Vậy nên, đã đến lúc cần có một cái nhìn toàn diện đối với những sáng tác của Ngô Phan Lưu, trong tiến trình phát triển của nền văn học Phú Yên đương đại nói riêng và văn học nước nhà nói
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG DUY VĨNH LẠC
ĐÓNG GÓP CỦA NGÔ PHAN LƯU ĐỐI VỚI VĂN HỌC PHÚ YÊN ĐƯƠNG ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG DUY VĨNH LẠC
ĐÓNG GÓP CỦA NGÔ PHAN LƯU ĐỐI VỚI
VĂN HỌC PHÚ YÊN ĐƯƠNG ĐẠI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS VÕ VĂN NHƠN
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Toàn bộ dữ liệu được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, đúng quy định Kết quả cuối cùng của luận văn này là do tôi tự tìm hiểu, khám phá
và phân tích một cách độc lập, khách quan, trung thực phù hợp với thực tiễn văn học Việt Nam hiện nay Đặc biệt, kết quả luận văn này chưa từng được công bố ở một công trình nghiên cứu nào trước đó
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Võ Văn Nhơn, người luôn nhiệt tình định hướng, động viên, hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn theo đúng thời gian quy định
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô Khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã hết lòng tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt khóa học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể người thân đã hỗ trợ, động viên
để tôi chuyên tâm hoàn thành luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp của đề tài 15
7 Cấu trúc của luận văn 15
NỘI DUNG 17
Chương 1: NGÔ PHAN LƯU TRONG MẠCH CHẢY VĂN HỌC PHÚ YÊN ĐƯƠNG ĐẠI 17
1.1 Khái quát về văn học Phú Yên đương đại 17
1.1.1 Sự đa dạng về đối tượng phản ánh 18
1.1.2 Sự phong phú về những xu hướng tìm tòi 21
1.1.3 Sự đông đảo của những cây bút viết văn xuôi 25
1.2 Nhà văn Ngô Phan Lưu trong bối cảnh văn học Phú Yên đương đại 33
1.2.1 Đôi nét về cuộc đời 33
1.2.2 Hành trình đi tìm văn chương 34
1.2.3 Quan niệm sáng tác 40
Tiểu kết chương 1 46
Chương 2: ĐÓNG GÓP CỦA NGÔ PHAN LƯU ĐỐI VỚI VĂN HỌC PHÚ YÊN ĐƯƠNG ĐẠI VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 47
2.1 Cảm hứng sáng tác của Ngô Phan Lưu 47
2.1.1 Cảm hứng thế sự 47
2.1.2 Cảm hứng đạo lý 52
2.2 Con người trong sáng tác của Ngô Phan Lưu 56
2.2.1 Đổi mới quan niệm về con người 56
2.2.2 Những kiểu nhân vật 67
2.3 Những đổi mới trong cách tiếp cận đề tài của Ngô Phan Lưu 75
2.3.1 Đề tài nông thôn 76
2.3.2 Đề tài đô thị hóa 86
Trang 6Tiểu kết chương 2 96
Chương 3: ĐÓNG GÓP CỦA NGÔ PHAN LƯU ĐỐI VỚI VĂN HỌC PHÚ YÊN ĐƯƠNG ĐẠI VỀ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 97
3.1 Bút pháp của Ngô Phan Lưu 97
3.1.1 Khái niệm bút pháp 97
3.1.2 Bút pháp mới của Ngô Phan Lưu 97
3.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống của Ngô Phan Lưu 105
3.2.1 Quan niệm của các nhà văn về tình huống 105
3.2.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo của Ngô Phan Lưu 107
3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Ngô Phan Lưu 111
3.3.1 Miêu tả tâm lý nhân vật 112
3.3.2 Miêu tả ngoại hình nhân vật 117
3.4 Cách tổ chức ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Ngô Phan Lưu 121
3.4.1 Cách tổ chức ngôn ngữ 121
3.4.2 Sự đa dạng về sắc thái giọng điệu 128
Tiểu kết chương 3 135
KẾT LUẬN 136
A TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
B CÁC TÁC PHẨM KHẢO SÁT 144
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đất nước ta đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử Chiến thắng năm
1975 đã mở ra cho đất nước ta một trang lịch sử mới, non sông gấm vóc thu về một mối, Bắc Nam sum họp một nhà Từ đây, dân tộc ta bước sang một thời kỳ mới và
có quyền hy vọng về một tương lai tươi sáng đầy rạng rỡ Cùng với sự thay đổi của lịch sử, văn học cũng có những bước chuyển mình tạo nên những diện mạo mới Bao giờ cũng thế, văn học luôn có sự tự thân vận động biến đổi của riêng nó Tuy nhiên dù có có tự thân vận động đến đâu chăng nữa nhưng nếu thiếu đi những nhà văn chân chính và trách nhiệm thì sự vận động biến đổi ấy sẽ không thể nào toàn diện được
1.2 Từ sau Đại hội của Đảng lần thứ VI (1986), chủ trương đổi mới của
Đảng, đã tác động mạnh mẽ và đem lại những chuyển biến diệu kì trong đời sống thực tại lẫn đời sống văn học Trong lĩnh vực văn học, hòa nhịp cùng đà phát triển đổi mới văn học, truyện ngắn đã phát triển rất sôi động với nhiều xu hướng, nhiều hiện tượng khác nhau và thực sự đã có nhiều thành tựu đáng để ghi nhận Sự phong phú, đa dạng, phức tạp của văn học nước nhà thời kỳ này thể hiện trên nhiều bình diện: cảm hứng, đề tài, chủ đề, khuynh hướng thẩm mỹ, phong cách, thủ pháp nghệ thuật Sự xuất hiện của các thế hệ nhà văn mang nhiều phong cách, đã đem đến nhiều trải nghiệm và khám phá mới mẻ trong văn học với những thành tựu “hiện đại hóa”
1.3 Trong tiến trình văn học Việt Nam, văn học Phú Yên được hình thành và
phát triển chậm hơn so với một số tỉnh thành trong cả nước, lại xa các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn nên thiếu một môi trường thuận lợi để cạnh tranh, nâng cao chất lượng nghệ thuật Tuy nhiên, càng về sau văn học Phú Yên càng vận động mạnh mẽ, nhịp độ phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu của độc giả Độc giả cả nước không chỉ biết đến Phú Yên như một địa chỉ đỏ của văn học cách mạng trong thời kháng chiến, mà còn những thành tựu đáng ghi nhận của văn học Phú Yên giai đoạn cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI Trong gần 20 năm đầu thế kỉ XXI, nhiều tác
Trang 8giả tiêu biểu của Phú Yên liên tục cho ra mắt những “đứa con tinh thần” có giá trị, nhiều tác phẩm đoạt giải thưởng cấp Quốc gia Bên cạnh việc thể hiện những đặc điểm chung của văn học cả nước qua từng giai đoạn phát triển, văn học địa phương vẫn thường mang hơi thở riêng của môi trường nuôi dưỡng nó
1.4 Ngô Phan Lưu xuất hiện khá muộn trên văn đàn, như chính nền văn học
Phú Yên của ông so với tiến trình văn học đất nước, nhưng lại tạo được những tiếng vang lớn Ông chọn cho mình lối đi giữa truyền thống và hiện đại, với một cách viết
“kiệm lời một cách đặc sánh” và “nhân bản một cách kỳ dị” (“Cuộc thi truyện ngắn
báo Văn nghệ: Phong phú giọng điệu”, 2010) Điều đó đã tạo nên sức hút trong sáng tác của Ngô Phan Lưu Truyện ngắn của Ngô Phan Lưu, từng có thời gian nổi lên như một hiện tượng văn học mới trên văn đàn với những đánh giá có nhiều triển vọng Song những giá trị chứa trong nó vẫn còn nhiều bí ẩn Vậy nên, đã đến lúc cần có một cái nhìn toàn diện đối với những sáng tác của Ngô Phan Lưu, trong tiến trình phát triển của nền văn học Phú Yên đương đại nói riêng và văn học nước nhà nói chung
Vì vậy, từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Đóng góp của Ngô Phan Lưu đối với văn học Phú Yên đương đại để nghiên cứu, mong muốn
đóng góp một phần nhỏ trên hành trình tìm kiếm những giá trị tiềm ẩn trong sáng tác của nhà văn
2 Lịch sử vấn đề
Từ sau năm 1986, cùng với cột mốc Đổi mới của hoàn cảnh đất nước và những chuyển biến lịch sử xung quanh nó, văn học có những đổi mới đáng kể và đã đạt được những bước tiến quan trọng về nhận thức sáng tạo Công cuộc đổi mới văn học đã mở ra cho văn nghệ sĩ một chân trời mới để khám phá và sáng tạo Hiện thực đời sống với nhiều biến động phức tạp của thời kì đổi mới và hội nhập thực sự là vùng đất thỏa sức cho sáng tạo văn học nghệ thuật Mở rộng biên độ hiện thực, tăng cường sự thật đã đem lại cho văn xuôi sau 1986 mà đặc biệt với truyện ngắn, có nhiều ưu thế trong sáng tạo Văn xuôi bắt đầu có những chuyển biến tích cực vượt
ra khỏi những đề tài quen thuộc (đề tài nông thôn, đề tài chiến tranh), hướng đến
Trang 9khám phá sâu hơn vào những vùng hiện thực mà trước đây văn học đã bỏ quên hoặc chưa được chú ý đến với một cái nhìn đầy đủ và toàn diện: đề tài cuộc sống đô thị,
đề tài đời tư thế sự, đề tài chống tiêu cực… Có thể nói, dù ở đề tài nào thì cái đích cuối cùng vẫn nói về cuộc sống và con người, nhưng sự phản ánh, cắt nghĩa ở mỗi nhà văn lại thể hiện ở những góc độ khác nhau để làm rõ những sự thật, mặt trái, góc khuất của cuộc sống và con người mà trước đây các nhà văn chưa có điều kiện
mổ xẻ, với một kĩ thuật trình diễn riêng đã để lại nhiều dấu ấn trong quá trình vận động và phát triển của văn xuôi đương đại Điều đó lí giải vì sao văn xuôi trở nên hấp dẫn hơn đối với bạn đọc, đặc biệt là văn xuôi những năm đầu thế kỉ XXI
Nằm trong dòng chảy ấy, truyện ngắn Ngô Phan Lưu có những đổi mới trên
cả hai phương diện: nội dung lẫn hình thức nghệ thuật với những bứt phá trong nghệ thuật kể chuyện và sự rộng mở của biên độ đề tài Điều đó đã ít nhiều góp phần xáo xới đời sống văn học có phần yên ắng trong những năm gần đây, đặc biệt khi đặt Ngô Phan Lưu trong dòng chảy của nền văn học Phú Yên đương đại Cho đến nay, sáng tác của Ngô Phan Lưu chưa nhiều lắm, nhưng đủ để lại trong lòng người đọc những cảm xúc và những cảm nhận khác nhau Điều đó đã góp phần không nhỏ vào việc làm nên diện mạo và thành tựu của văn học Việt Nam đầu thế
kỉ XXI nói chung và nền văn học Phú Yên nói riêng Những vấn đề được đề cập xuyên suốt trong truyện ngắn của ông là cuộc sống con người, với những vấn đề phức tạp, đa chiều vốn có của nó
