1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp của các danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong tiếng việt

131 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp của các danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong tiếng Việt
Tác giả Nguyễn Thị Hiền
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thị Bích Lài
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Σ Σ Σ Σ Σ Σ Σ Đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp của các danh từ ghép c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

(so sánh với lớp từ tương ứng trong tiếng Anh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH

Mã số : 5.04.27 Khoá học : 1999 – 2002

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Σ Σ Σ Σ Σ Σ Σ

Đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp của các danh từ ghép

chỉ nghề nghiệp trong tiếng Việt

(so sánh với lớp từ tương ứng trong tiếng Anh) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh

Mã số : 5.04.27 Khoá học : 1999 - 2002

Học viên thực hiện : NGUYỄN THỊ HIỀN Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ BÍCH LÀI

Thành phố Hồ Chí Minh - 2003

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với Tiến sỹ Đỗ Thị Bích Lài, người thầy đã tận tâm giúp cho tác giả vượt qua những bước ban đầu vô cùng khó khăn để hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn các giáo sư, các giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Thạc sỹ Ngô Thị Thanh Vân, giảng viên Khoa Tiếng Anh Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh vì sự giúp đỡ vô cùng quý báu của Thạc sỹ

Tác giả xin cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập

Xin chân thành cảm ơn bạn bè và gửi tấm lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả thực hiện luận văn

Trang 4

Mở đầu 01

Chương I: Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong tiếng Việt 09

A Danh từ: cấu tạo và ngữ nghĩa 09

I Danh từ, danh ngữ trong tiếng Việt 09

1 Biểu thị khái niệm về sự vật cụ thể 10

II Phân loại danh từ trong tiếng Việt dựa vào cấu tạo 10

1 Danh từ đơn 11

2 Danh từ ghép 11

3 Các loại danh từ khác 11

B Đặc điểm về cấu tạo, ngữ pháp và ngữ nghĩa của lớp danh từ ghép chỉ nghề nghiệp

I Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp 11

1 Khái niệm 11

II Đặc điểm về ngữ pháp 15

1 Đặc điểm về quan hệ giữa các thành tố cấu tạo 15

2 Khả năng kết hợp của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp với các thành tố trước và

3 Kết hợp với từ chỉ loại thể 18 III Đặc điểm về ngữ nghĩa 23

1 Đặc điểm ngữ nghĩa của hai thành tố cùng trường nghĩa 23

2 Đặc điểm ngữ nghĩa của hai thành tố có nghĩa dồn hẳn lên một yếu tố nào đó

3 Đặc điểm của cái sở chỉ 27

Chương II: Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong tiếng Anh 32

A Danh từ: cấu tạo và ngữ nghĩa 32

I Thuộc tính của danh từ 32

II Phân loại danh từ trong tiếng Anh dựa vào cấu tạo 33

1 Hình thức cấu tạo 33

2 Thành phần chính của từ 36

B Các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp của danh từ ghép chỉ nghề

nghiệp trong tiếng Anh 38

I Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp 38

1 Khái niệm 38

2 Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp cấu tạo theo mẫu 39

3 Danh từ chỉ nghề nghiệp là những từ phái sinh 39

4 Danh từ chỉ nghề nghiệp là từ ghép kết hợp 44

II Đặc điểm về ngữ pháp 46

1 Đặc điểm về quan hệ của các thành tố cấu tạo 46

Mục lục luận văn

Trang 5

3 Số của danh từ 48

4 Hình thức sở hữu của danh từ 51 III Đặc điểm về ngữ nghĩa 51

1 Nghĩa của từ có thể mang tính khái quát hoặc cụ thể 51

2 Nghĩa của từ ghép kết hợp hai thân từ 52

3 Nghĩa của từ ghép được xác định theo phương pháp phân tích các thành tố 52

4 Khả năng kết hợp nghĩa của các thành tố 53

5 Những từ phái sinh liên kết thành các nhóm theo dấu hiệu chỉ nghĩa 55

6 Nghĩa của từ dựa vào phương tiện biểu hiện đặc trưng của ngôn ngữ 57

Chương III: So sánh về đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp và ngữ nghĩa của danh từ ghép

chỉ nghề nghiệp trong tiếng Việt và tiếng Anh 61 I/- So sánh về cấu tạo 61

1 Phương thức cấu tạo từ 61

2 Hình thức kết hợp căn tố và phụ tố 62

3 So sánh trọng âm 63

4 So sánh sự chuyển loại 66

5 Hiện tượng phái sinh cùng một thân từ 68

II So sánh về ngữ pháp 68

1 Tính chất của hình vị trong tiếng Anh và tiếng trong tiếng Việt 68

2 So sánh các thành tố cấu tạo 72

3 Hình thức số nhiều 72

4 Sở hữu cách 74

III So sánh về ngữ nghĩa 79

1 Ngữ nghĩa của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp bao gồm hai yếu tố đồng nghĩa 79

2 Ngữ nghĩa của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp bao gồm hai yếu tố khác nghĩa cụ thể, nhưng cùng một trường từ vựng 79

3 Nghĩa dồn hẳn lên một yếu tố nào đó trong từ 80

4 Ngữ nghĩa của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp khi thì hẹp hơn, khi thì rộng

hơn nghĩa của các thành tố 81

5 Nghĩa được suy ra từ nghĩa của các thành tố 81

6 So sánh hiện tượng ngữ nghĩa 82

Trang 6

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tiếng Anh và tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ khác nhau Điều đó thể hiện mọi hiện tượng ngôn ngữ, đặc biệt là sự lựa chọn phương thức định danh của sự vật Định danh là hoạt động của ngôn ngữ nhằm gọi tên những sự vật, tính chất trong một hoạt động cụ thể riêng biệt Để biểu đạt các khái niệm phức hợp, từ ghép có ưu thế rõ ràng nhờ hình thức ngắn gọn nhưng thể hiện nội dung phong phú, đa dạng hơn hẳn so với các loại từ khác Hình thức ghép là một phương thức cấu tạo từ cơ bản trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Anh Ghép không phải là phương thức cấu tạo từ duy nhất nhưng phổ biến nhất Xét về số lượng và các đặc tính từ vựng-ngữ nghĩa, danh từ ghép nói chung có số lượng lớn và đa dạng hơn so với các loại khác về hình thức cấu tạo lẫn ngữ nghĩa cấu tạo Việc nghiên cứu danh từ ghép trong tiếng Việt và tiếng Anh giúp cho việc hiểu rõ cơ chế cấu tạo từ ghép nói riêng, cấu tạo từ nói chung và các mối quan hệ thuộc nội tại của từ Ngoài ra, cơ chế cấu tạo từ ghép còn bổ sung thêm hình thức phái sinh là cấu trúc cấu tạo từ, lĩnh vực chịu ảnh hưỏng của loại hình ngôn ngữ đa tiết và biến hình như tiếng Anh

Ngôn ngữ là công cụ của tư duy Ngôn ngữ nào cũng phải biểu hiện tư duy Mỗi ngôn ngữ biểu hiện theo cách riêng của mình Làm thế nào để người học ngoại ngữ có thể nắm bắt nhanh nhạy những dữ liệu ngôn ngữ khác nhau ấy?

Trong giao tiếp hàng ngày, có một lớp từ thuộc vốn từ tiêu cực,

Mở đầu - Trang 1

Trang 7

nhưng phổ biến trong một số hoạt động xã hội-nghề nghiệp, đó là lớp danh từ ghép chỉ nghề nghiệp, chỉ người Những từ này được hình dung thành một khái niệm phản ánh những nét đặc trưng cơ bản nhất nhằm gọi tên những sự việc, những tính chất trong một hoạt động riêng biệt Đi sâu nghiên cứu lớp từ này giúp cho việc hệ thống lại các đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của từ ghép được khảo sát ở bình diện cấu tạo từ cả trong tiếng Anh và tiếng Việt, so sánh với tiếng Anh để có cái nhìn toàn diện hơn về vị trí chức năng của chúng trong hoạt động giao tiếp nói chung và trong thói quen sử dụng của người bản ngữ nói riêng khi muốn diễn đạt một hoạt động mang tính nghề nghiệp Việc xác định bản chất của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp không phải là điều đơn giản khi mà xung quanh lớp từ đó có nhiều điều phức tạp, nhiều vấn đề còn tranh cãi liên quan đến chính khái niệm từ ghép và ranh giới từ ghép với các đơn vị từ vựng khác Vì thế, nghiên cứu lớp từ ghép chỉ nghề nghiệp có ý nghĩa thiết thực trong việc góp phần miêu tả một cách toàn diện lớp từ có số lượng đáng kể và khá đặc biệt trong vốn từ tiếng Việt và trong tiếng Anh

Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng như dạy tiếng nước ngoài cho người Việt, mà đặc biệt là việc dạy tiếng Anh cho người Việt trong những năm gần đây đã diễn ra kháphổ biến Tuy nhiên, làm thế nào để người dạy dễ dàng truyền đạt, người học dễ dàng tiếp thu là một vấn đề cần được nghiên cứu Nó càng nóng hổi khi người học luôn có xu hướng muốn rút ngắn thời gian học tập mà chất lượng vẫn cần được đảm bảo Yêu cầu ấy đặt ra trách nhiệm ngày càng nặng nề đối với các giáo viên dạy tiếng, đồng thời cũng là yêu cầu đối với ngành ngôn ngữ học

Mở đầu - Trang 2

Trang 8

Đề tài của luận văn là: Đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp của các danh từ ghép chỉ nghề nghiệp, trong tiếng Việt (so sánh

với lớp từ tương ứng trong tiếng Anh)

Mục đích của luận văn là so sánh về mặt hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp danh từ này trong hai ngôn ngữ, từ đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa, ngữ pháp của lớp từ ghép chỉ nghề nghiệp Bên cạnh đó luận văn còn tiến hành một số so sánh đối chiếu thông qua việc khảo sát khả năng hoạt động của chúng trong những bối cảnh giao tiếp cụ thể Các đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của từ ghép được khảo sát ở bình diện cấu tạo từ Từ ghép được phân tích về hình thức cấu tạo nhằm mục đích làm rõ các yếu tố và phương thức cấu tạo từ Luận văn cũng nghiên cứu các hiện tượng đồng âm, khác nghĩa,…, nghiên cứu các biến thể, hiện tượng biến đổi qui chiếu, tính đa nguyên, đa cấu trúc và sự chuyển loại trong hai ngôn ngữ Anh, Việt Sự so sánh đối chiếu nhằm phát hiện ra những nét tương đồng khác biệt về ngữ nghĩa ngữ pháp của lớp từ này trong tiếng Việt với những đơn vị từ vựng có hình thức cấu tạo tương tự trong tiếng Anh, đồng thời chỉ ra xu hướng phát triển của lớp từ này trong từ vựng tiếng Việt

Luận văn có hai mục đích chính:

1 Phân tích các đặc điểm về cấu tạo, vềø ngữ nghĩa và ngữ pháp của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong hai ngôn ngữ Anh, Việt

2 So sánh đối chiếu các đặc điểm về các phương diện trên để chỉ ra một cách có hệ thống những điểm tương đồng và khác

Mở đầu - Trang 3

Trang 9

biệt của các danh từ ghép chỉ nghề nghiệp tiếng Anh và tiếng Việt Để đạt được hai mục đích trên luận văn cần giải quyết những nhiệm vụ sau:

trong tiếng Anh và tiếng Việt

- Phân tích đặc tính ngữ nghĩa và ngữ pháp của lớp từ này

Việt và tiếng Anh về hình thức cấu tạo và tổ chức nghĩa, các đặc tính ngữ pháp của chúng

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là danh từ ghép chỉ nghề nghiệp, trong tiếng Việt và tiếng Anh hiện đại Các từ ghép chỉ nghề nghiệp ở mọi lĩnh vực hoạt động Các từ được phân tích kỹ về hình thức cấu tạo, các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố tạo nên từ ghép và các đặc điểm về mặt ngữ pháp Nét đặc trưng nhất trong từ ghép tiếng Việt là số lượng từ có yếu tố Hán Việt Loại từ này chiếm 42% trong số danh từ ghép chỉ nghề nghiệp mà chúng tôi thống kê được từ một số từ điển như:

Nẵng-Trung tâm Từ điển học, Hà Nội-Đà Nẵng

Trang 10

- Từ điển Anh Việt, 1991, NXB Khoa học Xã hội

Multimedia Tool for Developing

Nét khác biệt về cấu tạo từ giữa tiếng Anh và tiếng Việt là từ phái sinh, về nguyên tắc từ phái sinh là sự kết hợp giữa thân từ và các phụ tố tạo nên từ mới có nghiã tương ứng với thân từ sản sinh Nghĩa từ vựng được xét đến khi xác định và làm sáng tỏ cấu trúc ngữ nghĩa của từ ghép Luận văn cũng nghiên cứu các hiện tượng đồng âm khác nghĩa cấu tạo, tính biến đổi quy chiếu, tính đa nguyên, đa cấu trúc đặc trưng cho tiếng Anh, nhưng không có trong tiếng Việt Ngược lại, sự chuyển loại là nét đặc trưng của tiếng Việt, nhưng không được thể hiện rõ trong tiếng Anh

III LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Đã có không ít công trình nghiên cứu so sánh ở những bình diện khác nhau của các đơn vị ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Anh Tuy nhiên so sánh trong lĩnh vực cấu tạo từ giữa ngôn ngữ thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau như tiếng Việt và tiếng Anh lại là vấn đề chưa được quan tâm Do có những nét đặc trưng về hình thức cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp của lớp danh từ ghép này đã gây được sự chú ý trong giới nghiên cứu, nhưng chưa có được sự quan tâm đúng mức

Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về lớp danh từ ghép chỉ nghề nghiệp, chỉ người Ở mỗi tác giả, nó chỉ được đề cập một cách chung nhất, sơ lược nhất trong hệ thống từ ghép nói chung Có thể nói từ

Mở đầu - Trang 5

Trang 11

trước đến nay, các nhà nghiên cứu mới chỉ chấm phá một vài nét phác hoạ diện mạo của lớp từ , khi có dịp đề cập đến vốn từ trong tiếng Việt mà thôi Đây là lớp từ mang nhiều nét đặc thù cả về hình thức cấu tạo lẫn ngữ nghĩa Tuy nhiên, có nhiều điểm chưa đồng nhất trong quan niệm của các tác giả về việc xác định những đặc trưng cơ bản của chúng

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy có những tác phẩm của Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu, Đinh Văn Đức, Nguyễn Thiện Giáp , Hồ Lê, … có đề cập đến từ ghép chỉ nghề nghiệp trong tiếng Việt Ở những mức độ và những chiều hướng khác, các tác giả cũng đã đề cập đến lớp từ này

Trong từ ghép, họ đều phân tích phân loại từ ghép nghĩa thuộc hai nhóm từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ Luận văn đã cố gắng nêu lên những đặc điểm về hình thức cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp của lớp từ ghép chỉ nghề nghiệp, chỉ người và bước đầu phân tích một số hiện tượng khác như hiện tượng chuyển loại, biến đổi quy chiếu, cấu trúc trọng âm của từ, … là những vấn đề đang tồn tại xung quanh lớp từ này, đồng thời nêu lên vai trò chức năng của chúng trong quá trình sử dụng tiếng Anh và tiếng Việt

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình tiếp cận khảo sát cấu tạo và phân tích định lượng đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

1 Các phương pháp chung

- Phương pháp thống kê, phân loại tài liệu

Mở đầu - Trang 6

Trang 12

- Phương pháp miêu tả, so sánh, đối chiếu

2 Các phương pháp riêng

Mục đích của luận văn là miêu tả, phát hiện các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa cấu tạo của lớp danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong cả hai ngôn ngữ Anh, Việt nên phương pháp nghiên cứu được xem là chủ yếu và xuyên suốt trong luận văn là các phương pháp nghiên cứu ngữ nghĩa học, cú pháp học hiện đại:

Khi khảo sát, phân tích đối tượng không phân tích từ riêng lẻ mà đặt chúng vào trong một hệ thống các sự kiện có cùng phương thức cấu tạo, đặt trong mối quan hệ giữa chúng với các từ khác trong các ngữ cảnh khác nhau và đặt đối tượng trong mối quan hệ với hiện thực mà nó biểu thị đồng thời đặc biệt chú trọng mối quan hệ với người sử dụng

V CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm có 3 chương như sau:

Chương I : Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong tiếng Việt Chương II : Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong tiếng Anh

Chương III: So sánh về đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp và ngữ

nghĩa của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp trong tiếng Việt và tiếng Anh

Mở đầu - Trang 7

Trang 13

CHƯƠNG I DANH TỪ GHÉP CHỈ NGHỀ NGHIỆP

TRONG TIẾNG VIỆT

A DANH TỪ: CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA

I Danh từ, danh ngữ trong tiếng Việt

Danh từ là từ loại có vị trí quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng Danh từ chiếm một số lượng rất lớn và có vị trí quan trọng trong hệ thống từ loại tiếng Việt Nhìn chung danh từ được các nhà ngôn ngữ học nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên danh từ tiếng Việt dù được định nghĩa dưới góc độ nào cũng thể hiện nét đặc trưng cơ bản của nó theo cách định nghĩa truyền thống danh từ là từ loại biểu thị sự vật tính (sinh vật, vật thể, hiện tượng, tư duy)

Các danh từ gắn với tên gọi các khái niệm về sự vật (bàn,

ghế, áo, sách …), các khái niệm trừu tượng (kinh tế, xã hội, phạm trù …), tên gọi động thực vật (trâu, bò, gà, hoa hồng, rau cải …), tên

gọi các khái niệm chỉ người hay chỉ nghề nghiệp (học sinh, giáo

Chương 1- Trang 9

Trang 14

viên, nhà thơ …) Vì vậy khi nghiên cứu phân tích danh từ tiếng Việt

phải chú ý đến phạm trù từ vựng ngữ pháp của từ

Xét về bản chất và ý nghĩa, danh từ tiếng Việt có những đặc trưng sau :

1 Biểu thị khái niệm về sự vật cụ thể

Chỉ người : bộ đội, học sinh, bác sĩ, thủy thủ …

Chỉ đồ vật : nhà, sách, bàn, ghế, áo …

Chỉ động thực vật : cá, mèo, kiến lửa, hoa hồng, rau cải …

Chỉ chất liệu : dầu, mỡ, gỗ, cát, vải, sắt …

2 Biểu thị khái niệm trừu tượng khái quát

Ví dụ như: kinh tế, khuynh hướng, nhiệm vụ, điều kiện, khả

Trong tiếng Việt cũng tồn tại hiện tượng tương tự như vậy, việc nhận diện danh từ tương ứng nhờ vào yếu tố ngữ pháp:

học > việc học làm > việc làm buồn > nỗi buồn vui > niềm vui

Chương 1- Trang 10

Trang 15

II Phân loại danh từ trong tiếng Việt dựa vào cấu tạo

Đứng về mặt cấu tạo mà xét, danh từ trong tiếng Việt được chia như sau:

3 Các loại danh từ khác

Từ láy, từ ngẫu hợp Trong luận văn chỉ khảo sát danh từ ghép, cụ thể là danh từ chỉ nghề nghiệp

B ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO, NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA LỚP DANH TỪ GHÉP CHỈ NGHỀ NGHIỆP

I Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp

1 Khái niệm

Nghề nghiệp là công việc chuyên làm theo sự phân công lao

động xã hội Những nghề cụ thể như: nghề dạy học, nghề nông,

Chương 1- Trang 11

Trang 16

nghề buôn…

Danh từ chỉ nghề nghiệp là từ nói chung gọi tên một hoạt

động kiếm sống chuyên nghiệp Ví dụ: nghề hạ bạc (nghề đánh cá

ở sông hồ) Danh từ chỉ nghề nghiệp này biểu hiện một khái niệm

rộng khái quát bao gồm ý nghĩa của những từ cũng chỉ nghề đánh cá, như là:

- Nghề thuyền chài (dùng thuyền nhỏ để đánh cá)

- Nghề câu cá (tìm bắt tôm cá bằng móc sắt nhỏ, móc mồi sau đó buộc vào đầu sợi dây

- Nghề đánh cá (dùng chài lưới hoặc các công cụ khác để bắt cá và các loại thủy sản như tôm cua)

- Nghề đánh giậm (đánh bắt tôm cá bằng dụng cụ đan bằng tre có miệng rộng hình bán cầu và có cán cầm)

Tương ứng với mỗi nghề là danh từ chỉ người làm chính công việc đó Danh từ chỉ nghề nghiệp và danh từ chỉ người làm công việc tương ứng, khi không hành chức khó lòng mà phân biệt được Tương ứng với mỗi nghề nêu trên là những danh từ chỉ người:

người đánh cá, người thuyền chài, người câu cá, người đánh giậm

Trên cơ sở này, đối tượng nghiên cứu của luận văn là danh từ ghép chỉ nghề nghiệp và danh từ ghép chỉ người Ví dụ:

Nghệ sĩ là người chuyên hoạt động sáng tác hoặc biểu diễn

trong một bộ môn nghệ thuật Nghệ sĩ không phải là từ chỉ nghề mà

là chỉ người làm công tác nghệ thuật Đến đây nẩy sinh một vấn đề,

nghệ sĩ có là nghề hay không còn tuỳ thuộc vào quan niệm xã hội

Vì thế trong lĩnh vực nghệ thuật những từ ghép biểu thị khái niệm

cụ thể hơn nghệ sĩ như là:

Chương 1- Trang 12

Trang 17

nghệ sĩ múa, nghệ sĩ hài, nghệ sĩ kịch nói, nghệ sĩ cải lương, nghệ sĩ tuồng,

Trong khi đó ca sĩ là từ chỉ những người chuyên ca hát và là

danh từ chỉ nghề nghiệp Ranh giới giữa hai khái niệm danh từ chỉ nghề nghiệp và danh từ chỉ người có lúc trùng nhau có lúc mang nghĩa lân cận gần nhau Nhưng danh từ ghép chỉ một loại nghề nghiệp cụ thể nào đó sẽ dựa trên sự đồng nhất về ý nghĩa, mỗi một nghề bào gồm những từ ghép chỉ nghề hoặc chỉ người, chúng là một tập hợp mang một nét đồng nhất về ngữ nghĩa Các từ trong mỗi loại nghề nghiệp có nội dung nghĩa gần gũi nhau hơn các từ thuộc loại nghề nghiệp khác Từ ghép chỉ nghề nghiệp như từ đơn ở chỗ: từ ghép cũng là đơn vị cho sẵn trong hệ thống ngôn ngữ và được thống kê sắp xếp trong từ điển, không phải là đơn vị có thể tạo ra khi nói

2 Cấu tạo

Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp được cấu tạo theo mẫu:

2.1 Từ được cấu tạo theo mẫu : DANH TỪ + DANH TỪ

Ví dụ : nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, nhà nho, thầy đồ,

thầy cai, thầy chùa, thầy cò, thầy đội, thầy mo, thầy lang, thầy pháp, thầy số, thầy quyền, thầy thuốc, thầy tu, thầy tướng,

Đây là loại từ ghép gồm hai thành tố đều là danh từ, chúng được kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và nghĩa của chúng được suy ra từ nghĩ của từng thành phần

2.2 Từ được cấu tạo theo mẫu: DANH TỪ + ĐỘNG TỪ

Ví dụ: thợ rèn, thợ nguội, thợ hàn, thợ cày, thợ cấy, thợ cắt

tóc, thợ may, thợ dệt,

Chương 1- Trang 13

Trang 18

2.3 Từ được cấu tạo theo mẫu: TỪ CHỈ CÁ THỂ + DANH TỪ

Từ chỉ cá thể bao gồm: anh, ả, cô, cậu, ông, bà, chị, …

Những từ ghép chỉ nghề nghiệp được cấu tạo theo mẫu này

được thống kê như sau: ả đào, ả xẩm, bà mụ, cô đầu, cô đào, cô

đỡ, cô hầu, cô giáo, cô đồng, con phe, con bưôn, con bác, con sen, con ở,

Những từ chỉ cá thể này đã biến thành những từ tố có ý nghĩa đặc biệt để cấu tạo nên từ ghép Những từ chỉ cá thể này có một kết cấu chặt chẽ không thể tách ra được từ những thành tố của chúng

2.4 Từ được cấu tạo theo mẫu: ĐỘNG TỪ + DANH TỪ

Thành phần đứng trước của từ ghép loại này bao giờ cũng là động từ, thành tố đứng sau là danh từ Bình thường thì hình thức này là cụm động từ Danh từ đứng sau động từ là bổ ngữ trực tiếp hay gián tiếp Tuy nhiên trong từ ghép có hình thức cấu tạo ĐỘNG TỪ + DANH TỪ thì những thành tố của nó không đảm nhiệm những chức năng cú pháp như trên Dựa vào quan hệ cú pháp “từ hoá” những cụm động từ gồm có “ĐỘNG TỪ + DANH TỪ” chuyển thành từ ghép Hình thức cấu tạo của những từ ghép này là có qui tắc và các thành tố cấu tạo của chúng thường rất chặt chẽ :

Ví dụ: vũ nữ, kí giả, kỵ sĩ, họa công, kỹ sư, phóng viên, phi

Trang 19

viên, hướng dẫn viên, huấn luyện viên, kỹ thuật viên, điện báo viên, điện thoại viên, phát ngôn viên, quan sát viên, tình báo viên, trinh sát viên, tuyên truyền viên, vệ sinh viên

Trong cấu tạo từ, thành phần phụ là danh từ đứng sau đã cụ thể hoá ý nghĩa của thành phần chính Đồng thời nghĩa của chính từ tố đó cũng hẹp hơn nghĩa khi nó được sử dụng độc lập

Những từ gốc Hán: văn sĩ, thi sĩ, thi nhân, … Trong văn sĩ và

thi nhân có một thành tố nổi lên như thành tố chính, nó quyết định

nội dung, ý nghĩa của từ ghép đó còn thành tố còn lại chỉ bổ sung thêm chi tiết làm cho ý nghĩa của từ trở thành cụ thể

Có 168 từ có yếu tố gốc Hán trong 394 từ ghép chỉ nghề nghiệp đã khảo sát (tỉ lệ 42,64%) Một số khá lớn những yếu tố gốc Hán phát âm Hán Việt được dùng làm đơn vị gốc trong tiếng Việt Việc mượn một từ Hán đưa vào tiếng Việt, đọc theo âm Hán Việt ngay lập tức được người Việt nhận ra ngay cấu tạo của từ ghép đó, đối chiếu với những đơn vị gốc Hán Việt và chấp nhận ngay từ đó

Ví dụ: Thi nhân, thi sĩ là từ mượn yếu tố Hán, mượn kết cấu Hán để

cấu tạo ra từ ghép; người Việt chấp nhận, coi đây là một từ ghép có một yếu tố xuất phát từ nguồn gốc Hán

II Đặc điểm về ngữ pháp

1 Đặc điểm về quan hệ giữa các thành tố cấu tạo

Từ ghép chia làm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

1.1 Từ ghép đẳng lập (hoặc từ ghép song song)

Là từ ghép trong đó giữa các thành tố có quan hệ đẳng lập

hoặc quan hệ song song: phiên dịch, nô bộc, đào kép, lái buôn, buôn

bán, mai mối, …

Chương 1- Trang 15

Trang 20

− Từ ghép đẳng lập bao giờ cũng có hai thành phần song song Những từ tố của từ ghép là các thành phần song song, luôn là những từ cùng một từ loại, đặt ngang nhau, không từ tố nào phụ thuộc từ tố nào Quan hệ song song là quan hệ giữa các thành phần đồng loại

1.2 Từ ghép chính phụ

Là từ ghép bao gồm hai thành tố, trong đó một thành tố là

chính còn thành tố kia là phụ: nhà văn, nhà thơ, nhà báo, thầy đồ,

thợ điện, thợ rèn, thợ nguội, thợ hàn, ả đào, ả xẩm, bà đỡ, con hát, …

Loại từ ghép chính phụ được cấu tạo theo hai mẫu phụ chính và chính phụ có nghĩa là thành tố phụ đứng trước thành tố chính; hoặc thành tố chính đứng trước thành tố phụ Cả hai hình thức phụ chính hay chính phụ thì thành tố chính bao giờ cũng biểu thị ý nghĩa nòng cốt, phản ánh đúng chủng loại của đối tượng trong từ ghép; giữa các thành phần chính và thành phần phụ không thể thêm từ nối

1.3 Đặc điểm về trật tự của các thành tố cấu tạo

Những từ ghép nghĩa như: áo quần, chậu thau, đồi núi,…, có thể đảo vị trí giữa các thành tố của chúng như: quần áo, thau chậu,

núi đồi, … Còn đối với danh từ chỉ nghề nghiệp thì trật tự giữa các

thành tố không thể thay đổi cho dù cả hai thành tố đều có nghĩa và

đều có khả năng vận dụng độc lập: nhà văn, nhà báo, thầy giáo,

học trò, thợ sơn, thợ bạc, thợ may, thợ cắt tóc, … Tuy nhiên có một

danh từ chỉ nghề nghiệp có khả năng đảo vị trí giữa các thành tố:

mối mai có thể đảo lại là mai mối Về cơ bản thì nghĩa không thay

đổi nhưng khi đọc sẽ không thuận và khả năng đảo vị trí như vậy cũng hạn chế do thói quen sử dụng của người bản ngữ

Chương 1- Trang 16

Trang 21

2 Khả năng kết hợp của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp với các thành tố trước và sau nó

2.1 Kết hợp với các thành tố đứng trước nó

- Danh từ chỉ nghề nghiệp có thể kết hợp với các từ chỉ tổng

thể: tất cả, hết thảy, toàn bộ, toàn thể …

Ví dụ : Tất cả học sinh đều phải đến trường

Nếu lược bỏ những từ chỉ tổng thể này, ý nghĩa của câu trên về mặt cơ bản không thay đổi Tuy nhiên khả năng kết hợp trực tiếp của lớp danh từ này với những từ chỉ tổng thể là rất hạn chế, nếu như không có những từ chỉ số lượng đi cùng chúng ta không

thể nói: * Tất cả anh sinh viên ấy

- Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp có thể kết hợp với những từ

chỉ số lượng: những, các … Ví dụ:

- Những sinh viên đang miệt mài học tập

- Các nhà văn gặp gỡ và trao đổi với nhau trong hội nghị

Sự kết hợp với những từ chỉ số lượng không bị hạn chế

- Danh từ chỉ nghề nghiệp có thể kết hợp trực tiếp với số từ

Ví dụ: hai bác sĩ , năm y tá, ba diễn giả,

Sự kết hợp này không bị hạn chế như những từ chỉ số lượng đã nêu trên Đây là đặc điểm khác hẳn với những danh từ ghép khác trong từ loại danh từ tiếng Việt

Ví dụ : không thể nói:

* Hai sách vở

* Ba quần áo

* Một bàn ghế

Chương 1- Trang 17

Trang 22

Những từ ghép loại này chỉ có khả năng kết hợp với số từ thông qua các từ chỉ đơn vị:

Hai chồng sách vở,

Ba gói quần áo, Một bộ bàn ghế,

2.2 Kết hợp với các thành tố đứng sau là những từ chỉ định

những, các, hết thảy, toàn bộ, toàn thể,…

Ví dụ: Anh sinh viên ấy vừa mới thi xong

3 Kết hợp với từ chỉ loại thể

Trong tiếng Việt về số lượng danh từ chỉ nghề nghiệp tương đối lớn, phong phú và đa dạng Chúng tôi đã khảo sát khoảng 394 từ Khi hành chức, những từ này được dùng như những danh từ chung, chúng có khả năng kết hợp với những từ loại khác, việc lựa chọn danh từ chỉ loại nào đứng trước danh từ chỉ người, chỉ nghề nghiệp là việc làm hết sức tế nhị,vì điều này thể hiện thái độ của người nói và sắc thái biểu đạt trong lời nói

3.1 Phân biệt danh từ chỉ loại thể với từ chỉ đơn vị quy ước

Đặc điểm: từ chỉ loại thể với tư cách là đơn vị tự nhiên của sự vật, phục vụ cho danh từ để cá thể hóa sự vật và có khả năng kết hợp như danh từ Từ chỉ loại thể cũng như từ chỉ đơn vị qui ước có những đặc điểm ngữ pháp giống nhau Chúng đều đứng trước danh từ để xác định tính chất đơn vị và tính chất chủng loại sự vật Tuy nhiên danh từ chỉ loại thể và danh từ chỉ đơn vị cũng có những nét ngữ pháp riêng biệt

Danh từ chỉ loại ở trong tiếng Việt có số lượng hạn chế

Chương 1- Trang 18

Trang 23

Ví dụ : con, cái, cuốn, chiếc, tấm, bức, quyển, quả …

Việc lựa chọn đơn vị nào cho phù hợp là do những danh từ chỉ sự vật, chỉ người, chỉ nghề nghiệp đi sau nó quy định Các yếu tố này có tác dụng tách các loại sự vật cá thể thành những đơn vị tự nhiên Chúng phản ánh những đặc điểm vốn có không do con người qui ước đặt ra và những danh từ đứng sau thường là những danh từ chỉ đồ đạc, động vật,

Ví dụ : cái bàn, con gà, chiếc bánh, bức tranh, quyển truyện,…

Đồng thời chúng phản ánh những đặc điểm vốn có do con người qui ước đặt ra, có tác dụng biểu thị thái độ khinh trọng, thân

sơ, nam nữ, già trẻ và những danh từ đứng sau là những danh từ chỉ người ( chỉ nghề nghiệp )

3.2 Sự kết hợp của danh từ chỉ người với từ chỉ loại thể

Căn cứ vào đặc điểm tính chất của nhóm danh từ chỉ người (chỉ nghề nghiệp) đứng sau kết hợp trực tiếp với từ chỉ loại thể, có

thể liệt kê một số từ chỉ loại sau : đứa, tay, con, người, thằng, tên,

kẻ, đức, đấng, bậc, vị, ngài, viên …

Con: thường chỉ loại cho nhóm danh từ chỉ động vật ( con gà, con trâu, con bò) Với nhóm từ chỉ người thì con vẫn giữ vai trò là

từ chỉ loại Con người là vốn quý của xã hội

Con: chỉ cá nhân người phụ nữ với ý không coi trọng hoặc

không thân mật (con ở, con sen, con hát…)

Đứa : đi với những từ chỉ người nhỏ tuổi hơn hoặc những

người có địa vị thấp kém bị coi thường (đứa ở, đứa nô tỳ, đứa đào

mỏ …)

Kẻ: đi với những từ chỉ người thuộc tầng lớp dưới với ý coi

Chương 1- Trang 19

Trang 24

khinh (kẻ ăn cắp, kẻ cắp, kẻ trộm … )

Tay: đi với những từ chỉ người có đặc tính xấu hoặc có khả

năng hoạt động về một lĩnh vực nào đó nhưng hàm ý chê bai (tay

lái đò, tay thầu khoán, tay buôn chuyến …)

Tên: đi với những từ để chỉ những người thuộc hạng bị coi

khinh,

coi thường (tên tướng cướp, tên buôn lậu, tên mật thám …)

Thằng: thường đặt trước những từ chỉ người đàn ông, con trai

ở hàng dưới hoặc ngang mình nhưng biểu thị thái độ khác nhau hoàn toàn ngược lại, có thể là thái độ thân mật hoặc đáng khinh

(thằng ăn cắp, thằng sở khanh, thằng lưu manh …) hoặc biểu thị thái

độ thân mật (thằng Hai nhà tôi vừa thi đậu đại học)

Mụ: đi với từ chỉ người đàn bà lớn tuổi hàm ý coi thường (mụ hàng thịt, mụ phù thủy, mụ đồng bóng …)

Ả: đi với những từ chỉ người con gái với hàm ý xem rẻ coi

thường (ả đào hát, ả giang hồ …)

Lão: chỉ những người già, những người đàn ông lớn tuổi với

hàm ý coi thường (lão thầy bói, lão quản gia, lão ăn mày …)

Viên: từ dùng để chỉ từng người giữ chức vụ nào đó trong xã

hội (viên thư ký, viên sĩ quan … )

Ngoài những từ chỉ loại trên, một số đơn vị chỉ quan hệ thân thuộc cũng lâm thời làm danh từ chỉ loại đứng trước danh từ chỉ

người hoặc chỉ nghề nghiệp như: anh, chị, cô, cậu, em, ông, bà, chú,

thím, bác, …

Anh: chỉ người đàn ông còn trẻ tuổi (anh công nhân, anh bộ đội, anh tài xế …

Chương 1- Trang 20

Trang 25

Cậu: chỉ người chỉ người con trai nhỏ tuổi hàm ý thân mật (cậu học sinh, cậu tú, …)

Chị: chỉ người phụ nữ trẻ (chị bán hàng, chị lao công, chị thợ may …)

Cô: chỉ người con gái trẻ chưa lập gia đình (cô thợ dệt, cô tiếp viên, cô y tá ….)

Em: đi với những từ chỉ người còn nhỏ tuổi với thái độ yêu

mến (em học sinh, em thiếu nhi … )

Ông, bà, chú, bác, thím, mợ: là những danh từ chỉ quan hệ

thân thuộc đã chuyển nghĩa thành từ chỉ loại thể, chỉ những người

lớn tuổi với hàm ý kính trọng (ông giám đốc, bà bác sĩ, chú bộ đội,

bác tài xế, thím hàng xóm, mợ hàng xén,…)

Việc chuyển nghĩa của những danh từ chỉ quan hệ thân thuộc sang từ chỉ loại thể thực ra không liên quan đến nội dung ý nghĩa của danh từ Chủ yếu là thái độ của người nói biểu thị tình cảm thân sơ hay thái độ ngưỡng mộ, kính trọng hoặc khinh khi đối với đối tượng được nói đến

Để tỏ thái độ kính trọng ở mức độ cao, người ta thường lựa chọn các danh từ chỉ loại thích ứng như sau :

Đức: đi với những từ chỉ sự thần thánh, chỉ người có địa vị

cao quý trong xã hội phong kiến hoặc để tỏ ý tôn kính (đức phật,

đức chúa, đức vua, đức ông, đức lang quân … )

Đấng: đi với từ chỉ người được suy tôn đến mức cao nhất về

công lao, sự nghiệp hoặc phẩm chất (đấng cứu tinh, đấng anh hùng,

đấng sinh thành …)

Bậc: đi với từ chỉ người đáng kính (bậc vĩ nhân, bậc tiền bối,

Chương 1- Trang 21

Trang 26

bậc anh hùng …)

Ngài: đi với những từ chỉ người có địa vị cao với ý tôn trọng ( ngài bộ trưởng, ngài thủ tướng, ngài tổng thống)

Vị: đi với danh từ chỉ người có danh hiệu hoặc chức vị với ý tôn trọng ( vị đại biểu, vị hiệu trưởng, vị anh hùng, vị vua, vị quan …)

Trong giao tiếp, việc lựa chọn danh từ chỉ loại nào đứng trước danh từ chỉ người hay chỉ nghề nghiệp để biểu thị thái độ khen, chê, khinh, trọng là do người nói quyết định, trong những ngữ cảnh cụ thể Điều này làm cho ngôn ngữ thêm phần tế nhị uyển chuyển và sinh động

3.3 Danh từ ghép chỉ nghề nghiệp có khả năng làm các chức vụ cú pháp trong câu

- Danh từ chỉ nghề nghiệp giữ vai trò chủ ngữ trong câu

Ví dụ : Sinh viên là thế hệ trẻ đầy triển vọng

Nhà văn tồn tại ở các tác phẩm

- Danh từ chỉ nghề nghiệp giữ vai trò vị ngữ trong câu

Ví dụ : Chị ấy không phải là bác sĩ

Người đang vẽ bức tranh ấy là họa sĩ

Theo Nguyễn Tài Cẩn “danh từ là từ loại không thể độc lập làm vị ngữ Đó là một từ loại không có vị ngữ tính”

Với động từ, tính từ có thể nói :

Tôi hát Chúng tôi không hạnh phúc

Nhưng với danh từ thì không thể nói :

* Chị ấy không bác sĩ mà kỹ sư

Muốn làm vị ngữ, danh từ đòi hỏi phải có trợ từ là ở trước,

Chương 1- Trang 22

Trang 27

chẳng hạn phải nói :

Chị ấy không phải là bác sĩ mà là kỹ sư

Đây là một đặc điểm hết sức cơ bản của danh từ nói chung trong đó có danh từ ghép chỉ nghề nghiệp, khác với động từ, tính từ

- Danh từ chỉ nghề nghiệp giữ vai trò bổ ngữ :

Sáng nay tôi gặp gỡ những thuyền viên trở về sau cơn bão

III Đặc điểm về ngữ nghĩa

1 Đặc điểm ngữ nghĩa của hai thành tố cùng trường nghĩa 1.1 Hai thành tố đồng nghĩa

Ví dụ: binh lính, phiên dịch, nô bộc, đào kép, buôn bán, …

Đây là những danh từ ghép chỉ nghề nghiệp có những nét nghĩa giống nhau Nói cách khác đây là hai từ tố đồng nghĩa

Theo Nguyễn Thiện Giáp: từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm; như vậy từ đồng nghĩa có từ trùng lặp với với nhau hoàn toàn về nghĩa, nhưng cũng có từ không trùng lập hoàn toàn, chúng có sự phân biệt ở một vài sắc thái ngữ nghĩa

Ví dụ: bính lính

Binh và lính là hai từ tố có vỏ ngữ âm khác nhau nhưng cùng

biểu thị một khái niệm là người phục vụ trong lực lượng vũ trang

Như vậy binh và lính trong binh lính là hai từ tố đồng nghĩa Tuy nhiên binh là một từ gốc Hán không có khả năng hoạt động độc lập như lính

Ví dụ: phiên dịch

Phiên và dịch là hai từ tố có vỏ ngữ âm khác nhau, nhưng

Chương 1- Trang 23

Trang 28

cùng biểu thị một hoạt động là chuyển dịch một văn bản từ ngôn

ngữ này sang ngôn ngữ khác Phiên và dịch là hai từ gốc Hán và

chúng có nét nghĩa hoàn toàn giống nhau

Phiên dịch là một nghề, người dịch có nhiệm vụ chuyển tải

nội dung một lời phát biểu từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác Ý

nghĩa của từ ghép phiên dịch đồng nghĩa với ý nghĩa của từng thành

tố cấu tạo nên nó

Dịch thuật, dịch giả là công việc dịch tài liệu, văn bản từ hệ

thống ký hiệu ngôn ngữ này sang hệ thống ký hiệu ngôn ngữ khác

Ví dụ: nô bộc

Đứng về mặt ngữ nghĩa thì nô và bộc là hai từ tố đồng nghĩa Chúng cùng biểu thị một khái niệm là đầy tớ, người đi ở cho bọn quan lại quí tộc giàu có trước kia Nô và bộc là hai từ gốc Hán, không có khả năng hoạt động độc lập Vì thế không thể nói một

người nô hay một người bộc

Khái niệm giống nghĩa giữa hai từ tố cũng đôi khi chỉ có tính chất tương đối, nghĩa là tuy hai thành tố cùng biểu thị một khái niệm, có cùng nghĩa biểu niệm, nhưng hai thành tố đó chỉ gần nhau về nghĩa và có một vài sắc thái ý nghĩa khác nhau

Ví dụ: đào kép

Ngữ nghĩa của từ đào kép biểu thị khái niệm chỉ những người

làm nghề ca hát hoặc diễn viên trong các ngành sân khấu điện ảnh

(nói khái quát là hàm ý coi thường) Cả hai từ tố đào và kép đều có

nét nghĩa cơ bản giống nhau, nhưng hai nét nghĩa không trùng khít nhau hoàn toàn mà chúng mang một vài sắc thái ngữ nghĩa khác nhau

Đào kép: nghề xướng ca dưới chế độ phong kiến thực dân cũ

Chương 1- Trang 24

Trang 29

Đào kép là một nghề nhưng không mang ý nghĩa như khi đào và kép đứng riêng lẻ độc lập Đào kép không có nghĩa là một người

hát nữ với một người hát nam, mà nó mang nghĩa chỉ nghề ca hát nói chung

Đào là diễn viên nữ trong các ngành sân khấu điện ảnh (đào

xi nê)

Kép là diễn viên nam trong các ngành sân khấu điện ảnh

hoặc là người đệm đàn cho hát chèo, hát ả đào Do đó hai thành tố này có nghĩa giống nhau

Ví dụ: buôn bán

Buôn bán biểu thị sự thương mại giao dịch bằng hàng hóa là

mua và bán một loại hàng hóa cụ thể nào đó Tuy nhiên từ buôn

bán không có ý nghĩa toàn vẹn như khi buôn và bán đứng riêng và

độc lập thành hai từ riêng biệt

Buôn bán là nghề nghiệp của một lớp người mua hàng bán

lấy lãi Buôn bán là phương tiện, là nghề nghiệp để kiếm sống

1.2 Hai thành tố khác nghĩa cụ thể, nhưng cùng trường nghĩa

Ví dụ như: mối lái, thám báo, do thám, thanh tra, thám tử,

đồng cốt, phu phen, học trò, …

Nghĩa của những từ ghép loại này không phải là con số cộng đơn thuần về nghĩa của từng yếu tố Đây là loại danh từ mà ý nghĩa biểu niệm của các thành tố giống nhau thường là về nét nghĩa khái quát Dựa vào sự phối hợp ngữ nghĩa giữa hai thành tố có thể gọi là loại danh từ ghép có hai thành tố cận nghĩa Hai thành tố trong cùng một nhóm từ vựng ngữ nghĩa hoặc cùng nghĩa trong một trường từ vựng

Chương 1- Trang 25

Trang 30

1.3 Trong hai thành tố có một yếu tố mờ nghiã

Có trường hợp xẩy ra hiện tượng lu mờ nghĩa của một yếu tố

nào đó ở trong từ: nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà giáo, nhà buôn,

nhà đầu tư, nhà phân phối, …

Ở đây nhà được dùng để chỉ người chuyên môn ngành nghề

trong một lĩnh vực hoạt động nào và được xã hội công nhận :

- nhà văn, nhà thơ là người đã có tác phẩm được xuất bản

- nhà báo là người phải có những bài viết đăng trên báo, tạp

chí …

Nhà là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có nghĩa, vận dụng đối

lập, có khả năng kết hợp với từ tố khác để tạo nên từ ghép chỉ nghề nghiệp; ngay cả người bản ngữ cũng không thể phân xuất những thành phần đồng chức của những thành tố trong từ ghép ở tất cả những từ cấu tạo theo mẫu này được Chúng ta cũng chỉ có thể viết:

gặp gỡ các nhà văn, nhà thơ, nhà báo Không thể viết: gặp gỡ các nhà văn, thơ, báo vì đây là một đơn vị vững chắc về mặt cấu trúc

không thể tách nhàø ra khỏi văn, thơ, báo được

2 Đặc điểm ngữ nghĩa của hai thành tố có nghĩa dồn hẳn lên một yếu tố nào đó trong từ

Nghĩa của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp được suy ra từ hai thành tố

Ví dụ như: thầy cai, thầy chùa, thầy cúng, thầy cãi, thầy cò,

thầy ký, thầy đội, thầy kiện, thầy mo, thầy pháp, thầy số, thầy quyền, thầy tu, thầy tướng, thầy cả, …

Quy ước A: thành tố thứ nhất, B: thành tố thứ hai

Ở những từ ghép này ý nghĩa của thành tố B khác xa hẳn

Chương 1- Trang 26

Trang 31

nghĩa của từ là nghĩa được suy ra từ A và B Những thành tố trong

từ ghép như cả, cái, cai, chùa, cò, cúng, đội, ký, kiện, mo, lang,

pháp, quyền, tu, tướng đều có một nghĩa khác xa với nghĩa trong từ

ghép

Thầy cả là linh mục trong đạo thiên chúa giáo chứ không

phải là ông thầy lớn tuổi đứng đầu trong một dòng đạo

Thầy chùa là người tu hành trông coi việc nhang khói trong

chùa

Thầy dòng là người tu hành bên đạo thiên chúa nhưng không

phải là linh mục

Thầy đội, thầy quyền là những người lính Việt Nam phục vụ

bộ máy chính quyền phong kiến thực dân

Trong các từ ghép chỉ nghề nghiệp loại này, vai trò của các yếu tố không ngang nhau trong việc hình thành nên nghĩa của từ Ngữ nghĩa của từ ở đây là mối quan hệ giữa từ với đối tượng mà từ biểu thị, gọi tên Ngữ nghĩa của từ có thể dồn hẳn lên một yếu tố nào đó trong từ còn phụ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể

Có những từ ghép mà nghĩa của nó biểu thị một đặc điểm tượng trưng hay mang ý nghĩa biệt loại so với ý nghĩa thực của từ

Ví dụ: lang vườn , giáo làng

vườn không phải là một cái vườn thật

làng không phải là một địa điểm cụ thể nào Hai thành tố vườn, làng có ý nghĩa tượng trưng cho tính chất của ông lang hay

của thầy giáo Có nghĩa nó mang ý nghĩa biệt loại mà thôi Ở đây

thành tố thứ hai vườn, làng, có chức năng biểu thị một đối tượng

dùng để so sánh với đối tượng do thành tố thứ nhất biểu thị Đối

Chương 1- Trang 27

Trang 32

tượng thứ hai đem so sánh với đối tượng thứ nhất thể hiện ở mức độ kém hơn hoặc chỉ là một bộ phận của đối tượng thứ nhất mà thôi

3 Đặc điểm của cái sở chỉ

Quan hệ giữa từ với đối tượng là quan hệ gọi tên Cái sở chỉ là đối tượng mà từ biểu thị, có thể là những đối tượng ngoài hoặc trong ngôn ngữ Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc hiện tượng mà từ biểu thị được gọi là cái sở chỉ của từ Mối quan hệ của từ với cái sở chỉ được gọi là nghĩa sở chỉ Nghĩa sở chỉ của những danh từ ghép chỉ nghề nghiệp có thể mở rộng hoặc thu hẹp

3.1 Nghĩa mở rộng

Nghĩa rộng hơn là quá trình phát triển từ cái riêng đến cái chung Bản thân từ biểu thị khái niệm rộng, nhưng không thay đổi nghiã cơ sở của mình Ngữ nghĩa của danh từ ghép chỉ nghề nghiệp rộng hơn nghĩa của các thành tố

Nghĩa của từ ghép loại này chỉ ra một khái niệm chung và tất cả những khái niệm khác nằm trong khái niệm chung đó đều thuộc

vào thành tố thứ nhất hoặc thành tố thứ hai: thợ rèn, thợ hàn, thợ

cắt tóc, thợ cầy, thợ cấy, thợ tiện, thợ xây, thợ may, thợ khoan, thợ mỏ, thợ lăn, thợ máy, thợ mộc, thờ nhuộm, thợ săn, thợ nề, thợ rừng, thợ đúc, thợ điện, thợ in, thợ đá, thợ ảnh, thợ dệt, thợ đấu, thợ điện, thợ đồng, thợ gặt, …

Thành tố (1) được quy ước là A, thành tố (2) được quy ước là

B Nghĩa của từ mở rộng hơn so với thành tố (2), ý nghĩa của thành tố (2) là ý nghĩa của B trong AB khi thì hẹp hơn, khi thì rộng hơn ý nghĩa của B khi đứng độc lập

Ví dụ: thợ cắt tóc không chỉ có nghĩa là một việc cắt tóc mà

còn bao hàm biểu thị một số động tác khác như là gội đầu, rửa mặt,

Chương 1- Trang 28

Trang 33

sơn móng tay Như vậy ý nghĩa của cả từ ghép thợ cắt tóc sẽ rộng hơn so với ý nghĩa của cắt tóc khi đứng độc lập

Có những trường hợp thoạt nhìn tưởng rằng ý nghĩa của động từ (một thành tố phụ) có ý nghĩa trùng khít hoàn toàn như ý nghĩa khi nó được sử dụng độc lập, nhưng thật ra không như vậy

Ví dụ: thợ cày Người thợ không chỉ có một việc đi cày mà còn phải bừa, phạt bờ, đánh góc ruộng Ý nghĩa của từ ghép thợ cày sẽ rộng hơn khi so với yếu tố của thành tố thứ hai là cày

3.2 Nghĩa thu hẹp

Nghĩa hẹp hơn là quá trình ngược lại Phạm vi ý nghĩa của

loại từ này phát triển từ cái chung đến cái riêng

- Nghĩa hẹp hơn so với thành tố đứng trước: thợ là người lao động chân tay chuyên làm một nghề nào đó như rèn, hàn, nguội,

cắt tóc … Khái niệm thợ là A, khái niệm thợ rèn, thợ hàn, thợ nguội, thợ cắt tóc là B, khái niệm B nhỏ hơn A và A chứa B

Quan hệ giữa thợ hoặc người thợ với thợ rèn, thợ hàn, thợ

nguội, thợ cắt tóc, là quan hệ giữa cái riêng và cái chung đặt trong

mối quan hệ này là trong một cái chung có nhiều cái riêng khác

Như khái niệm thợ rèn, thợ hàn, …, là cái riêng của cái chung nhất, đây là khái niệm thợ

Hiện tượng mở rộng hay thu hẹp không làm cho nghĩa cũ mất

đi mà cả hai nghĩa cùng tồn tại với quá trình phát triển theo hai hướng hoặc mở rộng hơn, hoặc thu hẹp lại

3.3 Sở chỉ

Cái sở chỉ là đối tượng mà từ biểu thị, gọi tên Một số danh từ

ghép chỉ nghề nghiệp sau: ả đào, ả xẩm, cô đào, bà mụ, bà mai, bà

Chương 1- Trang 29

Trang 34

mối, cô đầu, cô đào, cô đỡ, cô hầu, cô đồng, con phe, con bạc, con sen, con ở, … Cái sở chỉ của từ được biểu thị như một yếu tố đơn

Trong trường hợp này, những từ chỉ cá thể đã biến thành từ tố có ý nghĩa đặc biệt, trở thành một thành tố không thể cắt bỏ được trong từ ghép

Cái sở chỉ của từ được biểu thị như một yếu tố phức

Tuỳ theo đặc trưng cuả từng đối tượng mà từ biểu thị, có thể

kết hợp với những từ xưng hô: cô y tá, anh công nhân, bà bác sĩ,

chú kĩ sư, …

Về ý nghĩa đặc biệt của những từ chỉ cá thể trong những ví dụ

trên: cô trong cô đầu, cô đỡ; đối chiếu so sánh với cô y tá thì y tá có thể kết hợp với cô hoặc anh hoặc bà để chỉ cách xưng hô; còn cô trong cô đầu, cô đỡ, thì không kết hợp được với những từ xưng hô

Cô, anh, bà, chú, bác bình thường biểu thị mối quan hệ thân

thuộc, họ hàng nhưng trong cô đầu, cô đỡ thì không có nghĩa như

vậy

Ả đào, cô đào, là những từ ghép biểu thị một khái niệm chỉ

người phụ nữ làm nghề ca hát (dưới chế độ phong kiến thực dân)

Cô mụ, bà mụ biểu thị một khái niệm chỉ những người phụ nữ

làm nghề đỡ đẻ (hộ sinh, hộ sản), chứ không biểu thị những đối tượng khác Những từ chỉ cá thể bà, cô hoàn toàn không mang ý

nghĩa biểu thị những người thân trong gia tộc, họ hàng Rõ ràng thành tố phụ đứng trước không có chức năng phản ánh đặc điểm hay thuộc tính của đối tượng, mà thành tố chính biểu thị ý nghĩa của từ ghép

Chương 1- Trang 30

Trang 35

TIỂU KẾT

Trong chương I chúng tôi đã tìm hiểu những ví dụ xung quanh danh từ ghép chỉ nghề nghiệp và danh từ ghép chỉ người trong tiếng Việt Đây là lớp từ không đơn giản và chưa được thể hiện một cách khái quát toàn diện trong những công trình nghiên cứu từ trước cho đến nay Từ nội dung chương I đã trình bày có thể rút ra một vài kết luận sau:

1 Danh từ chỉ nghề nghiệp là loại danh từ dùng để gọi tên

một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp là công việc chuyên làm, có những đặc điểm chung giống nhau của một lớp người trong xã hội Lớp từ này được sử dụng khá phổ biến trong giao tiếp của người Việt Qua thống kê tương đối đầy đủ được 394 danh từ ghép chỉ nghề nghiệp và chỉ người, có 168 từ có yếu tố Hán Việt, chiếm

tỉ lệ 42,64%

2 Chúng tôi khảo sát lớp danh từ ghép này trên phương diện

từ vựng ngữ pháp Chương I đã trình bày đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa, ngữ pháp và chức năng cú pháp của lớp danh từ này; phân biệt những từ lân cận, những từ gần nghĩa, …

Thống kê khảo sát lớp danh từ ghép chỉ nghề nghiệp và chỉ người, chúng tôi đã đưa ra một số hình thức, cấu tạo của chúng; nguồn gốc cấu tạo (là danh từ thuần Việt, danh từ có yếu tố Hán Việt); xét các mối quan hệ giữa các thành tố của danh từ ghép

Cuối cùng, quá trình khảo sát lớp danh từ này làm cơ sở cho việc so sánh đối chiếu với lớp danh từ ghép chỉ nghề nghiệp và danh từ chỉ người trong tiếng Anh, được thực hiện ở chương II

Chương 1- Trang 31

Trang 36

CHƯƠNG II

DANH TỪ GHÉP CHỈ NGHỀ NGHIỆP

TRONG TIẾNG ANH

A DANH TỪ: CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA

I Thuộc tính của danh từ

Danh từ là từ loại có những thuộc tính ngữ pháp khác các từ loại khác ở những đặc tính sau :

động thực vật và các khái niệm cụ thể

làm trung tâm Danh ngữ bao gồm một thành tố chính và các thành tố phụ phân bố xung quanh Cấu trúc danh ngữ phức tạp hơn nhưng có ý nghĩa đầy đủ hơn danh từ

- Danh từ là từ loại có phạm trù giống số và sở hữu cách Đây là những phạm trù ngữ pháp của danh từ

Chương II – Trang 32

Trang 37

II Phân loại danh từ trong tiếng Anh dựa vào cấu tạo

Xét về mặt cấu tạo, danh từ được phân chia như sau:

DANH TỪ

CHUNG RIÊNGĐẾM ĐƯỢC KHÔNG ĐẾM ĐƯỢC SỐ ÍT SỐ NHIỀU

SỞ HỮU CÁCH

Về hình thức cấu tạo, danh từ chỉ nghề nghiệp là từ đơn (simple), từ ghép (compound), từ phái sinh (derivative) và chúng

nằm trong phạm vi danh từ chung (common nouns) như teacher,

friend, servant, worker, professor, …

Khi hành chức, để phân biệt nghĩa của danh từ thuộc giống đực hay giống cái, có thể ghép thêm một từ trước danh từ chỉ người hay danh từ chỉ nghề nghiệp đó Ví dụ:

teacher -> lady-teacher; servant -> maid-servant, friend > girl-frien (boy friend); worker > woman-worker,

1 Hình thức cấu tạo

Có bốn hình thức cấu tạo từ: hình thức thêm tiền tố (prefixation); hình thức thêm hậu tố (suffixation); hình thức chuyển loại (conversion); hình thức kết hợp từ (compounding)

Chương II – Trang 33

Trang 38

Trong 2 hình thức đầu là dùng phương pháp thêm tiếp tố vào từ gốc (base) để tạo nên một từ mới

1.1 Hình thức thêm tiền tố

Đặt tiền tố trước từ gốc prefix + base để tạo từ mới Có thể thay đổi từ loại hoặc không thay đổi

co-author, co-pilot, co- heir; co-star; co-religionist

1.2 Hình thức thêm hậu tố

Đặt hậu tốá sau từ gốc (base + suffix) để tạo từ mới, có thể thay đổi từ loại hoặc không thay đổi

drive -> driver; hunt -> hunter; write -> writer;

report > reporter; review -> reviewer

Đặt hậu tốá sau danh từ

- STER: gang ->gangster

- EER: engin -> engineer

- ER: teenag e -> teenager London -> Londoner

- IST: violin -> violinist

Giảm nhẹ nghĩa hoặc chỉ phái nữ

LET: book -> booklet

ETTE: kitchen -> kitchenette; statue -> statuette

Trang 39

a dog lies on the carpet

carpet vừa là noun vừa là verb

Nhiều từ vừa là verb vừa là noun

you mustn delay (v)

a short delay (n)

I hope English win (v)

my hope of victory (n)

Một số từ thuộc loại này là:

answer, attack, attempt, call, care, change, climb, control, copy, cost, damage, dance, delay, doubt, drink, drive, experience, fall, heap, hit, hope, interest, joke, laugh, look, love, need, promise, rest, ride, run, search, sleep, smile, sound, swim, talk, trouble, visit, wait, wash, wish

1.2 Hình thức kết hợp từ

Là phương thức kết hợp hai thân từ với nhau để tạo thành một từ mới mang ý nghĩa mới, cũng có thể là nghĩa của một trong hai thành tố cấu tạo nên từ, cũng có thể từ mới mang một ý nghĩa hoàn toàn khác:

playboy, call-girl, dancing girl, song writer, baby-sitter, girl friend

Có ba cách kết hợp giữa các thành tố trong từ ghép (compound noun) xét trên bình diện chữ viết:

- Hai thành tố dính liền nhau :

‘darkroom, gamekeeper, ‘hothouse, matchmaker, songwriter,

- Hai thành tố tách rời nhau:

ballet dancer; chamber maid; cigar smoker,

Chương II – Trang 35

Trang 40

language teacher; crime reporter,

- Hai thành tố tách rời nhau có gạch nối:

computer-designer; radio-operator; window-cleaner baby-mider; bargain-hunter; bee-keeper; cab-driver

2 Thành phần chính của từ: Gốc (Roots)– căn tố (stems) –

Ví dụ: man, book, sweet, cook

Những đơn vị như vậy còn gọi là từ đơn (single words) Từ đơn là hình vị tự do nhỏ nhất có khả năng đứng độc lập Chúng có

thể là danh từ như: man, book, tea, cook…

Có thể là tính từ: kind, clever, intelligent

Có thể là động từ: write, rest, hear

Đơn vị gốc (root) là hình vị tự do nhưng không phải tất cả như vậy Có nhiều đơn vị gốc không có khả năng đứng độc lập Chúng luôn xuất hiện cùng với một thành phần khác để trở thành một đơn

vị có nghĩa hoàn chỉnh Những đơn vị gốc như vậy gọi là hình vị kết hợp Ví dụ:

a) - mit -> as in permit, remit, commit admit

b) - ceive -> as in perceive receive, conceive

c) Pred- -> as in predator, predatory, predation,

depredate

Chương II – Trang 36

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w