1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ nghĩa hiện thực mới trong tiểu thuyết của alberto moravia

149 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ Nghĩa Hiện Thực Mới Trong Tiểu Thuyết Của Alberto Moravia
Tác giả Alberto Moravia
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Phương Phương
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Học Nước Ngoài
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên điều tạo nên sức hấp dẫn của nhà văn này chính là ở những thể nghiệm đầy sáng tạo, mà nguồn gốc của nó là trào lưu văn học nghệ thuật mang tên chủ nghĩa hiện thực mới ra đời và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN ĐĂNG THƯ

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỚI

TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ALBERTO MORAVIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

MÃ SỐ: 602230

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN THỊ PHƯƠNG PHƯƠNG

TP.HCM, tháng 5 năm 2011

Trang 2

Đề mục Số trang

PHẦN DẪN NHẬP 1

1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 2

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc của luận văn 8

6 Đóng góp của luận văn 10

CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỚI VÀ CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỚI 1.1 Chủ nghĩa hiện thực mới, một bước tiến của chủ nghĩa hiện thực 11 1.2 Chủ nghĩa hiện thực mới trong điện ảnh và văn học 21

1.3 Moravia và tiểu thuyết hiện thực mới 26

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Moravia 26

1.3.2 Con đường đến với chủ nghĩa hiện thực mới 29

1.3.3 Quan niệm của Moravia về tiểu thuyết 30

Trang 3

CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC MỚI TRONG TIỂU THUYẾT MORAVIA

2.1 Sự khủng hoảng của thái độ đối với thực tại 46

2.2 Vai trò thống trị của đồng tiền và địa vị xã hội 58

2.3 Sự bất lực khi tìm mối liên hệ với xã hội 70

2.4 Tình dục – Phương tiện kết nối 81

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT HIỆN THỰC MỚI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MORAVIA 3.1 Hiện thực mới là tư liệu về thời đại 92

3.2 Sự phá vỡ cấu trúc tiểu thuyết truyền thống 100

3.3 Ngôn ngữ trần thuật 109

3.4 Nhân vật - vấn đề 117

3.4.1 Kiểu nhân vật trí thức - thảm kịch 118

3.4.2 Kiểu nhân vật - người bình dân 120

PHẦN KẾT LUẬN 131

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136 PHỤ LỤC

Trang 4

DẪN NHẬP

1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài

Alberto Moravia được đánh giá là một nhà văn xuất sắc, một tiểu thuyết gia hàng đầu và được xem là biểu tượng của nền văn học Ý thế kỷ XX Ông sáng tác một số lượng tác phẩm khá đồ sộ, đóng góp đáng ghi nhận qua các sáng tác của ông là những đặc trưng chủ nghĩa hiện thực đã được đổi mới, được cách cách tân về cả nội dung lẫn hình thức

Ở Việt Nam, Moravia được biết đến từ những năm tám mươi của thế kỷ

XX, tuy nhiên chỉ thông qua một số ít tác phẩm được dịch từ tiếng Nga, tiếng Pháp, Anh và Ý Nhiều người đọc yêu thích tác giả này ở chỗ nơi ông có sự gặp gỡ phong cách sáng tác của hàng loạt những tên tuổi nổi tiếng như Joyce, Molière, Shakespeare hay Boccaccio Tuy nhiên điều tạo nên sức hấp dẫn của nhà văn này chính là ở những thể nghiệm đầy sáng tạo, mà nguồn gốc của

nó là trào lưu văn học nghệ thuật mang tên chủ nghĩa hiện thực mới ra đời vào khoảng những năm hai mươi thế kỉ XX ở Đức và Ý vào những năm sau Chiến tranh thế giới II phát triển mạnh trong thể loại tiểu thuyết, điện ảnh và nghệ thuật tạo hình Giai đọan đầu hình thành và phát triển, khi nói về chủ nghĩa hiện thực mới, người ta nói nhiều tới nước Ý giống như cái nôi của phong trào này trước khi nó xuất hiện ở Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ Đó là sự tiếp nối truyền thống chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỉ XIX, sáng tạo những hình thức nghệ thuật mới bằng bút pháp tả chân đa dạng, gắn liền với tên tuổi nhiều nhà văn có tiếng trên thế giới như V Pratolini, E Vittorini

Moravia được coi là một trong các nhà văn hiện thực mới tiêu biểu, qua những sáng tác của ông có thể tìm thấy những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa hiện thực mới Đồng thời qua Moravia còn có thể thấy được sự tương tác với