Dù chỉ mới được biết đến qua một số công trình nghiên cứu và những nhận định, đánh giá của tập thể các nhà văn, nhà thơ nói chung và cá nhân những nhà yêu thích nghiên cứu văn chương Ngô Phan Lưu nói riêng, nhưng theo chúng tôi những nhận định ấy đủ để làm cơ sở để tiếp tục đi sâu vào những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học Phú Yên Bởi chỉ khi đặt những sáng tác của Ngô Phan Lưu, trong mạch chảy của văn học Phú Yên đương đại, mới thấy hết được những giá trị nổi bật về nghệ thuật trong truyện ngắn của Ngô Phan Lưu Độc giả khi tiếp nhận tác phẩm của Ngô Phan Lưu có rất nhiều ý kiến nhận định khác nhau, nhưng đến nay chủ yếu vẫn là những lời khen, ca ngợi sáng tác của ông Điều đó chứng tỏ,
Trang 10dù đến với văn đàn khi tuổi đã cao nhưng nhà văn đã tạo cho mình một chỗ đứng riêng không lẫn vào đâu Và những sáng tác của ông thực sự là vấn đề thời sự đáng được lưu tâm
Vấn đề xã hội, vấn đề người cầm bút là những điều đáng quan tâm trong văn học thời hiện đại Tuy Ngô Phan Lưu khá bấp bênh khi tìm đến văn chương, nhưng ông đã nhanh chóng tìm ra con đường cho sự nghiệp cầm bút của mình Và cũng như nhiều nhà văn cùng thời, trong các sáng tác của ông, điều quan trọng phục vụ sáng tác là đời sống hiện thực và con người Trong đó, đời sống hiện thực được nhà văn miêu tả, tái tạo bằng con mắt tinh tường của người nghệ sĩ và bằng chính cái tâm của người nghệ sĩ trọn đời gắn bó với quê hương Còn vấn đề con người lại được nhà văn thể hiện ở nhiều góc độ với nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều vị trí, cương vị khác nhau Song, suy cho cùng thì nó vẫn dựa trên những quan điểm tiến
bộ về nhân sinh quan, cảm quan về thời đại mới của nhà văn
Nhưng nghệ thuật không bao giờ chịu dừng lại ở sự bình yên phẳng lặng hay chịu bằng lòng với những gì sẵn có, mà nó buộc người nghệ sĩ phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật mới, những phương thức diễn đạt mới Điều này lý giải vì sao Ngô Phan Lưu lại luôn tìm cho mình một lối viết mới,
và nhờ tìm cho mình lối viết mới mà những đề tài của ông dường như chẳng bao giờ
là cũ cả, dù cho đề tài của ông viết về nông thôn và những người nông dân Vì thế, mới có nhiều nhận định về phương thức cũng như nội dung trong sáng tác nghệ thuật của Ngô Phan Lưu Nguyễn Hiệp (2016) trong bài viết “Thử giải mã ba nhà
văn khó đọc ba miền”, trên Tạp chí Sông Hương đã chỉ ra ba nhà văn khó đọc nhất
ở ba miền và trong đó có sự xuất hiện của Ngô Phan Lưu với lối viết độ không:
Trường hợp nhà văn Ngô Phan Lưu, một trong những “cây gộc” nhà văn - nông dân của miền Trung vào những năm gần đây là lối viết trở về, ông đã xóa hết những ảnh hưởng Tây học với mong muốn có lối viết trơn, lối viết hồn cốt của minh triết Việt
Trang 11Lối viết độ không là một lối viết hoàn toàn mới trong văn học Phú Yên Chính nhờ lối viết đặc biệt đó, đã đem lại những giá trị đặc biệt trong sáng tác của
nhà văn Ngô Phan Lưu, đó là sự đơn giản và không cầu kỳ trong lối viết
Tìm đến với con đường văn chương từ năm 1995, với thể loại ban đầu là sáng tác thơ, nhưng không thể tạo được ấn tượng trên con đường sáng tạo nghệ thuật Thất bại chưa bao giờ khiến Ngô Phan Lưu gục ngã và từ bỏ niềm đam mê của mình Bằng chứng là năm 2004, ông cho xuất bản tập truyện ngắn đầu tay với
tựa đề Người không giăng câu kiều do Nxb Văn hóa thông tin phát hành Tập truyện
ngắn chưa thực sự tạo được tiếng vang, nhưng vẫn có những nhà phê bình, những
người yêu văn chương đã có cái nhìn tích cực về tập truyện ngắn Đặng Đình Túy (2007) trong bài viết “Vài ý nghĩ về lối viết truyện ngắn của Ngô Phan Lưu” trên
https://www.docs.google.com/, đã có đánh giá một cách khái quát về những truyện
ngắn được in trong cuốn Người không giăng câu kiều Đặng Đình Túy đã khẳng định Hội Vǎn học nghệ thuật Phú Yên khi hỗ trợ kinh phí xuất bản cuốn Người
không giăng câu kiều là “có con mắt tinh đời” Bởi lẽ, theo tác giả đây là cuốn
truyện chứa đựng sức nặng của bao tâm tình, chan chứa biết bao nỗi lòng trăn trở của người cầm bút:
Cuốn truyện không quá 140 trang kể cả bìa lẫn bài bạt (do Nguyễn Thị Thu Trang viết) mà gói ghém đến 18 truyện ngắn khiến cho kẻ cầm cuốn sách (mà chưa kịp đọc) lấy làm thắc mắc tự hỏi liệu có đủ chỗ cho ngần ấy tâm tình? Tôi không nói quá đáng đâu: từ những xây dựng mang tính ngụ ngôn
ẩn dụ (Bí phương công bố) đến cách bày tỏ tâm tình kín đáo lãng mạn (Nhạc
trầm my) rồi qua những nét chấm phá những hoạt cảnh của lối sống làng quê,
những bǎn khoǎn của tâm tình phút chốc xao động (Sóng bạc đầu) đâu đâu ta
cũng thấy cách nói-rất-nhiều-mà-lời-rất-ít của anh Lưu
Trong lời bạt của cuốn Người không giăng câu kiều, Nguyễn Thị Thu Trang
cũng nêu lên ấn tượng của mình về tập truyện ngắn này của Ngô Phan Lưu Điểm đặc biệt ở truyện ngắn Ngô Phan Lưu chính là việc xây dựng các nhân vật, theo Nguyễn Thị Thu Trang (2004) thì:
Trang 12Có vẻ như Ngô Phan Lưu quan tâm tới thế giới những người già hơn là khai thác những hồn nhiên mơ mộng, những trắc trở tình duyên của lớp trẻ Nếu chịu khó thống kê một chút thì sẽ thấy có khoảng 90% số truyện ngắn của Ngô Phan Lưu viết về những người già Nếu họ không già về tuổi tác, thì tâm hồn họ cũng đã “từng trải và chất lượng” (…) Họ không phải là biểu tượng cho sự tương phản giữa nội dung và hình thức, cũng không phải là sự
lý giải về mối liên hệ nghiệt ngã giữa môi trường sống và con người Nhân vật của Ngô Phan Lưu là những con người của đời thường Có đặc biệt một chút trong hành vi, dung mạo nhưng vẫn liên hệ mật thiết với đời thường Và cho dù cuộc sống có hoang sơ, gai góc thậm chí lạnh nhạt thì con người vẫn mong được tìm thấy sự chia sẻ, cảm thông (tr.127)
trong con người, trong cuộc đời Ngoài xây dựng nhân vật đầy ấn tượng, Nguyễn Thị Thu Trang (2004) còn khẳng định sức hấp dẫn của truyện Ngô Phan Lưu còn ở phương diện xây dựng tình huống và kết cấu truyện Cùng với đó, ngôn ngữ trong các truyện ngắn của Ngô Phan Lưu cũng là điều thu hút độc giả, khiến độc giả yêu mến văn của ông:
Những truyện của Ngô Phan Lưu hay còn là do tác giả có khả năng phát hiện tình huống, biết tổ chức sắp xếp các chi tiết trong truyện và có cách dẫn dắt, cách viết riêng v.v Nói tóm lại đọc các truyện ngắn của Ngô Phan Lưu chúng ta đều cảm nhận được cuộc sống cựa quậy, sống động; với nhiều nỗi buồn, niềm vui khác nhau Ngô Phan Lưu có cách dùng từ ngồ ngộ và cách hành văn hài hước rất riêng (tr.130)
Ngô Phan Lưu chỉ thực sự nổi bật trên văn đàn Việt Nam, và trở thành một
hiện tượng trong văn học, sau khi giành được giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Báo
Văn nghệ năm 2006 - 2007, với hai truyện ngắn Cơm chiều và Buổi sáng biến mất
Từ hai truyện ngắn đạt giải của Ngô Phan Lưu, đã có nhiều bài bình luận, đánh giá
về sáng tác của ông Nhà văn Dạ Ngân – thành viên ban chung khảo của cuộc thi, khi trả lời phỏng vấn phóng viên báo An ninh thủ đô (2010) trong bài phỏng vấn
Trang 13“Cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ: phong phú giọng điệu”, đã có những nhận xét xác đáng về truyện ngắn của Ngô Phan Lưu: “Ngô Phan Lưu không viết dài, nhưng
nó quá đủ, nó kiệm lời một cách đặc sánh Viết như thế mới tài, và nhân bản một cách kỳ dị”, đồng thời cũng chỉ rõ “nhược điểm còn tồn tại là kết thúc kiểu đóng sập cửa, không để lại dư ba” Quả thực truyện ngắn của Ngô Phan Lưu luôn rất ngắn, không những ngắn ở số lượng câu, mà số lượng từ trong một câu cũng rất hạn chế Nhưng sự ngắn gọn đó không mang lại cảm giác thiếu thốn cho người đọc, ngược lại người đọc lại cảm thấy vừa đủ ở ý nghĩa lẫn nội dung
Xuất thân từ nông dân, dành cả cuộc đời sống chốn làng quê hiu quạnh Hơn
ai hết, Ngô Phan Lưu nhận ra những đổ vỡ trong bản chất của những người nông dân Họ chẳng còn chất phác, đôn hậu như trước nữa Họ đã bắt đầu mưu tính, hòng kiếm lợi cho bản thân Một làng quê hiền lành đã bắt đầu dậy sóng, láng giềng bắt đầu đối xử tàn tệ với nhau Nhà phê bình văn học Hoài Nam (2007), khi nói về
truyện ngắn đạt giải Nhất của Ngô Phan Lưu là Buổi sáng biến mất, đã có cái nhìn
đầy khách quan và chân thực:
Từ một phía khác, tập truyện này còn chứa đựng cả những cái nhìn lạnh sắc, những cái nhìn xoáy sâu vào tồn tại nhân sinh để phát hiện những bi kịch đã, đang hoặc sẽ xảy đến với bất cứ ai Tôi muốn nói đến truyện “Buổi sáng biến mất” của Ngô Phan Lưu (giải Nhất) Có lẽ đây là truyện khiêm tốn nhất về dung lượng câu chữ nhưng để lại dư ba lâu dài nhất trong số 36 truyện của tập sách Nhân vật chính của truyện, theo tôi, là cái chết báo trước của người
bị bệnh ung thư gan giai đoạn chót Bản thân người bệnh, vợ và con ông ta, người hàng xóm đến thăm hỏi Tất cả chỉ là những nhân vật phụ Cái chết chình ình như một thực tế không cách nào trốn tránh, và ai nấy đều mong nó đến càng nhanh càng tốt Vợ con người bệnh mong nó để trút được gánh nặng mà họ chừng như không thể kham nổi Người bệnh mong nó để thoát khỏi những đau đớn thể xác và thoát khỏi sự ghẻ lạnh của những người thân Anh hàng xóm mong nó để khỏi phải chứng kiến cái bi kịch của
sự khô kiệt tình người không thể cưỡng lại này Tất cả đều được bày ra công
Trang 14khai, không che giấu, bằng sự chuyển tải của những câu văn ngắn, tiết tấu nhanh, dồn dập Một câu hỏi treo lơ lửng: Ai là kẻ có lỗi ở đây? Không có, và không thể có lời đáp xác quyết Chính vì vậy mà “Buổi sáng biến mất” trở nên nhức nhối như một công án mà ta hoàn toàn có thể nhận diện nó trong đời sống thực tế, nhưng không bao giờ tìm được câu trả lời!
