Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về phạm trù không gian tiếng Việt trong tương quan so sánh với một số ngôn ngữ khác cũng đang được tiến hành khá mạnh, và đã có một số công trình rất đáng chú
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Công Đức đã tận tình giúp tôi vượt qua những bước đi ban đầu đầy bỡ ngỡ và vô cùng khó khăn để hoàn thành luận văn này
Đặc biệt tôi rất cám ơn quý Thầy trong hội đồng luận văn đã đọc, góp ý và cho nhiều nhận xét quý báu cả vè nội dung lẫn hình thức để giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày kết quả, mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn tôi không thể tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong đón nhận những nhận xét góp ý và đánh giá của quý Thầy
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2005
TẠ MỸ NGA
Trang 2QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU Trang
1 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN 6
CHƯƠNG I : VẤN ĐỀ ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH
I VỊ TRÍ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐỐI CHIẾU TRONG HỆ CÁC
II NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG DỊCH THUẬT 11
III MỘT VÀI NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC
CHƯƠNG II : MỘT SỐ ĐẶC THÙ CỦA CƠ CHẾ TRI NHẬN KHÔNG GIAN QUA ĐỐI CHIẾU AT, IN, ON VỚI CÁC GIỚI TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG
TIẾNG VIỆT
1 Một số biểu hiện của sự đa dạng tri nhận ở phạm vi không gian
2 Việc nghiên cứu có tính so sánh về tri nhận định vị không gian 28
Trang
1 Sự định vị không gian trong ngôn ngữ 31
Trang 42 Ý nghĩa của các giới từ định vị không gian 32
III KHÁI NIỆM TÔPÔ VÀ MỘT VÀI GIỚI HẠN TRONG NGHIÊN CỨU CỤ THỂ 35
1 Giới từ at 37
2 Giới từ in 55
3 Giới từ on 66
IV HỆ THỐNG GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ TIẾNG VIỆT TRONG SỰ TƯƠNG ỨNG VỚI CÁC GIỚI TỪ AT, IN, ON TRONG TIẾNG ANH 80
V NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT VỀ CÁC NỘI DUNG ĐỊNH VỊ CÓ TÍNH TÔ Pô 87
1 Nội dung định vị có tính tô pô 87
2 Nhừng khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt về 88
các nội dung định vị có tính tô pô VI NHẬN XÉT 88
CHƯƠNG III : NHẬN XÉT PHÂN TÍCH VIỆC ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH BA GIỚI TỪ AT, IN, ON SANG TIẾNG VIỆT Ở CÁC CẤP ĐỘ (NGỮ PHÁP NGỮ NGHĨA, NGỮ DỤNG) I ĐẶC ĐIỂM CỦA GIỚI TƯø 90
II GIỚI NGƯõ 95
III GIỚI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT 98
IV NGHĨA CỦA GIỚI TỪ 100
V Ý NGHĨA SỬ DỤNG CÁC GIỚI TỪ AT, IN, ON 106
VI GIỚI TỪ AT, IN, ON TRONG CÁCH THỨC CHUYỂN DỊCH CỦA CÁC VĂN BẢN ANH- VIỆT 107
VII TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC GIỚI TỪ AT, IN, ON CỦA Trang HỌC VIÊN NGƯỜI VIỆT 118
1 Về vấn đề năng lực ngôn ngữ 119
2 Sự thụ đắc cách diễn đạt không gian 121
Trang 5VIII SỰ THỤ ĐẮC CÁCH DIỄN ĐẠT KHÔNG GIAN TỪ
124
4 Cơ cấu thói quen / tập quán ứng xử 126
IX THỰC TRẠNG VỀ SỰ THỤ ĐẮC CÁC GIỚI TỪ AT, IN, ON
4 Hình thức ý nghĩa của những sự định vị 129
X NHỮNG LỖI THƯỜNG GẶP, NHỮNG NGUYÊN NHÂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌCXÃ HỘI & NHÂN VĂN
Trang 6TẠ MỸ NGA
ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH BA GIỚI TỪ AT, IN, ON VỚI CÁC GIỚI TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành : NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
Mã số : 05.04.27
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC
TP HỒ CHÍ MINH – 2005
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI :
Cùng với sự phát triển của khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận, một số nội dung nghiên cứu vốn ít được chú ý khai thác trước đây đã nổi lên như là những nội dung quan trọng mang lại nhiều cống hiến hữu ích về cả hai mặt : lý thuyết và thực tiễn Một trong số các nội dung này là việc nghiên cứu có tính so sánh về phạm trù không gian ở trong các ngôn ngữ trên thế giới Chẳng hạn như trong công trình
“Cognitive Foundation of Grammar” của Bernd Heine đã dành hẳn một chương (chương 3) cho nội dung này Soteria Svorow viết cả một chuyên luận “The
Grammar of Space” (260 trang) William Frawley trong “Linguistic Semantics”
cũng dành riêng chương 6 (Space) để trình bày một số vấn đề về nội dung ngữ
nghĩa của phạm trù không gian v.v và chỉ trong năm 1996 cũng đã có 4 hội nghị ngôn ngữ học quốc tế được dành riêng cho các công trình nghiên cứu về phạm trù này
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về phạm trù không gian tiếng Việt trong tương quan so sánh với một số ngôn ngữ khác cũng đang được tiến hành khá mạnh, và đã
có một số công trình rất đáng chú ý, trong đó có thể kể đến các công trình của Lý Toàn Thắng, Nguyễn Lai, và gần đây là luận án tiến sĩ của Trần Quang Hải với
đề tài”Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng”, luận án tiến sĩ của Lê Văn Thanh với đề tài “Nghĩa của các giới từ chỉ không gian tiếng Anh trong sự so
sánh đối chiếu với tiếng Việt”
Có thể nói rằng, một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng nhất về phạm trù không gian là vấn đề cách thức định vị không gian của ngôn ngữ Đây là một vấn đề liên quan trực tiếp đến phạm vi từ loại, mà trong những năm gần đây một vài giới từ cũng rất được chú ý nghiên cứu Các nội dung nghiên cứu về giới từ không chỉ giới hạn trong những phạm vi có tính từ loại, ngữ nghĩa, chức năng, mà có khi còn liên quan đến những vấn đề có tính lý thuyết ngôn ngữ học nói chung
Chẳng hạn như một trong những xuất phát điểm của công trình “Semantics and
Trang 8Cognition” có tính kinh điển của Ray Jackendoff là những tìm tòi về nhiều lĩnh
vực ngữ nghĩa, ngữ pháp và từ vựng khác nhau của các giới từ và giới ngữ
Về mặt thực tiễn, có thể nói rằng, trong xu thế hội nhập và phát triển chung cả thế giới, nhu cầu học được một ngoại ngữ nào đó, đặc biệt là tiếng Anh, trở thành một trong những nhu cầu rất bức thiết, vì vậy mà hiện đang rất cần có những công trình nghiên cứu có tác dụng hỗ trợ khắc phục được những trở ngại nhất định và thường gặp nhất trong quá trình dạy và học ngoại ngữ, giúp tiết kiệm thời gian, và nâng cao năng lực ngôn ngữ
Cũng chính vì những lý do đó mà chúng tôi chọn cho mình đế tài nghiên cứu
“Đối chiếu và chuyển dịch 3 giới từ at – in – on với các giới từ tương đương trong tiếng Việt”
Dịch từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác không phải là dễ Tiếng nói, chữ viết là bản sắc của dân tộc Không một dân tộc nào giống dân tộc nào, nên ngôn ngữ cũng khác biệt, trừ Anh, Uùc, Niu Di Lân và một số nước ở Châu Phi chọn tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ Nói và viết tiếng nước ngoài thành thạo là làm sao cho người nước ngoài hiểu được ta nói gì, ta viết gì
Ngôn ngữ chuyên chở ý nghĩ , tình cảm, cảm xúc, cảm giác của con người
Do đó, khi dịch tiếng Việt sang tiếng Anh, phải đứng ở gốc độ người Anh để dịch Người Việt nói thế nhưng người Anh có nói thế không, nói cách nào
Thực ra, cách chúng ta nói năng thể hiện nhiều điều về chúng ta Tiếng địa phương hoặc giọng nói của chúng ta có thể chỉ ra chúng ta sinh trưởng ở đâu, trong khi vốn từ của chúng ta có thể gợi ra kiểu giáo dục mà chúng ta đã trải qua, đã thừa hưởng Nhưng liệu ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, có chỉ ra được cách mà chúng ta hình thành ý tưởng hay không?
Vào những năm 1930, nhà ngôn ngữ học Benjamin Lee Whorf lập luận
rằng ngôn ngữ có ảnh hưởng đến suy nghĩ Chẳng hạn như người Eskimos gán cho sự vật “tuyết” ít nhất là bảy từ khác nhau; thế thì phải chăng họ thấy cách chúng ta nói về tuyết đơn giản như thế là bất khả tư nghì ? Nhiều người không tán thành lập
luận của Whorf
Trang 9Gần đây một nhóm các nhà tâm lý học về nhận thức khôi phục lại đề tài nghiên cứu này với một số kết quả đáng lưu ý Các nhà nghiên cứu, trước hết quay
lại với những hiệu ứng của Whorf vào những năm 1950 :xem xét từ chỉ về màu
sắc Một số ngôn ngữ chẻ quang phổ thành hai nhóm sáng và tối ; một số ngôn ngữ khác chia chi li hơn, nhưng không nhất thiết là có cùng nhưng cách phân biệt Liệu các mẫu ngôn ngữ khác nhau có hàm ý rằng cách phân biệt về ngôn ngữ và tri giác không giống nhau chăng ?
