1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm của đề trong câu tiếng việt và câu tiếng anh

122 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm của đề trong câu tiếng Việt và câu tiếng Anh
Tác giả Nguyễn Tuyết Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Cổng Đức
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cái sách lược mà ngôn ngữ dùng để diễn đạt một mệnh đề một nhận định là tạo ra một cấu trúc đồng dạng với mệnh đề - cấu trúc chủ - vị predecation trong đó chủ ngữ biểu thị chủ đề của mện

Trang 1

* * * * * * * *

NGÔ TUYẾT PHƯỢNG

ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỀ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT VÀ CÂU TIẾNG ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.01

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

* * * * * * * *

NGÔ TUYẾT PHƯỢNG

ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỀ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT VÀ CÂU TIẾNG ANH

Trang 3

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

Trang 4

Dấu -: không

Dấu {…} phần từ ngữ lược bỏ khi trích dẫn

Dấu ? đặt trước một câu: câu khó chấp nhận hay thiếu tự nhiên

Từ ngữ đặt trong dấu ( ) : từ ngữ giải thích thêm cho điều nói trước đó

Chữ nhỏ viết sát bên phải chữ viết thường: đánh dấu quan hệ đồng sở chỉ của

các danh ngữ trong câu Ví dụ: Aii

Kí hiệu ø: thành phần bị tỉnh lược

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 1

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 21

4 Phương pháp nghiên cứu 21

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 21

6 Bố cục của luận văn 22

Chương 1 ĐỀ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT 23

1.1 Những thuộc tính ngữ pháp (Grammar) 23

1.1.1 Khái niệm và phân loại 23

1.1.2 Những thuộc tính ngữ pháp của Đề 28

1.1.2.1 Tính xác định 28

1.1.2.1.1 Tính xác định của Chủ đề 29

1.1.2.1.2 Tính xác định của Khung đề 33

1.1.2.2 Tính không thể lược bỏ 34

1.1.2.3 Vị trí của Đề 35

1.1.2.4 Các quá trình ngữ pháp (grammatical processes) 38

1.1.2.4.1 Đề của câu là Chủ đề kiểm định việc tỉnh lược danh ngữ đồng sở chỉ 38

1.1.2.4.2 Đề của câu là Chủ đề kiểm định việc sử dụng đại từ “mình” 42

1.1.2.4.3 Đề của câu là Chủ đề kiểm định việc sử dụng từ “đều” 42

1.1.2.4.4 Đề của câu là Chủ đề kiểm định về cái cũ/ cái mới 42

1.1.3 Phương tiện đánh dấu sự phân chia Đề - Thuyết 43

1.1.3.1 Thì , Là, Mà 43

1.1.3.2 Những phương tiện bổ sung để phân giới Đề - Thuyết 46

1.2 Thuộc tính nghĩa học (semantics) của Đề trong câu tiếng Việt 47

1.2.1 Tác thể (Agent) 47

1.2.2 Hành thể (Actor) 47

1.2.3 Động thể (Processed) 48

1.2.4 Lực (Force) 48

1.2.5 Chủ thể của tư thế (Positioner) 48

1.2.6 Chủ thể của trạng thái 49

1.2.7 Đối thể (Patient) 49

Trang 6

1.2.8 Tiếp thể (Recipient) 49

1.2.9 Thời gian (Time) 50

1.2.10 Vị trí (Location) 50

1.2.11 Công cụ (Instrument) 50

1.2.12 Điều kiện (Condition) 50

1.3 Những thuộc tính dụng pháp của Đề trong câu tiếng Việt 51

1.3.1 Đề trong mối quan hệ với Thuyết 51

1.3.2 Đặc quyền của Đề trong câu 52

Tiểu kết 53

Chương 2 ĐỀ TRONG CÂU TIẾNG ANH 55

2.1 Những thuộc tính ngữ pháp của Đề trong câu tiếng Anh 55

2.1.1 Tính không xác định và xác định đối với Đề 55

2.1.2 Vị trí của Đề 56

2.2 Đề: định nghĩa và phân loại 57

2.2.1 Định nghĩa 57

2.2.1.1 Đề là Chủ đề: (Topic) 58

2.2.1.2 Đề là cái cho sẵn, cái cũ 58

2.2.1.3 Đề - Thuyết trong Tỉ lực thông báo 58

2.2.1.4 Đề là xuất phát điểm của thông điệp 58

2.2.2 Phân loại 59

2.2.2.1 Nội đề 59

2.2.2.2 Ngoại đề 59

2.3 Thuộc tính nghĩa học của Đề trong câu tiếng Anh 60

2.3.1 Tác thể (Agent) 60

2.3.2 Hành thể (Actor) 60

2.3.3 Lực (Force) 61

2.3.4 Động thể (Processed) 61

2.3.5 Nghiệm thể (Experiencer) 61

2.3.6 Đương thể (Carrier) 61

2.3.7 Đối thể /Mục tiêu (Patient) 62

2.3.8 Tiếp thể (Recipient) 62

2.4 Những thuộc tính dụng pháp của Đề trong câu tiếng Anh 63

2.4.1 Nội đề: (Đề trùng với chủ ngữ ngữ pháp) 63

2.4.2 Ngoại đề (Đề không trùng với Chủ ngữ ngữ pháp) 63

2.4.2.1 Đề ngữ làm Đề đánh dấu 63

2.4.2.2 Đề trong câu chẻ (cleft sentence) 65

2.4.2.3 Đề trong câu có chủ ngữ giả (dummy subject) 67

2.4.2.4 Đề trong câu tồn tại 67

2.4.3 Quyền kiểm định của Đề trong câu 68

Trang 7

2.4.3.1 Quyền kiểm định việc lược bỏ danh ngữ đồng sở chỉ 69

2.4.3.2 Quyền kiểm định đại từ hồi chỉ 69

2.4.3.3 Quyền kiểm định đại từ phản thân 71

2.4.3.4 Chủ đề là một trong những người đang đối thoại 72

2.4.3.5 Chủ đề là nhân vật hay đề tài được nói đến trong câu chuyện hay trong đoạn văn 72

2.4.3.6 Chủ đề là người tiếp nhận câu nói trong mệnh lệnh 73

2.4.3.7 Trong các hình thức thư từ, Chủ đề cầu mong có thể vắng mặt 73

2.4.3.8 Trong câu khẩu hiệu hành động, Chủ đề thường vắng mặt 73

Tiểu kết 73

Chương 3 SO SÁNH ĐỀ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT VÀ ĐỀ TRONG CÂU TIẾNG ANH THEO TIÊU CHÍ LOẠI HÌNH 75

3.1 Đối chiếu theo loại 76

3.1.1 Đối chiếu theo Chủ đề 76

3.1.2 Đối chiếu theo Khung đề 79

3.2 Đối chiếu theo thuộc tính ngữ pháp và nghĩa học 83

3.2.1 Vị trí của Đề 83

3.2.2 Tính xác định 84

3.2.3 Thuộc tính cú pháp của Đề 86

3.2.3.1 Khung đề 86

3.2.3.2 Chủ đề 87

3.3 Đối chiếu về mặt cấu tạo 89

3.3.1 Đối chiếu Chủ đề về mặt cấu tạo 89

3.3.1.1 Ngữ đơn có thể là danh ngữ, có thể là một danh động từ (gerund), 89

3.3.1.2 Đề là ngữ kép được chia làm hai loại: ngữ kép chính phụ và ngữ kép đẳng lập 91

3.3.2 Đối chiếu Khung đề về mặt cấu tạo 95

3.4 Vận dụng Cấu trúc Đề - Thuyết vào việc dạy và học tiếng Việt 97

3.4.1 Thực trạng của việc dạy và học tiếng Việt 97

3.4.2 Vận dụng Đề Thuyết vào việc dạy và học tục ngữ, thành ngữ Việt 101 3.4.2.1 Linh hồn Việt 101

3.4.2.2 Vận dụng lí thuyết Đề - Thuyết để dạy và học tục ngữ, thành ngữ Việt 101

3.4.2.2.1 Khái niệm tục ngữ 101

3.4.2.2.2 Phân loại tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt theo quan điểm Đề - Thuyết 102

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo Benveniste, 1961: “Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của

văn bản Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tế” (Cao Xuân Hạo,

2006: 27)

Về phương diện cấu trúc, Bloomfield (1933: 170) và Lyons (1968:172s, 176)

cho rằng: “Câu là đơn vị được cấu tạo bằng những thành tố ngữ pháp, nhưng nó

không thể làm thành tố ngữ pháp trong một đơn vị nào lớn hơn” Về phương diện

chức năng: “Câu là sự thể hiện ngôn ngữ học của một mệnh đề (proposition)”

(Sapir 1921: 35)

Các nhà ngữ pháp hình dung cấu trúc câu, bắt nguồn từ Aristoteles, được khẳng định trong ngữ pháp Port - Royal và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay: Cấu trúc chủ - vị là điều kiện của tính trọn vẹn của câu, vì nó biểu hiện cấu trúc của mệnh đề (trong đó chủ ngữ biểu thị chủ đề của mệnh đề và vị ngữ biểu thị điều được nhận định [sở thuyết] của mệnh đề)

Trong ngữ pháp truyền thống, câu được nghiên cứu tập trung ở cấu trúc cú pháp hình thức với các thuật ngữ chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ

Hiện nay, câu được nghiên cứu ở cả mặt nghĩa và mặt sử dụng Với sự tiếp nhận những thành tựu của ngữ pháp học hiện đại, câu được chọn theo định hướng

“ngữ pháp chức năng - hệ thống” của M.A.K Halliday và được trình bày dưới hình thức tối giản Câu đơn được hiểu là câu chứa “một mệnh đề ngôn ngữ” gồm có chủ ngữ (subject) và vị ngữ (predicate), trong vị ngữ có vị tố (predicator) và bổ ngữ (complement) Câu đơn tương đương với “cú” trong tiếng Anh hay với “cụm chủ - vị” theo cách gọi của ngữ pháp Việt Nam trước đây

Muốn nói một câu, người phát phải chọn điểm bắt đầu, phần bắt đầu câu nói được chọn làm phần Đề của câu, phần tiếp theo là phần Thuyết Nếu cấu trúc cú pháp của câu là phần tương đối ổn định thì cấu trúc Đề - Thuyết cho thấy khả năng biến động tối đa của các cấu trúc cú pháp khi sử dụng câu

Phương pháp phân tích câu theo cấu trúc Đề - Thuyết của Ngữ pháp chức năng là phương pháp ra đời tương đối muộn, bề dày lí thuyết chưa nhiều Phương

Trang 9

pháp này có được giảng dạy ở bậc đại học nhưng với số tiết khá khiêm tốn, do vậy sinh viên khá lúng túng khi phải thực hiện

Luận văn góp thêm vào quan điểm cấu trúc Đề - Thuyết và làm sáng tỏ phần

Đề của cấu trúc này thông qua việc phân tích loại hình của Đề trong câu tiếng Việt

và câu tiếng Anh nhằm minh chứng: loại hình của Đề trong câu tiếng Việt là Nội đề , loại hình của Đề trong câu tiếng Anh là Ngoại đề

