1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức phật giáo với việc giáo dục đạo đức học sinh ở thành phố hồ chí minh hiện nay

152 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đạo đức Phật giáo với việc giáo dục đạo đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tác giả Đặng Thị Kim Oanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Trương Văn Chung
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Triết học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 5,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị nhấn mạnh về đạo đức của giới trẻ tiêu biểu là thành phần thanh niên học sinh - lực lượng trí thức tiềm năng vô cùng quan trọng đối với nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

ĐẶNG THỊ KIM OANH

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

ĐẶNG THỊ KIM OANH

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS TRƯƠNG VĂN CHUNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010

Trang 3

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

thuộc Đại học Quốc gia thành phồ Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Văn Chung

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia thành phồ Hồ Chí Minh

Vào lúc…… giờ……….phút, ngày……….tháng …….năm 2010

* Có thể tìm hiểu luận văn tại:

Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia thành phồ Hồ Chí Minh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn là công trình nghiên cứu độc lập, trung thực của bản thân, những số liệu chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2010

Tác giả

Đặng Thị Kim Oanh

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 8

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8

6 Kết cấu của đề tài 8

Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO 1.1 Khái quát cơ sở hình thành đạo đức Phật giáo 9

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa truyền thống Ấn Độ cổ đại – cội nguồn hình thành đạo đức Phật giáo 9

1.1.2 Triết học và giáo lý Phật giáo – cơ sở trực tiếp hình thành đạo đức Phật giáo 20

1.2 Nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo 33

1.2.1 Một số khái niệm của đạo đức Phật giáo 33

1.2.2 Chuẩn mực của đạo đức Phật giáo 44

1.3 Đánh giá về đạo đức Phật giáo 60

1.3.1 Giá trị tích cực của đạo đức Phật giáo 60

1.3.2 Hạn chế của đạo đức Phật giáo 64

Chương 2: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO 2.1 Thực trạng việc giáo dục đạo đức và đạo đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 68

Trang 6

2.1.2 Đặc điểm đạo đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 73

2.2 Đạo đức truyền thống và những vấn đề đặt ra cho việc giáo dục đạo đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 89

2.2.1 Giá trị đạo đức Phật giáo trong đạo đức truyền thống của người Việt 89

2.2.2 Những vấn đề đặt ra cho việc giáo dục đạo đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 97

2.3 Đóng góp của đạo đức Phật giáo trong việc giáo dục đạo đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 103

KẾT LUẬN 117

PHỤ LỤC 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ra đời hơn 2.500 năm, Phật giáo vượt khỏi lãnh thổ Ấn Độ rộng lớn – chiếc nôi đã sản sinh ra nó, để du nhập và ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam Là tôn giáo góp mặt ở nước ta từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo dung hợp với đạo đức truyền thống dân tộc và ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Hơn 20 thế kỷ qua, nhìn lại lịch sử dân tộc chúng ta không nghi ngờ về một khẳng định: Phật giáo là một phần thiết yếu trong tâm hồn người Việt

Hơn 20 thế kỷ đồng hành cùng lịch sử dân tộc, phải trải qua bao thăng trầm, từng phải gánh chịu những thử thách nghiệt ngã của thời gian nhưng Phật giáo vẫn tồn tại đến ngày nay Chắc hẳn triết lý Phật giáo phải có giá trị nhất định làm nên sức sống mãnh liệt vượt qua thử thách của không gian và thời gian Một trong những hạt nhân quan trọng của Phật giáo là quan điểm đạo đức Nguyên tắc căn bản của đạo đức Phật giáo là lòng từ bi, bình đẳng cho tất cả chúng sinh, tránh làm điều ác, tích cực hành thiện, lòng yêu thương, đem đến hạnh phúc cho con người,

phù hợp với mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ văn minh”

Hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập Quá trình này đem lại

cả những thời cơ và thách thức bởi bên cạnh những thành tựu đạt được trên nhiều lĩnh vực, chúng ta vẫn phải trăn trở, suy nghĩ trước những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành TW khóa VIII chỉ rõ: “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, không

ít trường hợp vì đồng tiền và danh lợi mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ

Trang 8

thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp, buôn lậu và tham nhũng phát triển Ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tăng Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ

có chức, có quyền Nạn tham nhũng, dùng tiền của Nhà nước tiêu xài phung phí,

ǎn chơi sa đọa không được ngǎn chặn có hiệu quả Hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến Những tệ nạn đó gây sự bất bình của nhân dân, làm tổn thương

uy tín của Đảng, của Nhà nước”[77] Hội nghị nhấn mạnh về đạo đức của giới trẻ tiêu biểu là thành phần thanh niên học sinh - lực lượng trí thức tiềm năng vô cùng quan trọng đối với nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa: “Nhiều biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm cho xã hội lo lắng như sự suy thoái đạo lý trong quan hệ thầy trò, bè bạn, môi trường sư phạm xuống cấp; lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão, ǎn chơi, nghiện ma túy ở một bộ phận học sinh, sinh viên”[77]

Vấn đề đặt ra là chúng ta bước vào quá trình hội nhập mà vẫn giữ được những giá trị văn hóa, truyền thống, xác định đúng mối quan hệ giữa người với người để xây dựng đất nước tốt đẹp hướng đến sự phát triển bền vững Đạo đức Phật giáo – một vấn đề trung tâm của triết học Phật giáo vẫn còn giá trị nhất định trong đời sống xã hội nước ta hiện nay, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành TW Đảng khoá IX về công tác tôn giáo tiếp tục chủ trương của nghị quyết Đại hội VII nhận định: “Tôn giáo

là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới’’[79] Đạo đức Phật giáo có sự dung hợp với truyền thống đạo đức con người Việt Nam, mục tiêu đạo đức Phật giáo hướng đến phù hợp với mục tiêu xây dựng con người mới của Đảng

Trang 9

và Nhà nước Đây được xem là một trong những phương pháp giúp chúng

ta nhìn lại những giá trị tốt đẹp mà con người hướng đến

Với những lý do vừa nêu, việc nghiên cứu đạo đức tôn giáo nói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng là hết sức cần thiết đối với sự nghiệp giáo dục đạo đức

hiện nay Cho nên, tôi chọn đề tài “đạo đức Phật giáo với việc giáo dục đạo đức

học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Những vấn đề đạo đức Phật giáo, giá trị của đạo đức phật giáo trong đạo đức truyền thống người Việt Nam, đạo đức thanh niên học sinh đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác với những khía cạnh khác nhau Luận văn đã kế thừa, tiếp thu, những thành quả của một số công trình được công bố theo các hướng sau:

Hướng thứ nhất, Phật giáo và đạo đức Phật giáo:

Thể hiện trong luận văn, luận án sau:

“Tư tưởng đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần Việt

Nam” – luận văn thạc sĩ học viên Tạ chí Hồng năm 1998, đề tài làm rõ những

phạm trù cơ bản của đạo đức Phật giáo, tìm hiểu sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong lĩnh vực tinh thần như truyền thống, phong tục tập quán, qua đường lối chính trị của các thời đại, ảnh hưởng trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, trong quan hệ ứng xử và giao tiếp hằng ngày

“Tìm hiểu tư tưởng đạo đứcPhật giáo qua Kinh pháp cú” – luận văn thạc

sĩ của tác giả Phạm Thị Thu Thủy năm 2005 Đề tài khái quát nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo thông qua Kinh Pháp cú và rút ra những giá trị nhất định của đạo đức Phật giáo trong xã hội hiện nay

“Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh

thần ở Việt Nam” – luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Lê Hữ Tuấn năm

Trang 10

1999 Luận án trình bày nội dung cơ bản triết học Phật giáo và rút ra những ảnh hưởng nhất định trong lĩnh vực đời sống tinh thần người Việt Nam

Các công trình nghiên cứu:

“Đạo đức Phương Đông”, PGS.TS Vũ Tình, Nxb Chính trị quốc gia Hà

Nội – 1998 Tác giả trình bày nguồn gốc hình thành và nội dung đạo đức của các trường phái triết học ở Trung Quốc như Nho gia, Mặc gia, Đạo gia; ở Ấn

Độ như Ấn Độ giáo, Phật giáo

Hòa thượng Thích Minh Tâm: “Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người

” Nxb Tôn giáo năm 2002, tác phẩm chủ yếu bàn về những vấn đề cơ bản của đạo đức Phật giáo và con đường để đạt đến cuộc sống hạnh phúc của con người

Hòa thượng Thích Minh Châu giới thiệu tác phẩm “Đạo đức học Phật

giáo” nhiều tác giả Viện nghiên cứu Phật giáo năm 1995, những bài viết phân

tích sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo, vị trí, vai trò của Phật giáo ở nhiều khía cạnh đối với đất nước ta trong giai đoạn chuyển mình và phát triển vào những năm cuối của thế kỷ XX

Tác giả nước ngoài: Geshe Michael Roach – nhà kinh doanh kim

cương, thạc sĩ Phật học ở Tây Tạng viết tác phẩm “Năng đoạn kim cương –

Áp dụng giáo lý của Đức Phật vào việc quản trị doanh nghiệp và đời sống”, Nxb Tôn giáo 2001 Tác phẩm trình bày việc vận dụng những

nguyên tắc ứng xử trong kinh điển Phật giáo vào trong kinh doanh cũng như phương pháp mà ông đã rút ra nhằm mục tiêu kinh doanh mang đến sự phồn thịnh chung cho xã hội vì sự phát triển bền vững với cách hành xử có đạo đức, văn hóa

