1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc người nam đảo và môn khmer ở việt nam

214 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam
Tác giả Phùng Thị Thanh Lài
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Trường học Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, khi thấy rằng sử thi Môn Khmer chưa từng được nghiên cứu trên quy mô nhóm ở Việt Nam, chưa từng có sự so sánh thấu đáo giữa sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo với các tộc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

! " #

PHÙNG THỊ THANH LÀI

ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG SỬ THI ANH HÙNG CỦA CÁC TỘC NGƯỜI NAM ĐẢO VÀ

Chuyên ngành Văn học Việt Nam

Mã ngành: 60 22 01 21

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP

TP Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi gửi đến quý Thầy cô khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP.HCM lời tri ân sâu sắc Tôi đã nhận được những bài học quý báu từ năm tháng giảng đường Đại học và Sau Đại học

Tôi chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp, trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, đã hết lòng định hướng và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng cảm kích sự động viên của gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã tạo cho tôi nghị lực hoàn thành công trình nghiên cứu này

Với khả năng còn hạn hẹp, luận văn không thể tránh khỏi sự sai sót Chúng tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy cô và bạn bè

Trân trọng!

TP.HCM, ngày … tháng … năm 2019

Người thực hiện

PHÙNG THỊ THANH LÀI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, nguồn tài liệu trích dẫn không vi phạm bản quyền

Tôi đồng ý để trường ĐHKHXH và NV dùng luận văn này làm tài liệu tham khảo

TP.HCM, ngày … tháng … năm 2019

Người thực hiện

PHÙNG THỊ THANH LÀI

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC - iii

PHẦN MỞ ĐẦU - 1

1 Lý do chọn đề tài - 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề - 2

3 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu - 7

4 Phương pháp nghiên cứu - 10

5 Cấu trúc của đề tài - 11

PHẦN NỘI DUNG - 13

CHƯƠNG 1 Tổng quan về tộc người và sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam - 13

1.1 Các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam 13

1.1.1 Các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam - 13

1.1.2 Các tộc người Môn Khmer ở Việt Nam - 22

1.2 Sử thi anh hùng các tộc người Nam Đảo và tộc người Môn Khmer ở Việt Nam có đề tài chiến tranh 32

1.2.1 Khái quát về sử thi anh hùng - 32

1.2.2 Cơ sở lịch sử – xã hội của sử thi anh hùng các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam - 35

1.2.3 Đề tài chiến tranh trong hệ thống các đề tài của sử thi anh hùng các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam - 36

CHƯƠNG 2 Các kiểu chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam - 40

2.1 Chiến tranh vì phụ nữ 40

Trang 5

2.1.1 Nguyên nhân xung đột - 42

2.1.2 Phương thức gây chiến - 48

2.1.3 Chuẩn bị giao chiến - 53

2.1.4 Giao chiến - 58

2.1.5 Kết quả - 66

2.2 Chiến tranh đòi nợ và trả thù 74

2.2.1 Nguyên nhân xung đột - 75

2.2.2 Phương thức gây chiến - 85

2.2.3 Chuẩn bị giao chiến - 91

2.2.4 Giao chiến - 98

2.2.5 Kết quả - 111

2.3 Chiến tranh hỗn hợp 118

2.3.1 Nguyên nhân xung đột - 119

2.3.2 Phương thức gây chiến - 125

2.3.3 Chuẩn bị giao chiến - 130

2.3.4 Giao chiến - 135

2.3.5 Kết quả - 146

CHƯƠNG 3 Các kiểu nhân vật tham gia chiến tranh trong sử thi các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam - 153

3.1 Nhân vật người anh hùng 153

3.1.1 Nhân vật người anh hùng trong nhóm sử thi Nam Đảo - 153

3.1.1.1 Về hình dáng, thể chất - 153

3.1.1.2 Về tính cách tài năng - 154

3.1.2 Nhân vật người anh hùng trong nhóm sử thi Môn Khmer - 157

3.1.2.1 Về hình dáng, thể chất - 157

3.1.2.2 Về tính cách, tài năng - 158

3.2 Nhân vật đối thủ 165

3.2.1 Nhân vật đối thủ trong nhóm sử thi Nam Đảo - 165

3.2.2 Nhân vật đối địch trong nhóm sử thi Môn Khmer - 169

3.3 Nhân vật người đẹp 174

Trang 6

3.3.1 Nhân vật người đẹp trong nhóm sử thi Nam Đảo - 174

3.3.2 Nhân vật người đẹp trong nhóm sử thi Môn Khmer - 175

3.4 Nhân vật thần linh 181

3.4.1 Nhân vật thần linh trong nhóm sử thi Nam Đảo - 181

3.4.2 Nhân vật thần linh trong nhóm sử thi Môn Khmer - 183

PHẦN KẾT LUẬN - 193

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 198

Trang 7

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

ĐHKHXH&NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

ĐHQG TP.HCM: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

NL: Ngữ liệu

NL1, NL2, NL3, … , NL124: Ngữ liệu 1, Ngữ liệu 2, Ngữ liệu 3, …, Ngữ

liệu 124 trong Phụ lục II ở tập Phụ lục đóng riêng

Nxb: Nhà xuất bản

PL: Phụ lục

PLI: Phụ lục I trong tập Phụ lục đóng riêng

PLII: Phụ lục II trong tập Phụ lục đóng riêng

TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

tr.: Trang

Trang 8

này, chúng ta dễ thấy rằng bản thân folklore không chỉ là “chìa khóa của văn hóa tinh thần” (chữ dùng của V IA Propp) mà còn là một đối tượng của nghiên cứu khoa học Điều cần tâm đắc trong nhận xét trên là “tính thời sự” của một nền văn hóa, văn nghệ và văn học dân gian Quả thật, nền văn hóa dân gian nói chung và văn học dân gian nói riêng không hề lạc hậu, mà chính đặc điểm thuần nguyên sơ khởi của nó là tiền đề, nền tảng kích thích khám phá không ngừng cho các nhà nghiên cứu Còn gì đáng hào hứng hơn khi ta tìm về những điều đã qua, hoặc tưởng

đã vĩnh viễn đánh mất, để nhìn nhận và lí giải cho tất cả những biểu hiện được gọi

là dấu vết, biểu trưng, bản chất của văn hóa tộc người, văn hóa con người

Nước Việt Nam có 54 dân tộc, phân bố vùng sinh sống khắp dải đất hình chữ

S Tuy nhiên, về mật độ phân bố, người Kinh vẫn chiếm đa số và cư ngụ ở vùng trung tâm Những tộc người thiểu số, do địa bàn cư trú và môi trường sinh sống theo miền, có xu hướng nhóm ổn định Chính đặc thù này làm cho những giá trị về đời sống văn hóa tinh thần của họ rất riêng, được phản ánh vô cùng đậm đà Từ đó, các ngành khoa học xã hội như lịch sử, địa lý, nhân học, dân tộc học, ngôn ngữ học… đã tiến hành tìm hiểu sâu và khai thác những thành tựu đáng quý về vấn đề tộc người thiểu số Trong những thành tựu mà văn học Việt Nam ghi nhận được từ kho tàng tự sự dân gian của dân tộc ít người, so với thần thoại, truyền thuyết, truyện

cổ tích… sử thi được xem như là một thể loại tuy “sinh sau đẻ muộn” nhưng lại rất phong phú, đặc sắc lẫn độc đáo từ nội dung đến hình thức

Từ năm 2001 đến năm 2007, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã tiến hành

Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây

Trang 9

Nguyên Kết quả là đã công bố 87 tác phẩm sử thi (được liệt kê trong mục B Tác phẩm sử thi trong Tài liệu tham khảo) Các tác phẩm sử thi được công bố này chủ yếu ở các tộc người thuộc hai nhóm Nam Đảo và Môn Khmer Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu, so sánh tổng thể sử thi của hai nhóm ngữ hệ này nhằm làm rõ những mối tương đồng, dị biệt thuộc vùng cư trú Khi tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng chiến tranh là một đề tài tiêu biểu của thể loại sử thi và cũng là tiêu chí quan trọng để khảo sát các biểu hiện sắc thái văn hóa tộc người Vì vậy, khi thấy rằng sử thi Môn Khmer chưa từng được nghiên cứu trên quy mô nhóm ở Việt Nam, chưa từng có sự so sánh thấu đáo giữa sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo với các tộc người theo ngữ hệ Môn Khmer về đề tài chiến tranh, chúng tôi đã

tiến hành nghiên cứu: “Đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc

người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Để tạo tiền đề cho quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi tập trung tìm hiểu

về sử thi anh hùng, vấn đề chiến tranh trong sử thi các tộc người Nam Đảo, Môn Khmer ở Việt Nam Chúng tôi tham khảo một số công trình, tác giả tiêu biểu có quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này và tạm chia thành hai phần nhỏ: 1- Lịch sử công bố các tác phẩm sử thi viết về đề tài chiến tranh ở Việt Nam 2- Lịch sử nghiên cứu nội dung sử thi nói chung và về đề tài chiến tranh nói riêng, cũng như lịch sử nghiên cứu sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi hai nhóm ngữ hệ Nam Đảo và Môn Khmer nói riêng

Về lịch sử công bố các tác phẩm sử thi viết về đề tài chiến tranh ở Việt Nam,

tác giả người Pháp L Sabatier (năm 1927) đã công bố tác phẩm Bài ca Đam San

Sau đó 30 năm, D Antomarchi tiếp nối quá trình sưu tầm và công bố của người đi

trước bằng Anh hùng ca Đăm Di Dù những tác phẩm này, khi được công bố, đều

bằng tiếng Pháp nhưng đó được xem là nền tảng phấn khởi cho khuynh hướng sưu tầm điền dã và nghiên cứu về thể loại sử thi Việt Nam Về sau, việc sưu tầm điền dã

và công bố sử thi vẫn diễn ra, nhưng chưa thực sự mạnh mẽ Đến năm 2004, dự án

Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản Kho tàng sử thi Tây Nguyên khi ra

đời đã kích thích sự tìm hiểu, phát hiện và công bố sử thi thêm mạnh mẽ Trong tạp chí

Trang 10

nhiều tác phẩm sử thi Theo đó, ở số 3 năm 2005, cũng trong tạp chí Nguồn sáng Dân gian, nhiều tác giả đã công bố, giới thiệu những tác phẩm sử thi vừa được phát hiện Nhà nghiên cứu Võ Quang Trọng giới thiệu Sử thi Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ (Dân tộc