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Đề trong ngôn ngữ học

Khi các nhà ngữ pháp nhận thấy rằng trong câu còn có một cái gì đó bao quát hơn khái niệm chủ ngữ, họ bắt đầu chú ý nhiều hơn đến nghĩa của câu và lấy

danh từ gốc Hy Lạp là “ thema” (có nghĩa là chủ đề, đề tài) để gọi khái niệm này

Trên cở sở đó khái niệm Đề - Thuyết đã ra đời

Platon, trong thiên Theates (Théètète) cho rằng: “ Ngôn ngữ là sự biểu hiện

của tư duy bằng cách dùng những onoma và những rhema” Onoma là “tên”, là

“danh từ”, là “chủ đề”, là “sở đề” Rhema là “vị từ”, là “vị ngữ”, là “sở thuyết” Onoma va Rhema là hai thành phần cơ bản của một logos – “câu”, “mệnh đề ”

(dẫn theo Cao Xuân Hạo, 2006: 64)

Các nhà triết học quỷ biện (sophistes) định nghĩa rhema là “tên của hành động”, còn onoma là “tên người hành động ” (dẫn theo Cao Xuân Hạo, 2006: 64) Trong tất cả các ngôn ngữ, câu bao giờ cũng mang tính chất một thông điệp Câu có hình thức tổ chức để làm cho nó có giá trị thông báo và có nhiều cách để thực hiện việc này Khi nói hoặc viết, người ta định hướng khai triển của tư duy bằng cách chọn đối tượng này hay đối tượng khác trong sự tình được diễn đạt làm

đề tài để nhận định, để nói một điều gì đó về nó Cái bộ phận của câu được chọn làm đề tài ấy được gán cho một cương vị đặc biệt và được đưa ra làm Đề, bộ phận này kết hợp với phần còn lại và hai thành phần này làm thành một thông điệp Các nhà ngữ pháp trước đây khi nghiên cứu về chủ ngữ trong kết câu chủ - vị thường có xu hướng tách rời mặt cú pháp ra khỏi mặt ngữ nghĩa và chức năng Làm như vậy là tách cái thành phần câu vốn có chức năng biểu thị chủ đề của mệnh đề

Trang 10

ra khỏi chức năng đó và như thế chủ ngữ không có liên hệ trực tiếp với nội dung của sự vật làm đề tài cho điều được thông báo trong vị ngữ Cho nên khi cảm thấy

chủ ngữ còn mang một cái nghĩa gì đó ngoài tính chất là “thành phần chính của một

câu song phần, về phương diện ngữ pháp không lệ thuộc vào các thành phần khác của câu ” (Akhmanova, 1966: 329), một số tác giả vẫn chưa xác định hẳn được cái

nghĩa đó là nghĩa logic của câu

Nói như Sapir “Câu là sự thể hiện ngôn ngữ học của mệnh đề ”(1921: 35),

nghĩa là để diễn đạt một hành động nhận định của tư duy hay phản ánh một sự tình

Để biểu hiện sự tình này ra thành lời nói, thành câu, người ta phải chọn cái làm điểm xuất phát để khai triển nội dung Ngữ pháp duy lí thời Trung cổ gọi điểm xuất

phát này là subjectum Do đồng nhất với logic ngữ pháp nên trong một thời gian

dài người ta đã dùng thuật ngữ này để chỉ khái niệm “chủ ngữ” của câu Chủ ngữ đã trở thành một trong những khái niệm cơ bản của ngữ pháp truyền thống các thứ tiếng Ấn - Âu, được hiểu với nhiều nội dung khác nhau, theo nhiều quan niệm khác nhau

Cái sách lược mà ngôn ngữ dùng để diễn đạt một mệnh đề (một nhận định) là tạo ra một cấu trúc đồng dạng với mệnh đề - cấu trúc chủ - vị (predecation) trong đó chủ ngữ biểu thị chủ đề của mệnh đề, và vị ngữ biểu thị điều được nhận định (sở thuyết - praedication) của mệnh đề

Chính vì vậy mà người ta dùng chính hai danh từ subject và predicate của logic học để chỉ hai thành phần làm thành một câu - một đơn vị của lời nói có tính độc lập nhờ sự trọn vẹn về nội dung của nó

Cuối thế kỉ XIX, người ta bắt đầu nhận thấy rằng cấu trúc của câu không tương ứng với cấu trúc mệnh đề O.Jespersen (1924) cho ta một bức tranh cực kì phong phú về những suy nghĩ của các nhà ngữ học, logic học và tâm lí học xung quanh ý nghĩa của chủ ngữ và vị ngữ, trong đó có thể thấy rõ có một cái gì đó không minh bạch trong sự phân chia chủ - vị của ngữ pháp.Và từ đây xuất hiện hàng loạt các ý kiến nhằm xác định lại nội dung của hai thuật ngữ chủ ngữ và vị ngữ cổ truyền, và kế đến là những sáng kiến đề ra những khái niệm mới

Trang 11

R Quirk và S Greenbaun cho chủ ngữ là “một danh ngữ hay cú ở danh cách,

đứng trước động từ trong câu trần thuật và đứng ngay sau tác tử trong câu hỏi, phù hợp về số và ngôi của động từ”.(dẫn theo Nguyễn Thị Ảnh, 2005: 9)

M A K Halliday quan niệm chủ ngữ ngữ pháp là “cái mà một điều gì đó

được khẳng định về nó” Ông cho kết cấu chủ - vị vẫn được coi là một quan hệ ngữ

pháp thuần túy hình thức, nó kiểm định những đặc trưng ngữ pháp khác, chẳng hạn như hình thái cách của danh từ hay đại từ làm chủ ngữ, sự phù hợp về số và giống giữa chủ ngữ với động từ và nó không biểu hiện một nghĩa đặc thù nào

O.Jespersen không đồng tình với quan niệm logic định nghĩa chủ ngữ là cái được nói đến và vị ngữ là điều nói về chủ ngữ và than phiền cho sự rủi ro của các nhà ngữ pháp là phải dùng cái từ subject, trong ngôn ngữ ngày nay vốn có nghĩa là

“đề tài” (topic, subject - matter) (O.Jespersen 1924: 145- 150)

Emeneau (1951) quan niệm một cách giản dị trong tiếng Việt “chủ ngữ

thường là một thực thể từ đơn tự hay là một nhóm thực thể từ”

Các sách ngữ pháp tiếng Việt trước kia thường dùng thuật ngữ “chủ từ” để

chỉ khái niệm chủ ngữ Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm quan niệm “chủ

từ là tiếng đứng làm chủ trong mệnh đề” (1940: 21, 22)

Nguyễn Kim Thản thì cho rằng “chủ ngữ của câu song phần tiếng Việt biểu

thị đối tượng tường thuật của vị ngữ và có những đặc trưng (hoạt động, trạng thái, thuộc tính, tính chất, chủng loại) do vị ngữ biểu thị, đứng ở vị trí 1 trong câu”

(1964, II: 176)

B Comrie (1981) cũng đi tìm một cách định nghĩa phổ quát của chủ ngữ

gồm nhiều nhân tố, nhưng không phải căn cứ vào “ những chuẩn tắc cần và đủ để

xác định chủ ngữ” Ông cho rằng “ nguyên mẫu của chủ ngữ là điểm cắt giữa hành thể (agent) và chủ đề (thème) nghĩa là những dẫn chứng hiển nhiên nhất về chủ ngữ qua các ngôn ngữ đều là những ngữ đoạn chỉ kẻ hành động đồng thời chỉ chủ đề của câu” (Comrie 1981: 101), nhưng cũng có những ngôn ngữ trong đó có những

cấu tạo gồm những chủ ngữ không phải là chủ đề hoặc không phải là hành tố hoặc vừa không phải là hành tố không phải là chủ đề

Trang 12

Comrie xuất phát từ một định đề tiên nghiệm cho rằng trong cấu trúc câu của mọi ngôn ngữ đều phải có một ngữ đoạn làm chủ ngữ (ngữ pháp), có thể không trùng với chủ đề và không trùng với hành tố

A Martinet đã căn cứ vào dấu hiệu hình thái học những đặc trưng cú pháp, coi chủ ngữ gồm có những thuộc tính sau đây: không thể lược bỏ, vị trí trước vị ngữ, sự phù ứng với động từ trong câu, tính không phổ quát Ngoài ra tác giả còn quan tâm tới thái bị động và coi nó là một đặc trưng tiêu biểu của cấu trúc chủ - vị Khi lí thuyết ngữ pháp phát triển và khái niệm chủ ngữ được mở rộng, các nhà ngữ học đã gán cho chủ ngữ nhiều thuộc tính và nhiều chức năng khác nhau, có thể tổng kết lại thành hai định nghĩa khái quát sau:

(1) The teacher gave my daughter this pen

“Thầy giáo tặng con gái tôi cây bút này.”

Trong câu (1) The teacher vừa là chủ ngữ logic vừa là chủ ngữ ngữ pháp

(2) This pen, my daughter was given by the teacher

“Cái bút này, con của tôi được thầy giáo tặng.”

Trong ví dụ (2) chủ ngữ ngữ pháp là my daughter, là người mà nhận định

của thông điệp khẳng định và là yếu tố mà người ta có thể tranh luận về tính xác

thực hay không xác thực của câu Còn chủ ngữ logic vẫn là the teacher, người làm

ra hành động, là người thực hiện cái quá trình mà câu thể hiện

Các nhà ngữ học trong các ngôn ngữ Ấn - Âu thường phân biệt hai loại chủ ngữ này Họ cho rằng chủ ngữ ngữ pháp khác chủ ngữ logic ở chỗ chủ ngữ ngữ pháp chỉ căn cứ vào dấu hiệu hình thái (sự hợp về số, ngôi và giống với động từ), nghĩa là chỉ xét hoàn toàn về mặt hình thức Còn chủ ngữ logic là kẻ gây ra hành

Trang 13

động, là chủ thể của hành động Chủ ngữ ngữ pháp có khi trùng, có khi không trùng với vai chủ thể

(3) Tôi mua cái bàn

“ Tôi” vừa là chủ ngữ vừa là chủ thể

(4) This table was bought by me

“ Cái bàn này được mua bởi tôi.”