Kết luận bế tắc Các nhà ngôn ngữ học đã và đang bị thuyết phục bởi Noam Chomsky, Viện kỹ thuật Massachusettes Chomsky phát hiện ra rằng, cho dù các
ngôn ngữ là khác nhau, nhưng dường như đều có cùng cấu trúc cơ sở và phổ quát
do não bộ kiểm soát Các nhà ngôn ngữ học cho rằng mối quan hệ vừa nêu kiểm soát qui tắc phát ngôn, nhưng lại tách biệt với những phần khác của não bộ có nhiệm vụ quản lý tri giác và nhận thức nói chung, điều này làm cho ngôn ngữ khó thể tập một hiệu ứng đối với phần não bộ khác vừa nêu ở trên
Nhưng các nhà tâm lý học nhận thức đã bắt đầu suy nghĩ rằng các từ gợiù các
ý tưởng đến trong đầu chúng ta trước tiên Trong một cuộc điều tra đối chiếu, các nhà khoa học nhận thấy người nói tiếng Anh có xu hướng xét hình dáng và dơn vị của từ
Vì vậy, một trong những khó khăn lớn nhất của người học ngoại ngữ – tiếng Anh là dịch thuật Theo quan sát của cá nhân , tôi nhận thấy trong những bài tập
dịch Anh-Việt phần lớn hay gặp phải các giới từ at – in – on, và người học thường
tỏ ra lúng túng trong việc chọn từ , chọn ý để chuyển dịch chúng sang tiếng Việt
Như ta đã biết, mục đích cơ bản của việc phân tích đối chiếu giữa hai ngôn ngữ là : Trên cơ sở các ngữ liệu được thực tế sử dụng trong hai ngôn ngữ – ngôn ngữ dịch (trong trường hợp này là tiếng Anh) và tiếng mẹ đẻ (trong trường hợp này là tiếng Việt) xem xét tổng thể diễn đạt tương đương của cùng một hiện tượng, các nhà ngôn ngữ học cần rút ra những nét tương đồng (similarities) và những dị biệt (differences) để làm cơ sở cho việc phân tích những chuyển di tích cực của tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) sang tiếng nước ngoài (tiếng Anh) trên cơ sở những nét tương
Trang 10đồng và những chuyển di tiêu cực của tiếng mẹ đẻ sang tiếng nước ngoài trên cơ sở những dị biệt
Những nét khái quát về tính chất tổng quan về tiếng Anh và tiếng Việt có thể thấy
• Thuộc hệ ngôn ngữ Aán Aâu, dòng
German
• Là ngôn ngữ mang tính phân tích
cao có pha trộn với các đặc điểm
của ngôn ngữ tổng hợp (không
nhiều) và chắp dính (phổ biến hơn)
• Sử dụng các phạm trù ngữ pháp
đặc trưng của ngôn ngữ Aán Aâu, tỉ
như : số và cách của danh từ, thì,
thể, dạng thức của động từ
• Sử dụng phương thức trật tự từ
• Thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á , dòng Môn Khmer
• Là ngôn ngữ đơn lập – hòan toàn mang tính phân tích (không có biểu hiện của tổng hợp hay chắp dính)
• Không tồn tại một số phạm trù ngữ pháp như trong các ngôn ngữ Aâu châu, nhưng có phương thức diễn đạt tương đương các phạm trù ngữ pháp bằng cách sử dụng các phương tiện từ vựng-ngữ pháp
• Phương thức ngữ pháp trật tự từ là một phương thức có tầm quan trọng đặc biệt trong ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt)
Cần phải nói thêm rằng, riêng về phạm vi “nghĩa của giới từ không gian
tiếng Anh trong sự so sánh với tiếng Việt”, trừ các bài viết của Lý Toàn Thắng và chuyên khảo của Trần Quang Hải, Lê Văn Thanh thì chưa có một công trình nào
có được một sự phân tích mô tả một cách sâu sắc, cụ thể chuyên sâu đến mức cần thiết, có thể giúp ích cho việc làm sáng tỏ nghĩa cũa các giới từ định vị không gian, cũng như quá trình thụ đắc định vị không gian trong tiếng Anh, và trong tiếng Việt Mặt khác, như đã biết, thực tế dạy và học tiếng Anh cho thấy các giới từ tiếng Anh thường gây ra cho người dạy và người học thứ tiếng này không ít khó khăn Một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra điều này là một số nhân tố có tính quy
Trang 11định, chi phối việc sử dụng chúng (trong từng trường hợp cụ thể) có nguồn gốc từ những phạm vi ngoài ngôn ngữ (văn hóa) hoặc xuất phát từ những nguyên do có tính tri nhận : ngay cả những nhân tố thuần tuý ngôn ngữ học cũng bị che lấp trong vô số các trường hợp sử dụng với tính cách như là những biểu hiện trực tiếp các hệ quả của những nguyên do này Cũng vì vậy mà khi gặp những vấn đề, những thắc mắc cụ thể liên quan đến cách sử dụng giới từ, người ta thường tìm đến câu trả lời vô thuỷ vô chung là do “tập quán quy định” Kết cục là người học phải cố mà nhập tâm càng nhiều trường hợp sử dụng cụ thể càng tốt Điều này cũng có nghĩa là họ phải đối mặt với một trở ngại bất khả kháng; các trường hợp cụ thể là vô số
Để khắc phục phần nào tình trạng này, cách giải quyết duy nhất là phát triển một vài công trình nghiên cứu có tính so sánh đối chiếu về các giới từ tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời, các công trình này phải khắc phục được càng nhiều những hạn chế củua các công trình đã có trước thì càng mang tính hữu ích và thực tiễn Những công trình này phải tận dụng được các lợi thế từ các thành tựu nghiên cứu có tính lý thuyết ngôn ngữ học mới Tất cả những điều này đã góp phần giải thích thêm tại sao tôi tiếp tục lại chọn đề tài nghiên cứu này, dù rằng trong suốt qúa trình nghiên cứu, bản thân tôi cũng như những người đang dạy và học tiếng Anh chắc chắn đã và sẽ gặp không ít khó khăn
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
Luận văn hướng tới các đối tượng nghiên cứu với các công việc sau đây
a Khảo sát sắc thái riêng của giới từ về ý nghĩa từ vựng trong tiếng Anh
b Đối chiếu và chuyển dịch các giới từ chỉ không gian at – in – on trong tiếng
Anh sang tiếng Việt
Trong thực tế, ngữ nghĩa là vấn đề muôn thuở của ngành ngôn ngữ học Mọi bước tiến của ngành khoa học này mà các nhà nghiên cứu luôn tìm hiểu các nội dung cụ thể liên quan đến nghĩa, một đối tượng biến động không ngừng Ï
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN :
Luận văn này có những nhiệm vụ và mục đích cụ thể như sau :
Trang 12• Phân tích và mô tả khái quát về nghĩa của các giới từ định vị không gian cơ bản
của tiếng Anh, trong đó tập trung chủ yếu và cụ thể vào ba giới từ at, in, on
• So sánh, đối chiếu, và trong chừng mực có thể, luận giải sự khác biệt giữa các
giới từ này ( at, in, on) và các yếu tố tương đương về mặt ngữ nghĩa trong tiếng
Việt, qua đó nêu rõ cách thức, phạm vi sử dụng, nội dung ngữ nghĩa, những đặc thù có tính tri nhận và văn hóa đặc thù Trên cơ sở đó, có được những tổng kết cụ thể có tính gíáo học pháp trong dạy và học tiếng Anh, tiếng Việt liên quan đến các giới từ định vị không gian Trong đó, dặc biệt tập trung vào nhiệm vụ đưa ra các kiến giải giáo học pháp cho học sinh, sinh viên và người Việt học tiếng Anh Ngoài ra, luận văn còn có những mục đích khoa học thuần túy như hầu hết các công trình nghiên cứu ngôn ngữ khác Đó là đóng góp thêm tư liệu, hay gợi mở, tiếp bước thêm trong phạm vi nghiên cứu cụ thể về giới từ định vị không gian có tính so sánh
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Về phương pháp trình bày, ngoài hai phương pháp nghiên cứu thường được sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học là quy nạp và diễn dịch ra Do đặc điểm đề tài và đối tượng, cũng như nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu, luận văn sẽ vận dụng một số phương pháp thích ứng với từng phần việc cụ thể như sau:
• Phương pháp so sánh theo lọai hình, chủ yếu là về ý nghĩa của một số giới từ cụ
thể at, in, on, về phạm vi , cách thức sử dụng chúng
• Phương pháp định lượng, nhằm làm cơ sở thực tế và tăng thêm tính thuyết phục của các nhận xét, đánh giá tổng kết luận văn
• Phương pháp định tính có tác dụng bổ khuyết cho phương pháp định lượng, vì tư liệu về ngôn ngữ là rất lớn, và đây chính là nguyên do khiến cho phương pháp định lượng trong ngôn ngữ luôn luôn là cần thiết
Ngoài ra, luận văn có những cố gắng nhất định để đảm bảo tính khách quan cần thiết của một luận văn – đó là mọi nhận xét, đánh giá đều xuất phát từ tư liệu (dựa vào tư liệu là chủ yếu)
Trang 13Các vấn đề và ý kiến thảo luận, đánh giá tổng kết của luận văn chỉ có tác dụng tham khảo và được giới hạn trong phạm vi tư liệu mà bản thân cá nhân có được
5 TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU :
Hệ thống tư liệu mà luận văn sử dụng được thu thập chủ yếu từ các nguồn sau đây :
a Các tác phẩm văn học Anh, Mỹ, sách dạy tiếng, từ điển, các công trình nghiên cứu (tiếng Anh và tiếng Việt liên quan đến lĩnh vực này)
b Các ấn bản phẩm song ngữ Sở dĩ phần tư liệu này được tách riêng vì chúng đã thông qua người dịch, người biên soạn sách song ngữ Cũng chính vì vậy mà chúng sẽ là phần tư liệu chủ yếu được sử dụng trong quá trình đối chiếu, so sánh về giới từ giữa tiếng Anh và tiếng Việt
c Các tư liệu có tính quan sát , khảo sát của cá nhân trong đời sống, trong giao tiếp tiếng Anh, tiếng Việt, trong các bài làm, bài thi của sinh viên, đặc biệt là một số tư liệu khảo sát một cách có định hướng về nhận thức phổ biến của sinh
viên đối với các giới từ at, in, on
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN :
1 Về mặt thực tiễn
Góp phần tháo gỡ những vướng mắc, lúng túng vốn tồn tại từ lâu về mặt dịch thuật cho những người dạy và học tiếng Anh, tiếng Việt, liên quan đến các giới từ định vị không gian, thông qua việc mang lại cho người sử dụng những tri thưc về tính giao thoa ngôn ngữ, những tri thức cần thiết trong việc nắm bắt và sử dụng nhóm từ đa dạng và khó dùng này