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (2007) trong bài viết “Truyện ngắn không biến mất”, lại phát hiện ra tính kịch và sự dồn nén chủ đề trong hai truyện ngắn đạt
giải Buổi sáng biến mất và Cơm chiều, như sau:
Tác giả có cái tên mới lạ và tuổi đời ngoại lục thập này ở Phú Yên trình làng một lối viết truyện ngắn mang kịch tính cao và có hình thức kịch Khung cảnh truyện rất bình thường, nhưng xung đột truyện thì mạnh, và chủ đề truyện thì lớn vượt ra ngoài phạm vi đề tài Cuộc sống bức bí, nặng nề của con người; thân phận những đời người - nói được những điều ấy trong một dung lượng dồn nén, chất chứa của truyện ngắn là cố gắng lớn của tác giả Nghệ thuật đôi khi chính là những điều gần gũi nhất với cuộc sống, đồng thời là những điều giản đơn nhất, không cầu kỳ, kiểu cách Và Ngô Phan Lưu là một trong những tác giả làm được điều đó trong sáng tác của mình Người đọc sẽ thấy văn của Ngô Phan Lưu không hàn lâm, triết học, mà nó vô cùng đời thường Trong bài viết “Đặc sắc truyện ngắn Ngô Phan Lưu” của tác giả Đoàn Ánh Dương (2013) trên Báo Quân đội nhân dân, đã có nhận định rằng:
Truyện ngắn của Ngô Phan Lưu nếu không phải là những “truyện không có chuyện” như thế thì cũng thể hiện những khoảnh khắc rất ngắn ngủi của đời sống, tóm bắt chúng, nghiền ngẫm chúng, bằng một giọng văn sắc lạnh, bằng cái nhìn thấu thị, để sau đấy là lửng lơ những dằn vặt, trăn trở Không gian truyện ngắn Ngô Phan Lưu thuộc về làng quê, được ông đặt với nhiều cái tên, khi nôm là xóm Ao, khi chữ là Thạch Thổ,… có vẻ gắn với không gian Phú Yên quê hương ông, nhưng những gì xảy ra ở đấy thì hầu như không chỉ
Trang 15riêng thuộc về đấy Nó hiện diện như những chưng cất của nhà văn khi quan sát và chiêm nghiệm về cõi đời, lòng người
Xuất thân là nông dân, lại đến với văn chương khi tuổi đời khá cao, Ngô Phan Lưu trở thành một hiện tượng đặc biệt trong nền văn học Phú Yên đương đại Đoàn Ánh Dương (2013), trong bài viết “Đặc sắc truyện ngắn Ngô Phan Lưu”, một lần nữa lại khẳng định sự đặc biệt của Ngô Phan Lưu đối với văn học Phú Yên nói riêng và văn đàn Việt Nam nói chung:
Ngô Phan Lưu đã làm nên một “hiện tượng lạ” trong đời sống văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI: Một lão nhà văn tinh anh trong vây phủ của rất nhiều hồ hởi các nhà văn trẻ Truyện ngắn (và phần nào cả tạp bút) của Ngô Phan Lưu, thảng hoặc có ít nhiều trồi sụt, song về cơ bản đều gây được những ấn tượng nghệ thuật Giữ được một mạch văn, một lối viết vừa sâu sắc thâm trầm vừa nhẹ nhàng hóm hỉnh, phẩm chất ấy làm nên vẻ đẹp của văn chương Ngô Phan Lưu
Văn Ngọc (2008) trong bài viết “Cơm chiều của một lão nông”, trên Báo Phú Yên, cũng đã dành cho Ngô Phan Lưu những nhận xét hết sức xác đáng về cách hành văn Từ đó, Ngô Phan Lưu cho độc giả thấy được một vùng quê Trung Trung
Bộ với những con người tảo tần, lam lũ Dù cho họ có nghèo về vật chất, nhưng bản chất lương thiện vẫn không bị đánh cắp, họ vẫn giữ đúng bản chất hồn hậu, chân phương của mình:
Văn xuôi Ngô Phan Lưu có thể xem như một góc nhìn về nông thôn miền Trung, với những con người bộc trực, gieo neo và dằn vặt Trực diện vào tác phẩm của ông, không thấy những câu văn uyển chuyển khéo léo, mà thấy rất nhiều những câu văn triết lý nhân sinh Thế nhưng, người đọc không có cảm giác khô khan khó chịu, vì Ngô Phan Lưu biết cách dùng những đối thoại ngắn và liên tục chuyển đổi tình tiết Tác giả “Cơm chiều” phơi bày nhiều thái độ gay gắt, chọn lựa nhiều hành động lạnh lùng, nhưng khép sách lại vẫn thấy cái lương thiện không bị nhòa lấp, cái lam lũ không bị dìm xuống khốn cùng, cái đắng đót không bị rơi vào tuyệt vọng
Trang 16Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Ngô Phan Lưu, là những con người
cô đơn Sự cô đơn đeo bám lấy các nhân vật từ trẻ đến già, từ phụ nữ cho đến đàn ông Họ cô đơn trong chính sự tồn tại của mình Chính vì mang trong mình sự cô đơn, nên họ luôn có những triết lý nhân sinh về cuộc đời Nguyễn Xuân Thủy (2012), trong bài viết “Ngô Phan Lưu: xoa tay và cười”, khi nhìn về những sáng tác của Ngô Phan Lưu từ phương diện nội dung và hình thức, có nhận định như sau:
Những trang viết của ông thường xuất hiện những đứa trẻ, bà vợ, cây cỏ trong vườn, con vật… Mọi triết lý sâu xa ẩn dưới những câu chuyện bình dị
ai ai cũng có thể nhìn thấy hằng ngày, nhưng khi đặt nó dưới lăng kính của mình, ông có biệt tài làm cho chúng lên màu và trở nên quyến rũ, bằng cách móc nó lại với nhau, gắn cho nó những dấu hỏi, những chiêm nghiệm để bạn đọc buộc phải suy ngẫm Giống như kỹ thuật buồng tối, có thể xử lý hiện thực theo dụng ý của mình Nói thế là bởi, trong nhiều nghề đã trải, đã có thời gian Ngô Phan Lưu làm nghề chụp ảnh
Trôi giữa dòng đời nhưng ông không để dòng đời cuốn trôi, ông đã biết buông xả, ông biết chọn cho mình một quỹ đạo riêng, để bập bềnh cùng
nó Và nếu như có gì đó diễn ra không như ý muốn thì ông sẽ chỉ… xoa tay
và cười tự giễu mà thôi
Nhà phê bình văn học Nguyễn Chí Hoan (2009), trong bài viết “Ngô Phan
Lưu xảy ra”, bài viết mở đầu của tập truyện Xoa tay và cười đã khẳng định tính chất
nổi trội trong các sáng tác của Ngô Phan Lưu, đó chính là sự nhập nhằng giữa hư và thực, giữa hoang đường và tại đường Nhưng bằng ngòi bút tài tình của mình, Ngô Phan Lưu đem đến một thế giới “mỏng dính giữa có và không”:
Giữa cái tại đường mà nhìn thấy cái hoang đường; truyện không phải hư cấu
mà đi trên con đường mỏng dính giữa Có và Không; một phong cách xoáy vào cái thời khắc hiện tại, kể hiện tại chứ không kể chuyện, hay là vượt qua
sự kể để tìm cách đi trực diện vào khoảng rỗng vô cùng của ý thức; tất cả đó
là những tính chất nổi bật trên những truyện ngắn này của Ngô Phan Lưu, trình hiện một cái nhìn lạ lùng quen thuộc-quen, là bởi ở đây toàn những
Trang 17người ta có thể (hay đã có lần) gặp, và lạ lùng bởi những người ấy trong trang phục hớ hênh của ý thức khiến ta thấy họ (hay thấy chính mình?) rỗng không như ảo ảnh Trong truyện của Ngô Phan Lưu chỉ những người là người (vâng, tôi nhại một mệnh đề nổi tiếng: “Những chữ là chữ”!) (tr.5) Đọc văn của Ngô Phan Lưu sẽ thấy được con người xuất hiện rất nhiều, dường như mỗi một câu chuyện đều có ít nhất vài ba con người, dù cho đó là truyện ngắn Mỗi một con người lại mang một dáng vóc khác nhau, nhưng họ rất đời thường
Ngô Phan Lưu xuất hiện trên văn đàn như một hiện tượng đặc biệt Chưa bao giờ nhà văn đi theo những xu hướng có sẵn, mà ngược lại ông luôn tìm cho mình một hướng đi rất mới Sự mới ở đây có thể là thế giới để nhân vật tồn tại đầy khác
lạ và dị thường, nhưng lại khá giống với đời thường Đồng thời, bằng ngòi bút đặc biệt của mình, Ngô Phan Lưu đã tạo nên những tác phẩm vô cùng ấn tượng Ngôn
từ trong các sáng tác của Ngô Phan Lưu cũng rất được chú ý Không chỉ có lối viết đặc sắc, xây dựng nhân vật khác lạ mà ngôn từ của Ngô Phan Lưu cũng rất đặc biệt ngôn ngữ của người kể chuyện cũng lạ thường, không theo logíc biểu đạt thông thường Đó là loại ngôn ngữ trào phúng và đầy chất trí tuệ Chúng ta không thể lấy các chuẩn mực ngữ pháp trong sách giáo khoa để đánh giá câu văn của Ngô Phan Lưu Chính những câu văn lệch chuẩn, ngắn ngủn và tưng tửng ấy đã tạo nên sự hấp dẫn bạn đọc
Những tác phẩm của Ngô Phan Lưu luôn chứa đựng sự sâu sắc, ấn tượng trong từng trang viết Những truyện ngắn từ từ thấm vào tâm can người đọc, khiến độc giả không ngừng suy nghĩ, không ngừng trăn trở và thổn thức cùng nhà văn Có đôi khi sự hồi hộp, gay cấn, trước những mâu thuẫn như bóp nghẹt trái tim của người đọc Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm được một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu
về nhà văn Phú Yên này Trước hết, đó là luận văn Đặc điểm truyện ngắn Ngô Phan
Lưu, tác giả Nguyễn Thị Lan Anh (ĐHSP Hà Nội – 2010) đã nghiên cứu rất kỹ về
quan điểm nghệ thuật, hành trình văn xuôi Ngô Phan Lưu, đặc điểm nội dung tư tưởng và đặc điểm về hình thức nghệ thuật trong truyện ngắn Ngô Phan Lưu Trong
Trang 18luận văn, tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề nhân vật trong truyện ngắn Ngô Phan Lưu và đã chỉ ra một số đặc điểm về kiểu con người trong tác phẩm của nhà văn
Luận văn Đóng góp nghệ thuật của truyện ngắn Ngô Phan Lưu (ĐHSP Vinh
– 2013) của tác giả Hồ Thị Lan Anh Đây là công trình nghiên cứu có giá trị to lớn trong việc chỉ ra những đóng góp nghệ thuật độc đáo của nhà văn Ngô Phan Lưu Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những đóng góp của Ngô Phan Lưu trên phương diện nghệ thuật Tác giả luận văn cũng đã đưa ra được cái nhìn nghệ thuật về con người trong các truyện ngắn của Ngô Phan Lưu: Con người – những cá thể cô đơn, con người – nơi tranh chấp giữa thiện và ác, con người – nơi tính thiện làm sáng tỏ bản chất người Cùng với đó là những đóng góp nghệ thuật của Ngô Phan Lưu cho nền văn học nước nhà
Luận văn Nhân vật trong truyện ngắn Ngô Phan Lưu của tác giả Hoàng Thị
Huyền (ĐHSP Hà Nội – 2017), đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm các nhân vật trong sáng tác của Ngô Phan Lưu trên nhiều bình diện và từ đó đi phân loại các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Tác giả luận văn, còn đi tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nên nhân vật bằng việc xây dựng nên tình huống, tạo dựng những chi tiết và
cách sử dụng ngôn ngữ đầy ấn tượng của nhà văn
Nhìn chung, qua một số công trình liệt kê trên, chúng tôi nhận thấy, Ngô Phan Lưu là một trong những tác giả văn học đang được các nhà nghiên cứu chú ý Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện
về những đóng góp của Ngô Phan Lưu đối với nền văn học Phú Yên đương đại Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu, phát triển các ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi
sẽ tập trung khắc sâu những đóng góp mang màu sắc riêng của truyện ngắn Ngô Phan Lưu trong dòng chảy của văn học Phú Yên đương đại Để từ đó, có thể thấy được sự đóng góp của Ngô Phan Lưu cho nền văn học Phú Yên, nơi quê hương, xứ