This table được coi là chủ ngữ nhưng không phải chủ thể hành động, chủ

thể hành động là me, như vậy me là chủ ngữ logic

Trong tiếng Anh có thể phân biệt rõ ràng chủ ngữ ngữ pháp với chủ ngữ logic vì đó là thứ tiếng có biến hoá hình thái, còn tiếng Việt là ngôn ngữ không có biến tố nên việc phân biệt hai loại chủ ngữ trên không phải dễ dàng

Ngoài hai loại chủ ngữ trên, trong nhiều ngôn ngữ người ta còn bắt gặp một loại chủ ngữ khác là chủ ngữ tâm lí, xem lại ví dụ (2):

This pen, my daughter was given by the teacher

“This pen” là cái mà thông điệp quan tâm đến, là điều mà người nói chọn làm điểm xuất phát của câu và được gọi là chủ ngữ tâm lí

Các tác giả Việt Nam nhận thấy rằng rất khó phân biệt giữa chủ ngữ ngữ pháp, chủ ngữ logic và chủ ngữ tâm lí Do vậy họ đã dùng các khái niệm chủ đề, từ

- chủ đề, khởi ngữ, thành phần khởi ý để gọi cái thành phần thường đứng ở đầu câu này

Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, ngoài chủ từ (chủ ngữ) và thuật từ (vị ngữ), còn đưa thêm một thành phần chính thứ ba của câu là chủ đề với cách hiểu chủ đề lại thuộc ngữ pháp

(5) a Cái ấy nó không làm được đâu

b Tài thì hai người ngang nhau

Hai tác giả cho rằng chủ đề (Cái ấy, Tài) đứng đầu câu, dùng để diễn tả

thoại đề mà không phải chủ từ và có trường hợp câu có hai chủ đề như sau:

(6) Nó môn gì cũng giỏi

Trong câu trên, Nó là chủ đề thứ nhất, môn gì là chủ đề thứ hai

Trang 14

Nguyễn Kim Thản, ngoài thành phần chủ yếu là chủ ngữ, còn đưa thêm

thành phần thứ hai là khởi ngữ Theo tác giả “khởi ngữ là thành phần thứ yếu của

câu thường xuyên đứng ở vị trí 1 trong câu song phần… Khởi ngữ biểu thị chủ đề logic của câu nói”

(7) a Giàu, tôi cũng giàu rồi (Nguyễn Công Hoan)

b Mấy người này, tôi gặp họ rồi

c Nó, mình phải đưa đi mới được

Các câu (7), khởi ngữ là Giàu, Mấy người này, Nó biểu thị chủ đề logic của câu

và đứng ở vị trí đầu câu

Trong trường hợp cá biệt, khởi ngữ có thể đặt giữa chủ ngữ và vị ngữ

(8) Cuốn sách ở trên kia, đọc thì cũng đọc được đấy, nhưng mà đọc rồi thì chẳng

có ích gì

Những ví dụ trên cho thấy chủ đề của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê hay khởi ngữ của Nguyễn Kim Thản thực ra cũng là chủ ngữ tâm lý vì đó là điều

mà người nói chọn làm điểm khởi đầu để triển khai câu

Cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (Bưxtrov, I.X.; Nguyễn Tài Cẩn & Xtankêvich N.V 1975) gọi thành phần này là từ - chủ đề

(9) a Bộ đội, họ gan dạ lắm

b Miệng ông, ông nói, đình làng, ông ngồi (Ngô Tất Tố)

Bộ đội trong câu (9)a, Miệng ông, đình làng trong câu (9)b là từ - chủ đề

Hoàng Trọng Phiến (1980) cũng như các tác giả cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (1983: 197) gọi đây là thành phần khởi ý nằm ngoài nòng cốt

(10) a Khủng long, tôi chỉ thấy trên sách vở

b Quan, người ta sợ cái uy của quyền thế Nghị Lại, người ta sợ cái uy của

đồng tiền.(Nguyễn Công Hoan)

Khủng long, Quan, Nghị Lại trong câu (10) là thành phần khởi ý, nằm ngoài nòng

cốt câu Hoàng Trọng Phiến cho rằng thành phần khởi ý giống như từ - chủ đề Nó nêu lên nội dung chính của thông báo được nói bằng nòng cốt của câu Nó thường ở

vị trí đầu câu, không liên hệ trực tiếp với từ nào trong câu

Trang 15

Cao Xuân Hạo (1991b), cũng như Lưu Vân Lăng khẳng định rằng trong tiếng Việt không có cấu trúc chủ - vị, mà cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt

là cấu trúc Đề - Thuyết Ông cho rằng trong tiếng Việt không thể có một cái gì có thể gọi là chủ ngữ [ngữ pháp] cả, mà chỉ có thể có đề ngữ (1991a) Thompson cũng

có cùng quan điểm này Cao Xuân Hạo cho rằng “Câu là đơn vị cơ bản của lời nói” (1991b: 12), “Cấu trúc Đề - Thuyết của câu là một hiện tượng thuộc bình diện logic

- ngôn từ (logico - discursive), nghĩa là nó thuộc lĩnh vực logic” (1991b: 34) Theo

ông, cấu trúc Đề - Thuyết nằm trên bình diện nghĩa học của câu

Gần đây, Hồ Lê (1991: 85-86) khi bàn về quy luật phân loại “sự kiện” để phản ánh vào câu, đã chia câu làm hai loại: câu gọi tên (câu một thành phần) và câu

Đề - Thuyết (câu hai thành phần) Câu Đề - Thuyết gồm có hai phần lớn: phần nêu lên một cái gì đó gọi là phần đề và phần nói về điều có liên quan đến cái được nêu lên ở phần Đề, gọi là phần Thuyết

Theo Trần Ngọc Thêm, thì phân đoạn thông báo [thực tại] là xác lập phần nêu và phần báo (chỉ cái cũ và cái mới) Còn việc chia câu thành phần đề, phần thuyết là sự phân đoạn cấu trúc, trong đó có trường hợp cấu trúc nòng cốt là chủ ngữ - vị ngữ (1985: 58- 60)

Thuật ngữ Đề - Thuyết ở Việt Nam còn được dùng với nhiều nội dung khác nhau như Đề là “cái cũ”, Thuyết là “cái mới” trong thông báo theo quan niệm phân đoạn thực tại của trường phái Praha (Lý Toàn Thắng, 1981; Diệp Quang Ban, 1989b)

Diệp Quang Ban cho đề ngữ là “loại thành phần phụ của câu đứng trước

nòng cốt câu (thường đứng ở đầu câu), ít khi đứng sau chủ ngữ và trước vị ngữ, được dùng để nêu lên một vật, một đối tượng, một nội dung cần bàn bạc, với tư cách chủ đề của câu chứa nó” (1989a, II: 182)

Đề ngữ của Diệp Quang Ban cũng gần với chủ đề của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, khởi ngữ của Nguyễn Kim Thản hoặc từ - chủ đề của cuốn “ Ngữ pháp tiếng Việt” (Bưxtrov, I.X.; Nguyễn Tài Cẩn & Xtankêvich N.V 1975)

Nhiều nhà ngôn ngữ học trong cũng như ngoài nước thừa nhận phần Đề của câu Một số chấp nhận cả Đề lẫn chủ ngữ (Trần Ngọc Thêm, Hồ Lê…), một số cho

Trang 16

rằng ở tiếng Việt không có chủ ngữ mà chỉ có phần Đề (Lưu Vân Lăng, Cao Xuân Hạo)

Các ngôn ngữ có trật tự từ ngữ cố định phải dùng đến cách thêm phần Đề vào câu, đặt nó ở bên ngoài cấu trúc cú pháp của câu trong trường hợp chủ đề không phải là chủ ngữ

Trong các ngôn ngữ có trật tự từ ngữ tự do và vẫn giữ nguyên hệ thống cách, sau khi đã chuyển các hình thái đánh dấu chủ đề thành những hình thái đánh dấu chủ ngữ bèn sử dụng trật tự của từ ngữ vào việc phản ánh cấu trúc của mệnh đề Chủ đề chiếm vị trí đầu câu, trước phần Thuyết

Tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, không có cấu trúc chủ vị có thể gọi là ngôn ngữ dùng Nội đề

Ta có thể hình dung là trên bình diện cú pháp các ngôn ngữ được phân bố dọc một cái trục mà một cực do các ngôn ngữ Đề - Thuyết (tiếng Việt, tiếng Hán) làm thành, còn ở cực kia là các ngôn ngữ chủ - vị (tiếng Pháp, tiếng Anh) và ở giữa là các dạng trung gian (tiếng Nga, tiếng Nhật…)

2.2 Đặc điểm của Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh

Xét về phương diện loại hình, tiếng Việt thuộc ngôn ngữ không biến hình, thiên chủ đề trong khi đó tiếng Anh thuộc ngôn ngữ biến hình, thiên ngữ chủ ngữ Tuy nhiên căn cứ vào trật tự từ, cả hai ngôn ngữ đều thuộc nhóm SVO Đi sâu hơn vào những đặc điểm cú pháp, cả hai ngôn ngữ này đều chia sẻ một số phạm trù chung trong đó có phạm trù nội động, ngoại động Đây là những cơ sở cần thiết và rất quan trọng cho việc đối chiếu giữa hai ngôn ngữ

Tiếng Việt và tiếng Anh là những ngôn ngữ không thể xác định phạm trù nội động, ngoại động dựa vào sự đánh dấu cách trên các ngữ đoạn chức năng hay sự phù ứng của vị từ mà chỉ có thể dựa vào tiêu chí (bổ ngữ trực tiếp) và vị trí của bổ ngữ so với vị từ

2.2.1 Khái niệm

Nhiều người quan niệm để diễn đạt một nhận định về một sự tình, ngôn ngữ thường dùng một cấu trúc đồng dạng với mệnh đề - cấu trúc chủ - vị, trong đó chủ ngữ biểu thị sở đề (chủ đề) và vị ngữ biểu thị sở thuyết của mệnh đề Tuy nhiên

Trang 17

trong ngôn ngữ, chủ ngữ không phải lúc nào cũng trùng với chủ đề Điều đó cho thấy cấu trúc chủ - vị không tương ứng với cấu trúc của mệnh đề vì chủ ngữ ngữ pháp không còn biểu thị sở đề nữa Muốn nói một câu, người phát ngôn phải chọn điểm bắt đầu, phần bắt đầu câu nói được chọn là phần Đề của câu, phần tiếp theo là phần Thuyết Nếu cấu trúc cú pháp của câu là phần tương đối ổn định, thì cấu trúc

Đề - Thuyết cho thấy khả năng biến động tối đa của cấu trúc cú pháp khi sử dụng câu

Li và Thompson (1981) trong cuốn “Ngữ pháp tham chiếu chức năng tiếng Trung Quốc quan thoại” gọi “cái đi trước trong “chủ ngữ kép” của Triệu Nguyên Nhiệm là Đề (topic) - cái mà Triệu Nguyên Nhiệm gọi là chủ ngữ chính - và định

nghĩa đó là “cái được câu nói tới”; cái đi sau là chủ ngữ (subject).”

Stepanov (1981) định nghĩa: “Đề là bất cứ danh ngữ nào liên hệ với Thuyết

của câu hay là danh ngữ đi trước tiên trong một câu có trật tự từ ngữ trung hòa.”

Quicrk và Greenbaun cho Đề là đơn vị đầu tiên của câu và xét theo góc độ thứ tự trình bày thông điệp thì Đề là bộ phận quan trọng nhất của câu Theo hai ông, một số yếu tố thường không có chức năng làm Đề có thể đưa lên đầu câu và như vậy được “đánh dấu” (marked) (tức được làm nổi bật) Những yếu tố đó là bổ ngữ,

vị ngữ, trạng ngữ

Halliday cho Đề là một yếu tố trong một mô hình cấu trúc đặc thù, xét về toàn thể, tổ chức câu thành một thông điệp; đó là mô hình Đề - Thuyết (1985: 39) Một thông điệp gồm một Đề kết hợp với một Thuyết Trong một thông điệp như vậy, Đề là cái mà người chọn làm điểm xuất phát, là phương tiện khai triển câu Nó

có thể biểu thị một thực thể hay làm thành một cái khung không gian, thời gian hay điều kiện trong đó những điều nói tiếp theo sau có ý nghĩa Xem biểu đồ sau:

Trang 18

The Duke

“Ngài công tước

has given my aunt that teapot

đã tặng dì tôi cái ấm trà”

My aunt

“Dì tôi

has been given that teapot by the Duke

được tặng cái ấm trà bởi ngài công tước ”

That teapot

“Cái ấm trà đó

the Duke has given to my aunt

ngài công tước đã tặng dì tôi”

khi hai ngữ kết hợp làm thành một thông báo, trong đó bộ phận chỉ cái được đề ra

và bộ phận chỉ cái thuyết minh rõ thì kết hợp này gọi là cú” (1970: 53) và “phần đề

là bộ phận chỉ cái được nêu ra trong câu để nhận định” (1970:7)

Chafe định nghĩa phần Đề của câu như sau: “Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu rõ

cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần Thuyết.” (x Chafe 1976:50s) (dẫn theo Cao Xuân Hạo, 2006: 151)

Đề có thể là một danh ngữ, một giới ngữ (một danh ngữ làm bổ ngữ cho một chuyển tố như giới từ), một vị ngữ (một ngữ vị từ), một tiểu cú (một cấu trúc Đề - Thuyết ở cấp thấp hơn câu)…

Đề khác chủ ngữ ở chỗ Đề ngữ là cái nêu lên để được thuyết minh rõ, là cái

đề tài để nhận định của cả câu Đề ngữ, ngoài quan hệ với phần Thuyết nếu là chủ

đề của câu, còn có quan hệ về ý nghĩa với toàn bộ câu

(11) The girl and the boy were walking close at hand

Trang 19

“Bé gái và bé trai đi sát bên nhau”

Ông cho rằng đối với những câu mà yếu tố đứng đầu không có chức năng làm chủ ngữ, bổ ngữ hay trạng ngữ tình huống, thì chủ ngữ, bổ ngữ hay trạng ngữ đứng sau vẫn là bộ phận của Đề Điều này dẫn đến khái niệm Đề phức, trong đó bộ phận của câu có chức năng đề có thêm cấu trúc nội tại của riêng nó Cấu trúc nội tại này dựa trên nguyên tắc chức năng sau: câu là sản phẩm của ba quá trình biểu nghĩa diễn ra đồng thời Nó vừa là một sự biểu hiện của kinh nghiệm, vừa là một sự trao đổi có tính chất tác động lẫn nhau, vừa là một thông điệp Ông gọi ba thứ nghĩa có liên hệ với ba mặt này của câu là những “siêu chức năng” và dùng những thuật ngữ ý niệm (ideational), liên nhân (interpersional) và văn bản (textual) để gọi nó Nghĩa ý niệm

là sự biểu hiện của kinh nghiệm, đó là nghĩa hiểu như nội dung, chức năng ý niệm của câu là biểu hiện của những sự tình Nghĩa liên nhân là thứ nghĩa có hình thức như một sự tác động (người nói và người viết dùng ngôn ngữ để tác động như thế nào đó vào người nghe hay người đọc) Còn nghĩa văn bản là sự liên quan đối với ngôn cảnh (phần văn bản đi trước và đi sau) và đối với tình huống bên ngoài

Trong Đề luôn luôn có một yếu tố ý niệm, còn yếu tố liên nhân hay yếu tố văn bản không nhất thiết phải có trong Đề Yếu tố ý niệm trong Đề là một thực thể có chức năng là chủ ngữ, bổ ngữ hay trạng ngữ hoàn cảnh Halliday gọi nó là chủ đề (topical theme) vì nó tương ứng khá rõ với yếu tố được gọi là “chủ đề” (topic) trong phân tích đề - thuyết (topic - comment)

Cao Xuân Hạo chia Đề thành Ngoại đề và Nội đề:

Ngoại đề: là những đề ngữ đứng ngoài cấu trúc cú pháp của câu, không có chức năng cú pháp bình thường nào trong câu Nó thực hiện cái chức năng làm Đề của nó như một vật thể ngoại tại Nó hoàn toàn đáp ứng với danh hiệu danh hiệu exposition

do tác giả Wegener (1885) sử dụng Trong tiếng Việt cũng thấy có loại đề này, chẳng hạn như các phát ngôn sau:

(12) a.Cái ông Nam í mà, ông ấy vừa chết tối qua

b.Anh Nam ấy à? Tôi vừa gặp anh ấy ở trường xong

c.Chị ấy mà, chị cần nghĩ kĩ về việc vừa qua

d.Việc làm ư? Thì tôi vẫn quan tâm đấy chứ

Trang 20

Ngoại đề trong tiếng Việt có hai đặc trưng phân biệt nó với Nội đề trên bề mặt: i) Nó bao giờ cũng được tách ra khỏi phần còn lại của câu bằng một chỗ ngừng, trong khi giữa Nội đề và Thuyết, trong phong cách hội thoại bình thường, không

có chỗ ngừng

ii) Nếu nó chỉ một đối tượng có tham gia vào sự tình được diễn đạt ở phần tiếp theo, đối tượng đó thường được biểu thị trong câu chính tiếp theo đó một lần nữa bằng cách lặp lại một danh ngữ của Ngoại đề hay bằng một đại từ hồi chỉ, trong khi sở chỉ của Nội đề thường không được biểu thị lại trong câu chính mà chỉ có thể được biểu thị lại bằng một đại từ hồi chỉ trong một tiểu cú làm bổ ngữ cho vị từ của câu chính trong đó nó là bổ ngữ Ví dụ:

(13) a.Anh thì cần gì đến tôi!

b.Tôi cóc cần

c.Cuốn sách này tôi đọc (nó) rồi

d.Cụ Tú năm nay tóc ( cụ ấy) đã bạc hết rồi

e.Nhà thì chúng tôi đã xây (nhà; nó) xong

f.Anh Tuấn nhờ tôi giúp (anh ấy)

g.Anh Tuấn bảo là tôi nên giúp (anh ấy)

[(nó,cụ ấy, nó ) không thể chấp nhận được;( nhà, anh ấy) thiếu tự nhiên; (anh ấy) không thể lược bỏ]

Trong câu f nếu thêm anh ấy , câu sẽ tối nghĩa vì anh ấy không rõ là chỉ ai, người

ta thường hiểu đó là một người khác, không phải là anh Việt Câu g, nếu bỏ anh ấy, người nghe không hiểu giúp là giúp cái gì, giúp ai Nếu có anh ấy câu vẫn còn hơi

mơ hồ nhưng người nghe thiên về phía hiểu anh ấy là anh Tuấn

So sánh các câu có Ngoại đề sau đây:

(14) a.Anh ấy à, (anh thì) cần gì đến tôi?

b.Về phần tôi ấy mà, (tôi) cóc cần

c.Cuốn sách nầy ư, tôi đã đọc (nó) rồi

d.Cụ Tú ở Hàng Điếu í mà, năm nay tóc (cụ ấy) bạc hết rồi

e.Cái nhà mà anh nói í, chúng tôi đã xây xong rồi

g.Anh Việt í mà, (anh ấy) bảo là tôi nên giúp anh ấy

[anh thì , tôi, cụ ấy, anh ấy: không thể lược bỏ; nó:có thể lược bỏ]

Trang 21

Câu c, e và trong một số trường hợp khác, vị từ trong phần tiếp theo Ngoại đề không cần có bổ ngữ không phải vì Ngoại đề chính là cái bổ ngữ của vị từ ấy, và do

đó nằm trong cấu trúc của câu Sự tỉnh lược bổ ngữ (và đôi khi cả chủ đề nữa) trong phần đi sau Ngoại đề chẳng qua là một sự ứng dụng quy tắc tỉnh lược của những câu đáp như trong các đối thoại của những câu sau:

(15) a.Các anh đã xây xong nhà chưa?

- (Chúng tôi) xây xong (nó) rồi

b.Anh đã đọc cuốn sách này chưa?

- (Tôi đã ) đọc (nó) rồi

Trong tiếng Việt, Ngoại đề là một hiện tượng ngoại vi, không thông dụng, chỉ gặp trong một số tình huống đối thoại không tiêu biểu Nó không có gì đáng chú

ý, vì nó không tham gia vào cấu trúc cú pháp, thậm chí có thể coi nó như một câu

độc lập không trọn vẹn kiểu “ Dân phe ấy mà!” hay “Cán bộ tổ chức à?” được đưa

vào câu chính để dẫn nhập đề tài mới hay nhấn mạnh lại một đề tài được người tiếp chuyện nhắc tới

d Anh Nam (thì) ai cũng quý

Các đề ngữ mở đầu cho các câu (16) trên đây đều là những Nội đề, và đều đáp ứng

với định nghĩa Đề Trong hai câu a và b, Trong cái bình này và Cái bình này đều

đúng là cái phạm vi trong đó nhận định nhiệt độ lên đến 390

có giá trị, có thể ứng

dụng được Trong câu c, d, Chân thành và Anh Nam cũng đúng là cái phạm vi

trong đó “ai cũng quý” có thể ứng dụng được Trong cái bình này vạch ra một phạm vi không gian, Chân thành vạch ra một phạm vi cảnh huống (điều kiện) còn

Cái bình này và Anh Nam vạch ra một phạm vi cá thể, hay nói bằng một thứ ngôn

ngữ tự nhiên hơn, thu hẹp cái phạm vi ứng dụng của phần Thuyết vào một cá thể

Trang 22

Đề của câu a và c thích hợp với cách nói về phần Thuyết rằng phần này “nói một điều gì trong khuôn khổ của cái Đề đó”; còn Đề của câu b, d thích hợp hơn với cách nói về phần Thuyết rằng nó “nói một điều gì về cái Đề đó”