Kết quả nghiên cứu cũng như các kiến giải về giáo học pháp của luận văn sẽ là những nội dung tham khảo hữu ích cho việc hình thành các chiến lược thực hành dạy và học tiếng Anh- tiếng Việt, tạo điều kiện chuyển dịch sang tiếng Anh hoặc sang tiếng Việt sao cho có hiệu quả và tiết kiệm thời gian
Trang 14Trong chừng mực nhất định, những nội dung được trình bày trong luận văn cũng có thể gợi mở, kích thích niềm hứng thú, sự say mê học tập, giảng dạy và sử dụng tiếng Anh, tiếng Việt
2 Về mặt lý luận :
Luận văn sẽ góp phần kiểm nghiệm tính hiệu lực của các lý thuyết chung về sự tri nhận không gian được ngôn ngữ học tri nhận Đây là giá trị thường có của các công trình có tính vận dụng các thành tựu lý thuyết để giải quyết một đối tượng nghiên cứu cụ thể, nơi mà mức độ bao hàm , tính hiệu lực của khung lý thuyết chung luôn được kiểm nghiệm một cách chính xác và hữu hiệu nhất
Góp thêm những tư liệu mới, những gợi ý mới để xây dựng và phát triển khung lý thuyết chung về tri nhận không gian một cách bao quát và toàn diện hơn Hay nói chính xác là tạo ra được những tham khảo hữu ích cho các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học ở tầm mức khái quát và sâu rộng hơn
Luận văn không có tham vọng đặt ra những vấn đề lý thuyết, những phát hiện khoa học mới Vì vậy, cái mới của luận văn chỉ thể hiện ở chỗ :
a Thử nghiệm một “mô thức” nghiên cứu so sánh có tính song ngữ và liên văn
hóa về một phạm vi, đối tượng nghiên cứu cụ thể là ba giới từ at, in, on vốn ít
được đem ra làm đối tượng nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu có tính
so sánh, đối chiếu
b Các kết quả của quá rình so sánh, đối chiếu, ngoài việc làm sáng tỏ thêm về những nội dung ngữ nghĩa có tính đặc thù (tri nhận, văn hoá, ) riêng của từng thứ tiếng (Anh, Việt) được thể hiện qua ba giới từ cụ thể này, còn góp phần tạo
ra những kiến giải về giáo học pháp liên quan trực tiếp đến việc dạy và học tiếng – một nhóm từ tuy ít về số lượng, nhưng lại có tần số sử dụng thuộc vào loại lớn nhất trong đời sống giao tiếp hằng ngày và có những biểu hiện ngữ nghĩa, phạm vi sử dụng rất đa dạng, khó nắm bắt nhất, đồng thời cũng chứa đựng một độ chênh lệch lớn giữa các ngôn ngữ
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương
Trang 15CHƯƠNG I : Vấn đề đối chiếu chuyển dịch
CHƯƠNG II : Một số đặc thù của cơ chế tri nhận không gian của ba giới từ at, in,
on qua đối chiếu với các giới từ tương đương trong tiếng Việt
CHƯƠNG III : Đối chiếu và chuyển dịch ba giới từ at – in- on sang tiếng Việt ở
các cấp độ (ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng)
CHƯƠNG I : VẤN ĐỀ ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH
I VỊ TRÍ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐỐI CHIẾU TRONG CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA NGÔN NGỮ HỌC
Đối chiếu ngôn ngữ bao giờ cũng là sự phân tích các sự kiện, hiện tượng ngôn ngữ trong sự kết hợp hai thao tác : đối lập bên trong và tương phản bên ngoài Những ngôn ngữ được đối chiếu càng xa nhau về loại hình, thì những nét khác biệt
Trang 16sẽ xuất hiện với một tỉ lệ khá lớn Nếu có những nét giống nhau, thì phần lớn chỉ là những nét chung đại thể
Những nét giống nhau hay khác nhau giữa các ngôn ngữ là có tính hệ thống, có thể lý giải được bởi chúng gắn chặt với các đặc điểm cấu trúc Đương nhiên, công việc đối chiếu ở đây là phải đặc biệt lưu ý đến tổng thể cấu trúc ấy
Phương pháp đối chiếu có liên quan và gắn bó chặt chẽ với phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh-lịch sử Song, nó vẫn là một phương pháp ngôn ngữ học độc lập Sự đối chiếu này diễn ra trên tổng thể bao quát chung, mang tính chất toàn cảnh
Có hai thủ pháp đối chiếu đối với phạm vi đối chiếu ngôn ngữ
Thủ pháp thứ nhất : Một trong những ngôn ngữ đối chiếu được chọn làm ngôn ngữ cơ sở (ngôn ngữ chủ đạo) Ở Đông Nam Á, tiếng Việt cũng có thể được chọn làm ngôn ngữ cơ sở được dùng để đối chiếu với các ngôn ngữ trong khu vực Ngôn ngữ này có chữ viết Latinh, số lượng người nói khá đông, ở một nền văn hóa lâu đời Lịch sử hình thành tiếng Việt có những nét độc đáo : từ một ngôn ngữ thị tộc, bộ lạc phát triển lên thành một ngôn ngữ quốc gia – dân tộc trong quá trình biến đổi nội tại và tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ trong và ngoài khu vực
Thủ pháp đối chiếu chọn ngôn ngữ cơ sở được Charles Bally sử dụng thành
công, khi ông phân tích tiếng Pháp và chỉ ra những phạm trù riêng của nó trong sự đối chiếu với tiếng Đức
Thủ pháp đối chiếu thừ hai :Phân tích đối chiếu song song Thủ pháp này sử dụng cả hai phương pháp đối chiếu như nhau Thông thường đối chiếu song song có
ý định làm sáng tỏ các phổ quát ngôn ngữ, áp dụng lý luận ngôn ngữ vào thực tiễn phiên dịch hay chuyển dịch
II NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG DỊCH THUẬT
1 Khó khăn thứ nhất thường gặp phải là người dịch không nắm vững cả ngôn ngữ nguồn (source language) làm ngôn ngữ đích (target or receptor language) Điều này rất phổ biến ở sinh viên khoa ngoại ngữ, nhưng mặt chủ yếu này dần dần được khắc phục nếu được hướng dẫn tốt
Trang 17Khó khăn nói trên bắt nguồn từ việc hai cấu trúc ngôn ngữ quá khác nhau (Anh và Việt hay Nga và Việt) Ngay cả giữa tiếng Anh và Pháp, qua bao nhiêu
thế kỷ giao lưu văn hóa vẫn tồn tại những faux amis Ví dụ : Động từ demander (Pháp) không tương đương với demand (tiếng Anh), mà tương đương với request
Ngay cả tiếng Hán của người Trung Quốc và tiếng Hán của người Việt cũng
có sự dị biệt trong cách hiểu ngững từ rất phổ biến như : an trí, tử tế, tiểu tâm, công
phu, đáo để, Người Trung Quốc gọi sự an trí là câu cấm; đáo để nghĩa là đi đến tận đáy, kỹ lưỡng chứ không có nghĩa xấu như trong tiếng Việt; còn tiếu tâm với
họ là không có nghĩa là hẹp hòi, bần tiện, như chúng ta hiểu, mà nó có nghĩa là
cẩn thận còn chữ công phu, ngày nay, nếu xem phim Lý Tiểu Long thì hiểu
rằng chữ đó chỉ quyền cước , võ thuật (kungfu), chứ không liên quan gì đến chữ
“công phu” của người Việt Nam Theo Nguyễn Hiến Lê, nhiều người Tàu chê
tiếng Hán của cụ Phan Bội Châu là không “thuần”, nghĩa là đôi khi cụ Phan đã sử dụng những từ Hán do chính các nho sĩ Việt Nam đặt ra, chứ không phải của người
Trung Quốc Hoặc như, nhiều người Anh học tiếng Ý thấy chữ “morbido” lại tưởng lầm là “morbid” (chết chóc, ảm đạm, .), trong khi nó có nghĩa là soft (mềm mại,
dịu dàng, ) Nếu giỏi tiếng Pháp trước rồi học tiếng Anh sau, người học thường
cắt nghĩa tiếng Anh theo phạm trù tiếng Pháp hay ngược lại
2 Khó khăn thứ hai, nghiêm trọng hơn, người dịch không có kiến thức chuyên môn cần thiết về lĩnh vực mà mình phải chuyển dịch Đây là yếu tố văn hóa – xã hội (socio-cultural factor) mà chúng ta thấy, hầu hết cả mọi giáo trình dạy dịch đều không hề quan tâm đến Ví dụ, ngày nay, trong tiếng Anh có rất nhiều từ được sử dụng trong đời sống hàng ngày xuất phát từ các lĩnh vực khác nhau như y tế, xã hội học, nhân chủng, kinh tế,
Trong thực tế, nhiều người sẽ cho rằng không thể ôm đồm tìm hiểu hết mọi lĩnh vực để làm công tác dịch thuật cho hoàn hảo Bản thân tôi công nhận rằng đó là một lý tưởng bất khả thực hiện, nhưng nếu chấp nhận theo đuổi công việc dịch thuật (kể cả thông ngôn và phiên dịch), và đặc biệt là đối với giáo viên dạy môn dịch, chúng ta phải có bổn phận phải học hỏi tìm tòi càng nhiều càng tốt về nhiều
Trang 18lĩnh vực tri thức mà sinh viên quan tâm Sinh viên không chỉ học ngôn ngữ đơn thuần, mà còn phải được bổ sung thêm kiến thức về các ngành khoa học (xã hội cũng như tự nhiên) để nắm vững hơn ngôn cảnh và ngữ cảnh của ngôn ngữ mình đang học Trong tiếng Việt ngày nay có rất nhiều từ mới phát xuất từ nhiều lĩnh
vực khoa học khác nhau và đã trở thành phổ biến như : vi mô, vĩ mô, phân cấp, bức
xúc, hạch toán, diện rộng, diện hẹp, tái chế, phần cứng, phần mềm, quy hoạch, bùng nổ thông tin, trực tuyến,
Sau đây là một vài ví dụ về trường hợp do thiếu hiểu biết chuyên môn nên
đưa đến việc dịch sai Một câu thơ trong vở kịch Romeo và Juliet của Shakespear:
O love ! O life ! not life, but Love in death !
(Act 3, Scene 5)
Trần Thiên Đạo, một cây bút phiên dịch nổi tiếng tiểu thuyết Anh, Pháp ở Miền
Nam trước năm 1975, đã dịch như sau :
Ớ tình yêu , ớ cuộc sống ! Nhưng không phải là cuộc sống mà là tình yêu trong cõi chết
(Tạp chí Văn, đặc san về Albert Camus)
Hiểu biết thứ nhất mà Trần Thiên Đạo thiếu là do không đọc lại nguyên
tác của Shakespeare Câu đó của bá tước Paris thốt lên khi phát hiện Juliet đã chết
(chết giả) ngay trước ngày đám cướùi Nếu hiểu như vậy, có lẽ Trần Thiên Đạo đã
không đưa ra một câu dịch ngớ ngẩn như trên do bám quá sát vào từ ngữ văn bản Câu thơ trên có nghĩa là :
”Ôâi mối tình của anh !Ôâi cuộc sống của anh ! Em không còn sống nữa nhưng vẫn là
tình yêu của anh trong cõi chết !”
