1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng

196 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Tài Chính Toàn Diện Đối Với Sự Ổn Định Của Hệ Thống Ngân Hàng
Tác giả Dư Thị Lan Quỳnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Đức Trung
Trường học Trường Đại học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính Ngân hàng
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bàn về ổn định hệ thống tài chính nói chung và ổn định hệ thống ngân hàng nói riêng, các nghiên cứu trên thế giới có các quan điểm khác nhau về tác động của tài chính toàn diện đối với s

Trang 1

DƯ THỊ LAN QUỲNH

TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐỐI VỚI

SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TP HỒ CHÍ MINH –NĂM 2021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

DƯ THỊ LAN QUỲNH

TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐỐI VỚI

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này chưa từng được trình nộp để lấy học vị Tiến sĩ tại bất cứ một cơ sở đào tạo nào Luận án là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu

là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung

do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận án

Nghiên cứu sinh

Dư Thị Lan Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời cảm ơn đầu tiên, tôi muốn dành cho PGS TS Nguyễn Đức Trung, người hướng dẫn khoa học đã tận tình định hướng nghiên cứu, góp ý, chỉnh sửa luận án và luôn động viên tôi

nỗ lực trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy/Cô trong Hội đồng các cấp, đặc biệt là PGS.TS Đoàn Thanh Hà đã cho tôi nhiều ý kiến góp ý tận tâm, quý báu giúp tôi hoàn thiện luận án Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy/Cô các thế hệ của trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh đã dày công trang bị cho tôi đầy đủ kiến thức, kỹ năng, phương pháp giúp tôi hoàn thành tốt việc nghiên cứu trong suốt thời gian học tập và làm nghiên cứu sinh tại trường Trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Trường và Khoa Sau đại học đã giúp đỡ, hỗ trợ tốt nhất

để tôi có thể hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh đúng hạn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và các Thầy/Cô trong Khoa Tài chính đã động viên và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt chương trình học tập Đặc biệt, tôi muốn nói lời cảm ơn đến chồng tôi, người đã luôn đồng hành, chia sẻ, tạo động lực giúp tôi hoàn thành luận án

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN ÁN

Từ sau khủng hoảng kinh tế thế giới 2008, thúc đẩy tài chính toàn diện – hay nói cách khác là thúc đẩy việc tất cả các thành phần trong kinh tế có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính một cách chính thức và có thể sử dụng các dịch vụ đó một cách hiệu quả – được coi là chương trình ưu tiên hàng đầu ở nhiều quốc gia hiện nay, đặc biệt là ở các quốc gia trong ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (xem Rahman, 2015; World Bank, 2015; Tambunlertchai, 2015; ADB, 2015; MAS, 2006; ASEAN, 2020; Trujillo, Sitorus and Aviles, 2018; UNCDF, 2020) Thuật ngữ này không chỉ được chính phủ các nước cân nhắc cẩn thận, còn được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Các nghiên cứu đã chỉ ra khái niệm của tài chính toàn diện, xây dựng cách đo lường tài chính toàn diện, phân tích và cung cấp các bằng chứng chứng tỏ vai trò tích cực của tài chính toàn diện đối với tăng trưởng kinh tế và đối với phát triển bền vững (xem Iqbal and Sami, 2017; Kalunda, 2014; Shankar, 2013; Garcia, 2016; Sarma, 2008, 2012, 2015; Sarma and Pais, 2011; v.v.)

Cũng từ sau năm 2008, ngoài vấn đề tài chính toàn diện, sự ổn định hệ thống ngân hàng cũng là vấn đề được đề cập rất nhiều ở các quốc gia ASEAN (Ovi, Perera and Colombage, 2014) Bàn về ổn định hệ thống tài chính nói chung và ổn định hệ thống ngân hàng nói riêng, các nghiên cứu trên thế giới có các quan điểm khác nhau về tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định này (xem Hannig and Jansen, 2010; Neaime and Gaysset, 2018; Ahamed and Mallick, 2019; v.v.) Song, ở các nước khu vực ASEAN, chưa có nghiên cứu nào thật sự chú ý đến việc điều tra xem mục tiêu phát triển tài chính toàn diện có ảnh hưởng như thế nào đến sự ổn định của của hệ thống ngân hàng Trong luận án, tác giả đã chỉ ra các quốc gia ở khu vực này có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng, do vậy nghiên cứu về tài chính toàn diện (dưới góc độ ngân hàng) là thật sự cần thiết; và đồng thời, việc tìm ra câu trả lời cho câu hỏi nói trên, không chỉ mang lại ý nghĩa hết sức to lớn cho các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia này, mà còn có ý nghĩa đối với những quốc gia có hệ thống tài chính tương tự

Từ sự thiếu hụt nói trên trong các nghiên cứu ở ASEAN, đề tài nghiên cứu “TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐỐI VỚI SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG”

là cần thiết để bổ sung cơ sở lý luận cũng như bằng chứng thực nghiệm về tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng Nghiên cứu thực hiện trong phạm vi sáu quốc gia khu vực ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt

Trang 6

Nam), thời gian 2008 – 2019, với các phương pháp định tính và định lượng (System Generalized Method of Moments – SGMM)

Trong nghiên cứu này, tác giả đã nêu các cơ sở lý luận về tài chính toàn diện và ổn định

hệ thống ngân hàng Với tài chính toàn diện, tác giả xác định khái niệm của thuật ngữ này trên ba khía cạnh: thâm nhập, sẵn có và sử dụng, do vậy cũng sẽ đo lường mức độ tài chính toàn diện trên ba phương diện này Với ổn định hệ thống ngân hàng, tác giả xem nó là ổn định của từng ngân hàng, từ đó tác giả sử dụng chỉ số đo lường là Zscore đại diện cho sự ổn định chung của mỗi ngân hàng, ngoài ra tác giả còn quan sát sự ổn định của tăng trưởng tiền gửi

thực hiện trước đó Đây là kết luận trọng yếu nhất của luận án, rằng các ngân hàng hoạt động

ở các môi trường có tài chính toàn diện cao có thể cải thiện sự ổn định Tác giả cũng đã chỉ

ra các biến phụ thuộc khác có tác động tích cực đến ổn định hệ thống ngân hàng gồm quy mô, mức độ vốn hóa, tỷ lệ tài sản có khả năng sinh lời và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; đồng thời cũng lưu ý việc gia tăng các trích lập dự phòng rủi ro vỡ nợ hay gia tăng các thu nhập phi lãi sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định Kết quả này của nghiên cứu đã có đóng gópcả

về lý luận, thực tiễn

Chính vì vậy, nghiên cứu cho rằng thúc đẩy tài chính toàn diện vẫn cần được ưu tiên hàng đầu của các chính phủ ở ASEAN hiện nay, để từ đó nâng cao tính ổn định của hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung Song thúc đẩy tài chính toàn diện không phải

là việc đơn giản Do vậy, một số hàm ý chính sách dành cho chính phủ các nước ở ASEAN cũng được tác giả đề xuất, với sự nhấn mạnh vào việc thúc đẩy tài chính toàn diện cần tập trung đồng thời vào cả ba khía cạnh: (1) gia tăng số lượng tài khoản được mở tại các ngân hàng trong người dân; (2) mở rộng các chi nhánh ngân hàng hoặc gia tăng số lượng ATM; và (3) khuyến thích việc người dân sử dụng các dịch vụ tài chính chính thống ở các ngân hàng Ngoài ra việc duy trì một nền kinh tế lành mạnh và tăng trưởng ổn định cũng rất quan trọng cho cả việc thúc đẩy tài chính toàn diện và ổn định hệ thống ngân hàng

Từ khóa: tài chính toàn diện, ổn định hệ thống ngân hàng

Trang 7

1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Những năm gần đây, việc thúc đẩy tiếp cận tài chính được coi là chương trình ưu tiên hàng đầu ở nhiều quốc gia Từ đó làm nổi bật lên các vấn đề liên quan đến tài chính toàn diện (Financial Inclusion) – có nghĩa là tất cả các thành phần trong kinh tế đều có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính một cách chính thức và có thể sử dụng các dịch vụ đó một cách hiệu quả (Ahamed and Mallick, 2019) Không chỉ được các quốc gia cân nhắc cẩn thận, từ khóa “tài chính toàn diện” còn được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm

Trong các nghiên cứu trên thế giới hiện nay, có nhiều tác giả đã chỉ ra khái niệm của tài chính toàn diện, và xây dựng cách đo lường tài chính toàn diện, chẳng hạn Iqbal and Sami (2017); Kalunda (2014); Shankar (2013); Garcia (2016) Sarma (2008, 2012, 2015); Sarma and Pais (2011); v.v Cũng có các nghiên cứu tập trung phân tích và cung cấp các bằng chứng chứng tỏ vai trò tích cực của tài chính toàn diện đối với tăng trưởng kinh tế trên cả hai phương

diện: vi mô (Dupas and Robinson, 2013a; Brune, Giné, Goldberg and Yang, 2011; Cole, Giné and Vickery, 2013; Jack and Suri, 2014) và vĩ mô (Demirgüç-Kunt, Honohan and Beck,

2008)

Đối với phát triển bền vững, tài chính toàn diện cũng có vai trò tích cực trong loại bỏ đói nghèo (Banerjee and Newman, 1994; Beck, Demirgüç-Kunt and Levine, 2007; Ashraf, Karlan and Yin, 2010; ; Burgess and Pande, 2005; Jack and Suri, 2014); giảm tình trạng thiếu đói và tăng cường an ninh lương thực (Karlan, Osei, Osei-Akoto and Udry, 2014; Cole, Giné and Vickery, 2013; Janzen and Carter, 2013; Brune et al., 2011; v.v.); đạt được sức khoẻ và hạnh phúc (Krishna, 2006; Saksena, Xu and Evans, 2011; Frenk and Knaul, 2002; Klapper, El- Zoghbi and Hess, 2016; PharmAccess, 2015; Dupas and Robinson, 2013b); tăng cường giáo dục có chất lượng (Thomas and Burnett, 2013; Prina, 2015; Chiapa, Prina and Parker, 2014;

Chiapa, Prina and Parker, 2014; v.v.)

Cùng với sự quan tâm về tài chính toàn diện, từ sau khủng hoảng kinh tế thế giới 2008, các vấn đề về ổn định hệ thống ngân hàng cũng được các nhà quản lý ở các quốc gia hết sức chú ý (Ovi, Perera and Colombage, 2014) Bởi vì sự ổn định hệ thống ngân hàng là yếu tố quan trọng để giảm thiểu tác động tiêu cực đến kinh tế và xã hội khi phát sinh các vấn đề (HKMA, 2017) Sự ổn định và lành mạnh của một hệ thống ngân hàng đảm bảo phân bổ tối

ưu các nguồn vốn (Jahn and Kick, 2012); do đó, sự ổn định của ngân hàng là rất quan trọng

Trang 8

để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho nhà đầu tư, bảo vệ khách hàng gửi tiền đồng thời giúp nền kinh tế hoạt động trơn tru và hiệu quả Hơn nữa, sự ổn định ở hệ thống ngân hàng

có mối liên kết mật thiết với ổn định hệ thống tài chính (Segoviano and Goodhart, 2009), một yêu cầu thiết yếu không chỉ để ổn định giá cả – mục tiêu chính sách của NHTW, mà còn bảo đảm sự phát triển lành mạnh và ổn định của nền kinh tế (BOK, 2020; CBN, 2020)

Đối với ổn định hệ thống ngân hàng nói trên, hiện nay vẫn tồn tại những nghi ngờ về việc tài chính toàn diện có vai trò như thế nào và nghi ngờ này vẫn chưa được trả lời một cách rõ ràng, từ đó khiến cho các ngân hàng lo sợ và 'né tránh' việc mở rộng dịch vụ tài chính sang các phân đoạn khó khăn của xã hội (Leyshon and Thrift, 1995) Do đó, có thể tồn tại sự đánh đổi giữa các mục tiêu duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và thúc đẩy tài chính toàn diện (Acharya, Hasan and Saunders, 2006; Hannig and Jansen, 2010) Mặc dù vậy, một số nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng tài chính toàn diện có thể có tác động tích cực đến sự