Hướng thứ hai, Truyền thống đạo đức người Việt Nam, sự dung hợp của đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống người Việt Nam:

Báo cáo khoa học:

Trang 11

“Vai trò của đạo đức tôn giáo trong đời sống xã hội”, Nguyễn Thị Lan,

tạp chí triết học số 2 – 2007 Bài viết đề cập đến vai trò của đạo đức tôn giáo nói chung trong việc bù đắp những khủng hoảng trong đời sống xã hội

“Giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu đạo đức đối với nhân

cách con người Việt Nam hiện nay”, Cao Thu Hằng www.chungta.com Bài

viết trình bày sự hình thành đạo đức truyền thống của người Việt Nam là kết quả của sự dung hợp các giá trị đạo đức Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo và những thách thức đặt ra đối với nhân cách con người Việt Nam dưới tác động của cơ chế thị trường

Công trình nghiên cứu:

“Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay”, Nxb Quân đội

nhân dân – 2006, Nguyễn Ngọc Phú (chủ biên) Tác giả trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về chuẩn mực đạo đức; Chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam qua các thời kỳ trước năm 1930 đến 1975 và chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ xây dựng đất nước dưới tác động của cơ chế thị trường

“Sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với

việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998, Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên) Tác giả khái quát thực trạng đạo đức người Việt Nam dưới tác động của cơ chế thị trường, đặc biệt là đạo đức của các bộ quản lý nhà nước, từ đó nêu ra những giải pháp

“Phật giáo với văn hóa Việt Nam và Nhật Bản qua một cách tham

chiếu”, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội – 2009 Trình bày về Phật giáo với

văn hóa Việt Nam, đặc điểm của Phật giáo Việt Nam và ảnh hưởng của Phật

Trang 12

giáo đến đời sống văn hóa Việt Nam có sự so sánh đối chiếu với Nhật Bản và phương hướng điều tiết ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam hiện nay

Hướng thứ ba, đạo đức thanh niên - học sinh ở nước ta nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, công trình khảo sát, thống kê, nghị quyết của Đảng

và Nhà nước về vai trò của đạo đức Tôn giáo trong xã hội, về chiến lược giáo dục – đào tạo thanh niên – học sinh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Báo cáo khoa học và công trình nghiên cứu:

“Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp”, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội 2006, Nguyên Duy Quý (chủ biên) đề cập đến đạo đức cán bộ, đảng viên; đạo đức trong lao động và giao tiếp; đạo đức trong gia đình; đạo đức của thanh niên Khái quát thực trạng và nguyên nhân suy thoái đạo đức; phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức xã hội ở nước

ta hiện nay

“Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” công bố

ngày 26 tháng 8 năm 2005 Đây là cuộc điều tra về vị thành niên và thanh niên lớn nhất và toàn diện nhất đã được tiến hành từ trước đến nay ở Việt Nam Kết quả cuộc điều tra phản ảnh ý kiến của 7.584 trên 42 tỉnh thành, thanh thiếu niên tuổi từ 14 đến 25, là nguồn thông tin bổ ích và đa dạng về tình trạng sức khoẻ, đời sống xã hội, thái độ, hoài bão của thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam ngày nay Trích từ nguồn:

http://www.unicef.org/vietnam/vi/media_2390.html

Văn kiện Hội nghị Đảng: xem website Đảng cộng Sản Việt Nam

http://www.cpv.org.vn/cpv/#kdQCQ8d4uqTU

Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ IV Ban chấp hành TW Đảng khóa VII

“về công tác thanh niên trong thời kỳ mới”

Trang 13

Nghị quyết Hội nghị lần II, Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII

về“định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa”

Nghị quyết Hội nghị lần V, Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII “về xây

dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Nghị quyết Hội nghị lần VII, Ban chấp hành TW Đảng khóa IX “về

công tác tôn giáo”

Nghị quyết số 25, Ban chấp hành TW Đảng khóa IX “về tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

Văn kiện đại hội Đoàn - thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh về công tác thanh niên hiện nay

Tất cả những công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu phong phú hỗ trợ cho tác giả hoàn thành đề tài luận văn

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích luận văn:

Làm rõ nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo

Làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức học sinh, biểu hiện đạo đức học sinh

và đóng góp của đạo đức Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Để thực hiện mục đích đó, luận văn giải quyết nhiệm vụ chủ yếu sau: Thứ nhất, tìm hiểu nguồn gốc hình thành và nội dung cơ bản của đạo đức

Phật giáo, rút ra những giá trị của đạo đức Phật giáo

Thứ hai, tìm hiểu về sự dung hợp của đạo đức Phật giáo với đạo đức

truyền thống Việt Nam, thực trạng giáo dục đạo đức của học sinh ở thành phố

Hồ Chí Minh hiện nay, những biểu hiện đạo đức học sinh dựa trên số liệu điều tra xã hội học một số trường phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

Thứ ba, Phân tích đóng góp của đạo đức Phật giáo trong việc giáo dục

đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo, những vấn

đề cấp bách đang đặt ra đối với đạo đức học sinh phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh, đóng góp đạo đức Phật giáo trong việc giáo dục đạo đức học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đồng thời, luận văn còn sử dụng phương pháp logic, phương pháp lịch sử, so sánh, đối chiếu các tài liệu có liên quan, phương pháp điều tra xã hội học

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Đây là đề tài đã được nhiều tác giả khai thác với những khía cạnh khác nhau, nên luận văn cố gắng phân tích, đánh giá sâu đạo đức Phật giáo và đóng góp của đạo đức Phật giáo trong việc giáo dục đạo đức học sinh ở thành phố

Hồ Chí Minh hiện nay

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, gồm có hai chương và sáu tiết

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN

CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

1.1 KHÁI QUÁT CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa truyền thống Ấn Độ cổ đại – cội nguồn hình thành đạo đức Phật giáo

Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên (Tr.CN), đồng hành cùng hàng loạt những tư tưởng ở Phương Đông và Phương Tây lúc bấy giờ với những triết gia vĩ đại như: ở Trung Hoa: Lão Tử, Khổng Tử; ở Hy Lạp: Thales, Pythagoras, Hêraclit…sự ra đời của các nhà tư tưởng lớn đánh dấu bước chuyển vô cùng quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại

Nghiên cứu về điều kiện dẫn đến sự ra đời của Phật giáo, chúng ta không thể bỏ qua nền văn minh ở Mohenjodaro và Harappa vì nó đánh dấu và đặt nền mống cho toàn bộ quá trình phát triển sau này Các nhà nghiên cứu cho rằng nền văn minh của họ là nền văn minh bản địa gốc rễ của người Dravidian đến từ miền Nam Ấn Độ Theo tài liệu khảo cổ học ghi lại, trước tiên là thời đại “đồ đồng” đã hình thành hơn 3000 năm (Tr.CN) và dân tộc định cư là Mundian, Sumerian…đặc biệt là tộc Dravidian đã hình thành một nền văn hóa “nông nghiệp” gọi là văn minh Ấn – Hà “nền văn minh này trải dài về phía Đông đến thung lũng sông Hằng và Đông Nam vượt qua Guajarat” [44, 23] Nêhru viết:

“Đất nước này đã không có vẻ là một đứa trẻ quặt quẹo mà đã trưởng thành về nhiều mặt Nó không xa rời các mặt của cuộc sống, không chìm đắm trong mơ mộng về một thế giới siêu nhiên, mơ hồ, không thực tế,

mà nó đã đạt được những tiến bộ kỹ thuật quan trọng trong nghệ thuật và

Trang 16

lạc thú của cuộc đời, sáng tạo nên không chỉ những đồ mỹ nghệ và cả những biểu tượng hữu dụng và điển hình hơn của một văn minh hiện đại – nhà tắm và những hệ thống thoát nước tốt” [44, 140]

Thế nhưng, nền văn minh này suy tàn vào khoảng thế kỷ XVI đến thế kỷ XIII (Tr.CN) do nhiều nguyên nhân, theo các nhà nghiên cứu suy đoán có thể

do lũ lụt sông Ấn; có thể do khí hậu khô cằn đất đai biến thành sa mạc; cũng

có thể do tộc người Aryan xâm chiếm Ấn Độ với các cuộc chiến tranh (người Aryan đến sau 1000 năm nền văn minh bản địa và họ làm nên các thời đại sau) Trong cuộc chiến tranh với người Aryan, người Dravidian đã kiên cường chống lại sự xâm lược nhưng thất bại vì bản chất họ vốn sống định cư thuần về nông nghiệp không giỏi chinh chiến như tộc Aryan vốn sống bằng nghề di trú

Mặc dù người Dravidian chủng tộc bị người Aryan chinh phục nhưng giữa họ có sự tác động và thừa hưởng những nền văn minh lẫn nhau, Dravidian đã hưởng thụ một nền tảng văn minh lâu đời của Aryan là lối sống

di trú, Aryan chịu ảnh hưởng nền văn minh nông nghiệp của dân bản địa và

họ theo lối sống định cư của người Dravidian Cộng hưởng hai nền văn minh này đã hình thành nên thời đại “đồ sắt” - Ấn Độ bước sang giai đoạn lịch sử mới Đồng thời, sự liên kết ấy cũng tạo ra những mâu thuẫn nhất định vì chắc chắn người Aryan đã tự coi mình là siêu đẳng hơn nên tồn tại hố sâu ngăn cách giữa hai chủng tộc đã hình thành chế độ đẳng cấp và qua nhiều thế kỷ liên tiếp hệ thống đẳng cấp này đã ảnh hưởng đến đời sống Ấn Độ