Hiểu biết thứ hai mà Trần Tthiên Đạo thiếu là sơ hở không nhận thấy rằng câu thơ đó của Shakespeare được Albert Camus trích làm đề từ ngay trước vở
kịch Les Justes của ông Albert Camus mượn câu thơ đó để nói lên chủ đề tư
tưởng của vở kịch Les Justes và đồng thời nhắc đến mối quan hệ giữa hai nhân vật
chính của tác phẩm : chàng bị kết án tử hình sau vụ mưu sát Nhiếp chính vương
Trang 19thành công, nàng còn sống đề tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng cách mạng của
chàng Bản Streamline cuốn Destination tights được dịch ra “lúc kẹt tiền”
Hơn nữa, ngay cả khi có hiểu biết chuyên môn mà bất cẩn vẫn dẫn đến
những sai lầm tai hại Trần Văn Giáp, một nhà Hán học uyên thâm, trong bản phụ
lục cho bài nghiên cứu Le Bouddhisme en Annam dès origines au XIIIè siècle, khi trích và tóm tắt những đoạn văn trong Khâm định Việt Sử Thông Giám Cương Mục
liên quan đến Phật giáo từ thời Nhà Đinh cho đến cuối đời Lê Trung Hưng, đã
dịch câu :”Sắc thiên hạ bốc thệ đạo thích chi nhân, vô đắc dự cung nhân quan
thông” sang tiếng Pháp như sau: “L’empereur interdit aux devins Sorciers et religieux d’entretenic des relations avec les habitants du palais” (Hoàng đế- (chỉ Lê
Thánh Tôn)- sắc cấm các tăng đạo không được qua lại với nhân dân trong thành)
Nghĩa là “cung nhân” được Trần Văn Giáp hiểu lầm là”habitants du palais” (nhân
dân trong thành), trong khi ngay Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh cho biết
“cung nhân” tức là”cung nữ” (Gille d’honneur) Nếu cấm sư sãi quan hệ với cung nữ là hợp lý, chứ nếu cấm quan hệ với nhân dân thì lại là một vấn đề khác Sự sai
lầm của Trần Văn Giáp trở thành một sự kiện lịch sử trong tác phẩm “Việt Nam
Phật Giáo sử lược” của Thích Mật Thể, tức là tác giả này chép lại nguyên bản
dịch của Trần Văn Giáp mà không kiểm tra lại nguyên bản trong Cương mục
Giáo sư Đỗ Khánh Hoan, khi dịch vở kịch Ham let, đã chuyển câu thơ : To be or
not to be, that is the question
thành : Sống hay thôi không sống, vấn đề là đây
(Bản mới đây của Bùi Ý, Bùi Phụng, Bùi Anh Kha (NXB Văn học 1986, tr.91
cũng dịch như vậy)
Sống hay không nên sống, đó mới là vấn đề Nói chung, các bản dịch Pháp,
Đức Ý, Tây Ban Nha đều theo chung một khuôn, nghĩa là hiểu rằng to be trong câu thơ trên có nghĩa là to live hay to exist Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu kỹ lại vở
kịch và bối cảnh tôn giáo vào thế kỷ XVI ở Anh – Công Giáo, Tin Lành hoài nghi, thì cần phải dịch câu thơ trên (theo phương pháp giao tiếp) như sau:
Có phải là hồn ma của cha ta hay không, đó mới là vấn đề ?
Trang 203 Khó khăn thứ ba liên quan đến vấn đề phong cách học Nếu một bản dịch cho
tác phẩm của Ngô Tất Tố sang tiếng Anh có cùøng một thứ tiếng Anh như trong bản dịch về Nguyễn Công Hoan hay Nam Cao, Tô Hoài, thì đó là một sự thất
bại trong việc dịch thuật, vì phong cách riêng của các nhà văn nói trên hoàn toàn khác nhau Nếu xem đây là một tư liệu để nghiên cứu theo quan điểm dịch ngữ nghĩa (semantics) thì được, nhưng nếu nhìn từ góc độ phương pháp giao tiếp, và đặc biệt là góc độ phong cách học (stylistics), thì rõ ràng là một thất bại Khó khăn này có gốc rễ sâu trong công tác dịch thuật văn học nói chung, vì ngôn ngữ văn học cần phải được xử lý một cách đặc biệt hơn các ngôn ngữ khác Theo ý kiến cá nhân, tôi cho rằng có thể dần dần khắc phục khó khăn này, nếu dịch giả quan tâm hơn đến các nghiên cứu trong ngôn ngữ hiện đại như phong cách học, văn bản học, hệ thống liên kết văn bản, lý thuyết logíc ngữ nghĩa, Trước đây, mọi người vẫn có thái độ phi khoa học đối với việc chuyển dịch, cho rằng cứ giỏi tiếng Anh thì dịch cái gì cũng được Ngược lại, chuyển dịch là một công việc hóc búa nhất, gay go nhất trong tất cả các môn của khoa ngoại ngữ, vì nó đòi hỏi người dạy có đầy đủ khả năng hiểu biết về cả hai ngôn ngữ (ngôn ngữ nguồ và ngôn ngữ đích), phải nắm vững bối cảnh văn hóa -lịch sử của văn bản được dịch cũng như quán triệt các phong cách ngôn ngữ khác nhau, phải có kiến thức cơ bản về ngôn ngữ học và lý thuyết dịch hiện đại
III MỘT VÀI NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA DỊCH THUẬT
1 Trước hết cần phải dịch nghĩa một cách nghiêm túc công tác dịch thuật
E.A Nida, bậc thầy trong lý luận phiên dịch ở Mỹ, đưa ra một định nghĩa
như sau : “Dịch thuật là tái tạo lại trong ngôn ngữ tiếp nhận sự tương đương và gần gũi nhất đối với thông điệp của ngôn ngữ gốc, trước hết là về phương diện ý nghĩa và sau đó là về phương diện phong cách”
Theo E.A Nida, bất cứ ai muốn bàn đến sự mô tả khoa học các quá trình
trong công tác phiên dịch, đều phải trả lời hai câu hỏi cơ bản :
(1) Dịch thuật là một khoa học hay một nghệ thuật ?
(2) Có thể thực hiện việc dịch thuật một cách hoàn hảo không ?
Trang 21E.A Nida trả lời rằng công tác dịch thuật có thể được mô tả ở ba cấp độ
chức năng (functional levels) :
1 Như một khoa học
2 Như một kỹ năng (skill)
3 Như một nghệ thuật
“Một sự phân tích kỹ lưỡng chính xác điều gì xảy ra trong quá trình phiên dịch, đặc biệt trong trường hợp ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích có cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa hoàn toàn khác nhau, đã cho thấy rằng, thay vì đi thẳng từ một tập hợp các cấu trúc bề mặt sang một tập hợp khác, người phiên dịch có năng lực thực sự phải qua một qúa trình có vẻ lòng vòng là phân tích, chuyển hoán, và phục nguyên”
EUGENE A NIDA, Language Structure and Translation (1975), selected and introduced by A.S DIL, Standard University Press, page 95
E.A Nida đã đưa ra một sơ đồ tổng quát về quá trình chuyển từ ngôn ngữ
nguồn sang ngôn ngữ đích như sau :
(Ngôn ngữ nguồn) (Ngôn ngữ đích )
Người phiên dịch phải làm gì trong khâu phân tích ? Cần phải phân tích :
(1) Mối quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố
(Grammatical relationships between constitunent parts)
Trang 22(2) Ý nghĩa quy chiếu của các đơn vị ngữ nghĩa
(Referential meanings of the semantic units)
(3) Ý nghĩa liên hội của các cơ cấu ngữ pháp và đơn vị ngữ nghĩa
(Connotative values of the grammatical structures and semantic units)
2 Vì tư tưởng của E.A Nida quá hàm súc, cô đọng, tôi xin diễn giải lại như sau:
Thoạt nhìn, chúng ta tưởng rằng người dịch đi thẳng từ các cơ cấu bề mặt của
ngôn ngữ được dịch sang cơ cấu bề mặt của ngôn ngữ dịch (mà E.A Nida gọi là
receptor language – ngôn ngữ tiếp nhận), ví dụ từ câu Tôi có mặt ở nhà lúc 7 giờ
chiều sang I am at home at 7 p.m Thực sự là người dịch phải trải qua ít nhất 3 công
đoạn
a/ Phân tích : So sánh cấu trúc ngữ pháp giữa tiếng Việt và tiếng Anh Câu tiếng
Việt ám chỉ thì tương lai, hiện tại hay quá khứ ? So sánh ý nghĩa của hai ngôn ngữ
để chọn ra những đơn vị ý nghĩa thích hợp Ví dụ Tôi có mặt không phải là I have
face; nhà có thể là house hay home, Đồng thời xem xét ý nghĩa liên hội của cơ
cấu ngữ pháp {Việt và Anh} và đơn vị ngữ nghĩa { thường là từ vựng} để xem văn bản gốc có một ý ngầm nào hay không Câu tiếng Việt nói trên có thể là một phát
biểu về một sự kiện khách quan {Tôi luôn luôn có mặt ở nhà vào lúc 7 giờ chiều} Cũng có thể câu nói trên mang ngụ ý mời mọc, kêu gọi {xin cứ đến, cứ đúng 7 giờ
chiều là có tôi ở nhà} Câu trên có thể hàm ý trách móc {Sao lại đến vào giờ ấy ? Tôi thường có mặt ở nhà lúc 7 giờ chiều cơ mà ? } Nói tóm lại, có thể có vô
số những giải thích khác nhau về một câu phát ngôn bình thường nhất nếu xét theo góc độ ngữ dụng học (Pragmatics)
b/ Chuyển hoán : E.A Nida cho rằng đây là công đoạn ít phức tạp nhất, bởi vì,
theo tác giả, các ngôn ngữ chỉ khác nhau ở cấu trúc bề mặt, còn rất giống nhau ở
cơ cấu hạt nhân Vấn đề quan trọng đặt ra là E.A Nida không đề ra những tiêu chí
để biết được người phiên dịch có hiểu những cơ cấu hạt nhân của ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ tiếp nhận hay không Và cơ cấu hạt nhân là cơ cấu ngữ nghĩa (semantic),
cú pháp (syntactic) hay ngữ dụng (pragmatic) ? E.A Nida không cho chúng ta một
câu trả lời rõ ràng về vấn đề này
Trang 23c/ Phục nguyên : Tái chế lại nội dung của thông điệp căn cứ trên các cơ cấu hạt
nhân của ngôn ngữ nguồn Nói một cách đơn giản là tìm ra cấu trúc thich hợp trong ngôn ngữ đích để dịch thông điệp trong ngôn ngữ nguồn