Sự khác nhau về chất này khiến ta phải phân biệt hai thứ Nội đề:

i) Chủ đề, là phần câu chỉ cái đối tượng được nói đến trong phần Thuyết, cái chủ thể của sự nhận định

ii) Khung đề, là phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh huống, thời gian, không gian, trong đó điều được nói ở phần Thuyết có hiệu lực Khung đề thường là những ngữ gồm có những danh ngữ (kể cả đại từ nhân xưng và hồi chỉ) có chuyển tố đi trước (giới ngữ), những ngữ đoạn có trung tâm là

danh từ chỉ thời gian như: mai, chiều, khi, lúc, thuở, dạo, chỉ nơi chốn, nơi chỗ những vị ngữ hay những tiểu cú có chuyển tố trực chỉ hay hồi chỉ như đây, thế,

vậy…

Chủ đề chủ yếu là những danh ngữ, kể cả “đại từ nhân xưng” và hồi chỉ, không có chuyển tố đi trước, nhưng có cả những vị ngữ và những tiểu cú không có chuyển tố

Chủ đề không trùng với chủ ngữ mà ngữ pháp truyền thống thường dùng cho

cả tiếng Việt

Sự phân biệt Chủ đề và Khung đề nói chung là cần thiết cho việc phân tích câu nói về phương diện nghĩa và ngữ pháp Nhưng cần lưu ý rằng không phải bao giờ cũng có thể phân biệt được hai thứ đề này một cách dễ dàng Chủ đề không bị gắn chặt vào vị ngữ về ngữ pháp và về nghĩa Nó không cần là một thành viên trong cấu trúc tham tố thường cố định của vị từ

Cái cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt dùng để diễn đạt một mệnh đề tương ứng một đối một với cấu trúc của một mệnh đề, trong đó thành phần chính thứ nhất - Đề (Topic) - biểu thị Sở đề, và thành phần thứ hai - Thuyết (Comment) - biểu thị Sở thuyết của một mệnh đề

Trang 23

3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

Nhiệm vụ của luận văn này là đối chiếu loại hình của Đề trong câu tiếng Việt

và Đề trong câu tiếng Anh Khi đối chiếu, luận văn xem xét sự tương đồng và khác biệt về cách thức và phương tiện biểu đạt của cấu trúc ấy giữa hai ngôn ngữ đã xem xét Luận văn sẽ đi vào chứng minh Đề trong tiếng Việt là Nội đề; thuộc về cấu trúc

cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt Đề trong tiếng Anh là Ngoại đề; nằm ngoài cấu trúc cú pháp cơ bản của câu Luận văn sẽ dành riêng một chương để so sánh các thuộc tính ngữ pháp của Đề trong câu tiếng Việt với Đề trong câu tiếng Anh khi Đề trùng với chủ ngữ và hành chức với tư cách là một chủ ngữ ngữ pháp, để từ đó thấy được đặc trưng loại hình của tiếng Việt (ngôn ngữ thiên Chủ đề) và tiếng Anh (ngôn ngữ thiên Chủ ngữ)

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp so sánh - đối chiếu: đối chiếu sự khác nhau giữa Ngữ pháp cấu trúc và Ngữ pháp chức năng bằng những lí thuyết và những ví dụ minh họa để thấy được sự khác biệt trong những tình huống cụ thể Qua đó, bài viết so sánh sự thể hiện của Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh để thấy được sự tương đồng và khác biệt trên quan điểm đồng đại

Phương pháp mô tả: dù Ngữ pháp chức năng của giai đoạn hiện nay vẫn còn là một ngữ học của ngôn ngữ nhiều hơn là một ngữ học của ngôn từ thì nó cũng khác hẳn ngôn ngữ học cấu trúc cổ điển Luận văn sẽ cố gắng mô tả thật kĩ, lấy căn cứ cho sự so sánh đối chiếu nhằm làm rõ sự khác biệt cơ bản giữa Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh dựa vào tiêu chí loại hình

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn làm rõ những thuộc tính của Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh về mặt nghĩa học, ngữ pháp và dụng pháp

Việc nghiên cứu Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh góp phần làm rõ việc phân loại Đề trong hai ngôn ngữ ấy nhằm ứng dụng vào việc hiểu và dạy tiếng Việt, hiểu rõ Đề trong câu tiếng Anh để vận dụng tạo văn bản sao cho có hiệu quả

Trang 24

6 Bố cục của luận văn

Luận văn có 83 trang chính văn, ngoài phần Mở đầu (16 trang), phần Kết luận (9 trang), Quy ước trình bày (2 trang), Mục lục (3 trang) và Tài liệu tham khảo (7 trang), gồm 3 chương:

- Chương 1 (31 trang): Trình bày các đặc điểm của Đề trong câu tiếng Việt ở ba

bình diện: bình diện ngữ pháp, bình diện nghĩa học và bình diện dụng pháp

- Chương 2 (20 trang): Trình bày các đặc điểm của Đề trong câu tiếng Anh qua các

bình diện ngữ pháp, nghĩa học và dụng pháp Cả ba bình diện này làm thành một hệ thống hữu cơ, trong đó bình diện dụng pháp giữ vai trò chủ chốt chi phối hai bình diện còn lại

- Chương 3 (32 trang): : So sánh, đối chiếu các đặc điểm của Đề trong câu tiếng

Việt và Đề trong câu tiếng Anh theo tiêu chí loại hình Luận văn tìm ra sự giống nhau và khác nhau về các thuộc tính cũng như các đặc trưng ngữ pháp của phần Đề

ở hai loại hình ngôn ngữ nhằm khẳng định tính phổ quát của các loại cấu trúc đang xét và khẳng định tính thiên về Chủ đề của tiếng Việt và tính thiên về Chủ ngữ của tiếng Anh Qua đó ta có thể nhận diện được Đề trong câu tiếng Việt là Nội đề và Đề trong câu tiếng Anh là Ngoại đề

Trang 25

Chương 1

ĐỀ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT 1.1 Những thuộc tính ngữ pháp (Grammar)

1.1.1 Khái niệm và phân loại

Năm 1958, nhà Hán học người Mỹ Ch.F.Hockett đã khởi đầu cho việc xây dựng một lí thuyết về câu được ông coi là có tầm hiệu lực cho tất cả các ngôn ngữ Ông chia câu thành Đề (topic) và Thuyết (comment), đồng thời đưa ra một công

thức cực kì đơn giản và chính xác: “Khi nói một câu, người ta đưa ra một cái Đề,

rồi nói một điều gì về cái đề đó hoặc trong khuôn khổ của cái Đề đó” (1958:201)

Và từ đó, khái niệm này trở thành quen thuộc đối với giới ngôn ngữ học

J Firbas coi Đề là một yếu tố được suy ra từ ngữ cảnh và đóng góp cái tối cần thiết cho việc phát triển giao tiếp

Theo Halliday: “Đề là điểm xuất phát của thông điệp: là cái mà câu sắp sửa

Hoàng Trọng Phiến làm rõ khái niệm từ - chủ đề: “Từ - chủ đề nêu lên nội

dung chính của thông báo được nói bằng nòng cốt của câu Thường thường nó ở đầu câu, và không liên hệ trực tiếp với một từ nào trong câu cả Tuy nhiên cái ý mà

nó nêu ở đầu câu trùng với thành phần mang ý ấy trong nòng cốt.”

(1) Hổ, nó dữ tợn lắm

Trong câu (1) Hổ được coi là từ - chủ đề

Tuy các tác giả trên chưa đưa ra được một định nghĩa thỏa đáng về Đề nhưng đã thừa nhận cái thành phần biểu thị Sở đề của mệnh đề, cái làm đề tài thông báo cho

cả câu và gọi bằng những cái tên: Chủ đề, từ - chủ đề

Trang 26

Nguyễn Kim Thản cũng cảm thấy có một cái gì đó không ổn trong cách phân tích câu tiếng Việt theo mô hình chủ - vị , ông đồng nhất cấu trúc Đề - Thuyết với

sự phân chia “cái cũ” và “cái mới” (Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt, 1981) Ông khẳng định “chủ ngữ là phần nêu lên cái gì đó, vị ngữ là phần nói về chủ ngữ” và “đáng

ra nên gọi chủ ngữ là phần nêu, vị ngữ là phần báo” (1981: 29)

(2) a Nhà ấy, mình phải chừa ra mới được

b Nói, bác ấy lựa lời lắm

c Tôi thì tôi xin tùy chị

Nhà ấy, Nói, Tôi trong câu (2)a, b, c ở trên, Nguyễn Kim Thản cho là thành phần

khởi ngữ Theo ông, “khởi ngữ là thành phần thứ yếu của câu, thường xuyên đứng

ở vị trí số 1 trong câu song phần… Khởi ngữ biểu thị chủ đề logic của câu nói”

(1981: 208)

Theo Hoàng Trọng Phiến: “Thành phần khởi ý giống như Chủ đề, nó nêu lên

nội dung chính của thông báo được nói bằng nòng cốt của câu Thường thường nó

ở đầu câu và không liên hệ trực tiếp với một từ nào trong câu cả Tuy nhiên cái ý

mà nó nêu ở đầu câu trùng với thành phần mang ý ấy trong nòng cốt.”

Diệp Quang Ban chủ trương câu tiếng Việt có cấu trúc Đề ngữ - Thuyết ngữ

và Đề ngữ được coi là “loại thành phần phụ của câu đứng trước nòng cốt câu

(thường ở đầu câu), ít khi đứng sau chủ ngữ và trước vị ngữ, được dùng để nêu lên một vật, một đối tượng, một nội dung cần bàn bạc với tư cách chủ đề của câu chứa nó” (1980: 182)

Đôi khi, tác giả lại cho rằng: “Trong câu đơn hai thành phần với trật tự chủ

ngữ, vị ngữ, chủ ngữ sẽ là phần Đề, vị ngữ là phần Thuyết ”(1981 : 25-31)

Thompson cho rằng trong tiếng Việt không thể tìm thấy một cái gì đó gọi là

“chủ ngữ” Bên cạnh đó, Helge J.J Dyvik, một nhà ngôn ngữ học người Na- uy

cũng cho rằng “câu tiếng Việt không có chủ ngữ, vì trong mọi trường hợp đều thấy

câu chỉ có Chủ đề” (1984:47) Theo ông “câu tiếng Việt chỉ có Chủ đề chứ không

có chủ ngữ là đã hoàn toàn loại trừ cái khả năng có thái bị động; và “thật khó lòng

có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về thái bị động mà lại không đề cập (một cách trực tiếp hay gián tiếp) đến việc phân vai nghĩa cho chủ ngữ mà việc này lại

Trang 27

không thể dung hòa với khái niệm Chủ đề” (1984:48) Như vậy, sự hiện diện hay

không hiện diện của thái bị động trở thành một tiêu chí rất quan trọng để nhận diện

ngôn ngữ có chủ ngữ hay Chủ đề Tiếng Việt là loại ngôn ngữ không có “thái bị

động” và đó cũng là một tiêu chí đánh dấu cấu trúc Đề - Thuyết chứ không phải chủ

- vị của câu

Khi nói hoặc viết, người ta định hướng triển khai của tư duy bằng cách chọn đối tượng này hay đối tượng khác trong sự tình được diễn đạt làm đề tài để nhận định, để nói một điều gì đó về nó Cái bộ phận của câu được chọn làm đề tài ấy được gán một cương vị đặc biệt và được đưa ra làm Đề; bộ phận này kết hợp với phần còn lại và hai thành phần này làm thành một thông điệp Theo nghĩa trên, Đề

là yếu tố được dùng làm điểm xuất phát của thông điệp, là cái mà câu liên quan đến;

nó là cơ sở, cái điểm tựa làm bàn đạp cho sự khai triển hành động nhận định của tư duy

Qua tất cả những điều đã nói ở trên về cấu trúc Đề - Thuyết của câu, về chức năng và vị trí của hai thành phần Đề - Thuyết, ta có thể hiểu cách tổ chức cốt lõi, cơ bản của một câu nói một cách đầy đủ để nhận định như sau:

Khi nói một câu người ta đưa ra một cái Đề, rồi nói một điều gì về cái Đề đó

hoặc trong khuôn khổ của cái Đề đó

Có thể định nghĩa phần Đề của câu như sau: “Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu

rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần Thuyết”(x Chafe 1976:50s) (dẫn theo Cao Xuân Hạo, 2006: 151)

Định nghĩa trên có tính chất thuần túy chức năng Đáp ứng định nghĩa này có những

đề ngữ khác nhau không phải về những thuộc tính nội tại hay cấu trúc bên trong, mà

về những đặc trưng có liên quan đến mối quan hệ với phần Thuyết và về những thuộc tính cú pháp khác

Trong khi khảo sát các Đề, ta có thể gặp những cấu trúc ngữ pháp khác nhau (một từ, một ngữ, một tiểu cú) làm chức năng trên nhưng các cấu trúc ngữ pháp ấy không quan hệ gì đến cương vị cú pháp của Đề Một thành phần chức năng khác trong câu như phần Thuyết, như định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ… cũng có thể có cấu trúc nội tại như thế

Trang 28

Có hai loại đề: Ngoại đề và Nội đề

- Ngoại đề: là đề ngữ đứng ngoài cấu trúc cú pháp của câu, không có chức năng cú

pháp bình thường nào trong câu; là một hiện tượng ngoại vi, chỉ gặp ở một số tình huống đối thoại không tiêu biểu Ngoại đề có thể coi là câu độc lập không trọn vẹn, được đưa vào trước câu chính

(3) a Chị Lan ấy à? Em vừa gặp chị ấy ở thư viện

b Cái quyển sách mà anh vừa bảo ấy mà, tôi tìm thấy rồi

c Cái hôm mình hẹn nhau ở văn phòng khoa ấy, (hôm ấy là thứ mấy

nhỉ ?) hôm ấy buổi sáng mình vừa gặp cô Mai xong

Khi thao tác đưa ra một cái Đề được nhấn mạnh đến mức khiến người nghe phải tập trung chú ý vào nó trước khi đón nghe toàn bộ thông báo, ta có một Ngoại đề:

(4) a Cái ông Hùng í mà, ông í vừa chết tối qua

b Chị ấy mà, chị cần nghĩ kĩ về việc vừa qua

c Công việc ư? Thì tôi vẫn quan tâm đấy chứ

Đề của câu (4)a Cái ông Hùng í mà, (4)b Chị ấy mà, (4)c Công việc ư? Những

ngữ đoạn đảm đương phần Đề trong những câu này được nhấn mạnh để người nghe tập trung chú ý trước khi nghe toàn bộ thông báo

Ngoại đề trong tiếng Việt có hai đặc trưng phân biệt nó với Nội đề trên bề mặt:

- Nó bao giờ cũng được tách ra khỏi phần còn lại của câu bằng một chỗ ngừng

- Nếu nó chỉ một đối tượng có tham gia vào sự tình được diễn đạt ở phần tiếp theo, đối tượng đó thường được biểu thị trong câu chính tiếp theo đó một lần nữa bằng cách lặp lại danh ngữ của Ngoại Đề hay bằng một đại từ hồi chỉ

Vì vậy, Ngoại Đề có thể bứt ra thành một câu riêng trên văn bản.Và cũng chính vì thế mà có thể coi Ngoại đề đứng ngoài cấu trúc cú pháp của câu, như một vế câu ghép

(5) a Công việc ư, thì tôi vẫn quan tâm đấy chứ!

b Công việc ư? Thì tôi vẫn quan tâm đấy chứ!

Ngoại đề của câu (5)a Công việc ư, (5)b Công việc ư? được tách riêng như một vế

câu ghép

Trang 29

Khi động tác tập trung chú ý ấy được làm sau câu nói - vì sau khi nói điều thông báo, người nói chợt nhận ra rằng người nghe có thể chưa rõ mình đang nói về

ai, về cái gì Ngoại đề cũng được nói ra như một cái “đuôi” của câu, hoặc tách riêng

ra khi muốn có sự tập trung chú ý Xem ví dụ sau:

(6) a Anh có gặp ông ấy không, ông Văn ấy mà?

b Anh có gặp ông ấy không? Ông Văn ấy mà?

c Nó đâu rồi, thằng Tom ấy nhỉ

Ngoại đề của câu (6)a ông Văn ấy mà? và (6)c thằng Tom ấy nhỉ được nói

ra ở phần “đuôi” của câu hoặc tách riêng ra như trong câu (6)b Ông Văn ấy mà?

nhằm muốn gợi sự tập trung chú ý của người nghe

- Nội đề: là những đề ngữ đáp ứng định nghĩa đã nêu (Khi nói một câu, người ta

đưa ra một cái đề, rồi nói một điều gì về cái đề đó hoặc trong khuôn khổ của cái

đề đó) Phần lớn Đề sử dụng trong câu là những Nội đề, Nội đề khác Ngoại đề ở

chỗ nó nằm trong cấu trúc cú pháp của câu, khi phát âm, nó liền mạch với phần Thuyết, không có một chỗ dừng nào Nội đề có hai loại:

1, Chủ đề: là thành phần câu nêu cái được nói đến trong phần Thuyết của câu Nó thu hẹp cái phạm vi ứng dụng của phần Thuyết vào một đối tượng (có thể là một

cá thể, một tập hợp hay một sự tình)

2, Khung đề: là thành phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh huống, thời gian, không gian, trong đó điều kiện nói ở phần Thuyết có hiệu lực Khung đề có tác dụng mở rộng và cụ thể hóa tính hiệu lực của phát ngôn,

do đó làm tăng hiệu quả giao tiếp cho câu Khung đề khác vời Chủ đề ở chỗ nó không góp phần làm nên bậc trong cấu trúc đề thuyết của câu

Chủ đề chủ yếu là những danh ngữ, kể cả “đại từ nhân xưng” và hồi chỉ, không có chuyển tố đi trước, nhưng cũng có cả những vị ngữ và những tiểu cú không có chuyển tố

Khung đề thường là những ngữ, gồm có những danh ngữ (kể cả đại từ nhân xưng và hồi chỉ) có chuyển tố đi trước (giới ngữ), những ngữ đoạn có trung tâm là danh từ

chỉ thời gian như mai, chiều, khi, lúc, thuở, dạo, chỉ nơi chốn, nơi chỗ, những vị

Trang 30

ngữ hay những tiểu cú có chuyển tố (“liên từ phụ thuộc”) hay không, những ngữ

đoạn có yếu tố trực chỉ hay hồi chỉ như đây, thế, vậy,…

Chức năng của hai loại Đề này là một: xác định phạm vi ứng dụng của phần

Thuyết Sự khác nhau chủ yếu là ở tính chất “sự vật” của Chủ đề và tính chất “nền”

(bối cảnh) của Khung đề

Trong câu, Chủ đề và Khung đề được xử lí như nhau về phương diện vị trí và

về cách đánh dấu chỗ phân giới với Thuyết Chính vì sự gần gũi về chức năng cú pháp và ngữ nghĩa giữa hai thứ Đề này mà sinh ra một kiểu lỗi ngữ pháp phổ biến nhất hiện nay trong văn viết và trong những lời phát biểu ở hội nghị, trên đài phát thanh, trên ti vi: lẫn lộn trong cách dùng hai thứ Đề

(7) a Qua kinh nghiệm cho ta thấy tầm quan trọng của việc quản lí vật tư

b Trong tình hình đó đòi hỏi ta phải cố gắng

Trong một câu, nếu chỉ có một loại Đề thì Đề đó là đề đơn Tuy nhiên trong

một câu cũng có thể tồn tại cùng một lúc vài ba loại Đề, các Đề cùng có mặt đó hợp

e Vậy thì có lẽ bọn trẻ đang học toán

Trong câu (8) a,b chỉ có một loại Đề Bọn trẻ trong (8)a, Thế là trong (8)b, đó là đề

đơn Câu (8)c,d,e có từ hai Đề trở lên trong một câu nên các Đề đó gọi là đề ghép 1.1.2 Những thuộc tính ngữ pháp của Đề

Trang 31

nói về ai, về cái gì, nói trong phạm vi nào, điều kiện nào Nhờ có tính xác định của

Đề mà phần khai triển tiếp theo mới định rõ được phạm vi hiệu lực của nó và được tri giác như phần Thuyết, do đó câu mới có giá trị thông báo Đề không đủ xác định thì người nghe có cảm nhận ngay về tính không trọn vẹn của câu nói

Tuy nhiên, không phải yếu tố nào muốn làm Đề cũng phải được xác định Có trường hợp một danh ngữ không xác định vẫn có thể đứng ở vị trí Đề trong câu, cho nên xác định không phải là tính chất tuyệt đối của Đề Ví dụ sau:

(9) a Một ít nước sôi

b Trong một căn gác vắng tanh

c Khi họ trở về

d Món quà của anh

Trong các câu (9) trên, tính không xác định của danh ngữ đặt ở đầu câu khiến cho các câu này không thể được hiểu là có Đề

1.1.2.1.1 Tính xác định của Chủ đề

Tính “xác định” thường bị lẫn lộn với tính “biết sẵn” (thông tin cũ), và do đó

mà phần Đề, nhất là Chủ đề, vốn không bao giờ cũng có tính xác định, thường được đồng nhất với phần “biết sẵn”, thành thử ở rất nhiều nhà ngôn ngữ học, cấu trúc Đề