sở của nhà văn
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng tới mục đích đi tìm những đóng góp của Ngô Phan Lưu đối với nền văn học Phú Yên đương đại, trên hai phương diện
Trang 19chính đó là nội dung và nghệ thuật Từ đó, khẳng định những đóng góp của nhà văn Ngô Phan Lưu trong văn học Việt Nam nói chung và văn học Phú Yên nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi xác định rõ đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là tìm hiểu những đóng góp của Ngô Phan Lưu đối với nền văn học Phú Yên và đặt nó trong mạch chảy của nền văn học Việt Nam đương thời
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài là bốn tập truyện ngắn:
- Ngô Phan Lưu (2004) Người không giăng câu kiều Hà Nội: Văn hóa
thông tin
- Ngô Phan Lưu (2008) Cơm chiều Hà Nội: Phụ Nữ
- Ngô Phan Lưu (2009) Xoa tay và cười Hà Nội: Văn học
- Ngô Phan Lưu (2010) Con lươn chép miệng Hà Nội: Văn học
Ngoài ra, trong luận văn cũng còn sử dụng các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ khác để từ đó thấy rõ nét hơn những đóng góp của Ngô Phan Lưu về mọi phương diện
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
cơ bản sau:
5.1 Phương pháp phê bình thi pháp học
Phương pháp này giúp người viết có thể đi sâu khai thác hình thức nghệ thuật của văn xuôi Ngô Phan Lưu Phương pháp này còn giúp cho người viết có một cách nhìn tổng quát và sâu sắc hơn về đóng góp của Ngô Phan Lưu về phương diện nghệ thuật
Trang 205.2 Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống là phương pháp nghiên cứu giúp người viết có thể đi
từ những tác phẩm cụ thể đến những kết luận tổng quát Phương pháp này còn giúp cho người nghiên cứu có thể có một cách nhìn tổng quát và toàn diện sáng tác của Ngô Phan Lưu
5.3 Phương pháp xã hội – lịch sử
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử - xã hội
để đặt tác phẩm của Ngô Phan Lưu trong bối cảnh lịch sử, xã hội cụ thể, từ đó thấy được những đóng góp của Ngô Phan Lưu về phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật đối với nền văn học Phú Yên đương đại
5.4 Phương pháp liên ngành
Luận văn sử dụng kiến thức của các ngành khoa học xã hội khác như: sử học, văn hóa học, để khai thác những phương diện lịch sử, văn hóa trong tác phẩm Đặt tác phẩm vào bối cảnh không gian văn hóa Trung Bộ để khám phá, lý giải cho những lựa chọn thủ pháp nghệ thuật của nhà văn làm cơ sở cho những nhận định của luận văn
5.5 Phương pháp thống kê, phân loại
Với phạm vi của đề tài chúng tôi tiến hành khảo sát các sáng tác của Ngô Phan Lưu ở bốn tập truyện ngắn Sau đó sẽ thống kê và phân loại những điểm mới trong sáng tác của nhà văn
Ngoài ra, trong bài viết người nghiên cứu còn sử dụng các thao tác khác để phục vụ cho việc nghiên cứu được hoàn chỉnh như: thao tác so sánh nhằm tìm ra những nét độc đáo, khác biệt trong sáng tác của Ngô Phan Lưu với các nhà văn Phú Yên nói riêng và Việt Nam nói chung; Thao tác phân tích tác phẩm văn học nhằm
làm nổi bật đóng góp của Ngô Phan Lưu
Trang 216 Đóng góp của đề tài
Với đề tài này, chúng tôi tìm hiểu các sáng tác của Ngô Phan Lưu ở phương diện những đóng góp, đổi mới về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm, đặt để chúng trong dòng chảy của văn học Phú Yên đương đại Từ đó, sẽ thấy được những nét nổi bật trong truyện ngắn của nhà văn Ở một phạm vi nhất định, đề tài hy vọng
sẽ cung cấp một số tài liệu tham khảo cho những ai yêu thích tác giả và tác phẩm của tác giả này, phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu tác giả tác phẩm Ngô Phan Lưu nói riêng và văn học Việt Nam thời hiện đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được tổ chức thành ba chương:
Chương 1: Ngô Phan Lưu trong mạch chảy văn học Phú Yên đương đại
Ở chương này, người viết chủ yếu đi vào tìm hiểu khái quát nền văn học Phú Yên đương đại ở ba khía cạnh, đó là: Sự đa dạng về đối tượng phản ánh, sự phong phú tìm tòi xu hướng sáng tác và tìm hiểu một số cây bút chuyên viết về văn xuôi Bên cạnh đó, người viết cũng khái quát đôi nét về cuộc đời của Ngô Phan Lưu, sau
đó đi vào tìm hiểu con đường đến với văn chương và quan điểm sáng tác của nhà văn Ngô Phan Lưu
Chương 2: Đóng góp của Ngô Phan Lưu đối với văn học Phú Yên đương đại
về phương diện nội dung
Ở chương này, người viết tập trung đi sâu vào khai thác con người và cách tiếp cận đề tài, cùng với đó là cảm hứng sáng tác trong các truyện ngắn của Ngô Phan Lưu Từ đó, sẽ thấy được số phận của những người nông dân sau lũy tre làng, khi được đặt để trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Cùng với đó, là những bi kịch của người nông dân khi công cuộc đô thị hóa diễn ra Đồng thời, người viết cũng sẽ khai thác sự đổi mới của Ngô Phan Lưu về quan niệm con người khi sáng tác
Trang 22Chương 3: Đóng góp của Ngô Phan Lưu đối với văn học Phú Yên đương đại
về phương diện nghệ thuật
Trong chương này, người viết sẽ đi tìm hiểu bút pháp của Ngô Phan Lưu, cùng với đó là cách xây dựng tình huống trong các truyện ngắn của nhà văn Thêm vào đó, là đi tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn và sự thay đổi giọng điệu trong sáng tác của Ngô Phan Lưu
Trang 23NỘI DUNG
Chương 1: NGÔ PHAN LƯU TRONG MẠCH CHẢY VĂN HỌC PHÚ YÊN ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Khái quát về văn học Phú Yên đương đại
Phú Yên – mảnh đất nhỏ khô cằn sỏi đá, thuộc vùng duyên hải Nam Trung
Bộ, phần lớn địa hình là đồi núi, điều kiện thông thương lại bị hạn chế do đèo Cù Mông và đèo Cả chắn ở hai đầu Dân số Phú Yên không đông, phần lớn sống ở đồng bằng Tuy Hoà, nơi được xem là vựa lúa lớn nhất miền Trung Trong khi nhiều tỉnh phía Bắc đã có bề dày văn hóa hàng ngàn năm, thì đại đa số các tỉnh phía Nam có lịch sử phát triển muộn hơn Tỉnh Phú Yên được thành lập từ năm
1611, nhưng mãi cho đến đầu thế kỷ XX thì nền văn học viết mới thực sự hình thành Trong nửa đầu thế kỷ ấy, đội ngũ sáng tác văn học vô cùng ít ỏi, chỉ có Đặng Ngọc Cư, Võ Hồng là các tác giả được nhiều người biết đến qua những truyện ngắn
đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy và một số báo khác lúc bấy giờ Đỗ Huy Nhiệm là
người Phú Yên nhưng phần lớn cuộc đời lại sinh sống tại Hà Nội, nếu như ai đã
từng đọc qua Thi nhân Việt Nam chắc hẳn còn nhớ những dòng Hoài Thanh (1998)
viết về Đỗ Huy Nhiệm: “Sinh ngày 16 – 03 – 1915 tại Nam Định Chính gốc người Phú Yên (…) Hiện làm ở Sở Trước bạ Hà Nội – Viết báo thường ký Đỗ Phủ, Thiếu Lăng Đã xuất bản Khúc ly tao (1934), Thiên diễm tuyệt (1936)” (tr.259) Thơ ca giai đoạn này chỉ có mỗi thầy giáo Trần Sĩ với bút danh Đà Giang Mãi đến năm
1954, đội ngũ sáng tác văn học Phú Yên mới đông đảo, đa dạng thế nhưng so với những tỉnh khác thì vẫn rất ít và thưa thớt, vẫn chưa gây được chú ý trên văn đàn Việt Nam lúc bấy giờ
Nền văn học Phú Yên trong giai đoạn kháng chiến có sự may mắn khi có rất nhiều những nhà văn, nhà thơ Nam tiến đã sinh sống và sáng tác tại mảnh đất nhỏ hẹp nhưng đầy tình người này, như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Thâm Tâm, Tế Hanh, Trần Huyền Trân, Trần Dần, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Bá Khoản, Hoàng Như Mai, Mộng Bình Sơn, Nhật Tĩnh, Tịnh Hà (em ruột Xuân Diệu)… Các nhà văn, nhà thơ tuy không phải sinh ra tại mảnh đất Phú Yên nhỏ
Trang 24hẹp này, nhưng những sáng tác của các văn nghệ sĩ giai đoạn này cũng góp phần làm cho nền văn học Phú Yên thêm phong phú và nhiều màu sắc
Từ thời mở đất cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, văn học Phú Yên đã in dấu biết bao thăng trầm thế sự Nói cách khác, văn học là nơi gởi gắm sâu lắng nhất cảm xúc của con người, văn học chính là tâm hồn con người soi xuống dòng thời gian Có thể không sôi động bằng nhiều vùng khác, nhưng mạch chảy văn học Phú Yên qua từng giai đoạn đều có những sáng tác tinh hoa, được nhiều người tâm đắc
Trong phần Lời giới thiệu cuốn Văn học Phú Yên 400 năm (1611 - 2011), do Hội văn
học nghệ thuật Phú Yên tuyển chọn (2011), có đoạn:
Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (trước 1945), văn học viết Phú Yên không phát triển sôi nổi, phong phú như ở các nơi khác Có thể vì Phú Yên cách xa hai trung tâm văn hóa lớn là Hà Nội và Sài Gòn hoặc có thể do các trường học lớn chưa có, các cuộc cách mạng của văn chương ít có điều kiện ảnh hưởng tới Thế nhưng, văn học Phú Yên như một mạch nước ngầm, vẫn cứ lặng lẽ chảy giữa nền văn học Việt Nam rộng lớn Tựu chung, văn học Phú Yên hơn 400 năm hình thành và phát triển vẫn là một dòng chảy rất riêng, phong phú, cũng đã kịp thời để lại những tác giả, tác phẩm đáng tự hào trong gia tài văn học Việt Nam đồ sộ
1.1.1 Sự đa dạng về đối tượng phản ánh
Đối tượng của văn học đó chính là “toàn bộ hiện thực khách quan trong mối liên hệ sinh động, muôn màu với cuộc sống con người, được quy định bởi khả năng chiếm lĩnh thẩm mĩ hình thành trong quá trình thực tiễn cuộc sống và nghệ thuật, là thế giới các giá trị thẩm mĩ và thực tại” (Từ điển văn học, 2003) Nhà văn M.Gorki tại một hội nghị ở Nga năm 1928, cũng từng nói “Văn học là nhân học” (Trần Đình
Sử, 2017, tr.87) Văn học là nhân học, nhưng con người trong tác phẩm văn học lại được tái hiện trong tính toàn vẹn, cảm tính, sinh động từ những chi tiết ngoại hình, đến hành vi, ngôn ngữ, nội tâm,…
Đối tượng phản ánh của văn học là đa dạng phong phú, nhưng văn học bao giờ cũng ưu tiên cho việc miêu tả con người, lấy con người làm điểm tựa nhìn ra
Trang 25toàn bộ thế giới Vậy nên từ trước đến nay, văn học luôn như thế, luôn lấy con người làm đối tượng trung tâm của sự phản ánh Văn học lấy con người làm đối tượng miêu tả chủ yếu, từ đó sẽ có một điểm tựa để nhìn ra thế giới trong tác phẩm văn học, dù miêu tả thế giới khách quan hay thế giới chủ quan thì thế giới ấy cũng đều được nhìn nhận thông qua một con người, tức một nhân vật cụ thể (Nhân vật trữ tình trong thơ, nhân vật người kể chuyện trong truyện) Không có một tác phẩm nào có thể vắng bóng nhân vật Con người trong văn học là trung tâm giá trị, trung tâm đánh giá và trung tâm kết tinh quan hệ Văn học Phú Yên giai đoạn này cũng không nằm ngoài quy luật ấy, cũng lấy con người làm đối tượng trung tâm của