Trang 5

chủ nghĩa hiện thực truyền thống và chuyển giao sang các khuynh hướng hiện đại (như chủ nghĩa hiện sinh, siêu thực) – đây cũng là đặc điểm của các khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa nói chung Ngoài ra, sự tương tác của văn học với điện ảnh, hiện tượng văn chương đại chúng (Moravia là một nhà văn

“bán chạy” – best seller – bởi tiểu thuyết của ông đáp ứng thị hiếu đại chúng) cũng giúp cho thấy sự chuyển giao từ “hiện đại” sang “hậu hiện đại” – điều này rất bổ ích đối với việc tìm hiểu tiến trình văn học thế kỷ XX Vì lẽ đó đề tài tập trung nghiên cứu những đặc điểm mới, hiện đại trong sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực thông qua những sáng tác của Moravia

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam có thể khẳng định chưa có bất cứ một công trình nghiên cứu về Moravia và chủ nghĩa hiện thực mới trong những sáng tác của ông Hầu hết chỉ là những bản dịch một số tác phẩm gắn bó với tên tuổi của ông Tuy nhiên, đa phần những tác phẩm này đều không được dịch nguyên bản từ tiếng Ý, mà chủ yếu từ tiếng Pháp, Anh hay tiếng Nga nên cũng khó tránh khỏi tình trạng “tam sao thất bản”, không đảm bảo được những ý nghĩa

nguyên thủy của tác phẩm Chẳng hạn, với tác phẩm Gli Indifferenti, trong nhiều bài viết, bản dịch một số công trình nghiên cứu sử dụng tên dịch Thời

đại của sự thờ ơ Tuy nhiên bản dịch chính thức của tác phẩm này của hai tác

giả Ngân Tâm và Nhật Quang (Nxb Hà Nội 1991) lại dịch thành Người tình

của mẹ, với nhan đề này chỉ phản ánh một vấn đề nhỏ của tác phẩm, không

thể hiện được dụng ý của nhà văn như Thời đại của sự thờ ơ

Tương tự, với tác phẩm Bóng ma giữa trưa (A ghost at noon), xuất

hiện tới bốn phiên bản tiếng Việt khác nhau Bản dịch đầu tiên của dịch giả

Trang 6

Mạnh Chương với nhan đề Ảo ảnh ban trưa (Nxb Hải Phòng 1988), sau đó hai năm lại xuất hiện một phiên bản khác, Người chồng bị khinh bỉ của

Hoàng Hải dịch, Nxb Hà Nội (1990) Năm 2002, dịch giả Trần Văn Điền lại

cho xuất bản một bản dịch khác là Tôi bị vợ khinh (Nxb Văn Học) Trên một

số website lại có bản dịch Bóng ma giữa trưa, hay Ma hiện giữa trưa của

Trương Xuân Huy…

Việc một tác phẩm xuất hiện nhiều phiên bản khác nhau cho thấy những trở ngại rất lớn khi tìm hiểu nghiên cứu tác giả này, không những thiếu thốn về tài liệu mà còn những khó khăn khi đối diện với việc phải so sánh, đối chiếu bản dịch các tác phẩm Một phần do tiếng Ý cho đến thời điểm này vẫn

là một trong những ngôn ngữ chưa thực sự được phổ biến tại Việt Nam, trong khi những bản dịch mà người viết có được lại dịch từ nhiều ngôn ngữ khác nhau, có bản dịch từ tiếng Nga, trước đó đã được giới nghiên cứu tại Nga dịch

từ tiếng Pháp, rồi trước đó nữa các dịch giả Pháp dịch từ nguyên bản tiếng Ý Điều này khiến nội dung thực sự của tác phẩm bị biến đổi phần nào qua mỗi lần chuyển dịch

Về các công trình nghiên cứu, có thể khẳng định chưa có bất cứ nhà nghiên cứu nào ở nước ta đến thời điểm này có một công trình nghiên cứu một cách đầy đủ về Moravia Nguồn tài liệu trước năm 1975 mà chúng tôi có dịp tiếp cận được chỉ là những bài tổng hợp, bản dịch những bài phỏng vấn hay những buổi tọa đàm văn học ở Ý hay Pháp có sự góp mặt của Moravia Tuy nhiên quan điểm chung của hầu hết các bài viết, hay bản dịch đều đánh giá rất cao tài năng và nghệ thuật tiểu thuyết của Moravia, coi ông như một trong những nhà văn Ý điển hình được giới thiệu và phổ biến ở Việt Nam