Ba Na) Nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ có bài Sơ bộ về sử thi Mơ Nông và tác phẩm Thuốc cá ở hồ bầu trời, mặt trăng Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn giới thiệu Sử thi Kră, Năng cướp Bing, Kông (Dân tộc Mơ Nông) Nhà nghiên cứ Bùi Thiên Thai viết

Sử thi Con đỉa nuốt bon Tiăng (Dân tộc Mơ Nông)

Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, số 2 năm 2006, có ba bài giới thiệu sử thi mới Nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ tiếp tục giới thiệu về Sử thi Ting, Rung chết – “Bách khoa thư” về đời sống người Mơ Nông Ở bài viết này, tác giả tập trung làm rõ vũ trụ

quan, thế giới nhân vật, tín ngưỡng, chiến tranh, nhân vật anh hùng chiến trận và thần linh, phong tục tập quán của người Mơ Nông và những phương thức phản ánh Bài viết phân tích sâu sắc những đặc điểm tiêu biểu của tộc người Mơ Nông được phản ánh qua một tác phẩm sử thi điển hình về đề tài chiến tranh Cũng trong tạp chí số này, nhà

nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính cùng giới thiệu tác phẩm Sử thi Đẻ Lêng gồm 23750

câu, chia thành bốn phần: giới thiệu bon Tiăng, việc Lêng đầu thai vào mẹ Kông, mẹ Dum, việc Yang tìm Lêng không thấy (1-7950); Lêng lấy được hoa bạc, hoa đồng (7951-13115); Cuộc chiến giành lại hoa bạc, hoa đồng (13116-21132); Đám cưới của Lêng và Bing (21133-23750) Từ đó, tác giả khẳng định đây là sử thi có đề tài chiến tranh: cướp đoạt phụ nữ, giành vật báu Cùng quan điểm đó, nhà nghiên cứu Trần Thị

An viết bài Giới thiệu sử thi Rôch, Rông bắt hồn Lêng Tác giả khẳng định những cuộc

chiến tranh giành của cải, cướp phụ nữ trong tác phẩm này nhằm củng cố sức mạnh và

Trang 11

của tác giả Nguyễn Quang Tuệ về tác phẩm sử thi Ba Na mới được sưu tầm và biên tập Bên cạnh đó còn có bài báo của tác giả Lê Thị Thùy Ly (Viện nghiên cứu Văn

hóa) giới thiệu về tác phẩm Cọp bắt cóc Giông từ thuở bé Và bài giới thiệu tác phẩm Giông cưới nàng Khỉ của tác giả Nguyễn Việt Hùng Những được phẩm được tuyển

chọn giới thiệu trong giai đoạn này đều mang đặc trưng của sử thi anh hùng, đề cập đến vấn đề chiến tranh, những xung đột giữa hai hay nhiều cộng đồng và tôn vinh người thủ lĩnh anh hùng luôn đấu tranh bảo vệ cộng đồng Điều này chứng tỏ, chiến tranh là

đề tài nổi bật, phổ biến trong các sử thi của hai nhóm tộc người Nam Đảo và Môn Khmer Có thể thấy, đây là giai đoạn tìm hiểu về thể loại sử thi rất sôi động và hào hứng: nhiều tác phẩm được biên tập và giới thiệu công phu, nhằm đem đến cho độc giả nguồn sử thi mới mẻ, hấp dẫn đang âm thầm sống cùng đồng bào dân tộc thiểu số Điều thú vị là những tác phẩm này đều phản ánh rõ đời sống văn hóa cộng đồng tộc người thông qua những cuộc chiến tranh gay cấn của người Ba Na, Mơ Nông

Về lịch sử nghiên cứu nội dung sử thi nói chung và về đề tài chiến tranh nói riêng, nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn là người mở đường với hai công trình quan

trọng: Sử thi anh hùng Tây Nguyên và Văn học dân gian Việt Nam (viết chung với

tác giả Đinh Gia Khánh, tác giả Chu Xuân Diên) Bên cạnh đó, tác giả Phan Đăng Nhật đã góp phần làm dày thêm lịch sử nghiên cứu sử thi bằng những đầu sách

nhiều giá trị: Sử thi Êđê, Vùng sử thi Tây Nguyên, Nghiên cứu Sử thi Việt Nam Năm 1994, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kì đã công bố luận án Sử thi thần thoại Mơ Nông tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Sau đó không lâu, công trình này được

in thành sách Sử thi thần thoại Mơ Nông, được xem là một tác phẩm mẫu mực cho

người nghiên cứu về sử thi Mơ Nông Sau đó, nhiều công trình nghiên cứu đa dạng

Trang 12

Văn hóa mẫu hệ trong sử thi Ê Đê Nữ tác giả không chỉ công bố thêm tác phẩm mới mà còn làm rõ đặc điểm tiêu biểu của tiểu loại sử thi anh hùng: “Đa số trong aghan Ê Đê, chiến tranh là đề tài trung tâm, đề tài cốt lõi, các nhân vật anh hùng tấn công và trừng phạt đối thủ để bảo vệ người phụ nữ đã tạo thành đề tài, cốt truyện quen thuộc trong các tác phẩm” (Buôn Krông Tuyết Nhung, 2001, tr 40)

Sự đóng góp này đã giúp cho tiến trình nghiên cứu đặc trưng sử thi ngày càng chắc chắn

Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, số 1 năm 2002, có bài Sử thi Việt Nam của

tác giả Nguyễn Xuân Kính Bài viết đưa ra những thông tin về quá trình sử dụng

thuật ngữ Sử thi, Anh hùng ca và quá trình sưu tầm, công bố sử thi ở Việt Nam

Đồng thời, tác giả còn đặt ra vấn đề về việc đánh giá, ứng xử với sử thi và cần xác định thể loại sử thi thuộc phạm trù văn học dân gian hay văn học viết Vào năm

2003, tác giả Hà Thị Minh Thu nghiên cứu So sánh hệ thống nhân vật trong sử thi Ramayana và nhóm sử thi Tây nguyên có đề tài chiến tranh giành lại vợ Công trình

này khẳng định được giá trị riêng của sử thi Việt Nam trong mối tương quan với sử

thi thế giới có đề tài chiến tranh, nhìn từ góc độ hệ thống nhân vật “Chiến tranh tạo nên cơ sở hiện thực được phản ánh trong sử thi Ramayana cũng như các sử thi anh hùng Tây Nguyên Nói cách khác chiến tranh trở thành đề tài của Ramayana và nhiều sử thi Tây Nguyên, làm nên nét chung của các sử thi này là đều thuộc về tiểu loại sử thi anh hùng” (Hà Thị Minh Thu, 2012, tr 23) Cùng năm đó, tạp chí Nguồn sáng Dân gian số 3 năm 2003 có đăng bài Nhiệm vụ sưu tầm nghiên cứu sử thi Chăm của tác giả Phan Đăng Nhật Ở đây, tác giả giới thiệu những sử thi Chăm đã

Trang 13

được xác định đặc điểm và chỉ ra những vấn đề còn tồn đọng, hướng tìm tòi sử thi bản địa

Năm 2006, tác giả Phan Thị Hồng (Đại học Đà Lạt) công bố công trình

Nhóm sử thi dân tộc Ba Na Bằng sự nghiên cứu tỉ mỉ dựa trên kinh nghiệm, thành

quả sưu tầm điền dã của mình, tác giả giới thiệu chi tiết những đề tài phổ biến trong

sử thi Ba Na, các kiểu chiến tranh, hình tượng người anh hùng Giông và hệ thống nhân vật khác Đây có thể xem là công trình có giá trị, bao quát toàn bộ những đặc điểm về sử thi của người Ba Na Năm 2007, tác giả Vũ Thị Lụa có công trình nghiên

cứu Đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo (Khóa luận

tốt nghiệp Đại học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM) Trong đó, tác giả phân tích đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo ở những khía cạnh: không khí chiến tranh, nguyên nhân, mục đích

và các kiểu chiến tranh, hệ thống nhân vật Đề tài này đã giúp chúng tôi có thêm nguồn

tư liệu quý báu để phát triển thêm công trình so sánh đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng của hai nhóm ngữ hệ

Năm 2009, tác giả Vũ Hoàng Hiếu có bài Mối quan hệ giữa hôn nhân và chiến tranh được phản ánh trong sử thi Tây Nguyên in trong tuyển tập Sử thi Việt Nam trong bối cảnh sử thi châu Á (đây là tập Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế

2009 được xây dựng trên cơ sở 37 bản báo cáo của các tác giả ở Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Đài Loan, Lào, Malaysia, Nhật Bản, Pháp, Thái Lan, Trung Quốc Có nhiều vấn đề chuyên sâu đã được đặt ra như đặc điểm sử thi Tây Nguyên, mối quan

hệ giữa sử thi Tây Nguyên trong tổng thể sử thi Việt Nam và sử thi các nước Đông Nam Á - châu Á, phương thức bảo tồn và phát huy giá trị sử thi trong xã hội hiện đại) Tiểu luận này đã khảo sát một số sử thi tiêu biểu của các tộc người ở Tây Nguyên (thuộc ngữ hệ Nam Đảo và Môn Khmer) để chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa chiến tranh và hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên Trong đó, tác giả nêu rõ hôn nhân là cội nguồn của chiến tranh và chiến tranh là phương tiện, con đường để dẫn

đến hôn nhân Từ đấy, tác giả rút ra kết luận: “Chiến tranh và hôn nhân trong thời đại sử thi là “phương tiện” để người anh hùng khẳng định sức mạnh, quyền lực và

uy thế của mình Sở hữu những người phụ nữ giàu có xinh đẹp, đánh bại kẻ thù,

Trang 14

tộc người (Nhóm sử thi Ba Na, Phan Thị Hồng), một khía cạnh (Mối quan hệ giữa hôn nhân và chiến tranh được phản ánh trong sử thi Tây Nguyên, Vũ Hoàng Hiếu), một ngữ hệ (Đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo, Vũ

Thị Lụa) Do vậy, trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi muốn bổ sung thêm bằng cách hệ thống các tác phẩm của các tộc người thuộc hai ngữ hệ Nam Đảo và Môn Khmer, rồi so sánh những đặc điểm về chiến tranh trong những tác phẩm đó để có cái nhìn bao quát về đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng ở Việt Nam