sự phản ánh
Nếu như trước năm 1975, văn học tập trung phản ánh con người công dân, con người xã hội, con người của cộng đồng thì văn học đổi mới quan tâm sâu sắc tới con người cá nhân, con người của đời tư, thế sự trong sự tác động đa chiều của hoàn cảnh và những mối quan hệ nhân sinh, thế sự cụ thể Vẫn là hình ảnh người lính, nhưng người lính trong giai đoạn này chẳng còn hào hùng giữa chiến trường khói lửa, cũng chẳng còn là người lính ra trận với khí thế sục sôi “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lại”, thay vào đó là hình ảnh của những người lính trở về sau chiến tranh giữa cuộc sống đời thường Chiến tranh đã lùi xa, bụi thời gian đã phủ mờ tất cả, nhưng đâu đó dấu tích của nó vẫn còn âm ỉ trong tâm thức mọi người dân Việt Nam Nếu người lính trong chiến tranh vệ quốc trước đây, được biết đến với phẩm chất anh dũng, kiên cường, sự hy sinh cao cả, thầm lặng được bộc lộ rõ nhất, thì người lính trong cái nhìn thời bình lại được phản ánh ở những góc độ rất đời thường Về thời bình, những người lính từng xông pha trận mạc, lại có khi cảm thấy hụt hẫng, chông chênh giữa thời buổi con người chỉ coi trọng giá trị vật chất, cả xã hội chạy theo mùi của đồng tiền mà quên đi những nghĩa tình Các nhân vật người lính trong văn xuôi của các tác giả Phú Yên, cũng nằm trong tình trạng chung của người lính thời bình Họ trở về sau cuộc chiến gian khổ, hiểm nguy, trong lòng vẫn luôn nhớ thương về những người đồng đội đã một thời kề vai sát cánh bên nhau Họ xót xa, khi nghe tin một trong số những người đồng đội cũ của mình đã không giữ vững được sự liêm chính, bắt đầu khuất phục
Trang 26trước thế lực của đồng tiền (Mưa trôi qua sông – Huỳnh Thạch Thảo) Và họ khắc
khoải, day dứt khi nghĩ về những mối tình vừa chớm nở nhưng lại phải rời xa, mãi
đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn chẳng thể gặp lại nhau một lần (Dưới chân Thạch Bi
Sơn, Gửi nắng cho sông – Huỳnh Thạch Thảo)
Bên cạnh nhân vật người lính trở về sau chiến tranh, nếu như ai từng một lần tiếp xúc với văn học Phú Yên đương đại, sẽ dễ dàng nhận thấy hình ảnh con người trong các tác phẩm văn học Phú Yên được hình tượng hóa một cách đa dạng, đủ mọi tầng lớp, thành phần xã hội Mỗi nhà văn Phú Yên, đều cố gắng đi tìm cho mình những đối tượng phản ánh riêng biệt, để tránh sự trùng lặp cũng như tránh sự nhàm chán cho độc giả khi tìm đến với văn chương Phú Yên
Chúng ta bắt gặp một Huỳnh Thạch Thảo, luôn mong muốn đi kiếm tìm những con người với đủ các ngành nghề khác nhau trong xã hội, rồi từ đấy khái quát vào trang văn của mình thành những kiểu nhân vật với bao suy tư, trăn trở cùng những hoài niệm từ cuộc sống thực mà nhà văn đang sinh sống Đó có thể là
nghề sửa chữa tháp cổ (Đêm nơi tháp cổ), hay đó lại là nghề khai thác tổ chim yến (Sào chỉa), cũng có khi chỉ đơn giản là nghề lau cửa kính cho những ngôi nhà cao tầng ở thành phố (Nơi khoảng không bao la), hay đôi khi là những nghề đặc trưng của địa phương, như là nuôi trồng thủy sản (Người đìa tôm), nghề câu cá ngừ đại dương (Bạn trên biển), … Rồi sẽ bắt gặp một Huỳnh Văn Quốc, một Phương Trà
đặt sự lưu tâm của mình ở những con người có nghề nghiệp thường bị dư luận xã hội coi khinh hoặc những người chẳng may bị nhiễm phải căn bệnh thế kỷ, bị cả xã
hội dè bỉu, xa lánh, kỳ thị và coi thường Đó là những gái làng chơi (Người mẫu
trần gian, Đại gia), là người bị nhiễm HIV (Tình yêu có thật, Đi qua biển rộng sông dài, Giấc mơ ban ngày) Đoàn Việt Hùng, Y Nguyên, lại là những nhà văn có sở
trường về đề tài người giáo viên, những con người luôn băn khoăn giữa lý tưởng nghề nghiệp và sự sụp đổ của hiện thực cuộc sống, nhưng trước sau họ vẫn giữ được phẩm chất của “nghề cao quý nhất” Ngô Phan Lưu và Trần Quốc Cưỡng lại chọn người nông dân làm đối tượng phản ánh, cùng với những đổi thay của xã hội làm xáo trộn cuộc đời họ, hiện hữu nơi đó là những con người luôn phải nhận thức
Trang 27và lựa chọn giữa thiện – ác, tốt – xấu, nhưng đôi khi ranh giới lại bị xóa nhòa, con người nhập nhằng và hoảng loạn với chính bản ngã của mình Trong khi đó, Phùng
Hi lại lựa chọn hướng ngòi bút của mình đến người trí thức với muôn mặt của đời sống Khác với những tác giả nêu trên, Pha Lê lại chọn lối đi riêng cho mình, khi lựa chọn phản ánh thế giới tuổi thơ bằng những câu chuyện đầy tính phiêu lưu, những tình huống hài hước, nhẹ nhàng, trìu mến nhưng không thiếu sự gây cấn, kịch tính và những hoàn cảnh đáng thương của tuổi học tuổi chơi… Văn học Phú Yên, phản ánh tất cả những đối tượng tồn tại trong đời sống này, mỗi người lựa chọn cho mình một đối tượng phản ánh riêng biệt, nhưng tựu chung lại tạo nên sự
đa dạng cho văn học tỉnh nhà
Nhìn chung, văn học Phú Yên chưa có thật nhiều những nhân vật có tính cách, những nhân vật dị biệt buộc dư luận phải tranh luận như các nhân vật của các tác giả trẻ trong cảm thức hậu hiện đại, nhưng nhìn chung, tất cả những đối tượng trung tâm của văn học là con người trong các tác phẩm văn xuôi đều đi vào trang văn của các nhà văn Phú Yên vừa cụ thể vừa sống động, góp phần đa dạng hóa kiểu nhân vật trong văn học
Ðối tượng phản ánh là một phần của khách thể mà con người có thể chiếm lĩnh, phù hợp với một nhu cầu, một năng lực nhất định nhưng là cái nằm bên ngoài tác phẩm, chưa được chủ thể nhận thức Nhìn chung, đối tượng phản ánh của các tác giả Phú Yên trong giai đoạn này bao quát một khả năng phản ánh rộng, thể hiện khả năng quan sát, chiếm lĩnh hiện thực của các tác giả
1.1.2 Sự phong phú về những xu hướng tìm tòi
Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới cho thấy, văn học đạt được nhiều thành tựu đáng kể, cả ở nội dung lẫn hình thức, đề tài, chủ đề, cảm hứng và phương thức thể hiện Mặt thuận lợi của văn học thời kỳ đổi mới là tinh thần dân chủ được đề cao, các thử nghiệm, sáng tạo được khuyến khích, chính sách quản lý văn hóa, văn học có nhiều đổi mới Quan điểm phát triển chung của Đảng là chú trọng phát triển hài hòa, đồng bộ về tất cả các lĩnh vực Đối với văn học, nghệ thuật, Đảng ta chủ trương tôn trọng tự do sáng tạo, khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp,
Trang 28mọi phương cách vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng
Văn học Phú Yên đương đại, cũng nằm trong mạch chảy chung của sự mở rộng các xu hướng tìm tòi, khuyến khích sự sáng tạo của các nhà văn Bởi văn học chưa bao giờ chịu sự cũ kỹ và đứng yên Chính những điều đó, đã tạo nên bộ mặt đa dạng trong phong cách thể hiện, phát hiện và thể nghiệm những hướng đi mới Trước thế kỷ XXI, dù văn học đã được cởi trói không còn bị những bó buộc nhưng nhìn chung các nhà văn vẫn chọn chiến tranh làm đề tài đưa vào trang viết của mình Bởi lẽ, cuộc kháng chiến quá dài, các nhà văn nhà thơ đã quá quen thuộc với
đề tài chiến tranh Nhưng dưới thời bình, xã hội ngày càng phát triển, cuộc đua công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày càng mạnh mẽ Những đề tài cũ đã không còn phù hợp với thời đại Nhưng mãi đến sau năm 2000, các nhà văn mới bắt đầu có xu hướng tìm tòi và mở rộng đề tài sáng tác của mình Một trong những sự tìm tòi xu hướng sáng tác của các tác giả Phú Yên đương đại lúc bây giờ, là sự quay trở về với
đề tài lịch sử Bởi lẽ, dù cho xã hội có phát triển đến đâu chăng nữa, thời gian có trôi mau đến thế nào, thì quá khứ, lịch sử vẫn còn mãi đó Những lịch sử hào hùng của dân tộc vẫn cần được lưu truyền, để những thế hệ trẻ sau này có thể tự hào về
dân tộc Việt Nam oai hùng Chúng ta có Ai xuôi vạn lý, Hạc bay lưng trời của Huỳnh Thạch Thảo, Người phò trợ chúa Tiên của Trần Quốc Cưỡng, Ngọn cờ quân
thứ của Trần Huiền Ân Mỗi tác phẩm, gắn với một nhân vật lịch sử hoặc một sự
kiện lịch sử cụ thể, điều này giúp độc giả hiểu rõ hơn về lịch sử của dân tộc Việt, từ
đó hình thành nên tư tưởng yêu dân tộc, trân trọng những giá trị thuộc về lịch sử
Bên cạnh quay trở về với đề tài lịch sử, cũng có những tác giả Phú Yên đương đại lại lựa chọn xu hướng giả lịch sử, phỏng lịch sử, nhại lịch sử… làm đề tài đưa vào trang sách Nhưng không thể thừa nhận một điều rằng, yếu tố lịch sử cũng chỉ là chất liệu là cái cớ để các nhà văn xây dựng nên những cốt truyện mới, những hoàn cảnh mới và những tính cách nhân vật kiểu mới Nhà văn chính là những người chèo lái khéo léo để dẫn dắt độc giả đến với những số phận, cảnh đời, sự kiện, tình tiết, không gian, thời gian khác lạ, không hề có trong chính sử, tạo nên
Trang 29một hiện thực lịch sử nào khác và khiến bạn đọc phải băn khoăn với những trang
hiện thực lịch sử giả tưởng ấy Chúng ta có Câu chuyện của người giữ đền, Hoàng
hậu Huyền Trân, Hoàng hậu Kim Liên, Lão già Châu Hoa Anh của Trần Huiền Ân
được in trong tập Khói của ngày xưa được Hội Văn học nghệ thuật Phú Yên xuất bản năm 2003, truyện ngắn Phương Nam của Phùng Hi
Các nhà văn Phú Yên đương đại, không chỉ tìm về với lịch sử hay chọn xu hướng giả lịch sử, phỏng lịch sử, nhại lịch sử… làm đề tài đưa vào trang sách, mà bên cạnh đó còn tiếp tục mở rộng biên độ sáng tạo của mình Các nhà văn, nhà thơ chạm ngòi bút đến một vùng đất ít ai đụng đến hơn – viết truyện giả tưởng Trong
số những tác giả ấy, chúng ta có Trần Quốc Cưỡng với tập truyện Thành phố vắng
bóng mặt trời Trong Lời bạt của tập truyện, nhà văn Mang Viên Long (2019) nhận
xét:
10 truyện ngắn trong Thành phố vắng bóng mặt trời đã ghi lại, hiến dâng cho đời những câu chuyện giả tưởng mà tâm huyết, thiết thực Đó cũng chính là khát vọng sâu kín muôn thuở của con người… Thành phố vắng bóng mặt trời của Trần Quốc Cưỡng đã phần nào đạt được hai ước vọng chính đáng cho một đời sống đích thực, có ý nghĩa, trong cuộc vô thường, mà tác giả đã luôn quan tâm!