IV PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN DỊCH
Đóng góp quan trọng nhất của E.A Nida vào lý luận dịch là ở chỗ ông nhấn
mạnh rằng khi dịch nội dung quy chiếu của thông điệp gốc (referential content of the message), chúng ta không quan tâm đến những từ cụ thể (precise words) hay những đặc ngữ (idioms) Chúng ta quan tâm đến các tập hợp những thành tố (sets
of components) E.A Nida nhấn mạnh: “Nói cho đúng, chúng ta không dịch những
từ, chúng ta dịch các tập hợp những thành tố (sets of components)” Nghĩa là các từ (words) chỉ là những công cụ chuyên chở những thành tố ý nghĩa (components of meaning) Do đó, khi dịch từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, chúng ta dịch các thành tố ngữ nghĩa chứa đựng những từ chứ không phải dịch bản thân các từ
đó E.A Nida so sánh từ với những chiếc vali, còn quần áo trong chiếc vali đó, là
các thành tố nghĩa Điều này đưa đến hệ quả là điều cốt yếu không phải là vali mà là các quần áo bên trong Như vậy, dịch thuật giống như việc lấy quần áo từ vali này bỏ sang một vali khác Điều quan trọng là các quần áo đó có đến được nơi đến
an toàn không (nghĩa là không bị hư hao, sứt mẻ gì )
Dù vậy, sự phân tích của ông về quá trình dịch thuật chia làm ba giai đoạn chính như được mô tả ở trên là hết sức bổ ích cho những người bắt đầu làm công tác chuyển dịch
Peter Newmark đưa ra nhận xét tổng quát như sau : “Bởi vì nhân tố chủ
chốt khi quyết định cách thức dịch là tầm quan trọng nội tại của từng đơn vị ngữ nghĩa trong văn bản nên tuyệt đại đa số các văn bản đòi hỏi phải dịch theo phương pháp giao tiếp là phương pháp ngữ nghĩa Phần lớn tác phẩm không phải là văn học, như báo chí, sách và chuyên luận thông tin, sách giáo khoa, sự trao đổi thư từ không mang màu sắc cá nhân, như quảng cáo, yết thị, văn tiêu chuẩn tiểu thuyết hoá bình dân – tất cả là những nguyên liệu tiêu biểu thích hợp cho việc dịch theo phương pháp giao tiếp
Trang 24Trái lại, những lời phát biểu độc đáo, trong đó ngôn ngữ đặc thù của người viết hoặc người nói cũng quan trọng như nội dung, cho dù đó là văn triết học, tôn giáo, chính trị, khoa học kỹ thuật hay văn học, những phát biểu như vậy cần phải được dịch theo phương pháp ngữ nghĩa”
Tác giả đã đưa ra ví dụ bản dịch bài phát biểu của tướng De Gaulle sang
tiếng Anh (do Spears dịch năm 1966) Nguyên tác tiếng Pháp như sau :
Peter Newmark, Approaches to Translation (1989), Practice Hall, tr.44
“Infiniment plus que leur nombre, ce sontles chars, les avions, la tachique des Allemands qui nous font reculer Ce sont les chars, les avions, la tactique des Allemands qui ont surpris nos chefs au point de les amener là ou ils en sont aujourd’hui” Dịch sát sang Việt ngữ , ta có :
{Hơn cả về số lượng, chính xác xe bọc thép, phi cơ và chiến thuật của người Đức đã đẩy lùi chúng ta Chính xe bọc thép, phi cơ, và chiến thuật của người Đức đã khiến cho các tướng lãnh của chúng ta bị bất ngờ đến độ đã dẫn họ đến tình hình hiện nay) Spears dịch thoát sang tiếng Anh như sau :
{It was the tanks, the planes and the tactics of the Germans, far more than the fact that we were out-numbered , that forced our armies to retreat It was the German tanks, planes and tactics that provided the element of surprise which brought our leaders to their present plight.}
Nghiên cứu bản dịch của Spears và so nó với bản văn gốc, ta thấy có chút sửa đổi : sửa đổi về cấu trúc câu cũng như thêm thắt một số từ vựng để câu rõ nghĩa thêm Ví dụ, trong câu tiếng Pháp không có “outnumbered”, “our armies”, “ provided the element”, “present plight”
Trang 25Nhưng E.A.Nida và những người chủ trương dịch theo phương pháp giao tiếp sẽ đồng ý với bản dịch của Spears Tác giả Dương Ngọc Dũng đã dịch lại bản tiếng Anh của Spears để đối chiếu như sau :
{Chính xe bọc thép, phi cơ và chiến thuật của người Đức , còn quan trọng hơn cả việc chúng ta thua kém về quân số, đã buộc quân đội chúng ta phải triệt thoái Chính xe bọc thép, phi cơ và chiến thuật của quân Đức đã tạo ra một yếu tố bất ngờ đưa các tướng lĩnh của chúng ta đến tình huống hiện nay}
Peter Newmark cũng đồng ý rằng, nếu xét từ góc độ phương pháp giao tiếp thì bản dịch của Spears hoàn toàn có giá trị Nhưng theo Peter Newmark, với những câu phát biểu quan trọng, như của De Gaulle, đồng thời mang theo tính chất
dung dị (simplicity) mà rắn rỏi (rawnesand starkness) rất đặc thù trong lối nói của
vị tướng Pháp này, ta nên dịch theo phương pháp ngữ nghĩa, nghĩa là dịch sát
Khó mà nói nên theo phương pháp nào khi bắt tay vào công tác chuyển dịch Trong thực tế, dịch giả thường cân nhắc, tùy nghi lựa chọn theo văn cảnh, câu này nên dịch thoát, câu kia nên dịch sát, ngay trong cùng đoạn văn Ví dụ, khi đọc đoạn văn sau đây, chúng ta như có cảm giác như đó không phải là một bản dịch, mà là một sáng tác thật sự:
“Mặt trời đang lặn xuống ở bên kia rặng núi Từ lâu, chúng tôi đi trong bóng tối
Chợt em bé đưa tay chỉ cho tôi nhìn một túp lều tranh bên sườn đồi Túp lều lặng ngắt Nếu không có một làn khói mỏng toả lên, thì tưởng như là nhà vô chủ Làn khói đìu hiu gờn gợn màu lam trong bóng tối, rồi vươn lên vàng óng trong đám mây
trời” Đây là nguyên tác Pháp văn của André Gide trong tác phẩm La Symplionie
Pastorale “ Le soleil se couchait et nous marchions depuis longtemps dans l’ombre, lorsque enfin ma jeune guide m’indiqua du doigt, à flanc de coteau, une chaumìere qu’on eut pu croire inhabité, sans un mince filet de fumée qui s’en échappait, bleuissant dans l’ombre, puis blondissant dans l’or du ciel”
Rõ ràng dịch giả đã “tái chế” lại hoàn toàn nguyên tác, kể cả phương diện cấu trúc lẫn từ vựng, sửa đổi lỗi ngắt và chấm câu Có thể nói đây là một đoạn văn mang phong cách văn học được dịch theo lối” chuyên nghĩa” (transposition) mà cả
Trang 26E.A Nida và Peter Newmark đều đề cao Bài Hoàng Hạc Lâu (của Thôi Hiệu)
do Tản Đà dịch cách đây gần một thế kỷ, vẫn là tuyệt phẩm mà chưa bản dịch nào
vượt qua được
V PHÂN LOẠI DỊCH
Để tránh sự hiểu lầm của độc giả về phương pháp ngữ nghĩa (semantic
translation), Peter Newmark phân biệt hai loại dịch nói dựa trên những điểm cơ
bản khác biệt như sau :
a Dịch theo lối liên tuyến (interlinear translation):
Lối này Nabokov gọi là dịch từ vựng hay xây dựng (lexical or constructional
translation) Ý nghĩa cơ bản của tất cả các từ được dịch một cách bất chấp ngữ cảnh (context) và trật tự từ của nguyên tác được giữ nguyên Mục đích chính là để hiểu rõ cách vận hành của ngôn ngữ gốc hay là tạo ra một quá trình tiền phiên dịch (pre-translation procedure) đối với một văn bản gốc phức tạp
b Dịch sát theo nghĩa đen (literal translation) : Ý nghĩa cơ bản của tất cả các từ
được dịch một cách phi ngữ cảnh (out of context) những cấu trúc ngữ pháp (syntactic structures) của ngôn ngữ mục tiêu được tôn trọng
Như vậy, sự khác biệt cơ bản, theo Peter Newmark, là phương pháp ngữ
nghĩa tôn trọng ngữ cảnh, còn phương pháp dịch sát (literal) thì không
VI Ý NGHĨA TRONG DỊCH THUẬT
Như vậy, kể cả E.A Nida, Peter Newmark, Milfred Larson, Nabokov,
vấn đề sinh tử trong công tác phiên dịch vẫn là lột tả hết được ý nghĩa của thông điệp gốc Nhưng ý nghĩa là gì ? Có bao nhiêu phạm trù ý nghĩa ? Lý thuyết trường ngữ nghĩa hay lôgích có đóng góp gì trong khía cạnh này ? Nếu chịu khó đọc các
tác phẩm của các nhà ngữ nghĩa học, như Korzybski Ogden & Richards, Tarski, chúng ta sẽ càng cảm thấy chẳng hiểu gì về hai chữ “Ý nghĩa” Milfred Larson
cho chúng ta sơ đồ về việc chuyển dịch như sau :
Trang 27TRANSLATION
M Larson, Meaning- Based Translation (1984), tr.17
a Ý nghĩa quy chiếu (Referetial meaning) tức là nội dung thông tin (informative
content) Ý nghĩa này được tổ chức thành một cơ cấu ngữ nghĩa (semantic structure)
b Ý nghĩa kết hợp (Organizational meaning) : Khi các thành tố nghĩa liên kết với
nhau để tạo ra những đơn vị lớn hơn, chúng tạo ra ý nghĩa tổ chức trong văn bản Ý nghĩa này không nằm trong những đơn vị từ vựng rời rạc mà xuất hiện là
do sự cố kết của các đơn vị ấy thành một chỉnh thể
c Ý nghĩa hoàn cảnh (situational meaning) gần giống với ý nghĩa ngữ cảnh