3 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu

Từ tháng 10 năm 2001, dự án “Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phối

hợp với các tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận với tổng kinh phí gần 18 tỉ đồng Đến nay đã sưu tầm được 801 tác phẩm với tổng số 5.679 băng ghi âm loại 90 phút với sự tham gia của 388 nghệ nhân hát kể Tính đến hiện tại, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam đã tiến hành dịch nghĩa được hơn 100 tác phẩm thuộc các dân tộc thiểu số: Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chăm, Ba Na, Mơ Nông, Xê Đăng Hiện tại các

tác phẩm được tập trung xuất bản thành bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên với 75 tác

phẩm in trong 62 tập và những tác phẩm được xuất bản không theo bộ Trong quá trình tìm văn bản sử thi, những nơi lưu trữ mà chúng tôi đã đến là Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM, Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – ĐHQG TP.HCM, Phòng học liệu của Khoa Văn học (trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – ĐHQG TP.HCM), Thư viện trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, Thư viện trường Đại học Sài Gòn và tủ sách của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè Chúng tôi gặp phải khó khăn vì

sự phân bổ số lượng tác phẩm ở các nơi lưu trữ có trùng lặp và không đầy đủ Để khắc phục tình trạng này và đảm bảo được nguồn tài liệu trọng tâm cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi khảo sát những văn bản được in trong Tổng tập Văn học Dân gian các dân tộc

Trang 15

thiểu số Việt Nam, Kho tàng sử thi Tây Nguyên Từ việc đọc tham khảo những công trình nghiên cứu vấn đề liên quan, chúng tôi xác định tác phẩm có đề tài chiến tranh nổi bật, những tình tiết giống nhau theo nhóm và tìm kiếm văn bản cụ thể Dù đã cố gắng hết sức nhưng chắc sẽ không tránh khỏi những thiếu sót

Sau quá trình chọn lọc dựa trên tính điển hình của đặc điểm thể loại, sự phổ biến của nhân vật và đề tài, chúng tôi tiến hành khảo sát tác phẩm sử thi các tộc người Với số lượng tác phẩm sử thi được tìm thấy, chúng tôi tập trung khảo sát ở những tác phẩm có đề tài chiến tranh (gồm 63 tác phẩm), từ đó chắt lọc ra để tìm

những khía cạnh mấu chốt có liên quan đến đề tài chiến tranh Đồng thời, khi triển

khai đề tài, chúng tôi tiến hành so sánh đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng giữa các tộc người Nam Đảo và tộc người Môn Khmer dựa trên những điểm tương đồng

Đăm Săn Chăm

Dewa Mưno Intra Patra Chi Bri-chi Brít - Chăm Hơroi

Gia Rai Hơbia Đơrang

Xing Nhã (Ê Đê và Gia Rai)

Ra Glai Udai-Ujàc Môn Khmer Ba Na

Giông, Giớ mồ côi từ nhỏ Giông làm nhà mồ

Giông cứu đói dân làng mọi nơi

Trang 16

Giông cứu nàng Rang Hu Giông đánh quỷ Bung Lung Giông đạp đổ núi đá cao ngất Giông đi săn chém cọp của Dăm Hơ Dang Giông lấy khiên đao của bok Kei Dei Giông lấy nàng Bia Phu

Giông leo mía thần Giông Trong Yuăn Atâu, So Hle, Kơne Gơseng Bia Phu bỏ Giông

Cọp bắt Giông thuở bé Giông bọc trứng gà Giông cưới nàng Khỉ Giông dẫn các cô gái đi xúc cá Giông đánh hạ nguồn cứu dân làng Giông giết sư tử cứu làng Set Giông ngủ ở nhà rông của làng bỏ hoang Giông săn trâu rừng

Set xuống đồng bằng thăm bạn

Xê Đăng

Duông theo thần Tung Gur Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ Duông làm thủ lĩnh

Duông làm nhà rông Dăm Duông cứu nàng Bar Mă

Trang 17

Bắt con lươn ở suối Dak Huch Thuốc cá ở hồ bầu trời, mặt trăng Tiăng lấy gươm tự chém

Lấy hoa bạc, hoa đồng Lêng, Kông, Mbong lấy ché voi trắng Yơng, Yang đi lấy ống bạc tượng người Lấy ché con ó của Tiăng

Cướp chăn Lêng của Jrêng, Lêng con Ôt Chàng Tiăng bán tượng gỗ

Rôch, Rông bắt hồn Lêng Mùa rẫy bon Tiăng

Bông, Rong, Tiăng Chàng Lêng

Lêng đi giành lại đàn nring Cướp chiêng cổ bon Tiăng Lùa cây bạc cây đồng Con hổ cắn mẹ Rong

Tà Ôi AChât

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau:

Phương pháp thống kê, phân tích

Để tạo cho luận văn thêm phần thuyết phục với hệ thống thông tin súc tích,

có giá trị biểu đạt rõ, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, phân tích để khảo sát 63 tác phẩm sử thi Việt Nam (được tóm tắt ở Phụ lục I) Chúng tôi lập bảng thống kê về tình tiết (nguyên nhân xung đột, phương thức gây chiến, chuẩn bị giao chiến, giao chiến, kết quả) của ba kiểu chiến tranh (vì phụ nữ, đòi nợ trả thù, hỗn hợp) Đồng thời, chúng tôi phân tích đặc điểm kết cấu về phương diện nội dung và đặc điểm nhân vật làm nên đề tài chiến tranh trong tác phẩm

Trang 18

Phương pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để nghiên cứu sự tương đồng, dị biệt giữa sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam thông qua đặc trưng kiểu loại Cụ thể, chúng tôi so sánh từng kiểu chiến tranh (vì phụ nữ, đòi nợ trả thù, hỗn hợp) dựa trên những đặc điểm về nguyên nhân xung đột, phương thức gây chiến, chuẩn bị giao chiến, giao chiến, kết quả Đồng thời, so sánh hình tượng nhân vật người anh hùng và các nhân vật đối thủ, thần linh, phụ nữ nhằm tìm hiểu về đặc trưng tư tưởng, văn hóa của các tộc người thuộc hai nhánh ngữ hệ khác nhau

Phương pháp liên ngành

Chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành về lịch sử, địa lí, dân tộc học để tìm hiểu, xác định các điều kiện tạo nên đề tài chiến tranh trong các tác phẩm sử thi anh hùng của hai nhóm tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam Từ đó, dựa vào đặc thù dân tộc, văn hóa (địa bàn cư trú, lịch sử di cư, lịch sử chiến tranh, quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa…), chúng tôi lí giải các yếu tố quan trọng làm nên sự giống và khác nhau giữa các sử thi anh hùng có đề tài chiến tranh được khảo sát

5 Cấu trúc của đề tài

Luận văn gồm những phần sau đây:

xã hội Đồng thời, chúng tôi khái quát lịch sử – xã hội các tộc người được phản ánh trong sử thi các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer; từ đó tiến hành hệ thống các đề tài trong sử thi và rút ra được ý nghĩa, vai trò của đề tài chiến tranh trong các bộ sử thi này Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành so sánh, phân tích những mối

Trang 19

và Môn Khmer: xung đột giành lại vợ, xung đột đòi nợ, xung đột hỗn hợp Từ đó, chúng tôi đúc kết ý nghĩa nhân văn của đề tài chiến tranh trong sử thi các tộc người thuộc hai ngữ hệ Nam Đảo và Môn Khmer

CHƯƠNG 3 Các kiểu nhân vật tham gia chiến tranh trong sử thi anh hùng các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam

Chúng tôi nghiên cứu đặc điểm các nhân vật thủ lĩnh, đối địch, đàn bà và thần linh Từ đó, chúng tôi so sánh để thấy được điểm tương đồng dị biệt Rồi căn

cứ vào kiến thức dân tộc học, chúng tôi lí giải nguyên nhân của sự khác biệt, làm rõ những tâm tư, khát vọng của cộng đồng, dân gian trong từng hình mẫu nhân vật được tạo dựng trong các tác phẩm sử thi

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC (Được biên tập thành một quyển riêng)

Trang 20

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 Tổng quan về tộc người và sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam

1.1 Các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam

Khi nghiên cứu về vấn đề tộc người, có hai tiến trình gợi cho chúng tôi nhiều lưu ý: một là tiến trình thông qua các phát minh và phát kiến, hai là tiến trình thông qua các thiết chế đầu tiên Với hướng tìm hiểu về sử thi tộc người, mang tư cách là thể loại văn học lâu đời có sự bám sát quá trình tiến triển của các dân tộc theo nhiều ngữ hệ, chúng tôi tập trung làm rõ những vấn đề về thiết chế, bao gồm: địa bàn sinh sống, tổ chức xã hội, mô hình gia đình, nhà ở và kiến trúc, văn hóa tộc người

1.1.1 Các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam

Những tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo bao gồm: Chăm, Ê Đê, Gia Rai, Chu Ru, Ra Glai sinh sống chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Riêng người Chăm còn có nhiều nhóm ở vùng ven biển Để làm rõ mối liên quan giữa đời sống thực tế và vấn đề phản ảnh qua tác phẩm sử thi, chúng tôi tập trung tìm hiểu về các tộc người có sử thi được khảo sát

Dân tộc Ê Đê

Đồng bào tự gọi mình là Anak Ê Đê, tức là “người Ê Đê” Tộc danh này được

là dùng để chỉ những người sống trong rừng tre (Eie hay Eđê) hoặc là tên gọi một vị

thần tối cao trong tín ngưỡng dân gian là Ae, Die hay tên gọi chỉ “những người mới đến” từ hang đất Ađrênh ở nam Buôn Ma Thuột – theo truyền thuyết Cho đến nay,

Ê Đê là tên gọi chính thức của đồng bào, bên cạnh đó còn có những tên khác như Rađê, Rhađê, Êđê, Đê, Êđê Êgar, Mọi, Thượng hay Rơđê, nhưng ít người sử dụng Trong lịch sử tộc người, chắc chắn dân tộc Ê Đê có sự dịch chuyển nơi cư trú Tuy nhiên, vùng sinh tồn chủ yếu của tộc người này xa xưa tới này vẫn là cao nguyên Đăk Lăk Đây là một vùng rộng lớn có diện tích 19.800 km2, độ cao trung bình 500m, bề mặt bằng phẳng hoặc lượn sóng, không có đường dốc rõ rệt như các vùng miền núi khác; phía bắc giáp Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, phía nam giáp tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, phía tây giáp cộng hòa nhân dân