Như vậy, người Aryan đến đã làm nảy sinh vấn đề mới là chủng tộc và chính trị vì giữa họ vẫn có sự xung đột: một bên đi đồng hóa xấm chiếm, còn một bên kháng cự Việc phân chia đẳng cấp lúc đầu để tách biệt người Aryan với những người không thuộc chủng tộc Aryan, nhưng có tác động trở lại

Trang 17

chính quyền Aryan, do sự phân chia chức năng và chuyên môn hóa tăng lên, dần dần hình thành nên chế độ phân biệt đẳng cấp hết sức khắc nghiệt cho đến thời kỳ Phật giáo ra đời

Thời kỳ Phật giáo ra đời có những đặc điểm kinh tế - xã hội nổi bật: Kinh tế: chủ yếu nông nghiệp mang tính “công xã nông thôn” với đặc

trưng ruộng đất thuộc về sở hữu của nhà nước và các đế vương, giống như các quốc gia khác ở Phương Đông nhà vua chịu trách nhiệm mọi tai ương của quốc gia Sự phát triển trong nông nghiệp được đánh dấu bằng sự ra đời và ứng dụng kỹ thuật canh tác mới trong đời sống lao động, sự tiến bộ về mặt kỹ thuật thời kỳ này mà các tài liệu khảo cứu đã tìm thấy là công cụ lao động bằng sắt như cuốc, cày, liềm, rìu, đây là bằng chứng cho cuộc cách mạng trong nông nghiệp, làn sóng khai thác đất hoang nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp gia tăng mạnh mẽ, từ đó tư tưởng sở hữu địa chủ ra đời làm cho

sự phân chia đẳng cấp vốn hình thành lại càng khắc nghiệt hơn Do đó, bối cảnh Phật giáo ra đời dưới thống trị của dân tộc Aryan đã có nhiều tiến bộ về mặt vật chất, những thành phố được dựng lên, kỹ nghệ và thương mại đã tạo nên sự phú túc, có phú túc thì được an nhàn, có an nhàn mới học hỏi, nghiên cứu, suy tư và những tư tưởng triết học dần được hình thành

Thương mại: đạt trình độ cực thịnh tạo nên những vùng dân cư trù phú, thịnh

vượng, đánh dấu mốc của nền văn hóa thành thị, phần lớn các thành phố chính trong thời kỳ này là những kinh thành của các vương quốc và là trung tâm quyền lực của mỗi quốc gia Khi tiến trình thành thị hóa, các hạ tầng cơ sở ấy được nâng cấp quy mô nhằm tương xứng với uy quyền và địa vị của giai cấp thống trị

Chính trị xã hội: chế độ phân chia đẳng cấp, bằng sự áp đặt và chuyên

chế đặc trưng của xã hội Phương Đông, chính trong những công xã ấy đã phân chia thành 4 đẳng cấp:

Trang 18

Đẳng cấp Brahmana – tăng lữ và tu sĩ của đạo Bà La Môn

Đẳng cấp Kshatriya – vương công, võ sĩ

Đẳng cấp vaishya – thương nhân, điền chủ, dân tự do

Đẳng cấp Shudra – tiện dân và dân nô lệ

Ngoài 4 đẳng cấp đó, còn một tầng lớp không được xếp vào đẳng cấp nào là dân cùng đinh, hạ đẳng, ti tiện, đáng nguyền rủa của xã hội, làm trong các nghề không trong sạch và ô uế như đồ tể, thợ thuộc da, phu đòn đám ma, những đứa con ngoài giá thú…phải chịu những quy định hà khắc do đẳng cấp Balamôn quy định

Trong 4 đẳng cấp đó, đẳng cấp Brahmana có uy quyền tối cao, là người nắm giữ và truyền bá lịch sử, văn hóa Ấn Độ và không cho ai len lỏi vào đẳng cấp của họ nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc nhất, quyền uy tối cao thể hiện:

“Lãnh nhiệm vụ giáo dục thanh niên, họ truyền lại lịch sử, văn học và các luật lệ của dòng giống cho các thế hệ sau; thành thử họ có thể tái tạo lại dĩ vãng và chuẩn bị tương lai theo ý của họ; họ dạy dỗ các thế hệ mới, bắt mỗi thời phải tôn trọng thêm các tu sĩ, rốt cuộc họ tạo được uy tín cho tập cấp họ và lần lần họ vượt lên các tập cấp khác trong xã hội Ấn Độ” [44, 50 -51]

Nêhru viết: “Brahmana, ngoài việc sản sinh ra các nhà tư tưởng và triết gia, đã trở thành tầng lớp tăng lữ đầy quyền lực và kiên cố chăm chú vào bảo

vệ những lợi ích bất di bất dịch” [44, 175]

Đối với những đẳng cấp còn lại Balamôn quy định bổn phận và trách nhiệm, không ai được vượt qua giới hạn đó Chẳng hạn như đẳng cấp Kshatriya làm nhiệm vụ trông coi việc nước, để duy trì sự ổn định xã hội, bảo

vệ tầng lớp Balamôn, đây là nhiệm vụ thiêng liêng và cao quý

Trang 19

Đẳng cấp chuyên lo việc sản xuất của cải vật chất để nuôi sống toàn bộ

xã hội là Vaishya Đẳng cấp cuối cùng là Shudra phải phục dịch cho đẳng cấp trên một cách vô điều kiện, không đòi hỏi, không được tham gia vào nghi lễ, học tập Sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt, chặt chẽ buộc họ phải chấp nhận một cách vô điều kiện, vì đó không chỉ là giáo lý Balamôn mà còn là pháp luật nhà nước, vì Balamôn là tôn giáo chính thống của xã hội Ấn Độ đương thời lấy phân biệt đẳng cấp làm nền tảng xã hội cho mình và tôn thờ đấng sáng tạo Brahman

Sự phân biệt đẳng cấp không chỉ phân biệt về địa vị, học vấn, sang hèn, giàu nghèo mà còn phân biệt về màu da, chủng tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, chế

độ hôn nhân, quan hệ giao tiếp và cả quan niệm về sự trong sạch được thể hiện ngay trong đời sống hàng ngày Do vậy, trong gia đình mâu thuẫn và xung đột về vị trí, quyền lực diễn ra quyết liệt, giai cấp thống trị xã hội nỗ lực bành trướng sức mạnh, giành quyền sở hữu vật chất cũng như con người, khiến hố sâu ngăn cách giàu nghèo mỗi ngày mỗi sâu sắc hơn, tư tưởng phân biệt chủ tớ càng mãnh liệt hơn, tạo ra vô số bất công trong xã hội, những con người sống trong chế độ ấy đứng trước sự bóc lột của cường quyền đương thời, làm cho họ hoang mang, lo sợ, không biết phải bám víu vào đâu để tồn tại, khi thực tế thì đau khổ, họ loay hoay tìm kiếm xem còn điều gì giúp họ thoát khỏi cuộc sống đương thời Đó là mảnh đất để ươm mầm tư tưởng mới

ra đời – Phật giáo nảy sinh và phát triển Phật giáo ra đời như cơn mưa xua tan cái nóng mùa hè oi bức, là tuyên ngôn đánh thẳng vào chế độ phân biệt đẳng cấp đương thời với những triết lý lấy con người làm trục xoay để hình

thành đạo đức nhân sinh Ănghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” có viết:

“chung quy lại mọi học thuyết đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [2,163]

Trang 20

Tư tưởng văn hóa truyền thống: nhiều tôn giáo lớn như Ấn Độ giáo,

Jaina giáo, Phật giáo và mầm móng các tư tưởng triết học khác được phản ánh trong thánh kinh Veda, sử thi Ramayana và Mahabharata, kinh Upanishad Do

đó, phân tích cội nguồn của đạo đức Phật giáo, cần nhấn mạnh đến vai trò của tưởng triết học thời kỳ Veda – sử thi và Upanishad

Kinh Veda: theo tài liệu nghiên cứu thì Veda ra đời khoảng 2.000 đến

2.500 (Tr.CN) và được lưu truyền vào khoảng thế kỷ XV (Tr.CN) “Vêda là những ghi chép sớm về văn hóa Ấn Độ…là những thổ lộ dạt dào của người Aryan khi họ kéo vào đất đai giàu có của Ấn Độ…những thổ lộ đầu tiên của trí óc con người, sự rực rỡ của thơ ca, sự say mê trước vẻ đẹp và tính huyền bí của thiên nhiên” [44,151 - 157] Do đó, tìm hiểu về đời sống văn hóa tinh thần của người Ấn Độ, về các học thuyết đạo đức, chúng ta không thể bỏ qua những nội dung cơ bản của Kinh Veda vì nó được coi là khởi nguyên của hệ thống tư tưởng và tôn giáo chính thống ở Ấn Độ

Xét về mặt triết học thì tư duy, nhận thức của người Ấn Độ đã chuyển từ thế giới quan đa thần tự nhiên sang nhất thần luận “triết lý Veda là từ kiểu của thần linh trên núi Olympơ, đến một thần, sau đó hòa trộn với nó là thuyết nhất nguyên” [44, 119] Họ tôn thờ các vị thần với sức mạnh diệu kỳ và mạnh mẽ như trời, đất, mặt trăng, mặt trời, tinh tú, ánh sáng, lửa, gió, mưa, rạng đông…Phẩm chất, đặc tính, tên gọi các vị thần biểu trưng cho sức mạnh phi thường nhằm gửi gấm những ý nghĩ trừu tượng về tinh thần, luân lý xã hội, công lý, thiện, ác, tự do, bình đẳng, hạnh phúc, đức tin…PGS.TS Vũ Tình viết: “văn hóa, tín ngưỡng của Ấn Độ chịu chi phối của những quan niệm cực

kỳ xa xưa của người Ấn về thần linh, phần hồn, phần xác về luân hồi, nghiệp báo” [69, 189] Do đó, những quan niệm về sinh tử, luân hồi, nghiệp báo, giải thoát đã được phản ánh từ rất xa xưa trong lịch sử văn hóa truyền thống Ấn