(contextual meaning) Tuỳ theo mối quan hệ giữa người phát ra thông điệp và người nhận thông điệp mà chúng ta sẽ giải thích thông điệp đó theo nhiều cách khác nhau Cả ba loại ý nghĩa này có thể hàm ẩn (implicit) hay tường minh (explicit)
Nhưng ý nghĩa của một từ không thể tách rời khỏi chức năng (function) của
từ đó Lý thuyết ngôn ngữ của Roman Jakobson và M.A.K Haliday đều xoay quanh việc xác lập các chức năng cơ bản của ngôn ngữ Peter Newmark cho rằng
tất cả mọi công tác dịch thuật đều có hàm chứa một lý thuyết về ngôn ngữ (A
theory of language) , trong khi Jakobson, Firth và Wanddruzska chủ trương rằng
một lý thuyết về ngôn ngữ phải dựa trên nền tảng của nó là lý thuyết dịch
Trang 28Theo Biihler, ngôn ngữ có ba chức năng chính :
a Chức năng biểu hiện (expressive function)
b Chức năng nhận thức (informative function)
c Chức năng kêu gọi (Vocative function)
Tóm lại, người dịch cần hiểu rõ chức năng của ngôn ngữ (ngôn ngữ và ngôn ngữ mục tiêu) Giá trị ngữ nghĩa của văn bản trong một ngữ cảnh cụ thể, để tiến tới xác lập thể loại văn bản và phương án chuyển dịch sao cho thích hợp
(Biểu hiện ) (Nhận thức) (Kêu gọi)
HAI PHƯƠNG PHÁP DỊCH
BA LOẠI Ý NGHĨA
REFERENTIAL ORGANIZATIONAL SITUATIONAL
Trang 29(Quy chiếu) (Kết hợp) (Ngữ cảnh)
HAI KHÍA CẠNH Ý NGHĨA TỪ VỰNG
CHƯƠNG II MỘT SỐ ĐẶC THÙ CỦA CƠ CHẾ TRI NHẬN KHÔNG GIAN QUA ĐỐI CHIẾU AT- IN- ON VỚI CÁC GIỚI TỪ TƯƠNG
ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT
I SỰ ĐA DẠNG CỦA TRI NHẬN :
Ngôn ngữ học tri nhận ngày càng được nhiều người quan tâm và chú ý phát triển vì nó chủ yếu xuất phát từ lòng tin cho rằng: sự phức tạp và đa dạng của ngôn ngữ có thể được mô tả và giải thích thông qua các tác nhân ngoại ngôn , và phần lớn các tác nhân ngoại ngôn này liên quan đến tri nhận Nhân tiện, cũng xin nói thêm rằng, khuynh hướng nghiên cứu tri nhận trong ngôn ngữ học đã có từ những
năm đầu thế kỷ XX với hai học giả tiêu biểu là Sapir và Whorf Sapir là học trò
của Boas, còn Whorf là học trò của Sapir Những nghiên cứu của Boas và nhóm
sinh viên của ông thường được xem như là một cách thức phản ứng lại thái độ gièm pha thời bấy giờ về những ngôn ngữ không có chữ viết, các nghiên cứu này cũng chỉ ra những ngôn ngữ này cũng có tính hệ thống và rất lôgíc như bất cứ một ngôn ngữ nào ở Châu Aâu Có lẽ không cần phải bình luận gì thêm về gía trị tích cực khoa học của những công trình này
Cho đến nay, có thể nói rằng, về cơ bản, có bốn cách thức tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận
Trang 30Một là xem ngôn ngữ như là khuôn mẫu chủ yếu của các hoạt động tinh
thần và các hoạt động khác (Sapir, 1921 –1949; Whorf, 1956)
Hai là ngôn ngữ xuất phát từ nguồn lực có tính thiên bản của con người
(Chomsky, 1986 ; Wiersbicka, 1972, 1988)
Ba là ngôn ngữ tương đẳng với tri nhận (Langacker, 1987, 1991)
Bốn là ngôn ngữ là tấm gương phản ánh sự khái niệm hoá của con người
(Lakoff và Johnson, 1980; Lakoff 1987)
Tuy nhiên, trên thực tế thì không thực sự rạch ròi đến thế Các nội dung nghiên cứu nói chung là rất rộng lớn và phức tạp Trong đó , đáng lưu ý nhất là giả
thiết của Whorf – cái mà gần đây thường được nhiều người viện dẫn đến với một vài giả thiết ngầm ẩn khác Theo Whorf thì :
a Nói chung, sự khác nhau về cấu trúc giữa các hệ thống ngôn ngữ sẽ được bộc lộ khi tiến hành so sánh sự khác nhau trong nhận thức phi ngôn ngữ (của một loại không cụ thể nào đó) ở những người nói những ngôn ngữ này
b Cấu trúc bản ngữ của bất cứ người nào cũng ảnh hưởng mạnh hoặc hoàn toàn quyết định các quan niệm chung (cách nhìn nhận về thế giới) mà người đó gặp phải khi học ngôn ngữ đó
Dễ dàng nhận thấy rằng, nếu nhận thức phi ngôn ngữ càng khác biệt thì sự khác nhau giữa các ngôn ngữ càng lớn; mà đặc biệt là khi người ta lưu tâm nhiều đến những gì được nêu ra ở cấu trúc bản ngữ
Trong vài thập niên gần đây, khuynh hướng nghiên cứu tri nhận đã có những thành tựu rất đáng chú ý Nó mang lại một ấn tượng mạnh về sự giàu có của các khuôn tri nhận, những cái mà có thể quan sát được qua các nền văn hóa khác nhau của thế giới Dĩ nhiên, sự đa dạng khác nhau này không hề loại trừ điều khẳng định trong lý thuyết chung rằng các khuôn mẫu khái niệm hóa cụ thể chủ yếu của nhân loại luôn có tính phổ quát về bản chất Tuy nhiên, cách thức khái niệm hóa diễn ra trong mỗi ngôn ngữ một khác, tuỳ vào văn hóa của cộng đồng bản ngữ Như vậy, người ta luôn phải đối diện với cả hai tình trạng: khác biệt và thống nhất Nói cách khác, trong sự khái niệm hóa các ngôn ngữ, có thể có những sự lựa chọn khác nhau
Trang 31trong phạm vi vốn khả năng lựa chọn lại có tính giới hạn và chung cho mọi ngôn ngữ “loài người, bất kể là ở Siberi hay ở sa mạc Kalahari đều có chung nguồn dự
trữ các khả năng lựa chọn cho sự khái niệm hóa” (Heine) Và cũng theo Heine –
Cognitive Foundation of Grammar, 1997 “cách thức mà những người ở Siberi hay ở
sa mạc Kalahari trải nghiệm thế giới quanh họ có thể trực tiếp quy định cách thức mà họ tạo lập nên thứ ngữ pháp của mình” Thế nhưng, dù rằng có thể chiến lược khái niệm hóa là nhân tố chủ yếu để phân loại ngôn ngữ học, thì bản thân sự khái niệm hóa lại không phải là nhân tố duy nhất Những nhân tố khác, chẳng hạn như giao tiếp, văn hóa, tôn giáo, xã hội, cũng quan trọng không kém Có điều, mối quan tâm chủ yếu của chúng ta ở đây là sự khái niệm hóa trong những mối quan hệ nhất định với văn hóa
Trở lại với sự khái niệm hóa, có thể nói rằng: một trong những đóng góp quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận là đã từng bước làm cho chúng ta nhận thức được sự đa dạng của mối tương quan giữa ngôn ngữ và tri nhận của các cộng đồng thuộc các các nền văn hóa khác nhau Kết quả là làm cho chúng ta nên quan
tâm nhiều hơn đến giả thuyết của Whorf ( phần Language and cognition Whorfian
effects, trong “Levison – Language and Space”)
1 Một số biểu hiện của sự đa dạng tri nhận ở phạm vi không gian ngôn ngữ học:
Liên quan đến phạm vi này, có những phạm vi thường được lưu ý mô tả, so sánh sau đây : định vị / định hướng trực chỉ, định vị/ định hướng theo địa mốc, định
vị phương hướng Ở mỗi phạm vi này, ngôn ngữ học tri nhận đều đã có thể cung
cấp một bức tranh khá đa dạng Chẳng hạn, ở phạm vi đầu tiên theo Hill
(1974,1982 .), luôn có sự phân biệt giữa hệ thống đóng và hệ thống mở (thuật
ngữ tương ứng của Heine sử dụng là mô hình mặt đối mặt (face- to- face model) và
mô hình mặt đối gáy (single –file model) Sự đối lập/ phân biệt giữa hai hệ thống này có thể được minh họa qua hình ảnh sau đây :
Trang 32Hình 1: Mô hình định vị/ định hướng trực chỉ theo Bernd Heine:
Tình huống được nêu ra ở đây là một người A tiến hành định vị một hộp B trong tương quan (không gian) với ngọn núi C Với một người sử dụng hệ thống đóng, anh ta sẽ nói rằng hộp B ở đằng trước ngọn núi C Còn người sử dụng hệ thống mở sẽ nói rằng hộp B ở đằng sau ngọn núi C Cách thức định vị này được mô tả chi tiết trong tiếng Hausa (Nigeria), một số xã hội Phi Châu và không phải Phi Châu Theo một vài nghiên cứu mô hình định vị/ định hướng trực chỉ có thể được trình bày một cách dễ hiểu theo kiểu như sau :
(a) mô hình mặt đối mặt
những yếu tố không có khung này (Svorow-1994, 21)
Đặc biệt cụ thể là sự khác nhau giữa các đối tượng nào được xem là vốn có phần trước và sau với các đối tượng không có đặc điểm này Chẳng hạn , trong tiếng Chamus (Kenya), cây cối cũng vốn có khung quy chiếu trước-sau : phía nghiêng của cây được xem là trước, trong trường hợp cây đứng thẳng thì phía có
cành lớn nhất hay có nhiều cành được xem là trước (Bernd Heine, 15 .) Tuy
nhiên, có lẽ về nội dung đáng lưu ý nhất là những phát hiện mới về tiếng Tzelt (Maya – Mexico) trong những thức định vị rất đặc biệt Trong ngôn ngữ này, vai trò
Trang 33định vị không gian không được giao phó chủ yếu cho các đặc tính của danh từ(hình dáng cụ thể và sự giới hạn hóa về vị trí định vị), động từ hay nói đúng hơn là gốc động từ (hình dáng và sự sắp xếp định vị), và phần nào đó là tính từ ; các giới từ trong ngôn ngữ chỉ đảm nhiệm một vai trò khá khiêm tốn Có thể vì vậy mà nó chỉ
một giới từ chủ yếu ta có nghĩa tương đương chung cho cả in (trong) on (trên), at (ở/ tại), from (từ), toward (về phía) Cụ thể xem P.Brown – The Ins and Ons of
Tzeltal locative expressions- 1994, 743-790, đặc biệt là các hình vẽ và những ví dụ minh họa ở trang 760
Theo P Brown thì, “trường hợp tiếng Tzelt (Maya thuộc Mexico) là một sự
thách thức trực tiếp đối với những tuyên bố khoa học tri nhận cho rằng, ở cả trong ngôn ngữ lẫn tri nhận cái gì (what) luôn luôn được phân biệt với ở đâu (where)” (743)
Đối với chúng ta, đây có thể là một trường hợp khá hy hữu và cũng thật khó hình dung rằng cái gì lại không được phân biệt thực sự với ở đâu .Tuy nhiên,
những mô tả của P.Brown (1994) và những trình bày của Levison (1996) là cụ
thể và có sức thuyết phục Và nó cho thấy sự đa dạng lớn về sự tri nhận định vị không gian trong các ngôn ngữ trên thế giới Và như vậy cũng đủ để cho chúng ta hình dung về tình trạng đa dạng này
2 Việc nghiên cứu có tính so sánh về tri nhận định vị không gian:
Cần phải đề cập lại giả thuyết đã chi phối nhiều công trình nghiên cứu có tính so sánh về tri nhận định vị không gian : Việc nắm bắt ngôn ngữ không gian luôn bao hàm cả việc nắm được khung định vị qua các khái niệm không gian được
tích luỹ từ trước, phần lớn mang tính thiên bẩm (H.H Clark, 1973 ; G Miller, Pn
Johnson-Laid,1976 ; Dl.Slobin, 1996 ) Theo đó, kiểu loại tri nhận quy định
kiểu loại ngôn ngữ
Giả thuyết này không loại trừ một thực tế là ngôn ngữ có thể quy định kiểu loại tri nhận nhiều hơn là những cái khác trong việc này Nói cách khác, theo giả thuyết này, thì những khác biệt về kiểu loại, cách thức định vị không gian giữa các ngôn ngữ được xem như là hệ quả của những khác biệt về kiểu loại, cách thức tri
Trang 34nhận không gian là công việc ít nhiều có tính giải thích Nó góp phần làm sáng tỏ
cơ chế định vị không gian trong ngôn ngữ nói chung và của từng ngôn ngữ nói riêng, và nó từng bước thiết lập nên cái ngữ pháp không gian chung và riêng trong ngôn ngữ học Nhờ những nghiên cứu như vậy mà người ta có thể hình dung trước được cơ chế định vị, các luật chi phối có tính định vị .của một ngôn ngữ xuất phát
từ một số dấu hiệu nào đó Chẳng hạn, theo Levison (1996), ở những ngôn ngữ
không có các từ chỉ không gian như : trái, phải, thì ở những nền văn hóa của
các cộng đồng nói các ngôn ngữ đó cũng không có các biểu tượng gắn với tay phải
và tay trái (356) Hay theo Heine, Claudi, Hunnemeyer (1991), trong số năm khái
niệm dưới đây :
DOWN UP IN FRONT BACK nếu có bất kỳ một khái niệm nào được phát sinh từ mô hình bộ phận cơ thể thì các khái niệm ở bên phải chúng cũng được phát sinh từ mô hình này, chẳng hạn, nếu ta
bắt gặp một ngôn ngữ nào có down (xuống, dưới) được phát sinh từ mô hình bộ phận cơ thể thì up (lên/ trên) chắc chắn cũng được phát sinh từ mô hình này
Với vấn đề chúng ta quan tâm ở đây thì có thể nói rằng cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu so sánh giữa các ngôn ngữ về sự biểu thị không gian được tiến hành trên cơ sở của những mô tả ngữ pháp hiện tại Đây là một việc quả
cảm đầy hiểm họa Đó là lời nhận xét của Levison (1996-363) về những công trình
này Bởi lẽ, tuy các công trình này muốn làm thay đổi cái giả định rằng những yếu
như at, in, on , của tiếng Anh tương ứng một-một vơi ngôn ngữ khác, thế nhưng
các công trình này lại quá ít những mô tả thích hợp, chính xác về ý nghĩa của những biểu thị không gian này trong ngữ pháp các thứ tiếng hữu quan Nếu như những sự so sánh được tiến hành cẩn thận hơn thì sẽ làm bộc lộ những sự khác nhau đáng kể ngay cả những ngôn ngữ vốn có quan hệ mật thiết như tiếng Anh và
tiếng Đức (Boowerman & Pederson, 1992)
Các sự kiện chuyển động tương ứng, kiểu như put in (để/ đặt vào trong) hay
enter (vào trong), cũng bộc lộ những biến thể xuyên ngôn (cross-linguistics) cơ bản
Khuynh hướng chung cho các ngôn ngữ là sử dụng một trong hai chiến lược từ vựng
Trang 35hóa chủ yếu : gắn đường dẫn không gian vào động từ, (như : enter (vào trong), exit (ra ngoài), insert (ấn/ nhét vào trong), hoặc gắn đường dẫn với một từ kèm của động từ : trợ từ hay phụ từ như go in (đi vào trong), go out (đi ra ngoài), put in ( đặt/
để vào trong) Tiếng Anh, theo Talmy (1985), thiên về sử dụng khuôn từ vựng hóa
thứ hai, đồng thời cũng vay mượn một vài kiểu thuộc khuôn thứ nhất từ các ngôn ngữ Roman Tiếng Việt, như đã biết, chủ yếu sử dụng khuôn từ vựng hóa thứ hai, việc biểu thị đường dẫn được giao phó cho các tiểu từ/ phụ từ chỉ hướng không gian (như vào, ra, ) Tuy nhiên, ở tiếng Việt cũng không phải là không có các trường hợp có thể được xem là thuộc vào khuôn thứ nhất
Ví dụ : Năm sau anh phải chuyển công tác lên tận Lạng Sơn phải không ? Hay Bác Ba Phi cả đêm “ngồi mài mảng, hút thuốc trên lưng một con cá
kình đước”, nó bò mang Bác vào tận nhà mà Bác cũng chẳng hay ! (Trương Chính,
Phong Châu “Truyện kể Ba Phi –Tiếng cười dân gian Việt Nam”, NXB KHXH, H
1987)
Các tiểu từ chỉ hướng không gian trong tiếng Việt đã được Nguyễn Lai
(1990) nghiên cứu và lý giải khá cụ thể, qua đó, cho thấy nhiều điểm khá thú vị về cách thức tri nhận không gian – chủ yếu là phạm vi định hướng không gian trực chỉ
của đối tượng, của địa hình ở người Việt Choi và Bowerman (1991), Bowerman
(1996) khi nghiên cứu về tiếng Hàn/ Triều Tiên cũng đã từng chỉ ra rằng, việc phân loại các hành động “để vào trong” và “để lên trên”, rất khác với các tình huống
“putting in” và “putting on” của tiếng Anh Ở tiếng Hàn, mối quan hệ có tính phân
biệt ở đây không phải là in (trong), phân biệt với on (trên), mà là sự phân biệt
giữa “vừa khít” và “lỏng lẻo” Theo đó, ở tiếng Hàn, nếu đối tượng định vị được đặt một cách vừa khít ở trong đối tượng quy chiếu thì sẽ được khái niệm hóa như là
“(đặt vào) trong”, còn trong trường hợp đối tượng định vị được đặt một cách lỏng lẻo ở trong đối tượng quy chiếu, thì sẽ được khái niệm hóa như là”(đặt lên) trên”
Cơ chế định vị của tiếng Việt- một biểu hiện cụ thể của cơ chế tri nhận – có một số điểm khác biệt với tiếng Anh là điều mà chúng ta đã phần nào ý thức được
Trang 36qua những nội dung tìm hiểu về giới từ một cách hệ thống hoặc cụ thể Khi bước vào việc tìm hiểu cụ thể về cơ chế tri nhận về phạm vi nội dung định vị có tính
tôpô, nghĩa là chúng ta đã tiến hành theo cách mà Bowerman và Pederson đã
làm – Thực hiện một danh sách các tình huống điển dạng khác nhau, có thể được
sử dụng với at, in, và on (những tình huống biểu thị bao gồm sự trùng/ chồng, sự
bao chứa và sự nâng đỡ theo phương thẳng đứng), sau đó, sẽ tiến hành xem xét rằng liệu có những khuôn mẫu xuyên ngôn nào đáng lưu ý hay không
Đây là một cách làm khá hiệu quả và có tính khách quan cao mà
Bowerman và Pederson đã thực hiện và cũng đã phát hiện ra nhiều nội dung thú
vị Chẳng hạn, họ tìm ra rằng, các tình huống sử dụng đã hình thành nên một hệ thống trật tự ngầm ẩn , theo đó, ví dụ, bất kỳ một ngôn ngữ nào có sự ngoại suy có
tính điển dạng đối với quan hệ không gian “trên” (on) theo phương nằm ngang kiểu như xem một cái nhẫn đeo ở ngón tay là ở “trên” ngón tay (on a finger), thì chắc chắn sẽ xem một con dơi (đang) bám trên trần nhà là ở”trên” trần nhà (on the ceiling)
II GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN
1 Sự định vị không gian trong ngôn ngư:õ
“Space is a relational concept” (không gian là một khái niệm quan hệ) đó là
nhận định mà Frawley đã đưa ra trong phần viết về không gian hay nói đúng hơn
là sự định vị không gian trong ngôn ngữ , là vì không có một sự định vị nào lại không cần đến một quy chiếu nào đó Định vị, trong nội dung ngữ nghĩa của nó, đã biểu thị đặc trưng gắn liền quan hệ không gian của các vật thể Nên cấu trúc ngữ nghĩa của sự diễn đạt không gian là một sự phụ thuộc giữa hai hay nhiều vật thể,
sự kiện (dẫn theo Frawley, tr.199,251) được xem nhận thức như là có quan hệ về
mặt không gian Theo đó, sự hiện thực hóa, một cái được xem là đối tương định vị và cái kia là đối tượng quy chiếu Đồng thời, dĩ nhiên phải có yếu tố để diễn đạt mối quan hệ không gian giữa hai đối tượng này
Trang 37Trong tiếng Anh, cũng như trong tiếng Việt, những yếu tố thường được sử dụng để diễn đạt mối quan hệ không gian giữa đối tượng được định vị (ĐTĐV) và đối tượng quy chiếu (ĐTQC) là các giới từ, do trong hệ thống giới từ có một số giới từ chuyên dụng để diễn đạt các mối quan hệ không gian nên được gọi là giới từ