ổn định này Hannig and Jansen (2010) cho thấy khách hàng ở phân khúc thu nhập thấp chịu nhiều rủi ro nhưng lại thường có tỷ lệ hoàn trả cao và việc giám sát rủi ro các dịch vụ tài chính tại phân khúc này dường như được hiểu rõ hơn so với các phân khúc khác trên thị trường Ở cấp quốc gia, có bằng chứng cho thấy tài chính toàn diện có thể dẫn đến tính ổn định cao hơn của trung gian tài chính; cụ thể, thông qua trung gian lượng tiết kiệm nội địa lớn hơn, dẫn tới

sự vững mạnh hơn về các chu kỳ tiết kiệm và đầu tư nội địa lành mạnh và từ đó có sự ổn định lớn hơn (Prasad, 2010) Ahamed and Mallick (2019) cũng chỉ ra tài chính toàn diện giúp những ngân hàng có tiền gửi của khách hàng cao hơn và chi phí cận biên cung cấp dịch vụ ngân hàng thấp hơn, nhờ đó giúp ngân hàng trở nên ổn định hơn

Trong phạm vi các quốc gia của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (sau đây gọi là các quốc gia ASEAN), thúc đẩy tài chính toàn diện được quan tâm sâu sắc và cũng đã có những động thái rõ ràng (xem Rahman, 2015; World Bank, 2015; Tambunlertchai, 2015; ADB, 2015; MAS, 2006; ASEAN, 2020; Banerjee and Donato, 2021; Loo, 2019; Trujillo, Sitorus and Aviles, 2018; UNCDF, 2020; v.v) Các quốc gia ASEAN được đánh giá là có thành tựu

về ổn định chính trị và an ninh khu vực (Jetin and Mikic, 2016) và được xem là những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển của Châu Á (Hong and Tang, 2010) Mặt khác, các quốc gia này đều có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (bank-based financial system), theo cấu trúc hoạt động – structure activity (Demirgiiu-Kunt and Levine, 1999; Levine, 2002) Do vậy, ngân hàng toàn diện (banking inclusion) cũng được xem tương tự như tài chính toàn diện, và

Trang 9

thông qua các ngân hàng, các nhà hoạch định có thể điều chỉnh chính sách tài chính toàn diện một các thuận lợi hơn so với các cách hay các kênh khác (Sarma, 2008, 2012)

Ở các quốc gia ASEAN, các tác giả nghiên cứu về tài chính toàn diện với các chủ đề khác nhau Chẳng hạn như Loo (2019) xác định mức độ mở rộng tài chính toàn diện ở các quốc gia từ đó tìm kiếm thị trường có tiềm năng nhất cho công nghệ tài chính (Fintech); Johnston and Morduch (2008) đã phân tích triển vọng mở rộng khả năng tiếp cận tài chính cho người nghèo ở Indonesia; Rahman (2015) đã kiểm tra thực trạng tài chính toàn diện ở các nền kinh

tế này và rút ra bài học để điều chỉnh chương trình tài chính toàn diện ở quốc gia tương ứng, bao gồm tám nền kinh tế trong SEACEN (Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Đông Nam Á),

cụ thể bao gồm Campuchia, Đài Bắc Trung Hoa, Indonesia, Malaysia, Nepal, Papua New Guinea, Philippines và Sri Lanka Các nghiên cứu trên cũng đã chỉ ra điểm chung rằng các quốc gia ở khu vực này rất chú trọng việc phát triển tài chính toàn diện với nhiều cách thức triển khai khác nhau

Đồng thời, tương tự như các nước trên thế giới, các quốc gia ASEAN cũng rất quan tâm đến ổn định hệ thống ngân hàng, nhất là từ sau khủng hoảng 2008 (Ovi, Perera and Colombage, 2014) Tuy nhiên, liệu mục tiêu phát triển tài chính toàn diện nói trên và mục tiêu gia tăng sự ổn định của của hệ thống ngân hàng có mâu thuẫn với nhau ở các quốc gia này? Hay nói cách khác, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm ra tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở ASEAN Điều này cho thấy một sự thiếu hụt trong nghiên cứu, cần thiết được bổ sung bởi trong bối cảnh hiện nay, các ngân hàng ngày càng tìm kiếm các cơ hội và thị trường mới và nhìn thấy những lợi ích có thể có được từ hoạt động tài chính vi mô (Harper and Arora, 2005), nhất là từ các khoản tiền gửi rẻ và ổn định từ khu vực bán lẻ (Ahamed and Mallick, 2019)

Hơn nữa, như đã đề cập trước, hệ thống tài chính của các quốc gia ASEAN dựa vào ngân hàng, do vậy nghiên cứu về tài chính toàn diện dưới góc độ ngân hàng là thật sự cần thiết Và việc tìm ra câu trả lời cho câu hỏi liệu thúc đẩy tài chính toàn diện đang được đẩy mạnh triển khai ở các quốc gia ASEAN hiện nay có tác động như thế nào đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, sẽ mang lại ý nghĩa hết sức to lớn cho các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia này

Chính vì vậy, để hoàn hiện khoảng trống trên, tác giả lựa chọn đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐỐI VỚI SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG” trong

Trang 10

phạm vi sáu quốc gia khu vực ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam), đặt ra kỳ vọng của đề tài sẽ làm sáng tỏ tác động của tài chính toàn diện đến

sự ổn định của hệ thống ngân hàng Tác giả đặc biệt tập trung vào sự ổn định của hệ thống ngân hàng, vì ngân hàng chịu trách nhiệm cung cấp một phần không nhỏ các dịch vụ tài chính chính thức cho các hộ gia đình, doanh nghiệp trong bất kỳ nền kinh tế nào, và chính vì như vậy, sự hiểu biết rõ ràng về mối liên kết này có tầm quan trọng về quản lý và kinh tế vĩ mô Hơn nữa, các số liệu cần có để sử dụng phân tích trong nghiên cứu, lấy từ các ngân hàng cũng đầy đủ và cập nhật hơn

1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách liên quan đến tài chính toàn diện nhằm làm gia tăng sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia trong khu vực ASEAN

- Đề xuất các hàm ý chính sách liên quan đến tài chính toàn diện nhằm góp phần gia tăng

sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia khu vực ASEAN

Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nói trên, nghiên cứu cần giải quyết các câu hỏi sau:

- Khái niệm và cách thức nào được sử dụng để đo lường tài chính toàn diện và ổn định hệ thống ngân hàng? Tài chính toàn diện có thể tác động đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng thông qua những kênh nào? Mô hình nào được sử dụng để phân tích tác động này với các biến nào được chọn làm đại diện?

Trang 11

- Mức độ tài chính toàn diện và mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia ở ASEAN như thế nào? Tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia khu vực ASEAN có chiều hướng và mức độ ra sao?

- Những hàm ý chính sách nào liên quan đến tài chính toàn diện được gợi ý nhằm góp phần gia tăng sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia ASEAN?

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định hệ thống ngân hàng ở các quốc gia

trong khu vực ASEAN

Hai nữa, tác giả chọn sáu quốc gia làm đại diện cho toàn khu vực và chỉ tập trung nghiên

cứu trong phạm vi này, bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt

Nam, trong khi ASEAN có mười quốc gia thành viên (còn có Brunei, Cambodia, Lào và Myanmar) Lý do, sáu quốc gia nói trên có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực, cụ thể hệ thống ngân hàng ở các quốc gia này có tổng giá trị tài sản chiếm hơn 90% qua các năm 2014 – 2017 và chi tiết hơn là chiếm gần 97.23% vào năm 2017

(số liệu được tác giả tự thống kê từ World Bank, 2017a) Vì thế, dù phạm vi chỉ có sáu quốc

gia nhưng có thể được xem là đại diện cho toàn khu vực ASEAN khi nghiên cứu về các vấn

đề liên quan đến hệ thống ngân hàng

Mặt khác, sáu quốc gia này đều có đặc điểm chung là hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (bank-based financial system), theo cấu trúc hoạt động – structure activity Để làm sáng

tỏ điều này, dựa vào chỉ số được gợi ý bởi Demirgiiu-Kunt and Levine (1999) và Levine

Trang 12

(2002), tác giả thực hiện đo lường sau đó so sánh mức độ hoạt động của các ngân hàng so với thị trường chứng khoán, thông qua hai chỉ tiêu cơ bản: tỷ lệ tín dụng tư nhân từ ngân hàng trên GDP (Private Credit by Deposit Money Banks Ratio) và tỷ lệ tổng giá trị giao dịch trên

thị trường chứng khoán trên GDP (Stock Market Total Value Traded Ratio) Kết quả được trình bày ở bảng 1.1 dưới đây

Bảng 1.1 Tỷ lệ giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán và tỷ lệ tín dụng ngân

(Nguồn: World Bank, 2017a)

Dữ liệu ở bảng 1.1, được lấy từ Global Financial Development (World Bank, 2017a), đã cho thấy cả sáu quốc gia ASEAN đều có tỷ lệ tín dụng tư nhân được thực hiện bởi các ngân hàng lớn hơn so tỷ lệ giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán Kết quả này là minh chứng

rõ ràng cho việc hệ thống tài chính của các quốc gia này phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng

Tóm lại, xuất phát từ đặc điểm chung của các quốc gia ASEAN về ‘hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng’ nói trên, nghiên cứu kỳ vọng tìm ra được gợi ý chính sách thúc đẩy tài chính toàn diện phù hợp dành cho các quốc gia này thông qua kết quả nghiên cứu Trong khi các nghiên cứu về mối quan hệ của tài chính toàn diện và ổn định hệ thống ngân hàng đã thực hiện trước, đa số các tác giả đều lấy mẫu lớn các quốc gia trên thế giới với nhiều đặc điểm về

hệ thống tài chính khác nhau, chưa có sự đặc biệt chú ý để có thể có những gợi ý chính sách phù hợp các quốc gia thuộc nhóm này

1.3.2.2 Phạm vi về thời gian

Về phạm vi thời gian, tác giả quyết định chọn thời gian từ năm 2008 đến nay, cụ thể là năm

2008 – 2019, bởi quãng thời gian này nền kinh tế ASEAN được phục hồi sau khủng khoảng

Trang 13

và đa số các quốc gia trong khu vực đều có sự chú ý và những động thái nhất định cho tiến trình thúc đẩy tài chính toàn diện Một cách chi tiết hơn, có thể thấy từ sau khủng hoảng kinh

tế thế giới 2008, nền kinh tế ASEAN cũng được phục hồi mạnh mẽ và đã nổi lên như là một động lực chính đối với sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính nói trên (Daboub, 2010) Hơn nữa, từ sau năm 2008, sự ổn định nói chung (trong đó bao hàm cả sự ổn định của hệ thống ngân hàng) nổi lên, trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới (Siddik and Kabiraj, 2018)

Đồng thời, sau năm 2008, tài chính toàn diện cũng trở thành chính sách ưu tiên quan trọng

ở hầu hết các quốc gia (Ahamed and Mallick, 2019; Cihak, Mare and Melecky, 2016)), trong

đó có các quốc gia ASEAN Cụ thể, bắt đầu từ sau năm 2008, hầu hết các quốc gia ở khu vực

đã có sự chú ý hay động thái nhất định nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện, chẳng hạn như ở Malaysia, năm 2009, Đạo luật Ngân hàng Trung ương Malaysia được ban hành và quy định

rõ ràng rằng chức năng chính của Ngân hàng Negara Malaysia (BNM) là phát triển và thúc đẩy một hệ thống tài chính toàn diện (Rahman, 2015)

Ở Philippines, từ sau năm 2008, cách vận hành cho các hoạt động tài chính vi mô của Bangko Sentral ng Pilipinas (BSP) thu về kết quả ấn tượng, đưa Philippines vào nhóm các nước tốt nhất trên thế giới về khuôn khổ pháp lý tài chính vi mô (Rahman, 2015) Từ sau đó, quốc gia này đã có sự đề cập nhiều hơn về tài chính toàn diện trong các chương trình nghị sự chính sách trong nước và quốc tế, do ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của tài chính toàn diện như một mục tiêu chính sách

Ở Việt Nam, những quy định đầu tiên làm nền tảng cho sự thúc đẩy tài chính toàn diện được xuất hiện vào năm 2010, thể hiện ở Luật các Tổ chức tín dụng (2010); và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010; sau đó một loạt các quy định, nghị định, luật sửa đổi bổ sung,

đề án, v.v được ban hành nhằm làm rõ, hướng dẫn thực hiện và cuối cùng là hướng đến thúc đẩy tài chính toàn diện (World Bank, 2015) Tài chính toàn diện cũng được bắt đầu chú ý ở Indonesia vào năm 2008 và sau đó một thời gian, vào năm 2012, chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện được công bố với thiết kế để tập trung vào con người hoặc cá nhân, nhằm mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cho tất cả các bộ phận dân cư (Rahman, 2015)

Ở Thái Lan, kế hoạch tổng thể về lĩnh vực tài chính giai đoạn thứ hai (2010 – 2014) được triển khai, đã khuyến khích các ngân hàng thương mại được mở rộng phạm vi tiếp cận của họ đến các phân khúc có thu nhập thấp hơn, với nhiều ưu đãi (Tambunlertchai, 2015) Năm 2011

Trang 14

Bộ Tài chính cùng với sự hỗ trợ từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhằm phát triển tài chính vi mô và thúc đẩy tài chính toàn diện cho các cá nhân và hộ gia đình, đã thông qua Chiến lược quốc gia về hòa nhập tài chính ở Thái Lan (ADB, 2015; Tambunlertchai, 2015) Riêng Singapore, các vấn đề liên quan đến tài chính toàn diện được đề cập từ sớm và từ năm 2004, với Đạo luật Bảo vệ Người tiêu dùng (Thương mại Công bằng) - CPFTA; theo đó,

Bộ Thương mại và Công nghiệp (MTI) và Ngân hàng trung ương (MAS) phối hợp với nhau, thực hiện việc đưa các dịch vụ tài chính toàn diện tham gia vào việc bảo vệ người tiêu dùng thiếu chuyên môn hoặc nguồn tài chính để chống lại các hành vi không công bằng (MAS, 2006) Sau khủng hoảng năm 2008, đạo luật này bắt đầu được sửa đổi và hoàn thiện vào năm

2009 (MTI, 2009), được sử dụng cho đến hiện nay Nhờ định hướng sớm, tài chính toàn diện

ở quốc gia này luôn được đánh giá cao trong các báo cáo hay nghiên cứu qua các năm (chẳng hạn như ASEAN, 2020; Banerjee and Donato, 2021; Loo, 2019; Trujillo, Sitorusand Aviles, 2018; UNCDF, 2020)

Ở giới hạn về phạm vi nội dung (i), tác giả nhận thấy tài chính toàn diện đang được các

quốc gia ASEAN chú trọng thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự ảnh hưởng tích cực của tài chính toàn diện đến nhiều lĩnh vực (Rahman, 2015; World Bank, 2015; Tambunlertchai, 2015; ADB, 2015; MAS, 2006; ASEAN, 2020; UNCDF, 2020; v.v.) Tuy nhiên, vẫn chưa có câu trả lời cho sự nghi ngờ rằng liệu ảnh hưởng của tài chính toàn diện đối với hệ thống ngân hàng có tích cực như các nhà chính sách mong đợi (xem Neaime and Gaysset, 2018; Ahamed and Mallick, 2019; García, 2016; Siddik and Kabiraj, 2018) Chẳng hạn như Rajan (2011) đã chỉ

ra tài chính toàn diện có thể là nguyên nhân của việc xuất hiện lượng lớn những người đi vay

Trang 15

có mức tín nhiệm tín dụng thấp (low creditworthy), làm mất ổn định hệ thống ngân hàng Tác giả này cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 xuất phát từ những khoản nợ dưới chuẩn, cho thấy “tín dụng dễ dàng” có thể tạo ra một “đường đứt gãy” dọc theo hệ thống tài chính làm xói mòn sự ổn định tài chính do những căng thẳng lớn Chính vì lẽ đó, sự nghi ngờ này cần làm rõ Do vậy, luận án chỉ tập trung phân tích tác động (một chiều) của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng

Ở giới hạn về phạm vi nội dung (ii), tác giả tập trung nghiên cứu về phía ngân hàng, bởi

theo (Sarma, 2008, 2012), ngân hàng toàn diện (banking inclusion) cũng được xem tương tự như tài chính toàn diện (financial inclusion), mà thông qua các ngân hàng, các nhà hoạch định

có thể điều chỉnh chính sách tài chính toàn diện một cách thuận lợi hơn so với các kênh khác (như thông qua việc nâng cao nhận thức của người dân hay phát triển cơ sở hạ tầng, v.v) Hơn nữa theo như phân tích trước của tác giả, các quốc gia ASEAN có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (bank-based financial system), vì thế việc tìm hiểu về tài chính toàn diện dưới góc

độ ngân hàng (nhà cung cấp tài chính chính thống) là cần thiết và giới hạn về phạm vi nội dung thứ hai này là hoàn toàn phù hợp

Ở giới hạn về phạm vi nội dung (iii), tác giả tập trung nghiên cứu về ổn định của các ngân

hàng một cách riêng lẻ, bởi hệ thống ngân hàng trở nên ổn định chỉ khi từng ngân hàng trong

hệ thống ổn định Điều này được giải thích bởi hiện tượng lây lan tài chính (Financial contagion), tức là rủi ro được truyền từ tổ chức tài chính này sang tổ chức tài chính khác, từ

ngân hàng này sang ngân hàng khác trong hệ thống (Brown et al., 2014) và như vậy chỉ cần

một ngân hàng trong hệ thống xảy bất ổn có thể dẫn đến sự bất ổn cho cả hệ thống ngân hàng Đồng thời, thông qua rất nhiều kênh khác nhau rủi ro của một ngân hàng có thể dẫn đến rủi

ro của cả hệ thống ngân hàng (xem Acharya, 2009; Allen and Gale, 2000; Brunnermeier and Pedersen, 2009; Dasgupta, 2004; Rochet and Tirole, 1996; Wagner, 2010; v.v.)

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU

Phương pháp nghiên cứu

Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát, tác giả thực hiện kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, cụ thể như sau:

- Để trả lời câu hỏi thứ nhất, tìm ra mô hình phù hợp, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo cứu các nghiên cứu trước có liên quan

Trang 16

- Để trả lời câu hỏi thứ hai, tức để đánh giá được mức độ tác động của tài chính diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia khu vực ASEAN, các phương pháp mà tác giả chủ yếu sử dụng bao gồm thống kê mô tả; mô hình hồi quy System Generalized Method

of Moments (SGMM)

- Để trả lời câu hỏi thứ ba, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm thảo luận các kết quả nghiên cứu định lượng, từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm góp phần gia tăng sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là những hàm ý chính sách liên quan đến tài chính toàn diện

Các bước nghiên cứu được thực hiện như sau:

Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu (bao gồm tài chính toàn diện và sự ổn định của hệ thống ngân hàng)

Bước 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu Tác giả thực hiện tìm

hiểu các cơ sở lý thuyết cùng với các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và ASEAN về vấn

Bước 6: Kết luận và đưa ra hàm ý chính sách Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra

kết luận và hàm ý chính sách để gia tăng mức độ tài chính toàn diện và ổn định hệ thống ngân

hàng ở các nước ASEAN

Dữ liệu

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp Trong đó, các dữ liệu ở cấp độ quốc gia dùng để tính toán chỉ số tài chính toàn diện chủ yếu lấy từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF FAS, 2020); toàn bộ các dữ liệu ở cấp độ ngân hàng lấy từ Worldscope (trích xuất từ Datastream, 2020) Ngoài ra, số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm cũng được lấy từ nguồn Worldscope nói trên

Trang 17

1.5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

So với các nghiên cứu đã được công bố trước, luận án có các đóng góp mới về mặt lý luận

và thực tiễn sau đây

Đóng góp về mặt lý luận

Trong khi các nghiên cứu trước đưa ra quan điểm rằng khi mở rộng các khoản tín dụng nhỏ cho nhiều người vay hơn do tài chính toàn diện, có thể làm mất ổn định hệ thống ngân hàng vì những khoản dưới chuẩn có thể xuất hiện nhiều hơn (Rajan, 2011) và có thể tồn tại

sự đánh đổi giữa các mục tiêu duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và thúc đẩy tài chính toàn diện (Hannig and Jansen, 2010; Acharya, Hasan and Saunders, 2006) Luận án đã cung cấp thêm về mặt lý luận rằng có tồn tại sự tác động tích cực của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng

Đóng góp về mặt thực tiễn

So với các nghiên cứu ở ASEAN, hiện chưa có nghiên cứu nào phân tích tác động của tài chính toàn diện đến ổn định hệ thống ngân hàng Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đánh giá thực trạng tài chính toàn diện, bàn luận về các chính sách thực hiện ở các nước ASEAN Như tác giả đã phân tích rõ ở phần trước (mục 1.3.2.1), các quốc gia ASEAN có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (theo cấu trúc hoạt động), do vậy việc nghiên cứu về sự ổn định của

hệ thống ngân hàng và tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định này là vô cùng cần thiết và cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm ở các quốc gia này Đóng góp của luận án không chỉ có ý nghĩa đối với các quốc gia trong khu vực ASEAN mà còn có ý nghĩa đối với những quốc gia có hệ thống tài chính tương tự

Hơn nữa, so với các nghiên cứu trước đã công bố trên thế giới, chỉ đề cập đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng dựa vào chỉ số Zscore (đo lường dựa trên sự biến động của lợi nhuận), luận án còn quan sát sự ổn định thông qua sự biến động của tăng trưởng tiền gửi (phản ánh khả năng hiện tượng tháo chạy khỏi ngân hàng có thể xảy ra) và tỷ lệ nợ xấu (phản ánh rủi ro tín dụng) Mặt khác, về tài chính toàn diện, ngoài xem xét số lượng tài khoản ngân hàng được

mở và số lượng chi nhánh/ATM phục vụ người dân, tác giả còn bổ sung thêm khía cạnh về mức độ sử dụng các dịch vụ tài chính, được đo lường thông qua tỷ lệ tiền gửi và cho vay so với GDP Từ đó, giúp cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của tài chính toàn

Trang 18

diện nói chung và tác động của từng các khía cạnh nói riêng đến ổn định hệ thống ngân hàng

ở các quốc gia ASEAN

Ngoài ra, từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận án đề xuất các hàm ý chính sách liên quan đến tài chính toàn diện nhằm gia tăng sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia ASEAN Các hàm ý được thể hiện một cách rõ ràng và được gợi ý theo các khía cạnh của tài chính toàn diện Ngoài ra, dựa vào kết quả hồi quy của các biến giải thích khác, tác giả đưa

ra các gợi ý chính sách dành cho các ngân hàng, hướng đến việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng, giảm thiểu được rủi ro liên quan đến vấn đề rút vốn ồ ạt của khách hàng ra

khỏi ngân hàng và rủi ro tín dụng ngân hàng

1.6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này có năm nội dung chính sau:

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Trang 19

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Những năm gần đây, việc thúc đẩy tiếp cận tài chính được coi là chương trình ưu tiên hàng đầu ở nhiều quốc gia Từ đó làm nổi bật lên các vấn đề liên quan đến tài chính toàn diện (Financial Inclusion) Từ khóa này không chỉ được các quốc gia cân nhắc cẩn thận, còn được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm

Đối với ổn định hệ thống tài chính nói chung và ổn định hệ thống ngân hàng nói riêng, các nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra tài chính toàn diện có tác động tích cực Song, ở các nước khu vực ASEAN, các đề tài rất ít chú ý đến việc điều tra xem liệu mục tiêu phát triển tài chính toàn diện nói trên có làm ảnh hưởng đến sự ổn định của của hệ thống ngân hàng hay không? Trong khi bối cảnh hiện nay, các tổ chức tài chính ngày càng tìm kiếm các

cơ hội và thị trường mới và nhìn thấy những lợi ích có thể có được từ hoạt động tài chính vi

mô, nhất là từ các khoản tiền gửi rẻ và ổn định từ khu vực bán lẻ, tác giả nhìn thấy sự thiếu hụt này trong nghiên cứu ở ASEAN

Do đó đề tài nghiên cứu “TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐỐI VỚI SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG” là cần thiết để bổ sung cơ sở lý luận cũng như bằng chứng thực nghiệm về tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng Nghiên cứu thực hiện trong phạm vi sáu quốc gia khu vực ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam), thời gian 2008 – 2019, với các phương pháp định tính và định lượng (mô hình hồi quy SGMM) Những đóng góp của nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận, thực nghiệm và thực tiễn

Trang 20

2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ

SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN

2.1.1 Khái niệm của tài chính toàn diện

Sự ảnh hưởng của tài chính toàn diện đến phát triển kinh tế xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo và giảm bất bình đẳng đã được các nhà nghiên cứu, các tổ chức tài chính quốc tế cũng như chính phủ các quốc gia ghi nhận ASEAN (2015) coi tài chính toàn diện là một trong ba trụ cột của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) tầm nhìn 2025, trong hội nhập tài chính và đã thành lập nhóm công tác về tài chính toàn diện để thúc đẩy lĩnh vực này trong khu vực Tuy nhiên, hiện chưa có khái niệm về tài chính toàn diện ở các tổ chức và các quốc gia trên thế giới được sử dụng một cách thống nhất Các khái niệm được đưa ra trong các báo cáo của các tổ chức quốc tế, trong chiến lược của các quốc gia hay trong các nghiên cứu Một số

tổ chức đã đưa ra quan điểm về tài chính toàn diện có thể kể đến như ADB, World Bank, Liên Hiệp Quốc (UN)

Khung chiến lược của ADB, “Chiến lược 2020,” nhấn mạnh việc đưa tài chính vào như một phần thiết yếu của sự phát triển khu vực tài chính, rằng nếu không được tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức, các bộ phận xã hội chưa được phục vụ sẽ không có được lợi ích

và bị loại khỏi sự phát triển chung (ADB, 2008, 2014) Trong một nghiên cứu của ADB, đã nêu khái niệm về tài chính toàn diện nghĩa là tất cả các bộ phận dân cư - ngay cả những người

có thu nhập thấp nhất - có thể tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính chính thức (ADB, 2017)

Thuật ngữ này, trong nghiên cứu của World Bank cũng đã đề cập lần đầu vào năm 2008, với tựa đề “tài chính cho mọi người” – finance for all (Demirgüç-Kunt, Honohan and Beck, 2008) Dựa trên báo cáo này, tài chính toàn diện “financial inclusion” còn được gọi là tiếp cận dịch vụ tài chính mở rộng và được hiểu là việc loại bỏ rào cản phí và rào cản phi phí trong việc sử dụng dịch vụ tài chính Năm 2017, World Bank mở rộng khái niệm này, cụ thể, đã xác định rõ tài chính toàn diện là việc cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận đến các sản phẩm và dịch vụ tài chính hữu ích với giá cả hợp lý và đáp ứng được nhu cầu của họ về giao dịch, thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm – và các dịch vụ sản phẩm này đều được cung cấp theo phương châm trách nhiệm và bền vững (World Bank, 2018)

Trang 21

UN cũng tiếp cận đến tài chính toàn diện và đưa ra khái niệm là khả năng tiếp cận tài chính, với chi phí hợp lý, vào một loạt các dịch vụ tài chính, được cung cấp bởi nhiều tổ chức lành mạnh và bền vững, từ đó tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cho cả cá nhân và doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (UN, 2015) Các nước đang phát triển, tiếp cận các dịch vụ tài chính là rất quan trọng để tăng cường các lĩnh vực tài chính và huy động nguồn lực trong nước, do đó có thể đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế và xã hội

Dưới góc độ quốc gia, mỗi nước khi xây dựng chiến lược, chương trình hay kế hoạch hành động triển khai tài chính toàn diện đều đưa ra khái niệm riêng của mình để từ đó xác định mục tiêu và tầm nhìn cho chiến lược, chương trình hay kế hoạch hành động triển khai tài chính toàn diện của quốc gia mình Chẳng hạn như ở Anh, năm 2002, quốc gia này đã xây dựng Ủy ban Tài chính toàn diện (FIC), một cơ quan công quyền độc lập với các thành viên

từ Quốc hội và chuyên gia tài chính, để thực hiện thúc đẩy tài chính toàn diện ở quốc gia mình Theo đó, Ủy ban này đã đưa ra quan điểm rằng tài chính toàn diện là phương tiện mà mọi người có thể làm cho tiền của họ có thể sinh lời, cho phép họ tối đa hóa cơ hội, trở nên

tự chủ hơn, và nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần; do vậy, tài chính toàn diện góp phần thúc đẩy sự di chuyển xã hội và nâng cao trình độ, một hệ thống phúc lợi hiệu quả hơn và khả năng phục hồi quốc gia cao hơn trước cú sốc kinh tế (FIC, 2016)

NHTW Indonesia đã xây dựng chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện và xác định tài chính toàn diện là quyền của mỗi cá nhân tiếp cận đầy đủ các loại hình dịch vụ tài chính với đầy đủ thông tin về dịch vụ, chi phí phù hợp, kịp thời, thuận tiện và được cung ứng theo phương châm tôn trọng nhân phẩm (NSFI, 2012) Mọi dịch vụ tài chính sẽ được cung ứng đến mọi tầng lớp xã hội, với trọng tâm đến người nghèo, người thu nhập thấp, người nghèo với hiệu suất làm việc hiệu quả, người lao động di cư và người sống ở vùng sâu, vùng xa Với mục tiêu này, tầm nhìn được đưa ra là “để có được hệ thống tài chính mà mọi tầng lớp xã hội đều có thể tiếp cận để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo, công bằng thu nhập và tạo nên sự ổn định hệ thống tài chính ở Indonesia”

Dưới góc độ nghiên cứu, một trong những khái niệm xuất hiện sớm nhất của Leyshon and Thrift (1995) đã xác định “tài chính toàn diện là quá trình một số nhóm xã hội và cá nhân nhất định được tiếp cận với hệ thống tài chính chính thức” Sinclair (2001) lại nhìn nhận “tài chính toàn diện là khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cần thiết bằng cách thức thích hợp” Hiểu biết về sự phù hợp dịch vụ và sản phẩm tài chính, bao gồm sự nhận thức về tài chính,

Trang 22

hiểu biết về ngân hàng, kênh dịch vụ ngân hàng và lợi ích khi sử dụng dịch vụ tài chính qua các kênh cung ứng chính thức Tuy nhiên, cần hiểu chất lượng dịch vụ tài chính trong hệ thống toàn diện đầy đủ được cung ứng với giá cả hợp lý, thuận tiện và đảm bảo chất lượng cho khách hàng

Tài chính toàn diện thúc đẩy người dân không sử dụng dịch vụ ngân hàng sang sử dụng dịch vụ tài chính chính thức để họ có cơ hội tiếp cận đa dạng các loại dịch vụ từ tiết kiệm, thanh toán đến tín dụng, bảo hiểm (Hannig and Jansen, 2010) Do vậy, tài chính toàn diện là quá trình bảo đảm tiếp cận dịch vụ tài chính và nhu cầu tín dụng được đáp ứng cho đối tượng yếu thế như nhóm khách hàng có thu nhập thấp với chi phí hợp lý Những điều này được thể hiện qua khả năng tiếp cận qua tài khoản ngân hàng như tài khoản tiết kiệm, qua tiếp cận tín dụng và qua thanh toán từ tài khoản ngân hàng (Khan, 2011)

Như vậy, có thể thấy ba khía cạnh chính của tài chính toàn diện là (i) tiếp cận, (ii) sử dụng,

và (iii) chất lượng Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy tài chính toàn diện là một khái niệm

có tính chất đa chiều và được thể hiện đa dạng theo từng quốc gia phụ thuộc vào mục tiêu của từng nước đối với tài chính toàn diện Tài chính toàn diện không chỉ giới hạn trong việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng mà bao gồm cả nâng cao hiểu biết về tài chính cho người dân

và bảo vệ người tiêu dùng Triển khai tài chính toàn diện giúp cho tất cả mọi người có quyền tiếp cận và sử dụng hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu, có chất lượng, tiện lợi, nhanh chóng ở mức chi phí chấp nhận được Từng quốc gia vì vậy sẽ phải nghiên cứu để tìm ra một khái niệm phù hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể và điều kiện thực tế của chính quốc gia đó, và dựa trên khái niệm này mới có thể xác định cho mình mục tiêu, định hướng chiến lược, các giải pháp, biện pháp phù hợp để hiện thực hóa tài chính toàn diện một cách hiệu quả và bền vững

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả dựa theo quan điểm của Sarma (2012, trang

3) với khái niệm về tài chính toàn diện là “việc đảm bảo sự dễ dàng tiếp cận, sẵn có và mức

sử dụng của hệ thống tài chính chính thức cho tất cả các thành viên của nền kinh tế” Theo

đó, khái niệm này đặc biệt nhấn mạnh vào các khía cạnh đã phân tích trên, bao gồm tính dễ tiếp cận, sẵn có và mức sử dụng của của hệ thống tài chính, cấu thành nên tài chính toàn diện Các khía cạnh này sẽ liên quan sâu sắc đến nội dung của phần xây dựng chỉ số đo lường tài chính toàn diện Mặt khác, Sarma (2008, 2012) còn xem ngân hàng là tổ chức tài chính chủ đạo trong cung cấp hình thức dịch vụ tài chính cơ bản nhất, do vậy ngân hàng toàn diện

Trang 23

(banking inclusion) được xem là tương tự như tài chính toàn diện Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, tài chính toàn diện được chủ yếu nghiên cứu trên góc độ của ngân hàng

2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của tài chính toàn diện

Tài chính toàn diện có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định tài chính, tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

2.1.2.1 Tài chính toàn diện và sự ổn định tài chính

Đứng ở cấp độ vi mô, theo nghiên cứu của Adasme, Majnoni and Uribe (2006) đã cho thấy bằng chứng liên quan tới danh mục đầu tư của các ngân hàng Chi lê, chỉ ra rằng các thiệt hại của các khoản vay nhỏ có rủi ro hệ thống thấp hơn thiệt hại liên quan tới các khoản vay lớn, không thường xuyên và biến động khó dự đoán Như vậy, tài chính toàn diện về mặt tiếp cận tín dụng có thể đồng thời đồng nghĩa với sự ổn định lớn hơn ở cấp độ các nhà cung ứng dịch vụ tài chính

Ở cấp độ vĩ mô giữa tài chính toàn diện và sự ổn định tài chính, ở cấp quốc gia, bằng chứng cho thấy tài chính toàn diện có thể dẫn đến tính hiệu quả cao hơn của trung gian tài chính Nói rõ hơn, thông qua trung gian lượng tiết kiệm nội địa lớn hơn, từ đó dẫn tới sự vững mạnh hơn về các chu kỳ tiết kiệm và đầu tư nội địa lành mạnh và theo đó có sự ổn định lớn hơn (Prasad, 2010)

Khan (2011) cũng đã chỉ ra ba cách thức chủ yếu mà việc mở rộng tài chính toàn diện có thể đóng góp tích cực cho ổn định tài chính Một là, việc gia tăng tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ sẽ khiến tài sản của hệ thống ngân hàng được đa dạng hơn, từ đó làm giảm mức

độ rủi ro tổng thể của danh mục cho vay của hệ thống ngân hàng Điều này sẽ làm giảm quy

mô tín dụng tương đối của từng khách hàng cũng như độ biến động của nó, hay nói cách khác giảm rủi ro lan truyền của hệ thống tài chính Hai là, việc gia tăng số lượng khách hàng gửi tiết kiệm nhỏ sẽ làm tăng cả quy mô và độ ổn định của cơ số tiền gửi, từ đó giảm sự phụ thuộc của hệ thống ngân hàng vào các nguồn huy động vốn dễ biến động trong thời kỳ khủng hoảng

Ba là, một phạm vi tiếp cận tài chính rộng cũng có thể đóng góp tốt hơn vào cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ cũng như một nền tảng ổn định tài chính vững chắc

Mặt khác, những tầng lớp người dân có thu nhập thấp thường ít bị tác động bởi chu kỳ kinh tế, do vậy việc thu hút họ tham gia vào lĩnh vực tài chính sẽ làm tăng mức độ ổn định của cơ số tiền gửi và cho vay (Hannig and Jansen, 2010) Nhóm tác giả đã đưa ra minh chứng

Trang 24

điển hình là những tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ cho các phân khúc thị trường thấp có

xu hướng thích nghi tốt hơn với những cuộc khủng hoảng ở tầm vĩ mô và giúp tăng cường bền vững hoạt động kinh tế khu vực

Tuy nhiên, tiếp cận tài chính quá dễ dàng cũng có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định tài chính Ví dụ rõ ràng nhất là nếu ngân hàng nỗ lực mở rộng khách hàng vay thì dẫn đến là nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay (Rajan, 2011) Khủng hoảng dưới chuẩn tại

Mỹ năm 2008 có một nguyên nhân quan trọng là từ vấn đề nêu trên Bên cạnh đó, các ngân hàng có thể làm tăng rủi ro đại diện (Acharya, Hasan and Saunders, 2006) nếu họ sử dụng các

tổ chức bên ngoài, chẳng hạn như tổ chức đánh giá tín dụng, để tiếp cận được các khách hàng vay nhỏ Cuối cùng, nếu các tổ chức tài chính vi mô không được quản lý và giám sát một cách hiệu quả thì chỉ cần một sự gia tăng cho vay của nhóm đối tượng này có thể đưa đến hiệu lực

tổng thể của hệ thống quy định bị xói mòn và tăng rủi ro hệ thống tài chính

2.1.2.2 Tài chính toàn diện và tăng trưởng kinh tế

Mức độ ảnh hưởng của tài chính toàn diện đến tăng trưởng kinh tế cũng đã được làm rõ qua hai cấp độ: vi mô và vĩ mô

Ở cấp độ kinh tế vi mô, tài chính toàn diện sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thông

qua các kênh sau: tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, thanh toán di động Mặc dù, ở kênh tín dụng, vai trò của tài chính toàn diện đối với tăng trưởng kinh tế là chưa rõ, nhưng kênh tiết kiệm lại thể hiện khá nổi bật vấn đề này Một đánh giá ngẫu nhiên ở nông thôn miền tây Kenya cho thấy việc tiếp cận dịch vụ tiết kiệm mới cho phép các nhà cung cấp thị trường là nữ giảm thiểu ảnh hưởng của cú sốc sức khoẻ, tăng chi tiêu cho gia đình (chi tiêu cá nhân tăng 13%)

và tăng đầu tư vào kinh doanh 38-56% so với các nhà cung cấp nữ mà không tiếp cận tới tài khoản tiết kiệm (Dupas and Robinson, 2013a) Ngoài ra, ở Malawi, những tác động tích cực của tiết kiệm đối với đầu tư kinh doanh, tăng chi tiêu và sản lượng cây trồng đã được tìm thấy

(Brune et al., 2011)

Các đánh giá ngẫu nhiên gần đây ở Ấn Độ và Ghana về bảo hiểm chỉ số thời tiết cho thấy ảnh hưởng tích cực đến người nông dân bởi vì đảm bảo thu nhập tốt hơn đã khuyến khích nông dân chuyển từ việc trồng trọt tự cấp sang các trồng cây hoa màu nhiều rủi ro hơn (Cole, Giné and Vickery, 2013) Ở Ghana, nông dân được bảo hiểm mua thêm phân bón, trồng thêm diện tích, thuê nhiều lao động hơn và có lợi nhuận và thu nhập cao hơn, dẫn tới việc ít bỏ bữa

Trang 25

ăn và ít trẻ em bỏ học hơn, từ đó, đời sống người dân được cải thiện và kích thích tăng trưởng kinh tế

Về thanh toán di động, Jack and Suri (2014) đã kiểm tra tác động của việc giảm chi phí giao dịch của thanh toán di động (M-Pesa) đối với chia sẻ rủi ro ở Kenya Nhóm tác giả cho thấy rằng người sử dụng M-Pesa có thể ứng phó hoàn toàn những cú sốc tiêu cực lớn (như bệnh nặng, mất việc làm, chết gia súc, và mất mùa hoặc thua lỗ trong kinh doanh) mà không làm giảm mức tiêu thụ của hộ gia đình Ngược lại, tiêu dùng cho các hộ gia đình không tiếp cận M-Pesa giảm trung bình 7% để ứng phó với cú sốc lớn Một đánh giá ngẫu nhiên về tác

động của một chương trình chuyển tiền bằng điện thoại di động, Aker et al (2013) cho thấy

giảm cả chi phí phân phối đối với cơ quan thực hiện và chi phí để chuyển tiền cho người nhận thuộc chương trình Việc tiết kiệm chi phí của người nhận tiền đã dẫn đến đa dạng hóa các khoản chi tiêu (bao gồm thực phẩm), tiêu tốn ít tài sản hơn và trồng được nhiều loại cây hoa màu khác nhau hơn, đặc biệt những cây hoa màu do phụ nữ trồng

Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy tài chính toàn diện có

tương quan tỷ lệ thuận với tăng trưởng và việc làm Các nhà nghiên cứu thường tin vào tác động nhân quả cơ bản Các cơ chế chính mà họ trích dẫn để nói như vậy là chi phí giao dịch thấp hơn và phân phối vốn và phân bổ rủi ro tốt hơn trong toàn bộ nền kinh tế Theo Demirgüç-Kunt, Honohan and Beck (2008), phát triển tài chính toàn diện sẽ có hai tác động đến quá trình phát triển kinh tế: một là phát triển tài chính là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng khả năng tiết kiệm, giúp khởi nghiệp đầu tư, sản xuất, từ đó giảm đói nghèo và bất bình đẳng; hai là cung cấp các dịch vụ tài chính phù hợp, giá cả hợp lý cho người nghèo, cải thiện phúc lợi cho tầng lớp khó khăn

Đồng thời, nhóm tác giả cũng cho rằng tài chính toàn diện có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế bởi thông qua đó những đối tượng từng nằm ngoài khu vực kinh tế chính thức có thể tiếp cận sản phẩm, dịch vụ tài chính, cải thiện cuộc sống Như vậy, đối với một quốc gia đang phát triển, tài chính toàn diện có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của khu vực có thu nhập thấp, qua đó góp phần xóa đói, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế Tài chính toàn diện giúp tạo điều kiện cho người tham gia vào nền kinh tế và hệ thống tài chính, từ đó tạo động lực cho khu vực tài chính phát triển hơn và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua huy động nguồn tiết kiệm và đầu tư vào tăng trưởng ở các khu vực có hiệu quả

Trang 26

2.1.2.3 Tài chính toàn diện và phát triển bền vững

Vào ngày 25/9/2015, đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (UN) thông qua chương trình Nghị sự

2030 về sự phát triển bền vững cùng một bộ các mục tiêu phát triển mới được gọi chung là các mục tiêu phát triển bền vững – SDG (UN, 2020) Chương trình Nghị sự là một kết quả của nhiều năm đàm phán và đã được phê chuẩn bởi tất cả 193 quốc gia thành viên của Đại hội đồng, cả các nước phát triển và đang phát triển – và áp dụng cho tất cả các nước Các SDG bao gồm 17 mục tiêu đầy tham vọng Mặc dù các SDG không nhắm tới các vấn đề về tài chính một cách rõ ràng, nhưng việc tiếp cận nhiều hơn tới các dịch vụ tài chính là chìa khóa quan trọng để đạt được các mục tiêu này Bằng cách xem xét nghiên cứu về mối liên hệ giữa tài chính toàn diện và phát triển, các nghiên cứu cho thấy các dịch vụ tài chính ở đâu và như thế nào để có thể giúp đạt được một số SDG

SDG 1 – Loại bỏ đói nghèo

Tài chính toàn diện tạo điều kiện thực hiện mục tiêu này bằng cách cung cấp cho người nghèo các dịch vụ họ cần để đầu tư và quản lý các chi phí phát sinh đột xuất Banerjee and Newman (1994) đã chỉ ra việc thiếu tiếp cận với các dịch vụ tài chính cơ bản gây khó khăn cho những người có thu nhập thấp để kiểm soát cuộc sống kinh tế của họ Khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo phản ánh sự thiếu hoàn hảo của thị trường, bao gồm sự bất cân xứng về thông tin và thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ tài chính – cả hai đều có thể tạo

ra cái gọi là cái bẫy nghèo đói buộc người dân luôn ở mức nghèo khổ (Banerjee and Newman, 1994; Beck, Demirgüç-Kunt and Levine, 2007)

Các dịch vụ tài chính như tiết kiệm có thể có tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc giảm nghèo đói Ví dụ, việc cá nhân tiếp cận với các công cụ tiết kiệm có thể giúp làm tăng tiết kiệm ròng của một quốc gia (Ashraf, Karlan and Yin, 2010), có thể dẫn đến sự gia tăng đầu

tư và tiêu dùng hiệu quả Tiết kiệm cho phép các gia đình tăng khả năng để đối mặt với các

cú sốc tài chính, duy trì tiêu dùng đều đặn, tích lũy tài sản và đầu tư vào con người như y tế

Trang 27

cho thấy rằng khi phải đối mặt với một cú sốc tài chính người dùng M-Pesa có nhiều khả năng nhận được các khoản tiền chuyển hơn là người không sử dụng (Jack and Suri, 2014)

SDG 2 – Giảm tình trạng thiếu đói và tăng cường an ninh lương thực

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), khoảng 795 triệu người trên toàn cầu bị suy dinh dưỡng, hầu hết sống ở nông thôn không được hệ thống tài chính phục vụ Thiếu tiếp cận với tín dụng và bảo hiểm khiến người nông dân không thể đầu

tư tăng năng suất cây trồng và tăng cường an ninh lương thực (FAO, 2015) Tài chính toàn diện giúp những người nông dân tiếp cận các dịch vụ tài chính từ đó sản xuất nhiều vụ mùa bội thu hơn, dẫn đến mục tiêu thứ hai: Giảm đói và tăng cường an ninh lương thực

Nói cụ thể hơn, các dịch vụ tài chính có thể giúp nông dân tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu lương thực gia tăng của người dân, nói cách khác, an ninh lương thực được bảo đảm hơn Thông qua việc tiếp cận với bảo hiểm nông nghiệp có thể khuyến khích nông dân đầu tư vào các khoản có rủi ro hơn, có khả năng làm tăng thu nhập Một nghiên cứu kéo dài ba năm ở Ghana thấy rằng người nông dân có sử dụng bảo hiểm theo chỉ số mưa – trong đó các khoản thanh toán bảo hiểm dựa trên số lượng mưa – đã chi tiêu thêm 266 đô la cho chi tiêu cho vụ mùa so với nông dân không có bảo hiểm; nhưng nông dân được bảo hiểm cũng kiếm thêm

được 285 đô la doanh thu, trong khi tài sản sau thu hoạch cao hơn 531 đô la (Karlan et al.,

2014) Ở Ấn Độ, nông dân bảo hiểm theo chỉ số dựa trên thời tiết đã chuyển hướng sang nhiều

vụ mùa nhạy cảm với mưa hơn nhưng cũng có lợi hơn (Cole, Giné and Vickery, 2013) Các sản phẩm bảo hiểm hạn hán dựa trên chỉ số cũng cho thấy những ảnh hưởng tích cực ở nông thôn Kenya Cụ thể, các hộ gia đình được bảo hiểm trung bình có 36 điểm phần trăm thấp hơn

về khả năng rút bớt tài sản, và 25 điểm phần trăm thấp hơn về khả năng giảm bớt các bữa ăn khi nhận được khoản thanh toán

Các tài khoản tiết kiệm cũng giúp nông dân đầu tư lớn hơn Nông dân trồng hoa màu Malawi sử dụng sản phẩm tiết kiệm cam kết – không cho phép rút tiền cho đến một ngày nhất

định – tăng đầu tư thêm 13% và tăng sản lượng cây trồng lên 21% (Brune et al., 2011) Ngoài

ra, các sản phẩm tiết kiệm cho phép nông dân quản lý chi phí trong mùa khô Các hộ gia đình nông thôn thường phải khai thác để mua lương thực, vì họ không thể sản xuất đủ để tiêu thụ Tài khoản tiết kiệm được nhận thấy có liên quan đến việc chi tiêu nhiều hơn cho thực phẩm (Prina, 2015) Theo FAO (2015) khẳng định rằng các dịch vụ tài chính cũng có thể giúp nông dân tăng khả năng bảo đảm an ninh lương thực cho họ, cải thiện dinh dưỡng gia đình

Trang 28

Một sản phẩm tài chính khác hỗ trợ cho an ninh lương thực là tín dụng Cung cấp tín dụng ngắn hạn cho nông dân ở Zambia giữa các vụ thu hoạch đã làm tăng sản lượng và doanh thu khoảng mười phần trăm, chủ yếu là do tăng tiêu dùng thực phẩm và thuê lao động (Fink, Jack and Masiye, 2014) Một nghiên cứu ở Mông Cổ cho thấy nợ theo nhóm cộng đồng làm tăng

việc tiêu dùng thực phẩm lành mạnh (Attanasio et al., 2015) Một nghiên cứu khác ở Mali

cho thấy rằng các hộ gia đình được nhận khoản cho vay đã tăng đầu tư và chi tiêu cho đầu

vào nông nghiệp (Beaman et al., 2014)

Các sản phẩm tài chính kỹ thuật số không yêu cầu đi đến chi nhánh ngân hàng có những lợi ích đặc biệt cho những nông dân sống ở những khu vực ít được các ngân hàng truyền thống phục vụ Các dịch vụ tài chính số giúp người dân dễ dàng tiếp cận bảo hiểm và các sản

phẩm chính thức khác (Kirk et al., 2011; Manfre and Nordehn, 2013; Mbiti and Weil, 2015)

Chúng cũng tạo điều kiện phân phối tiền lương, chuyển tiền xã hội và trợ cấp cho người lao

động nông nghiệp (Aker et al., 2016; Aker and Mbiti, 2010; Muralidharan, Niehausand

Sukhtankar, 2016) Các công cụ quản lý rủi ro và thanh toán kỹ thuật số tạo cơ hội cho những nhà nông nhỏ liên kết chặt chẽ hơn vào chuỗi giá trị nông nghiệp Ví dụ ở Kenya, hơn một nửa số người trưởng thành bán nông sản và 30% những người này được thanh toán hàng thông qua tài khoản điện thoại di động, theo Global Findex Cuối cùng, các dịch vụ tài chính

kỹ thuật số hỗ trợ các dịch vụ khuyến nông bằng cách cải thiện sự phổ biến thông tin (Aker

et al., 2015; Seetharam and Johnson, 2015)

SDG 3 – Đạt được sức khoẻ và hạnh phúc

Tài chính toàn diện cải thiện sức khoẻ bằng cách trao cho mọi người có khả năng quản lý chi phí y tế và bình phục sau khi đau ốm Nghiên cứu cho thấy các khoản chi đến đồng tiền cuối cùng cho chăm sóc sức khoẻ ở các nước đang phát triển là nguyên nhân lý giải cho sự nghèo đói của người dân (Krishna, 2006; Saksena, Xu and Evans, 2011) Trong trường hợp thiếu vắng một hệ thống chăm sóc sức khoẻ hiệu quả, gánh nặng chi phí y tế đè nặng lên người nghèo (Frenk and Knaul, 2002) Các cú sốc về sức khoẻ không chỉ làm tiêu hao nguồn lực để chi cho điều trị y tế, mà còn dẫn đến mất thu nhập vì bệnh nhân không còn khả năng làm việc hoặc cạn kiệt tài sản của mình để trang trải chi phí y tế (Klapper, El-Zoghbi and Hess, 2016)

Ngoài ra, các sản phẩm mới được thiết kế để thúc đẩy công nghệ thanh toán kỹ thuật số

có thể giúp giảm chi phí y tế và tăng tính minh bạch về trợ cấp y tế Chẳng hạn, các nghiên

Trang 29

cứu đang tiến hành ở Kenya kiểm nghiệm hoạt động trên nền tảng thanh toán di động M-Pesa

và giới hạn trong các khoản chi tiêu có điều kiện tại một số nhà cung cấp dịch vụ y tế được lựa chọn (PharmAccess, 2015)

Tiết kiệm cũng là một công cụ quan trọng để quản lý chi phí y tế, dù là kế hoạch hay không có kế hoạch Trong một kiểm định thực địa ở Kenya, đã nhận thấy rằng cung cấp cho người dân nơi lưu trữ tiền an toàn đã tăng tiết kiệm sức khoẻ lên 66% Họ cũng quan sát thấy rằng những người tham gia nghiên cứu đánh giá cao quỹ dành cho các trường hợp khẩn cấp

y tế Tiếp cận các tài khoản chính thức, có lãi sẽ làm tăng thêm giá trị của các khoản đầu tư này Một nghiên cứu ở Nepal phát hiện rằng khi bị ảnh hưởng bởi cú sốc sức khoẻ, các hộ gia đình có tài khoản tiết kiệm thu nhập bị giảm ít hơn so với các hộ không có (Prina, 2015)

SDG 4 – Tăng cường giáo dục có chất lượng

Sự tăng trưởng kinh tế có liên quan chặt chẽ với nguồn nhân lực, trình độ học thuật yếu kém làm chậm lại sự phát triển Trong nghiên cứu của 20 quốc gia, Thomas and Burnett (2013) cho thấy lợi ích – chi phí của trẻ em thất học dao động từ 1% GDP đến 10% GDP, với những tổn thất lớn nhất các quốc gia có tốc độ tăng trưởng chậm phải đối mặt Sự kém hiệu quả về giáo dục cũng góp phần gia tăng bất bình đẳng về kinh tế giữa các nước giàu và nghèo (O’Neill, 1995)

Các sản phẩm tiết kiệm giúp gia đình hoạch định và quản lý chi phí giáo dục tốt hơn Prina (2015) đã chỉ ra chi phí giáo dục gia tăng 20% trong số các hộ gia đình mở tài khoản ngân hàng tại Nepal Trong một nghiên cứu riêng ở Nepal, việc tiếp cận các tài khoản tiết kiệm liên quan đến trình độ học vấn được cải thiện và khát vọng nghề nghiệp cao hơn giữa các con gái của các chủ tài khoản nữ (Chiapa, Prina and Parker, 2014) Các hành động khuyến khích những thói quen tiết kiệm tốt cũng có hiệu quả Các nghiên cứu ở Bolivia, Peru và Philippines cho thấy rằng tiết kiệm tăng 6% khi người ta nhận được tin nhắn nhắc nhở họ chi tiêu (Karlan

et al., 2016) Ngoài ra, các khoản vay ngắn hạn, các sản phẩm cam kết, và dịch vụ ghi nợ trực

tiếp có thể giúp các hộ gia đình chi trả các khoản chi phí như tiền học gia sư (Ahamed and Mallick, 2019; Ashraf, Gons, Karlan and Yin, 2003; Johnston and Morduch, 2008)

SDG 5 – Gia tăng bình đẳng giới

Các dịch vụ tài chính giúp phụ nữ khẳng định quyền lực kinh tế của họ, đó là chìa khóa

để thúc đẩy bình đẳng giới Hơn một nửa phụ nữ trên toàn thế giới đang thất nghiệp và không tìm kiếm việc làm (World Bank, 2016) Cuberes and Teignier (2016) ước tính khoảng cách

Trang 30

về giới làm giảm thu nhập khoảng 15% ở các nước OECD, và gần 38% ở Trung Đông và Bắc Phi Phụ nữ cũng có nhiều khả năng hơn nam giới làm việc tại các nước đang phát triển và do

đó cần được tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức (Demirguc-Kunt, Klapper and Singer, 2013)

Tài chính toàn diện của phụ nữ có thể tạo ra sự bình đẳng giới bằng cách tạo cho họ khả

năng kiểm soát tài chính tốt hơn (Ashraf, Karlan and Yin, 2010; Aker et al., 2016) Bằng

chứng từ nhiều quốc gia cho thấy việc tăng tỷ lệ thu nhập hộ gia đình do phụ nữ kiểm soát – cho dù thông qua thu nhập của họ hoặc được chuyển tiền mặt - thay đổi cách thức chi tiêu theo hướng có lợi cho phụ nữ (World Bank, 2011) Trong trường hợp không tiếp cận được tới các khoản vay chính thức và không chính thức, thì các tài khoản tiết kiệm có thể cung cấp cho phụ nữ nền tảng an toàn và chính thức để tạo dựng lịch sử tín dụng và cất trữ thu nhập của mình để đầu tư trong tương lai (Anderson and Baland, 2002; Ashraf, Karlan and Yin, 2010; Dupas and Robinson, 2013a) Khi phụ nữ Kenya được tiếp cận với tài khoản tiết kiệm

mà không phải trả phí mở tài khoản, họ đã tăng chi tiêu cá nhân lên 38% (Dupas and Robinson, 2013a)

Các dịch vụ tài chính kỹ thuật số cũng hỗ trợ các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ bằng cách giảm thiểu nguy cơ trộm cắp và giảm chi phí hành chính và chi phí tiền mặt Sử dụng các kênh kỹ thuật số như điện thoại di động có thể cải thiện tiếp cận thị trường và thông tin, chẳng hạn như dữ liệu về giá cả, đầu vào và đối thủ cạnh tranh (Malhotra, Kanesathasan and Patel, 2012) Các dịch vụ này cũng có thể cho phụ nữ nhiều cơ hội làm việc xa nhà hoặc xa cộng đồng của họ và mở ra cơ hội cho phụ nữ thay thế số giờ làm việc không lương bằng việc làm có trả lương Ngoài ra, các kiểm định thực tế cũng cho thấy rằng bảo hiểm đã giúp các nhà nông nữ tăng sản lượng và quản lý tốt hơn sự mất an ninh lương thực và các biến động

thực phẩm (Manfre and Nordehn, 2013; Delavallade et al., 2015)

Với các mục tiêu phát triển bền vững khác, mối liên hệ giữa tài chính toàn diện và các SDG này, đến nay vẫn chưa có minh chứng nào cụ thể Chẳng hạn như không có bằng chứng mạnh mẽ về việc tài chính toàn diện trực tiếp làm giảm sự bất bình đẳng trong và giữa các quốc gia (SDG 10) hoặc dẫn tới tăng trưởng kinh tế toàn diện ở cấp quốc gia (SDG 8) Thúc đẩy hòa bình và ổn định (SDG 16) là dễ dàng hơn khi thành công về kinh tế, nhưng thật khó

để thấy rằng các dịch vụ tài chính có thể có tác động mạnh mẽ đến hoà bình và ổn định SDG

9, đề cập tới việc đổi mới công nghệ trong kinh doanh, có thể được thực hiện thông qua sự

Trang 31

tiếp cận tín dụng rộng rãi hơn, nhưng điều này vẫn chưa được chứng minh Các mục tiêu còn lại 11, 12, 13, 14, 15, và 17 của SDG không trực tiếp liên quan đến vai trò của dịch vụ tài chính Do vậy cần thêm những nghiên cứu mới để tìm ra mối liên hệ giữa tài chính toàn diện

và các SDG

2.1.3 Các chỉ số đo lường tài chính toàn diện

Hiện nay chưa có một khung thống nhất được thừa nhận rộng rãi về chỉ số đo tài chính toàn diện Dù vậy, đã có khá nhiều tác giả đã sử dụng dữ liệu tổng hợp từ phía cung để đo lường tài chính toàn diện như Honohan (2008), Sarma (2008), (2012)… Bên cạnh đó, Demirgüç-Kunt and Klapper (2013) sử dụng dữ liệu về nhu cầu từ góc độ cá nhân và tập trung vào một số chỉ số liên quan đến việc sử dụng và các loại rào cản đối với việc tiếp cận các dịch

vụ tài chính Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, một số phương pháp đo lường tài chính toàn diện sau đây đã được áp dụng trên thế giới, được xem là khá phổ biến

2.1.3.1 Các chỉ số riêng lẻ

a Các chỉ số Global Findex

Các chỉ số Global Findex nằm trong cơ sở dữ liệu Global Findex do World Bank thực hiện (World Bank, 2017b) Đây là cơ sở dữ liệu toàn diện nhất về tài chính toàn diện, cung cấp dữ liệu chuyên sâu về cách thức các cá nhân tiết kiệm, vay mượn, thanh toán và quản lý rủi ro Global Findex dựa trên các cuộc phỏng vấn với khoảng 150.000 người dân ở 140 quốc gia Các chỉ số Global Findex đo lường việc sử dụng và tiếp cận các dịch vụ tài chính Khả năng tiếp cận đề cập đến việc cung cấp các dịch vụ của nhà cung cấp, trong khi sử dụng được xác định theo nhu cầu của khách hàng Khả năng sử dụng đề cập đến mức độ và hình thức sử dụng các dịch vụ tài chính khác nhau giữa các nhóm khác nhau như người nghèo, thanh niên

và phụ nữ (World Bank, 2008)

Global Findex (2017) bao gồm bảy nội dung lớn, được chia thành bảy chương Bao gồm:

sở hữu các tài khoản chính thức (account ownership), người dân không giao dịch ngân hàng (the unbanked), thanh toán (payments), sử dụng tài khoản (use of accounts), tiết kiệm, tín dụng và phục hồi tài chính (saving, creditand financial resilience), truy cập vào điện thoại di động và internet (access to mobile phones and the internet around the world) và công nghệ kỹ thuật số (opportunities for expanding financial inclusion through digital technology)

Trang 32

Global Findex là hệ cơ sở dữ liệu công khai đầu tiên đưa ra một phương pháp đồng nhất các chỉ số cho việc sử dụng các sản phẩm tài chính của cá nhân trên khắp các nền kinh tế (Cámara and Tuesta, 2014) Dữ liệu xét đến từng cá nhân giúp nâng cao tính chính xác và khả năng so sánh của các phân tích Cơ sở dữ liệu này giúp thu hẹp một khoảng trống quan trọng trong hệ dữ liệu tổng thể về tài chính toàn diện Tuy nhiên, Global Findex không thu thập đủ

số liệu cho từng chỉ tiêu ở từng quốc gia, và việc thu thập không diễn ra hàng năm (xem Global Findex, 2017) Điều này gây khó khăn trong việc nghiên cứu mức độ tài chính của mỗi quốc gia trên thế giới

b Các chỉ số IMF FAS

Ngoài bộ chỉ số đo lường tài chính toàn diện nói trên của World Bank, IMF cũng xây dựng các bộ dữ liệu về tiếp cận tài chính, trong đó có các chỉ tiêu về khảo sát tiếp cận tài chính, FAS – Financial Access Survey, được đề khởi vào năm 2009 (FAS, 2021) Theo đó, FAS là

bộ dữ liệu từ phía cung của việc tiếp cận và sử dụng tài chính, hướng đến mục tiêu là giúp các nhà hoạch định chính sách có thể đo lường, giám sát tài chính toàn diện ở quốc gia mình đồng thời đối sánh tiêu chuẩn với các quốc gia khác FAS được xây dựng dựa trên dữ liệu thu thập từ các ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý tài chính khác

Bộ dữ liệu này bao gồm 189 quốc gia trong thời gian hơn mười năm (kể từ 2004), chứa

121 chuỗi thời gian về tiếp cận tài chính và sử dụng các dịch vụ tài chính Để thuận tiện cho

sự đối sánh giữa các quốc gia, FAS cũng có đưa ra 64 chỉ số liên quan đến lượng người dân trưởng thành, diện tích, và GDP Dữ liệu này được tách ra theo các phân loại như loại hình của các nhà cung cấp (ngân hàng thương mại, hiệp hội tín dụng, tổ chức tài chính vi mô, v.v.), các loại hình dịch vụ (tiền gửi, nợ vay, bảo hiểm, v.v.) Năm 2014, FAS bổ sung thêm dữ liệu

về thanh toán di động (Mobile Money), và năm 2017 FAS phân tách dữ liệu theo giới tính (FAS, 2021)

Các chỉ số của FAS có chín chỉ số quan trọng cần được xem xét: (1) Số lượng ATM trên 100,000 người trưởng thành; (2) số chi nhánh ngân hàng trên 100,000 người trưởng thành; (3) số giao dịch qua thanh toán di động trên 100,000 người trưởng thành; (4) số tài khoản tiền gửi ở các ngân hàng trên 1000 người trưởng thành; (5) số người tham gia bảo hiểm nhân thọ

và phi nhân thọ trong 1000 người trưởng thành; (6) số tài khoản tiền gửi của các SME tại các ngân hàng; (7) số tài khoản vay của các SME tại các ngân hàng; (8) số lượng điểm đại diện

Trang 33

giao dịch thông qua thanh toán di động trên 100,000 người trưởng thành; (9) số tài khoản vay

nợ ở các ngân hàng trên 1000 người trưởng thành (FAS, 2021)

Bộ dữ liệu của FAS được công khai và cập nhật hàng năm, khá đầy đủ và tương đối dễ tiếp cận, tuy nhiên dữ liệu rời rạc theo từng chỉ tiêu Vì vậy cần phải có phương pháp tổng hợp và phân tích các chỉ số này để đưa ra một chỉ số tổng hợp có ý nghĩa khi so sánh mức độ tài chính toàn diện giữa các quốc gia theo thời gian Hai phương pháp dưới đây phần nào khắc phục những nhược điểm này

2.1.3.2 Chỉ số tổng hợp về tài chính toàn diện

a Chỉ số tài chính toàn diện (A Multidimensional Index) theo phương pháp phân tích thành phần cơ bản

Theo Cámara and Tuesta (2014), tài chính toàn diện được định nghĩa là quá trình tối đa hóa việc sử dụng và tiếp cận tài chính, đồng thời giảm thiểu việc loại trừ tài chính không tự nguyện Do đó, mức độ tài chính toàn diện có thể được xác định bởi ba khía cạnh: sử dụng, rào cản và sự tiếp cận Để tính toán chỉ số, nhóm tác giả sử dụng phương pháp Phân tích thành phần cơ bản (Principal Component Analysis), với bộ dữ liệu Global Findex của World Bank Việc tính toán chỉ số được thực hiện thông qua hai bước: bước thứ nhất ước tính ba chỉ số (biến) phụ: sử dụng, rào cản và tiếp cận; bước thứ hai, nhóm tác giả ước tính các trọng số và ước tính chỉ số tài chính toàn diện tổng thể bằng cách sử dụng các chỉ số (biến) phụ (dimensions) làm các biến giải thích

Theo đó công thức tính chỉ số tài chính toàn diện (FI) được xác lập như sau:

FIi = w1.Yiu + w2.Yib + w3.Yia + ei (2.1) Trong đó:

i: quốc gia thứ i;

Yiu ; Yib ; Yia: bộ các chỉ số phụ đại diện cho sử dụng, rào cản và tiếp cận

Cụ thể hơn, ở bước 1, các biến phụ (Yiu ; Yib ; Yia) được ước tính như sau:

Yiu = β1 * accounti + β2 * savingsi + β3 * loani + ui

Yib = θ1* distancei + θ2* affordabilityi + θ3* documentsi + θ4* trusti + єi

Yia = γ1*AT Mpopi + γ2*branchpopi + γ3*AT Mkm2i + γ4*branchkm2i + vi

Trang 34

Mức độ sử dụng dịch vụ tài chính chính thức của các cá nhân được đánh giá trong ba chỉ tiêu: sử dụng ít nhất một dịch vụ tài chính (account), có tài khoản tiết kiệm (savings) và có khoản vay trong một tổ chức tài chính chính thức (loan)

Những rào cản gây khó khăn khi tiếp cận các hệ thống tài chính được lượng hóa bằng các chỉ tiêu khoảng cách địa lý tới các điểm cung cấp các dịch vụ tài chính (distance), khả năng chi trả cho các dịch vụ tài chính (affordability), sự thiếu hụt các tài liệu cần thiết (documents),

và lòng tin vào hệ thống tài chính (trust)

Khía cạnh tiếp cận với dịch vụ tài chính được đánh giá từ bốn chỉ tiêu cơ bản: Tỷ lệ số máy rút tiền tự động ATM trên 100,000 người trưởng thành (ATM), Tỷ lệ số chi nhánh ngân hàng thương mại trên 100,000 người trưởng thành (branch), Tỷ lệ số máy ATM trên 1.000 km2 (ATMkm2) và Tỷ lệ số chi nhánh ngân hàng thương mại trên 1.000 km2 (branchkm2) Bước hai tạo ra chỉ số tổng hợp tài chính toàn diện (FI) bằng cách tổng hợp trung bình trọng số của các giá trị đã tính toán theo công thức số (1) nói trên

Như vậy, ở bước đầu tiên, phương pháp tham số đã được sử dụng để xác định vai trò của từng nhân tố trong chỉ số FI Cách làm này có lợi thế là không sử dụng bất kì thông tin ngoại sinh, chủ quan Sau đó, ở bước 2, chỉ số FI tổng thể được tính toán bao gồm cả thông tin về cung và cầu Phương pháp này đã được sử dụng để đo lường mức độ tài chính toàn diện cho một quốc gia hoặc một khu vực (Cámara and Tuesta, 2014)

Để đo lường mức độ tài chính toàn diện theo phương pháp này, cần có đủ dữ liệu của 11 biến nội sinh đã được xác định là nhân tố ảnh hưởng Tuy nhiên, mức độ tài chính toàn diện của một số quốc gia (chẳng hạn như các quốc gia ở ASEAN) không thể được tính toán theo phương pháp này do hệ cơ sở dữ liệu Global Findex và dữ liệu từ cuộc khảo sát tiếp cận tài chính của IMF không đầy đủ đối với 11 nhân tố cho tất cả các quốc gia trên thế giới Một hạn chế nữa của phân tích thành phần chính là chỉ số FI theo phương pháp PCA có độ nhạy cao với các lượng biến đột xuất; nghĩa là nếu trong bộ dữ liệu xuất hiện biến có giá trị quá cao hay quá thấp so với trung bình chung thì chất lượng của chỉ số không cao

b Chỉ số tài chính toàn diện theo phương pháp bình khoảng cách Euclidian

Do tài chính toàn diện có tính chất đa chiều nên phương pháp tiếp cận đa chiều sẽ phù hợp

để xây dựng chỉ số tổng hợp đo lường mức độ tài chính toàn diện Như đã trình bày ở phần khái niệm của tài chính toàn diện, tác giả dựa vào đề xuất của (Sarma 2012), từ đó về chỉ số

Trang 35

tài chính toàn diện (IFI) được đo lường bằng cách xây dựng từng chỉ số riêng lẻ cho mỗi khía cạnh của tài chính toàn diện và được gọi là chỉ số thành phần Theo đó, việc tính toán chỉ số IFI dựa trên ba khía cạnh cơ bản: khả năng thâm nhập, tính sẵn có và mức độ sử dụng dịch

vụ tài chính

Công thức tính tổng quát

Khía cạnh (1) khả năng thâm nhập, được đánh giá bằng số lượng tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính vi mô và số lượng tài khoản tiền gửi điện thoại di động đã đăng ký trên 1000 người trưởng thành Khía cạnh (2) sự sẵn có của dịch vụ tài chính được đo lường thông qua số lượng phòng giao dịch ngân hàng, số đại lý cung cấp dịch vụ tài chính di động đã đăng ký và số máy ATM trên 100,000 người trưởng thành Khía cạnh (3) sử dụng dịch vụ tài chính được đánh giá thông qua tổng khối lượng của các giao dịch tín dụng

và khối lượng tiền gửi

Các chỉ số được tính toán cho từng khía cạnh của tài chính toàn diện (di), với mỗi khía cạnh được tính toán theo công thức sau:

di = wi Ai - mi

Mi - mi (2.2) Trong đó:

Ai : giá trị thực tế của chỉ số khía cạnh thứ i

mi : giá trị tối thiểu của chỉ số khía cạnh thứ i

Mi: giá trị tối đa của chỉ số khía cạnh thứ i

wi: tỷ trọng được gán cho mỗi khía cạnh

Giá trị di tính được theo công thức này có giá trị ∈ [0; 𝑤𝑖] Giá trị d càng cao, mức độ tài chính toàn diện theo khía cạnh đó càng tốt Nếu có nhiều khía cạnh của tài chính toàn diện được xem xét, quốc gia nào đó được đại diện bởi điểm X trong không gian Cartesian đa chiều Giả sử, trong không gian n chiều (n khía cạnh của tài chính toàn diện), điểm O (0,0,0 0) là điểm xấu nhất, và điểm W (w1, w2, w3, ….wn) là điểm tốt nhất Khoảng cách giữa Di với O càng lớn, và khoảng cách giữa Di với W càng nhỏ, mức độ tài chính toàn diện càng cao Tuy nhiên, trong không gian đa chiều, có thể có hai điểm có cùng khoảng cách với W nhưng lại

có khoảng cách với O khác nhau Nếu hai quốc gia có điểm biểu diễn cùng khoảng cách với

W nhưng khoảng cách khác với O, thì quốc gia có khoảng cách từ O cao hơn nên được xem

