55 2.3.2 Tác động bất định chính sách kinh tế của quốc gia này đến ổn định hệ thống ngân hàng của quốc gia khác...56 2.4 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH BẤT ĐỊNH CHÍNH S
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH CHÂU
Trang 2NGUYỄN THỊ MINH CHÂU
TS ĐÀO LÊ KIỀU OANH
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận án này chưa từng được trình nộp để lấy học vị tiến sĩ tại bất cứ mộttrường đại học nào Đề tài này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quảnghiên cứu là trung thực Đề tài có một số nội dung được sử dụng trong các bài thamluận hội thảo quốc tế, cụ thể:
(1) Phần nội dung của tổng quan nghiên cứu được sử dụng trong bài tham luận
“Regional and Global uncertainty factors affect banking stability: Experimental study
in Vietnam” tại hội thảo quốc tế International Conference on Blockchain andAdvanced Financial Management 2021
(2) Một phần nội dung trong tham luận “The determinants of bank stability in Asia:The effect of global economic policy uncertainty” tại Hội thảo quốc tế “InternationalConference on Business and Finance” 2022
(3) Một phần luận giải được sử dụng trong bài báo “The impact of global economicpolicy uncertainty on bank stability”được chấp nhận đăng trên tạp chíPolish Journal
of Management Studies, tập 27, năm 2023
Ngoài ra, các nội dung khác trong đề tài chưa từng được công bố trước đây.Các nội dung do người khác thực hiện đều được trích dẫn nguồn đầy đủ trong luậnán
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1.1 Tính cấp thiết về mặt thực tiễn 1
1.1.2 Tính cấp thiết về mặt khoa học 4
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 6
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 7
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 7
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 8
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: 8
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
1.5.1 Quy trình nghiên cứu 10
15.2 Dữ liệu nghiên cứu 12
1.5.3 Phương pháp nghiên cứu 12
1.6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 14
1.6.1 Đóng góp mới về mặt khoa học 14
1.6.2 Đóng góp mới về mặt thực tiễn 15
1.7 BỐ CỤC CỦA NGHIÊN CỨU 16
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 19
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ 19
2.1.1 Khái niệm tính bất định của chính sách kinh tế 19
2.1.2 Lý thuyết về tính bất định của chính sách kinh tế 23
2.1.3 Đo lường tính bất định chính sách kinh tế 32
Trang 52.1.4 Tác động của tính bất định chính sách kinh tế 37
2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 40
2.2.1 Khái niệm ổn định hệ thống ngân hàng 40
2.2.2 Lý thuyết về ổn định hệ thống ngân hàng 44
2.2.3 Đo lường ổn định hệ thống ngân hàng 47
2.2.4 Vai trò của ổn định hệ thống ngân hàng 50
2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến ổn định hệ thống ngân hàng 51
2.3 TÁC ĐỘNG CỦA TÍNH BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐẾN ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 55
2.3.1 Tác động bất định chính sách kinh tế trong nước đến ổn định hệ thống ngân hàng của một quốc gia 55
2.3.2 Tác động bất định chính sách kinh tế của quốc gia này đến ổn định hệ thống ngân hàng của quốc gia khác 56
2.4 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐẾN ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 59
2.4.1 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ổn định hệ thống ngân hàng 59
2.4.2 Các nghiên cứu về tính bất định của chính sách kinh tế đến ổn định của hệ thống ngân hàng 63
2.4.3 Khoảng trống nghiên cứu 69
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 72
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 73
3.1 KHUNG PHÂN TÍCH 73
3.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 74
3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu thứ nhất 74
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu thứ hai 75
3.2.3 Giả thuyết nghiên cứu thứ ba 76
3.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 76
3.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 76
3.3.2 Giải thích biến và giả thuyết nghiên cứu 78
Trang 63.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 90
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 90
3.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 90
3.4.2 Phương pháp hồi quy tĩnh dành cho dữ liệu bảng 90
3.4.3 Phương pháp hồi quy động dành cho dữ liệu bảng 91
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 94
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 95
4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 95
4.1.1 Thực trạng tính bất định chính sách kinh tế toàn cầu và ổn định hệ thống ngân hàng 95
4.1.2 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 98
4.2 KIỂM ĐỊNH LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 103
4.2.1 Kiểm định lựa chọn phương pháp nghiên cứu với biến Z_score 103
4.2.2 Kiểm định lựa chọn phương pháp nghiên cứu với biến NPL 105
4.3 KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH GỐC 107
4.4 KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH VỚI BIẾN TƯƠNG TÁC 113
4.4.1 Kết quả hồi quy mô hình với biến tương tác đặc điểm ngành (mô hình 2) 113
4.4.2 Kết quả hồi quy mô hình với biến tương tác đặc điểm nền kinh tế vĩ mô (mô hình 3) 121
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 135
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 137
5.1 KẾT LUẬN 137
5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 143
5.2.1 Đề xuất cho Chính phủ 143
5.2.2 Đề xuất cho Ngân hàng trung ương 145
5.2.3 Đề xuất cho các nhà quản trị ngân hàng 148
5.3 HẠN CHẾ VÀ GỢI Ý HƯỚNG NGHIÊN CỨU 151
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
Phụ lục xix
Trang 7CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Chương 1 được thực hiện nhằm trình bày tổng quát về đề tài Trong đó,chương 1 tập trung làm rõ sự cần thiết của nghiên cứu dưới góc độ thực tiễn vàkhoa học, làm cơ sở trình bày mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Đối tượng, phạm vinghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa đề tài cũng được trình bày trongchương 1, giúp người đọc nắm được những vấn đề cơ bản của luận án Đồng thời,chương 1 cũng giới thiệu bố cục của luận án giúp người đọc hình dung tổng quátcác nội dung chính trong các chương của đề tài
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tính cấp thiết về mặt thực tiễn
Ngân hàng (NH) là trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong hệthống tài chính, đẩy mạnh quá trình lưu thông vốn trong nền kinh tế, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Rose & Hudgins,2008) Các NH được ví như là “xương sống” của nền kinh tế vì thông qua cung cấp
đa dạng dịch vụ, NH thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ chủ thể thừa để chuyển giaoquyền sử dụng vốn cho các chủ thể thiếu vốn, đảm bảo nguồn vốn được khai tháchiệu quả Khi HTNH hoạt động ổn định, thực hiện tốt chức năng huy động và phânphối vốn, không xảy ra hiện tượng khủng hoảng hoặc sụp đổ hàng loạt, sẽ góp phầnthúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mặc dù vậy, vì tài sản của các NH phần lớn là các tàisản tài chính như giấy tờ có giá, các khoản tín dụng nên các NH phải đối mặt với rấtnhiều rủi ro, có thể dẫn đến thua lỗ, thậm chí phá sản (Hull, 2012) Hiện tượng đổ
vỡ một NH có thể kéo theo sự bất ổn của cả HTNH do hiện tượng lây lan, dẫn đếnmất thanh khoản cả hệ thống Bất ổn HTNH xảy ra khi có dấu hiệu kiệt quệ tàichính trong hệ thống ngân hàng hoặc/và các cơ quan quản lý phải can thiệp chínhsách để đối phó với những thiệt hại đáng kể trong HTNH Tình trạng bất ổn HTNHtác động tiêu cực đến các chủ thể có liên quan cũng như sự phát triển kinh tế QG,
do đó, các QG luôn chú trọng đảm bảo ổn định HTNH
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã phải đối mặt với hàng loạt các cuộckhủng hoảng ngân hàng cho thấy sự thiếu ổn định của các HTNH trên thế giới.Nghiên cứu của Laeve & Valencia (2018) cho thấy trong giai đoạn 1970 - 2017 hầu
Trang 8hết các QG trên thế giới trải qua ít nhất một cuộc khủng hoảng HTNH, trong đó cónhiều QG trải qua nhiều đợt, được thể hiện qua cấp độ màu trong hình 1.1 Điều nàycũng lý giải cho sự quan trọng của việc nghiên cứu về ổn định HTNH của các QGtrên thế giới.
