùc
Năm: 2000
20. Hoài Thanh – Hoài Chân, “Huy Cận – Thi nhân Việt Nam”, NXB Văn học, 1997 (tái bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận – Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w