Trang 21

Campuchia với khoảng 240km đường biên giới Dân số Ê Đê tăng dần qua các thời

kỳ Chỉ tính từ năm 1979 đến năm 1999 dân số tộc người này từ 140.884 người tăng lên 270.384 người, trong đó ở Đăk Lăk có 249.096 người Đến năm 2009, theo tổng cục điều tra dân số và nhà ở, dân số Ê Đê đã lên tới 331.194 người, tập trung tại 3 tỉnh Đăk Lăk (298.354 người), Phú Yên (20.905 người) và Đăk Nông (5.217 người) Hiện nay, người Ê Đê đứng thứ 11 về dân số trong 54 dân tộc ở Việt Nam, đông thứ hai trong năm dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo ở Việt Nam, và đông thứ hai trong 12 dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên Đăk Lăk vẫn là nơi người Ê Đê tập trung đông nhất, với 304.794 người (chiếm 92%), tiếp đó là vùng Bắc Trung bộ

và duyên hải miền Trung, với 24.957 người1

Buôn làng truyền thống của dân tộc Ê Đê cũng giống như nhiều tộc người tại chỗ ở Tây Nguyên, có một số đặc điểm như sau: 1- Mỗi làng là một đơn vị cộng cư thống nhất; 2- Mỗi làng là một cộng đồng sở hữu về lãnh thổ xác định; 3- Mỗi làng

là một đơn vị tổ chức xã hội hoàn chỉnh; 4- Mỗi làng là một cộng đồng tuy không biệt lập nhưng tương đối riêng Bốn đặc điểm này hầu như còn nguyên vẹn cho đến tận giữa thế kỉ trước, phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống, tâm lý, môi trường, cảnh quan Trong xã hội truyền thống, người Ê Đê cư trú thành các buôn Cấu trúc buôn bao gồm một nhà cộng đồng là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt chung của buôn và các nhà dài là nơi cư trú của các đại gia đình mẫu hệ Một số gia đình giàu có trước kia, ngoài những thành viên tính theo huyết thống dòng mẹ, còn có những tôi tớ Đó là biểu hiện sự giàu có và thế lực của gia đình Tôi tớ gia đình thường là tù binh trong chiến tranh giữa các làng, người góa bụa, nghèo khó không nơi nương tựa, người mắc tội không có của nộp phạt, hoặc những người nợ nần không thanh toán được Họ cùng những thành viên khác trong gia đình làm nương rẫy, các công việc trong nhà, ít khi bị đánh đập hay phân biệt đối

xử Những tôi tớ này cũng thường có vợ có chồng, con cái, và bếp riêng dưới mái nhà dài Nếu họ làm việc chăm chỉ, sau một thời gian, có thể trở thành những cư dân tự do

1 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2 Hà Nội: Chính trị

quốc gia Sự thật

Trang 22

Mối quan hệ giữa người Ê Đê và các dân tộc quanh vùng là mối quan hệ láng giềng, nhưng cũng còn là mối quan hệ gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ Ở phía Bắc, người Ê Đê có quan hệ chặt chẽ với người Gia Rai – cư dân sống tập trung ở tỉnh Gia Lai Giống như người Ê Đê, người Gia Rai cũng thường làm nương rẫy trên những khu đất bằng ở sườn đồi hoặc ven sông suối Hai dân tộc này có tổ chức xã hội gần như nhau, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Về phía Nam địa vực

cư trú của mình, người Ê Đê có nhiều mối quan hệ xã hội với các nhóm Mơ Nông Rất nhiều yếu tố văn hóa người Ê Đê đã xâm nhập vào người Mơ Nông rất sâu sắc Một số nhóm Mơ Nông sống trong vùng người Ê Đê đã hòa vào người Ê Đê Ngược lại, nhiều yếu tố văn hóa của người Mơ Nông cũng đã có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống người Ê Đê, nhất là những nhóm người Ê Đê sống xen kẻ với người Mơ Nông

Người Ê Đê có nền văn nghệ dân gian vô cùng phong phú, giàu bản sắc dân tộc Trước hết, phải kể đến kho tàng sử thi (khan) khắc họa lịch sử của người Ê Đê nói riêng và Tây Nguyên nói chung trong quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên và đấu tranh chống kẻ thù xâm lược Bên cạnh sử thi, người Ê Đê còn có một kho tang truyện cổ khá phong phú gồm nhiều thể loại như thần thoại, truyền thuyết,

cổ tích, truyện cười, câu đố, ngụ ngôn,… gắn với sự hình thành trời, đất và vạn vật, phản ánh về một vùng Tây Nguyên hùng vĩ, giàu chất huyền thoại Nhắc đến văn nghệ dân gian của dân tộc Ê Đê, không thể không nhắc đến nghệ thuật cồng chiêng – một nét văn hóa nổi bậc nhất của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và người Ê Đê nói riêng Theo quan niệm của các già làng, cồng chiêng có thể giúp con người thông tin trực tiếp tới thần linh, với các Yang và thường được sử dụng trong các lễ hội của các buôn làng Ê Đê Ngoài cồng, chiêng, trống, trong xã hội truyền thống của người Ê Đê còn sử dụng các loại nhạc cụ khác: đinh năm, đinh buốt klút, đinh buốt tút, brô, kni, goong… Nghệ thuật tạo hình dân gian cũng là nét đặc sắc trong văn nghệ dân gian Ê Đê Nói đến nghệ thuật tạo hình dân gian Ê Đê truyền thống thực chất là nói đến nghệ thuật trang trí trên vải, nghệ thuật điêu khắc

gỗ trang trí nhà ở và nhà mồ Người Ê Đê quan niệm mọi sự vật, hiện tượng trong

Trang 23

cuộc sống đều có các thần linh và phần lớn họ theo tín ngưỡng đa thần Từ dòng sông, con suối, bầu trời, đất đai… đều có thần

Dân tộc Chăm

Người Chăm ở Việt Nam thuộc chủng tộc Oceanien nhánh Indonesiens và là

di duệ của giống người Mã Lai, có nguồn gốc xa xưa từ Samantra hoặc từ Java, di trú tới bán đảo Đông Dương vào giai đoạn trước thế kỉ thứ I Ở giai đoạn gần đây hơn, một số nghiên cứu cho thấy rằng người Chăm hiện nay là sự hợp thành của hai nhóm người Lâm Ấp và người Panran, được gọi là người tiền Chăm, sự hợp nhất muộn mằn về chính trị giữa hai thị tộc Cau và Dừa Có thể xác định sự biến thiên về dân số của dân tộc Chăm ở Việt Nam từ giữa thế kỉ thứ XX tới nay như sau: năm

2040 (thời thuộc Pháp) có 15.870 người; năm 1969 có 50.045 người; năm 1999 có 90.312 người; năm 2009 có 161.729 người Trong khoảng 70 năm, dân số người Chăm tăng hơn 10 lần, hiện nay, họ là dân tộc có số dân đông thứ 14 trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Ở các quốc gia láng giềng, số lượng người Chăm cũng chiếm tỉ lệ khá cao: ở Campuchia có 217.000 người, ở Malaixia có khoảng 10.000 người, ở Thái Lan có khoảng 4.000 người và khoảng 3.000 người Chăm sinh sống ở

Mỹ Người Chăm có lẽ là một trong những chủ nhân của nền văn minh lúa nước khu vực Đông Nam Á, lập quốc ở khu vực ven biển Nam Trung Bộ bao gồm đồng bằng Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết.2

Đời sống người Chăm chịu ảnh hưởng sâu sắc của tôn giáo Tôn giáo chi phối hầu khắp mọi mặt của cuộc sống Cơ cấu tổ chức xã hội chịu sự áp chế của tôn giáo tạo nên cơ chế quản lí thần quyền Chức sắc tôn giáo là đại diện tiêu biểu cho cộng đồng, chi phối sâu sắc cả việc đạo và đời đối với thành viên trong làng Khoảng cuối thế kỉ thứ XIII, vương quốc Chăm bước vào thời kì khủng hoảng và dần tiến tới suy vong nên cơ cấu tổ chức xã hội Chăm có những biến động lớn Bên cạnh đó còn nhiều nguyên nhân lịch sử khác tác động lên cộng đồng dân tộc Chăm như chiến tranh triền miên, ảnh hưởng của tôn giáo hay những dân tộc láng giềng Do bảo lưu chế độ xã hội mẫu hệ nên trong quan hệ thân tộc, người Chăm coi trọng

2 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2 Hà Nội: Chính trị

quốc gia Sự thật

Trang 24

dòng họ bên mẹ hơn dòng họ bên cha Dòng họ là một đơn vị tổ chức xã hội chặt chẽ bởi nó được gìn giữ bằng mối quan hệ huyết thống và hệ thống thân tộc Làng truyền thống của người Chăm là một cộng đồng về xã hội, có địa vực cư trú được xác định rõ rệt Tên làng thường được gắn với tên một ngọn núi, thửa ruộng hay di tích lịch sử Quan hệ trong làng dưới sự điều khiển của già làng và hội đồng chức sắc tôn giáo Già làng đồng thời cũng là người đóng vai trò cao nhất trong hệ thống chức sắc Quan hệ ngoại tộc của người Chăm chủ yếu là mối quan hệ với tộc người Kinh, là dân tộc láng giềng sinh sống kề cận nhau lâu đời Ngoài ra, ở mỗi khu vực

cụ thể lại có những mối quan hệ tộc người láng giềng với các nhóm cư dân dân tộc thiểu số khác như người Ê Đê, Ba Na, Ra Glai ở khu vực miền Trung, người Khmer, Hoa ở khu vực Nam Bộ Vốn ít có sự ngăn cản trong hôn nhân ngoại tộc, người Chăm H’roi từ lâu đã có truyền thống kết hôn ngoại tộc với các dân tộc xung quanh như Ba Na, Ê Đê

Dân tộc Gia Rai

Địa bàn cư trú của dân tộc Gia Rai ở Tây Nguyên chủ yếu tại tỉnh Gia Lai, phía tây tỉnh Phú Yên, phía nam tỉnh Kon Tum, phía bắc tỉnh Đăk Lăk Theo tổng điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê, có 411.275 người Gia Rai đang sinh sống tại Việt Nam Trong 10 năm, từ năm 1999 đến năm 2009, tỷ lệ dân số Gia Rai đã tăng lên 30% và xếp thứ 10 trong số các dân tộc ở Việt Nam về số lượng dân

cư Riêng ở tình Gia Lai, dân tộc Gia Rai có 372.302 người Đến năm 2015, dân số Gia Rai tại tỉnh này tăng lên 425.187 người3 Từ Gia Rai vừa đồng âm, vừa đồng nghĩa với từ J’rai (thác nước) Tộc danh này có thể gắn liền với lịch sử ban đầu của người Gia Rai Thủy tổ của họ có lẽ sinh tụ ở vùng có nhiều thác ghềnh, ven những con sông nào đó như Ia Yun, Ia Ly