định vị không gian Trong ví dụ (dẫn theo Frawley, tr 199.251) : The cat on the sofa (con mèo trên (chiếc) ghế sô pha), thì cat (mèo) là ĐTĐV ; sofa (ghế sô pha)
là ĐTQC ; on (trên) là giới từ định vị không gian (ĐVKG) biểu thị mối quan hệ về mặt không gian giữa ĐTĐV (cat) và ĐTQC (sofa) Ví dụ này biểu thị tình huống mà ở đó một thực thể cat (mèo) phụ thuộc về mặt không gian theo một cách nào đó (cụ thể là on : trên) vào một thực thể khác (sofa :ghế sôpha) Từ ví dụ này cho thấy rằng “cách diễn đạt không gian của ngôn ngữ luôn áp đặt một hình thức cố
định của cấu trúc vào bất cứ trường không gian thực tế nào” (Talmy – dẫn theo
199.250) Nói cách khác, đặc trưng quan hệ là đặc trưng thường trực của không
gian trong ngôn ngữ Chẳng hạn, xét ví dụ (dẫn theo Frawley 199.251) : That cat
(con mèo kia), thì ngữ nghĩa của that (kia) trong trường hợp này biểu thị một mối quan hệ hkông gian giữa ĐTĐV (cat) và ĐTQC (trong trường này là người nói), đó là “con mèo đã rời đi từ phía người nói”, ở một khoảng cách đủ để người ta có thể nói, chẳng hạn “this cat” (con mèo này).Dĩ nhiên là có những sự khác biệt giữa hai cách định vị trên (định vị bằng giới từ và trực chỉ), tuy vậy, đặc trưng quan hệ về mặt không gian luôn được duy trì Sự khác biệt giữa hai ví dụ trên chẳng qua chỉ là sự khác biệt giữa những sự lựa chọn cách thức định vị của người nói mà thôi
Có thể nói thêm rằng luôn có những nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ chi phối sự lựa chọn cách thức định vị của người nói
2 Ý nghĩa của các giới từ định vị không gian :
2.1 Mở đầu:
Về vấn đề giới từ, đặc biệt là các giới từ định vị không gian , là những yếu tố có tính chức năng, hậu kỳ và chứa đựng trong bản thân nó cơ cấu nhận thức
“ngây thơ”, “chuẩn mực” của cả cộng đồng người nói chung một thứ tiếng Với
tư cách đó, các giới từ định vị không gian thường được nghiên cứu , mô tả trong
Trang 38nhiều công trình nghiên cứu Qua những công trình này, chúng ta có thể nhận thấy rằng, giữa các ngôn ngữ luôn tồn tại những khác biệt nhất định liên quan đến việc định vị không gian Những khác biệt này, ngoài những nhân tố thuộc về ngôn ngữ như : loại hình ngôn ngữ, hệ thống các yếu tố (ngôn ngữ) được dùng để thể hiện ; còn chứa đựng những sự khác biệt về cách thức tri nhận không gian của các cộng đồng Về mặt đại thể, có thể nhắc đến những khác biệt chủ yếu sau đây :
- Có thiên hướng nghiêng về khung định vị tuyệt đối hay thiên về khung định vị quan hệ
- Mức độ của các thiên hướng này
Đi vào cụ thể, các khác biệt này được thể hiện một cách đa dạng, tuy nhiên, thường tập trung vào phạm vi định vị không có tính tôpô Cũng chính vì vậy, phạm
vi định vị có tính tôpô rất ít được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu có tính (ít nhiều) so sánh liên quan đến việc định vị không gian Thế nhưng, trong thực tế, phạm vi này cũng bộc lộ rất nhiều vấn đề đáng được lưu ý, và những khác biệt liên quan đến phạm vi này thường được thể hiện một cách rất tinh tế, nên rất cần một sự khảo cứu tỉ mỉ và cụ thể
Để bắt đầu cho việc tìm hiểu , so sánh chuyển dịch các giới từ định vị không gian giữa tiếng Anh và tiếng Việt Chúng tôi chọn cho mình phạm vi các giới từ định vị không gian có tính tôpô để khảo sát, nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu toàn bộ hệ thống giới từ của hai ngôn ngữ Anh-Việt sau này
Vì vậy, nội dung chính của chương này là tập trung mô tả về ý nghĩa định vị
không gian của ba giới từ at, in, on trong tiếng Anh
2.2 Ý nghĩa của các giới từ định vị không gian
Ý nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ là một vấn đề rất phức tạp Do đó, một cách làm thường thấy trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ được trình bày theo dạng “quan niệm”, “chấp nhận” Có thể xem ý nghĩa của một yếu tố ngôn ngữ như là một loạt các nét nghĩa khác nhau (có tính võ đoán, trừu tượng, nhị phân
như cách thức mà Benen (1975) đã xử lý đối với các giới từ tiếng Anh), hay như
cấu trúc có tính “điển dạng” (prototype) theo kiểu tâm –biên (theo cách tiếp cận
Trang 39của Brugman (1981) và một số tác giả khác ) Cách thức của A.Herskovits (
.) trong việc xử lý về ý nghĩa của giới từ tiếng Anh là như sau: Phân xuất các ý niệm điển hình (ideal meaning) ở các giới từ định vị không gian, và tiến hành mô tả hai kiểu loại (type) nghĩa phái sinh lệch chuẩn là kiểu loại (nghĩa) sử dụng và kiểu loại (nghĩa) tình huống
Ý nghĩa có tính hình học trong một thế giới lý tưởng : “một thế giới của các đường, các bề mặt và các mối quan hệ xác định bao hàm ,tiếp xúc, giao nhau,
“Kiểu loại (nghĩa) sử dụng là kiểu loại nghĩa có tính khai thác theo tập quán Kiểu loại (nghĩa) tình huống là kiểu loại nghĩa có tính ngữ dụng Ý niệm điển hình của
A Herskovits chứa đựng nhiều thuộc tính của các “điển dạng” Và khi áp dụng
vào ngữ liệu, nó được sử dụng ứng với từng giới từ cụ thể và những cách sử dụng khác nhau của chúng Trong đó, có những cách sử dụng phản ánh “chuẩn”, có những cách “lệch chuẩn” Những cách sử dụng “lệch chuẩn” có thể xem như là những cái mà chúng ta tạm dịch là sự biến nghĩa (sense shift), nhữn dung biến nghĩa (tolerance shift – được hiểu là những biến thể nghĩa trong phạm vi dung sai mà người bản ngữ có thể chấp nhận được)
Theo A Herskovits thì việc sử dụng khái niệm “ý niệm điển hình” vào
nghiên cứu giới từ tốt hơn là sử dụng khái niệm “điển dạng” Vì lẽ, thứ nhất giữa bản chất và vai trò của “điển dạng” ít có sự thống nhất, và thứ hai, với tư cách là một trường hợp điển hình, “điển dạng” có tính cụ thể khá cao Trong khi đó, đối với các giới từ thì mối quan hệ có tính hình học rất trừu tượng của chúng giữ chức năng như là mô hình trung tâm cho việc phân loại và trường hợp điển hình của nó lại không có vai trò như một “điển dạng” Nói cách khác , ý niệm điển hình tựa hồ như một hằng tố đi kèm với giới từ, và nó cho phép người ta hiểu được những dạng sử dụng mới lạ Ví dụ, một người Anh có thể hiểu dễ dàng một câu nói sai (của
người không phải bản ngữ Anh) như :*The characters in the screen (các nhân vật
trong màn ảnh), trong khi lẽ ra phải là The characters on the screen (các nhân vật trên màn ảnh)
Trang 40Theo chúng tôi , quan niệm và cách xử lý của A Herskovits tương đối hợp
lý và có thể sử dụng như là một hình mẫu cho việc phân tích ý nghĩa của giới từ định vị không gian Ưu điểm nổi bật của cách xử lý này là nó tỏ ra phù hợp với cảm quan ngữ nghĩa về giới từ, đặc biệt là về sự đa dạng trong cách dùng của chúng Bên cạnh đó, nó có những lợi thế hữu ích về mặt thực tiễn : nó tạo tiền đề cho những người không phải là bản ngữ tự xây dựng cho mình cảm thức bản ngữ, qua việc nhận thức rõ ràng hơn về “mối liên hệ” ngữ nghĩa giữa các cách thức sử dụng cụ thể với ý niệm điển hình của các giới từ này
III KHÁI NIỆM “TÔPÔ” VÀ MỘT VÀI GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỤ THỂ
Đối tương khảo sát ở đây gồm ba giới từ at, in, on – là các giới từ định vị
không gian có tính tôpô- bên cạnh đó , cách dùng của chúng rất đa dạng nên cần giới hạn phạm vi nghiên cứu của vấn đề
Như đã biết, hình học tôpô (topology) là ngành hình học nghiên cứu các thuộc tính không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi hình dáng và kích thước Cũng vì vậy mà nó được hình dung như là một loại “hình học (tấm) cao su” (ruber –sheet geometry) Điều quan tâm duy nhất của nó là “các thuộc tính hình học vẫn được bảo tồn trong điều kiện có sự biến đổi hay biến dạng Theo đó một vật hình cầu và một khối lập phương là tương đương nhau về mặt tôpô và chúng phân biệt với một
cái bánh vòng hay một cái lốp xe đạp” (Levison.362)
At, in, on đuơc xem là các giới từ định vị có tính tôpô là vì ý nghĩa định vị của nó
hay nói đúng hơn là cách thức định vị của nó không lệ thuộc vào kích cỡ hay hình dáng của các đối tượng được định vị cũng như đối tượng quy chiếu chẳng hạn
Theo A Herskovits, thì một ví dụ tốt nhất về cách dùng của in là một cái gì đó
theo kiểu”chứa đựng trong một hộp cỡ vừa” Cách hình dung này không mấy thích hợp, đúng hơn là phải hình dung dưới hình thức một mối quan hệ bao hàm có tính tôpô, bất kể chiều hướng, kích cỡ hay kiểu loại của đối tượng quy chiếu (sách/bàn)