Trang 21

Độ tiêu biểu là Kinh Veda Những tư tưởng đó được phát triển với những nội dung mới trong tư tưởng đạo đức Phật giáo

Sử thi Ramayana và Mahabahrata: Xuất hiện sau Veda, đã thể hiện sự

phát triển tưởng triết học tôn giáo Ấn Độ cổ Đây không chỉ là tác phẩm văn học mà chứa đựng những nội dung mang giá trị triết lý đạo đức nhân sinh Nhân dân Ấn Độ rất tự hào và cho rằng “cái gì không có trong đó thì cũng không có ở bất cứ nơi nào trên đất Ấn Độ” [39, 7] Hai bộ sử thi mang giá trị lịch sử, văn học, ngôn ngữ, triết học, đạo đức nhân sinh sâu sắc ra đời hơn 3.000 năm “tư tưởng đạo đức chứa đựng trong những tác phẩm ấy đi thẳng vào tâm hồn dân tộc Ấn Độ, một dân tộc vốn giàu tín ngưỡng, và trở thành nền tảng của nền đạo đức” [8, 148]

Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Sita, đồng thời phản ánh sự phát triển của

xã hội người Aryan Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc võ sỹ (Kshatriya) nhưng đã khắc họa những gương mặt có tâm hồn trong sáng

Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, của đẳng cấp vương công

quý tộc đồng thời là khát vọng của nhân dân về một vị minh quân, một anh

hùng tài ba, đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội Sita thánh thiện, mẫu

người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ đức hạnh, nhân hậu, quả quyết, hi

sinh quên mình Tướng khỉ Hanuman nhiệt tình, hiện thân của lực lượng quần

chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho anh hùng chiến đấu vì tự do, công lý, giải phóng bảo vệ đất nước…Tác phẩm cũng nêu bật được khát vọng chiến thắng cái ác, đem lại nguồn an ủi cho quần chúng nhân dân bị áp bức đương thời Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọt giũa của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, song vẫn là tiếng ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao

Trang 22

sự công bình bác ái; với những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muôn đời: “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng ca Ramayana còn làm say mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi” Ramayana không đơn thuần là một quyển sách mà rất nhiều điều về luân lý và đạo đức được đề cập, nhấn mạnh đến phúc lợi xã hội và hoàn thiện đạo đức cá nhân, triết lý về lòng khoan dung, sự công bằng đã được thể hiện:

“Chân lý, tự kiềm chế, lòng quảng đại, phi bạo lực, kiên trì đạo đức – đó

là những phương tiện đi đến thành công chứ không phải tôn giáo hay gia đình, đạo đức tốt hơn sự trường sinh và cuộc sống…không phải tôn giáo chúng ta càng không phải màu da chúng ta làm ra đạo đức, đạo đức phải được rèn luyện Vì thế không nên làm đối với người khác những gì mình không muốn người ta làm đối với mình” [44, 226 - 227 - 258]

Tư tưởng triết lý đạo đức nhân sinh trong Ramayana còn thể hiện thông qua hình ảnh các vị thần mang dấu ấn về hành vi đời sống con người, phản ánh khát vọng về cái thiện sẽ chiến thắng cái ác, cuộc đấu tranh nội tâm, những mâu thuẫn xung đột trong một con người giữa thiện và ác; giữa cao quý và thấp hèn Nêhru trong “Phát hiện Ấn Độ” đã trích dẫn lời của sử gia người Pháp Michelet viết về Ramayana:

“Bất kỳ ai đã uống hoặc quá mong muốn được uống, xin hãy uống từ chén này một hơi dài về sự sống và tuổi trẻ…Mọi thứ đều chật hẹp ở Phương Tây – Hy Lạp rất nhỏ khiến tôi ngột ngạc, Judea khô cằn khiến tôi thở dốc Hãy để tôi nhìn một tí về Châu Á cao quý và Phương Đông thâm thúy ở đó đang có bài thơ vĩ đại của tôi, cũng rộng lớn như Ấn Độ Dương được tôn sùng và tô điểm bằng ánh thái dương, cuốn sách của sự hài hòa thánh thiện…Một sự thanh bình đang ngự trị ở đó, và giữa sự xung đột là một sự ngọt ngào vô biên, một mối tình huynh đệ vô bờ lan

Trang 23

tràn khắp mọi sinh vật, một đại dương (không đáy không bờ) của tình yêu, trắc ẩn và khoan dung” [44, 222]

Mahabharata: là tập sử thi vĩ đại của người Ấn Độ, Maharat nghĩa là cuộc chiến lớn của dòng họ Bhrat [39, 22] Chủ đề nói về cuộc chiến tranh

giữa dòng họ Kôrava và Pandava Thông qua những câu chuyện có tính chất huyền thoại, bộ sử thi đã phản ánh cốt lõi lịch sử có thật về cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc Aryan trong quá trình tạo dựng những quốc gia chiếm hữu nô

lệ Bộ sử thi đã lồng ghép những sự tích thần thoại, truyện ngụ ngôn, châm ngôn vì thế mang giá trị triết học, lịch sử, địa lý, nhân văn, văn học và cả giá trị về đạo đức nhân sinh Nó đã khắc họa nên những hình tượng anh hùng đại diện cho lòng kiên trì, trí thông minh Những mâu thuẫn giữa các dòng họ đẩy dồn thành chiến tranh, chiến tranh lan rộng và tàn phá mãnh liệt, tạo nên thảm cảnh vô cùng bi thương Đằng sau những mâu thuẫn chằng chịt ấy nổi lên một tinh thần nhân văn sâu sắc với đức tính hiền hòa, bình đẳng, bác ái

Những tư tưởng của Mahabharata tiếp tục được phản ánh trong Bhagavad – Gita (chí tôn ca) đã nói lên khát vọng giác ngộ chân lý để giải thoát, đạt tới trạng tâm hồn thanh khiết, về thái độ nhu cầu vươn lên thoát khỏi sự ràng buộc của hoàn cảnh, không phân biệt nam nữ, đẳng cấp giống nòi hay sự dị biệt về tôn giáo, tín ngưỡng Dịch giả Phạm Thủy Ba viết về tác phẩm bất hữu này của người Ấn Độ:

“Cho đến tận ngày nay, tác phẩm văn học này vẫn dồi dào sức sống, hùng vĩ như núi Hymalaya, cuồn cuộn như nước dòng sông Hằng và rực thắm như hoa Patala nơi rừng già Ấn Độ…Qua tập sử thi, người

Ấn Độ thời xưa đã băn khoăn đi tìm một lẽ sống mà họ cho là tốt đẹp nhất trong một thời buổi nhiễu nhương đầy xung đột; họ đã rung động với những tình cảm, những ước mơ nhân văn chủ nghĩa nhất, mơ ước

Trang 24

hòa bình, ước mơ một phong cách hào hùng, ước mơ những quan hệ tốt giữa người và người” [39, 5]

Như vậy, những giá trị đạo đức cơ bản được thể hiện qua hai bộ sử thi Ramayana và Mahabharata thể hiện sự xung đột giá trị sống giữa thánh thiện

và độc ác, cao cả và thấp hèn, đẹp và xấu, hình thành nên giá trị tối cao của cuộc đời đó là đức hy sinh, lòng quả cảm, tinh thần trung tín, ý chí kiên định

vì trách nhiệm, lòng thủy chung “dạy ta phải sống đúng sự thật và lời nguyền,

dù hậu quả của nó thế nào đi nữa, dạy người ta chung thủy đến chết và thậm chí bên kia cõi chết, dạy người ta lòng dũng cảm, làm việc tốt và hy sinh cho

Mầm móng về tư duy triết học từ kinh Veda được phát triển tiếp tục trong Upanishad, họ đã dứt khoác từ bỏ vương quốc của thần thoại để bước

Trang 25

sang tư duy triết học và Upanishad trở thành cơ sở lý luận quan trọng cho Balamôn giáo Tư tưởng về nghiệp báo, luân hồi trong Upanishad thể hiện:

“Người ta sẽ trở nên tốt vì hành động tốt và trở nên xấu vì hành động xấu…những người có hành vi tốt sẽ đầu thai vào kiếp tốt đẹp, hoặc thành Balamôn, hoặc thành quý tộc, hoặc thành thương nhân Những kẻ có hành vi xấu xa sẽ phải đầu thai vào những kiếp xấu xa như chó lợn, hay những kẻ tôi tớ” [8, 141]

Upanishad trình bày tư tưởng giải thoát để giác ngộ là “trạng thái chân như” vượt qua tất cả mọi giả tướng, ảo ảnh” [8, 143] Giải thoát là trạng thái tự do tuyệt đối, vượt qua mọi quan niệm sống chết, còn mất, tha ngã, thoát khỏi sự chi phối của quy luật nghiệp báo, luân hồi

Phật giáo đã kế thừa tính vô thường của tất cả vạn vật trần trục, thuyết về

nghiệp, thuyết vô minh là nguồn gốc căn nguyên của dòng luân hồi sinh tử và giải thoát để đạt Niết bàn chỉ có thể đạt được bằng tri thức