Làng là đơn vị cơ bản trong xã hội truyền thống ở dân tộc Gia Rai Đối với nhiều nhóm địa phương của dân tộc Gia Rai, plơi là từ phổ biến dùng để chỉ làng; tuy nhiên, còn từ bôn hay buôn với nghĩa là làng được sử dụng ở nhóm người Gia Rai Chor và Mthur Các nhà trong làng được xây cất theo một hệ thống, có trật tự

3 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2 Hà Nội: Chính trị

quốc gia Sự thật

Trang 25

nhất định, lấy hướng Bắc làm hướng chính Mỗi làng xưa kia có một hội đồng bao gồm những người già chủ trì Hội đồng chọn người đứng đầu làng và việc cắt cử người đứng đầu cũng theo tập quán tôn giáo Trong những công trình của Dournes, Maitre, Nguyễn Trắc Dĩ trước năm 1975 hay Rơ Chăm Oanh có nhắc đến các Pơtao: Vua Nước (Pơtao Ia), Vua Lửa (Pơtao Apui) và Vua Gió (Pơtao Angin) như

là hiện thân của sự liên kết các làng dân tộc Gia Rai, từ đó mỗi làng đều có những luật tục quy định hành vi và ứng xử của con người đối với cộng đồng, thế giới tự nhiên và thế giới siêu nhiên Trong một công trình khác dẫn lại từ luật tục J’rai còn cho rằng 3 vị pơtao là biểu hiện quan niệm tư duy tam hợp về mối tương quan giữa

tự nhiên và xã hội Trong đó, Nước tượng trưng cho người mẹ thường im lặng và lạnh, ở phía tây; Lửa tượng trưng cho người cha thường mạnh mẽ và nóng, ở phía đông; Nước và Lửa hợp lại thành Gió

Dân tộc Gia Rai theo chế độ ngoại hôn Những người cùng tên họ, dù không

có liên quan về huyết thống cũng không được lấy nhau Nhưng tập quán cho phép hôn nhân con cô, con cậu Theo truyền thống của dân tộc Gia Rai, sau khi chồng chết, vợ có thể lấy anh em chồng; hoặc ngược lại, vợ chết, chồng có thể lấy chị em

vợ Sau khi lấy vợ, người chồng cư trú bên nhà vợ Do đó, đàn ông Gia Rai phụ thuộc hoàn toàn vào nhà vợ; theo luật tục, người vợ là chủ gia đình, cũng là chủ tài sản của gia đình Dân tộc Gia Rai theo chế độ mẫu hệ nên con cái lấy họ mẹ Con trai Gia Rai đi lấy vợ không được chia tài sản của cải, còn con gái được chia một phần tài sản Con gái út thường được cha mẹ chọn ở chung khi tuổi già và được chia nhiều tài sản hơn các cô con gái khác Tuy nhiên, đàn ông Gia Rai lại là lực lượng sản xuất chủ yếu, và đóng vai trò quyết định trong công việc xã hội

Dân tộc Gia Rai có nhiều thể loại hát dân ca, với một số loại hình như: Hát ru, hát đồng dao, hát giao duyên, hát sinh hoạt, hát kể - trường ca Nhân vật trung tâm trong sử thi là anh hùng, dũng sĩ, người có công hướng dẫn nhân dân làm ăn, đánh giặc và giành lại người đẹp từ tay kẻ thù Bên cạnh các thể loại ca hát, dân tộc Gia Rai còn có nhiều nhạc cụ, gồm: nhạc cụ tự thân vang, nhạc cụ dây, nhạc cụ hơi, nhạc cụ rung Dân tộc Gia Rai có hệ thống tín ngưỡng vạn vật hữu linh, nhân thần

và siêu nhiên Không chỉ có người mà mọi vật đều có linh hồn, với những cảm nhận

Trang 26

yêu thương, giận hờn Người Gia Rai quan niệm hệ thống thần linh như thần sấm, thần mưa, thần rừng, thần núi (các yang) đều luôn luôn dõi theo và chi phối cuộc sống hằng ngày của con người Nếu con người đối xử tốt với thần linh và ma quỷ sẽ đươc phù hộ và ngược lại Để có thể giao tiếp với thần, người Gia Rai thường tổ chức các buổi cầu cúng Trong các loại thần thì thần nhà cửa, thần làng và thần bến nước được coi trọng nhất Ngoài ra dân tộc Gia Rai còn có các vị thần khác như: thần quyết định sự sống của con người; thần tác động đến gia đình và cộng đồng; thần chi phối thế giới tự nhiên; thần trú trong đồ gia dụng và những vật có hình thù lạ; thần Trăn… Bên cạnh các hệ thống thần nêu trên, dân tộc Gia Rai còn tin vào

ma lai (rơhung) Ma lai là người có sinh hoạt bình thường ban ngày, nhưng ban đêm rút đầu ra khỏi thân mình đi bắt hồn người khác để ăn Do vậy, xưa kia những ai bị cộng đồng nghi là ma lai, cả nhà bị giết chết hay bị đuổi ra khỏi làng

4 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2 Hà Nội: Chính trị

quốc gia Sự thật

Trang 27

Cấu trúc xã hội của người Ra Glai được thể hiện trên các khía cạnh như: truyền thống cư trú của họ là các paley (làng) – đơn vị cư trú, tổ chức thiết chế xã hội cơ sở trong cấu trúc xã hội người Ra Glai có vùng lãnh thổ riêng và là một đơn

vị hành chính – xã hội mang tính tự quản Trong gia đình, vai trò quyết định thuộc

về người phụ nữ cùng với vai trò quan trọng của các anh em bên nhà vợ Trai gái tự

do tìm hiểu và quyết định, nhưng quyết định cuối cùng phải thông qua cha mẹ, các ông cậu của cả hai bên gia đình Người Ra Glai có tín ngưỡng và lễ hội dân gian khá đa dạng Đời sống văn học – nghệ thuật dân gian của người Ra Glai cũng rất phong phú, có truyện thơ, truyện kể, tục ngữ, ca dao và nhạc cụ Ngoài canh tác nương rẫy và lúa nước, người Ra Glai còn chăn nuôi gia súc (trâu, bò, dê) chủ yếu

để phục vụ nhu cầu đời sống xã hội của cư dân và phần nào đáp ứng nhu cầu sản xuất của cộng đồng

Cũng như nhiều tộc người khác, làng (paley) là đơn vị xã hội cơ sở truyền thống quan trọng và duy nhất của người Ra Glai Trước đây, làng của người Ra Glai

có thể bao gồm chỉ một hoặc một số đại gia đình theo chế độ mẫu hệ - biểu tượng của nó là ngôi nhà dài Làng có một địa vực cư trú riêng Hôn nhân của người Ra Glai tuân thủ theo chế độ mẫu hệ và từ xa xưa đã được điều chỉnh bằng luật tục và tín ngưỡng Người Ra Glai đến nay vẫn duy trì ngoại hôn dòng họ mẹ Tuy theo chế

độ mẫu hệ, nhưng việc tìm hiểu nhau thường do người con trai chủ động Người con gái chủ động tìm bạn trai bị coi như hư thân mất nết Người con gái tiêu chuẩn phải là người siêng năng, chăm chỉ, biết lo toan việc rẫy, việc nhà; hình thức không phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất

Người Ra Glai có mối quan hệ mật thiết với người Chăm nhất, văn hóa của người Ra Glai có nhiều đặc trưng tương đồng với văn hóa của người Chăm hơn cả Hai tộc người này còn có nhiều nét tương đồng trong cách tổ chức bản làng (paley), luật tục (nội dung, chức năng, cơ chế xét xử), tín ngưỡng dân gian và hệ thống thần linh, cách thức tổ chức tang lễ, thờ cúng tổ tiên,… Trong dân gian, người Ra Glai

và người Chăm vẫn truyền tụng rằng, người Chăm và người Ra Glai là hai anh em Chính vì vậy, có nghiên cứu cho rằng người Ra Glai và người Chăm có quan hệ nguồn gốc tộc người với nhau Người Ra Glai hiện sống xen cài chủ yếu với người

Trang 28

Kinh, Tày, Ê Đê Ở đây, mối quan hệ giữa người Ra Glai và các tộc người này diễn

ra khá tốt đẹp, rất ít có mâu thuẫn và tranh chấp xảy ra

Tóm lại, tổ chức xã hội của các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo chủ yếu là làng, với những quy mô khác nhau Mỗi làng có một tập thể già làng gồm các chủ nóc do tập thể bầu ra Cư dân Nam Đảo là cư dân nông nghiệp nên địa bàn cư trú chủ yếu là ở vùng nông thôn Hình thái cư trú của họ khá đa dạng nhưng phổ biến là hình thái tụ cư thành điểm cư dân Do cư trú trên những vùng môi sinh khác nhau nên có sự khác biệt trong cấu trúc nhà ở Các dân tộc Nam Đảo thường sống trong các ngôi nhà sàn Nhà của người Ê Đê là nhà sàn với không gian cư trú của kiểu gia đình còn nhiều tàn dư của gia đình mẫu hệ Nhà Ê Đê có kết cấu nhà dài đơn giản nhưng khá chắc chắn Nhà có 2 cửa, cửa trước dành cho nam giới và khách khứa, cửa sau dành riêng cho phụ nữ Bên cạnh đó, do điều kiện sống với những khác biệt

về tôn giáo và tập quán nên cấu trúc nhà ở cũng có sự khác nhau Điều khác biệt rõ nhất là nhà ở của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận có kết cấu nhà trệt, trong khi đó người Chăm Châu Đốc lại ở nhà sàn Quy mô của các gia đình ở đây, phần lớn, đều theo chế độ mẫu hệ Trong gia đình, người đàn bà nắm quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến đời sống gia đình và quản lý tài sản Đặc biệt, người mẹ rất được coi trọng Việc thừa hưởng tài sản cũng thuộc về người con gái mang họ

mẹ Riêng người Chăm ở Châu Đốc thì chế độ gia đình phụ hệ được thiết lập Các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo là cư dân nông nghiệp, do địa bàn cư trú khác nhau nên có hình thức canh tác khác nhau: nông nghiệp nương rẫy và lúa nước, chăn nuôi, săn bắn hái lượm, ngư nghiệp kém phát triển Đặc biệt, ở tộc người Nam Đảo, thủ công nghiệp phát triển với nghề mộc, nghề đan, nghề rèn, nghề gốm…

Về phương diện tôn giáo, các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo chia thành 2 nhóm: nhóm dân tộc còn bảo lưu những tín ngưỡng nguyên thủy (Ê Đê, Gia Rai, Chu Ru, Ra Glai) và dân tộc theo các tôn giáo lớn như Phật giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo (Chăm) Tuy nhiên, tín ngưỡng phổ biến nhất của họ là sùng bái tự nhiên Họ tin có các thần: thần ruộng, thần sét, thần bến nước, thần thiện thần ác chi phối cuộc sống của họ Họ tin rằng không gian sống của con người cũng là không gian sống của thần linh nên mọi hành động của họ dù vô ý thì đều tác động đến thần linh, nên