- Thuyết được đồng nhất với cấu trúc thông báo

(10) a Sóc bay rất thích ăn quả này (nói trong trường hợp người đối thoại đang

bàn về “quả này”)

b Người đỗ đầu kì thi này chưa biết sẽ là ai (nói trong trường hợp người

đối thoại đang nghĩ về “kì thi này”)

c Con chó của anh Tuấn cạnh nhà tôi còn đẹp hơn nữa kia

Câu (10)a, c cái “biết sẵn” nằm trong phần Thuyết, dưới dạng những ngữ

đoạn trực chỉ hay hồi chỉ Câu (10)b cái “biết sẵn” (kì thi này) không phải là Đề mà

chỉ là định ngữ của Đề “người đỗ đầu”, một danh ngữ chưa có sở chỉ

Tính xác định/ tính không xác định là những thuộc tính ngữ pháp đối lập liên quan đến ngữ danh từ Trong tiếng Việt, khi Chủ đề là ngữ đơn ở dạng phát triển hay ở dạng hạt nhân (hạt nhân cũng có thể là đại từ), là ngữ kép, là một cú hay một

tổ hợp cú đều có tính xác định

Trang 32

Khi Chủ đề là ngữ đơn ở dạng phát triển, nghĩa là có một từ hạt nhân làm nòng cốt thì những từ phụ và những ngữ phụ sẽ bổ nghĩa, xác định giới hạn hay nói lên tính chất của từ hạt nhân này, do đó làm cho ngữ đơn trở nên xác định (11) a Cả năm em đều là những học sinh giỏi

b Hai cô gái trẻ người Bắc ngồi ở chỗ kia, dịu dàng, xinh xắn, và lịch sự

c Tiếng trống trường giục giã các em ngừng cuộc chơi, xếp hàng, đi vào

lớp

Trong những câu (11) trên, ngữ đơn “Cả năm em, Hai cô gái trẻ người Bắc, Tiếng

trống trường” là danh ngữ có thể làm Đề cho câu

Khi Chủ đề là ngữ đơn ở dạng hạt nhân trong câu tiếng Việt thì danh từ đó chỉ có thể được hiểu theo nghĩa xác định trong ngữ cảnh của câu văn hay lời nói

(12) a Mưa cứ dằng dai thì đến sáng

b Vườn cam lại rụng ít hoa cam (NB)

“Mưa” trong câu (12) phải hiểu là “Mưa” đang được nói đến trong cả đoạn văn,

nghĩa là đã được đề cập trong ngữ cảnh ở trước

Khi hạt nhân của ngữ đơn là một danh từ trừu tượng thì nó cũng chỉ được hiểu là một khái niệm chung, bao quát nhưng không phải là bất định

(15) Lịch sự là thói quen của người có văn hóa

Các đại từ (thế) vị từ, chỉ từ trong tiếng Việt, khi làm Chủ đề bao giờ cũng có

sở chỉ xác định

(16) a Thế là đi tong cả rồi

b Đó là chuyện khác

c Chị thì cả tin lắm !

Trang 33

Một ngữ đoạn có tính xác định, nhất là danh ngữ có thể chỉ một cái gì mà người nói (người viết) cho là người nghe (người đọc) đã “biết sẵn”, nghĩa là một cái

gì đang có mặt trong ý thức của người nghe lúc người nói phát ra cái câu chứa đựng ngữ đoạn đó Và trong những hoàn cảnh đối thoại bình thường, sự thể phần nhiều là như vậy Nhưng điều đó tuyệt nhiên không phải là tất yếu

Tính xác định của một ngữ danh từ tiếng Việt được biểu hiện nhờ những từ

trực chỉ này, ấy; nhờ ngữ vị từ hoặc tiểu cú (cấu trúc Đề - Thuyết bậc dưới

câu),…đặt sau trung tâm của danh ngữ Có nhiều trường hợp, tính xác định của một ngữ danh từ phải nhờ vào ngữ cảnh mới nhận ra được Chính nhờ tính xác định này

mà ngữ danh từ mới có thể có Sở chỉ Nói cách khác, một ngữ danh từ muốn chỉ vào một/ những thực thể cụ thể trong hiện thực thì phải có tính xác định

Khi dùng một ngữ đoạn có tính xác định như một danh ngữ chỉ loại (generic), một danh ngữ có định ngữ trực chỉ, một tên riêng, một vị ngữ (động ngữ) một câu (tiểu cú) là Đề, người nói nhiều khi không quan tâm đến việc người nghe

có biết đối tượng được biểu thị hay không, đối tượng đó có mặt trong kí ức ngắn hạn của người nghe lúc bấy giờ không Người nói có thể thừa biết rằng người nghe không hề biết, hoặc không hề nghĩ đến đối tượng được nêu làm Đề

Sở dĩ Đề trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt phải có tính xác định là vì Đề chỉ ra cái phạm vi ứng dụng của điều được nói ở phần Thuyết Cái phạm vi ứng dụng ấy có thể là một thực thể cụ thể trong hiện thực do một ngữ danh

từ (đại từ nhân xưng, đại từ hồi chỉ, tên riêng, ngữ đoạn có danh từ đơn vị/ khối làm trung tâm) biểu thị Chẳng hạn như câu (17) sau đây:

(17) a Nó vừa đi khỏi đây

Trang 34

b Một người bị kết tội trong vụ án này

c Một số độc giả lại cho ý kiến khác

Đề của các câu (18)a Vài người, (18)b Một người, (18)c Một số đọc giả là những

ngữ danh từ không xác định

Ta hãy xem những câu giới thiệu nhân vật mới xuất hiện trong văn học cổ:

(19) a Có người khách ở viễn phương,

Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi

b.Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi

Nếu yêu cầu một nhà văn hiện đại diễn đạt hai câu Kiều (19) trên đây, rất có thể họ

sẽ viết:

(19’) a Một người ở xa được nghe tiếng nàng cũng tìm đến

b Một người khách từ vùng biên giới đến thăm nàng

Trong các câu (18), danh ngữ được đánh dấu “không xác định” không phải là phần Đề của câu Câu tồn tại không có Chủ đề (tuy có thể có Khung đề), và danh ngữ không xác định là một phần của Sở Thuyết

Nói chung, một danh ngữ không xác định đặt ở vị trí của Đề vẫn là một cái gì trái với lẽ logic tự nhiên

Ngoài ra, có một số đại từ không xác định có thể đặt vào vị trí của Đề như: đại từ nghi vấn, đại từ phiếm định Bản thân các từ này đã mang ý nghĩa bất định nên khi làm Chủ đề chúng mang tính chất không xác định

Chủ đề là ngữ kép bao giờ cũng xác định giống như trường hợp Chủ đề là ngữ đơn

(20) a.Cái điều mà tôi lo lắng nhất cũng đã đến

b Nhà cửa ông đã chẳng hết sạch rồi còn gì

c Sách này tôi đọc rồi

Trang 35

Tóm lại, tính xác định của Đề trong câu tiếng Việt là một thuộc tính quan yếu nhằm xác định giới hạn của điều được nói ở phần Thuyết để câu có giá trị thông báo

1.1.2.1.2 Tính xác định của Khung đề

Trong câu tiếng Việt, Khung đề có thể là ngữ đơn ở dạng phát triển (danh ngữ, động ngữ), ngữ đơn ở dạng hạt nhân, giới ngữ, ngữ kép chính phụ hoặc là một cấu trúc song hành Tất cả các cấu trúc trên đều có tính xác định khi làm Khung đề Một danh ngữ chỉ thời gian, chỉ nơi chốn khi làm Khung đề cho câu bao giờ cũng mang ý nghĩa xác định

(23) a Mấy hôm nay, trời nắng nóng

b Hôm ấy là ngày thi tuyển sinh ở trường chúng tôi

Câu (23)a Mấy hôm nay, câu (23)b Hôm ấy là trạng ngữ chỉ thời gian, vì câu (23)b

có đại từ chỉ định "ấy " đi kèm nên tính chính xác càng trở nên rõ rệt

Khi một động ngữ làm Khung đề cho câu, nó có ý nghĩa tương đương với một danh ngữ hay giới ngữ xác định chỉ điều kiện hay thời gian

(24) a Nghe thấy tiếng chó sủa thì hắn chạy vào

b Tự tin và bản lĩnh, cô ấy bước vào phòng giám đốc

c Tạnh mưa là ta đi ngay

Ngữ đơn ở dạng hạt nhân là danh từ chỉ thời gian, khi làm Đề cho câu cũng mang tính xác định

(25) a Chiều nay, trời nắng lên rồi

b Hôm qua, Tị đi câu cá

c Ngày kia tôi đi Hà Nội

Một giới ngữ làm Khung đề có tính xác định là do danh từ hạt nhân của giới ngữ được đánh dấu bằng một định ngữ

(26) a.Trong tháng tôi có nhận tiền hai lần

b.Trên trời có đám mây xanh

c.Giữa lúc sóng gió ầm ầm nổi lên, thì một con thủy quái xuất hiện

Khi ngữ kép chính phụ làm Khung đề thì ngữ phụ là định cú phụ nghĩa cho phần chính nên bao giờ cũng có tính xác định

Trang 36

(27) a Khi chúng tôi lên năm thì chiến tranh xảy ra

Trong cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt, Đề, nói chung, không thể lược bỏ

Sở dĩ không thể lược bỏ Đề là vì nó chỉ ra cái phạm vi để cho điều nói ở phần Thuyết trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu có hiệu lực Những câu sau đây

(29) a Anh thì chắc chắn sẽ đỗ

b Nghèo thì ai mà chẳng sợ

c Cái áo này tôi mua rồi

được thừa nhận là có Đề, trong câu (29)a là Anh, (29)b là Nghèo, (29)c Cái áo này

Một số tác giả lại coi những ngữ đoạn in đậm ở câu (29) nằm ngoài cấu trúc

cơ bản của câu hoặc là một thành phần phụ của câu Nếu như vậy thì có thể lược bỏ phần này của câu Tình hình lại không phải như vậy khi lược bỏ cái phần được coi

là nằm ngoài cấu trúc cú pháp cơ bản hoặc là thành phần phụ Các câu (29) nếu lược

bỏ phần in đậm, vốn là Đề, thì sẽ sai ngữ pháp hoặc ít nhất là mất đi cái nghĩa ngữ pháp vốn có của nó So sánh các câu (29) với những câu (30) sau đây:

(30) a (?) thì chắc chắn sẽ đỗ

b.(?) thì ai mà chẳng sợ

c (?) tôi mua rồi

Sở dĩ như vậy là vì những câu (30) đã bị lược bỏ cái phần chỉ ra cái phạm vi ứng

dụng của điều được nói ở phần Thuyết: ở câu (29)a là anh, (29)b là nghèo, (29)c

cái áo này Câu (30)c có vẻ như vẫn có thể chấp nhận được nhưng thực ra, nó đã bị

tước bỏ cái phần chỉ ra phạm vi ứng dụng là cái áo này nghĩa là câu (30)c nói về tôi chứ không phải là nói về Cái áo này (30)c

Trang 37

Tính không thể lược bỏ của Đề trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt có tính tương đối, nghĩa là trong một số trường hợp, có thể tỉnh lược Đề Đó là trường hợp ngữ danh từ đảm đương Đề chỉ người nói (ngôi thứ nhất), chỉ người nghe (ngôi thứ hai), chỉ thời điểm nói ra câu ấy (bây giờ), chỉ nơi nói ra câu ấy (ở đây); đó là trường hợp người nói ước đoán rằng, nhờ ngữ cảnh, người nghe có thể nhận ra Sở chỉ của ngữ danh từ làm Đề của câu, như câu (30)c Trong những trường hợp như vậy, người nói không cần phải nói ra phần Đề ấy nữa Chẳng hạn như những câu:

tính tiêu biểu nhất của phần Đề Hồ Lê cho rằng “ một câu mà khi cần phân đoạn

trong khi đọc thì đoạn đầu tiên được phân theo ngữ cảm tự nhiên của người bản

ngữ sẽ là phần Đề”(1991: 86)