Bất kỳ một tư tưởng nào ra đời cũng không hề xuất hiện trên mảnh đất trống không mà có sự kế thừa, dung hợp những tư tưởng đã qua và đạo đức Phật giáo cũng không nằm ngoài xu hướng đó họ đã đồng tâm hay hiệp lực lại với nhau để hình thành nên những tư tưởng vượt thời đại Tất cả những gì tạo hóa đã ban cho đất nước Ấn Độ là tài sản vô cùng quý giá, họ vừa tự hào với những thành tựu khoa học kỹ thuật rực rỡ – chiếc nôi của nền văn minh Phương Đông, nhưng cũng vô cùng sợ hãi chế

độ phân biệt đẳng cấp tàn bạo, cộng hưởng những yếu tố đó, buộc họ phải đi tìm một hướng đi, một lối thoát cho cuộc sống và lúc đó họ quay

về với nội tâm sâu thẳm của con người đó là đời sống tinh thần – mảnh đất cho đạo đức Phật giáo ươm mầm Triết gia Ấn Độ S Radhakrishnan

trong tác phẩm “Triết lý Ấn Độ” viết:

Trang 26

“Người Ấn không bao giờ cảm nhận cuộc đời là một chiến trường, nơi

mà con người chiến đấu cho quyền thế, của cải và sự thống trị Một khi con người không cần tiêu phí năng lượng của mình vào các vấn đề thế

sự, lợi dụng thiên nhiên và kiểm soát các sức mạnh thiên nhiên, con người bắt đầu nghĩ đến một đời sống cao thượng hơn, làm thế nào để sống đời sống tâm linh toàn vẹn hơn Có lẽ các khí hậu làm cho con người mệt mỏi đã khiến người Ấn Độ có khuynh hướng nghĩ ngơi và rời

bỏ công việc Những cánh rừng lớn với những con đường rộng có những tán lá đã tạo ra cơ hội cho những tâm hồn sùng đạo đi quanh quất qua lại,

mơ những giấc mơ lạ và bùng lên những lời ca vui thú…chính tại những nơi ẩn dật ở trong những cánh rừng là nơi mà các nhà tư tưởng Ấn Độ trầm tư về những vấn đề hiện hữu sâu thẳm hơn” [64, 34]

1.1.2 Triết học và giáo lý Phật giáo – cơ sở trực tiếp hình thành đạo đức Phật giáo

Giáo lý Phật giáo là một kho tàng vô tận, là kết quả của quá trình tu tập, rèn luyện của chính người đã sáng lập ra nó – Thái tử Tất Đạt Đa (563 – 483 Tr.CN) Ngài vốn là người thông minh, khoẻ mạnh, sẽ là người kế tục vua cha trị vì đất nước Ngài được sống trong cảnh giàu sang cùng với người vợ xinh đẹp, nhưng dường như có sự tiền định, Ngài luôn nghĩ về sự khổ, sinh, lão, bệnh, tử và những phiền não của bụi trần ô trược nên Ngài đã từ bỏ tất cả để

ra đi khi đứa con trai vừa chào đời Điều đó chứng tỏ rằng không có gì quan trọng hơn sự thanh thản về nội tâm, sự chấm dứt những đau khổ phiền não dù

có đầy đủ vật chất

Suốt 45 năm thuyết pháp, Đức Phật để lại kho tàng vô giá về những lời dạy của Ngài, hình thành nên triết học Phật giáo đóng góp vào kho tàng văn hoá nhân loại Nội dung triết học Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó

Trang 27

viết thành sách với hai thứ văn tự căn bản Bắc phạm (Sanscrit) và Nam phạm (Pàli) được hình thành trong “Tam tạng kinh” gồm: Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận

Nội dung triết học Phật giáo đề cập đến Thế giới quan và Nhân sinh quan thông qua hệ thống giáo lý đồ sộ Với những quan điểm chủ yếu sau:

Quan điểm Vô thường, Vô ngã, Nhân – duyên – quả

Vô thường: (Sancrit: Anitya, Pàli: Anicca) Theo từ điển Phật Quang:

“các pháp hữu vi do nhân duyên sinh, tùy thuộc vào bốn tướng sinh, trụ, dị, diệt mà biến hóa đổi dời, xưa có nay không, nay có sau không, chẳng lúc nào thường trụ vì thế nên gọi chung là Vô thường”[48, 7216] Như một làn sóng, khi mới nhô lên gọi là thành (sinh) khi nhô lên cao nhất thì gọi là trụ; khi hạ dần xuống thì gọi là hoại (dị), khi tan rã thì gọi là không (diệt) Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt cát, đến lớn như trăng sao, đều phải tuân theo bốn giai đoạn ấy gọi là Vô thường [22, 36]

Vô thường có mặt khắp mọi nơi trong con người và vạn vật: thân vô thường, tâm Vô thường, hoàn cảnh Vô thường Tất cả sẽ biến đổi theo thời gian, biết mọi vật Vô thường con người giữ tâm được thản nhiên trước cảnh đổi thay bất ngờ và có thể lạnh lùng trước cảnh ân ái chia ly Biết Vô thường, con người dám hy sinh tài sản, sinh mạng để làm việc nghĩa Biết Vô thường con người mới chán ngán với những thú vui tạm bợ, giả trá, sáng suốt đi tìm những cái vui chân thật

Vô ngã: (Sancrit: Anatman, Pàli: Anattnan) Ngã (ta) có đặc tính vĩnh

viễn, bất biến, độc lập từ tốn, là chủ sở hữu trung tâm có năng lực chi phối, nghĩa là ta là chủ thể thường nhất, vĩnh viễn nhất không thay đổi, tồn tại một cách độc lập [48, 7188] Vô ngã gồm: Nhân vô ngã (ngã không): con người

do năm yếu tố giả hợp mà thành không có chủ tể sinh mệnh chân thực nào

Trang 28

khác; Pháp vô ngã (pháp không): các Pháp đều do nhân duyên (điều kiện) mà thành lập [48, 7188] Do đó, không có cái Ta tồn tại vĩnh viễn, bất biến, tất cả

do nhân duyên hình thành

Nhân - duyên (Sancrit: Hetu – pratyaya): “tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên (các điều kiện) hòa hợp mà thành, lý này gọi là duyên khởi Tức là bất cứ sự vật gì trong thế giới hiện tượng đều nương vào những điều kiện nhân duyên mà sinh khởi, tồn tại biến hóa (vô thường) và tiêu diệt” [48, 1364]

Nhân: chính là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả

Duyên: chỉ nguyên nhân gián tiếp giúp đỡ bên ngoài, quả: (phala) là kết quả [48, 3583] Có thể hiểu Nhân là cái mầm Quả là cái hạt, cây trái do mầm ấy phát sinh Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có Nếu không có Nhân thì không có quả; nếu không có Quả thì không có Nhân Nguyên nhân chính trực tiếp của một hiện hữu là nhân, nguyên nhân phụ gián tiếp có ảnh hưởng đến quả là duyên – đây được gọi là những điều kiện phụ thuộc

Nhân thế nào thì quả thế ấy nghĩa là nhân quả phải đồng loại Nếu ta muốn có quả cam thì ta phải ươm hạt giống cam; nếu ta muốn có hạt đậu thì

ta phải gieo giống đậu Không bao giờ ta trồng cam mà lại được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam, nhân đổi thì quả cũng đổi

Một nhân không thể sinh ra quả Sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên Cho nên không có một nhân nào, có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác Nói hạt lúa sinh

ra cây lúa, là nói một cách giản dị cho dễ hiểu, thật ra hạt lúa không thể sinh

ra được gì nếu để một mình nó giữa khoảng trống không, thiếu không khí, ánh sáng, đất, nước – đó là những nhân tố phụ thuộc gọi là duyên

Trang 29

Nhân quả chi phối vạn vật trong vũ trụ, không có sự vật vật chất hay tinh thần nào thoát ra ngoài luật nhân quả Nhân quả có trong những vật vô tri vô giác, nhân quả trong loài thực vật, nhân quả trong các loài động vật, nhân quả nơi con người Tuy nhiên, con người vốn khi sinh ra không hiểu vạn vật trong vũ trụ luôn biến đổi và do nhân duyên hợp thành nên luôn mong muốn chiếm giữ, đoạt lấy, cứ tưởng cái gì cũng là của Ta, do Ta và Ta tồn tại mãi mãi nên dẫn đến Nghiệp, rơi vào nỗi khổ trầm luân trong Luân hồi

Quan điểm Ngũ uẩn, Nghiệp, Luân hồi

Ngũ uẩn: Phật giáo cho rằng con người và tạo vật trong vũ trụ do nhân

duyên hợp thành, được cấu tạo bởi 5 yếu tố gọi là “Ngũ uẩn” (Panca Skandha) còn gọi là “Ngũ ấm” [48, 4584]:

Sắc uẩn (Rupa – Skandha) là vật thể tạo nên con người và vạn vật, sự tụ tập của các pháp có tính chất ngại và biến hoại, có đặc điểm: biến dịch, thay đổi, chuyển biến, vô thường

Thọ uẩn (Vedana – Skandha) là cảm giác, là yếu tố thuộc lĩnh vực tinh thần của con người

Tưởng uẩn (Samjna – Skandha) suy tưởng, tưởng tượng tích tụ các ý tưởng thiện ác, tà chánh thuộc về tri giác

Hành uẩn (Sámkara – Skandha) là hành tướng của tâm, quá trình hoạt động của tư duy