Trang 29

họ phải nhờ đến thầy cúng Về văn hóa trang phục, loại hình phổ biến nhất của các dân tộc Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai, Chu Ru là khố dành cho nam và váy dành cho nữ Bên cạnh đó, hầu như các loại hình nghệ thuật đều phát triển trong nền văn hóa của các tộc người Nam Đảo Nổi bật hơn là nền văn hóa lâu đời của tộc người Ê Đê và Chăm pa, họ đã để lại kho tàng to lớn cho nền văn hóa dân gian Việt Nam: văn học với những bản trường ca và bia kí hùng vĩ thiêng liêng, âm nhạc nổi danh làm say lòng người cùng các loại khèn, trống, đàn Về hội họa, điêu khắc và kiến trúc, cho đến tận bây giờ, từng đường nét chạm trổ của người Ê Đê, Chăm còn làm mê mẩn bất cứ ai chạm mắt vào sự tinh tế này

1.1.2 Các tộc người Môn Khmer ở Việt Nam

Tộc người Môn Khmer ở Việt Nam có thành phần dân tộc phong phú nhất Việt Nam, gồm 21 dân tộc: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ

Tu, Gié – Triêng, Hrê, Kháng, Mảng, Mơ Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun,

Xê Đăng, Xtiêng, Mạ, Khmer, Khơ Mú Trải qua nhiều cuộc di trú vì chiến tranh, loạn lạc, đời sống du canh du cư, bệnh tật, quan hệ tộc người, nơi cư trú hiện nay của các dân tộc theo ngữ hệ Môn Khmer phân bố khắp lãnh thổ Việt Nam, nhưng tập trung chủ yếu ở 3 khu vực: Tây Bắc, Bắc Trung bộ - Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long

Cũng giống như ở nhóm tộc người Nam Đảo, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu đặc điểm đời sống xã hội của các tộc người Môn Khmer có tác phẩm sử thi được khảo sát

Dân tộc Ba Na

Trong tiếng cổ, “Ba Na” có nghĩa là “Người ở núi” Theo tổng điều tra dân số năm 2009, người Ba Na ở Việt Nam có 227.716 người, cư trú tập trung ở hai tỉnh Gia Lai với 150.416 người, chiếm 66% tổng dân số Ba Na trong cả nước và tỉnh Kon Tum với 53.997 người Ngoài ra, người Ba Na còn có mặt ở một số tỉnh khác như tỉnh Bình Định (với 18.175 người), tỉnh Phú Yên (với 4.115 người)5 Dân tộc

Ba Na là tộc người có dân số đông nhất trong các dân tộc nói ngôn ngữ Môn –

5 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 3 Hà Nội: Chính trị quốc gia

Sự thật

Trang 30

họ Trước kia, mô hình gia đình của người Ba Na theo chế độ mẫu hệ Về sau, mô hình này được chuyển đổi sang phụ quyền nhưng mọi quyết định của người đàn ông đều phải bàn bạc và tham khảo ý kiến của người vợ

Về văn nghệ dân gian, người Ba Na có nhiều thể loại văn học dân gian: thần thoại, truyền thuyết… Ngoài ra, tộc người này còn có một số làn điệu dân ca, đồng dao mang âm hưởng và sắc thái riêng độc đáo Người Ba Na tin vào sự tồn tại và sức mạnh chi phối của các vị thần linh (yang) Tín ngưỡng này của đồng bào thuộc loại tín ngưỡng vạn vật hữu linh Người Ba Na coi trọng thần Lúa (yang Sri) và việc thờ cúng vị thần này Ngoài ra, đồng bào còn có nhiều tín ngưỡng và nghi lễ liên quan đến nương rẫy.Từ khi phát đến khi thu hoạch nương rẫy, đồng bào tiến hành các lễ cúng gồm lễ sửa nông cụ, lễ chọn đất làm rẫy, lễ đốt rẫy, lễ cúng trỉa lúa, lễ cúng nước cho lúa, lễ cúng lúa mới và lễ đóng cửa nhà lúa Tất cả đều được tổ chức trên nương rẫy Bên cạnh đó, đồng bào còn tin vào sự tồn tại và sức mạnh chi phối của thần Sấm Sét (Bok Glaih) – vị thần khổng lồ có thân hình cao to, dáng vẻ dữ tợn và luôn mang bên mình chiếc rìu đá phóng sét; thần Nước (yang Đăk) và thần Lửa

Dân tộc Xê Đăng

Dân tộc Xê Đăng hay Xê Đăng còn có tên gọi khác là Xơ Đeng, Ca Dong, Cà Dong, Tơ-dra, Hđang, Mơ-nâm, Ha Lăng, Ka Râng, Bri La Teng, Con Lan Các nhóm địa phương trong cộng đồng Xê Đăng có những nét chung nhất về ngôn ngữ, nhân chủng và văn hóa Tất nhiên, mỗi nhóm vẫn có những sắc thái riêng Điều cần

Trang 31

chú ý ở đây là do sự xáo động cư dân rất lớn, nên nhiều nơi, mỗi làng lại có những nét riêng biệt Người Xê Đăng ở Việt Nam có lịch sử từ rất lâu đời, với phong tục, tập quán phong phú và độc đáo Do quá trình sinh sống cận cư, xen cư với các dân tộc tại chỗ nên bên cạnh những sắc thái văn hóa riêng, người Xê Đăng còn mang nhiều thành tố chung của cơ tầng nền văn hóa Đông Nam Á lục địa Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xê Đăng ở Việt Nam có dân số 169.501 người,

có mặt tại 41 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Xê Đăng cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum (104.759 người, chiếm 24,4% dân số toàn tỉnh và 61,8% tổng số người Xê Đăng tại Việt Nam), Quảng Nam (37.900 người, chiếm 22,4% tổng số người Xê Đăng ở Việt Nam), Quảng Ngãi (17.713 người), Đăk Lăk (8.041 người), Gia Lai (705 người)6 Cũng như các tộc người bản địa khác ở dọc Trường Sơn – Tây Nguyên, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, người Xê Đăng có địa bàn cư trú bị xáo trộn, gộp ghép, di chuyển do tác động của chiến tranh, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Thiết chế xã hội cơ bản của người Xê Đăng là làng (plơi) bao gồm một khu vực dân cư tập trung với những nóc nhà, kho thóc của dân, máng nước, nhà rông, nghĩa địa, đất canh tác, rừng săn bắn, những khúc sông, suối chảy qua,… Làng có một ranh giới (bla, liên) nhất định, thường có rừng già phủ quanh một khoảng rộng mênh mông, ngăn cách với làng khác Ranh giới đó thường được quy định bởi sự bàn bạc giữa những người đại diện các làng tiếp giáp nhau Xưa kia, khu vực dân cư sinh sống được rào rất kiên cố, bằng những cây gỗ cao vót nhọn, ken khít nhau, dày hai ba lớp, bên trong đặt nhiều bẫy, chông chỉ có một số người ra vào nhất định Cửa chính là nơi đường đi lại quen thuộc, được bảo vệ và là nơi duy nhất để khách

ra vào Làng của người Xê Đăng mang tính cộng đồng cao Người dân trong một làng phải đùm bọc nhau, giúp đỡ nhau khi khó khăn Hiếm có trường hợp một người bị đói trong khi kho thóc của người khác còn đầy Tuy vậy, người được cưu mang nhiều lần nhưng vẫn lười biếng không chịu lao động sẽ bị đuổi ra khỏi làng Các thành viên trong một làng phải bảo vệ danh dự của cộng đồng, phải ăn ngay ở

6 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 3 Hà Nội: Chính trị quốc gia

Sự thật

Trang 32

thẳng, không dối trá, phải giữ lời hứa, không lọc lừa Mỗi thành viên trong cộng đồng đều có mối quan hệ linh thiêng trước thần linh với nhau không chỉ trong cuộc sống thực tại mà cả sau khi chết Đó là cộng đồng những người đang sống, đã chết

và sắp sinh ra, một tập hợp những người đồng lòng mong muốn cho cộng đồng mình lớn mạnh, trường tồn Người Xê Đăng theo chế độ song họ nên quan hệ huyết thống tính theo cả bên cha và bên mẹ Vì vậy khi đến gia đình Xê Đăng, khó nhận định được vai trò làm chủ thuộc về người phụ nữ hay người đàn ông, vì họ sống rất bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau Họ cùng nhau tiếp khách, dù là khách của người chồng hay người vợ, cùng ngồi ăn uống khi nhà có khách hay có các sự kiện lớn trong gia đình, làng xóm Trong công việc gia đình, vợ chồng thường đưa ra ý kiến của mình sau đó cùng bàn bạc, thống nhất Trong sinh hoạt, việc phân công lao động và xã hội của người Xê Đăng dựa trên sự tự nguyện và bình đẳng, tùy theo sức lực, theo giới tính và theo lứa tuổi Ngoài ra không có sự phân biệt con cả, con thứ, con trai, con gái hay con nuôi, con đẻ,… Con trai, con gái trong nhà được yêu thương như nhau

Kho tàng truyện cổ của người Xê Đăng rất phong phú Truyện có nhiều thể loại: huyền thoại, ngụ ngôn, truyền thuyết, anh hùng ca, truyện cười,… được người già truyền cho con cháu vào những đêm khuya trong bếp lửa bập bùng Có những truyện dài, những anh hùng ca kể hết đêm này qua đêm khác; có những truyện ngắn mua vui trong khoảnh khắc, tất cả đều nhằm mục đích gắn con người với mãnh đất quê hương, với rừng núi, với những người đã khuất, với những việc hư hư thật thật xảy ra Nhạc cụ của người Xê Đăng rất phong phú, gồm nhiều loại khác nhau như nhạc cụ dây, nhạc cụ hơi, nhạc cụ gõ, nhạc cụ rung… Các loại đàn t’rưng, sáo lô lé hay ga vố, khèn ống vỗ, đàn bầu (brung), hay bróoc tru… với loại một, ba, năm, bảy dây… thường được hòa tấu hay biểu diễn riêng lẻ Người Xê Đăng gốc có ba loại chiêng: Bùng poàng (gồm 8 chiếc chiêng bằng), Ching goong (gồm hai loại: 3 chiếc

có núm giữ phần đệm gọi là goong, 8 chiếc không núm (còn gọi là chiêng bằng) đi giai điệu gọi là chinh), H’linh (bộ chiêng phổ biến nhất và điển hình của người Xê Đăng, cũng gồm 3 chiếc có núm, nhưng có tới 10 chiếc chiêng bằng) Ngoài ra, họ