Hình 1.1: Tần suất các cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới
Nguồn: Laeve & Valencia (2018)Trong đó, khủng hoảng tài chính - ngân hàng ở Mỹ năm 2008 đã lan rộngsang nhiều QG trên thế giới dẫn đến tình trạng bất ổn của hàng loạt HTNH ở các
QG khác, châm ngòi cho suy thoái toàn cầu giai đoạn 2008 - 2010 Những nguyênnhân dẫn đến tình trạng trên là do đến từ bất định điều hành chính sách vĩ mô của
Mỹ và quá trình TCH, hội nhập kinh tế giữa các quốc gia ( Carmassi và cộng sự,2009) Cụ thể, bắt nguồn từ việc nới lỏng CSTT, duy trì chính sách lãi suất thấp;chính sách "cho vay mua nhà dưới chuẩn" kéo theo sự sụp đổ của thị trường bấtđộng sản; sự nới lỏng quá mức các khoản tín dụng thế chấp dẫn đến các khoản nợdưới chuẩn và rủi ro tín dụng (Bosworth & Flaaen, 2009) Cùng với quá trình TCH
và tự do kinh tế, bất ổn HTNH của Mỹ thông qua quá trình tự do kinh tế và TCH,dẫn đến bất ổn HTNH ở các QG khác Dựa trên sự phát triển của thị trường tài
Trang 9chính toàn cầu, các NH còn chứng khoán hóa các khoản vay để mua bán trên thịtrường tài chính quốc tế Do đó, khi bong bóng bất động sản của Mỹ gặp vấn đề, bất
ổn HTNH không chỉ tại Mỹ mà còn xảy ra ở nhiều QG khác trên thế giới (Crotty,2009) Theo Laeve & Valencia (2018), có đến 25 HTNH chịu ảnh hưởng ngay lậptức khi khủng hoảng tài chính nổ ra ở Mỹ trong năm 2008 với minh họa cụ thể ởhình 1.2
Hình 1.2: Những QG gặp ảnh hưởng ngay lập tức từ khủng hoảng kinh tế Mỹ năm 2008
Nguồn: Laeve & Valencia (2018)Thực tế từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 cho thấy mặt trái của quátrình TCH đến quá trình điều hành CSKT của các nước Cụ thể, TCH đã làm giảm
sự độc lập của các QG trong việc ban hành CSKT do ảnh hưởng của chính sách vĩ
mô của QG khác, đặc biệt là nhóm QG phát triển Tính bất định trong quá trình điềuhành CSKT từ QG này ảnh hưởng đến quá trình điều hành CSKT của QG khác, từ
đó tác động đến hoạt động của các chủ thể, trong đó có NH của QG khác Điều nàyđặt ra câu hỏi về tác động của môi trường toàn cầu, trong đó bao gồm việc điềuhành chính sách vĩ mô của các nước trên thế giới đến ổn định HTNH của mỗi QG
Trang 10Vấn đề nghiên cứu về GEPU đến ổn định HTNH càng trở nên quan trọnghơn với sự xuất hiện của dịch bệnh COVID - 19 (Sharif và cộng sự, 2020; Liu,2021) Tình hình đại dịch đã buộc các QG phải thường xuyên đưa ra các quyết địnhđiều hành chính sách vĩ mô phù hợp với diễn biến của dịch bệnh tại QG đó Lệnhgiãn cách, hạn chế các hoạt động xã hội gây ảnh hưởng đáng kể đến các chủ thểtrong nền kinh tế Điều này buộc chính phủ của các QG phải cân nhắc điều chỉnhcác mục tiêu trong điều hành chính sách tài khóa, CSTT nhằm hỗ trợ các chủ thểcũng như đảm bảo hạn chế thiệt hại Từ các gói cứu trợ, xem xét miễn giảm hoãnthuế, hay nới lỏng CSTT thông qua kéo giảm lãi suất được áp dụng rộng rãi ở nhiều
QG Mục tiêu điều hành chính sách vĩ mô được thay đổi thường xuyên và liên tụctrong những năm đại dịch xảy ra (Sharif, Aloui & Yarovaya, 2020; Liu, 2021).Hàng loạt các bài báo trên các trang tin tức uy tín như Wall Street Journal, BBC,CNN… đưa tin về việc NHTW các QG đang phát triển có động thái phản ứng vớicác quyết sách của FED hay ECB là minh chứng rõ ràng cho sự phụ thuộc của các
QG đang phát triển với các nước phát triển
Do đó, nghiên cứu tác động của GEPU đến ổn định HTNH là cần thiết trongbối cảnh các QG đang đẩy mạnh TCH cũng như thường xuyên gặp những bất ổnHTNH khi gặp các cú sốc kinh tế vĩ mô Kết quả của nghiên cứu nhằm cung cấpthông tin khoa học về tác động của GEPU đến ổn định HTNH của các QG trên thếgiới trong bối cảnh TCH, góp phần đề xuất hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý,lãnh đạo ngân hàng nhằm ổn định NH nói riêng và HTNH nói chung
1.1.2 Tính cấp thiết về mặt khoa học
Nghiên cứu về ổn định HTNH là chủ đề mang ý nghĩa khoa học và thực tiễnđược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ổn địnhcủa HTNH QG phụ thuộc vào yếu tố bên trong và bên ngoài HTNH như nghiên cứucủa Morgan (2002), Anginer và cộng sự (2018), Delis (2012), Beck và cộng sự(2013), Schaeck & Cihák (2014) v.v Nghiên cứu của Morgan, (2002), Valencia(2016), Anginer và cộng sự (2018), Albaity và cộng sự (2019), Beck và cộng sự(2013), Fang và cộng sự (2014), Bermpei và cộng sự (2018) cho thấy ổn địnhHTNH chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố phản ánh yếu tố đặc trưng ngành và các yếu
Trang 11tố vĩ mô QG Đặc biệt, trong những 10 năm trở lại đây, một yếu tố bên ngoài được
bổ sung, cho thấy có ảnh hưởng đến ổn định HTNH ở một số QG đó là bất địnhCSKT Các nghiên cứu thực nghiệm của Phan và cộng sự (2020), Shabir và cộng sự(2021), Nguyen (2021), và Caglayan & Xu (2018) đều cho thấy EPU có ảnh hưởngđến ổn định HTNH của từng QG Các nghiên cứu của Phan và cộng sự (2020),Shabir và cộng sự (2021), Nguyen (2021), và Caglayan & Xu (2018) cho thấy EPUtăng lên làm giảm mức độ ổn định của HTNH Mặc dù vậy, mức độ tác động củaEPU đến ổn định HTNH mỗi QG không giống nhau mà có sự khác biệt tùy thuộcvào đặc điểm ngân hàng, cấu trúc ngành và công tác quản lý hoạt động hệ thốngngân hàng (Shabir và cộng sự, 2021; Nguyen, 2021) Đồng thời, thông qua TCHkinh tế, EPU của một QG không chỉ ảnh hưởng đến HTNH của QG đó mà còn lantruyền sang các QG khác Điều này làm cho một số nhà nghiên cứu đặt nền móngđánh giá tác động của GEPU đến ổn định HTNH của một QG như Ashraf (2020),Botshekan et al (2021), Athari (2021), Athari, & Bahreini (2021), Ozili (2022) Kếtquả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy GEPU tác động tiêu cực đến hoạt động tíndụng, khả năng tạo ra lợi nhuận cũng như gia tăng rủi ro cho HTNH ở các QG khácnhau, dẫn đến gia tăng tình trạng bất ổn định của HTNH các nước trong phạm vinghiên cứu Tuy nhiên, dựa trên khảo lược của tác giả, chưa có nghiên cứu đánh giáảnh hưởng của GEPU đến ổn định hệ thống ngân hàng tại các QG trên thế giới Vớithực tiễn diễn ra, kết hợp với những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của EPUnói chung và GEPU nói riêng đến hoạt động HTNH, việc trả lời câu hỏi liệu GEPU
có tác động đến ổn định HTNH ở các QG trên thế giới có ý nghĩa về mặt khoa học.Đồng thời, nghiên cứu cũng được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng đồng thờigiữa yếu tố vĩ mô, yếu tố đặc trưng ngành ngân hàng và GEPU đến ổn định HTNH,
từ đó, hiểu rõ hơn vai trò của hai yếu tố này đến ổn định HTNH của mỗi QG trongbối cảnh GEPU
Bên cạnh đó, quá trình TCH kinh tế làm giảm sự độc lập trong việc ban hànhCSKT của chính phủ (Lodhi, 2021; Acocella, N (2005); Mosley, 2005; Patnaik,1994) Nói cách khác, TCH kinh tế làm cho việc điều hành chính sách vĩ mô củacác QG có tác động qua lại lẫn nhau Nghiên cứu của Lodhi (2021) cho thấy TCH
Trang 12ảnh hưởng đến tất cả các QG nhưng kết quả tác động của TCH kinh tế đến mỗi QG
là khác nhau tùy thuộc vào vị trí của họ trong cơ cấu quyền lực quốc tế và chi phíđiều chỉnh trong nước Prasad và cộng sự (2003) cho thấy bên cạnh những lợi ích,TCH tài chính được cho là tác nhân dẫn tới khủng hoảng tài chính gây ra nhữngthiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và xã hội ở những nước đang phát triển Lane(2013) cho thấy TCH tài chính là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng Tốc độ pháttriển nhanh chóng của tài chính xuyên biên giới đã góp phần vào sự tăng trưởng quámức trên các thị trường tín dụng vốn, đồn thời, thúc đẩy sự bất cân xứng trong tăngtrưởng tín dụng và vị thế đối ngoại giữa các QG dẫn đến sự lan truyền khủng hoảngtài chính Tùy thuộc vào bảng cân đối kế toán quốc tế của mỗi QG, khi khủng hoảngxảy ra, TCH tài chính tạo ra một vùng đệm chống lại khủng hoảng cho một số QG,trong khi nó lại khuếch đại khủng hoảng cho những QG khác Quá trình TCH kinh
tế đang ảnh hưởng không nhỏ đến ổn định HTNH ở các QG, được chứng minh quacác nghiên cứu của Hsieh và cộng sự (2013), Ghosh (2016), Sufian và cộng sự(2017), Sufian & Kamarudin (2016) Hsieh và cộng sự (2013) nhận thấy mức độTCH cao hơn làm giảm sự ổn định của ngân hàng thông qua đa dạng thu nhập.Nghiên cứu của Ghosh (2016) lại cho thấy TCH trong lĩnh vực ngân hàng càng caocàng giảm sự xuất hiện của khủng hoảng Những kết quả nghiên cứu thực nghiệmtrên cho thấy TCH có tác động đến ổn định HTNH Điều này đặt ra câu hỏi tác độngđồng thời của GEPU và TCH đến ổn định HTNH của các QG như thế nào
Như vậy, đề tài “Tính bất định CSKT và ổn định hệ thống ngân hàng” đượcthực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của GEPU đến ổn định của hệ thống ngân hàngcủa các nước trên thế giới Không chỉ vậy, nghiên cứu còn đi tìm câu trả lời choviệc các yếu tố vĩ mô và yếu tố đặc trưng ngành NH mỗi QG ảnh hưởng như thếnào đến mức độ tác động của GEPU lên ổn định HTNH các QG trên thế giới
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá ảnh hưởng của GEPU đến ổn địnhHTNH ngân hàng tại các QG trên thế giới Đồng thời, luận án cũng xác định tácđộng tương tác của GEPU và các yếu tố vĩ mô, yếu tố đặc trưng ngành NH đến ổn
Trang 13định HTNH của các QG trên thế giới Dựa trên kết quả, đề tài đề xuất hàm ý chínhsách cho Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách nhằm đảm bảo ổn định HTNH.
Mục tiêu thứ hai của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của biến tương tácgiữa GEPU và yếu tố vĩ mô đến ổn định HTNH của các QG trên thế giới
Mục tiêu thứ ba của đề tài là xác định ảnh hưởng của biến tương tác giữaGEPU và yếu tố đặc trưng ngành NH đến ổn định HTNH của các QG trên thế giới
Mục tiêu thứ tư của nghiên cứu là dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ramột số đề xuất hàm ý chính sách cho Chính phủ, các nhà hoạch định chính sáchnhằm đảm bảo ổn định HTNH trong môi trường GEPU
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài phải trả lời được các câu hỏi như sau:Câu 1: Chiều hướng ảnh hưởng của GEPU đến ổn định HTNH các nước nhưthế nào? Mức độ ảnh hưởng của GEPU đến ổn định HTNH các QG trên thế giớinhư thế nào?
Câu 2: Ảnh hưởng của biến tương tác giữa GEPU và yếu tố vĩ mô đến ổnđịnh HTNH của các nước như thế nào?
Câu 3: Ảnh hưởng của biến tương tác giữa GEPU và yếu tố đặc trưng ngành
NH đến ổn định HTNH các QG trên thế giới như thế nào?
Câu 4: Những đề xuất nào là phù hợp cho chính phủ, cơ quan hoạch địnhchính sách ở các QG nhằm gia tăng ổn định HTNH trong bối cảnh bất định CSKTtoàn cầu trong thời gian tới?
Trang 141.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung xác định ảnh hưởng của GEPU đến ổn định HTNH các QG bêncạnh các nhân tố kiểm soát khác; so sánh chiều hướng và mức độ tác động củaGEPU lên ổn định HTNH dựa trên hệ số hồi quy biến tương tác giữa GEPU vớibiến phản ánh yếu tố vĩ mô và yếu tố đặc trưng ngành NH
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:
1.4.2.1 Phạm vi nghiên cứu về nội dung
Khái niệm bất định CSKT là một khái niệm được sử dụng trong nhiều nghiêncứu và có nhiều cách thức, chỉ số đo lường bất định CSKT khác nhau Trong phạm
vi nghiên cứu, về mặt nội dung, luận án tập trung đánh giá ảnh hưởng của bất địnhCSKT thông qua chỉ số CSKT toàn cầu (GLOBal Economic PolicyUncertainty_GEPU) đến ổn định HTNH Đánh giá ảnh hưởng của GEPU đang ngàycàng trở nên phổ biến trong các nghiên cứu mang tính học thuật bởi quá trình điềuhành CSKT của một QG không chỉ ảnh hưởng đến các chủ thể trong QG đó mà cònảnh hưởng đến các QG khác Thông qua tập trung đánh giá ảnh hưởng của chỉ sốGEPU đến ổn định HTNH, nghiên cứu là minh chứng thực nghiệm về ảnh hưởngcủa quá trình điều hành CSKT của các nước trên thế giới được phản ánh qua GEPUđến ổn định HTNH
Chủ đề nghiên cứu về ổn định HTNH, dựa trên quá trình khảo lược, cho thấy
có hai hướng tiếp cận dữ liệu là hướng dữ liệu cấp ngân hàng (bank-level) và dữliệu cấp QG (country-level) Với đánh giá dựa trên quan điểm ổn định hệ thốngngân hàng của các QG, luận án tập trung sử dụng dữ liệu cấp QG Việc lựa chọnnghiên cứu ổn định HTNH dựa trên dữ liệu QG bởi chỉ số Z-score hệ thống NH cótính đến rủi ro hệ thống, trong khi đó, chỉ số Zscore ở cấp độ từng ngân hàng khôngtính toán đến rủi ro hệ thống (Ijtsma và cộng sự, 2017) Theo Boudriga, Taktak vàJellouli (2009), Makri và cộng sự (2014), dữ liệu tổng hợp cho toàn bộ hệ thốngngân hàng của mỗi QG (ngược lại với việc kiểm tra dữ liệu riêng lẻ cho từng ngânhàng) được coi là tốt hơn vì rủi ro không mang tính đại diện của mẫu được giảmbớt.Nói cách khác, chỉ số Zscore của HTNH có tính toán đến sự ổn định tài chính
Trang 15của cả hệ thống dưới góc nhìn tổng hợp cần thiết của cơ quan quản lý như NHTW,Chính phủ để điều hành tổng thể hệ thống cũng như các chủ thể toàn cầu lớn như
WB, IMF trong đảm bảo an toàn chung cho khu vực tài chính ngân hàng
1.4.2.2 Phạm vi nghiên cứu về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của GEPU đến ổn định HTNH cho các
QG trên thế giới Danh sách các nước có dữ liệu về ổn định HTNH từ WB Việc lựachọn nghiên cứu cho các QG trên toàn thế giới nhằm đảm bảo:
(1) Mẫu dữ liệu đủ lớn nhằm đảm bảo tính tin cậy, khách quan trongnghiên cứu thực nghiệm về tác động của GEPU đến ổn định HTNH
(2) Mẫu dữ liệu lớn nhằm đảm bảo tính đa dạng của mẫu nghiên cứu.Trong mẫu nghiên cứu, có nhiều tiêu chí để phân loại QG Căn cứ vào mức độ pháttriển, mẫu nghiên cứu bao gồm QG phát triển, QG đang phát triển Căn cứ vào mức
độ TCH, các QG bao gồm QG có mức độ TCH cao và QG có mức độ TCH thấp.Căn cứ vào địa lý, các quôc gia trong mẫu nghiên cứu đến từ 5 châu lục Trong đó,nhiều nhất là nhóm nước châu Á và châu Âu Trong đó, châu Á là khu vực có tốc độtăng trưởng kinh tế cao nhất trong các châu lục mà chủ yếu là nhờ mở cửa hội nhậpsâu rộng, đẩy mạnh TCH kinh tế của các QG đang phát triển (Stubbs, 2017) TheoWest (2018), sự tăng trưởng kinh tế của khu vực gây choáng váng thế giới nhờ sựphát triển thần tốc của các QG đang phát triển, đặc biệt là Ấn Độ, Hàn Quốc, TrungQuốc, Nhật Bản và Việt Nam Châu Âu là khu vực tập trung nhiều QG phát triển,nằm trong nhóm G20 và có ảnh hưởng quan trọng đến kinh tế thế giới
(3) Phần lớn các QG chưa có chỉ số EPU và việc xây dựng chỉ số EPUcho các QG này cũng gặp khó khăn do vấn đề về thu thập và xử lý dữ liệu dạng vănbản (text)
(4) Khảo lược nghiên cứu cho thấy chưa có nghiên cứu nào thực hiệnnghiên cứu về sự tác động của GEPU đến ổn định HTNH tại các QG trên thế giới.Chủ đề về ổn định HTNH của các QG đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vàtriển khai Tuy nhiên, trong khảo lược của tác giả, đánh giá ảnh hưởng của GEPU,GEPU và TCH đến ổn định HTNH các QG chưa được thực hiện mặc dù đánh giá
Trang 16tác động của GEPU đến hoạt động NH ở các nước đã được quan tâm như nghiêncứu củaBotshekan và cộng sự (2021),Juhro & Phan (2018).
Tóm lại, phạm vi không gian nghiên cứu của luận án là ở các QG trên thếgiới - mở rộng mẫu nghiên cứu so với các nghiên cứu trước đây nhằm bổ sung minhchứng thực nghiệm đánh giá ảnh hưởng của GEPU đến ổn định HTNH các nước.Bên cạnh đó, điểm mới quan trọng của luận án chính là đánh giá tác động đồng thờicủa GEPU với yếu tố TCH của các QG đến ổn định HTNH tại các QG Thông quaviệc đánh giá tác động đồng thời của GEPU và các biến kiểm soát trong mô hình,đặc biệt là biến phản ánh TCH, để nghiên cứu thấy được TCH đang mang lại tácđộng tiêu cực hay tích cực đến ổn định HTNH khi tương tác với môi trường bấtđịnh CSKT toàn cầu Kết quả nghiên cứu là bằng chứng thực nghiệm, có ý nghĩacho chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản trị ngân hàng và cácđơn vị hỗ trợ khu vực tài chính - ngân hàng toàn cầu
1.4.2.3 Phạm vi nghiên cứu về thời gian
Đề tài nghiên cứu sự ổn định HTNH trong giai đoạn 2008 đến 2020 Mốc thờigian 2008 được lựa chọn vì năm 2008 đánh dấu mốc đầu tiên của cuộc khủng hoảngkinh tế toàn cầu năm 2008 Đây cũng là năm mà dữ liệu nghiên cứu thu thập từ 36
QG trong mẫu nghiên cứu đảm bảo tính đầy đủ của dữ liệu Các dữ liệu khác ở cấp
độ hệ thống theo số liệu thu thập từ WB vào ngày 30/01/2023 dành cho các QG ởchỉ đến năm 2021 Tuy nhiên, sau thu thập dữ liệu năm 2021, chỉ có 20 QG có chỉ
số Z và các chỉ số nghiên cứu khác Đồng thời, các chỉ tiêu phản ánh TCH của các
QG được cập nhật đến tháng 30/03/2023 là số liệu của năm 2020 Vì vậy, nghiêncứu sử dụng dữ liệu thu thập được đầy đủ nhất có thể trong giai đoạn 2008 - 2020nhằm đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu, hạn chế tính bất cân bằng củabảng dữ liệu và đảm bảo tính cập nhật của dữ liệu
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Xác định chủ đề nghiên cứu
Bước 1 mục tiêu xác định vấn đề nghiên cứu dựa trên tính cấp thiết về mặtkhoa học và mặt thực tiễn của chủ đề nghiên cứu
Trang 17Bước 2: Khảo lược nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu
Sau khi xác định chủ đề nghiên cứu là ổn định HTNH, mối quan hệ giữaGEPU đến hoạt động HTNH và ổn định HTNH, đề tài thực hiện tổng hợp các lýthuyết liên quan thông qua quá trình đọc các tài liệu, các nghiên cứu về ổn địnhHTNH Các nghiên cứu trước về ổn định HTNH, về mối quan hệ giữa EPU, GEPUđến ổn định HTNH cũng được khảo lược nhằm: (1) xác định khoảng trống nghiêncứu; (2) nhằm làm cơ sở xây dựng giả thuyết, lựa chọn mô hình và các biến trong
mô hình nghiên cứu
Bước 3: Mô hình, phương pháp, dữ liệu nghiên cứu
Thông qua quá trình tổng hợp, hệ thống hóa các lý thuyết và các nghiên cứutrước có liên quan, đề tài xây dựng giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu vớibiến phụ thuộc và biến độc lập nhằm đánh giá ảnh hưởng của GEPU, ảnh hưởngđồng thời của GEPU và các yếu tố vĩ mô, yếu tố đặc trưng ngành NH đến ổn địnhHTNH Đồng thời, đề tài cũng xác định rõ phương pháp nghiên cứu và dữ liệunghiên cứu phù hợp với chủ đề nghiên cứu
Bước 4: Thu thập dữ liệu
Dựa trên việc xây dựng mô hình, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, đề tàithực hiện thu thập dữ liệu từ các nguồn dữ liệu đáng tin cậy mà các nghiên cứutrước đã sử dụng
Bước 5: Hồi quy và giải thích kết quả nghiên cứu
Dựa trên các các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, tác giả thực hiện thảoluận kết quả nghiên cứu Đây là cơ sở quan trọng nhằm đưa ra kết luận về ảnhhưởng của GEPU, các biến tương tác giữa GEPU và các yếu tố kiểm soát trong môhình đến ổn định HNTH các QG trên thế giới
Bước 6: Kết luận và đề xuất
Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài rút ra kết luận về ảnh hưởng của GEPUđến ổn định HTNH và ảnh hưởng biến tương tác giữa GEPU và các biến kiểm soátđến ổn định HTNH Dựa trên kết luận, đề tài đề xuất hàm ý chính sách có liên quan
Trang 18nhằm gia tăng ổn định HTNH trong bối cảnh bất định CSKT toàn cầu trong thờigian tới.
15.2 Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các đơn vị cung cấp uy tínnhư Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới Cụ thể, nghiên cứu thu thập dữ liệu
về các yếu tố ngành ngân hàng, các yếu tố vĩ mô QG của các QG từ GLOBalFinancial Development Database của World Bank trong giai đoạn 2008 - 2020.Thông tin chi tiết và dữ liệu của các biến trong nghiên cứu được cung cấp tạiwebsite của WB: https://databank.worldbank.org/
Chỉ số GEPU được đưa vào trong mô hình bằng cách tính giá trị trung bình của
12 tháng được thu thập từ website https://www.policyuncertainty.com/ trong giaiđoạn 2008 - 2020 Chi tiết cách thức đo lường và ưu nhược điểm của chỉ tiêu nàyđược trình bày chi tiết trong phần cơ sở lý thuyết về tính bất định CSKT
1.5.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả dữ liệu với giá trị trungbình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất Đồng thời, thông quaphương pháp phân tích so sánh để thấy được sự biến động của các chỉ tiêu tronggiai đoạn nghiên cứu
Phương pháp hồi quy tĩnh OLS, FEM, REM và 2SLS được sử dụng để kiểmđịnh khuyết tật mô hình như phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và hiệntượng nội sinh, nhằm chứng minh sự phù hợp của phương pháp hồi quy GMM đốivới mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp moment tổng quát (Generalized method ofmoments – GMM) để xác định ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tốđến ổn định HTNH Lựa chọn phương pháp GMM là do:
- Dữ liệu được thu thập từ 116 QG khác nhau đồng nghĩa với việc tương ứng
có 116 hệ thống ngân hàng trong khi khoảng thời gian hữu hạn 13 năm Số nhóm dữliệu lớn hơn số năm là đặc điểm của bảng dữ liệu động Theo Arellano & Bover(1995), phương pháp GMM được cho là hiệu quả hơn trong việc xử lý sai lệch củabảng điều khiển động
Trang 19- GMM phù hợp hơn các phương pháp khác trong việc kiểm soát sự khôngđồng nhất giữa các HTNH, chẳng hạn như sự khác biệt về quy mô, vốn (Le vàcộng sự, 2019)
- Dữ liệu bảng trong lĩnh vực ngân hàng dễ xảy ra hiện tượng nội sinh do cácbiến độc lập có quan hệ nhân quả với biến phụ thuộc cũng như có ảnh hưởng qua lạilẫn nhau Ví dụ, vốn chủ sở hữu ngoài ảnh hưởng đến ổn định HTNH, có thể ảnhhưởng đến hoạt động tín dụng, khả năng sinh lời và mức độ thanh khoản của HTNH.Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng độ trễ đầu tiên của biến độc lập làm biến kiểm soát,phù hợp với Nguyen (2021), do đó dẫn đến hiện tượng nội sinh trong mô hình.GMM là công cụ ước lượng phù hợp để giải quyết hiện tượng nội sinh trong môhình nghiên cứu (Arellano & Bover, 1995) Công cụ ước lượng này cho phép coicác biến độc lập là ngoại sinh, được xác định trước hoặc nội sinh bằng các công cụthích hợp Ngoài ra, phương pháp này còn thuận lợi trong việc đánh giá tác độngcủa yếu tố thời gian dựa trên việc đưa biến công cụ là biến thời gian Việc đánh giátác động của yếu tố là cần thiết để kiểm soát các hiện tượng xảy ra theo năm nhưkhủng hoảng toàn cầu 2008 hoặc đại dịch Covid 19 năm 2020
- Phương pháp GMM cũng cung cấp sai số tiêu chuẩn mạnh mẽ cho phươngsai thay đổi và tự tương quan
Luận án tiến hành phương pháp GMM hệ thống hai bước vì đây được đánhgiá là phương pháp hiệu quả hơn so với phương pháp GMM còn lại Ước lượngGMM xử lý mô hình gốc thành 2 mô hình: Mô hình First differences và mô hìnhLevel Uớc lượng GMM hệ thống kết hợp moment điều kiện trong mô hình Firstdifferences với moment điều kiện trong mô hình Level nên được đánh giá là tốt hơn
so với ước lượng Dif_GMM Ngoài ra, công cụ trong mô hình Level của GMM hệthống có dự đoán tốt hơn biến cho biến nội sinh trong mô hình
Nghiên cứu sử dụng kiểm định Arellano-Bond để kiểm tra xem mô hình có
tự tương quan bậc hai hay không Đồng thời, nghiên cứu xác minh tính hợp lệ củacác ước tính GMM dựa trên kiểm định Hansen về việc xác định quá mức các hạnchế đối với tính hợp lý của việc sử dụng biến công cụ trong mô hình
Trang 201.6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Thứ hai, luận án tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng yếu tố vĩ mô của mỗi
QG có thể điều chỉnh tác động của GEPU đến ổn định HTNH các QG trên thế giới.Kết luận này được chứng minh thông qua hệ số tương tác giữa biến GEPU và cácyếu tố vĩ mô của mỗi QG Cụ thể:
- Nghiên cứu cho thấy nếu đánh giá ảnh hưởng riêng lẻ, GEPU và TCH đềutác động tiêu cực đến ổn định HTNH Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy hệ sốhồi quy của biến tương tác giữa GEPU và TCH đến Zscore mang dấu dương, chothấy HTNH của các QG có mức độ TCH mạnh hơn trong môi trường CSKT bấtđịnh ổn định hơn Trong đó, các yếu tố thuộc về TCH mang lại lợi ích khi kết hợpvới GEPU bao gồm TCH kinh tế, TCH tài chính, TCH xã hội và TCH chung Nhưvậy, trong môi trường bất định CSKT toàn cầu, HTNH của các QG có xu hướnghưởng lợi nhiều hơn từ quá trình TCH nói chung của QG đó khi được đo lường dựatrên chỉ số Zscore Tuy nhiên, với biến phụ thuộc là NPL, việc đẩy mạnh TCH tàichính khi kết hợp với GEPU cho thấy có thể làm gia tăng tỷ lệ nợ xấu của HTNH
- Yếu tố vĩ mô khác có thể làm thay đổi tác động của GEPU đến ổn địnhHTNH các nước là lạm phát Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số tương tác của biếnGEPU và lạm phát mặc dù tác động âm đến ổn định HTNH nhưng mức độ tác độngthấp hơn nhiều khi xét riêng hệ số hồi quy của GEPU Kết luận này củng cố vai tròcủa yếu tố nội lực mỗi QG trước tính bất định trong quá trình điều hành CSKT củacác nước lớn trên thế giới Ngoài ra, TCH cũng là yếu tố vĩ mô cần được quan tâmkhi đang có những tác động tiêu cực và tích cực đến ổn định HTNH trong bối cảnhGEPU
Trang 21Thứ ba, kết quả nghiên cứu cho thấy các QG có thể giảm được tác động tiêucực của GEPU đến ổn định HTNH trong nước thông qua các yếu tố đặc trưngngành NH Cụ thể:
- Nghiên cứu tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho thấy tỷ lệ vốn chủ sởhữu (CAP), quy mô HTNH (SIZE) và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) là yếu tốngành NH có thể làm thay đổi tác động của GEPU đến chỉ số Zscore từ chiều hướngtiêu cực thành tích cực Hệ số hồi quy của biến tương tác giữa GEPU và CAP hoặcSIZE hoặc NIM đều mang dấu âm Như vậy, HTNH của một QG có xu hướng ổnđịnh hơn trong môi trường bất định CSKT toàn cầu khi gia tăng được tỷ lệ vốn chủ
sở hữu, có quy mô vốn lớn và gia tăng được tỷ lệ thu nhập lãi thuần
- Đối với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu NPL, ảnh hưởng của NII và CONkhi kết hợp với GEPU cho thấy làm giảm NPL Điều này cho thấy vai trò quantrọng của đa dạng hóa thu nhập trong hoạt động NH và việc hình thành những NHlớn có ý nghĩa tích cực trong việc giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu trong môi trường GEPU
Nói tóm lại, những đóng góp trên là một minh chứng cho thấy ổn địnhHTNH không chỉ là những quyết định mang tính riêng lẻ mỗi QG mà còn phụ thuộcvào bối cảnh điều hành CSKT vĩ mô toàn cầu Đồng thời mức độ ảnh hưởng củaGEPU được giảm đi ở những QG có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và TCH kinh tếmanh
1.6.2 Đóng góp mới về mặt thực tiễn
GEPU là chỉ số phản ánh bất định về CSKT của 21 nước có tầm ảnh hưởngquan trọng của thế giới Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy đây là chỉ số cóảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế Trong đó,chỉ số GEPU được sử dụng nhiều cho các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng nhưkhả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động, nợ xấu và ổn định ngân hàng Tuy nhiên, cácnghiên cứu chỉ dừng lại ở một QG hoặc nghiên cứu cho hệ thống ngân hàng với bộ
dữ liệu ngân hàng trong 21 QG có chỉ số EPU Việc mở rộng mẫu nghiên cứu là các
QG trên thế giới nhằm đánh giá toàn diện hơn tác động của GEPU đến ổn địnhHTNH ngân hàng Kết quả nghiên cứu về mặt khoa học nêu trên là cơ sở quan trọng
để rút ra các đề xuất, hàm ý chính sách mang ý nghĩa thực tiễn cho các chính phủ,
Trang 22các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý NH và các chủ thể khác quan tâmđến lĩnh vực ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu cung cấp minh chứng thực nghiệm về tác động tiêu cựccủa GEPU đến ổn định HTNH Điều này giúp Chính phủ và cơ quan quản lý quantâm hơn đến quá trình điều hành CSKT của các nước lớn, nước phát triển trên thếgiới, chủ động xây dựng những kế hoạch ứng phó phù hợp để đảm bảo ổn địnhHTNH, hạn chế các cú sốc gây bất ổn cho HTNH
Luận án còn cung cấp minh chứng cho thấy các yếu tố vĩ mô và yếu tố đặctrưng ngành NH như tỷ lệ vốn chủ sở hữu, mức độ khai thác nguồn tiền gửi, khảnăng sinh lời từ cho vay, mức độ tập trung của thị trường… có ảnh hưởng đến ổnđịnh HTNH Kết quả này cho thấy Chính phủ các QG cần quan tâm đến kiểm soátlạm phát, mở rộng TCH tài chính để hạn chế tác động tiêu cực của GEPU Cơ quanquản lý có những điều chỉnh phù hợp trong định hướng phát triển ổn định HTNHtrong bối cảnh các QG lớn trên thế giới thiếu chắc chắn trong điều hành CSKT vĩ
mô Các nhà quản trị ngân hàng cũng đánh giá lại hoạt động của mình để có nhữngthay đổi nhằm phù hợp với diễn biến trên thị trường, chủ động trước những bất lợi
do GEPU mang lại
1.7 BỐ CỤC CỦA NGHIÊN CỨU
Nội dung luận án gồm có năm phần chính tương ứng với từng chương từchương 1 đến chương 5, cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 1 trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu chính của luận án, baogồm: mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu,phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án, kết cấu chungcủa luận án
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tính bất định CSKT và ổn định hệ thống ngân hàng
Phần đầu chương 2 trình bày toàn bộ cơ sở lý thuyết về ổn định HTNH vàcác nội dung lý thuyết liên quan Nội dung quan trọng khác của chương 2 là phầnlược khảo các nghiên cứu liên quan đến EPU toàn cầu và ổn định HTNH Dựa vào
Trang 23tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả hoàn thiện hơn mô hình ổnđịnh HTNH với các giả thuyết nghiên cứu được xác định cũng như lựa chọnphương pháp nghiên cứu phù hợp trong chương 3.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên vấn đề nghiên cứu được xây dựng ở chương 2, nội dung chương 3trình bày quy trình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cácphương pháp nghiên cứu được sử dụng
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 đi vào trình bày chi tiết các nội dung theo quy trình nghiên cứubao gồm thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan, kết quả hồi quy các mô hình
và kiểm định mô hình Phần cuối của chương tập trung thảo luận các nội dung đượcrút ra trong kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Với kết quả nghiên cứu chương 4, chương 5 chủ yếu tập trung rút ra các kếtluận liên quan đến các nội dung trong chủ đề nghiên cứu Bên cạnh đó, đề tài đềxuất một số hàm ý chính sách cho Chính phủ và các cơ quan quản lý hệ thống ngânhàng
Trang 24TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã lý giải về sự cần thiết của đề tài về mặt thực tiễn thông qua dẫnchứng về các cuộc khủng hoảng tài chính nói chung, HTNH nói riêng của các QGtrên thế giới Đồng thời, tác giả đã trình bày những khoảng trống về mặt khoa họckhi các nghiên cứu về GEPU ảnh hưởng đến ổn định HTNH còn hạn chế Trongphạm vi khảo lược của tác giả, chưa nghiên cứu nào đánh giá tác động đồng thờicủa TCH và GEPU đến ổn định HTNH các QG Do đó, cần tìm lời giải đáp trongtính cấp thiết về mặt khoa học về ảnh hưởng đồng thời của GEPU và TCH đến ổnđịnh HTNH của các nước Từ đó, tác giả đã trình bày về mục tiêu nghiên cứu, phạm
vi và đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, tác giả đã giới thiệu các phương pháp nghiêncứu trong đề tài và những đóng góp mà đề tài mang lại về mặt thực tiễn và khoa học.Như vậy, chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu
Trang 25CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH
đo lường bất định CSKT và tác động của bất định CSKT Phần 2 tập trung trình bày
cơ sở lý thuyết về ổn định HTNH từ khái niệm đến các nhân tố ảnh hưởng đến ổnđịnh HTNH Phần 3 trình bày tác động tính bất định CSKT đến ổn định HTNHthông qua quá trình tổng hợp cơ sở lý thuyết Sau khi kết thúc tổng hợp về cơ sở lýthuyết, phần 4 nêu tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của GEPUđến ổn định HTNH và chỉ ra các khoản trống nghiên cứu
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ 2.1.1 Khái niệm tính bất định của chính sách kinh tế
Theo Keynes (1921), trong Luận thuyết về xác suất, tính bất định là khả năngxảy ra các sự kiện mà không thể xác định chính xác được ( trích từ Keynes, 2013).Ông giải thích tính bất định là thuật ngữ để chỉ những hiện tượng mà không thể biếttrước được vì không có cơ sở khoa học nào để hình thành bất kỳ xác suất tính toánnào như lãi suất sau hai mươi năm, hay viễn cảnh của chiến tranh châu Âu (Keynes,1973) Trong khái niệm về tính bất định của Keynes, không chỉ một số tiền đề cóthể không được biết tại thời điểm quyết định mà còn có thể thực sự là không thể biếttrước được (Carvalho, 1988; Stohs, 1980) Rủi ro là khi có thể biết được khả năngxảy ra, trong khi đó, tính trạng bất định tồn tại khi ta không thể biết hay không thể
Trang 26đo lường Dựa trên quan điểm của Keynes (1921), theo Fontana, & Gerrard (2004),tính bất định là kết quả không thể tránh khỏi của các quyết định và hành động liêntiếp của các cá nhân và hoặc của các tổ chức, hậu quả thực tế của chúng chỉ đượcbiết đến trong tương lai.
Theo Duncan (1972) - người được xem đã khởi xướng các nghiên cứu vềtính bất định tích trong nghiên cứu tổ chức và các lý thuyết quyết định, tính bất định
là tình huống mà người vận hành có kiến thức hạn chế về trạng thái mô tả chính xáchoặc kết quả trong tương lai (Duncan, 1972; Carbonara, & Caiazza, 2010)
Krichkx (2000) định nghĩa tính bất định là tình trạng thiếu thông tin đầy đủ
về các sự kiện trong tương lai Tương tự Krichkx (2000), Spiegelhalter (2017) giảithích tính bất định là tính không thể đoán trước được trong tương lai do các yếu tốkhông thể đoán trước được thể hiện bằng các xác suất cổ điển
Dựa trên các khái niệm trên, bất định có thể hiểu là tình trạng thiếu hụt thôngtin đầy đủ về các sự kiện trong tương lai dẫn đến tình trạng không thể đoán trướcđược các biến cố xảy ra và gây ra những hậu quả tiêu cực
Theo Jedynak & Bąk (2020), đặc điểm của bất định gồm: (1) khó có khảnăng ước tính và dự đoán được trước do không thể đo lường theo xác suất; (2)thường không thể bảo hiểm; (3) là nguyên nhân dẫn đến rủi ro; (4) tác động tiêu cựchoặc trung tính Bất định, theo Gerloff và cộng sự (1991); Krickx (2000), phụ thuộcvào các sự kiện bên ngoài, nhận thức và phản ứng của chủ thể
Nhiều nghiên cứu cho thấy tính bất định sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạtđộng của các chủ thể Nghiên cứu của Duncan (1972) cho thấy tính bất định bênngoài, không rõ ràng, làm giảm khả năng của các công ty trong việc xác định cácmối quan hệ nguyên nhân - kết quả Nói cách khác, các chủ thể khó có thể dự đoánđược tác động của các sự kiện kinh tế trong môi trường vĩ mô nên ảnh hưởng đếnkhả năng ra quyết định hợp lý Mức độ không chắc chắn trong môi trường kinhdoanh càng cao càng tạo ra nhiều thách thức, khó khăn cho các chủ thể trong nềnkinh tế
Trang 272.1.1.2 Khái niệm chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế (economic policy) là khái niệm đề cập trong nhiều lĩnhvực nghiên cứu, đặc biệt là trong lĩnh vực chính sách công và kinh tế vĩ mô Fox &Meyer (1995) đã dựa trên nguồn gốc thể chế, định nghĩa chính sách là các tuyên bốcủa các đơn vị có thẩm quyền về cách giải quyết các vấn đề thuộc về chính sáchcông Theo Anderson (1997), chính sách có thể hiểu là quá trình hành động tươngđối ổn định, có mục đích, được thực hiện bởi một chính phủ hoặc cơ quan quản lý(Anderson, 1997) Định nghĩa này cho thấy chính sách là thuật ngữ để phản ánhnhững điều mà chính phủ hoặc cơ quan quản lý thực sự thực hiện, khác với những
gì chỉ dừng lại ở đề xuất hoặc dự định hay quyết định đơn thuần Cũng theoAnderson (1997), chính sách của chính phủ thường được thực hiện để đạt được mộtmục tiêu cụ thể với những điều kiện thực hiện nhất định trong một khoảng thời gianxác định Theo Croucamp & Malan (2016), chính sách xuất hiện khi chính phủ vàcác cơ quan quản lý do hiến pháp quy định hợp nhất lợi ích của xã hội và lợi ích củanhà nước
Với vai trò của mình, chính phủ và các cơ quan trực thuộc cần ban hànhnhiều chính sách để tác động vào sự phát triển của QG Một trong những chính sáchquan trọng nhất mà chính phủ ban hành để tác động đến kinh tế - xã hội trong nước
là CSKT (Jaźwiński, 2011; Acocella, 2005) Sự phát triển kinh tế của QG là kết quảcủa cơ chế thị trường và sự can thiệp của chính phủ thông qua CSKT (Weingast,1995; Acocella, 2005; Easterly, 2005) Để hạn chế tiêu cực của bàn tay vô hình của
cơ chế thị trường, vai trò can thiệp của chính phủ và cơ quan quản lý thông quaCSKT là rất quan trọng Sự can thiệp của chính phủ không thay thế cơ chế thịtrường mà chỉ bổ sung khi xuất hiện 1 trong 3 điều kiện sau: (1) cơ chế thị trườngthất bại; (2) thông qua sự tác động của chính phủ sẽ đạt được kết quả tốt hơnKhi cơchế thị trường thất bại, (3) sự can thiệp của chính phủ có thể sử dụng nhiều công cụ
có chi phí khác nhau và đưa ra kết quả khác nhau Theo Acocella (2005), CSKT làkhái niệm phản ánh các hành động kinh tế của khu vực công phản ánh lựa chọn củachính phủ và các cơ quan quản lý nhằm đạt được các mục tiêu ưu tiên hoặc mục tiêukinh tế - xã hội Như vậy, CSKT là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô của chính
Trang 28phủ trong điều kiện kinh tế nhất định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu cụthể như tăng trưởng kinh tế cao, lạm phát thấp, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và cán cânthanh toán cân bằng CSKT do chính phủ và cơ quan quản lý ban hành, tổ chức,kiểm tra và giám sát thực hiện nên CSKT phải đảm bảo tính hợp pháp, và đảm bảonhững mục tiêu, định hướng phát triển của nền kinh tế Nhà nước với tư cách là bộmáy soạn thảo, ban hành, tổ chức thực hiện các công cụ đó nhằm tác động, điều tiếttổng thể mọi hành vi, mọi quá trình, các quan hệ kinh tế của các tác nhân kinh tếtrong nền kinh tế để hướng tới mục tiêu mong muốn ( Phạm Quốc Trung, 2000;Mishkin, 2011) CSKT được xem là sản phẩm của việc nhà nước nhận thức về hiệnthực kinh tế khách quan, về vị trí, vai trò và chức năng của mình đối với hiện thựckinh tế khách quan và về khả năng soạn thảo ban hành cũng như thực thi công cụchính sách của Nhà nước.
CSKT có vai trò quan trọng trong quá trình điều hành vĩ mô của chính phủ.CSKT thường bao gồm chính sách tài khóa, CSTT, chính sách thương mại, chínhsách giá cả và thu nhập Với các chính sách công cụ, các nhà hoạch định chính sáchhướng tới việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế, ổn định lạm phát và toàn dụng lao động.Theo Stiglitz (2004), thông qua CSKT, chính phủ thực hiện chức năng ổn định,nhằm đảm bảo rằng nền kinh tế duy trì ở trạng thái toàn dụng với mức giá ổn định;chức năng phân bổ, trong phạm vi mà nhà nước tác động đến các xu hướng phân bổcác nguồn lực trong nền kinh tế bằng cách mua hàng hóa và đánh thuế, cũng nhưgiải ngân các khoản trợ cấp; và chức năng phân phối liên quan đến cách thức phânphối hàng hóa do toàn xã hội sản xuất ra giữa các thành viên của nó
2.1.1.3 Khái niệm tính bất định chính sách kinh tế
Tính bất định CSKT (Economic policy uncertainty_EPU) là khái niệm được
sử dụng trong nhiều nghiên cứu trong một thập kỷ gần đây Có nhiều định nghĩa vềEPU trong các nghiên cứu liên quan
EPU có thể hiểu là một yếu tố dẫn đến rủi ro gắn với quá trình điều hànhCSKT của chính phủ và cơ quan quản lý không được xác định và không rõ ràngtrong một khoảng thời gian cụ thể (Al-Thaqeb & Algharabali, 2019; Danisman và
Trang 29cộng sự , 2020) EPU có thể biểu hiện dưới dạng những thay đổi bất ngờ trongCSTT, chính sách tài khóa và chính sách điều tiết (Danismanvà cộng sự, 2021).
Theo Ozili (2021a), EPU là tính bất định về những thay đổi trong điều hànhCSKT của chính phủ cũng như khó xác định được tác động của CSKT mới đến cáckhu vực trong nền kinh tế Các biểu hiện của EPU bao gồm lạm phát không chắcchắn, tăng trưởng kinh tế tiêu cực, khủng hoảng tài chính, cắt giảm cho vay bấtthường, đại dịch, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, biến động ngoại hối và những thay đổibất ngờ trong tỷ lệ CSTT hoặc chính sách tài khóa (Zhang và cộng sự, 2019; Chen
và cộng sự, 2020)
Dựa trên các khái niệm trên, trong nghiên cứu, EPU có nghĩa là các chủ thểtrong nền kinh tế khó có thể dự đoán được một cách chắc chắn liệu chính phủ cóthay đổi CSKT hiện tại hay không Nói cách khác, EPU là khái niệm để chỉ tìnhtrạng CSKT trong tương lai khác với những cam kết của chính phủ và cơ quan quản
lý trước đó EPU là rủi ro kinh tế liên quan đến các chính sách và khuôn khổ quyđịnh của chính phủ trong tương lai chưa được xác định
2.1.2 Lý thuyết về tính bất định của chính sách kinh tế
2.1.2.1 Chuyên luận về xác suất và ảnh hưởng của bất định trong Lý thuyết tổng quát của Keynes
Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Keynes là Luận thuyết về xác suất
ra đời năm 1921 Trong luận thuyết này, Keynes đã lần đầu tiên đề cập đến tính bấtđịnh và phân biệt giữa bất định và rủi ro, từ đó, đặt nền móng cho việc phát triển lýthuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ Dựa trên việc định nghĩa tính bấtđịnh là khả năng xảy ra các sự kiện mà không thể xác định chính xác được (trích từKeynes, 2013), ông đã tìm cách phát triển một phương pháp xác suất tổng quát hơn
và đánh giá đầy đủ hơn về hậu quả của tính bất định đối với cơ chế kinh tế, dùng nó
để giải thích cho sự bất ổn tài chính (Minsky 1986, Carvalho, 1988) Tác động củabất định được ông phân tích hai yếu tố quyết định chính của dựa trên mức độ tổngthể của đầu tư kinh doanh là trạng thái kỳ vọng dài hạn và lãi suất (và điều kiện tiền
tệ nói chung) Trong đó:
Trang 30Về trạng thái kỳ vọng dài hạn: Keynes đã nhận ra tác động của tính bất định
là yếu tố quyết định chính của tổng sản lượng và việc làm, và là nguyên nhân chínhgây ra tình trạng thất nghiệp không tự nguyện Ông giải thích cách thức nền kinh tếrơi vào bẫy việc làm thấp thông qua lý thuyết cầu hiệu dụng Dựa trên sự phân biệtgiữa tính bất định và rủi ro, ông đã giải thích sự khác biệt giữa kỳ vọng ngắn hạn vàdài hạn Kỳ vọng ngắn hạn liên quan đến các quyết định sản xuất hàng ngày và việclàm của các doanh nghiệp Các công ty sản xuất đầu ra để đón đầu nhu cầu thịtrường Kỳ vọng ngắn hạn liên quan đến quá trình liên tục hàng ngày các công tysửa đổi các dự đoán thị trường này dựa trên kết quả thị trường thực tế Do đó, việclàm và sản lượng hiện tại được xác định bằng tổ hợp các kỳ vọng ngắn hạn Nóicách khác, kỳ vọng ngắn hạn được xác định dựa trên doanh số kỳ vọng từ sản lượng
từ một khoản vốn cho trước và kỳ vọng dài hạn Ngược lại, kỳ vọng dài hạn liênquan đến các quyết định đầu tư của doanh nghiệp và liên quan đến toàn bộ giai đoạntương lai mà bất kỳ khoản đầu tư nào dự kiến sẽ tạo ra lợi nhuận Kỳ vọng dài hạn
là sinh lợi kỳ vọng dựa trên thời hạn sử dụng thiết bị mới, gắn liền với hoạt độngđầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế, là một cấu phần quan trọng trong tổng cầu.Các quyết định đầu tư liên quan đến các cam kết dài hạn và phần lớn không thể thayđổi trước các kết quả thị trường thực tế Do đó, ông nhấn mạnh duy trì trạng thái kỳvọng nhất quán với trạng thái toàn dụng trong nền kinh tế là điều gần như bất khảthi do tình trạng không chắc chắn chi phối quá trình đầu tư
Về lãi suất: Keynes nhấn mạnh vai trò của tình trạng không chắc chắn trongviệc xác định lãi suất Keynes (1973) cho rằng những hiểu biết của con người vềtương lai là ít ỏi và không đáng kể và điều này chính là nguyên nhân dẫn đến nhữngsai lầm trong đầu tư, từ đó, tạo ra các cuộc khủng hoảng Trong Lý thuyết tổng quát,ông cũng nhấn mạnh vai trò của cơ quan quản lý tiền tệ hay ngân hàng trung ươngtrong việc tác động vào thị trường Theo ông, việc các NHTW nỗ lực giảm lãi suấtdài hạn xuống dưới lãi suất mà thị trường cho là phù hợp sẽ khiến người dân ưanắm giữ tiền mặt hơn là mua trái phiếu Do đó, ông đề xuất NHTW cần có CSTTphù hợp để thiết lập một lãi suất dài hạn thấp lâu dài Không chỉ vậy, trong lý thuyết
Trang 31tổng quát, ông cũng cho thấy việc sử dụng tiền trong quá trình kinh tế chỉ có thểđược hiểu như một cách thức để đối phó với tính bất định (Fontana, 2000).
Như vậy, lý thuyết tổng quát của Keynes cho thấy tính bất định là yếu tố màcác chủ thể trong nền kinh tế không thể biết trước và nó ảnh hưởng đến quá trình raquyết định của các chủ thể Đồng thời, ông cũng cho thấy tính bất định trong CSKT,đặc biệt là CSTT có tác động đến thị trường thông qua yếu tố lãi suất Dựa trên lýthuyết tổng quát của Keynes, nhiều nhà khoa học cho rằng tính bất định đóng mộtvai trò quan trọng trong việc giải thích hành vi kinh tế Shackle (1955) cho rằng đốivới hoạt động đầu tư kinh doanh, các chủ thể nên ra quyết định với giả định môitrường thay đổi để phù hợp với tính bất định, bao gồm không chắc chắn trongCSKT Katona & Strumpel (1976) nhận định rằng quyết định chi tiêu của cá nhânphụ thuộc vào niềm tin của người đó vào tương lai hơn là mức độ bảo hòa so vớinhu cầu của họ Nói cách khác, tính bất định nói chung và EPU nói riêng sẽ ảnhhưởng đến nền kinh tế thông qua quá trình ra quyết định của các chủ thể, tạo cơ sởphát triển thành lý thuyết ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn hay còn gọi
là hậu Keynes Nói cách khác, chuyên đề này cho thấy bất định dẫn đến nhữngquyết định không chính xác của các chủ thể trong nền kinh tế, từ đó, có thể dẫn đếntình trạng bất ổn định của NH do NH là trung gian tài chính
2.1.2.2 Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ của Keynes
Một trong những lý thuyết đầu tiên đề cập đến ổn định kinh tế là lý thuyếttiền tệ của Keynes Xuất hiện từ những năm 1930 của thế kỷ XX và thống trị đếnnhững năm 1970 - thế kỷ XX, trong điều kiện kinh tế - xã hội, ở các nước phươngTây khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp thường xuyên, nghiêm trọng chứng tỏ các lýthuyết ủng hộ tự do kinh doanh của trường phái cổ điển và tân cổ điển không cònsức thuyết phục Từ thực tế đó đòi hỏi yêu cầu cần có một lý thuyết kinh tế mới cókhả năng thích ứng với tình hình mới và học thuyết của Keynes đáp ứng được điềunày Lý thuyết này đã trình bày cơ chế vận hành của nền kinh tế, trong đó, tập trungđến sự tự chủ trong quá trình điều hành các nhóm chính sách vĩ mô gồm chính sáchtài khóa và CSTT, đồng thời đề cập đến cơ chế lan truyền chính sách giữa các QG
Trang 32Theo Keynes (1936), tổng sản lượng của nền kinh tế bao gồm các hoạt độngchi tiêu của các chủ thể gồm các hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và các chủthể khác ở nước ngoài Trong đó, hộ gia đình sẽ tác động vào tổng sản lượng nềnkinh tế thông qua mức chi tiêu dựa trên thu nhập kỳ vọng và tiết kiệm Các tổ chứcsản xuất là doanh nghiệp chi tiêu tác động vào nền kinh tế thông qua hoạt động đầu
tư được đưa ra dựa trên kỳ vọng vĩ mô Theo đó, hai nhóm chủ thể này thay đổihành vi chủ yếu là do điều kiện của nền kinh tế hiện tại nhiều hơn là trong dài hạn.Điều này lý giải cho những phản ứng của các chủ thể tương ứng với từng chu kỳphát triển hay suy thoái của nền kinh tế Trong chu kỳ kinh tế suy thoái, các hành vichi tiêu của hộ gia đình, doanh nghiệp có thể làm cho tình trạng trở nên trầm trọnghơn, do đó, vai trò của chính phủ là quan trọng trong điều tiết nền kinh tế Cụ thể,Chính phủ có thể tác động vào nền kinh tế thông qua: (1) hoạt động đầu tư, chi tiêucủa Chính phủ, (2) sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ đểkhuyến khích các hình thức đầu tư và tiêu dùng của các chủ thể khác trong nền kinh
tế, từ đó tác động vào nền kinh tế Trong đó, hoạt động đầu tư, chi tiêu của chínhphủ được phản ánh thông qua quá trình điều hành chính sách tài khóa Thông quachính sách tài khóa, các quyết sách chi tiêu của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến sự thayđổi trong ngắn hạn của sản lương, việc làm, giá cả, tác động đến chu kỳ kinh doanhcủa các chủ thể trong nền kinh tế Công cụ thuế tạo ra phần lớn ngân sách cho chínhphủ cũng tác động đến tổng cầu Khi chính phủ có xu hướng tăng thu thuế sẽ làmgiảm thu nhập khả dụng của người dân, ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu Tuynhiên, nếu chính sách tài khóa được mở rộng có thể làm cho tăng trưởng GDP quánóng, tạo nguy cơ kéo theo lạm phát Chính phủ còn có thể tác động vào nền kinh tếthông qua quá trình điều hành CSTT với chủ thể trực tiếp điều hành là ngân hàngtrung ương NHTW các QG chịu trách nhiệm sử dụng các công cụ của CSTT nhưlãi suất cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở… để thực hiện nới lỏng hay thắt chặtCSTT, từ đó tác động đến giá cả, việc làm và sản lượng của nền kinh tế Khi ngânhàng trung ương phát hiện có dấu hiệu của lạm phát tăng cao sẽ đi đến quyết địnhtiến hành các biện pháp thắt chặt tiền tệ Việc giảm cung tiền có xu hướng làm tănglãi suất và thắt chặt các điều kiện tín dụng, giảm đầu tư, thu nhập và sản lượng
Trang 33Điều này cho thấy vai trò quan trọng của chính sách vĩ mô trong hoạt động của cácchủ thể trong nền kinh tế, cũng như tác động của nó đến hệ thống tài chính và NH.Với vai trò là trung gian tài chính, hoạt động kinh doanh của các NH sẽ chịu ảnhhưởng trực tiếp và gián tiếp bởi các quyết định của cơ quan quản lý trong quá trìnhđiều hành CSKT.
Ngoài ra, trong luận thuyết về tiền tệ của Keynes (1971) cũng đã đề cập đến
sự bất ổn đầu tư như là nguyên nhân của khủng hoảng Quan điểm của ông cho rằngtình trạng bất định là gốc rễ của khủng hoảng tài chính Ông cũng đề cập đến cácbiên pháp để hạn chế bất định đó chính là các biện pháp kích thích đầu tư, các biệnpháp kích thích tiêu dùng và cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế Theo Keynes (1973),việc cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế sẽ hạn chế sự lan truyền thất nghiệp từ nướcngày sang nước khác Keynes (1973) cho rằng, nhu cầu tích trữ kim loại quý ở cácnước phương Đông đã ảnh hưởng đến vấn đề giảm phát lâu dài của các QG phươngTây Điều này dẫn đến sự mất cân đối toàn cầu và ảnh hưởng đến cán cân thanhtoán Tỷ giá hối đoái thả nổi giúp giải tỏa nhu cầu dự trữ hay thích nắm giữ tiền mặtcủa các chủ thể trong nền kinh tế Khi nhu cầu dự trữ hồi sinh bất ngờ, chủ yếu là đểphòng vệ trước việc các chủ thể tích trữ, đầu cơ ngắn hạn đồng tiền, có thể làm cho
tỷ giá mất đi giá trị cân bằng Điều này bước đầu cho thấy có sự lan truyền tác độngtrong quá trình điều hành CSKT của QG này sang các QG khác
Như vậy, các lý thuyết của Keynes đã đề cập đến tính không chắc chắn, vaitrò của các CSKT vĩ mô, bao gồm chi tiêu của Chính phủ và CSTT đều có ảnhhưởng không nhỏ đến hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế,đặc biệt làHTNH Với vai trò là trung gian tài chính, hoạt động của các ngân hàng sẽ chịu ảnhhưởng bởi quá trình điều hành vĩ mô của cơ quan quản lý, đặc biệt là NHTW Quátrình sử dụng các công cụ CSTT như lãi suất, tỷ giá, cung tiền… thiếu sự chắc chắn,khó dự đoán của NHTW dẫn đến những khó khăn trong việc ra quyết định của NH,
từ đó, tạo ra rủi ro, dẫn đến bất ổn định HTNH Đây cũng là cơ sở để cho thấy cácyếu tố đặc trưng ngành NH ảnh hưởng đến ổn định HTNH
Ngoài ra, lý thuyết liên quan đến kinh tế chính trị của Keynes (1973) cũngcho thấy giữa các QG, thông qua hoạt động tích trữ, đầu tư, quá trình điều hành vĩ
Trang 34mô của QG này ảnh hưởng đến điều hành chính sách vĩ mô của các QG khác trongphạm vi toàn cầu Đây là cơ sở để cho thấy tồn tại cơ chế lan truyền CSKT giữaquốc gia này đến quốc gia khác, và từ đó, ảnh hưởng đến hoạt động của các chủ thểtại quốc gia khác.
Lý thuyết của Keynes cũng đã được Samuelson (1965) ủng hộ khi bàn vềchức năng ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ Trong đó, quyền lực thực thi CSKTcủa chính phủ có thể ảnh hưởng lớn để sự phát triển của nền kinh tế Đồng thời,chính phủ là chủ thể phối hợp các ưu thế của QG cũng như khắc phục hạn chế của
nó về tài nguyên thiên nhiên, con người, vốn, kỹ thuật, công nghệ để tổng hợp thànhđộng lực cùng thúc đẩy tạo nên sức mạnh kinh tế thông qua các chính sách như mởcửa, tạo lập và thúc đẩy thị trường xuất khẩu phát triển nhanh, xây dựng nền côngnghiệp có hiệu quả kinh tế theo quy mô lớn Những luận giải này là nền móng đểtạo cơ sở cho việc thiết lập biến tương tác giữa GEPU và các biến môi trường vĩ môquốc gia trong mô hình nghiên cứu
2.1.2.3 Lý thuyết về toàn cầu hóa và hiệu ứng tràn trong chính sách kinh tế
Thuật ngữ “toàn cầu hóa” đã nhanh chóng lan rộng và được sử dụng thườngxuyên hơn để tóm tắt sự thay đổi lớn đòi hỏi một thuật ngữ mới để mô tả nhữngthực tế mới (Raluca, 2012) TCH là một lý thuyết về phát triển (Reyes, 2001a) sửdụng một cơ chế hội nhập toàn cầu lớn hơn với sự nhấn mạnh đặc biệt vào lĩnh vựcgiao dịch kinh tế Có nhiều định nghĩa khác nhau về TCH TCH là xu hướng xé bỏtrật tự toàn thế giới trong một xã hội toàn cầu, dựa trên tất cả các quyết định củacộng đồng, nhằm giải quyết các vấn đề ảnh hưởng đến toàn bộ hành tinh (Martens
& Raza, 2010) TCH là một quá trình năng động và phức tạp và là một hiện tượngkhông thể đảo ngược TCH liên quan đến sự hội nhập của các thị trường, các trạngthái và công nghệ ở một mức độ chưa từng được chứng kiến - theo cách cho phépcác cá nhân, tập đoàn và các QG tiếp cận khắp thế giới nhanh hơn, sâu rộng hơn và
rẻ hơn bao giờ hết (Friedman, 2000) Gaston & Khalid (2010) cho rằng TCH có thểđược mô tả như là sự tăng trưởng của thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ,đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và các mối liên kết chính trị và xã hội đi kèm vớihội nhập kinh tế ngày càng tăng Theo Clark (2000), TCH có nghĩa là mô tả quá
Trang 35trình tạo ra các mạng lưới kết nối giữa các tác nhân ở khoảng cách đa lục địa, trunggian thông qua nhiều dòng chảy khác nhau bao gồm con người, thông tin và ý tưởng,vốn và hàng hóa Theo Norris (2000), TCH là một quá trình làm xói mòn các biêngiới QG, tích hợp các nền kinh tế, văn hóa, công nghệ và quản trị QG, đồng thời tạo
ra các mối quan hệ phức tạp phụ thuộc lẫn nhau Keohane và Nye (2000) nêu bậtcác khía cạnh sau của TCH: (1) TCH kinh tế, được đặc trưng bởi dòng chảy dài củahàng hóa, vốn và dịch vụ cũng như thông tin và nhận thức đi kèm với trao đổi thịtrường; (2) TCH chính trị, được đặc trưng bởi sự phổ biến các chính sách của chínhphủ; (3) TCH xã hội, thể hiện như sự lan truyền ý tưởng, thông tin, hình ảnh và conngười
TCH có nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng nhìn chung được thể hiện qua 3hình thức:
(1) Sự gia tăng mạnh mẽ các luồng trao đổi quốc tế về hàng hóa, dịch vụ vàcác nguồn lực như vốn, công nghệ và nhân lực Giao thương quốc tế được xem như
là thước đo đầu tiên của TCH bởi khi các QG mua bán hàng hóa dịch vụ với nhau
sẽ xóa dần sự biệt lập kinh tế giữa các QG Dịch chuyển dòng vốn trực tiếp và giántiếp giữa các nước ngày càng trở thành yếu tố quan trọng đối với các QG, đặc biệt làcác QG đang phát triển Thông qua sự dịch chuyển vốn giữa các QG, nguồn vốnđược sử dụng hiệu quả hơn và góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu
(2) Sự hình thành và phát triển các thị trường thống nhất trong mẫu nghiêncứu và trên toàn thế giới Ngày càng nhiều các hiệp định thương mại, liên minh kinh
tế, thỏa thuận liên kết khu vực kinh tế và toàn cầu được triển khai Thông qua cácdạng thỏa thuận trên, các rào cản như thuế quan được xóa bỏ, các khu vực mậu dịch
tự do được thành lập, tạo thuận lợi cho việc phát triển thương mại, tài chính, kinh tếgiữa các QG Điều này tạo ra sự gia tăng liên kết hay sự phụ thuộc lẫn nhau giữacác QG
(3) Vai trò của các công ty xuyên QG đến nền kinh tế thế giới ngày càngquan trọng thể hiện thông qua sự gia tăng về số lượng, quy mô và vai trò của cáccông ty xuyên QG Thông qua mạng lưới hoạt động dày đặc trên phạm vi toàn cầu,các công ty này không chỉ trở thành bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất thế
Trang 36giới mà còn tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các QG, làm cho quá trình TCH trở nênsâu sắc hơn.
Thông qua TCH, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng giatăng Điều này dẫn đến khái niệm “hiệu ứng tràn” trong CSKT Hiệu ứng tràn(spillover effect) là thuật ngữ để chỉ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các QG Nói cáchkhác, hiệu ứng tràn là sự lan truyền biến động thị trường từ QG này sang QG khác(Bhattarai và cộng sự, 2020; Tillmann và cộng sự, 2019) Các chính sách như chínhsách tài khóa, bán tài khóa và đặc biệt CSTT ở một QG dễ dàng tạo ra hiệu ứng trànđối với phần còn lại thuộc các QG khác trên thế giới (Punzi & Chantapacdepong,2019) Việc điều hành CSKT, đặc biệt là CSTT và chính sách tài khóa của QG nàytác động đến thị trường trong nước, thông qua nhiều kênh khác nhau sẽ tác độngđến nền kinh tế của các QG khác (Tillmann và cộng sự, 2019; Gagnon và cộng sự,2017; Potjagailo (2017); Lakdawala và cộng sự, 2021; Auerbach & Gorodnichenko,2013) Các kênh truyền dẫn trong hiệu ứng tràn ngày càng trở nên phức tạp hơn,không chỉ dừng lại ở hoạt động thương mại mà còn có thể tác động thông qua hoạtđộng kinh tế thực tế cũng như thị trường tài chính Các kênh truyền dẫn chính đượcthể hiện thông qua Lý thuyết ngang giá lãi suất và Lý thuyết hiệu ứng Fisher Dựatrên lý thuyết ngang giá lãi suất, giải thích cho tác động lan truyền của CSKT dựatrên lãi suất và tỷ giá Ngang bằng lãi suất được hiểu là tình trạng khi lãi suất và tỷgiá thay đổi làm cho kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa không còn khảthi Lúc này sự khác nhau trong tỷ giá giao ngay và kỳ hạn được bù đắp bằng chênhlệch lãi suất giữa hai QG Lý thuyết hiệu ứng Fisher được dùng lý giải cho biếnđộng tỷ giá hối đoái và lý giải chênh lệch lãi suất giữa các QG có thể là hậu quả củachênh lệch lạm phát giữa các QG Các kênh truyền dẫn trong CSKT được chứngminh trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm Trong đó, kênh tỷ giá hối đoái đượcchứng minh trong các nghiên cứu của Ammer và cộng sự (2016), Punzi và cộng sự(2017), Lavigne và cộng sự (2014) Nghiên cứu của Ammer và cộng sự (2016),Punzi và cộng sự (2017) cũng cho thấy kênh tài chính với giá tài sản tài chính, danhmục đầu tư giữa các nền kinh tế cũng gia tăng truyền dẫn tác động CSKT giữa các
QG Ammer và cộng sự (2016), Lavigne và cộng sự (2014) cũng cho thấy thông
Trang 37qua nới lỏng CSTT, tác động đến tổng cầu trong nước, kéo theo tăng nhập khẩu,làm gia tăng sản lượng ở các nước đối tác.
TCH có ý nghĩa quan trọng với các nền kinh tế mới nối, đặc biệt là đối với
hệ thống tài chính ( Mishkin, 2009a; Mishkin, 2009b) Thông qua TCH, để mở cửacho dòng vốn nước ngoài chảy vào, các QG mới nổi nhận được những lợi ích quantrọng gồm: (1) nó giảm chi phí vốn, do đó khuyến khích đầu tư, thúc đẩy tăngtrưởng; (2) khi vốn nước ngoài và các tổ chức tài chính được phép vào một QG,chúng sẽ cải thiện việc phân bổ vốn; (3) TCH hệ thống tài chính giúp thúc đẩy sựphát triển của các quyền tài sản và các thể chế tốt hơn giúp khu vực tài chính trongnước hoạt động tốt hơn trong việc đưa vốn vào mục đích sử dụng hiệu quả Như vậy,TCH góp phần quan trọng để khuyến khích sự phát triển hệ thống tài chính của các
QG, đặc biệt là những QG mới nổi
Mặc dù mang lại những lợi ích to lớn, nhưng TCH cũng có những mặt tối,tác động tiêu cực đến hệ thống tài chính các QG mối nổi: nó có thể dẫn đến bất ổntài chính và khủng hoảng có tác động tàn phá nền kinh tế Nói cách khác, thông quaTCH, việc mở cửa hệ thống tài chính cho các dòng vốn nước ngoài có thể và đã dẫnđến sự bất ổn tài chính và khủng hoảng tài chính có sức tàn phá nền kinh tế Trongbài báo “Tạm biệt đàn áp tài chính, bắt đầu khủng hoảng tài chính”, Diaz-Alejandro(1985) đã đi trước cảnh báo về những nguy cơ của TCH trong lĩnh vực tài chính.Ngoài ra, Martens & Raza (2010) cho rằng TCH có thể làm trầm trọng thêm khoảngcách giàu nghèo, mất an ninh chính trị và văn hóa, và suy thoái môi trường, đặc biệt
là tạo ra sự biến động tài chính Các nghiên cứu thực nghiệm của Joyce (2011),Ghosh (2016), Sufian & Habibullah (2012) cho thấy TCH có thể tác động tiêu cựcđến HTNH Joyce (2011) cho thấy TCH dẫn đến nguy cơ khủng hoảng ngân hàngthông qua chế độ tỷ giá hối đoái cố định nhưng các hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài lại làm giảm tỷ lệ khủng hoảng Ghosh (2016) nhận thấy TCH ngành ngânhàng lớn hơn sẽ giảm cả lợi nhuận và chi phí không hiệu quả, qua đó phản ánh khảnăng cạnh tranh ngày càng tăng và sự bất cân xứng về thông tin ở các thị trường sởtại, cũng như khả năng hội nhập tốt hơn công nghệ, phương thức quản lý của cácngân hàng trong nước Đồng thời, chỉ ở các thị trường mới nổi và ở các QG có hơn
Trang 3850% ngân hàng nước ngoài, TCH khu vực ngân hàng lớn hơn mới ảnh hưởng tíchcực đến lợi nhuận.
Như vậy, TCH là xu hướng các QG mở cửa hội nhập trên nhiều lĩnh vựckhác nhau Thông qua TCH, quá trình lan truyền chính sách giữa các QG xảy ra, tạo
ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến hệ thống tài chính nói chung và HTNHnói riêng của mỗi QG Đây là cơ sở để nghiên cứu
Tóm lại, các lý thuyết của Keynes trong nghiên cứu là cơ sở lý thuyết chothấy tác động của EPU đến hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế, bao gồmcác ngân hàng Đặc biệt, lý thuyết liên quan đến kinh tế chính trị của Keynes (1973),
lý thuyết về TCH và hiệu ứng tràn trong CSKT giữa các QG cho thấy giữa các QG,thông qua hoạt động tích trữ, đầu tư, quá trình điều hành vĩ mô của QG này ảnhhưởng đến điều hành chính sách vĩ mô của các QG khác trong phạm vi toàn cầu.Đây là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng GEPU và đánh giá ảnh hưởng của chỉtiêu này đến ổn định HTNH của các QG trên thế giới
2.1.3 Đo lường tính bất định chính sách kinh tế
Tính bất định nói chung và tính bất định CSKT nói riêng được nhiều nhà nghiêncứu quan tâm Do đó, các nhà nghiên cứu có nhiều phương pháp đo lường EPUkhác nhau Dựa trên quá trình tổng hợp các nghiên cứu trước và nghiên cứu củaOzili (2021a), cụ thể có các phương pháp đo lường EPU như sau:
2.1.3.1 Đo lường tính bất định dựa trên độ lệch chuẩn giá cổ phiếu và lợi tức cổ phiếu
Độ lệch chuẩn của giá và lợi tức cổ phiếu là thước đo bất định lâu đời nhất,được sử dụng trong nhiều nghiên cứu học thuật Thị trường ngụ ý chỉ số biến động(VIX) từ Chicago Board Options Exchange đã được sử dụng trong nhiều năm nhưmột đại diện cho những bất ổn của công ty trong thị trường chứng khoán Chỉ sốnày được tính toán bằng cách sử dụng giá trị của các tùy chọn mua bán trên chỉ sốS&P 500 Chỉ tiêu VIX được xem như là chỉ số phản ánh bất định vì nó tăng lên khinhà đầu tư lo ngại về sự không ổn định và rủi ro trong thị trường chứng khoán.Tuy nhiên, VIX như một thước đo chỉ nắm bắt được tính bất định của thị trường
và chỉ phù hợp với những thị trường đã trưởng thành, cũng như không thể mở rộng
Trang 39ở tất cả các QG (Baker và cộng sự, 2016) Bên cạnh đó, VIX dựa trên độ lệch chuẩncủa giá cổ phiếu và lợi tức cổ phiếu nghĩa là đánh giá tính bất định dựa trên phảnứng tâm lý nhà đầu tư được phản ánh qua quyết định mua bán cổ phiếu Điều nàyđồng nghĩa với việc chỉ tiêu VIX không đo lường trực tiếp tính bất định trong quátrình điều hành CSKT của chính phủ và cơ quan quản lý.
2.1.3.2 Đo lường tính bất định dựa trên thông tin nhằm tình cảm và sự sợ hãi của nhà đầu tư
Da, Engelberg và Gao (2014) phát triển một chỉ số đo lường tính bất định dựatrên nhà đầu tư tình cảm và nỗi sợ hãi của nhà đầu tư Chỉ số này được gọi là "Chỉ
số tình cảm và nỗi sợ hãi" (Sentiment and Fear Index - SFI) SFI được tính bằngcách kết hợp các thông tin từ các chỉ số khác nhau, bao gồm chỉ số VIX, chỉ số giátrị của các quỹ ETF (Exchange Traded Fund), chỉ số đánh giá tâm lý của các nhàđầu tư và các chỉ số kinh tế SFI chỉ đo lường tính bất định trong thị trường chứngkhoán Mỹ SFI có thể giúp các nhà đầu tư đánh giá mức độ rủi ro trong thị trườngchứng khoán và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Nó cũng có thể được sử dụng để
dự đoán các biến động trong thị trường chứng khoán trong tương lai
Tuy nhiên, SFI cũng chỉ đo lường tính bất định trong thị trường chứng khoán
Mỹ mà không phản ánh mức độ rủi ro của các thị trường khác Đồng thời, chỉ tiêunày cũng chỉ đánh giá dựa trên phản ứng của nhà đầu tư chứ không phải đo lườngtrực tiếp bất định trong điều hành CSKT của chính phủ và cơ quan quản lý
2.1.3.3 Đo lường bất định chính sách kinh tế dựa trên tin tức với chỉ số NVIX
Một số biện pháp mới trong đo lường tính bất định đã được đề xuất dựa trênnghiên cứu của Manela & Moreira (2017) Nhóm tác giả đã phát triển một chỉ sốdựa trên tin tức về tính bất định bằng cách sử dụng văn bản từ Wall Street Journal
và gọi nó là "Chỉ số biến động rủi ro chính trị quốc tế" (Nonparametric InternationalPolitical Risk Index - NVIX)
NVIX được tính bằng cách sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu phi tham
số, không yêu cầu các giả định về phân phối xác suất Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã
sử dụng một phương pháp gọi là "Phân tích thành phần chính động" (DynamicPrincipal Component Analysis - DPCA) để phân tích dữ liệu DPCA cho phép các
Trang 40nhà nghiên cứu phân tích các chuỗi thời gian có tính động và thay đổi theo thời gian.Các nhà nghiên cứu đã sử dụng DPCA để phân tích các chỉ số rủi ro chính trị khácnhau và xác định các thành phần chính của chúng Sau đó, họ đã kết hợp các thànhphần chính này để tính toán NVIX.
NVIX có thể giúp các nhà đầu tư đánh giá mức độ rủi ro chính trị trong cácthị trường tài chính quốc tế và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Nó cũng có thểđược sử dụng để dự đoán các biến động trong giá trị của các tài sản trên toàn thếgiới
Tuy nhiên, NVIX mặc dù có đo lường các yếu tố liên quan đến kinh tế nhưngchủ yếu tập trung vào các thông tin chính trị nhiều hơn
2.1.3.4 Đo lường bất định chính sách kinh tế dựa trên tin tức với chỉ số EPU và GEPU
a Đo lường chỉ số bất định chính sách kinh tế của mỗi quốc gia
Những nỗ lực của Manela & Moreira (2017) đã thúc đẩy Baker và cộng sự(2016) để phát triển một chỉ số đại diện cho tính bất định của CSKT bao gồm và đohầu hết các yếu tố được nhấn mạnh trong các nghiên cứu trước đó Chỉ số EPU nắmbắt tính bất định từ tin tức, chính sách, thị trường và kinh tế các chỉ số Baker vàcộng sự (2016) tổng hợp tất cả các yếu tố này thành một chỉ số mới — chỉ số khôngchắc chắn về CSKT — bằng cách sử dụng trung bình của ba phần: (1) mức độ đưatin của tờ báo về tính bất định kinh tế liên quan đến chính sách, (2) có bao nhiêuđiều khoản trong thuế liên bang mã sẽ hết hạn sớm và (3) sự bất đồng giữa các nhà
uy tín phản ánh thực tế điều hành CSKT của chính phủ và cơ quan quản lý của các
QG - đây là cơ sở để xác định tính bất định trong CSKT của mỗi nước