(32) a Trên bầu trời lấp lánh muôn ngàn vì sao

b Những điều ấy chị chưa hề nói với ai

Tuy nhiên không thể định nghĩa Đề là phần mở đầu câu Vị trí này chỉ là phương tiện để thực hiện chức năng của Đề Trong tiếng Việt, một thông điệp được tổ chức thành một cấu trúc Đề - Thuyết và cấu trúc này được thể hiện thành một chuỗi các

Trang 38

yếu tố xuất hiện lần lượt trong một câu thì vị trí ở phần mở đầu là vị trí tự nhiên

nhất của một thành phần có chức năng như phần Đề

Trong tiếng Việt, Đề thường đi trước Thuyết, và nếu không có những bộ phận phụ của câu đi trước thì Đề là phần mở đầu của câu Vị trí trước phần Thuyết

là vị trí tự nhiên nhất mà một thành phần có chức năng như phần Đề có thể chiếm lĩnh Nó làm thành một trong những thuộc tính tiêu biểu nhất của Đề, cho nên các tác giả có những quan niệm khác nhau về Đề đều nêu thuộc tính này ngay từ đầu khi nói đến nó, và nhiều tác giả còn coi nó như một thuộc tính định nghĩa (cf Mathesius 1939, Hockett 1958, Travniček 1962, Halliday 1967, 1985, Quirk et al

1972, Hutchins 1975, Grimes 1975, Martin 1975, Vardul 1977, Stepanov 1981,

1985, Zolotova 1981) Đề, như trên đã nói, chỉ ra “cái phạm vi ứng dụng của điều được nói ở phần Thuyết” Nó thuộc về chiến lược phát ngôn (discourse strategies) trong đó Đề là cái phần được đưa vào trước tiên Xem những câu sau:

(33) a Hôm nay mưa

b Trong nhà có khách

c Mỗi ngày một niềm vui

Các ngữ danh từ hôm nay trong câu (33)a, trong nhà trong câu (33)b, mỗi ngày

trong câu (33)c là Đề và chiếm lĩnh vị trí đầu câu, trước các ngữ đoạn làm Thuyết

“mưa” trong câu (33)a, “có khách” trong câu (33)b, “một niềm vui” trong câu

(33)c Vị trí đầu câu của Đề trong quan hệ với Thuyết trong cấu trúc cú pháp cơ bản

của câu tiếng Việt có thể kiểm định được bằng từ thì Ở các câu (33) nêu trên, có thể đặt từ thì ở ranh giới giữa Đề và Thuyết:

(34) a Hôm nay (thì) mưa

b Trong nhà (thì) có khách

c Mỗi ngày (thì) một niềm vui

Trong khi đó, nếu thay đổi vị trí của Đề thì không thể kiểm định vị trí của Đề bằng

Trang 39

Các hướng phân tích cấu trúc câu tiếng Việt trước đây đã bộc lộ những hạn chế nhất định Đó là lí do các nhà nghiên cứu ngữ pháp chức năng đã dựa trên nguyên tắc Đề - Thuyết để phân tích cấu trúc câu tiếng Việt Họ cho rằng cấu trúc

cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt tương ứng với cấu trúc cơ bản của câu mệnh đề

Nó gồm hai phần Đề và Thuyết ứng với Sở đề và Sở thuyết của mệnh đề Tính hoàn chỉnh của câu có được là do câu đã thể hiện được cấu trúc của mệnh đề khiến cho câu có thể tự mình làm thành một phát ngôn có giá trị chân lí, có tác dụng ngôn trung và được người nghe tiếp thu như một lời nói trọn vẹn Chẳng hạn:

(36) a.Đau quá Tôi đau quá

b.Đau lắm à? Anh đau lắm à?

c.Có muỗi Ở đây có muỗi

d.Ba giờ rồi Bây giờ là ba giờ rồi

e.Bao nhiêu tiền? Cái này bao nhiêu tiền?

Trật tự Đề trước - Thuyết sau là trật tự bình thường trong câu tiếng Việt Những trường hợp có trật tự ngược lại rất hiếm, chỉ gặp trong một số tình huống đặc biệt Sở dĩ như vậy là Đề biểu thị Sở đề của mệnh đề, là cái điểm xuất phát của một nhận định trong tư duy Cùng nhận định một hiện tượng, điểm xuất phát khác nhau

sẽ cho ra những câu có Đề khác nhau Và do đó, các câu không đồng nghĩa với nhau như những ví dụ sau:

(37) a Hôm nay, tôi sẽ sửa cái máy này

b.Cái máy này tôi sẽ sửa hôm nay

c.Tôi là người sẽ sửa cái máy này hôm nay

d Người sẽ sửa cái máy này hôm nay là tôi

e Sửa cái máy này là việc của tôi hôm nay

f Việc của tôi hôm nay là sửa cái máy này

Trang 40

Tóm lại, vị trí đầu câu là thuộc tính tiêu biểu, là điểm xuất phát của một thông điệp Đề phải đứng ở vị trí đầu câu để chỉ cái được nêu trong câu mà nhận định Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số ngoại lệ

Đôi khi, người ta vẫn thấy câu có cấu trúc ngược, phần Đề được đặt ở phía sau phần Thuyết Thông thường phần Đề đi sau tách khỏi phần Thuyết, những Đề

ấy thường là Ngoại đề Xem ví dụ :

(38) a Anh đã xem cái phim ấy chưa, phim Da Vinci Code ấy mà?

b Nó lớn lắm, cái con bé kia kìa!

c Bạn đã làm xong bài tập chưa, bài mà cô cho hôm thứ ba ấy?

1.1.2.4 Các quá trình ngữ pháp (grammatical processes)

Trong trường hợp Đề có được cái cương vị “đối tượng của tư duy” (có cương vị Chủ đề), nó có những thuộc tính về quá trình ngữ pháp Các quá trình ngữ pháp này liên quan đến các hiện tượng tỉnh lược đồng sở chỉ (conreferential deletion), kết cấu phản thân (reflexivization), cấu trúc bị động (passivization), … (Keenan E.L 1976) Trong một câu, kể cả câu cơ bản và câu khai triển (câu gồm nhiều bậc cú pháp - Cao Xuân Hạo 1991; Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm, Cao Xuân Hạo ((chủ biên) 1992) Đề của câu do ngữ danh từ đảm

đương có những thuộc tính về quá trình ngữ pháp sau đây:

1.1.2.4.1 Đề của câu là Chủ đề kiểm định việc tỉnh lược danh ngữ đồng sở chỉ Trong một sự tình hay một loạt sự tình được trần thuật bằng một câu hay một loạt câu, một đối tượng (một sở chỉ) nào đó có thể tham gia vào sự tình bằng nhiều cách, trực tiếp và gián tiếp Trong tiếng Việt, cách lược bỏ (thay bằng danh ngữ ø) được dùng nhiều, nhất là ở vị trí bổ ngữ của vị từ Quyền kiểm định việc lược bỏ danh ngữ đồng sở chỉ ở vị trí chủ đề được coi là một trong những thuộc tính tiêu biểu của Chủ đề

(39) a Quốc hội i thảo luận và øithông qua hiến pháp

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Đức Tịnh (1952). Văn phạm Việt Nam. P. Văn Tươi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn phạm Việt Nam
Tác giả: Bùi Đức Tịnh
Nhà XB: P. Văn Tươi, Sài Gòn
Năm: 1952
2. Cao Xuân Hạo (2006). Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Giáo dục, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (1999). Câu trong Tiếng Việt, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu trong Tiếng Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
4. Cao Xuân Hạo (2001). Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt. Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
5. Diệp Quang Ban (1972). Xung quanh việc phân biệt câu ghép với câu đơn. T/c Ngôn ngữ, số 4/1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh việc phân biệt câu ghép với câu đơn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1972
6. Diệp Quang Ban (1980). Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt ngày nay (Luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn). Đại học Sư phạm I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt ngày nay
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Đại học Sư phạm I Hà Nội
Năm: 1980
7. Diệp Quang Ban (1984). Bàn về vấn đề thành phần câu ứng dụng vào tiếng Việt. In trong Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt (Lưu Vân Lăng chủ biên).Nxb Khoa học Xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1984
8. Diệp Quang Ban (1987). Câu đơn tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đơn tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
9. Diệp Quang Ban (1989). Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2. Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1989
10. Diệp Quang Ban (2000). Thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong nửa thế kỉ qua. T/c Ngôn ngữ, số 9/2000, trang 41–47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong nửa thế kỉ qua
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 2000
11. Diệp Quang Ban (1992). Bàn góp về quan hệ chủ - vị và quan hệ đề - thuyết, Ngôn ngữ (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn góp về quan hệ chủ - vị và quan hệ đề - thuyết
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1992
12. Diệp Quang Ban (2009). Ngữ pháp Việt Nam. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
13. Đái Xuân Ninh (1973). Có nên xem "Câu đơn có trạng ngữ" là một kiểu câu ghép không?. T/c Ngôn ngữ, số 3/1973, trang 49–55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có nên xem "Câu đơn có trạng ngữ" là một kiểu câu ghép không
Tác giả: Đái Xuân Ninh
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1973
14. Đinh Văn Đức (1986). Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại. Nxb ĐH và THCN, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1986
17. .Đỗ Minh Hùng (2005). “Lỗi của người học trong tiến trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai/ngoại ngữ”, Ngôn ngữ, (10), tr.30-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi của người học trong tiến trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai/ngoại ngữ
Tác giả: Đỗ Minh Hùng
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 2005
18. Đinh Gia Khánh, (1972) “Nhà nho xưa tìm hiểu truyện dân gian và ca dao tục ngữ”. Tạp chí Văn học, số 1/1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nho xưa tìm hiểu truyện dân gian và ca dao tục ngữ
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1972
19. Đỗ Đức Hiểu, (2000) “Thi pháp hiện đại” (Phê bình – Tiểu luận). NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2000
20. Hoàng Trọng Phiến (1980). Ngữ pháp tiếng Việt: Câu. Nxb ĐH và THCN, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Câu
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1980
21. Hoàng Tuệ; Lê Cận & Cù Đình Tú (1962). Giáo trình về Việt ngữ. Đại học Sư phạm, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình về Việt ngữ
Tác giả: Hoàng Tuệ, Lê Cận, Cù Đình Tú
Nhà XB: Đại học Sư phạm
Năm: 1962
22. Hồng Dân (1972). Nên xem "Câu đơn có trạng ngữ" là một kiểu câu ghép. T/c Ngôn ngữ, số 4/1972, trang 26–36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nên xem "Câu đơn có trạng ngữ" là một kiểu câu ghép
Tác giả: Hồng Dân
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1972

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w