1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điển cố trong thơ văn nguyễn trãi

155 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điển cố trong thơ văn Nguyễn Trãi
Tác giả Phan Trần Cát Lai
Người hướng dẫn TS. Đoàn Ánh Loan
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 14,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1:..................................................................................................................................9 (12)
    • 1.1. Khái lược lý thuyết điển cố (10)
      • 1.1.1. Định nghĩa (10)
      • 1.1.2. Phân loại điển cố (10)
      • 1.1.3. Tính chất của điển cố (10)
      • 1.1.4. Đặc tính của điển cố trong văn học cổ (10)
    • 1.2. Quá trình sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi (17)
      • 1.2.1. Sự phát triển của văn học chữ Hán thế kỷ XV (10)
    • 1.3. Mục đích sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi (32)
      • 1.3.1 Dùng điển cố để bộc lộ chí hướng, tư tưởng (32)
  • CHƯƠNG 2:................................................................................................................................ 36 (39)
    • 2.1. Điển cố âm Hán Việt (11)
    • 3.1. Điển cố âm Hán Việt (11)
      • 3.1.1. Điển cố âm Hán Việt trong Ức Trai thi tập (109)
      • 3.1.2. Điển cố Hán Việt trong Bình ngô đại cáo và các cáo, chiếu biểu (11)
      • 3.1.3. Điển cố Hán Việt trong Quốc âm thi tập (11)
    • 3.2. Điển cố âm thuần Việt (11)
      • 3.2.1. Điển cố âm thuần Việt được vay mượn từ thi liệu Hán học (128)
      • 3.2.2. Điển cố được vay mượn từ ca dao, tục ngữ Việt Nam (133)
    • 3.3. Điển cố âm bán Việt hoá (11)
  • Phụ lục (11)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (151)

Nội dung

Những trước tác và sáng tác của Nguyễn Trãi: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Lam Sơn thực lục, Chí Linh phú, Dư địa chí, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập… đã trở thành đối tư

Trang 1

MÃ SỐ: 602234

TP.HCM, Tháng 6 Năm 2010

Trang 2

MÃ SỐ: 602234

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS ĐOÀN ÁNH LOAN

TP.HCM, Tháng 6 Năm 2010

Trang 3

CHƯƠNG 1: 9

QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG THỜI ĐẠI 9

NGUYỄN TRÃI (THẾ KỶ XV) 9

1.1 Khái lược lý thuyết điển cố 9

1.1.1 Định nghĩa 9

1.1.2 Phân loại điển cố 10

1.1.3 Tính chất của điển cố 11

1.1.4 Đặc tính của điển cố trong văn học cổ 12

1.2 Quá trình sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi 14

1.2.1 Sự phát triển của văn học chữ Hán thế kỷ XV 15

1.3 Mục đích sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi 29

1.3.1 Dùng điển cố để bộc lộ chí hướng, tư tưởng 29

CHƯƠNG 2: 36

KHẢO SÁT, CHÚ GIẢI VÀ PHÂN LOẠI ĐIỂN CỐ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI 36

2.1 Điển cố âm Hán Việt 36

3.1 Điển cố âm Hán Việt 105

3.1.1 Điển cố âm Hán Việt trong Ức Trai thi tập 106

3.1.2 Điển cố Hán Việt trong Bình ngô đại cáo và các cáo, chiếu biểu 112

3.1.3 Điển cố Hán Việt trong Quốc âm thi tập 119

3.2 Điển cố âm thuần Việt 124

3.2.1 Điển cố âm thuần Việt được vay mượn từ thi liệu Hán học 125

3.2.2 Điển cố được vay mượn từ ca dao, tục ngữ Việt Nam 130

3.3 Điển cố âm bán Việt hoá 132

TIỂU KẾT 135

Phụ lục 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

Trang 4

DẪN NHẬP

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố là một nét đặc thù trong văn học cổ Việt Nam Sử dụng điển cố là một biện pháp tu từ cần thiết và phổ biến trong văn học cổ Hầu hết trong các thể loại văn học cổ hoặc ít hoặc nhiều đều có sử dụng điển cố Việc lấy những truyện xưa tích cũ trong các kinh điển để giãi bày những tư tưởng, tâm sự thầm kín, cốt là cho lời thơ thêm phần trang trọng, chữ dùng ít mà ý nghĩa cao xa Một điển cố có thể gợi cho người đọc cả một câu chuyện, một bài học, một quan niệm về cuộc sống Điển cố làm cho sự biểu đạt thêm phần ý nhị, sâu sắc, ngắn gọn, súc tích và nhờ tác dụng gợi ý liên tưởng sẽ mang lại sự thú vị, đậm đà hơn trong việc cảm nhận tác phẩm Do đó, để có thể hiểu một tác phẩm văn học cổ một cách sâu sắc cần phải hiểu được vai trò và ý nghĩa của điển cố

Nguyễn Trãi là một ngôi sao sáng trên văn đàn Việt Nam thế kỷ XV Những

trước tác và sáng tác của Nguyễn Trãi: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập,

Lam Sơn thực lục, Chí Linh phú, Dư địa chí, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập… đã

trở thành đối tượng cho nhiều ngành nghiên cứu như: văn học, văn hóa, chính trị, tư tưởng… Cũng như các tác giả Việt Nam thời trung đại, Nguyễn Trãi đã vận dụng rất nhiều điển cố trong tác phẩm, chính vì điển cố mang đầy đủ những đặc điểm phù hợp với quan niệm thẩm mỹ và tư duy sâu sắc của dân tộc Việt Nam Nguyễn Trãi mang vào những tác phẩm của ông tinh hoa văn hóa Việt lẫn tinh hoa của tư tưởng Nho giáo nên lối dùng điển cố vừa đa dạng vừa tinh tế, xác đáng Qua lối dùng điển

cố độc đáo của Nguyễn Trãi ta có thể thấy được ý chí, khát vọng và lý tưởng của đại thi hào đối với dân với nước

Kế thừa những thành tựu lớn các công trình nghiên cứu trước và trên tinh thần muốn được hiểu biết sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm, và hình tượng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trãi, người viết luận văn muốn khảo sát, lý giải và tìm ra những giá trị thẩm mỹ về việc vận dụng điển cố trong thơ văn của Nguyễn Trãi Từ đó một lần nữa khẳng định lại vai trò và ý nghĩa đặc sắc của điển cố trong văn học cổ Việt

Trang 5

Nam, điển hình là văn thơ Nguyễn Trãi Với suy nghĩ trên, chúng tôi chọn đề tài:

Điển cố trong thơ văn Nguyễn Trãi để thực hiện luận văn cao học của mình

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Điển cố

- Nghệ thuật sử dụng điển cố

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là khảo sát, chú giải và tìm ra giá trị thẩm

mỹ từ phong cách sử dụng điển cố trong văn thơ Nguyễn Trãi Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế và cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhiều lĩnh vực đối với thơ văn Nguyễn Trãi nên chúng tôi chỉ tìm hiểu nghệ thuật sử dụng điển cố

đối với những tác phẩm tập trung nhiều điển cố như: Ức Trai thi tập (thơ chữ Hán),

Quốc Âm thi tập (thơ chữ Nôm), Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Chí Linh sơn phú (văn loại)

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Từ khi chữ quốc ngữ xuất hiện, việc tiếp nhận văn thơ chữ Hán và lý giải được các điển cố trở nên khó khăn nhất là đối với người đọc hiện đại nhất là người đọc bình dân Để phần nào giúp người đọc hiểu được ý nghĩa điển cố đã có một số từ

điển điển cố như Từ điển thành ngữ điển tích (Diệu Hương, Nhà sách khai trí, 1954), Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (Trịnh Vân Thanh, 1966) Sau đó,

dần dần xuất hiện các từ điển giải thích các ý nghĩa điển cố một cách ngắn gọn như

Điển cố văn học (Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb KHXH, H., 1977), Tầm nguyên

từ điển (Bửu Kế, Nhà sách Khai Trí, 1968); hoặc có một số công trình dịch lại từ

thành ngữ điển cố Trung Quốc như Thành ngữ điển cố Trung Quốc của Lê Huy

Tiêu dịch, Nxb KHXH, H., 1993 Về sau thì có sự nghiên cứu về điển tích trong

một tác phẩm riêng như Từ điển truyện Kiều, Đào Duy Anh, Nxb KHXH, H.,

1974… Nhưng nhìn chung chỉ nghiên cứu về điển cố trong giới hạn chú giải hoặc làm từ điển và vẫn còn một số điển cố chưa được nhận ra để đưa vào từ điển

Trang 6

Tuy nhiên, từ đây cũng bắt đầu xuất hiện những bài viết đáng chú ý trong các bài viết trong tạp chí văn học, sách nghiên cứu văn học… khi bàn về điển cố

Trong Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính khi bàn về Luận về phép làm văn

(1918) có đề cập đến ý nghĩa của phép dùng điển: “Dụng điển là tìm những điển tích cũ, có điều gì việc gì liên can đến đầu bài thì dùng mà đặt câu tức là viện chứng

mà tỏ ra sự thực Vả làm văn chương, tất phải dùng điển tích thì đặt câu mới gọn gàng tròn trặn mà lại được nhiều nghĩa ”

Trong Việc dùng điển trong văn thơ trên Tạp chí văn học số 2, tháng 6-1932,

Dương Quảng Hàm cho rằng khi người đọc đã dần quen với chữ quốc ngữ thì việc dùng điển cố trong sử truyện, văn thơ cổ của Trung Hoa là không còn phù hợp Ông cho rằng nên duy trì việc dùng điển cố từ nguồn văn liệu của dân tộc nhằm phát huy cái đẹp của văn học nước nhà và để chứng minh rằng văn chương nước mình cũng

có rất nhiều điển cố

Trong Việt Nam văn học sử yếu, chương thứ mười bảy, Tính cách chính của

tác phẩm về văn chương: Các điển cố, Dương Quảng Hàm đã nói đến điển cố một

cách cụ thể và khoa học Ông tách cách dùng điển cố ra làm hai phép: một là dùng điển, hai là lấy chữ Trong “cách dùng điển” ông nói điển cố là một từ hoặc một câu

mà ám chỉ đến một việc cũ, một tích xưa khiến người đọc phải nhớ đến việc ấy, tích

ấy mới hiểu được ý nghĩa và lý thú của câu văn, câu thơ Các điển cố được lấy từ trong sử truyện, chuyện cổ tích, truyện thần tiên, tiểu thuyết v v…Trong “cách lấy chữ”, ông nói: “Lấy chữ là mượn một vài chữ trong câu thơ và câu văn cổ để đặt vào câu văn của mình, khiến cho người đọc câu thơ hoặc câu văn kia mới hiểu được

ý mình muốn nói” Ngoài ra ông còn nói đến công dụng của việc dùng điển, lấy chữ trong văn chương như: “làm cho câu văn gọn gàng, ít chữ mà nhiều ý; lời văn đậm

đà lý thú, kín đáo; lời văn trở nên trang nhã; là chứng cớ trong văn chương”

Một nghiên cứu đáng chú ý là Luận văn thạc sĩ của Mã Thị Huỳnh Điểu (1973)

bàn về Văn chương chữ Hán, nghệ thuật dùng điển cố thơ văn chữ Hán và nghệ

thuật diễn tả Đoạn trường Tân Thanh

Trang 7

Trên Tạp chí văn học có một số bài viết góp ý về những ưu điểm và khuyết điểm nhằm xây dựng một cuốn từ điển điển cố chính xác và mang ý nghĩa phục vụ

lớn cho việc tìm hiểu về điển cố như: Một vài ý kiến về cuốn “Điển cố văn học” (Trọng Lai – Văn Quang, TCVH SỐ 5.1979, tr138 141) và Góp ý về cuốn “Điển cố

văn học” (Vũ Ngọc Khánh – Lê Văn Uông, TCVH số 5.1979, tr 133 – 137)