Trang 33

và được người Xê Đăng yêu mến hơn cả là thần nước Với những hiện tượng tự nhiên bao quanh con người, tác động đến đời sống con người thì được đồng bào gán cho một vị thần và từ đó họ có những cách ứng xử với thần để tránh tai họa Nhìn chung, thế giới thần linh của người Xê Đăng rất đa dạng, nhiều hình, nhiều vẻ, không khác gì thế giới của con người, tác động, chi phối đến đời sống con người rất sâu sắc Ngoài các đấng thần linh, trong niềm tin của người Xê Đăng còn hiện diện vai trò của những siêu linh làm điều ác như là ma, yêu tinh, quỷ quái… Đối với các loại ma ác này, cách duy nhất phòng, chống là tiến hành cúng lễ

Ngoài thế giới thần linh, người Xê Đăng còn quan niệm có ba loại hồn (mhoa, mhua và phol) Hồn mhoa con xoang hay con lung luôn ở với thể xác, lúc sống cũng như lúc chết, là hồn chủ yếu của con người, cùng với người đi sản xuất và chiến đấu Loại hồn thứ hai là mhoa plo thường lang thang đây đó, do đó hay bị ma bắt nạt làm người sinh ốm đau Khi người đã chết mhoa tiếp tục sống ít lâu rồi cũng

Trang 34

biến thành loại hồn thứ ba là mhoa mngô mnghiêng thường sống trong các ổ mối

Vì vậy, khi đi chọn đất làm rẫy nếu gặp đống mối là nơi hồn tổ tiên hay người đã khuất trú ngụ, phải làm lễ xin bằng cách hiến tế con chó Nếu đêm chiêm bao thấy điềm xấu, không được phát, đốt

Dân tộc Mơ Nông

Mơ Nông là một trong 12 dân tộc tại chỗ ở khu vực Tây Nguyên, với dân số 102.741 người (2009), đứng thứ 20 trong tổng số 54 dân tộc ở Việt Nam; cư trú tại

51 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố Địa bàn cư trú truyền thống của người Mơ Nông là khu vực Tây Nam Tây Nguyên (thuộc hai tỉnh Đăk Nông, Bình Phước và tây nam các tỉnh Đăk Lăk, Lâm Đồng) Tiếng nói của dân tộc Mơ Nông thuộc ngữ

hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn Khmer Vốn từ vựng Mơ Nông ít nhiều chịu ảnh hưởng của tiếng Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai – Đa đảo (ngữ hệ Nam Đảo) Dân tộc Mơ Nông là chủ nhân lâu đời của vùng đất rộng lớn phía tây cao nguyên

Đà Lạt và phía nam cao nguyên Đăk Lăk, được ngăn cách bởi sông Krông Nô Nơi đây được gọi là cao nguyên Mơ Nông Nhiều địa danh ở Nam Tây Nguyên còn ghi dấu ấn ngôn ngữ Mơ Nông, như: hồ Lăk, Buôn Đôn (tỉnh Đăk Lăk), Lang Biang, Lâm Viên (tỉnh Lâm Đồng) Tại Tây Nguyên, có 87,2% người Mơ Nông ở Việt Nam (40.344 người, tương đương 39,3% ở tỉnh Đăk Lăk, 39.964 người, tương đương 38,9% ở tỉnh Đăk Nông) Ngoài ra, còn có 4,1% người Mơ Nông sinh sống ở vùng núi Trung Trung Bộ (tập trung ở tỉnh Quảng Nam với 4.026 người, tương đương 3,9%), và 8,6% ở Đông Nam Bộ (riêng tỉnh Bình Phước là 8.599 người, tương đương 8,4%)7 Địa bàn cư trú của người Mơ Nông, cơ bản là các địa phương thuần nông với phần lớn diện tích tự nhiên là đất nông – lâm nghiệp

Trong bon truyền thống, các gia đình đều có quan hệ hữu cơ với nhau hoặc về thân tộc hoặc thích tộc ở mức gần xa khác nhau, do đó, nhìn chung các thành viên đều có quan hệ thân thuộc, làm cho mối quan hệ cộng đồng thêm bền vững Bon (làng) của người Mơ Nông hiện nay vẫn còn tồn tại trên cơ sở thiết chế các bon truyền thống Người đứng đầu bon, về mặt hành chính, là trưởng bon do dân bầu và

7 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 3 Hà Nội: Chính trị quốc gia

Sự thật

Trang 35

hoạt động theo nhiệm kì Già làng, người có uy tín trong cộng đồng, trước đây do đươc dân tín nhiệm, là người giỏi làm ăn, khéo ăn nói và không nhất thiết phải là trưởng của một dòng họ nào đó, được người dân trong bon kính trọng Nhóm người

Mơ Nông theo tín ngưỡng truyền thống vạn vật hữu linh và có rất nhiều các vị thần tồn tại, tác động, chi phối đến lối sống và đời sống người dân

Kho tàng văn học dân gian của người Mơ Nông thể hiện trong hình thức phổ biến: văn vần (H’pring), gồm có Ot ndrông (sử thi), Nao M’pring (ca dao, dân ca), Phat Ktuôi (luật tục), Yao (gia phả), Ngơi Brah (hát cúng thần), Nao hôl (tục ngữ, thành ngữ)…Văn xuôi (N’ơn) là hình thức như truyện cổ tích, thần thoại, truyện cười… tương tự như Đươm (văn xuôi) của người Ê Đê Đối với dân tộc Mơ Nông,

sử thi là một thể loại văn học tự sự đồ sộ nhất Nó chứa đựng nhiều yếu tố của thơ

ca, truyền thuyết, thần thoại, âm nhạc, diễn xướng Trước đây, những người biết hát

sử thi luôn được mọi người trong bon tìm đến, được lắng nghe Nhà của người biết hát sử thi luôn đông người vào buổi tối Những nghệ nhân nằm hát say sưa kể về lịch sử của bon, của dân tộc, những câu chuyện sản xuất và sinh hoạt

Tà Ôi cao niên lại cho rằng người Tà Ôi có nguồn gốc tại chỗ Ví dụ, một người Tà

Ôi ở xã Nhâm, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế khẳng định xưa ông bà tổ tiên của họ cư trú sâu trong vùng nội địa tỉnh Thừa Thiên Huế - cụ thể là ở lưu vực sông Hương, sau đó di cư đến địa bàn A Lưới Tuy nhiên, do đất đai cằn cỗi, cuộc sống của những người A Lưới gặp nhiều khó khăn nên đã di chuyển sang sống ở huyện KLừm, tỉnh Sê Kông của Lào

8 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 3 Hà Nội: Chính trị quốc gia

Sự thật

Trang 36

Làng (vil hay vel) là đơn vị xã hội cơ sở truyền thống của người Tà Ôi Trước đây, làng của người Tà Ôi có khoảng trên dưới chục nóc nhà dài (dung) Mỗi nhà dài là một đại gia đình Làng thường có một địa vực riêng với ranh giới tự nhiên là những con đồi cao, dãy đất có nhiều cây to hay một con suối Mỗi làng đều có một ngôi nhà rông (roòng) dùng làm nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi tiếp khách già làng, đồng thời cũng là nơi dành cho những nam thanh niên đến tuổi trưởng thành chưa lập gia đình ngủ Làng là một đơn vị độc lập, tương đối khép kín, tự cung tự cấp về kinh tế Người Tà Ôi rất ít khi di chuyển làng, trừ trường hợp trong làng liên tục có người chết mà họ tin là do thần linh nổi giận không muốn cho họ ở Trước đây, thiết chế quản lí xã hội duy nhất của làng là hội đồng già làng Hội đồng già làng bao gồm những người có uy tín, am hiểu phong tục tập quán, có nhiều kinh nghiệm và tri thức trong hoạt động sản xuất, bảo vệ bản làng, quản lí đất đai, bảo vệ và chống xâm nhập đất đai của làng, tổ chức sản xuất, di chuyển làng, tổ chức các nghi lễ, phân xử hòa giải các xích mích và tranh chấp giữa các thành viên trong làng, giữ gìn thuần phong mỹ tục, thay làng giao tiếp với bên ngoài,… Làng cổ truyền của người Tà Ôi mang tính cộng đồng cao mà biểu tượng vật chất của nó là ngôi nhả rông Quan hệ giữa các thành viên trong làng là quan hệ cộng cư, công sinh và cộng cảm

Người Tà Ôi theo chế độ một vợ một chồng và cư trú bên chồng Trước đây, hôn nhân của đồng bào mang nặng tính chất mua bán, gắn với tục tảo hôn và thách cưới nặng Nhà gái thường thách cưới cao bởi theo quan niệm của đồng bào, thách cưới càng cao thì người con gái càng có giá trị Vì vậy, sau khi cưới, người phụ nữ trở thành một thứ “tài sản” của gia đình nhà chồng và khi chồng chết, chỉ được phép tái hôn với người trong gia đình nhà chồng Gia đình của người Tà Ôi là gia đình phụ quyền, nam giới thường được đề cao hơn nữ giới Như đã trình bày ở phần trên, hôn nhân mang tính chất mua bán, nên thân phận người phụ nữ trong gia đình thường thấp kém hơn nam giới Điều này thể hiện rõ nhất là ở quyền thừa kế tài sản của bố mẹ để lại như đất đai, trâu bò, chiêng la, vàng bạc, nhà cửa…thì con gái không có quyền này Khi đi lấy chồng, con gái chỉ được bố mẹ tặng cho vài tấm

Trang 37

uy tín, đạo đức của già làng Sự phân hóa xã hội hình thành chỉ dựa trên của cải chứ chưa có giai cấp rõ rệt Vì vậy, tính đoàn kết bản làng mạnh mẽ, tính cách tộc người chất phác, trung hậu và trọng danh dự Mô hình bản làng của nhóm tộc Môn Khmer không lớn, họ sống thành từng bản nhỏ khoảng mươi nóc nhà, gồm một số gia đình đồng tộc, cũng có khi họ sống xen với các dân tộc khác Nhóm tộc người theo ngữ

hệ Môn Khmer phần lớn theo chế độ phụ quyền Tuy vai trò của người đàn ông được đề cao nhưng vợ chồng con cái sống hòa thuận, tương đối bình đẳng, tuy việc dựng vợ gả chồng là do cha mẹ tự quyết định nhưng tự do con cái vẫn được tôn trọng Có lẽ vì quan niệm hôn nhân của người Môn Khmer khá bình đẳng nên đã tạo thành tính đồng thuận, một vợ một chồng Dù vậy, dấu vết của chế độ mẫu hệ vẫn còn ảnh hưởng nhiều trong thiết chế gia đình Người vợ, người mẹ luôn được tôn trọng và họ đảm trách những công việc như gần gũi kho thóc, phân phát thức ăn cho các thành viên Ngoài ra, tục chồng mang họ vợ khi ở rể, tục lại mặt, quyền ông cậu cũng cho thấy người phụ nữ có vai trò quan trọng trong tư tưởng của các tộc người Môn Khmer