Thức uẩn (Vijnana – Skandha) là sự nhận thức

Nghiệp: (Sancrit: Karma, Pàli: Kmama, Hán: Yếtma) “sự tạo tác chỉ

những hoạt động của thân tâm như hành vi, hành động, tác dụng, ý chí hoặc chỉ những hoạt động của thân tâm do ý sinh ra” [48, 3273] Nếu kết hợp với quan hệ nhân quả thì nghiệp là năng lực được hình thành bởi những hành vi

từ quá khứ kéo dài đến hiện tại và cho mãi tới vị lai

Trang 30

Tư tưởng về nghiệp có từ thời kỳ Veda và trong Upanishad, Đức Phật dùng nó để khuyên con người nỗ lực hướng tới vị lai Vì nghiệp cũng bao hàm tư tưởng nhân quả báo ứng về hành vi thiện ác Nghiệp và nhân quả có mối quan hệ với nhau Nghiệp có liên quan đến ba đời: nghiệp hiện tại có khả năng trở thành nhân quyết định quả vị lai và nghiệp quá khứ có sức tác động mãnh liệt mang quả báo trong hiện tại “Nghiệp tiêu diệt trong khoảng khắc nhưng nó đã gieo chủng tử (hạt giống) chiêu cảm quả báo vào trong tâm thức sinh ra quả báo”[48, 3274] Ý dẫn đầu trong nghiệp và ý trong sạch, sẽ hành động đúng Đức Phật dạy: “ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” [34, 77] Ngài dạy:

“Nếu với ý thanh tịnh, nói năng hay hành động An lạc bước theo sau, như bóng không rời hình” [33, 2]

Có hơn sáu mươi danh từ để nói về nghiệp tùy thuộc và tinh chất kết quả, đối tượng mà phân loại [63, 301] Con người xây dựng cho mình đời sống khổ hạnh hay hạnh phúc thông qua Nghiệp vì nếu xét theo tên gọi có nghiệp

ác – tư duy hành động về những điều ác, Nghiệp thiện – tư duy và hành động theo những điều lành; xét theo thời gian có: Nghiệp cũ – nghiệp được tích lũy nhiều từ đời sống quá khứ và hiện tại nó đã chín muồi, Nghiệp mới – mọi tạo tác đang làm và sẽ làm [63, 301 – 302]

Nghiệp càng được hiểu đầy đủ hơn khi đặt trong mối quan hệ với Luân hồi vì con người có bị cuốn vào Luân hồi hay không là do nghiệp tức hành động xuất phát từ Tâm của con người và phải nhận lấy kết quả từ những việc làm, lời nói do hành động ấy đem lại

Chết rồi sẽ đi về đâu? Tại sao sinh rồi tại tái sinh? Đó là những câu hỏi

mà trong cuộc đời của mỗi người ai cũng từng đặt ra Tuy nhiên, nhắc đến

Trang 31

Luân hồi thì người ta nghĩ ngay đến giáo lý của Phật giáo, nhưng đây không phải là vấn đề cơ bản mà chỉ hệ quả mà con người phải gánh lấy do hành động của mình gây ra

Luân hồi (Sancrit: Samsara, chữ Hán: Tăng sa lạc, sinh tử luân hồi)

Luân: bánh xe; Hồi: xoay tròn Hình ảnh bánh xe quay tròn Phật đã dùng

để hình dung sự xoay chuyển, lên xuống, xuất hiện của mỗi chúng sinh trong sáu cõi (lục đạo) khi đầu thai ở cõi này, khi ở cõi khác, luôn luôn tiếp nối tử sinh, sinh tử không ngừng, như bánh xe lăn[48, 2865] “Trên vòng tròn ấy không có điểm khởi đầu cũng không có điểm kết thúc, bánh xe cứ quay trong vòng trầm luân của sinh tử đau khổ và cho đến khi nào con người tu tập và đạt đến giải thoát tối thượng” [63, 308] Đức Phật dạy

“Đêm dài đối với kẻ thức, đường dài đối với kẻ mệt, luân hồi dài đối với kẻ ngu, không biết rõ chơn diệu pháp” [63, 308]

Luân hồi có nguồn gốc truyền thống từ Veda – Uapanishad và là giáo lý của Balamôn Phật giáo kế thừa và phát triển hình thành nên những điểm khác biệt Theo Balamôn: sinh ra ở đẳng cấp nào, tái sinh ở đẳng cấp đó không thay đổi Bốn giai cấp và tiện dân trong quá trình luân hồi, đời đời kiếp kiếp vẫn theo y giai cấp, không có gì thay đổi Phật giáo cho rằng: “trước khi có nghiệp báo thì chúng sinh vẫn bình đẳng, nếu ở hạ đẳng mà kiếp này tu thiện chơn, thì kiếp tới có thể làm thượng đẳng Còn nếu kẻ ở thượng đẳng mà kiếp này tu thiện ác kiếp sau có thể sinh vào hạ đẳng, thậm chí xuống địa ngục” [48, 2865]

Khi chúng ta đã công nhận luật nhân quả, thì không thể từ chối Luân hồi,

vì Luân hồi chẳng qua là nhân quả liên tục, nhưng vì nó khi biến, khi hiện, khi lên, khi xuống, khi mất, khi còn, khi thay hình đổi dạng, nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau

Trang 32

Phật giáo đã diễn tả của vòng luân hồi thông qua 6 cõi (lục đạo hay lục thú) Tùy theo nghiệp thiện hay bất thiện mà con người rơi vào những trạng thái tâm thức khác nhau, bao gồm:

Ðịa ngục: Tạo nhân sân hận, độc ác làm nhiều điều tội lỗi vừa hại mình vừa hại người, phải Luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ sở, không có hạnh phúc Đây là trạng thái đau khổ nhất của con người

Ngạ quỷ: Nhân tạo tham lam, không biết bố thí, không giúp đỡ người Trái lại, còn mưu sâu, kế độc, để cướp đoạt của người, về tài sản lẫn tình yêu thương Súc sinh: Tạo nhân si mê sa đọa theo thất tình, lục dục, tửu sắc, tài khí

“thiếu trí tuệ, hành động theo bản năng, hành động theo những gì mình muốn

mà không tính đến hậu quả khó lường” [69, 241]

A Tu La: gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cương trực, mà cũng vừa độc ác Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tính tình hung hăng nóng nảy vẫn còn, nghĩ cho lợi riêng mình Loài người: Là một cảnh giới trong đó hạnh phúc và đau khổ lẫn lộn, bao gồm đủ những trạng thái trên

Cõi trời: có tâm trạng hỷ lạc, vui sướng, tuy nhiên “chỉ là ảo tưởng do các giác quan đem lại, nó khác hẳn với trạng thái hỷ lạc vĩnh cửu của người được giải thoát [69, 242]

Thông qua giáo lý Luân hồi giúp chúng ta tin rằng con người sau khi qua đời không mất hẳn mà tái sinh ở cõi khác Cho nên, thực hành nếp sống có đạo đức để hưởng quả lành về sau Đồng thời, có ý nghĩa ngay trong cuộc sống hiện tại, sáu cõi luân hồi còn hiểu là những trạng thái tâm thức của con người, trong cuộc sống có những lúc đam mê, ham muốn, chiếm đoạt…gây cho con người phiền não, nếu thực hành buông xả sẽ đem lại hạnh phúc ngay trong cuộc sống hiện tại Giáo lý về Luân hồi giúp chúng ta thêm lòng tin, thấy được mình là chủ

Trang 33

nhân của đời mình, mình tạo nghiệp nhân gì, thì chịu nghiệp quả ấy, chứ không

ai cầm cân thưởng phạt, ban phước, giáng họa cho ta

Tứ thánh đế (Sancrit: Satya, Pali: Sacca, Hán: thẩm thực bất hư – chân

thực không hư hối) Giáo lý nền tảng của Phật giáo là tứ thánh đế và đây cũng

là những định hướng cơ bản nhất để hình thành đạo đức Phật giáo Tứ đế là bài thuyết pháp Đức Phật giảng cho năm vị tỉ khưu nghe trong lần chuyển pháp luân đầu tiên ở Vườn nai sau khi Ngài thành đạo, là giáo nghĩa nền tảng

của Phật giáo và là con đường duy nhất để thoát khỏi sinh tử

Trong Tương ưng bộ tập V, mở đầu Đức Phật viết: “đây là khổ tập, đây

là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt” Vì vậy, Ngài đã bàn đến nỗi khổ, nguyên nhân gây ra nỗi khổ cho con người và đưa ra phương pháp để diệt khổ Đó là toàn bộ nội dung trong “Tứ thánh đế” – bốn chân lý tuyệt diệu Đức Phật từng dạy: “Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không xảy ra Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ tứ thánh đế, ta

sẽ đoạn diệt đau khổ, sự kiện này không xảy ra”[22, 11 – 12 ]

Khổ đế (Dukkha): “chỉ trạng thái thân tâm bị bức bách khổ não” [48,

6702] Gồm 8 nỗi khổ (bát khổ)

“Này các Tỳ kheo, sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà không được là khổ Tóm lại, chấp thủ uẩn là khổ” [32, 470] Do đó, Ðức Phật chỉ cho chúng sinh thấy cái thảm cảnh hiện tại của cõi đời nó nằm ngay trước mắt, bên tai, ngay trong mỗi chúng ta; những sự thật có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ được, chứ không phải những sự thật xa lạ ở đâu đâu Ðã là một chúng sinh, ai không có sinh, ai không đau ốm, ai không già, ai không chết Và những trạng thái ấy đều mang theo tính chất khổ cả

Trang 34

Tập đế (Samudaya): tập “chứa góp” là “chân đế về sự sinh khởi và

nguyên nhân các nỗi thống khổ của con người ở thế gian” [48, 6702] Khổ đế như là bản liệt kê các chứng bệnh; còn Tập đế như nói rõ nguyên nhân của chứng bệnh Trong kinh Pháp cú, Đức Phật chỉ rõ “Do ái dục sinh phiền muộn, do ái dục sinh lo sợ, người ta đã hoàn toàn chấm dứt ái dục, không còn phiền muộn, càng ít lo sợ [33, 216]

Tham (Abhhidhya): nghĩa là tham lam “tham tiếng tăm, tiền của không biết chán, không biết bao nhiêu mới đủ, đối với những thứ mình yêu thích thèm muốn, dẫn đến ngũ thủ uẩn và các khổ khác” [48, 5218] Ðiều tai hại nhất là lòng tham không đáy, bao nhiêu cũng không đủ; được một muốn có mười, được mười muốn có trăm Tham cho mình chưa đủ, còm tham cho bà con quyến thuộc và xứ sở của mình Cũng vì tham mà cha mẹ vợ con xung đột; vì tham mà bè bạn chìa lìa; vì tham mà đồng bào trở lại xung đột, xâu xé nhau; vì tham mà chiến tranh tiếp diễn Tóm lại, vì tham mà nhân loại, chúng sinh chịu nhiều đau khổ

Sân (Pratigha): “chỉ cho sự giận dữ - đối với những người làm trái ý mình mà nổi giận, oán ghét, khiến tâm bực bội không yên thì gọi là sân” [48, 4586], khi lòng tham không được toại nguyện, thì sân nổi lên, như một ngọn lửa dữ đốt cháy lòng của mỗi người Vì nóng giận mà cha mẹ, vợ con, anh em

xa lìa, bạn bè ly tán; vì nóng giận mà đồng bào trở nên thù địch, nhân loại đua nhau ra chiến trường; vì nóng giận mà kẻ bị tàn tật, kẻ mất địa vị, người tan nát sự nghiệp Chính lửa sân hận đã bừng cháy lên giữa lòng nhân loại, và đã đốt thiêu không biết bao nhiêu là công lao, sự nghiệp mà nhân loại đã tốn mồ hôi và nước mắt để tạo nên

Si (Moha): “đồng nghĩa với vô minh và vô trí nghĩa là si mê, mờ ám – tác dụng tinh thần của sự ngu muội vô trí” [48, 4589] Si như là một tấm màn

Trang 35

dày đặc, đen tối trùm lên trí tuệ của ta, làm cho ta không thể nhìn thấy được

sự thật, phán đoán được cái hay, cái dỡ, cái tốt, cái xấu gây ra tội lỗi, làm hại mình, hại người mà không hay Vì Si mà lòng tham trở thành không đáy, bởi người sáng suốt thấy cái tai hại của tham, thì người ta đã kìm hãm được một phần nào tính tham Vì Si mà lửa sân tự do bùng cháy; nếu người sáng suốt biết cái tai hại của lửa Sân thì không để cho nó hoành hành Nếu tham, sân nổi lên, có trí sáng suốt ngăn chặn, thì Tham, Sân không thể tồn tại ví như ánh sáng mặt trời xuất hiện thì bóng tối phải tan biến

Ba tính Tham, Sân, Si gọi là Tam độc; vì Tam độc chúng sinh phải chịu nhiều kiếp sinh tử luân hồi, đọa vào địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh [22, 45-46 -47] Do đâu con người có Tham, Sân, Si cội rễ sâu xa đó bắt nguồn từ Vô minh, từ vô sinh sinh ra những biểu hiện khác mà chúng sinh không nhận thấy

để gây ra nỗi khổ trầm luân

Vô minh (Avidya): u tối, không hiểu về Ta và những cái tồn tại xung quanh Ta Đức Phật định nghĩa “Không biết khổ, sự sinh khởi của khổ, sự chấm dứt của khổ và con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ, đây gọi là vô minh” [64, 52] Điều đó có nghĩa là con người không hiểu gì về Tứ thánh đế,

về quy luật nhân quả Luân hồi, về Duyên khởi

Hành (Samskara): có ba hành gồm Hành thân, Hành khẩu và Hành ý [64, 53] Hành có nghĩa là hành động (tạo nghiệp) của con người thông qua ý nghĩ, lời nói, hành động

Thức (Vijnana): Đức Phật dạy “Có sáu nhóm thức: nhãn thức, nhĩ thức,

tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức” Thức: tưởng tri – biết và không có phản ứng tâm lý; thức tri – phân biệt; hiểu biết – quyết định [64, 55]

Danh sắc (Nàma – Rùpa): tên gọi và hình của ta, tức vật và tâm Sắc là sắc uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) Như vậy, danh sắc là ngũ thủ uẩn Đức

Trang 36

Phật dạy “thọ tưởng, tư, xúc và tác ý; đây gọi là danh Tứ đại và sắc do tứ đại sanh; đây gọi là sắc” [64, 55]

Lục nhập (chabbithana): sáu giác quan của con người để tiếp xúc gồm nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý với sáu đối tượng gọi là lục căn gồm: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp

Xúc (sparasa): va chạm, tiếp xúc

Thụ (Vedana): nhận lấy các đối tượng vào ta

Ái (priya): yêu thích, mong muốn, đam mê

Thủ (Upadana): giữ lấy vật mình ham muốn

Hữu (Bhava): có, tồn tại, chỉ cảnh giới mà ta đang hiện có

Sinh (Jati): có hiện hữu, được sinh ra

Lão - tử (Jana – marana) : già và chết, chỉ sự hoại diệt

Mười hai chi này vận hành như thế nào? Đức Phật dạy:

Nếu không có sinh thì khổ đau không thể có mặt; Nếu không có hữu thì sinh không thể có mặt; Nếu không có thủ thì hữu không thể có mặt; Nếu không có ái thì thủ không thể có mặt; Nếu không có thụ thì ái không thể có mặt; Nếu không có xúc thì thụ không thể có mặt; Nếu không có lục nhập thì xúc không thể có mặt; Nếu không có danh sắc thì lục nhập không thể có mặt; Nếu không có thức thì danh sắc không thể có mặt; Không có hành thì thức không thể có mặt; Không có vô minh thì hành không thể có mặt [64, 57 - 61]

Do đó, vô minh là suối nguồn của dòng đời khổ đau, nhưng nó cũng

do duyên mà sinh ra Đức Phật dạy “vô minh do duyên này duyên kia mà sinh khởi” [64, 61]

Như vậy, ở đâu con người không hiểu về lẽ vô thường, ở đó có khổ đau Điều này không có nghĩa là vô thường là nguyên nhân gây ra nỗi khổ cho chúng sinh Do con người ái sắc, ái thọ, ái tưởng, ái hành, ái thức nên khi sắc

Trang 37

thọ tưởng, hành, thức biến đổi mới sinh sầu bi, khổ, não Sở dĩ có tạo nghiệp

ấy cũng là do Vô minh và con người nuôi dưỡng Vô minh

Diệt dế (Nirodha Dukkha): “tịch diệt” nếu chặt đứt gốc khổ - ái dục thì được

khổ diệt và vào cảnh giới niết bàn”[48, 6702] Trình bày rõ hoàn cảnh quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sinh sẽ đạt đến khi đã diệt trừ được những nỗi khổ và những nguyên nhân của đau khổ Đây là “tham ái diệt, khổ diệt, niết bàn” [63, 261]

Ðạo đế (Magga): là “thông suốt” [48, 6703] những phương pháp để diệt

khổ Ðó là chân lý chỉ rõ con đường quyết định đi đến cảnh giới Niết Bàn Nói một cách giản dị, đó là những phương pháp tu hành để diệt khổ và đạt hạnh phúc [63, 331]

Về phương pháp diệt khổ, Phật giáo đưa ra nhiều phương pháp để tu tập như tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần

và bát chánh đạo Chúng ta chỉ đề cập đến bát chánh đạo vì đây là con đường hành trì, pháp môn chính

Chánh kiến hay Chánh tri kiến: thấy, nghe, hay biết một cách ngay thẳng,

công minh, đúng với sự thật khách quan Trong Kinh trung bộ III, có định nghĩa: “Biết được chánh kiến là chánh kiến và tà kiến là tà kiến; biết được chánh ngữ và tà ngữ; biết được chánh nghiệp và tà nghiệp; biết được chánh mạng và tà mạng; biết được chánh tinh tấn và tà tinh tấn; biết được chánh niệm và tà niệm; biết được chánh định và tà định” [32, 206 – 208]

Chánh tư duy: là suy nghĩ, nghiệm xét, nó thuộc về ý thức, là suy nghĩ

đúng với lẽ phải

Chánh ngữ: Ngữ là lời nói; Chánh ngữ là lời nói chân thật, công bình,

ngay thẳng và hợp lý

Chánh nghiệp: là hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù

hợp với chân lý, có lợi ích cho người lẫn vật

Trang 38

Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống Chánh mạng là sinh sống một

cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện, trong sạch của mình

Chánh tinh tấn: là chuyên cần, siêng năng làm việc chánh nghĩa, lợi lạc

cho mình cũng như cho người và vật

Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ Chánh niệm là ghi nhớ đến những điều

hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình cho người, những đạo lý chân chính quý trọng cao siêu Chánh niệm có hai phần: Chánh ức niệm: là nghĩ nhớ đến các điều lỗi lầm để thành tâm sám hối, và nghĩ nhớ đến Tứ trọng ân: ân cha

mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sinh và ân Tam Bảo để báo đền Chánh quán niệm:

là dùng tâm từ bi nghĩ cuộc đời là khổ não, bệnh tật, mê mờ mà chúng sinh đang mắc phải, để mở rộng lòng thương yêu và ra tay cứu độ