Cơ sở ngữ văn Hán Nôm, trong phần Một số biện pháp tu từ chủ yếu thường

dùng trong các bản Hán văn cổ ở Việt Nam, tác giả đã phân biệt thành hai biện

pháp tu từ: sử dụng điển cố và dẫn kinh truyện Tác giả đã cho rằng: “dùng điển cố

là rút gọn “chuyện cũ người xưa” thành đôi ba chữ để đưa vào thơ mình Từ đó, tác giả đã dẫn ra các ví dụ sử dụng điển cố qua một số thể loại văn học và bên cạnh những điển cố có nguồn gốc từ kinh, sử truyện, tác giả cũng nói đến những điển cố

có nguồn gốc từ ca dao tục ngữ Việt Nam Đối với viện dẫn kinh truyện, tác giả cho rằng các nho sĩ thường viện dẫn lời lẽ “thánh hiền” trong “kinh truyện” để tăng thêm tính thuyết phục cho văn thơ của mình Trên cơ sở đó, tác giả đã nhận xét sử dụng điển cố và viện dẫn kinh truyện là hai biện pháp tu từ được các tác gia xưa sử dụng một cách phổ biến và đã tạo nên những nét độc đáo trong các văn bản Hán văn

cổ Có thể nói đây là phần trình bày về những đặc điểm của điển cố khá đầy đủ và

có hệ thống so với các bài viết trước đây

Lã Nhâm Thìn trong Tính lặp lại trong văn học dân gian và vấn đề tập cổ

trong văn học viết (Tạp chí văn học, số 1.1991) đã cho rằng dùng điển cố không hẳn

là tập cổ, “là tập cổ khi dùng điển hay không dùng điển có trích lời hoặc ý, có sử dụng cách nói hoặc cách dùng hình ảnh của người xưa”

Nguyễn Ngọc San trong Tìm hiểu giá trị và cấu trúc của điển cố trong tác

phẩm Nôm trên tạp chí văn học số 2.1992 đã có cái nhìn khoa học hơn trong việc

phân biệt đâu là điển cố đâu chỉ là một từ ngữ khó nhằm nhận dạng điển cố một cách chính xác hơn Tác giả cho rằng điển cố bao giờ cũng có hai cấp độ nghĩa: tính lịch sử cụ thể và tính biểu trưng hay phong cách học Bên cạnh đó, tác giả còn chia điển cố thành hai loại dụng điển và dẫn kinh Loại dụng điển được cấu tạo bằng cách rút ra từ sự vật hay sự việc cốt lõi của câu chuyện; nhân vật có tính cách, phẩm chất điển hình; địa danh Loại dẫn kinh là từ trong các sách kinh điển, trong các câu

Trang 8

nói nổi tiếng của người xưa lấy trọn một ý, một đoản ngữ trong nguyên văn; cắt một vài chữ đầu hay chữ cuối của câu văn; lựa một vài từ trong câu nói của kinh truyện cấu tạo lại theo cách riêng Tác giả còn cho rằng trong các tác phẩm Hán văn điển

cố được viết theo trật tự cú pháp tiếng Hán hoặc dịch điển sang quốc âm

Nguyễn Thúy Hồng trên Tạp chí Hán Nôm số 2.1995 với bài Thi liệu Hán học

trong văn bản thơ Nôm cho rằng thi liệu Hán học được khai thác ở ba cấp độ: thứ

nhất là chuyển dịch một câu thơ, một đoạn thơ Hán đưa vào sáng tác thơ Nôm Đây

là những câu thơ vốn mang giá trị ổn định, dùng sao cho nội dung biểu đạt của câu thơ khớp với nội dung sáng tác của mình Lúc này câu thơ đã mang một sắc thái mới phù hợp với sự cảm thụ đời sống và tâm hồn của người Việt; Thứ hai là khai thác thi liệu Hán theo cách chỉ mượn từ ngữ Khi có sự liên tưởng giữa nội dung văn bản Nôm diễn tả với nội dung của bài thơ Đường xưa thì cách khai thác này sẽ làm cho ý thơ Nôm hàm xúc và sâu sắc hơn Thứ ba là vay mượn ý tứ, hình ảnh thơ

ca Hán Sự vay mượn được thực hiện ở mức độ cao và tinh tế Bài thơ xưa và bài thơ nay đồng cảm cùng nhau và như hòa vào nhau chứ không lặp lại ngôn ngữ

Với bài viết Việc sử dụng điển cố Hán học trong Chinh phụ ngâm nguyên tác

và bản dịch hiện hành (tạp chí Văn học số 1.1997, tr 44-47), Nguyễn Thúy Hồng đã

cho rằng sử dụng điển cố Hán học là một trong những biện pháp “mỹ từ” có tính đặc thù và thể hiện khuynh hướng điền nhã trong thao tác lựa chọn ngôn ngữ của các thi sĩ trung đại Việt Nam Tác giả đã cho thấy sự chênh lệch số lượng điển cố

giữa bản nguyên tác Hán Văn và bản dịch hiện hành Trong Chinh phụ ngâm, trên

cơ sở đối từ, đối ý chặt chẽ của thể thơ, Đặng Trần Côn sử dụng điển cố một cách linh hoạt, chủ động, thích hợp với tình cảm tâm lý của nhân vật và với bản dịch điển

cố đã trở thành các tín hiệu thẫm mỹ, khơi dậy sự liên tưởng cho người đọc Từ đó thấy được khả năng Việt hóa các yếu tố ngôn ngữ Hán học một cách chủ động sáng tạo của ông cha ta, làm cho ngôn ngữ thêm phong phú và giàu khả năng biểu đạt Gần đây nhất luận án Tiến sĩ của Đoàn Ánh Loan đã tập trung khảo sát một cách có hệ thống lịch sử, quan niệm triết học, thẩm mỹ Phương Đông và một số đặc điểm của điển cố trong văn học nói chung, từ đó làm cơ sở nhận xét và lý giải nghệ thuật sử dụng điển cố trong văn học cổ Việt Nam, cụ thể là trong truyện thơ và

Trang 9

ngâm khúc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Qua đó nhận ra được vai trò và ý nghĩa của điển cố trong tác phẩm văn học cổ Có thể nói, luận án đã cung cấp một kiến thức tổng quát và đầy đủ về điển cố trong văn học phương Đông nhất là văn học Việt Nam và Trung Hoa thời cổ đại, trên cơ sở phân tích nguồn gốc,

sự hình thành, phát triển, suy tàn cũng như tính chất, vai trò của điển cố trong lịch

sử văn học

Thơ văn Nguyễn Trãi là nguồn cảm hứng vô cùng cho các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đã có rất nhiều bài viết cũng như nhiều công trình nghiên cứu đạt được thành công và đem lại giá trị hết sức lớn lao, đặc biệt là đối với

nền văn học dân tộc như bài viết của Đỗ Văn Hỷ, Một vài ý kiến về việc dịch nghĩa,

phiên âm và chú thích Nguyễn trong hai tập thơ: thơ chữ Hán Trãi và Quốc âm thi tập, đăng trên tạp chí văn học số 2.1971, tr 49 – tr 68; Trần Thị Băng Thanh, Ức Trai thi tập và thơ chữ Hán đời Trần, Tạp chí văn học số 4.1980, tr 24- tr31 hay

luận án tiến sĩ ngữ văn (2007) của Phạm Thị Phương Thái, Ngôn ngữ và thể thơ

trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hà nội; Hoàng Thị Thu Thủy với Luận án

tiến sĩ (2002), Thi Pháp thơ Nôm Nguyễn Trãi, TPHCM, 194 tr… Và còn rất nhiều

bài nghiên cứu giá trị nữa không chỉ ở lĩnh vực văn học mà còn ở các lĩnh vực khác như văn hóa, lịch sử, chính trị, ngôn ngữ…

Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào riêng biệt về điển cố trong tác

phẩm của Nguyễn Trãi

Trên cơ sở những thành tựu trong nghiên cứu về thơ Nguyễn Trãi của những người đi trước, chúng tôi tập trung khảo sát điển cố, phân loại nguồn gốc và tìm hiểu giá trị thẩm mỹ trong việc sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thống kê: nhằm thống kê các điển cố trong văn thơ của Nguyễn Trãi, từ đó làm cơ sở để tìm hiểu giá trị thẩm mỹ trong việc sử dụng điển cố

- Phương pháp đối chiếu, so sánh: nhằm đối chiếu, so sánh cách chú giải các điển cố để tìm ra cách chú giải chính xác nhất

Trang 10

- Phương pháp phân tích: nhằm phân tích các luận điểm được đưa ra trong luận văn

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ TÍNH THỰC TIỄN ĐỀ TÀI

5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Qua việc khảo sát và chú giải ý nghĩa của điển cố tạo cơ sở để tiếp cận một cách sâu sắc hơn đối với thơ văn Nguyễn Trãi

- Nghiên cứu nghệ thuật sử dụng điển cố, khẳng định ý nghĩa và giá trị thẩm

mỹ của điển cố trong thơ văn Nguyễn Trãi

5.2 Tính thực tiễn của đề tài

- Luận án thành công sẽ góp phần cho việc tiếp cận một cách dễ dàng hơn đối với việc tìm hiểu văn thơ Nguyễn Trãi

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Luận văn gồm các phần:

Phần dẫn nhập

Phần nội dung chính:

CHƯƠNG 1: Quá trình sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi

1.1 Khái lược lý thuyết điển cố

1.1.1 Định nghĩa

1.1.2 Phân loại điển cố

1.1.3 Tính chất của điển cố

1.1.4 Đặc tính của điển cố trong văn học cổ

1.2 Quá trình sừ dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi (Thế kỷ XV) 1.2.1 Sự phát triển của văn học chữ Hán thế kỷ XV

1.2.2 Sự phát triển của văn học chữ Nôm thế kỷ XV

1.2.3 Mục đích sử dụng điển trong thời đại Nguyễn Trãi

Trang 11

CHƯƠNG 2: Khảo sát, chú giải và phân loại điển cố trong thơ văn Nguyễn Trãi

2.1 Điển cố âm Hán Việt

2.2 Điển cố âm thuần Việt

2.2.1 Điển cố âm thuần Việt được vay mượn và chuyển dịch từ thi liệu Hán học

2.2.2 Điển cố được mượn ý, lời từ ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam 2.3 Điển âm bán Việt hoá

CHƯƠNG 3: Tìm hiểu phong cách nghệ thuật và giá trị của điển cố trong thơ văn Nguyễn Trãi

3.1 Điển cố âm Hán Việt

3.1.1 Điển cố Hán Việt trong Ức Trai thi tập

3.1.2 Điển cố Hán Việt trong Bình ngô đại cáo và các cáo, chiếu biểu

3.1.3 Điển cố Hán Việt trong Quốc âm thi tập

3.2 Điển cố âm thuần Việt

3.2.1 Điển cố âm thuần Việt được vay mượn và chuyển dịch từ thi liệu Hán học

3.2.2 Điển cố được mượn ý , lời từ ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam 3.3 Điển cố âm bán Việt hoá

Kết luận

Phụ lục

Thư mục tài liệu tham khảo

Trang 12

古 代 故 事 和 有 来 历 出 处 的 词 语” (Trong văn thơ dẫn dụng các truyện cũ

thời cổ đại và các từ ngữ có nguồn gốc xuất xứ từ trước)

Lại Nguyên Ân và Bùi Trọng Cường trong Từ điển văn học Việt Nam từ

nguồn gốc đến thế kỷ XIX đã định nghĩa điển cố là thuật ngữ của giới nghiên cứu

nhằm mô tả một trong những đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng của văn học cổ và trung đại Trung Hoa Do những nguyên nhân khác nhau đã hình thành nên một tâm thế, một phong cách của những người làm văn đó là trong hành văn thường hay nhắc đến một sự tích xưa hoặc một vài câu thơ, câu văn cổ để diễn tả ý mình nhưng đây không phải là trích dẫn nguyên văn, mà là lối dùng vài chữ cốt gợi nhớ được điển tích cũ ấy, câu văn cổ ấy Lối này được gọi chung là cách dùng điển cố, bao gồm phép dùng điển và dùng chữ” [30, tr.73]

Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm có định nghĩa “Điển 典

(nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hoặc một câu có ám chỉ đến một việc cũ một tích xưa khiến cho người đọc sách phải nhớ đến việc ấy, sự tích ấy mới hiểu nghĩa và cái

lý thú của câu văn Dùng điển chữ nho gọi là dụng điển 用典 hoặc sử sự 使事(nghĩa đen là khiến việc) ý nói sai khiến đời xưa cho nó co thể ứng dụng vào bài văn của

Trang 13

mình” Các điển cố có thể ám chỉ đến các việc thực được chép từ sử, truyện, hoặc là những chuyện hoang đường, được chép từ truyện cổ tích, ngụ ngôn, có khi là một vài chữ từ câu văn, câu thơ cổ…

Như vậy, có thể định nghĩa một cách ngắn gọn: điển cố là những từ ngữ về chuyện xưa tích cũ, về những tư tưởng của người xưa qua các câu thơ văn cũ được tác giả sử dụng để diễn đạt ý tưởng của mình một cách ngắn gọn và sâu sắc

1.1.2 Phân loại điển cố

Thiên Sự loại trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp đã cho rằng điển cố

bao gồm hai loại: “擧 人事 以 征 義” (đưa sự việc của người ta để dẫn chứng ý nghĩa (tức là cố sự), “引 成 辭 以 明 理 ”(dẫn thành từ để làm sáng tỏ lý lẽ (tức là ngữ điển)

Theo Dương Quảng Hàm, việc dùng điển được tách làm hai phép: một là dùng điển, hai là lấy chữ Theo ông, dùng điển là một chữ hoặc một câu ám chỉ đến một việc cũ, một sự tích xưa để người đọc liên tưởng đến việc ấy, sự tích ấy mới hiểu được ý nghĩa và lý thú của câu văn Còn lấy chữ là mượn một vài chữ trong câu thơ và câu văn cổ để đặt vào câu văn của mình, khiến người đọc phải nhớ đến câu thơ, câu văn xưa mới hiểu được ý nghĩa tác giả muốn nói

Khi sử dụng điển cố vào tác phẩm, xét về nguồn gốc thì điển cố được chia thành hai loại: loại dụng điển và loại dẫn kinh Loại dùng điển dựa vào các câu truyện nổi tiếng mà cốt lõi của câu truyện được rút ra từ những địa danh, sự vật hay

sự việc mang tính biểu trưng, hay nhân vật có tính cách điển hình… Loại dẫn kinh thường lấy từ ngữ trong các sách kinh điển hay các câu nói nổi tiếng của người xưa như lấy trọn ý (một đoản ngữ trong nguyên văn), cắt một vài chữ trong câu văn trong sách hay lựa chọn một số từ nhưng cấu tạo lại theo một cách riêng… Như vậy

có thể dựa vào các nghiên cứu trên để phân điển cố thành hai loại:

 Từ hay nhóm từ được lấy ra từ những câu truyện trong kinh, sử, truyện các sách ngoại thư…

Trang 14

 Từ hay nhóm từ được mượn ý, lời từ câu thơ hặc bài thơ của người trước hoặc được trích từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao có tích truyện được lưu truyền phổ biến

1.1.3 Tính chất của điển cố

Điển cố được xem là một biện pháp tu từ đặc biệt, giúp các nhà văn, nhà thơ xây dựng một hình tượng nghệ thuật đặc biệt mang tính ước lệ, tượng trưng nhưng không kém phần sinh động Một điển cố luôn mang một nội dung lớn hơn nhiều có với sức hàm chứa của bản thân từ ngữ Ngoài mặt hiện thực, mặt biểu trưng của điển cố mang một giá trị quan trọng đối với ý nghĩa của tác phẩm Điển cố vừa mang nhiều hình ảnh cụ thể vừa thể hiện được tính khái quát cao Sự đa dạng của điển cố tùy thuộc vào khả năng vận dụng của mỗi người Điển cố được xem là phương thức đặc biệt xây dựng nên câu thơ câu văn và có mặt trong hầu hết trong các thể loại văn học

 Tính khái quát

Với điển cố, chỉ cần một vài từ, có khi chỉ một từ là đã mang đến cho người đọc một sự tích, một sự kiện lịch sử, một quan niệm nhân sinh với những hình ảnh sinh động và ý nghĩa sâu sắc Từ đó có thể nhận thấy tính khái quát là nét nổi bật trong phương thức thể hiện của điển cố

 Tính cô đọng, hàm súc

Trang 15

Sự độc đáo ở điển cố là tính cô đọng, hàm súc Chỉ một vài từ nhưng hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc Dùng điển khéo léo là ít chữ mà nhiều ý Số từ được hạn chế đến mức tối thiểu

 Tính đa dạng và linh động

Hình thức thể hiện của điển cố không cứng nhắc mà rất da dạng và linh động Điển cố có cùng ý nghĩa được nhiều người sử dụng với nhiều hình thức hay tuy cùng ý nghĩa nhưng được thay đổi một số từ vựng Cách thể hiện này đã tạo nên nhiều màu sắc và ý nghĩa cho điển cố

1.1.4 Đặc tính của điển cố trong văn học cổ

Cái tài của người dùng điển cố là làm sao để điển cố được hòa quyện vào câu văn câu thơ, linh hoạt biến đổi từ ngữ để người đọc không biết đến điển cố vẫn hiểu được ý nghĩa còn đối với những người am hiểu điển cố thì việc cảm nhận tác phẩm

sẽ thêm phần sâu sắc và toàn diện hơn

 Điển cố âm thuần Việt

Từ những điển cố vay mượn của Trung Quốc, các nhà thơ nhà văn dịch sang tiếng Việt Những điển này thường dễ hiểu và được phổ biến rộng rãi Các hình thức chuyển dịch sang âm thuần Việt được thực hiện một cách đa dạng và linh

động Có điển cố được dịch lại từ những thuật ngữ như chỉ hồng, chỉ đỏ dịch từ

“xích thằng” chỉ nhân duyên vợ chồng trời định hay mối duyên tốt đẹp trời xe; cày

ăn đào uống xuất phát từ “tạc ẩm canh thực” chỉ cuộc sống yên bình, thanh nhàn…

Đây là những điển cố được sử dụng rất thường xuyên và rộng rãi cho nên dù không biết xuất xứ hay nội dung câu chuyện của điển cố vẫn có thể hiểu được

Có điển được tác giả Việt Nam mượn ý, lời của câu thơ chữ Hán Hình thức này, dấu vết điển cố rất mờ nhạt, người đọc nếu không am tường thì rất khó mà nhận ra đâu là điển cố Câu chuyện của người xưa dường như đã hòa tan vào câu văn, câu thơ mới Ngôn ngữ không hề gặp lại chỉ đồng cảm với nhau về mặt ý nghĩa Khó mà nhận ra xuất xứ của điển cố nhưng cũng không gây khó khăn cho người đọc trong việc hiểu ra ý nghĩa của câu thơ, câu văn Đây chính là cái tài khéo léo của người sử dụng điển cố

Trang 16

Trong các tác phẩm Nôm, ca dao, tục ngữ của dân tộc được vận dụng làm điển cố trong văn thơ Tác giả đã mượn ý hay lời trong ca dao tục ngữ của ông cha

để diễn đạt tư tưởng của mình một cách khéo léo và tài tình Đây là một nét độc đáo riêng của văn thơ dân tộc Điều này làm phát triển thêm tiếng nói dân tộc và đem thơ văn gần gũi hơn với người đọc, đặc biệt là tầng lớp người đọc bình dân

Tuy nhiên, có một số trường hợp điển cố đã được dịch sang Tiếng Việt nhưng người đọc vẫn gặp khó khăn trong trong việc hiểu được ý nghĩa của điển cố

 Điển cố âm Hán Việt

Điển cố âm Hán Việt nói chung cũng mang một số lượng rất lớn và thường được dùng phổ biến cho các trường hợp là như tên địa danh, sông núi, tên riêng của nhân vật như: Lam Điền, Chương Đài, Đào Nguyên,Tràng An, Bá Nha, Chung Kỳ, Thúc Tề… Ngoài ra vẫn có một số điển cố đã được dùng quen thuộc, người đọc đã biết đến nội dung của điển cố cho nên không cần chuyển dịch sang âm thuần Việt:

tao khang, yêu đào, bố kinh,…

Đối với điển cố âm Hán Việt, muốn hiểu được ý nghĩa tác phẩm thì đỏi hỏi người đọc phải có một sự hiểu biết nhất định về ý nghĩa của điển cố Người không

am tường về điển cố sẽ gặp khó khăn trong việc tìm hiểu tác phẩm Dựa vào văn cảnh, người đọc vẫn có thể hiểu được một số điển cố cũng như ý nghĩa của tác phẩm nhưng lẽ dĩ nhiên là nếu hiểu được điển cố thì sẽ hiểu tác phẩm được sâu sắc

và toàn diện hơn

Nói chung việc dùng điển âm Hán Việt thường khó hiểu và khiến người đọc gặp khó khăn để hiểu được ý nghĩa tác phẩm Đặc biệt là đôi khi tác giả đã sử dụng một số điển cố không được phổ biến lại không được đặt trong một văn cảnh hay dù điển cố mang một nội dung quen thuộc nhưng lại mang một tên gọi cầu kỳ, khó hiểu cũng làm cho người đọc không thể hiểu được tác phẩm Cái tài của người dùng điển cố là nếu không hiểu được điển cố, người đọc vẫn có thể hiểu được nội dung tác phẩm, nếu biết được điển cố thì nhờ sự gợi ý, liên tưởng sẽ có thể hiểu được tác phẩm một cách sâu sắc với nhiều thi vị, đậm đà hơn

 Điển cố âm bán Việt hóa

Điển cố âm bán Việt hóa bao gồm một phần là tiếng Việt, một phần là Hán Việt như giấc mai, giấc hòe, nàng Ban, ả Tạ, cầu Lam… Tuy số lượng không nhiều

Trang 17

nhưng thấy được sự linh động, sáng tạo của các tác giả Việt Nam đưa những điển cố Hán Việt về gần với ngôn ngữ của dân tộc Điều này không những mang giá trị nghệ thuật cho thơ văn mà còn tạo nên sự da dạng trong giá trị ngôn ngữ của dân tộc, làm phong phú thêm tiếng Việt

Từ những điển cố Hán Việt, các tác giả Việt Nam làm cho điển cố mang những chức năng ngữ pháp như bộ phận Hán Việt làm định ngữ bổ nghĩa cho từ thuần Việt… Từ đây điển cố Hán Việt được hòa nhập vào ngôn ngữ chung và dường như yếu tố Thuần Việt đã làm giảm đi những khuôn khổ của điển cố Điển

cố được đưa vào thơ văn một cách tự nhiên, nhẹ nhàng hơn

Để hiểu được điển cố không phải là điều dễ dàng, nên nhờ bộ phận tiếng Việt trong điển cố sẽ làm rõ thêm ý nghĩa của điển cố, từ đó người đọc có thể đoán và hiểu ra ý nghĩa điển cố một cách dễ dàng hơn Đồng thời bộ phận tiếng Việt có tác dụng mạnh mẽ đến cảm xúc của người đọc trong việc tiếp nhận ý nghĩa điển cố

Quá trình sử dụng điển cố trong dòng văn học cổ Việt Nam gắn liền với quá trình sử dụng tiếng Hán của người Việt Các tác giả Việt Nam, trong đó có Nguyễn Trãi, đã sáng tạo theo cách riêng của mình trong việc đưa điển cố vào tác phẩm, tạo nên nét đặc trưng cho một thời kỳ văn học Qua quá trình tiếp nhận, các tác giả xưa

đã sáng tạo làm mới những tên gọi, phương thức thể hiện cho phù hợp với quan niệm thẩm mỹ của người Việt Hoàn cảnh lịch sử có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của văn học Do đó, việc sử dụng điển cố ở từng giai đoạn Văn học Việt Nam sẽ mang những nét đặc trưng riêng Cùng với nền văn học trước đó, các tác giả trong thời đại của Nguyễn Trãi rất thích sử dụng điển cố Điển cố được xem là một phương thức đặc biệt xây dựng câu thơ, câu văn một cách sinh dộng và súc tích

1.2 Quá trình sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi

Văn học Việt Nam thế kỷ XV đã phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nhưng đã đạt được những thành tựu về văn học chữ Hán cũng như đã tạo nên những cơ sở vững chắc cho văn học chữ Nôm Quá trình sử dụng điển cố đã chịu những tác động của sự phát triển văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc Trong thế kỷ

XV, nền văn học đã đi từ giai đoạn chưa Việt hóa đến giai đoạn Việt hóa, chữ Hán được người Việt sử dụng, biến đổi và sáng tạo thành chữ Nôm Một khi ngôn ngữ

Trang 18

được thay đổi thì điển cố cũng được sử dụng với những hình thức mới Ngoài hình thức âm Hán Việt ra, điển cố còn được sử dụng với hình thức âm thuần Việt và bán Việt hóa

1.2.1 Sự phát triển của văn học chữ Hán thế kỷ XV

Giai đoạn đầu của thế kỷ XV là thời kỳ đen tối của vận mệnh dân tộc Giặc Minh tàn hại bóc lột nhân dân ta một cách tàn bạo Nhân dân sống vô cùng lầm than khổ sở Ngoài việc đàn áp, giặc Minh còn phá hoại kho tàng văn hóa, văn học dân tộc Tư tưởng yêu nước và căm thù giặc in sâu trong lòng mọi tầng lớp nhân dân Sau những ngày tháng gian khổ chống quân Minh, nhân dân ta cũng giành được thắng lợi Tinh thần tự hào dân tộc và lòng yêu nước ở mọi tầng lớp càng nâng cao Những tư tưởng và tình cảm đó đã được thể hiện và phản ánh vào trong văn học Các tác giả đều có ý thức rõ ràng về vai trò của văn học trong quá trình kháng chiến

và bảo vệ đất nước Văn học được sử dụng như một vũ khí chiến đấu trên mặt trận

tư tưởng lấy nhân nghĩa là điều kiện tiên quyết

Các tác phẩm văn học thời kỳ này đã phản ánh cuộc đấu tranh gian khổ và ý chí sắt thép của dân tộc Tư tưởng chủ đạo của nền văn học nước ta trong giai đoạn này là tư tưởng yêu nước, nhân đạo, nhân văn Vì thế điển cố đã đi vào văn học nước ta cũng theo chiều tư tưởng đó Điển cố được sử dụng như một phương tiện hữu hiệu cho việc thể hiện tư tưởng và ý chí của dân tộc một cách sinh động và sâu sắc

Nền văn học chữ Hán trong giai đoạn này rất phát triển nên việc sử dụng nhiều điển cố âm Hán Việt là điều tất yếu Tuy nhiên, với chất liệu nước ngoài các tác giả xưa đã tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo để phù hợp với tư tưởng của người Việt Với lý tưởng của những người yêu nước các tác giả đã dùng ngòi bút của mình

để chiến đấu cho lợi ích của dân tộc và điển cố đã góp phần tạo nên hiệu quả tốt nhất trong việc thể hiện ý chí sắt thép và tư tưởng yêu nước sâu sắc của con người Việt Nam

Trong giai đoạn văn học đầu thế kỷ XV, nổi bật lên hàng đầu là Nguyễn Trãi với các tác phẩm thể hiện những nỗi niềm ưu tư trước những khó khăn của thời

Trang 19

cuộc và lý tưởng vì dân tộc Đọc Quân trung từ mệnh tập, người đọc sẽ nhận ra giá

trị chiến đấu của điển cố Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã trải qua những ngày tháng

vô cùng gian nan Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, và sự hỗ trợ của Nguyễn Trãi cùng với ý chí sắt thép của dân tộc nghĩa quân đã vượt qua được những ngày tháng khổ cực Tùy theo tình hình của cuộc khởi nghĩa, Nguyễn Trãi đã đưa ra những hành

động khôn khéo và lời lẽ mang tính thuyết phục cao Trong Thư dụ thành Bắc

Giang ông đã viết: “Nay các kế tốt cho các người không gì bằng ra ở ngoài thành,

cùng Thái đốc quân quyết định việc về để cứu vớt mấy nghìn tính mệnh trong thành Chúng ta đã xét việc đắc thất của cố nhân như Bạch Khởi nước Tần, Hạng

Võ nước Sở, giết kẻ đầu hàng, trái lời đã ước, chúng ta quyết không làm như thế đâu, các ngươi hãy cứ thư lòng, đừng nên ngờ vực mà thành hỏng việc” Lối dùng điển xác đáng, uyển chuyển Nguyễn Trãi đã thể hiện được ý chí và mục đích của ông qua nội dung của các bức thư trong tác phẩm Nguyễn Trãi đã nhắc lại điển cố

về Bạch Khởi, Hạng Võ làm bằng chứng về tội ác giết người đã xin hàng của quân địch trong lịch sử để nêu rõ sự rộng lượng và nhân đạo của quân ta

Cùng thời đại với Nguyễn Trãi còn có các tác giả khác như: Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn… Cũng như đại thi hào Nguyễn Trãi, các tác giả này đã đưa niềm

tự hào dân tộc, lòng ái quốc mãnh liệt và thể hiện phẩm chất cao quý của những nhà Nho sĩ yêu nước vào tác phẩm của họ

Thơ Lý Tử Tấn cũng như thơ Nguyễn Trãi, ngoài các tác phẩm tràn đầy tinh thần yêu nước, thương dân, còn có nhiều bài có nội dung triết lý thâm thúy về nhân

sinh, thế sự, nhất là về đạo lý “xuất - xử” của người trí thức đương thời Tạp hứn” là

một trong các tác phẩm loại đó Thơ Lý Tử Tấn mang nhiều thủ pháp nghệ thuật: có phú, có tỷ, có hứng, có tự sự, có trữ tình, có triết lý, có ngụ ngôn, và đặc biệt là sử dụng nhiều điển tích, điển cố Chẳng hạn như:

“Nhan, Mẫn nhất hà sấu, Nhan, Mẫn sao sao gầy thế,

Chích, Cược nhất hà phì Chích, Cược sao mà béo thế

Thi, Trường nhất hà diễm, Thi, Trường sao mà đẹp thế,

Trang 20

Diệm, Mẫu nhất hà xỉ Diêm, Mẫu sao mà xấu thế

Tùng bách thiên niên thọ, Cây tùng, cây bách sống đến ngàn tuổi’

Bồ liễu tiên thu phì Cây bồ, cây liễu tàn trước mùa thu

Đại tiểu tự bằng yến, Chim bằng, chim yến lớn bé khác nhau, Trường đoản các nga quy Con nga, con rùa dài ngắn khác nhau Tiêu dao thiên địa gian, Rong chơi giữa trời đất,

Sở hỷ thích hữ nghi Mừng vì gặp được cảnh thích nghi

Vạn sự chỉ như thử, Mọi việc đều như thế,

Nhân sinh hề phục nghi” (1) Người đời còn nghi ngờ chi?

Bài thơ sử dụng nhiều điển cố làm cho lời thơ vừa trong sáng giản dị, vừa có phong vị cổ nhã, Bài thơ mang tính triết lý sâu sắc về tư tưởng ẩn dật của nhà thơ Ông muốn nhấn mạnh, niềm vui của con người là biết thích nghi với hiện thực, sự

an bài của thế giới Một loạt các điển cố các nhân vật nổi tiếng trong sách xưa như Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Đạo Chích, Trang Cược, Tây Thi, Vương Tường, Chung Vô Diệm… được vận dụng chính xác, tự nhiên làm cho bài thơ thêm ý vị và

ý thơ thêm phần sâu sắc Đúng như quan điểm thi pháp ông đã từng nói: “Lời ý giản

dị đầy đủ, mạch lạc thông suốt, chất phác mà vẫn nhã, mới lạ mà không trúc trắc,

trung hậu nhưng không thô kệch, cao siêu mà vẫn ôn hòa” (Tựa sách Việt âm thi tập)

Nguyễn Mộng Tuân là một trong những danh sĩ tham gia trong hàng ngũ nghĩa quân Lê Lợi ngay từ buổi đầu chống giặc Minh xâm lược Giống như các bạn đồng liêu Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn , Nguyễn Mộng Tuân đã đem hết trí lực phục

vụ cho cuộc kháng chiến và triều đình nhà Lê Đã từng trải qua những gian nan cũng như sự anh dũng của nghĩa quân nên khí văn của Nguyễn Mộng Tuân rất hùng

mạnh với tất cả sự nhiệt tình của một người yêu nước Trong bài thơ chữ Hán Du hồ

ông đã viết lên quan điểm của mình:

“Hảo tương quốc luận tư thâm ý,

Hà tất Bồng, Doanh nhập mộng tư”

Trang 21

(Nên đem việc nước bàn bạc để giúp thêm ý tốt, Chẳng cần mơ mộng cảnh thần tiên)

(Đinh Gia Khánh dịch) Theo truyện thần tiên, người xưa cho rằng ở giữa biển có ba ngọn núi là Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu là những nơi rất đẹp đẽ thú vị và chỉ có thần tiên mới đến được Tác giả đã dùng điển này để nhấn mạnh việc trước tiên cần thực hiện là việc nước, còn những cảnh thần tiên đẹp đẽ kia thì chẳng cần phải nghĩ đến làm gì

Lối dùng điển nhẹ nhàng nhưng chúng ta đã thấy được ý chí của Nguyễn Mộng Tuân mong muốn được hết lòng giúp vua lo việc nước với những việc làm thiết thực và có nghĩa tích cực ở ngay cõi đời này Trong con người ông, luôn thể hiện một niềm tự hào về lịch sử dân tộc Ông cũng đã nhận ra và rất tâm đắc những đường lối và quan điểm của Nguyễn Trãi đã dẫn đến sự thắng lợi của nghĩa quân

Trong bài thơ chữ Hán Độc Lam Sơn thực lục hữu cảm ông ca ngợi rằng:

“Sưu la tuấn kiệt thu quần sách, Khôi thác phong cương kiến đại bang

Hữu nhãn cộng khan tân nhật nguyệt, Phục nhân bất dụng cố kim thang.”

(Tập hợp kẻ tuấn kiệt, thu nạp mưu lược của nhiều người,

Khôi phục và mở mang phong cương lập nên nước lớn

(Đọc Lam Sơn thực lục) cùng xem ngày tháng mới,

Muốn thắng người không cần có thành cao hào sâu)

(Đinh Gia Khánh dịch)

Truyện Khoái Thông trong Hán thư có câu: “Gia vi kim thành thang trì, bất

khả công dã” (Đều là thành bằng đồng hào nước sôi, không thể đánh được) để chỉ đến sự kiên cố Lối lấy chữ “kim thang” từ chữ “kim thành thang trì” hết sức khéo léo và ngắn gọn Sự tài tình của tác giả thể hiện ở việ điển cố đưa vào câu thơ

Trang 22

không thuận theo ý nghĩa nguyên điển Không cần có thành bằng đồng hay hào sâu chứa nước sôi nhưng sức mạnh chính là ở việc có được lòng người Chính nhờ vào đường lối “đánh vào lòng người” này đã đem lại thắng lợi cho dân tộc Điển cố đã làm cho tư tưởng tác giả được thể hiện một cách rõ ràng và đầy thuyết phục

Trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn… ít nhiều đều sử dụng điển cố Chúng ta thấy được ý chí của các tác giả được thể hiện một cách phóng khoáng qua việc sử dụng điển cố đồng thời thể hiện phẩm chất cao quý của những người trí thức yêu nước

Các tác giả nửa sau thế kỷ XV, tuy không còn ảnh hưởng khí thế hào hùng từ cuộc đấu tranh của dân tộc như trước nhưng luôn có ý thức làm chủ đất nước, vẫn giữ tinh thần yêu nước và nỗi niềm đối với nhân dân Lê Thánh Tông – một tác giả trong số đó – đã hiểu rõ tác dụng của văn học trong sự nghiệp xây dựng đất nước

Lê Thánh Tông đã viết nhiều tác phẩm và khuyến khích sáng tác, tạo nên một đội ngũ văn thân đông đảo như Nguyễn Trực, Thân Nhân Trung…

Có thể nói thơ văn của Lê Thánh Tông tiêu biểu cho văn học cung đình Các tác phẩm của ông đều ít nhiều thể hiện sự tự hào về sự bình trị của vương triều, ca ngợi một xã hội ổn định, mùa màng bội thu Lê Thánh Tông có sự hiểu biết phong

phú về cuộc sống nên đã viết nên những tác phẩm có giá trị Bài Tự thuật thi (Thơ

tự thuật) là tâm sự của Lê Thánh Tông khi ở đoạn cuối của cuộc đời mới đối diện với điều mà cả đời đi tìm – cái hiện hữu của cuộc sống Lê Thánh Tông cũng nuối tiếc, xót xa trước quy luật của tạo hóa

“Bích hán vọng cùng vân diểu diểu, Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du

Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn, Băng ngọc u hồn nhập mông vô.”

(Tầng biếc vô cùng mây thăm thẳm,

Kê vàng tỉnh giấc đêm mông lung

Bồng lai tiên cảnh ở đâu, âm dương rồi cách biệt,

Trang 23

Thân ngọc, hồn mê cũng chỉ là giấc mộng trần gian.)

Theo sách Chẩm trung ký: Đời Đường, Lư Sinh đến trọ ở Hàm Đan, gặp đạo

sĩ Lã Ông Lư Sinh than vãn về cảnh nghèo túng của mình Lã Ông đưa cho Lư Sinh một cái gối và bảo: “Gối lên đây, anh sẽ được vinh hiển như ý muốn” Lúc bấy giờ chủ quán đang nấu một nồi kê Lư Sinh nằm mộng thấy mình lấy vợ đẹp lại giàu, thi

đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức tiết độ sứ, đại phá quân giặc, làm tể tướng, con trai làm quan… Chợt tỉnh dậy nồi kê vẫn chưa chín Lư Sinh bàng hoàng hỏi: “Tôi nằm mộng sao?” Lã Ông cười bảo: “Việc đời thì cũng như mộng vậy thôi” Điển “hoàng lương mộng” được Lê Thánh Tông nhắc đến với tâm trạng của một con người bình thường, không còn ở ngôi vị Hoàng đế để nhận ra sự ngắn ngủi của cuộc đời, mọi công danh, phú quý chỉ hư ảo như một giấc mộng

Tuy nhiên, cũng có những tác phẩm điển cố được Lê Thánh Tông sử dụng

khá hiểm hóc nên cầu kỳ khó hiểu Trong bài Truyền Đăng sơn hạ có những câu thơ

sau:

“Tráng tâm sơ cảm Hàn tam cổ, Tín thủ dao đề Tốn nhị quyền

Thần bắc khu cơ sâm hổ lữ,

Hải đông phong toại tức lang yên.”

(Dù có chí lớn, chưa có điều kiện thi thố, thì vẫn phải theo người, ứng với quẻ Hàm’

Cốt vững lòng thành, lo việc chưa yên, truyền lệnh đến tận phương xa, ứng với quẻ Tốn

Quân tướng hùng mạnh chầu sao Bắc cực (về phía nhà vua),

Khói lửa chiến tranh đã lịm tắt ngoài biển Đông.) [48, tr 511]

Bài thơ ca ngợi một cuộc sống thái bình, không có binh đao Những người tài giỏi tận tụy phục vụ chế độ phong kiến cũng được khen ngợi “Hàm tam cổ” nghĩa

là hào tam quẻ Hàm trong Kinh Dịch, ý nói dù có chí lớn thì cũng nên kiên trì, mọi

việc thuận theo quy luật tự nhiên như đầu gối theo chân mà chuyển động “Tốn nhị

Trang 24

quyền” tức là hào nhị quẻ Tốn, ý nói mọi việc chưa hẳn yên ổn nhưng cần là phải có lòng thành tin tưởng Ý nghĩa của hai điển này khiến người đọc khó mà hiểu hết tư tưởng mà tác giả cần diễn đạt

Văn học nửa sau thế kỷ XV nói chung đã thể hiện rất rõ tính chất quan phương Điển cố sử dụng trong thơ văn cũng không nằm ngoài mục đích đó Trong

bài Xuân Đài phú của Nguyễn Trực có đoạn:

“Điềm lành rạng vẻ, Sao tốt sáng choang

Dân cư giàu có, Được bội mùa màng

Tưởng thấy những Cao, Quỳ, Tắc, Khiết,

Ở vào đời Đường, Ngu, Thành, Khang

Chắc hẳn đài xuân trong trời đất,

Có thể ví với đài vinh quang này vậy” [48, tr.484]

Nguyễn Trực đã sử dụng nhiều điển cố về các bề tôi giỏi và điển cố về các vua giỏi thời Nghiêu, Thuấn để ca ngợi cảnh thịnh trị của nước ta thời Lê Thái Tổ,

Lê Thái Tông Văn học đã đóng vai trò quan trọng trong việc nêu lên quan điểm chính thống của nhà nước phong kiến và xu hướng ca ngợi lẫn nhau của quan chức triều đình

Thân Nhân Trung trong bài phụng hoạ thơ Lê Thánh Tông “Bách cốc phong

đăng hiệp vu ca vịnh” viết rằng:

“Cách thiên đế đức diệu toàn năng, Hiệp ứng hưu trưng bách bốc đăng

Động chiếu nghiên si kim tác giám, Lạc văn dược thạch mộc tòng thẳng.”

(Đức thấu trời cho, đức vẹn toàn,

Trang 25

Điềm lành ứng hiện được mùa luôn

Dở, hay, soi chiếu: ánh gương sáng,

Phải, trái nhắm theo: mực thước vàng) [48, tr.553- 554]

Bài thơ có những chữ được lấy từ trong Kinh Thư như “cách thiên” từ câu

“cách vu hoằng thiên” ý nói lòng thành sẽ cảm thông thấu trời xanh và “mộc tòng thằng” từ câu “Duy mộc tòng thằng tắc chích” Những điển này thể hiện tư tưởng tự hào và sự tin tưởng mạnh mẽ đối với nhà vua và đường lối cai trị của triều đình Nhưng quá ngợi ca chính tích và tán tụng công đức của nhà vua khiến cho tác giả dường như khô cạn dòng cảm hứng và khi đọc tác phẩm người ta ít nhận thấy được những cảm xúc chân thật

Các tác giả cung đình như Đỗ Nhuận và Thân Nhân Trung cho rằng: “phàm văn chương dẫn những điển cố trong năm kinh, có đủ căn cứ mới là văn hay”,

“dùng điển trong kinh sử luyện thành câu có vần và đúng luật” Vì thế thơ họ thường chồng chất điển cố, mượn lời người xưa để nói ý mình [ 23, Trang 306] Trong văn thơ cung đình, âm hưởng chủ đạo là ca ngợi công đức nhà vua, thể hiện lòng tự hào và sự trung nghĩa với triều đình Từ trong khuôn khổ đó đã đưa các tác giả đi tới chỗ sa vào khuyên sáo, những tác phẩm có khi như những thuyết lý khô

khan Có một số bài thơ dùng nhiều điển cố, trúc trắc khó hiểu Ví như bài “Phụng

họa Pháp cung ngẫu thành” của Đỗ Nhuận:

“Hách hách Ân Thương điếu phạt danh, Nguy nguy thịnh trị ngưỡng Chu thành

Bái Trung ân vận tư Tam Kiệt;

Cảo Thượng cư an cật Ngũ nhung

Long hổ phong vân trường hội họp;

Sơn hà đới lệ biểu tôn vinh

Hoàng hoàng đế hậu ưng đa phúc,

Vạn cổ thiên nam hưởng thái bình!”

Trang 26

Một bài thơ có 56 chữ mà đã phải chú thích gần 10 điển cố: Ân Thương, Chu Thành, Bái Trung, Tam kiệt, Cảo Thượng, Ngũ nhung, phong vân, long hổ thì người đọc khó mà hiểu được hết ý nghĩa của điển cố cũng như cảm nhận được cảm xúc khi đọc bài thơ

Tuy nhiên vẫn còn không ít người đã giữ được nỗi niềm ưu ái đối với nhân dân, đối với dân tộc Sáng tác của họ mô tả cuộc sống của người nông dân và thể hiện sự đồng cảm với khung cảnh ruộng vườn tuy nghèo khổ nhưng thanh nhàn và

vui vẻ Trong bài Trừng Mại thôn xuân vãn (Chiều xuân ở thôn Trừng Mại) Nguyễn

(Mờ mịt mây che, mưa bay lất phất,

Nhà nông mình mặc áo cộc, tay cầm cày giục trâu

……

Chỉ mong được cảnh vui thú ruộng vườn như vậy,

Tuy không gặp cảnh ngặt nghèo, chứ có gặp cũng có thể quên đói được.) [48, tr.574]

Tác giả đã phác họa cảnh lao động vào chiều xuân ở thôn Trừng Mại thật

sinh động và đẹp đẽ Trong Kinh Thi: “Hành Môn chi hạ, khả dĩ thê trì, bí thuỷ

dương dương, khả dĩ lạc ky” nghĩa là: Dưới mảnh gỗ chắn ngang cửa mái lều tranh,

có thể nương thân, bên dòng suối cuồn cuồn có thể vui quên đói Tác giả đã mượn điển “hành bí” trong câu trên để nói đến cảnh sống ẩn dật của những người nông dân hiền lành tuy nghèo đói vẫn ung dung thanh thản

Trang 27

Nhìn chung, văn học chữ Hán thế kỷ XV đã tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật nhất định Nội dung các tác phẩm cũng phong phú, có những tác phẩm thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc, bên cạnh đó cũng có những tác phẩm phản ánh được cuộc sống và niềm ưu ái đối với nhân dân

Thời kỳ này có một điều đáng kể là sự thúc đẩy bước tiến của văn học chữ Nôm Thế kỷ XV đã chứng kiến một phong trào sáng tác văn thơ chữ Nôm khá rầm

rộ

Trang 28

1.2.2 Sự phát triển của văn học chữ Nôm trong thế kỷ XV

Dù đã được xuất hiện từ đời Trần nhưng bộ phận văn học chữ Nôm vẫn còn nhiều bất cập và không được coi trọng Đến thế kỷ XV, trong sự phát triển của chung của nền văn học, bộ phận văn học chữ Nôm cũng có những bước tiến mới Với tinh thần dân tộc, văn học chữ Nôm đã tạo nên những phát triển mới mẻ cho ngôn ngữ của dân tộc Lẽ dĩ nhiên, quá trình sử dụng điển cố cũng có những bước chuyển mới

Chữ Nôm được hình thành, ngoài điển cố âm Hán Việt, sự tồn tại của điển cố cũng có những hình thức mới là điển cố âm thuần Việt và âm bán Việt hóa Những

gì du nhập vào nước ta đã dần dần được Việt hóa tạo nên sự phong phú cho ngôn ngữ dân tộc Điển cố cũng trở nên dễ hiểu và gần gũi hơn với người đọc nhờ vào bộ phận tiếng Việt Điều đặc biệt là yếu tố dân gian kết hợp vào trong văn học một cách sinh động Có thể nói thành tựu tiêu biểu nhất của nền văn học chữ Nôm nửa

đầu thế kỷ XV là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi thường ca tụng thú thanh nhàn, tự hào đã “đổi công danh lấy một cần câu” và cũng để lộ nỗi đau không che giấu là không có cơ hội giúp nước, không gặp người cùng mình thực hiện chí lớn Ngoài ra, có một số bài làm để tự răn mình, khuyên bảo con cháu trong nhà giữ vững đạo đức, nhân phẩm, theo đúng lời

dạy của thánh hiền (Bảo kính giới) Cũng là một khía cạnh của thơ tâm sự, thơ tả

thiên nhiên của Nguyễn Trãi hợp với thú an nhàn, làm dịu bớt nỗi đau, trở nên nhẹ

nhàng, thanh thoát Thể thơ trong Quốc âm thi tập rất đặc biệt Có bài thất ngôn bát

cú, có bài thất ngôn tứ tuyệt; nhiều bài giữa những câu bảy tiếng, xen một hoặc hai câu 6 tiếng Nguyễn Trãi dùng nhiều ca dao, tục ngữ, nhiều điển cố và có ý thức dùng từ thuần Việt thay từ Hán Việt Ông đã cố gắng Việt hóa những phần vay mượn của Hán học để biểu đạt tư tưởng một cách chân thật Điển cố được đưa vào thơ văn một cách tự nhiên và dễ hiểu hơn

“Chĩnh vàng chẳng tiếc danh thì tiếc, Bia đá hay mòn nghĩa chẳng mòn”

(Tự thán, bài 17)

Trang 29

Theo sách “Âm chất văn” của Trung Quốc, vào đời Tống, khi còn trẻ, Phạm Trọng Yêm trọ học tại một ngôi chùa, cuốc đất trồng rau ngoài vườn chùa nhìn thấy một chĩnh vàng, ông không lấy mà lấp lại Cũng không cho ai biết Sau khi đỗ tiến

sĩ làm quan to, ông nói chuyện ấy với đồng liêu nên nhiều người truyền tụng Người đời cho rằng ông được hưởng lộc khi làm quan chỉ bằng chĩnh vàng ấy Ông chỉ cười! Điển cố giúp Nguyễn Trãi thể hiện tư tưởng một cách sâu sắc, trong cuộc đời ông vật chất chẳng có ý nghĩa gì, quan trọng là danh tiết phải giữ sao cho được trong sạch

Thành tựu lớn trong Quốc âm thi tập là Nguyễn Trãi đã xây dựng ngôn ngữ

văn học trên cơ sở ngôn ngữ của nhân dân và ngôn ngữ của văn học dân gian Nguyễn Trãi đã sử dụng những ý nghĩa và hình tượng sinh động được cô đúc trong ngôn ngữ dân gian để biểu đạt tư tưởng một cách nhuần nhuyễn

“Tay ai thì lại làm nuôi miệng

Làm biếng ngồi ăn lỡ núi non.”

(Bảo kính cảnh giới – bài 13)

Tập thơ Nôm đại thành của Nguyễn Trãi có khả năng thể hiện sâu sắc tâm hồn dân tộc, cảm quan về thiên nhiên, quê hương, đất nước Nhờ sử dụng ngôn ngữ dân tộc, Nguyễn Trãi có thể bộc lộ các cung bậc tình cảm, các sắc thái trữ tình, thế giới nội tâm và mọi nỗi ưu phiền một cách tự do, linh động hơn Cảm nhận rõ điều này, tính chất đa dạng của hồn thơ và tình cảm vũ trụ với tâm hồn nhà thơ

Quốc âm thi tập là thơ của người ẩn, cảnh sắc là cảnh sắc ở ẩn “Giũ bao

nhiêu bụi bụi lầm/ Giơ tay áo đến tùng Lâm” Nhưng, nỗi niềm trong thơ lại là của

người ôm mộng việc dân, việc nước Một tấm lòng không giây phút nào ngừng nghĩ

về xã tắc với niềm khắc khoải chưa thấu thỏa:

“Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn Dường như ta đà phí sở nguyền.”

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của nửa đầu thế kỷ XV tiêu biểu là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, giai đoạn nửa sau thế kỷ XV Lê Thánh Tông và

Trang 30

các tác giả triều đình đã làm cho nền văn học chữ Nôm trở thành một phong trào Văn học chữ Nôm được khuyến khích và được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ

Tác phẩm lớn cần nhắc đến đó là Hồng Đức quốc âm thi tập, đây là tập thơ nhiều

tác giả nên rất đa dạng về nội dung cũng như nghệ thuật Do bị ảnh hưởng khuynh hướng sáng tác cung đình, nặng về mặt gọt giũa hình thức nên một số bài trong tập thơ đã cho thấy sự nghèo nàn về nội dung và thiếu tính nghệ thuật Tuy nhiên, trong một số bài thơ vẫn thể hiện được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc cũng như những phản ánh trong cuộc sống của nhân dân Tập thơ cũng đã đem lại những câu thơ, những bài thơ với một chất lượng nghệ thuật cao

Trong tập thơ Nôm Hồng Đức quốc âm thi tập, điển cố được sử dụng phần

lớn là điển cố âm Hán Việt Tuy nhiên ngôn ngữ Hán học đã có lúc hòa chung vào

ngôn ngữ dân tộc tạo nên sự gần gũi đối với người đọc Đọc Lậu ốc (nhà dột) người

đọc sẽ cảm nhận được những tình cảm chân thật của tác giả qua từng câu chữ của bài thơ

“Lều tiện ba gian trải nắng sương, Thấy trời dòm xuống biết trời thương

Dồi dào đã được nhờ ơn nước, Soi tới càng thêm tỏ bóng gương

Đêm có ả trăng làm bạn cũ, Ngày thì dì gió quét bên giường

Lại còn một vẻ thanh quang nữa, Ngọc lộ đầy mâm để uống thường.” [48, tr.549]

Theo Bác dị chí: “Năm Thiên Bảo đời Đường, một đêm thôi Nguyên Huy

cùng mấy người con gái là Dương Thị, Lý Thị, Đào Thị dì mười tám nhà họ Phong uống rượu Những người con gái kể chuyện rằng họ ở trong vườn, hàng năm bị gió

dữ làm hại phải cầu cứu dì mười tám che chở Nguyên Huy mới biết Phong gia thập bát di là thần gió Về sau từ “dì gió” người ta dùng để chỉ gió Còn điển “ngọc lộ” là câu chuyện về vua Vũ đế nhà Hán dựng lên Bách Lương có tạc tượng người tiên tay

Trang 31

bưng mâm thừa lộ hứng lấy giọi sương, rồi đem hoà với tinh hạt ngọc để uống, mong được trường sinh”

Điển cố được sử dụng làm tăng thêm sự hóm hỉnh trong nỗi niềm tâm sự của tác giả Nghe nhẹ nhàng nhưng cũng có phần chua chát Cuộc sống được tác giả tâm

sự một cách sinh động với một thái độ xem nhẹ công danh phú quý Hai điển “dì gió” và “ngọc lộ” được tác giả sử dụng thật khéo léo, gió thổi tận đến bên giường,

có thể uống được cả sương đêm đủ để thấy cái cảnh nghèo của tác giả như thế nào Qua lối diễn đạt của người viết có thể cảm nhận được một tâm sự ưu tư, đau đời dù ngôn từ tác phẩm không gợi lên nỗi buồn Trong hoàn cảnh sống dưới nắng sương như vậy nhưng tác giả vẫn bộc lộ một tâm thái rất thoải mái và bình thản Trong chốn triều đình, ai cũng muốn được quyền cao, phú quý thì vẫn còn đó những con người đề cao cuộc sống thanh nhàn Bởi vì lý tưởng trong cuộc đời của họ chính là

nỗi niềm ái nước ưu dân Trong bài Tự dật, tác giả đã tâm sự:

“Phú quý cần câu Nghiêm Tử, Công danh con ngựa Tái ông

Chữ thanh nhàn xem tựa ngọc, Đường bôn tẩu nhẹ bằng lông.”

Theo sách Hoài Nam Tử: “Có người ở gần cửa ải, giỏi thuật số, ngựa ông ta

đi mất vào đất Hồ Mọi người đến thăm hỏi Ông nói: việc đó biết đâu là điều phúc Mấy tháng sau con ngựa của ông rủ được một con tuấn mã của người Hồ chạy về Mọi người đến chúc mừng Ông nói: Việc đó biết đâu là điều họa Có ngựa tốt, con trai ông thích cưỡi con ngựa Hồ và bị ngã gãy chân Mọi người lại đến chia buồn Ông nói: “Việc đó biết đâu lại là điều phúc” Ít lâu sau, quân Hồn tràn vào biên giới, trai tráng trong làng phải ra đánh giặc, mười phần chết chín Riêng người con trai ông ta vì què chân mà không bị bắt đi lính, cha con ông được sống cùng nhau” Họa

là gốc của Phúc, Phúc là gốc của Họa Họa Phúc luân chuyển và tương sinh Sự biến đổi ấy không thể nhìn thấy được, chỉ thấy cái hậu quả của nó Hai điều họa phúc cứ xoay vần với nhau, khó biết được, nên khi được phước thì không nên quá vui mừng mà quên đề phòng cái họa sẽ đến; khi gặp điều họa thì cũng không nên

Trang 32

quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh thần Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, nên bắt chước tái ông mà giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm trong cuộc sống Qua lối dùng điển cố, tư tưởng của tác giả được thể hiện một cách sâu sắc, người đọc hiểu được điển cố càng hiểu hơn quan niệm sống vô cùng ý nghĩa và chân thật của tác giả

Trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, bên cạnh đề tài phản ánh vấn đề xã

hội, ca tụng lối sống thanh nhàn, có một số bài thơ đã thể hiện tình cảm chân thật của nhà thơ trước cảnh sắc thiên nhiên của đất nước Tác giả đã có sự nhạy cảm trước cảnh vật từ đó đã tạo nên những câu thơ hay và đẹp đẽ

“Đường hoa chấp chới tin ong dạo, Dặm liễu thung thăng sứ diệp truyền

Ả Ngụy nàng Diêu khoe đẹp đẽ, Người thơ khách rượu rộn lời khuyên.”

(Lại vịnh cảnh mùa xuân)

1.3 Mục đích sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi

Trong văn học cổ Việt Nam, ngay từ những tác phẩm chữ Hán đầu tiên đã thấy có sự vận dụng điển cố và có những quan niệm về việc sử dụng điển cố gần giống với Trung Quốc Đây là một ảnh hưởng tất yếu, bởi vì văn học Trung Quốc

đã có một kho tàng điển cố vô cùng phong phú khi mà các tác giả của Việt Nam bắt đầu sáng tác bằng chữ Hán Qua sự tiếp nhận có sự chọn lọc và chịu ảnh hưởng của nền tư tưởng chung, điển cố đã mang những nét đặc trưng riêng quan niệm thẩm mỹ của người Việt Điển cố trong văn học Việt Nam được sử dụng với những mục đích rất rõ rệt và cụ thể trong từng câu thơ, câu văn

1.3.1 Dùng điển cố để bộc lộ chí hướng, tư tưởng

Trong hoàn cảnh đất nước bị xâm chiếm, nhân dân lầm than, những người trí thức yêu nước từ sớm đã hiểu rõ sức mạnh đấu tranh của văn học Họ đã mượn văn học để thể hiện tư tưởng của mình Điển cố là phương tiện thể hiện một cách ngắn gọn và sâu sắc chí hướng của tác giả Đồng thời điển cố còn phù hợp với những quy

Trang 33

luật của thơ cũ Điển cố giúp cho tác giả có thể bộc lộ tư tưởng một cách mạnh mẽ, phóng khoáng dù chỉ trong giới hạn một số từ ngữ nhất định Điển cố làm cho chí hướng mà tác giả muốn nói trở nên sinh động và giàu ý nghĩa

Nguyễn Phu Tiên trong bài Chu thứ hải môn đăng Biện Sơn họa Đồng ký

thất vận (Thuyền đậu cửa bể, lên núi Biện Sơn, họa vần thơ của ông ký thất họ

Nỗi nhục của nước, quyết tâm lấp bể cho đầy, Nỗi nhớ nhà , những ngại tựa lầu mà ngắm.)

Điển “cam điền hải” chính là điển “chim tinh vệ” Sách Thuật dị ký chép:

Con gái của vua Viêm đế bị chết đuối ở biển, hóa làm chim tinh vệ và ngậm đá ở núi Tây ra lấp biển đông cho hả giận Tác giả dùng điển này để nói đến tuy sức người nhỏ bé nhưng ý chí quyết tâm lớn trong việc bảo vệ đất nước, đồng thời thể hiện một tinh thần yêu nước sâu sắc

1.3.1 Dùng điển cố để làm chứng cứ xác thực chứng minh cho lập luận

Điển cố đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho lý lẽ của tác giả trở nên chính xác, rõ ràng Khi trích dẫn những chuyện tích xưa, tác giả chỉ cần khéo léo dẫn sao cho phù hợp, chính xác thì điển cố sẽ làm dẫn chứng chứng minh cho lập luận của người viết Với những ví dụ, chứng cứ xác thực qua điển cố lý lẽ của người viết càng tăng sự thuyết phục Vai trò này của điển cố được thể hiện rõ nhất trong văn chính luận

Trang 34

Trong “Cầu hiền tài chiếu” ông đã viết: “Được thịnh trị tất ở việc cử hiền,

được hiền tài tất do sự tiến cử Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên Ngày xưa lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi Đến như các quan đời Hán Đường ai mà không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Ngụy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng thảy đều được người để đảm đương nhiệm vụ” ( Đào Duy Anh dịch) Viện dẫn các sự kiện và nhân vật trong lịch sử đã chứng minh vấn đề một cách cụ thể và sinh động

1.3.3.Dùng điển cố để tránh sự khô khan và tạo cho câu văn, câu thơ sự sinh động

Để tạo được hình ảnh sinh động cho câu văn và để tránh cho câu văn trần trụi,

các nhà văn học Việt Nam đã dùng các điển cố trong tác phẩm của mình Chỉ đôi ba chữ nhưng đã tạo nên ý nghĩa sâu sắc về một con người, một nếp sống , một cảnh ngộ … Người đọc nhờ vào đặc tính liên tưởng của điển cố đã hiểu được nội dung phong phú và sâu sắc hơn Đằng sau sự cô đọng của từ ngữ những tâm tư, tình cảm của tác giả được thể hiện một cách sinh động và ý nhị

Bài Mạn cảm của Nguyễn Thiên Tích có câu:

“Bán thế lao tâm độc ngũ xa, Đan biều bất cải cựu sinh nhai

Công danh tự thiếu phụ toàn chỉ, Tạo vật kham kinh nhi hý sa.” (3) (Đã nữa đời nhọc lòng đọc năm xe sách,

Vẫn cứ giỏ cơm, bầu nước như nếp sống cũ

Nực cười công danh như cảnh đàn bà xếp giấy,

Thật đáng sợ con tạo như đưa trẻ chơi cát [48,tr.474]

Trang 35

Trong sách Trang Tử có câu “kỳ thư ngũ xa” nghĩa là có sách năm xe, ý

muốn nói sách nhiều dùng đến năm xe mới chở hết Chữ “độc ngũ xa” được tác giả

dùng để chỉ người đọc sách nhiều Điển “đan biều” được lấy từ trong sách Luận

ngữ, Khổng Tử khen Nhan Tử trong cảnh nghèo đói, chỉ “giỏ cơm, bầu nước” mà

vẫn yên vui học hành

1.3.4 Dùng điển cố để diễn tả sự sâu sắc, hàm súc, lời hết mà ý vô cùng

Sự độc đáo ở điển cố là tính cô đọng, hàm súc, chỉ một vài từ nhưng hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc Dùng điển khéo léo là ít chữ mà nhiều ý Số từ được hạn chế đến mức tối thiểu Có những ý tưởng nếu muốn diễn đạt ý tưởng một cách rõ ràng thì khó tránh khỏi sự dài dòng hoặc với lời nói thông thường đôi khi sẽ làm cho lời văn nhạt nhẽo, vô vị mà không thể diễn đạt hết ý Điển cố, với số lượng

từ ngữ giới hạn nhất, sẽ là phương tiện có sức diễn đạt mạnh mẽ nhất mà lời văn lời thơ thêm phần sâu sắc, đậm đà, thú vị

Lê Thiếu Dĩnh trong bài Trạch thôn cố viên có viết:

“Tang tử thiên nhiên thâm nho óc nhược, Tùng thu thụ lão dĩ sâm như

Xuân quang mạn nhĩ xâm xâm khứ,

Sự nghiệp phiên thành đốt đốt thư.” (4) (Cây dâu, cây thị lâu năm vẫn còn xanh tốt,

Gốc tùng, gốc thu đã già vẫn còn rườm rà

Ngày xuân vẫn cứ thấm thoát trôi qua,

Sự nghiệp chỉ thành những chuyện viết ra những chữ “chà chà việc lạ”)

Ân Hạo người đời Tấn, nổi danh thanh cao, làm Đô đốc năm châu là Dương,

Dự, Từ, Duyện, Thanh Đánh giặc bại trận, bị phế làm dân thường, suốt ngày viết lên không bốn chữ “Đốt đốt quái sự” (Cha chả chuyện lạ!) Thơ Lê Thiếu Dĩnh vốn giản dị, cổ kính, lời ý sâu xa, ông đã lấy chữ “đốt đốt” để diễn tả ý lo sợ về việc ở đời Công danh được đó rồi mất đó còn chăng là vẫn giữ được tấm lòng trong sạch chi bằng trở lại quê cũ sống cuộc sống thanh nhàn

Trang 36

1.3.5 Dùng điển cố để diễn tả sự thanh nhã, tinh tế

Trong quá trình sáng tác, đôi khi gặp một số vấn đề khó nói để tránh cách nói thông thường gây sự khiếm nhã thì khéo dùng điển cố sẽ làm cho lời văn lời thơ trở nên nhẹ nhàng, nghiêm túc hơn, ý thô nhưng lời lẽ vô cùng thanh tao Thái Thuận

trong bài Lão kỹ ngâm (Khúc ngâm của người kỹ nữ già) có những câu sau:

“Vũ thái vân tình tổn thiếu niên, Hồng trang thuý mạt bất thành nghiên

Lạc hoa đình viện dung khai kính, Minh nguyệt trì đường ức thái liên.”

(Thói tình mây mưa làm hao tổn lúc tuổi trẻ,

Thế rồi trang hồng vẽ thuý cũng chẳng thành đẹp

Hoa rụng trước sân, biếng nhác mở gương,

Trăng sáng trên ao nhớ khi hái sen)

Theo bài tựa “Cao Đường phú” của Tống Ngọc, khi xưa vua Sở Hoài Vương

đi thăm đền Cao Đường và Đầm Vân Mộng ở núi Vu Sơn, đêm nằn ngủ, chiêm bao thấy thần nữ đến xin hầu chăn gối Khi từ biệt luyến tiếc, nàng nói: ‘Đán vi hành vân Mô vi hành vũ” (Thiếp sớm làm mây, tối làm mưa) “Vân vũ” được dịch thành

“Mây mưa” để chỉ việc trai gái ân ái Tác giả đã diễn tả tâm sự của người kỷ nữ già với những từ ngữ hết sức nhẹ nhàng, nếu không nhờ vào việc sử dụng điển cố thì khó mà diễn tả những hình ảnh thanh tao và ý tứ tế nhị như thế

1.3.6.Dùng điển cố để diễn tả sự uyên bác

Việc dùng điển cố trong văn học nhằm mục đích tăng thêm phần sinh động,

ý nghĩa phong phú và thu hút người đọc Sự uyên bác của tác giả cũng được đánh giá trong việc dùng điển cố Cái tài tình của người sáng tác chính là sự kết hợp từ ngữ chặt chẽ tạo nên những từ ngữ tinh hoa nhất phù hợp với phong cách bác học

Lý Tử Cấu đã có những tâm sự trong bài Thuật chí như sau:

“Bình sinh vị cải Tang quân nghiễn,

Trang 37

Đáo xứ liêu vi Vương Xán lâu

Túng sử thế nhân đa tổn đạp,

Dã ưng cô nộ đáo hư châu.” (5) (Suốt đời chưa hề đổi cái nghiên viết văn của Táng quân,

Có lúc chợt nhớ lại bài phú đăng lâu của Vương Xán

Giả phỏng người đời có nhiều lời quở trách,

Cũng đành không giận như chiếc thuyền không người va phải.)

Thời Ngũ đại Trung Quốc, Tang quân (Tang Duy Hàn), học giỏi thi đáng đậu tiến sĩ, vì quan trường ghét cái tên họ của ông (Tang nghĩa là cây dâu) nên đánh hỏng Có người khuyên ông đổi nghề, ông bèn đúc cái nghiên bằng sắt bảo rằng nghiên thủng mới đổi nghề, rồi cố công học tập, sau đậu tiến sĩ làm quan to Câu chuyện người xưa được tác giả nhắc lại nhằm thể hiện sự bền chí đèn sách dù gặp khó khăn

Vương Xán người đời Tam Quốc lánh nạn sang ở nước Ngụy có làm bài phú Đăng lâu tả nỗi nhớ nhà Tác giả nhắc lại điển này để tỏ ý muốn xa rời chốn quan trường trở về nhà

Trang 38

TIỂU KẾT

Thế kỷ XV là thời kỳ phát triển của nền văn học Ngoài sự phát triển của bộ phận văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm đã tiến lên một bước dài Với tinh thần dân tộc, ngôn ngữ dân tộc đã có một sức mạnh nhất định trên văn đàn

Qua quá trình phát triển của chữ Hán, quá trình phát triển của điển cố đã có những bước chuyển tương đồng Văn học chữ Hán phát triển mạnh mẽ một lẽ tự nhiên các điển cố Hán Việt cũng được sữ dụng rộng rãi Hầu hết các tác phẩm đều

có sử dụng điển cố Điển văn học góp một vai trò trong quá trình thể hiện tư tưởng

và ý chí của dân tộc qua một số tác phẩm Giai cuộc đấu tranh cứu nước còn trong gian khổ, điển cố được sử dụng như một loại vũ khí đánh vào tinh thần quân địch Thời điểm cuộc khởi nghĩa đã giành được thắng lợi, đất nước đi vào công cuộc xây dựng và củng cố, điển cố được dung để ca ngợi triều đình và thể hiện niềm tự hào của dân tộc Tuy nhiên trong thế kỷ XV vẫn có một số tác phẩm quá lạm dụng việc

sử dụng điển cố nên đã làm cho ý thơ trở nên khô khan, hoặc một số bài thơ lại sử dụng những điển cố quá hiểm hóc nên việc hiểu rõ ý nghĩa bài thơ trở thành việc khó khăn đối với người đọc

Đóng góp đáng kể trong thế XV là sự thúc đẩy bước tiến của văn học chữ Nôm Chữ Nôm được khuyến khích sáng tác và đã tạo nên những tác phẩm có giá trị chứa đựng tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc Qua sáng tác văn học chữ Nôm,

đã nâng cao sức thể hiện của ngôn ngữ văn học dân tộc Điển cố từ đây cũng có những phương thức thể hiện mới Qua sự chuyển dịch, điển cố được đưa vào tác phẩm một cách tự nhiên và gần gũi hơn Nhờ yếu tố tiếng Việt, người đọc sẽ hiểu được ý nghĩa của điển cố cũng như tư tưởng của tác giả trong bài thơ một cách dễ dàng hơn

Nhìn chung, đến thế kỷ XV, văn học đã phát triển mạnh mẽ và có phần toàn diện hơn Quá trình sử dụng điển cố cũng có những bước phát triển mới Điển cố đã được sử dụng với những mục đích rõ ràng qua từng giai đoạn văn học Việc sử dụng điển cố đã có những đóng góp tích cực trong văn học Quá trình sử dụng điển cố đã đánh dấu một nét đặc trưng riêng của nền văn học trong thế kỷ XV

Trang 39

âm Hán Việt và âm bán Hán Việt là phù hợp với một nhà văn hoá lớn như Nguyễn Trãi Cách phân loại này, làm cho việc khảo sát điển cố với nhiều thể loại trong những sáng tác của Nguyễn Trãi được thuận tiện hơn Từ đó có thể tìm hiểu rõ nét hơn nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi

Chúng tôi chỉ khảo sát những tác phẩm tập trung nhiều điển cố Khảo sát

toàn bộ điển cố trong các tác phẩm như Ức Trai thi tập; Quân trung từ mệnh tập;

Bình Ngô đại cáo; các thư, chiếu, biểu; Quốc âm thi tập kết quả cho thấy số lượng

điển cố âm Hán Việt chiếm số lượng cao (78%) Nhưng riêng thơ chữ Nôm trong

Quốc âm thi tập thì điển cố âm Hán Việt chiếm 57%, điển cố âm bán Việt Hoá

chiếm 10% và điển cố âm thuần Việt chiếm 33% Điều đáng chú ý là trong số lượng điển cố âm thuần Việt, điển cố mượn ý, lời từ ca dao, tục ngữ Việt Nam chiếm 12% Đây lá nét độc đáo trong nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi Ông đã đưa ngôn ngữ dân tộc vào thơ tạo nên sự gần gũi trong quá trình tiếp nhận đối với người đọc

2.1 Điển cố âm Hán Việt

Án tuyết: Chữ mượn ở thơ của Viên Khải: “Minh qui tuyết án đồng ôn tập”

(6)

(Khi đêm về chỗ án sách có ánh tuyết cùng ôn tập) Tôn Khang đời Tấn thủa nhỏ hiếu học, nhà nghèo, không có dầu thắp đèn, đêm mùa đông phải nhờ ánh sáng của tuyết để đọc sách, sau thi đỗ, làm quan đến Ngự sử đại phu Nguyễn Trãi mượn chữ này để chỉ án đọc sách và công sức mưới năm đèn sách “Án tuyết mưới thu uổng

đọc thư” (Mạn thuật, bài 14)

Âu lộ: Theo sách Liệt tử: Có người thích chơi với chim âu ngoài bãi biển Cứ

mỗi buổi sáng ra biển, chim âu kéo đến bên người hàng trăm con Người cha bảo

Trang 40

anh ta bắt cho mấy con để chơi Sáng hôm sau người đó ra biển, chim âu cứ bay lượn ở trên không mà không đậu xuống nữa “Âu lộ cùng ta dường có ý, Đến đâu

thời thấy nó đi theo” (Tự thán, bài 31), Nguyễn Trãi mượn điển này để chỉ người ở

ẩn, vui thú với thiên nhiên không màng gì đến thế sự

Bá Di, Thúc Hề: hai anh em con vua nước Cô Trúc đời nhà Thương Chu

Vũ Vương đem quân đi đánh vua Trụ, hai ông can ngăn không được Khi Vũ Vương diệt vua Trụ, lập ra nhà Chu, hai ông cho là bất trung, bất nghĩa, không chịu

ăn thóc của nhà Chu, bỏ vào ẩn trong núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn rồi chết đói

“Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề” (Côn Sơn ca), Nguyễn Trãi ca ngợi sự thanh cao của Bá Di và Thúc Hề Trong Thuật hứng (bài 3) Nguyễn Trãi cũng có câu ca ca

ngợi sự thích thú của Bá Di đối với cuộc sống thanh nhàn: “Bá Di người rằng thanh

là thú”

Bá Kiều: Cầu trên sông Bá ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc Có người hỏi

nhà thơ Trịnh Khải đời Đường: “Gần đây có thơ gì mới không?” Ông đáp: “Tứ thơ của tôi ở cảnh cỡi lừa đi trong tuyết trên Bá Kiều Nay không có cảnh ấy thì làm thơ

sao được” “Bá Kiều thi tứ Tây Hồ nguyệt” (bài Đề Hoàng Ngự sử mai tuyết hiên),

ở đây tác giả mượn điển Bá Kiều để chỉ tuyết

Bá Nha, Tử Kỳ: Bá Nha là người thời Xuân Thu (Trung Quốc), kết thân với

Chung Tử Kỳ Một hôm Bá Nha gảy đàn cho Tử Kỳ nghe Khi gảy đàn tâm trí lại nghĩ mình đang ở chốn non cao Tử Kỳ khen “Tiếng đàn cao vút, chí của ngài vòi vọi ở chốn non cao (Nga nga hồ chi tại cao sơn)” Bá Nha lại đờn một bản khác, tâm trí lại nghĩ mình đang ở nơi dòng nước chảy Tử Kỳ lại khen “Chí của ngài cuồn cuộn như dòng nước chảy (Dương dương chi hồ tại lưu thủy)” Đến khi Tử Kỳ chết, Bá Nha liền đập gãy đàn, thề trọn đời không đàn nữa vì thiếu bạn tri âm

“Chung Kỳ bất tác chú kim nan, Độc bão dao ầm đối nguyện đàn” (Đề Bá Nha cổ

cầm đồ), hai câu thơ diễn tả ý không còn Chung Tử Kỳ cũng khó mà đúc được

tượng vàng Chung Tử Kỳ nên Bá Nha một mình ôm đàn ngồi gảy đối mặt với vầng trăng Qua điển này Nguyễn Trãi đã bộc lộ tâm trạng cô đọc, không có người tri kỷ

Bá Nhạc: chính tên là Tôn Dương, người có biệt tài coi tướng ngựa ở thời

Xuân Thu “Bà ngựa dầu lành nào Bá Nha” (Tự thuật, bài 3), dẫu có con ngựa hay

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Bộ giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Bộ giáo dục
Năm: 1968
17. Nguyễn Văn Hành - Vương Lộc (1980), Mấy đặc điểm của vốn từ Tiếng Việt Văn học thế kỷ XV qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Tạp chí ngôn ngữ số 3 - 1980, tr 22-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy đặc điểm của vốn từ Tiếng Việt Văn học thế kỷ XV qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
Tác giả: Nguyễn Văn Hành, Vương Lộc
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 1980
18. Nguyễn Thúy Hồng (1995), Thi liệu Hán học trong các văn bản Hán - Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 2 - 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi liệu Hán học trong các văn bản Hán - Nôm
Tác giả: Nguyễn Thúy Hồng
Nhà XB: Tạp chí Hán Nôm
Năm: 1995
19. Lỗ Húc, Tô Ân, Kiến Văn - Chu Đào biên dịch (2007), Thành ngữ cố sự tinh tuyển, Nxb. Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ cố sự tinh tuyển
Tác giả: Lỗ Húc, Tô Ân, Kiến Văn, Chu Đào
Nhà XB: Nxb. Lao động xã hội
Năm: 2007
20. Đinh Thái Hương, Nguyễn Hữu Sơn (2007), Điển tích văn học trong nhà trường, Nxb. Giáo dục, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển tích văn học trong nhà trường
Tác giả: Đinh Thái Hương, Nguyễn Hữu Sơn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
21. Đỗ Văn Hỷ (1967), Tính chiến đấu của Quân trung từ mệnh tập, Tạp chí văn học số 9. 1967, tr 72-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chiến đấu của Quân trung từ mệnh tập
Tác giả: Đỗ Văn Hỷ
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1967
23. Bửu Kế (1968), Tầm nguyên từ điển, Nhà sách Khai Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm nguyên từ điển
Tác giả: Bửu Kế
Nhà XB: Nhà sách Khai Trí
Năm: 1968
24. Đinh Gia Khánh chủ biên (2001), Điển cố văn học, Nxb. Văn học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố văn học
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2001
25. Đinh Gia Khánh (2007), Tuyển tập văn học Trung đại (Tập 2), Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học Trung đại (Tập 2)
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
26. Hồng Khánh - Thái Vy biên dịch (2002), Thành ngữ điển cố thông dụng, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ điển cố thông dụng
Tác giả: Hồng Khánh, Thái Vy
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2002
27. Vũ Ngọc Khánh (1979), Góp ý về cuốn “Điển cố văn học”, Tạp chí văn học, số 5 - 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý về cuốn “Điển cố văn học”
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1979
28. Khổng Tử (1991), Kinh Thi, Nxb. Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Thi
Tác giả: Khổng Tử
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1991
29. Trọng Lai (1979), Một vài ý kiến về cuốn “Điển cố văn học”,Tạp chí Văn học, 5/1979, tr 138 – 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố văn học
Tác giả: Trọng Lai
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1979
30. Ngô Tự Lập (2008), Văn chương như là quá trình dụng điển, Nxb. Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương như là quá trình dụng điển
Tác giả: Ngô Tự Lập
Nhà XB: Nxb. Tri Thức
Năm: 2008
31. Mai Quốc Liên chủ biên (2001), Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi toàn tập tân biên
Tác giả: Mai Quốc Liên
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2001
32. Đoàn Ánh Loan (2003), Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, Nxb. ĐHQG TP.HCM, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố
Tác giả: Đoàn Ánh Loan
Nhà XB: Nxb. ĐHQG TP.HCM
Năm: 2003
33. Phạm Luân (1991), Thể loại thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và “Thi pháp Việt Nam”, tạp chí văn học số 4.1991, tr 25-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và “Thi pháp Việt Nam”
Tác giả: Phạm Luân
Nhà XB: tạp chí văn học
Năm: 1991
34. Phương Lựu (1989), Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1989
35. Phương Lựu (1991), Vài nét về lý luận văn học, mỹ học cổ điển Trung Quốc, Tạp chí Văn học số 6-1971, tr 81 – 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về lý luận văn học, mỹ học cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1991
36. Tiêu Hà Minh (2007), Đi tìm điển tích thành ngữ, Nxb. Thông tấn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm điển tích thành ngữ
Tác giả: Tiêu Hà Minh
Nhà XB: Nxb. Thông tấn
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w