Có hai loại hình nhà ở trong kiến trúc của nhóm tộc người theo ngữ hệ Môn Khmer: nhà sàn và nhà trệt nhưng phần đông là loại nhà sàn với vật liệu chủ yếu là tre, nứa, gỗ và lá rừng để lợp Tùy theo điều kiện địa hình, thời tiết và mô hình gia đình lớn hay nhỏ, nhóm tộc người theo ngữ hệ Môn Khmer xây nhà sàn dài, cửa ra vào ở hai đầu hồi, trong nhà chia dọc thành 3 phần: lối đi ở giữa, một bên ngăn thành buồng nhỏ, cho gia đình sinh hoạt riêng (thường là bếp), còn một bên dùng

Trang 38

làm nơi sinh hoạt chung, tiếp khách, họp bàn, tổ chức lễ hội, ăn uống, làm việc Nhà sàn của các tộc người Môn Khmer có kiến trúc khá đơn giản, kĩ thuật không cầu kì với hai mái, hai cầu thang lên xuống Nơi quan trọng nhất là cột thờ, nơi tiếp khách, bếp lửa và nơi ngủ của gia chủ

Về văn hóa vật chất, đã qua rồi thời kì quần áo làm bằng vỏ cây, trang phục của cư dân nhóm tộc người theo ngữ hệ Môn Khmer ngày nay được may mặc theo chất liệu hiện đại với kiểu dáng phổ thông, màu sắc hài hòa và mang đặc trưng theo vùng miền, có sự giao thoa với các dân tộc cộng cư liền kề Cụ thể là ở phía Bắc, trang phục của các tộc người Môn Khmer có ảnh hưởng đến văn hóa người Thái Tuy nhiên, họ vẫn giữ những nét đặc trưng riêng Về đặc trưng trang phục 15 tộc người Môn Khmer ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên thì đồng bào nơi đây thống nhất trong cách cắt may, tạo dáng trang phục và các băng hoa văn ngang trang trí trên áo váy, các băng hoa văn dọc và trang trí đan tết trên hai đầu khố Song mỗi tộc người lại có cách trang trí rất khác nhau Tất cả những trang trí đó làm nên nét đặc trưng trong sự thống nhất của trang phục các tộc người Môn Khmer ở khu vực phía Bắc và khu vực miền Trung – Tây Nguyên Riêng trang phục tộc người Khmer Nam Bộ, bên cạnh các đặc điểm riêng trong trang phục thường ngày, trang phục cô dâu và lễ hội, yếu tố tôn giáo đã ảnh hưởng trực tiếp tới trang phục tộc người Chính tính nguyên tắc theo quy định của Phật giáo Tiểu thừa đã góp phần cho sự bất biến của loại trang phục dành cho các chức sắc tôn giáo Ngoài trang phục tôn giáo, trang phục trong nghệ thuật dân gian của người Khmer cũng không ngưng biến đổi theo xu hướng biến đổi chung của xã hội

Về hoạt động sản xuất, các dân tộc Môn Khmer làm nghề nương rẫy là chủ yếu Họ trồng lúa, bắp, khoai, bầu bí Phương pháp canh tác đốt rẫy, tra hạt, ít dùng cày, bừa, trâu bò để canh tác trừ trường hợp ruộng nước ở gần hồ, sông suối Về săn bắt hái lượm, các công cụ cũng giống như của nhóm tộc người theo ngôn ngữ Nam Đảo chỉ khác một vài chi tiết Họ nổi tiếng về nghề săn bắt voi nhưng nay nghề này

đã bị cấm Về tín ngưỡng, tôn giáo, các dân tộc Môn Khmer cũng có quan niệm

“vạn vật hữu linh” tức tin vào nhiều thần linh và tin mọi vật đều có thần linh ẩn trú Hiện nay một phần trong số họ đã theo đạo Tin Lành

Trang 39

Từ việc liệt kê những đặc điểm về địa bàn sinh sống, tổ chức xã hội, mô hình gia đình, nhà ở và kiến trúc, văn hóa tộc người, chúng tôi nhận thấy rằng ở hai nhóm tộc người Nam Đảo và Môn Khmer có nhiều điểm tương đồng về mô hình cấu trúc nhà ở, thiết chế làng xã gia đình, văn hóa phong tục, tín ngưỡng và phương thức lao động Tuy nhiên, các nhóm tộc người Môn Khmer vì đặc thù về vùng phân

bố và sự đa dạng nhóm tộc người nên đã có những điểm khác biệt Cụ thể là họ sinh sống khắp dải đất hình chữ S, rồi theo đặc trưng vùng miền định cư và di cư mà mang những dấu ấn riêng Nếu nhóm tộc người Nam Đảo khá ổn định về mô hình nhà ở, chế độ gia đình dòng tộc, trang phục thì nhóm tộc người Môn Khmer lại có

sự giao thoa, cộng hưởng làm nên tính chất vừa phong phú, vừa hòa thuận giữa các tộc người cộng cư Điển hình là người thuộc nhóm tộc người Môn Khmer dù theo chế độ phụ hệ nhưng vẫn còn nặng tư tưởng mẫu hệ Đối với mô hình nhà ở, họ làm nhà sàn, cũng có nhà trệt căn cứ vào địa hình lưu trú Về phục trang, cũng tùy theo vùng miền mà có những chất liệu và hoa văn tương đối khác biệt

Vì vậy, trong bước đầu khảo sát và so sánh về những đặc điểm văn hóa, chúng tôi thấy rằng có những điểm chung – riêng vừa dễ nhận biết văn hóa vùng miền, vừa khó để phân biệt với nhóm họ khác bởi sự giao lưu, pha trộn văn hóa Cho nên, đây sẽ là sự thách thức lớn cho chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu sâu về vấn đề xã hội của hai nhóm tộc người thông qua các văn bản sử thi

1.2 Sử thi anh hùng các tộc người Nam Đảo và tộc người Môn Khmer ở Việt Nam có đề tài chiến tranh

Trên cơ sở giới thiệu khái quát về lịch sử – xã hội các tộc người được phản ánh trong sử thi các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer, chúng tôi tiến hành hệ thống các đề tài trong sử thi và rút ra được ý nghĩa, vai trò của đề tài chiến tranh trong các bộ sử thi này Bên cạnh đó, chúng tôi so sánh, phân tích những mối quan

hệ tác động giữa cơ sở lịch sử – xã hội trong lịch sử nhân loại và trong các tác phẩm

sử thi với hệ thống đề tài về chiến tranh

1.2.1 Khái quát về sử thi anh hùng

Bằng sự kế thừa quan điểm của người đi trước và sự tích lũy trong quá trình nghiên cứu, tác giả Phan Đăng Nhật đã định nghĩa khái quát về thể loại sử thi Có

Trang 40

thể nói, thông qua tác phẩm sử thi, đời sống của một dân tộc qua những thời đại được phản ánh rõ nét Từ đó, tác phẩm nói lên khát vọng của con người về sự phát triển, niềm hạnh phúc Mỗi tác phẩm cũng bày tỏ chuẩn mực chung về hình ảnh con người của xã hội: trí dũng, đạo đức và luôn nuôi dưỡng tình yêu cuộc sống, lý tưởng đấu tranh với mọi sự đe dọa nhằm xây dựng đời sống tốt đẹp hơn Nhà

nghiên cứu Phan Đăng Nhật (1999) trong tác phẩm Vùng sử thi Tây Nguyên cho

rằng sử thi trước hết là một tác phẩm tự sự dài hơi thuộc phạm trù văn học nghệ thuật Nó liên quan đến các phạm vi khác như: phong tục, tập quán, lịch sử, địa lý,… nhưng không phải thuộc khoa sử học, dân tộc học, xã hội học… Sử thi cũng không thuộc về văn học nghệ thuật chuyên nghiệp bác học mà nó thuộc về văn hoá dân gian, là cái mà Marx gọi là “nghệ thuật chưa bắt đầu với tư cách là một sáng tác nghệ thuật” Marx còn nói rõ chỉ trong môi trường đó, sử thi mới đạt đến mức “cổ điển lẫy lừng” Trong môi trường văn hoá dân gian, sử thi là một tác phẩm nghệ thuật tổng hợp Nó thu hút hầu hết các giá trị văn hoá nghệ thuật vốn có của dân tộc như: thơ ca thần thoại, truyền thuyết, âm nhạc, diễn xướng… để chuyển hoá thành một tác phẩm tự sự bằng văn vần dài hơi lấy các nhân vật anh hùng làm trung tâm nhằm diễn đạt đề tài, chủ đề của các tác phẩm và tư tưởng của cộng đồng Đề tài trung tâm của sử thi là những vấn đề lớn liên quan đến toàn cộng đồng, là sự chuyển biến của một thời kỳ lịch sử trong đó có những sự kiện lớn ảnh hưởng đến toàn cộng đồng và có khi đến cả loài người Lịch sử - xã hội được thâu tóm lại và hình tượng hoá bằng nhân vật anh hùng, trung tâm của sử thi Nội dung sử thi diễn đạt bằng nghệ thuật thần kỳ, nó tạo nên sự hào hùng kỳ vĩ của sử thi đặc điểm nghệ thuật này có nguồn gốc từ tâm hồn, tư tưởng của cộng đồng từ “niềm vui tươi mát

về thần linh” (Hêghen) Tất cả những thuộc tính trên đây chủ yếu bắt nguồn từ xã hội tiền giai cấp Ở đó lịch sử đặt ra những vấn đề lớn như những phát kiến nguyên thuỷ của loài người (tìm lửa, tìm nước), chiến tranh thời dân chủ quân sự, chiến đấu thống nhất lực lượng toàn tộc người Ở đó có tinh thần hoà hợp toàn cộng đồng, không có mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn đối kháng của cộng đồng, chính nó tạo nên

sự hào hùng kỳ vĩ (tr 20-21) Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy ở mỗi tộc người, tùy theo ngữ tộc, sẽ có những tên gọi sử thi khác nhau: sử thi – mo

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm