Bởi thế, tìm hiểu và khám phá các tác phẩm của Trịnh Hoài Đức là góp phần xác định vị trí vốn có của một con người tài năng, và để hậu thế hiểu được những cống hiến cũng như tình cảm của
Lịch sử vấn đề
Trịnh Hoài Đức sống trong một thời kỳ đầy biến động của đất nước và là một quan chức thanh liêm, tận tâm với công việc Mặc dù ông có nhiều đóng góp, hiện nay vẫn còn thiếu các nghiên cứu sâu sắc về ông và các tác phẩm của ông Tài liệu mà chúng tôi tiếp cận chưa phải là những công trình nghiên cứu toàn diện, nhưng vẫn có liên quan đến vấn đề mà luận văn đang tìm hiểu.
Từ 1945 - 1975, Trịnh Hoài Đức đã được chú ý trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập III - Văn học thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX) do Huỳnh Lý biên soạn, với 11 bài thơ được giới thiệu, tuy nhiên, số lượng này vẫn chưa phản ánh đầy đủ tầm vóc của ông Huỳnh Lý nhận định rằng Trịnh Hoài Đức nổi tiếng là một thi sĩ ở miền Gia Định, thường vịnh cảnh vật và sinh hoạt của nhân dân nơi ông sống và đi qua Ở miền Nam, nghiên cứu về Trịnh Hoài Đức diễn ra một cách kĩ lưỡng hơn.
1957, trong Sài Gòn năm xưa , Vương Hồng Sển đã nhận định “Trong nhóm người
Minh Hương có ba nhân vật quan trọng: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định, tất cả đều là những công thần vĩ đại đã góp phần xây dựng và phát triển văn hiến Việt Nam.
Nhà thơ Đông Hồ trong tuyển tập bài giảng Văn học miền Nam - Văn học Hà Tiên (1970) đã nghiên cứu về thơ ca đất Hà Tiên và nhắc đến tác phẩm Gia Định thông chí của Trịnh Hoài Đức Ông coi đây là một sử liệu và văn liệu quan trọng về Chiêu Anh Các, một tao đàn nổi tiếng tại Hà Tiên Đông Hồ đã gọi tác phẩm này là Gia Định thông chí và cho rằng nó được viết bởi Trịnh Hoài Đức trong khoảng thời gian Minh Mạng (1820 - 1841).
Năm 1971, trong tác phẩm "Biên Hòa sử lược toàn biên", Lương Văn Lựu đã giới thiệu về tiểu sử và sự nghiệp của Trịnh Hoài Đức, coi ông là một trong những đại công thần triều Nguyễn có ảnh hưởng lớn đến vùng đất Đồng Nai - Gia Định, bên cạnh các nhân vật như Trần Thượng Xuyên và Nguyễn Hữu Cảnh Lựu khẳng định rằng sự nghiệp văn chương của Trịnh Hoài Đức đã để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn hóa Việt Nam.
Hoài Đức đã đóng góp nhiều tài liệu quí giá trong kho tàng văn học và sử học nước nhà” [45; tr 138]
Năm 1972, Nguyễn Văn Sâm trong Văn học Nam Hà đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Trịnh Hoài Đức, coi ông là “người bộc lộ tình cảm với thời thế, bạn bè” và là “nhà thơ của quê hương và bạn hữu.” Cùng năm, tác phẩm Gia Định thành thông chí được Tu Trai Nguyễn Tạo dịch trọn vẹn lần đầu, trong đó ông cũng nhận định Trịnh Hoài Đức là “nhân vật pha lẫn máu Trung Hoa và Việt,” một bậc danh thần hạng nhất của triều Nguyễn, đồng thời là một người có ảnh hưởng lớn đến văn chương hậu thế.
Sau khi miền Nam được giải phóng, việc nghiên cứu vai trò của các nhà văn Nam Bộ, đặc biệt là Trịnh Hoài Đức, đã được chú trọng để tạo ra bức tranh toàn cảnh về văn học Việt Nam Công trình "Sài Gòn - Gia Định qua thơ văn xưa" (1978) của Nguyễn Thị Thanh Xuân đã giới thiệu một số bài thơ của Trịnh Hoài Đức, mặc dù không có thơ của Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định Trịnh Hoài Đức là nhà thơ đầu tiên được giới thiệu trong số các nhà thơ Nam Bộ, với bảy bài thơ trong "Cấn Trai thi tập" và bảy trích đoạn về địa danh trong "Gia Định thành thông chí" được các nhà nghiên cứu khái quát.
Nghiên cứu về Cấn Trai thi tập, các nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê, Trần Khuê cho rằng “Gia Định tam gia thi tập” là tập thơ của ba tác giả Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, được lập ra bởi Bình Dương thi xã Mặc dù nhiều người cho rằng tập thơ này đã thất lạc, chúng tôi đã phát hiện một tập thơ mang tên Gia Định tam gia thi, ghi ngày “Minh Mạng tam niên mạnh xuân cát nhật” (1822) và “Trịnh, Lê, Ngô tam gia thi hợp tuyển” Tập thơ này bao gồm Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức, Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định, và Thập Anh Đường thi tập của Ngô Nhân Tĩnh Do đó, có thể khẳng định rằng tập thơ này chính là Gia Định tam gia thi tập mà nhiều người cho là đã thất truyền Tuy nhiên, theo tài liệu, Trịnh Hoài Đức chỉ có duy nhất Cấn Trai thi tập, nên Gia Định tam gia thi tập in chung với Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh cũng chỉ là những tác phẩm trong đó.
Cấn Trai thi tập được tái bản cùng với Hoa Nguyên thi thảo và Thập Anh Đường thi tập Vào đầu thập niên 90, tác giả Nguyễn Q Thắng đã cho xuất bản tập khảo luận mới.
Tiến trình văn nghệ miền Nam (1990) ghi lại sự phát triển của văn học khu vực đồng bằng Nam Bộ từ khi hình thành đến hiện đại Tập khảo luận này nhằm tôn vinh những gương mặt văn nhân tiêu biểu, trong đó có Trịnh Hoài Đức Nguyễn Q Thắng nhận định Trịnh Hoài Đức là “một điển hình lớn của dòng văn học miền Nam vào giai đoạn đất nước mới thống nhất” và khẳng định rằng những sáng tác của ông “mãi mãi là một đóng góp lớn lao của ông trong văn hóa sử Việt.”
Trong năm 1990, cuốn sách "Những danh sĩ miền Nam" của Hồ Sĩ Hiệp và Hoài Anh đã dành nhiều trang viết để giới thiệu tiểu sử và sáng tác của Trịnh Hoài Đức Hai tác giả đánh giá rằng "Tên tuổi Trịnh Hoài Đức rất quen thuộc với nhân dân miền Nam."
43], đồng thời nhấn mạnh “Trịnh Hoài Đức là một tác giả tiêu biểu của thế kỉ 18 ở mieàn Nam” [31, tr 45]
Năm 1997, trong Tổng tập văn học Việt Nam (tập 16) [72] do Đặng Đức
Siêu (chủ biên) đã giới thiệu Trịnh Hoài Đức cùng với bốn bài thơ của ông, tuy nhiên, tác giả này chỉ có một số ít tác phẩm được trích dẫn trong tập sách Trịnh Hoài Đức là tác giả đầu tiên được giới thiệu, nhưng đáng tiếc là chỉ có vài bài thơ được lấy từ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam - tập III do Huỳnh Lý biên soạn từ trước đó.
Trong Địa chí Văn hóa Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh (tập 1) (1997), Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng đã nhấn mạnh sự nổi bật của nhóm Gia Định tam gia vào thế kỷ XVIII - giữa thế kỷ XIX, với ba nhân vật xuất sắc là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, và Ngô Nhân Tĩnh Họ thường cảm tác về những đề tài cụ thể, sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, qua đó tái hiện cảnh vật một cách sinh động, bình thường và chân thật.
Vào năm 1998, nhân kỷ niệm 300 năm thành lập Gia Định - Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, bản dịch Gia Định thành thông chí được công bố, bao gồm cả phần nguyên bản chữ Hán Bản dịch này do Viện Sử học thực hiện với sự đóng góp của các nhà nghiên cứu Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tĩnh và Đào Duy Anh Mặc dù còn nhiều thiếu sót, nhưng nỗ lực của các nhà nghiên cứu và dịch giả trong việc bảo tồn tinh hoa văn hóa dân tộc là điều đáng ghi nhận.
Vào năm 2003, Huỳnh Văn Tới và Bùi Quang Huy đã hiệu đính thơ của ba nhà thơ nổi tiếng là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh Hai nhà nghiên cứu nhận định rằng Trịnh Hoài Đức sở hữu “vốn kinh lịch chất ngất” và là đại diện tiêu biểu cho “tiếng thơ Gia Định - Đồng Nai.”
Trên các tạp chí cũng có một vài nghiên cứu được viết theo các đề mục lẻ tẻ về Trịnh Hoài Đức
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào cả địa chí và thơ ca, liên quan đến nhiều lĩnh vực như xã hội, văn hóa, lịch sử và địa lý Để giải quyết các vấn đề này, luận văn áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau.
Phương pháp văn học sử giúp đặt các tác phẩm của Trịnh Hoài Đức trong bối cảnh phát triển của nền văn học dân tộc, từ đó nhận diện sự vận động của chúng trong tiến trình văn học Nam Bộ từ thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX Qua đó, ta có thể khám phá những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức nghệ thuật trong các thể loại mà tác giả đã sử dụng.
4.2 Phương pháp phân tích: được sử dụng trong quá trình tìm hiểu các tác phẩm của Trịnh Hoài Đức để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
4.3 Phương pháp so sánh: đặt nhà thơ trong mối quan hệ đồng đại và lịch đại để vấn đề được xem xét, đánh giá khách quan hơn
Phương pháp thi pháp học và phong cách học được áp dụng để phân tích các giá trị biểu cảm trong thơ, bao gồm hình tượng và ngôn từ, nhằm khám phá phong cách riêng của tác giả Chúng tôi nỗ lực vận dụng các lý luận cơ bản của các phương pháp này vào quá trình phân tích và giải thích các vấn đề nghiên cứu, phù hợp với đối tượng và khả năng của người thực hiện.
Những đóng góp của luận văn
Trịnh Hoài Đức là một trong những nhà thơ vĩ đại của Nam Bộ từ những năm đầu mở đất, do đó, việc nghiên cứu thơ văn và vai trò của ông là rất quan trọng Luận văn này tập trung vào việc phân tích tác phẩm địa chí cùng các tác phẩm thơ của Trịnh Hoài Đức, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về nội dung và tư tưởng của nhà thơ.
Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Trịnh Hoài Đức và thời đại của ông
Tìm hiểu về tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học của tác giả
Chương 2: Gia Định thành thông chí với việc tìm hiểu đất và người Nam Bộ
Nghiên cứu về hệ thống địa lý, kinh tế, lịch sử và văn hóa trong tác phẩm địa chí đầu tiên về Nam Bộ giúp chúng ta nhận diện vai trò và ý nghĩa của tác phẩm, đồng thời tôn vinh tài năng của tác giả.
Chương 3: Thơ Trịnh Hoài Đức
Khảo sát hệ thống đề tài, chủ đề, ngôn ngữ nghệ thuật, thể loại, phản ánh cuộc sống, tâm sự của tác giả về đất nước, con người.
Đôi nét về vùng đất Nam Bộ
1.1.1 Nam Bộ thời kì sơ khai
Nam Bộ, mặc dù được ghi nhận là một miền đất trẻ với hơn 300 năm hình thành và phát triển, thực tế lại có một lịch sử tồn tại lâu dài và phức tạp hơn Các tài liệu cho thấy, trong quá trình xây dựng nhà cửa và đền đài ở Sài Gòn vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, người Pháp đã phát hiện nhiều chứng tích của thời kỳ đồ đá mới Ngoài ra, đồ đá cũ cũng được tìm thấy ở Đồng Nai, cho thấy rằng khu vực Nam Bộ đã có cư dân sinh sống từ rất xa xưa.
Vào đầu công nguyên, theo các thư tịch cổ Trung Quốc, một quốc gia tên gọi Phù Nam đã xuất hiện ở phía Nam Lâm Ấp (Chămpa), tương đương với vùng đất Nam Bộ hiện nay, nhưng đã biến mất vào khoảng thế kỉ VII SCN Nền văn hóa Óc Eo, được coi là giá trị văn hóa của cư dân bản địa Việt Nam (quốc gia Phù Nam trước đây), chịu ảnh hưởng một phần từ văn hóa Ấn Độ và phát triển rực rỡ từ thế kỉ I đến VI SCN Các sử gia Trung Quốc đã phân biệt rõ Phù Nam với Chân Lạp (Campuchia), ghi nhận rằng Chân Lạp, từng là chư hầu của Phù Nam, đã đánh chiếm và tiêu diệt quốc gia này vào khoảng thế kỉ VII SCN, dẫn đến việc Phù Nam bị xóa tên trên bản đồ cổ đại.
Vài thế kỉ sau, lưu dân Việt đã tiến vào phía Nam, chủ động tìm kiếm các phương thức làm ăn và tự tổ chức để bảo vệ bản thân.
Vào cuối thế kỉ XVI và đầu thế kỉ XVII, người Việt đã chinh phục thiên nhiên và làm chủ đất đai bằng những công cụ như búa phá rừng, phảng chém cỏ và lưỡi cày với sức kéo của trâu Nhờ đó, sự nghiệp canh tác của họ trở nên bền vững và gắn bó chặt chẽ với ruộng vườn, nơi họ đã đổ biết bao mồ hôi và nước mắt.
Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược Trên cơ sở đã có sẵn, Nguyễn Hữu Cảnh “lấy đất Nông
Nại đã thành lập phủ Gia Định và huyện Phước Long tại xứ Đồng Nai, đồng thời dựng dinh Trấn Biên tại thôn Phúc Lư hiện nay Ông cũng lập huyện Tân Bình tại xứ Sài Gòn và dựng dinh Phiên Trấn bên cạnh đồn mới ngày nay Mỗi dinh đều có các chức vụ Lưu thủ, Cai bộ và Kí lục để quản lý Sau bảy mươi năm, chính quyền Nguyễn mới bắt đầu can thiệp vào việc tổ chức người lưu dân và khẩn hoang, từ đó có chính sách khai hoang lập ấp ở vùng đất xa xôi này.
Giai đoạn từ 1623 đến 1698, kéo dài 75 năm, đánh dấu sự hình thành của Nam Bộ, khi hàng trăm ngàn dân Việt từ Trung và Bắc cùng nhau khai hoang lập ấp ở đồng bằng Đồng Nai và sông Cửu Long Trong thời gian này, Nam Bộ phát triển nông nghiệp, thương nghiệp và thủ công nghiệp, dẫn đến sự thịnh vượng của đồn thu thuế thương chánh, mặc dù có lúc bị gián đoạn Đến cuối thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã khẳng định quyền lực tại trung tâm Nam Bộ, xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng đất mà Chân Lạp chưa bao giờ thực thi đầy đủ Miền biên cảnh Nam Bộ đã được sát nhập vào cương vực Việt Nam một cách hòa bình và hòa hợp dân tộc.
1.1.2 Nam Bộ thời nhà Nguyễn Đến đầu thế kỉ XVIII, vùng đất Nam Bộ vẫn còn rất hoang vu Sách Phủ biên tạp lục ghi rằng “Từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” [12, tr 359] Những lưu dân Việt vào mở đất trên địa vực này còn phải đấu tranh gay go với cọp, với cá sấu mà giờ đây vẫn còn nhiều caõu ca dao lửu truyeàn: Đồng Nai xứ sở lạ lùng, Dưới sông cá lội, trên giồng cọp um
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn, Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma
Tới đây xứ sở lạ lùng,
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh
Trước vẻ đẹp hoang dã và bí ẩn của thiên nhiên, lưu dân Việt đã trải qua những cảm giác ngại ngùng Tuy nhiên, chính nỗi sợ hãi đó lại thúc đẩy họ quyết tâm hơn, bằng sức lao động và trí tuệ, họ đã biến miền đất hoang sơ thành những cánh đồng phì nhiêu và những thành phố đông đúc.
Trong lịch sử thiết lập kinh đô của Việt Nam với sự hình thành của kinh Hoa
Lư (968), Thăng Long (1010), Tây Đô (tục gọi thành nhà Hồ ở Thanh Hóa - 1396), Phú Xuân (Huế - 1678), Trung Đô (tức thành Đô bàn của Nguyễn Nhạc ở Bình Định
Gia Định, được thành lập vào năm 1778 và trở thành thủ phủ mới của vùng đất Nam Bộ vào năm 1790, đã có quá trình phát triển nhanh chóng và ấn tượng Trong khi Hoa Lư, Tây Đô và Trung Đô chỉ còn là những di tích lịch sử, Hà Nội và Huế, đặc biệt là Hà Nội, đã giữ vị trí kinh sư và thủ đô của cả nước trong thời gian dài, xứng đáng với danh hiệu “ngàn năm văn vật” Mặc dù Gia Định ra đời muộn hơn, nhưng sự vươn lên mạnh mẽ của nó ngày càng được khẳng định.
Cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, Nam Bộ nổi bật với nền kinh tế phát triển và đời sống văn hóa, tinh thần phong phú Thời kỳ này chứng kiến sự phân chia rõ ràng giữa các tầng lớp xã hội như sĩ, nông, công, thương Khu vực này được mô tả là “chợ phố liên lạc, nhà tường, nhà ngói liên tiếp cùng nhau… xưng làm đại đô hội ở Gia Định, cả nước không đâu sánh bằng” [19, tr 188].
Lịch sử Gia Định dưới chế độ phong kiến Nguyễn tương đối ngắn, chỉ vài trăm năm, nhưng lại hết sức sôi nổi, đầy những sự biến lớn
Năm 1705, triều đình Chân Lạp xảy ra chia rẽ, với phe Nặc Ông Thậm tìm kiếm sự hỗ trợ từ quân Xiêm, trong khi phe Nặc Ông Yêm lại cầu viện chúa Nguyễn ở Gia Định Để đối phó, chúa Nguyễn đã cử Nguyễn Cửu Vân lên Chân Lạp để đánh quân Xiêm và đưa Nặc Ông Yêm về kinh thành.
Vào năm 1714, phe Thậm đã đánh bại phe Yêm, khiến Yêm phải cầu cứu từ Gia Định Đề đốc Trần Thượng Xuyên đã dẫn quân lên Chân Lạp để đánh đuổi phe Thậm, nhằm khôi phục quyền lực cho vua Yêm.
Những năm 1729, 1747, 1753, 1772 còn có những cuộc chiến tranh giữa quân Nguyễn ở Gia Định với quân Xiêm trên đất Chân Lạp, Nguyễn Hữu Đoàn, Nguyễn
Cư Trinh và Nguyễn Cửu Đàm đã chọn Gia Định làm căn cứ hành quân, nơi có đông dân cư, kho bãi phong phú, trại lớn, giao dịch sôi động và đồn lũy kiên cố.
Năm 1776, chúa Nguyễn phải trốn vào Gia Định do bị quân Tây Sơn và quân chúa Trịnh tấn công Nguyễn Phúc Thuần tạm trú ở chợ Sỏi (Sài Gòn) nhưng nhanh chóng bị quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy truy kích Sau khi chạy thoát về miền vườn đồng bằng sông Cửu Long, Tây Sơn lần đầu tiên làm chủ Sài Gòn Tuy nhiên, quân chúa Nguyễn sau đó đã giành lại Gia Định nhờ vào sự bất tài của Nguyễn Lữ Dù vậy, chiến thắng của Nguyễn Phúc Thuần vẫn rất mong manh Quân Tây Sơn tiếp tục cuộc Nam tiến và lần thứ hai vào Nam Bộ do hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ dẫn đầu, nhanh chóng đánh bại quân chúa Nguyễn, dẫn đến cái chết của Nguyễn Phúc Thuần.
Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi chúa và tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nước phương Tây, không chỉ riêng Pháp, trong bối cảnh nội chiến Việt Nam Ông tập hợp lực lượng và chiếm lại Nam Bộ sau khi Nguyễn Huệ rút quân về Qui Nhơn Để bảo vệ Gia Định, Nguyễn Phúc Ánh đã nhận sự trợ giúp từ các sĩ quan và kỹ sư Pháp, cùng với việc mua sắm vũ khí và tàu từ công ty Ấn Độ của Pháp Khi quân Nguyễn chiếm Gia Định, Nguyễn Huệ đã cử quân vào Nam lần thứ ba vào năm 1783, dẫn đến trận thủy chiến quan trọng trên sông Nhà Bè, nơi tàu đồng Tây Phương của Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh chìm, và thuyền trưởng người Pháp Manuel đã thiệt mạng trong trận chiến.
Tiểu sử và sự nghiệp văn học của Trịnh Hoài Đức
Trịnh Hoài Đức, sinh năm Aát Dậu (1765) và mất năm Aát Dậu (1825), còn được biết đến với tên gọi An, tên tự Chỉ Sơn, và hiệu Cấn Trai, là người gốc Trung Quốc thuộc dòng dõi khoa hoạn thời nhà Minh Sau khi nhà Minh bị Mãn Thanh lật đổ, gia đình ông không chịu phục tùng nhà Thanh và đã di cư vào phương Nam, định cư tại Trấn Biên, Gia Định theo kế hoạch chiêu dân của các chúa Nguyễn Ông tự nhận mình có nguồn gốc từ làng Phúc Hồ, huyện Trường Lạc, phủ Phúc.
Châu, tỉnh Phúc Kiến, có cụ tổ xa đời là Hoàn Phổ công, từng giữ chức Thượng thư bộ Binh và hưu trí vào cuối triều Minh Gia đình ông có truyền thống học hành và theo nghiệp Nho Khi nhà Thanh xâm lược Trung Quốc, ông tôi không chấp nhận thay đổi phong tục tập quán, nên đã sang nước Nam, sống tại xã Thanh Hà, huyện Bình.
Ông nội của tác giả đến miền Nam từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần, ban đầu định cư tại Phú Xuân (Huế) trước khi chuyển đến Biên Hòa Ông ngoại, Lâm Tô Quan, là người huyện Tấn Giang, tỉnh Phúc Kiến, nổi tiếng trong thời kỳ đó và đã cùng cha con dâng vàng xin làm chức Nội viện thị hàn, được chúa khen ngợi là phú hào Gia đình tác giả đã đến Nam Bộ cùng thời với Mạc Cửu và Trần Thượng Xuyên.
Trịnh Khánh, một người ham học từ nhỏ, nổi bật với khả năng viết chữ đại tự và chơi cờ Dưới triều đại Thế tông Hoàng đế, ông được bổ nhiệm làm cai thu ở An Trường và sau đó thăng tiến lên cai đội ba trường: Quy Nhơn, Quy Hóa và Bá Canh.
Năm 1775, cha của Trịnh Hoài Đức qua đời khi ông mới 10 tuổi, và mẹ ông đã đưa ông về quê ở thôn Bình Trước, trấn Biên Hòa Đến năm 1870, bà cho ông theo học thầy Võ Trường Toản, trong suốt thời gian học tập, Trịnh Hoài Đức luôn thể hiện sự thông minh và ham học hỏi.
Sách Đại Nam chính biên liệt truyện của triều Nguyễn ghi chép đầy đủ về cuộc đời Trịnh Hoài Đức, cho biết rằng vào năm Mậu Thân, ông cùng Lê Quang Định thi đỗ và được bổ nhiệm vào Hàn lâm Viện chế cáo Năm sau, ông được giao nhiệm vụ tại huyện Tân Bình, khuyến khích việc trồng dâu và làm ruộng Ông cũng tham gia vào Bộ Hình, nơi ông nắm rõ các vấn đề hình danh và chính sự Cuối cùng, ông được bổ nhiệm làm thị giảng cho Đông cung và tham gia vào các công việc cơ mật khi Đông cung tiến quân đến Phú Yên.
Vào năm Quý Dậu (1801), Nguyễn Vương đã khắc phục thành Phú Xuân, trong khi hai tướng Tống Viết Phúc và Lê Văn Duyệt cử quân giải vây thành Bình Định cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu Trịnh Hoài Đức ở lại Quảng Nam và Quảng Ngãi để lo việc thu hoạch và tiếp vận quân lương, lúc này ông đã đạt chức Tham tri bộ Hộ, phụ trách công việc quân lương.
Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Aùnh thăng chức cho Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư bộ Hộ, lĩnh chức chánh sứ, cầm đầu phái đoàn gồm Binh bộ Tham tri Ngô Nhân Tĩnh và Hình bộ Tham tri Hoàng Ngọc Uẩn sang Trung Quốc, lập bang giao với triều Thanh, trình ủy nhiệm thư và giao trả ấn sách mà trước đây nhà Thanh đã ban cho vua Tây Sơn Chuyến đi này, Trịnh Hoài Đức đã đi qua nhiều nơi: Quảng Tây, Hán Khẩu, Vạn Lý Trường Thành, Cổ Bắc, Nhiệt Hà, được các viên quan đứng đầu Lưỡng Quảng (Quảng Đông - Quảng Tây) rất trọng thị
Sau khi hoàn tất công việc ngoại giao, phái bộ Trịnh Hoài Đức cùng Aùn sát Quảng Tây do Tề Bố Xâm dẫn đầu đã được chỉ định tuyên phong Thế tổ Cao Hoàng Gia Long qua cửa Nam Quan trở về nước Trịnh Hoài Đức sau đó trở về và nhậm chức tại bộ Hộ.
Vào tháng 4 năm 1804, Gia Long đã ra lệnh cho Trịnh Hoài Đức thống kê số tiền thuế thóc hàng năm để phục vụ cho việc xây dựng Cung Thành và Hoàng Thành ở Huế.
Vào năm 1805, Gia Long đã bổ nhiệm Chưởng trung quân Nguyễn Văn Trương làm Lưu trấn Gia Định, với Trịnh Hoài Đức giữ chức Hiệp tổng trấn để hỗ trợ Trương trong việc quản lý thành Gia Định Đến tháng 9 năm 1808, triều Nguyễn chính thức thiết lập chức Tổng trấn Gia Định thành, triệu hồi Nguyễn Văn Trương về kinh và bổ nhiệm Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn, trong khi Trịnh Hoài Đức tiếp tục giữ vai trò Hiệp tổng trấn.
Tháng 6 năm Nhâm Thân (1812), Trịnh Hoài Đức về Phú Xuân dự lễ Ninh Lăng Hiếu Khương Hoàng hậu, và đến tháng 7 ông được giao làm Thượng thư bộ Lễ kiêm quản tòa Khâm Thiên giám Tháng 12 năm Quí Dậu (1813), Trịnh Hoài Đức từ cương vị Thượng thư bộ Lễ được thăng làm Thượng thư bộ Lại Tham tri bộ Lại Phạm Đăng Hưng thay ông làm Thượng thư bộ Lễ
Vào năm Bính Tý (1816), ông đảm nhận chức Hiệp tổng trấn tại Gia Định và đến đầu năm 1820, ông được bổ nhiệm làm Tổng trấn Gia Định thành, thay thế Nguyễn Văn Nhân.
Năm Minh Mạng thứ hai (1821), Trịnh Hoài Đức được bổ nhiệm làm Phó tổng tài ở Quốc sử quán và sau đó thăng chức Hiệp Biện đại học sĩ, đồng thời đảm nhiệm chức Thượng thư bộ Lại và Thượng thư bộ Binh Đại Nam chính biên liệt truyện ghi nhận rằng trước đó, trong ban quan văn chưa có ai được trao tặng chức vụ nhất phẩm.
Thánh tổ đã quyết định trao quyền cho Đức và đã hỏi ý kiến các quan đại thần như Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên, những người đều đồng ý với quyết định này Tuy nhiên, Đức đã biết tin và dâng biểu từ chối, dẫn đến việc Vua đã ra chỉ dụ liên quan.