Trần Quốc Cưỡng đã đưa ngòi bút của mình chạm đến vùng đất mới – truyện giả tưởng Chính sự dấn thân đó đã ghi thêm một bước tiến mới trên con đường tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật của bản thân nhà văn nói riêng, cho văn học Phú Yên đương đại nói chung
Văn học Phú Yên đương đại không chỉ chú trọng về mảng văn học cho người lớn, mà bên cạnh đó các nhà văn còn hướng đến cho thiếu nhi Mặc dù, đội ngũ những người sáng tác văn học cho thiếu nhi ở Phú Yên tương đối ít so với mảng văn học cho người lớn Có người chuyên tâm sáng tác cho thiếu nhi, cũng có người chỉ đóng góp một vài tác phẩm chứ chưa chuyên tâm viết lâu dài, nên số lượng tác phẩm cho thiếu nhi vẫn còn rất hạn chế, chưa đáp ứng sự mong mỏi của bạn đọc nhỏ tuổi Nhưng có thể thấy rằng những tác giả nào đã sáng tác cho thiếu nhi đều
Trang 30gặt hái được ít nhiều thành công Chúng ta có những cây bút lão làng viết truyện cho thiếu nhi như: Trần Huiền Ân, Trần Quốc Cưỡng, Huỳnh Thạch Thảo, Huỳnh Văn Quốc, Pha Lê,… Trong số những cây bút viết truyện thiếu nhi, phải nói đến Pha Lê
Pha Lê là tác giả rất thích viết cho thiếu nhi Người đọc nhận ra Pha Lê viết rất có duyên nhưng cũng đầy hài hước và tinh nghịch Tác phẩm viết cho thiếu nhi
gồm có: tập truyện Cuộc giải thoát siêu đẳng (Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Yên ấn hành, 2009), tập truyện Biệt thự tường bể (do NXB Kim Đồng ấn
hành) Mỗi sáng tác của Pha Lê, lại là một cuộc phiêu lưu, một kì án, một hoàn cảnh đáng thương của tuổi học tuổi chơi Mỗi câu chuyện trong từng trang sách là một bài học cho các em nhỏ Nhân vật trẻ em trong truyện của Pha Lê rất đa dạng Có khi là một em bé ngốc nhưng tốt bụng, có khi là những đứa trẻ mồ côi, những em bé
có hoàn cảnh gia đình khó khăn, những người đồng bào dân tộc thiểu số ham học, cũng có nhiều bạn nhỏ sống trong gia đình khá giả nhưng có tấm lòng thương người,… Nhìn chung, các sáng tác cho thiếu nhi của Pha Lê đã đảm nhận đủ chức nhận giáo dục của văn học
Huỳnh Thạch Thảo là một cây bút chuyên viết về thế sự, nhưng anh cũng
góp vào mảng văn học cho thiếu nhi với truyện ngắn Bên dòng sông Ba Hạ từng đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi “Tầm nhìn thế kỉ” do báo Tiền Phong tổ
chức năm 2001 Với tác phẩm này, Huỳnh Thạch Thảo muốn gửi gắm thông điệp đơn giản nhưng đầy sâu sắc cho tất cả độc giả: dù cuộc đời con người đứng trước những vòng xoáy, nhưng nếu có nghị lực sẽ tìm thấy giá trị đích thực của cuộc sống
Nhìn qua diện mạo văn học cho thiếu nhi ở Phú Yên, có thể thấy văn xuôi chiếm đa số, rất ít thơ cho thiếu nhi, có lẽ chỉ có Đào Đức Tuấn là sáng tác thơ cho
bạn đọc nhỏ tuổi với tập thơ mang tựa đề Ôm tròn trái đất Dường như, đây cũng
chính là tình hình chung của văn học cả nước, khi mà không còn quá nhiều những tác giả lựa chọn thơ để sáng tác cho thiếu nhi
Trang 31Nhìn chung, các nhà văn Phú Yên không chịu bó mình trong những xu hướng sẵn có Những sự tìm tòi trong sáng tác của các nhà văn Phú Yên đương đại
đã thể hiện được sự tâm huyết, độ nhạy bén của người nghệ sĩ khi bắt kịp nhịp độ phát triển mau lẹ của văn chương đương đại Việt Nam Những xu hướng tìm tòi trong sáng tác ấy, chính là mạch nguồn cho sự sáng tạo của thế hệ nhà văn trẻ nối tiếp các nhà văn lão làng của tỉnh nhà, giúp văn học Phú Yên có vị thế xứng đáng trong nền văn học Việt Nam Giống như nhà văn Võ Hồng – người con của làng quê Ngân Sơn, An Thạch, Tuy An đã từng nói: “ Tôi đền ơn cho quê hương, tôi trả
hiếu cho quê hương bằng cách suốt những năm dài nhẫn nại tay cầm bút” (Nguyễn
Thị Thu Trang, 2020)
1.1.3 Sự đông đảo của những cây bút viết văn xuôi
Trong những năm nửa đầu thế kỷ XX, văn học Phú Yên với một đội ngũ sáng tác rất mỏng chỉ một vài tác giả nổi bật như: Võ Hồng, Đặng Ngọc Cư, Đỗ Huy Nhiệm, thầy giáo Trần Sĩ Bên cạnh đó còn có Tản Đà, nhà thơ Trần Hữu Thung,… Theo chân đoàn quân Nam tiến, nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng đã đến sống
và sáng tác tại nơi này như: Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Tế Hanh, Trần Huyền Trân, Trần Dần, Hoàng Như Mai,… Trong
cuộc kháng chiến chống Pháp, Phú Yên đã hình thành các tờ báo như: Chiến Thắng,
Cứu Quốc, Phấn Đấu, Sức Mới, và các tập san: Hồn Trẻ, Mùa Đông Binh Sĩ… Lực
lượng sáng tác gồm người địa phương và các văn nghệ sĩ Nam Tiến Sau năm 1954, đội ngũ sáng tác văn học Phú Yên mới đông đảo đa dạng, nổi bật nhất là bộ phận văn học Cách mạng Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, ở Phú Yên có các
báo Đoàn kết, Giải phóng… Với sự góp mặt của nhiều nhà báo – nhà văn như Trần
Thiện Lục, Bằng Tín, Vũ Trung Uyên, Lương Nguyên, Hoàng Tất Thắng…
Sau giải phóng, Phú Yên có một thời gian nhập chung với tỉnh Khánh Hoà thành tỉnh Phú Khánh Lúc bấy giờ, nhiều cây bút chuyển vào công tác ở tỉnh lỵ Nha Trang, thị xã Tuy Hoà không còn là trung tâm văn hoá cấp tỉnh Tuy nhiên, nhiều văn nghệ sĩ ở đây đã tự giác tổ chức nhiều hoạt động để duy trì truyền thống văn học của địa phương Năm 1989, tỉnh Phú Yên được tách ra, sự kiện này đã tạo
Trang 32điều kiện tốt cho sự phát triển phong trào thơ văn của tỉnh Đội ngũ sáng tác đông đảo hơn rất nhiều, gồm nhiều thế hệ cầm bút khác nhau
So với các tỉnh phía Bắc thì nền văn học viết Phú Yên hình thành muộn hơn, chỉ mới có một thế kỷ Tuy nhiên, các tác giả Phú Yên đã nhanh chóng khẳng định được tên tuổi của mình đối với nền văn học nước nhà Tuy có sự đa dạng ở thể loại sáng tác, nhưng những thành tựu về thơ tẫn không thể nổi bật so với văn xuôi Văn học Phú Yên giai đoạn này xuất hiện hàng loạt những cây bút chuyên viết văn xuôi, đầy nội lực và sung sức, thậm chí có cả những tác giả của giai đoạn trước cũng thay đổi bản thân để phù hợp với tình hình phát triển văn học hiện tại Có thể nói, đối với hoạt động văn học nghệ thuật ở địa phương, văn xuôi trong chuyên ngành văn học
có một ý nghĩa quan trọng Các cây bút văn xuôi không chỉ góp mặt với đời sống văn nghệ bằng các tập tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, ký sự, làm cho tờ tạp chí văn nghệ địa phương thêm dày dặn và phong phú, mà còn là những cây bút chủ lực phản ánh các mặt hoạt động của các chuyên ngành văn học nghệ thuật khác
Một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Phú Yên là Võ Hồng Đến với văn học, Võ Hồng đã trải qua khá nhiều lĩnh vực: từ thơ cho đến phê bình, sau
đó mới thìm thấy chỗ đứng ở thể loại văn xuôi Năm 1939, truyện ngắn đầu tiên có
tên Mùa gặt được in trên Tiểu thuyết thứ Bảy với bút danh là Ngân Sơn, khi ấy ông
còn là một học sinh đệ tam niên Một trong những điều đặc biệt, trong suốt những năm tháng cầm bút của Võ Hồng, đó là ông luôn giữ cho ngòi bút của mình đứng thẳng, không thách thức nhưng vẫn ngạo nghễ, cùng với đó là thái độ khách quan, trung thực với lương tâm của người cầm bút Hơn nửa thế kỷ cầm bút, quê hương là
đề tài xuyên suốt các trang viết của ông Không chỉ là đề tài, nó còn là máu thịt, kỷ niệm thôi thúc từ bên trong
Nhà văn Y Điêng, được mệnh danh là “bậc trưởng lão của dòng văn học
miền núi Phú Yên” (Phạm Ngọc Hiền, 2010) Y Điêng sáng tác từ rất sớm, sau hơn
mấy mươi năm gắn bó với nghề cầm bút, số lượng tác phẩm không hề ít, đã từng nhận được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007 với hai tác
phẩm Hơ Giang và Chuyện bên bờ sông Hinh Nhưng nhà văn Y Điêng lại nhớ
Trang 33nhiều nhất, chính là kỷ niệm khi ông đạt giải thưởng truyện ngắn của báo Thống
Nhất với tác phẩm Em chờ bộ đội Bác Hồ từ lúc còn ở miền Bắc vào năm 1961 Khi
nhắc đến lần đạt được giải thưởng ấy, nhà văn Y Điêng luôn bồi hồi nhớ lại: “Lúc
đó nghe tin mình được giải, tôi không ngờ là sự thật Phần thưởng này giá trị không
lớn nhưng cao quý, đã là động lực luôn thúc đẩy tôi mỗi khi ngồi vào bàn viết”
(Đào Tấn Trực, 2016) Suốt đời làm cách mạng, sống với văn chương chữ nghĩa, nhờ văn chương đồng hành với cuộc sống, Y Điêng cho rằng đó chính là duyên nợ Chính cái tâm chuyên chú với nghiệp đời, nghiệp chữ đã tạc nên một giá trị nhân văn mang tên Y Điêng, một niềm tự hào của Tây Nguyên, hệt như nhà văn Bằng Tín (nguyên Phó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên) nhìn nhận:
Y Điêng đến với cách mạng, với Đảng, rồi những gì nung nấu trong lòng mà anh cảm nhận được từ cuộc chiến đấu của dân tộc mình, anh viết ra và trở thành nhà văn Có thể nói Y Điêng là người viết văn xuôi đầu tiên của Tây Nguyên, và cũng là người đầu tiên của Tây Nguyên sáng tác ở nhiều thể loại: bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ Ông là bậc trưởng lão của nền văn học miền núi và dân tộc Tây Nguyên (Đào Đức Tuấn, 2018)
Nhắc đến các cây bút viết văn xuôi của văn học Phú Yên, nếu như bỏ qua tác giả Thanh Quế thì có lẽ là một sự thiếu sót rất lớn, dù cho Thanh Quế viết nhiều về thơ Thanh Quế quê gốc ở Tuy An – Phú Yên, từng gắn bó nhiều với vùng đất Trung Trung Bộ thời chống Mỹ Có lẽ khi nhắc đến Thanh Quế, nhiều người sẽ băn khoăn không biết nên gọi ông là nhà thơ hay là nhà văn, bởi lẽ cả văn lẫn thơ và lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu nhất định Có lẽ vì gắn bó với vùng đất xứ Quảng quá lâu, nên ông có được những tư liệu quý giá để viết nên tiểu
thuyết Cát cháy, đoạt giải B (không có giải A) cuộc thi của Hội nhà văn Việt Nam
và Trung ương đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức năm 1981 Ngoài tiểu thuyết, Thanh Quế còn thành công ở thể loại truyện ngắn, có thể kể đến
các truyện ngắn như Buổi trưa ở Điện Bàn, Bà cụ vui tính, Hai chị em, Kỷ niệm nhỏ
trong rừng, Bếp lửa làng Tà Băng Sẽ không trọn vẹn nếu không đề cập mảng hồi
ký – chân dung văn nghệ của Thanh Quế Qua hai tập Về Nam và Từ những trang
Trang 34đời, ông kể về bạn bè văn nghệ một thời nếm mật nằm gai ở căn cứ Trà My trong
những năm chiến tranh một cách chân thực, sinh động, với những nét chấm phá thú
vị Đến thời điểm hiện tại, có thể xem Thanh Quế là một trong những tác giả “gừng
càng già càng cay” khi mà càng lớn tuổi ông lại viết càng nhiều, càng hay
Một trong những nhà văn khác cũng vừa sáng tác ở thế kỷ trước nhưng vẫn giữ vững phong độ cho đến thời kỳ đương đại, đó chính là Trần Huiền Ân Bút lực sáng tác dồi dào, nhưng ông vẫn cứ cho rằng: “Tôi làm thơ, viết văn, biên khảo cũng chỉ để cho vui Vô tư như người ta làm nháp” (Nguyễn Hoàng, 2006) Phải
chăng, chính vì quan niệm đó, nên từ truyện ngắn đầu tiên có nhan đề Dáng dấp in
trên báo Văn Nghệ Tiền Phong năm 1957, mãi đến tận 40 năm sau, ông mới in
thành tập đầu tiên (Tiếng hát nhân ngư - 1997) Khi nhận xét về văn xuôi của Trần
Huiền Ân, nhà văn tiêu biểu của Phú Yên là Võ Hồng đã cho rằng: “bình dị, viết không hoa hòe tô điểm nên người đọc tin đây là chuyện thật Kỹ thuật quan sát, ghi nhận, nghệ thuật chọn chữ đặt câu có thể làm mẫu cho học sinh” (Nguyễn Đông Nhật, 2012)
Huỳnh Thạch Thảo thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành sau 1975 Sự lao động miệt mài, chăm chỉ cùng với sự tận tâm trong nghiệp cầm bút, Huỳnh Thạch Thảo hiện có 14 tập truyện ngắn in riêng và có mặt trong rất nhiều tuyển tập in chung Huỳnh Thạch Thảo sáng tác truyện dài, truyện ngắn, tùy bút, mạn đàm, tản văn, ở thể loại nào anh cũng để lại dấu ấn đẹp trong lòng độc giả Trên con đường văn nghiệp, Huỳnh Thạch Thảo đạt được nhiều giải thưởng văn học có giá trị Chính những điều đó, đã thôi thúc Huỳnh Thạch Thảo ngày càng cố gắng hơn trong sự nghiệp cầm bút của mình
Những năm gần đây, ngoài các nhà văn nói trên, tỉnh Phú Yên bỗng xuất hiện nhiều cây bút văn xuôi gây ngỡ ngàng không chỉ trong tỉnh mà trong cả nước Đầu tiên là tác giả Trần Thiện Lục (bút danh Phương Yến) Là nhà văn sinh ra tại Nam Định, tham gia kháng chiến chống Mỹ từ năm 1964 trên chiến trường Trung Trung Bộ, phụ trách biên tập báo Giải Phóng Phú Yên và tạp chí Văn Nghệ Giải Phóng Phú Yên từ 1968-1975 Vậy nên, Trần Thiện Lục coi Phú Yên như là quê
Trang 35hương thứ hai của mình và chính ông thừa nhận, bản thân “Không dứt đi được, có cái gì đó vẫn cứ níu kéo mình quay lại chốn này” (Đào Minh Hiệp, 2013) Trần Thiện Lục là một nghệ sĩ đa tài, khi mà ông có thể làm thơ, viết truyện, ký và tiểu thuyết Nội dung trong từng trang viết của ông, dù là thể loại nào cũng chỉ xoay quanh đề tài duy nhất là chiến tranh cách mạng, lấy bối cảnh vùng đất Nam Trung
Bộ và chủ yếu là mảnh đất Phú Yên Sau một thời gian im hơi lặng tiếng hoặc chỉ xuất hiện trên văn đàn bằng những bài thơ, thì ông bỗng cho ra mắt bộ tiểu thuyết
gồm hai tập đồ sộ Bên gốc me già dày hơn nghìn trang Qua từng trang sách, bạn
đọc có thể cảm nhận được một cách sâu sắc những chiến công vẻ vang, sự hy sinh anh dũng của quân và dân Phú Yên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nhà văn Đào Minh Hiệp bảo rằng: “Vậy là anh đã trả xong món nợ tinh thần đối với đồng đội và quê hương Phú Yên của mình, bây giờ có thể xả hơi được rồi” (Đào Minh Hiệp, 2013) Lúc bây giờ Trần Thiện Lục cười như mếu trả lời rằng: “Món nợ tình nghĩa ấy có nghìn đời cũng không trả hết Những ám ảnh về đồng đội, bạn bè một thời gắn bó, sẻ chia vẫn day dứt trong tâm tưởng mãi khôn nguôi, nhất là với những người đã vĩnh viễn nằm xuống hay gửi lại một phần xương máu trên chiến trường” (Đào Minh Hiệp, 2013) Có lẽ, món nợ ân tình ấy, chỉ có thể dùng chính ngòi bút của nhà văn mới có thể hết được
Một trong những cây bút văn xuôi khác cũng được giới văn học quan tâm là Đoàn Việt Hùng Từ trước năm 1975, Đoàn Việt Hùng đã xuất hiện trên văn đàn miền Nam nhưng thực sự chưa tạo được tiếng vang lớn Sau năm 1975, ông chuyển sang làm báo, nghiên cứu văn hóa dân gian Nhưng ở lĩnh vực sáng tác văn học, đặc biệt là văn xuôi, Đoàn Việt Hùng cũng tạo được dấu ấn khá riêng biệt và thực sự ấn tượng Chính sự trải nghiệm từ những chuyến đi, cùng với sự tìm tòi và ham thích
khám phá, Đoàn Việt Hùng viết bài ký nổi tiếng Rừng cấm Quốc gia Krông Trai bị
xóa sổ, đoạt giải Ba cuộc thi bút ký của báo Văn nghệ năm 1992 Năm 2006, Bộ
Giáo dục và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc thi viết về đề tài nhà giáo,
truyện Nơi không chỉ có khói núi của ông đã đoạt giải Nhất Năm 2007, Đoàn Việt
Hùng còn đoạt giải Ba của Liên hiệp các Hội VHNT toàn quốc với tập truyện
ngắn Mưa trên sông Đăkbla Những năm gần đây, truyện ngắn và bút ký, ký sự của
Trang 36ông được đăng thường xuyên trên Báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam và các báo khác trong cả nước Chính sự lao động không ngừng nghỉ, Đoàn Việt Hùng đã thực sự góp phần đa dạng cho văn xuôi Phú Yên đương đại
Y Nguyên (Nguyễn Văn Danh) là người con của đồng bào dân tộc Ê Đê, sinh
ra lớn lên ở vùng đất núi Sông Hinh Y Nguyên đã đi theo tiếng gọi cách mạng từ nhỏ, suốt đời cống hiến cho đất nước Khi đã về hưu, ông trở về nơi chôn nhau cắt rốn, sống cùng bà con và hướng dẫn cộng đồng người đồng bào ở các buôn làng thoát dần những hủ tục lạc hậu Xuất hiện trên văn đàn khá muộn nhưng bút lực rất dồi dào, xuất hiện đều đặn trên các báo Tuy xuất hiện muộn màng, nhưng Y Nguyên lại có đến hai lần đoạt giải thưởng cuộc thi truyện ngắn về đề tài giáo dục
do NXB Giáo dục và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức Hai truyện ngắn đạt giải của
ông đó là Bông hồng cho Thị Nở (2004) và Cái tát (2005) Bằng việc sử dụng giọng
văn linh hoạt của mình, Y Nguyên đã thực sự cuốn hút người đọc qua từng con chữ,
để người đọc cứ mãi cuốn vào từng trang sách
Cũng xuất hiện muộn màng như Y Nguyên, nhưng ngay khi xuất hiện Ngô Phan Lưu đã gây được tiếng vang trên văn đàn Năm 1999, Ngô Phan Lưu đoạt giải
thưởng của tạp chí Tài hoa trẻ với truyện ngắn Láng giềng Năm 2001, ông có truyện Người không giăng câu kiều đoạt giải cuộc thi Tầm nhìn thế kỷ của báo Tiền Phong Năm 2007, ông có hai truyện Buổi sáng biến mất và Cơm chiều đoạt giải
Nhất cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ - Hội nhà văn Việt Nam “Lão nông Phú Yên cầm bút” nổi lên như một hiện tượng trên báo chí và xuất hiện trong rất nhiều tuyển tập truyện ngắn hay Văn Ngô Phan Lưu có một phong cách nghệ thuật riêng rõ nét, ông sử dụng thành công nhiều bút pháp hiện đại, biết chọn lọc những chi tiết đắt, có tính triết lý cao Giọng văn lạnh lùng, gân guốc, có nhiều sáng tạo về nghệ thuật ngôn từ
Mảnh đất Phú Yên đầy khô cằn sỏi đá, người ta luôn có cảm giác sự sống khó sinh sôi nảy nở ở vùng đất này Vậy mà sức sống văn chương chưa bao giờ ngừng mãnh liệt, ngọn lửa đam mê của những người yêu thích sáng tác chưa bao giờ bị dập tắt Sau Ngô Phan Lưu đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn của tuần báo
Trang 37Văn nghệ, một cây bút văn xuôi khác ở Phú Yên đoạt giải ba cũng trên tờ báo này
(năm 2011 – 2012) là Phùng Hi với truyện ngắn Phương Nam Khi được hỏi về thế
mạnh văn chương, Phùng Hi đáp: “Tôi thấy chẳng có thế mạnh nào Sống ở đâu cũng là nơi đi về, rảnh chút thì ngắm nghía cuộc đời, rảnh hơn chút nữa thì ngắm nghía mình, rồi mài mình ra mà viết, vậy mà vẫn cứ đụng chạm đâu đó…” (Lê Thiếu Nhơn, 2015) Không quá chú trọng vào sự thành danh khi đến với nghiệp cầm bút, Phùng Hi chỉ xem việc viết văn như là thỏa mãn niềm đam mê, yêu thích văn chương của mình “Các bạn cứ thử viết văn đi, như từng thử một nghề nào đó, nghề mộc chẳng hạn Nếu thành công coi như bạn có cái gửi đến bạn đọc Nếu không thành công, tôi tin bạn sẽ yêu văn chương thêm chút nữa như đã từng yêu Cả hai trường hợp, đằng nào bạn cũng có lợi, đều góp phần giải tỏa những ẩn ức trong
bạn!” (Lê Thiếu Nhơn, 2015) Thầy giáo viết văn Phùng Hi, cũng đã góp phần nào
vào dòng chảy văn học Phú Yên đương đại
Trần Quốc Cưỡng (bút danh Trần Bảo Ngọc) lại là nhà văn luôn thiết tha với con người, cuộc đời qua từng trang viết Những sáng tác của ông, từ thơ, tản văn đến truyện ngắn, truyện dài đều dung dị như chính con người ông Đó là sự dung dị lấp lánh vẻ đẹp với tình yêu cuộc sống Ngay từ khi gắn bó với nghề viết, Trần Quốc Cưỡng bắt đầu với thơ, sau đó mới tập tành viết truyện ngắn Khi được hỏi, vì sao lại có sự chuyển mình như vậy, thì Trần Quốc Cưỡng trả lời: “Thơ thì cô đọng, khái quát, còn truyện thì đi vào chi tiết Những công việc đã kinh qua giúp tôi có vốn sống, và tôi dùng “vốn liếng” đó để viết truyện Tôi thấy văn xuôi phù hợp với mình hơn nên chuyển sang viết văn xuôi Thơ thì có cảm xúc mới viết, và không
phải là thế mạnh của tôi” (Yên Lan, 2019) Từ tập truyện ngắn đầu tay Mùa bướm
vàng bay đến Ngựa trắng và Thành phố vắng bóng mặt trời, có thể nói Trần Quốc
Cưỡng, đã đi một chặng dài trên con đường văn chương đầy nhọc nhằn song cũng đầy hứng khởi
Nhắc đến các cây bút viết văn xuôi của văn học Phú Yên đương đại nếu không kể đến các cây bút nữ, thì sẽ là một thiếu sót rất lớn Các cây bút nữ có thể kể đến như: Phương Trà, Lệ Thanh, Thu Hồng, Pha Lê, cùng với lớp “đàn em” theo
Trang 38sau là Mộc Miên, Nguyễn Thị Bích Nhàn,… Tất cả các cây bút nữ vẫn giữ nét nhuần nhị, dịu dàng, nữ tính qua từng trang viết, nhưng vẫn giữ được những nét cá tính, rất có ý thức làm mới cách viết của chính mình
Phương Trà ngay từ đầu, lựa chọn MC là nghề nghiệp mình theo đuổi, nhưng sau đó cô bắt đầu học cách viết báo, viết văn Công việc làm báo chiếm hết thời gian, nhưng Phương Trà vẫn chăm chỉ, cần mẫn viết truyện ngắn Sự lao động miệt mài, không ngừng nghỉ của Phương Trà đã được đền đáp xứng đáng Cụ thể vào năm 2019, Phương Trà đã đạt được giải nhất cuộc thi truyện ngắn “Người lao động
hôm nay”, do Báo Người Lao Động tổ chức với truyện ngắn Dưới ánh sáng thiên
đường Học hỏi và “cày ải” miệt mài hơn 20 năm làm báo, viết văn, MC,… cây bút
nữ đất Phú Yên này đã khẳng định chỗ đứng riêng trong lòng công chúng
Mộc Miên được mọi người biết đến với tư cách là nhà báo Tuy nhiên, cô chưa bao giờ ngừng đam mê với văn chương Là một cây bút có sự sắc sảo, xử lý
“mảng miếng” trong truyện thật bất ngờ, đem lại hiệu quả nghệ thuật cao, làm nổi bật chủ đề tư tưởng Không giống như các cây bút viết văn xuôi khác, khi hầu hết tất cả các tác giả đều chọn viết truyện ngắn hoặc tiểu thuyết, thì Mộc Miên lại chọn
thể loại phóng sự điều tra để trải nghiệm Những giọt nước mắt muộn mằn là cuốn
sách tổng hợp 15 tác phẩm phóng sự điều tra của Mộc Miên Để có những được bài viết đó, Mộc Miên đã nhiều lần đối diện với sự nguy hiểm, những ngày tháng liều mạng trong rừng sâu và đã nhiều lần thoát chết trong rừng khi tác nghiệp Ngoài
những phóng sự điều tra, Mộc Miên còn sáng tác truyện ngắn, như là: Sương sớm,
Giọt ngọc trời ban, Tiếng ru từ lồng ngực… Dù cho là viết thể loại nào đi chăng
nữa, thì Mộc Miên đã thực sự để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng những người yêu văn chương Với bản lĩnh, cùng với sự đam mê nghề viết, chắc chắn Mộc Miên sẽ còn thành công hơn nữa trên con đường nghệ thuật
Các tác giả văn học Phú Yên nói chung, các cây bút viết xuôi nói riêng vẫn
đang miệt mài và cần mẫn “cày cấy” trên cánh đồng văn chương, mong muốn góp
thêm những hương sắc cho văn xuôi cả nước Bên cạnh đó cũng góp phần đưa nền
Trang 39văn xuôi Phú Yên đương đại hòa vào dòng chảy lớn văn học nước nhà, những giọt nước ấy, là những giọt nước vô cùng khác lạ và cũng đầy quý hiếm
1.2 Nhà văn Ngô Phan Lưu trong bối cảnh văn học Phú Yên đương đại
1.2.1 Đôi nét về cuộc đời
Ngô Phan Lưu sinh ngày 13 tháng 11 năm 1946 tại thôn Thạnh Phú, xã Hòa
Mỹ Đông, huyện Tây Hòa, Phú Yên - mảnh đất miền Trung đầy nắng gió và cát trắng Là con trai của nhà giáo – thầy thuốc Ngô Thượng Đàm nổi tiếng cả một vùng lúc bấy giờ nên Ngô Phan Lưu được học hành đến nơi đến chốn
Thời thanh niên Ngô Phan Lưu theo học Triết ở Đại học Văn khoa Sài Gòn dưới thời chế độ cũ, sau khi học xong, ông bị động viên đi Sĩ quan trù bị Thủ Đức Sau đó, ông trở về quê hương làm rất nhiều ngành nghề để kiếm sống như: nghề chụp ảnh dạo, mở sân trượt pa-tin, nghề đông y,… nhưng đều không có được kết quả khả quan Cuối cùng, Ngô Phan Lưu vẫn lựa chọn công việc chính của mình là làm ruộng
Dường như, mỗi người đều được định sẵn một cái nghiệp phải đeo đuổi, vậy nên sự thất bại cứ đeo bám mãi Ngô Phan Lưu Mấy bận đổi nghề không được gì, Ngô Phan Lưu chong đèn viết lách, theo đuổi niềm đam mê ấp ủ từ lâu Sau một
khoảng thời gian chong đèn “dùi mài kinh sử”, Ngô Phan Lưu quyết định cho in tập
thơ đầu tay, nhưng một lần nữa ông Trời lại muốn thử thách lòng người thành ra lỗ vốn hoàn toàn Đối với Ngô Phan Lưu, trước những thất bại chưa bao giờ khiến ông
bỏ cuộc hay hết ý chí phấn đấu, mà ngược lại chính những thất bại ấy lại thôi thúc tinh thần chiến đấu của ông Ngô Phan Lưu quyết định viết những câu chuyện quanh bờ ao nhà mình Và thực sự Trời không phụ lòng người, cũng từ đây tên tuổi của ông bắt đầu nổi tiếng Và cái tên Ngô Phan Lưu bắt đầu xuất hiện khắp các mặt báo lúc bấy giờ
Ngô Phan Lưu không chỉ chịu ảnh hưởng từ cha của mình, mà ông còn tiếp thu những bài học của mẹ dạy từ lúc tấm bé đến lúc trưởng thành lớn khôn Ít ai biết được rằng, những tác phẩm của ông đã ra đời trong những khoảng thời gian người
Trang 40mẹ gần 100 tuổi của ông nằm nghỉ, sau khi được con trai cơm bưng, nước rót tận giường Ngoài mẹ già, Ngô Phan Lưu và vợ của ông còn chăm sóc một người em gái tật nguyền từ nhỏ Người em gái có số phận không may mắn của ông, cũng đã qua đời trước khi mẹ của ông xa lìa trần thế một thời gian không lâu Bây giờ, thì Ngô Phan Lưu gần như không còn vướng bận gì nữa, chữ hiếu với mẹ ông đã trả xong, chữ nghĩa với em gái ông cũng đã hoàn thành Ông có thể dành trọn thời gian cho cái nghiệp mà mình đam mê, ấp ủ từ bấy lâu
Ngô Phan Lưu đã sống một cuộc sống bình dị đến gần hết cuộc đời Đến một ngày, có lẽ sự tích lũy kinh nghiệm nông thôn đã đầy ứ, ở tuổi ngoài năm mươi, ông mới phát tiết cuộc sống ấy vào văn học Từ đó đến nay, Ngô Phan Lưu liên tục viết không ngừng nghỉ, và coi việc viết như một nhu cầu tất yếu của cuộc đời nhà văn
1.2.2 Hành trình đi tìm văn chương
Sống ở đời mỗi người đều ấp ủ những giấc mơ của riêng mình, có những người mơ mộng có được sự giàu sang, phú quý, an nhàn, nhưng cũng có những người chỉ cầu mong bình bình phàm phàm qua một kiếp người Hành trình tìm đến với giấc mơ, để biến giấc mơ trở thành hiện thực chưa bao giờ là một điều dễ dàng
Có một nhà văn luôn ấp ủ giấc mơ văn chương từ rất sớm Nhưng cái duyên của ông với văn chương lại đến quá muộn Chưa một lần nghĩ đến hai chữ từ bỏ, vẫn mãi kiên trì theo đuổi ước mơ, sau bao nhiêu năm tìm tòi khám phá học hỏi, cuối cùng ông cũng thực hiện được ước mơ của mình, khẳng định tên tuổi của mình trên văn đàn Việt Nam Để rồi người đọc chẳng bao giờ quên được một nhà văn Ngô Phan Lưu rất riêng, không hòa lẫn trong dòng chảy văn học Phú Yên nói riêng và Văn học Việt Nam nói chung
Trải qua một quãng đời lầm lũi và long đong, cùng mảnh ruộng góc vườn với nhiều ngành nghề kiếm sống, Ngô Phan Lưu bắt đầu cầm bút ở tuổi 50 Ông khẳng định mình đã mỏi tay với cái cày, cái bừa, nên quay sang làm bạn cùng văn chương Thực ra, câu giải thích ấy chỉ đúng khi thoáng nhìn bề ngoài, còn thâm tâm ông đã mang bao nhiêu chìm nổi và trải nghiệm của bản thân để trầm tích lại trên mỗi trang
viết Ban đầu Ngô Phan Lưu tìm đến với thơ, bởi theo ông quan niệm rằng “Phàm ai