Chánh định: Chánh định là tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính

đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình và người

Bát Chánh đạo là pháp môn rất được thông dụng Sự thông dụng này sở

dĩ có được là nhờ lợi ích thiết thực của nó đối với đời sống cá nhân của người

tu hành, đối với xã hội

Tóm lại, thấy rõ được mọi nỗi khổ đau, ta cần tìm hiểu vì đâu có khổ, nguyên nhân của khổ Vì chỉ khi nhận thấy được nguồn gốc của nó, mới có thể diệt trừ tận gốc Nhưng thấy được mọi nỗi đau khổ của cõi đời và nguồn gốc của nó, không phải để chán ngán, như thế là tiêu cực, bi quan Phật Thích

Ca đã làm đầy đủ nhiệm vụ của người dẫn đường cho chúng ta đi từ cõi đời đen tối đến quả vị A La Hán Ngài đã đặt vào tay chúng ta một bản đồ chỉ dẫn

rõ ràng về cuộc hành trình và đưa ra phương pháp để tu tập, việc còn lại là tùy vào năng lực của mỗi người

Niết bàn (Sancirt: Nirvàna, Pàli: Nibbàna, Hán: diệt, tịch diệt, diệt độ):

“cảnh giới hoàn toàn giác ngộ, cảnh giới này vượt ra ngoài sinh tử (mê giới)

Trang 39

cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo” Còn được hiểu “chỉ sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt, chỉ lửa phiền não thiêu đốt đã bị thổi

tắt là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ” [48, 3960] Theo quan điểm của Tiểu thừa

Niết bàn: “trạng thái diệt hết phiền não Đại thừa: “xa lìa tướng trạng thái sai

biệt của hết thảy các pháp” [48, 3960 – 3961]

Hòa thượng Thích Chơn Thiện viết: “không thể nói Niết bàn là gì, mà cũng không thể nói Niết bàn không là gì Chỉ có thể tạm thời đề cập đến Niết bàn bằng thái độ phủ định gián tiếp, bằng các định nghĩa được trích dẫn, hoặc bằng các từ tương đương, không thực sự cắt nghĩa gì cả như từ “tuyệt đối”, “bất tử’, “vô sinh” [63, 60] Do đó, nói về trạng thái Niết bàn không thể dùng từ ngữ để diễn tả được

vì mọi từ ngữ đều trở nên thừa chỉ khi nào đạt đến trạng thái đó mới cảm nhận được Đây còn có nghĩa là dập tắt tham, sân, si trỗi dậy trong lòng của mỗi người

Vì “Không lửa nào bằng lửa tham dục, không ác nào bằng ác sân hận, không khổ nào bằng khổ ngũ uẩn, không vui nào bằng vui Niết bàn” [33, 49] Cho nên, Niết bàn là an lạc, hạnh phúc tối thượng, là trạng thái tinh thần, đạo đức do sự từ bỏ tất

cả mọi luyến ái thế gian bên ngoài

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

1.2.1 Một số khái niệm của đạo đức Phật giáo

1.2.1.1 Một số quan niệm về đạo đức học và đạo đức Phật giáo

Đạo đức học (Ethica) và đạo đức (Moranlity) Ethica từ tiếng Hy Lạp cổ

Ethos có nghĩa là truyền thống, phong tục, đặc tính, loại hình tư tưởng Các

nhà tư tưởng cổ Hy Lạp dùng từ Ethos để nói về đặc điểm đã được hình thành bền vững ở con người hoặc các hiện tượng xã hội Moranlity có nghĩa như

những luân lý của con người sống trong một xã hội cụ thể [48, 1621]

Đạo đức là yếu tố của kiến trúc thượng tầng, được đề cập rất sớm trong lịch sử nhân loại xuất hiện trong xã hội Cộng sản nguyên thuỷ biểu

Trang 40

hiện dưới những hình thức hết sức sơ khai là những quy định trong việc săn bắn, những yêu cầu trong việc tương trợ, đoàn kết cộng đồng

Ở Hy Lạp cổ đại – khởi nguồn triết học phương Tây khoảng 500 (Tr.CN) xuất hiện nhiều triết gia như Socrate, Platon, Aristote đã đưa ra những quan niệm về đạo đức

Socrate (469 - 396 Tr.CN) người đầu tiên đặt nền móng cho đạo đức học, phát biểu “một nền đạo đức không thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ, ta

có thể tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc vào thần học, hoàn toàn thích hợp với con người có tôn giáo, cũng như không tôn giáo, thì xã hội ổn định” [14, 18]

Platon (427 – 347 Tr.CN) cho rằng “mỗi cá nhân là một sự phối hợp của các ước muốn, các tình cảm và ý nghĩ Nếu các yếu tố ấy được điều hoà thì cá nhân sẽ tồn tại và thành công…tất cả sự xấu xa trên đời này là do sự thiếu hoà điệu giữa con người và vũ trụ, giữa con người với con người, giữa các yếu tố trong tâm hồn của mỗi con người [14, 60]

Aristote (384 - 322 Tr.CN) thuyết "trung dung" biểu tả quan niệm đạo đức: Đạo đức học tùy thuộc vào sự suy luận chính xác, sự kiểm soát tinh thần, sự bình quân của lòng ham muốn Đó không phải là đức tính của những người thường mà là kết quả của sự tập luyện và kinh nghiệm trong những người hoàn toàn trưởng thành Con đường đi đến mục đích đó là ý niệm trung dung Mỗi một tính có thể xếp thành ba loại: Loại đầu và loại chót là những đặc tính quá khích, chỉ loại giữa mới là đạo đức Tính can đảm thuộc về loại giữa, nghĩa là đạo đức [14, 60]

Như vậy, xây dựng lối sống có đạo đức được quan tâm rất sớm, những quan điểm trên đã thể hiện sự quan tâm đến con người, nhu cầu về đời sống tinh thần và đi tìm hạnh phúc đích thực cho con người

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Thân Ngọc Anh, Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và đạo đức ở Sài Gòn, http://www.chuahoangphap.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và đạo đức ở Sài Gòn
[2]. Ph. Ănghen (1984), Chống Duyrinh, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Duyrinh
Tác giả: Ph. Ănghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1984
[3]. Bộ giáo dục và đào tạo (1999), Giáo trình đạo đức học Mac – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học Mac – Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
[4]. Thích Minh Châu (giới thiệu) nhiều tác giả (1995), Đạo đức học Phật giáo, Viện nghiên cứu Phật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học Phật giáo
Tác giả: Thích Minh Châu (giới thiệu) nhiều tác giả
Năm: 1995
[5]. Thích Minh Châu (2002), Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người
Tác giả: Thích Minh Châu
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2002
[6]. Thích Minh Châu (2005), Phật giáo nhà đại giáo dục, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo nhà đại giáo dục
Tác giả: Thích Minh Châu
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2005
[7]. Doãn Chính (1997), Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[8]. Doãn Chính (2004), Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[9]. Doãn Chính (2005), Triết lý phương Đông giá trị và bài học lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phương Đông giá trị và bài học lịch sử
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[10]. Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình (1998), Đại cương triết học phương Đông cổ đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học phương Đông cổ đại
Tác giả: Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
[11]. Doãn Chính, Vũ Quang Hà, Nguyễn Anh Thường (2001), Veda – Upanishad – Những triết lý tôn giáo Ấn Độ cổ đại, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Veda – Upanishad – Những triết lý tôn giáo Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Doãn Chính, Vũ Quang Hà, Nguyễn Anh Thường
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[12]. Đoàn Trung Còn (1997), Từ điển Phật học tập 1, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Phật học tập 1
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
[13]. W. Durant (1996), Lịch sử văn minh Ấn Độ (Nguyễn Hiến Lê dịch), Nxb. văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh Ấn Độ
Tác giả: W. Durant
Nhà XB: Nxb. văn hóa Hà Nội
Năm: 1996
[14]. W. Durant (1971), Câu chuyện triết học (Bửu Dích dịch), Đại học Vạn Hạnh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện triết học
Tác giả: W. Durant
Năm: 1971
[15]. Lê Quý Đức (1996), Mấy vấn đề xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay
Tác giả: Lê Quý Đức
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[75]. Văn kiện Hội nghị lần IV, Ban chấp hành TW Đảng khóa VII (1993), về công tác thanh niên trong thời kỳ mới,http://www.cpv.org.vn/cpv/#kdQCQ8d4uqTU Link
[76]. Văn kiện Hội nghị lần V - Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII, Định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, http://www.cpv.org.vn/cpv/#kdQCQ8d4uqTU Link
[77]. Văn kiện Hội nghị lần V, Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, http://www.cpv.org.vn/cpv/#kdQCQ8d4uqTU Link
[79]. Văn kiện Hội nghị - Nghị quyết hội nghị lần VII, Ban chấp hành TW Đảng khóa IX (2003), về công tác tôn giáo,http://www.cpv.org.vn/cpv/#kdQCQ8d4uqTU Link
[82]. Văn kiện Đại hội Đoàn thành niên cộng sản Hồ Chí Minh, thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh, http://www.cpv.org.vn/cpv/#kdQCQ8d4uqTU Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w