Trang 36

xét toàn diện nhiều hơn về mặt tài chính; và ngược lại Chính vì vậy, việc phát triển chỉ số đo lường tài chính toàn diện cần chú ý đến cả hai khoảng cách này Từ đó, Sarma (2012) tính chỉ

số IFI bằng cách trung bình đơn giản Euclidian khoảng cách giữa X – O và khoảng cách Euclidian nghịch đảo giữa X–W

Như vậy, để tính IFI, trước tiên cần tính X1 (khoảng cách giữa X và O) và tính X2 (khoảng cách nghịch đảo giữa X và W); sau đó lấy trung bình đơn giản của X1 và X2 Kết quả của phép tính này chính là IFI, chỉ số tài chính toàn diện tổng quát cuối cùng cần quan sát Công thức chính xác được xây dựng như sau:

Tài chính toàn diện có rất nhiều khía cạnh hay nhiều chiều cần xem xét Tuy nhiên, như

đã trình bày trước đó, trong phạm vi nghiên cứu của mình, Sarma (2012) tập trung vào ba khía cạnh cơ bản của hệ thống tài chính, bao gồm: thâm nhập ngân hàng (banking penetration), tính sẵn có của dịch vụ ngân hàng (availability of the banking services) và mức

độ sử dụng của hệ thống ngân hàng (usage of the banking system)

Trang 37

Hình 2.1 Đồ họa giải thích ba chiều (khía cạnh) của IFI

Nguồn: Sarma (2012)

Với ba khía cạnh nói trên, một quốc gia nào đó được biểu diễn bởi điểm X(p; a; u) trong không gian Cartesian ba chiều (xem hình 2.1) Trong hình 2.1, điểm O (0,0,0) là điểm thấp nhất, điểm W(w1; w2; w3) là điểm tốt nhất Lúc này, việc tính toán IFI cho một quốc gia cụ thể nào đó cũng được thực hiện hai bước tương tự như trên: xác định khoảng cách từ X đến

W, từ X đến O, rồi tính trung bình giản đơn Công thức của IFI (công thức 2.3 nói trên) lúc này được viết lại:

Các khía cạnh của tài chính toàn diện và trọng số

Chỉ số IFI theo lập luận của Sarma (2012) không quá khó để xác định Việc quan trọng tiếp theo là làm sáng tỏ các chỉ tiêu nào có thể được lựa chọn làm chỉ tiêu đại diện cho các chiều (khía cạnh) của tài chính toàn diện Tương ứng với mỗi khía cạnh tác giả phân tích khá

rõ các vấn đề tương ứng như sau

Khía cạnh thứ nhất: thâm nhập ngân hàng (banking penetration – pi)

Một hệ thống tài chính toàn diện nên có càng nhiều người dùng càng tốt, nghĩa là một hệ thống tài chính thâm nhập rộng rãi giữa những người dùng của nó Quy mô của dân số có sử dụng dịch vụ ngân hàng (“banked” population) được xem là thước đo sự thâm nhập ngân

Trang 38

hàng của hệ thống (chẳng hạn số người có tài khoản ngân hàng) Nếu mỗi người trong nền kinh tế có tài khoản ngân hàng, thì giá trị của khía cạnh này sẽ là 1 Trong trường hợp không

có dữ liệu về dân số sử dụng dịch vụ ngân hàng, có thể sử dụng chỉ số tài khoản ngân hàng tiền gửi trên 1000 dân số trưởng thành như một chỉ số cho chiều này Với chiều này tác giả gán nó với trọng số là 1, bởi vì sự thâm nhập ngân hàng là chỉ số chính về tài chính toàn diện

Khía cạnh thứ hai: tính sẵn có (hoặc khả dụng) của các dịch vụ ngân hàng (availability

of the banking services – ai)

Các dịch vụ của hệ thống tài chính toàn diện cần có sẵn cho các khách hàng của nó Tính sẵn có của các dịch vụ có thể được biểu thị bằng số lượng phòng giao dịch ngân hàng (trên

1000 dân) và/hoặc bằng số ATM trên 1000 người hoặc số nhân viên ngân hàng trên mỗi khách hàng Trong trường hợp không có dữ liệu so sánh về số lượng ATM và số lượng nhân viên ngân hàng cho một số lượng lớn các quốc gia, sử dụng số lượng chi nhánh ngân hàng trên

1000 dân để đo lường khía cạnh sẵn có này

Tác giả đã sử dụng hai chỉ số để đo lường khía cạnh này, đó là số lượng chi nhánh ngân hàng và số lượng ATM trên 100,000 người lớn Hai chỉ số này được tính riêng biệt và sau đó, trung bình có trọng số của hai chỉ số này Việc xác định trọng số của hai chỉ số này khá đơn giản Trong quan sát thực nghiệm của nghiên cứu, chỉ cần có được tỷ lệ trung bình của ATM trên chi nhánh ngân hàng, từ đó sẽ tính được trọng số Chẳng hạn, tỷ lệ trung bình của số ATM trên chi nhánh là 2,13; điều này có nghĩa là cứ một chi nhánh sẽ có hai ATM, từ đó trọng số của chi nhánh (a1) là 2/3, còn trọng số của ATM (a2) là 1/3

Khía cạnh thứ ba: sử dụng các dịch vụ ngân hàng (Usage – ui)

Khía cạnh này được Kempson, Atkinsonand Pilley (2004) thúc đẩy với ý tưởng về những khách hàng “under-banked” và “marginally banked” – những người có tài khoản ngân hàng nhưng lại sử dụng rất ít các dịch vụ ngân hàng đã được cung cấp (dĩ nhiên quốc gia của những người này, có mức độ ngân hàng hóa cao) Do vậy, nếu chỉ xét về tài khoản ngân hàng thì chưa đủ đối với hệ thống tài chính toàn diện; cần xét đến trường hợp các dịch vụ ngân hàng phải được sử dụng đầy đủ hay không, đặc biệt là hai dịch vụ cơ bản nhất: gửi tiền và tín dụng Theo đó, có thể sử dụng khối lượng tín dụng và tiền gửi từ khu vực tư nhân so với GDP của quốc gia

Xét về trọng số gán cho một khía cạnh, hoàn toàn có thể nhận thấy rằng đây là việc không

dễ Mặc dù cả ba yếu tố được xem xét ở đây đều quan trọng như nhau đối với hệ thống tài

Trang 39

chính toàn diện, tuy nhiên việc thiếu dữ liệu về các chỉ số quan trọng đặc trưng hoàn toàn cho khía cạnh sẵn có và sử dụng khiến Sarma (2012) giảm trọng số tương đối cho các khía cạnh này trong chỉ số IFI Đối với khía cạnh sẵn có, nhiều quốc gia đã chuyển sang ngân hàng internet, do đó làm giảm tầm quan trọng của các chi nhánh ngân hàng Hay một số quốc gia cũng cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua điện thoại Do đó, chỉ sử dụng dữ liệu trên các cửa hàng thực tế (như chi nhánh ngân hàng và ATM) có thể không đầy đủ Tương tự, dữ liệu

về tín dụng và tiền gửi chỉ có thể mô tả một phần việc sử dụng hệ thống tài chính, bởi các dịch vụ khác của hệ thống ngân hàng, như thanh toán, chuyển khoản và chuyển tiền không được xét đến Do đó trọng số gán cho khía cạnh thâm nhập là 1, khía cạnh sẵn có là 0,5 và khía cạnh sử dụng là 0,5 Lúc này công thức tính IFI (công thức 2.3) được xác định lại:

Kết quả tính IFI luôn dao động trong đoạn [0,1] Sarma (2012) cũng đã có gợi ý phân loại các mức độ tài chính toàn diện theo chỉ số này (bảng 2.1), bao gồm ba mức: thấp, trung bình

và cao

Bảng 2.1 Các mức độ tài chính toàn diện

0.3 < IFI ≤ 0.6 Trung bình

(Nguồn: Sarma, 2012)

Trong các cách đo lường tài chính toàn diện được trình bày ở trên, tác giả nhận thấy việc

sử dụng chỉ số tài chính toàn diện theo gợi ý của Sarma (2012) là phù hợp, vừa có thể xem xét từng khía cạnh, đồng thời có thể đánh giá một cách tổng thể của một quốc gia và có thể đối sánh giữa các quốc gia với nhau, qua các năm Chính vì ưu điểm này, tác giả sử dụng chỉ

số tài chính toàn diện tổng hợp IFI cùng các chỉ số đo lường cho các khía cạnh của tài chính toàn diện nói trên với các số liệu được lấy từ IMF FAS (2020), cách tính sẽ được trình bày rõ hơn ở chương tiếp theo

Trang 40

2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

Sự ổn định luôn là đề tài tranh luận quan trọng của các nhà hoạch định chính sách; nhất là

từ sau những bất ổn liên quan đến cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ (Beck, 2008) Sự

ổn định của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự ổn định của hệ thống tài chính (Segoviano and Goodhart, 2009) Do vậy trước khi tìm hiểu về ổn định hệ thống ngân hàng, cần hiểu rõ

ổn định hệ thống tài chính cũng như tầm quan trọng của sự ổn định này

2.2.1 Khái niệm về ổn định hệ thống tài chính

Sự ổn định luôn là đề tài tranh luận quan trọng của các nhà hoạch định chính sách; nhất là

từ sau những bất ổn liên quan đến cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ (Beck, 2008) Thuật ngữ “sự ổn định (hệ thống) tài chính” được đề cập thường xuyên và được nhiều tổ chức quốc tế, quốc gia và nhà nghiên cứu chia sẻ có các góc nhìn khá khác nhau Khái niệm này được tiếp cận từ hai hướng: định nghĩa trực tiếp về ổn định hệ thống tài chính và gián tiếp thông qua định nghĩa về bất ổn (Alawode and Sadek, 2008) Những định nghĩa này có thể thay đổi theo thời gian phù hợp với sự thay đổi trong các thành phần cấu thành nên tài chính (Schinasi, 2004)

Theo World Bank (2020), ổn định tài chính hay một hệ thống tài chính ổn định là một hệ thống “có khả năng phân bổ hiệu quả các nguồn lực, đánh giá và quản lý rủi ro tài chính, duy trì mức độ việc làm gần với tỷ lệ tự nhiên của nền kinh tế và loại bỏ được các biến động về giá của các tài sản thực hoặc tài sản tài chính có thể ảnh hưởng đến sự ổn định tiền tệ và mức

độ việc làm” Một hệ thống tài chính được xem là ổn định nếu hệ thống có thể không bị mất cân đối tài chính khi xảy ra bất cứ vấn đề hay có bất cứ một sự kiện nào diễn ra một cách bất ngờ và không lường trước được, hay nói cách khác hệ thống sẽ tự hấp thụ các cú sốc ngăn chặn các sự kiện bất lợi có ảnh hưởng đột phá đến nền kinh tế thực hoặc các hệ thống tài chính khác

Schinasi (2004) cho rằng “một hệ thống tài chính ở trong một phạm vi ổn định thì bất cứ lúc nào nó cũng có khả năng tạo điều kiện (chứ không phải cản trở) thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế và có khả năng làm mất đi sự bất cân bằng tài chính phát sinh nội sinh hoặc là hệ quả của các sự kiện bất lợi và không lường trước được” Giải thích cho quan điểm này, tác giả lý giải, hệ thống tài chính này góp phần cho việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực thực tế, tốc độ tăng sản lượng, thúc đẩy các quá trình tiết kiệm, đầu tư và tạo ra của cải; đồng thời tạo

ra chuyển động liên tục theo hướng ổn định, tránh xa sự bất ổn, ví dụ như giá tài sản và dòng

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình nghiên cứu lý thuyết - Luận án tiến sĩ tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Hình nghi ên cứu lý thuyết (Trang 74)
Hình tác giả - Luận án tiến sĩ tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Hình t ác giả (Trang 83)
Hình tác giả - Luận án tiến sĩ tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Hình t ác giả (Trang 84)
Đồ thị histogram của biến sdGrDep trên cho thấy biến này không có phân phối chuẩn.  Chính vì vậy cần chuyển biến này sang các dạng khác - Luận án tiến sĩ tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng
th ị histogram của biến sdGrDep trên cho thấy biến này không có phân phối chuẩn. Chính vì vậy cần chuyển biến này sang các dạng khác (Trang 159)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w