Ngày 1 tháng 5 năm 1964, Ban biên tập bán nguyệt san Văn dành hẳn

một chuyên đề để tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu về Moravia và những

Trang 7

điểm nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của ông Tập trung vào hai nội dung

chính, thứ nhất Tìm hiểu về Alberto Moravia, trong đó đăng bài tiểu luận của tác giả Hoàng Vũ tường thuật lại buổi Nói chuyện với Alberto Moravia Thực

ra tác giả tập tiểu luận này chỉ dịch lại toàn bộ cuộc phỏng vấn của nhà phê bình nghệ thuật người Pháp tên là Madeleine Chapsal (sinh năm 1925, là nhà văn, nhà báo, nhà tiểu thuyết nổi tiếng) diễn ra vào năm 1960, khi Moravia đến nước Pháp Cuộc phỏng vấn tập trung vào cuộc đời riêng của nhà văn, những chặng đường ông đã qua và sự thâm nhập tài tình của hiện thực cuộc

sống vào trong tác phẩm của ông Bài viết thứ hai (Kinh nghiệm và quan

niệm sáng tác của Alberto Moravia), tác giả Nguyễn Minh Hoàng cũng chỉ

thuật lại những buổi đi, gặp gỡ nói chuyện với giới văn nghệ sĩ Pháp khi Moravia đến đất nước này Cơ bản những vấn đề trong nội dung của bài viết này giống hệt với tiểu luận của Hoàng Vũ Phần thứ hai của tạp chí này là những bản dịch bài diễn văn của Moravia (với tư cách là Chủ tịch Hội văn bút quốc tế) đọc trước hội nghị văn bút quốc tế lần thứ ba mốt nhóm họp tại Rio

de Janeiro (Brazil) vào tháng 7 năm 1960 Một bài dịch khác, hình thức như một câu chuyện ngắn mà qua đó nhà văn nói lên quan điểm về cuộc sống, về

xu hướng văn học và sự khác biệt giữa các nhà văn thuộc những vùng văn hóa khác nhau trên thế giới ảnh hưởng đến khuynh hướng sáng tác…

Ở giai đoạn từ sau năm 1975 cũng chỉ có thêm một số bản dịch các buổi nói chuyện, tranh luận về đề tài tiểu thuyết tại Ý, trong đó có sự góp mặt của Moravia và đội ngũ những nhà văn, nhà nghiên cứu tại Ý Chẳng hạn,

trong cuốn Số phận của tiểu thuyết: Ý kiến các tác giả nước ngoài, do nhóm

tác giả Lại Nguyên Ân, Nguyên Minh và Phong Vũ biên dịch, nội dung tường thuật từ buổi tọa đàm về số phận của tiểu thuyết do báo Paeze Sara (Ý) diễn

ra vào tháng 3 năm 1965 Những người tham gia bao gồm: Alberto Moravia, Pier Paolo Pazolini, Giuzeppe Arbazino, Edoardo Sanguinetti, Phransexko

Trang 8

Leonetti, Armando Vitelli Nội dung chính của buổi tranh luận này là số phận mang tính sống còn của thể loại tiểu thuyết thế kỷ XX sau những biến động của lịch sử Đây là vấn đề nóng bỏng trên văn đàn hầu hết các quốc gia trên thế giới lúc bấy giờ

Bản dịch vỏn vẹn ba mươi trang, rất ít ỏi so với những giá trị và đóng góp từ các tác phẩm của Moravia nhưng được xem là đầy đủ hơn cả vì nó ghi nhận được nhiều ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu Ý và của chính bản thân Moravia về những sáng tác của các nhà văn Ý đầu thế kỷ XX, trong đó những tác phẩm của Moravia được xem như một tâm điểm đem ra bình xét Đồng thời tại buổi thảo luận này, bản thân nhà văn cũng đưa ra những quan niệm cá nhân về sáng tác văn học và về những đánh giá từ phía các nhà nghiên cứu đối với những sáng tác của ông Sau bản dịch này, đến nay hầu như chưa có thêm bất cứ công trình nào bằng tiếng Việt đầy đủ hơn về Moravia và những sáng tác của ông, có chăng cũng chỉ là những trang giới thiệu sơ lược trong các bản dịch những tiểu thuyết của nhà văn hay lác đác

xuất hiện những tiểu luận trong một số công trình như: Nhà văn của đời

thường, Thích ứng với thế giới hiện đại, tác giả Vương Trí Nhàn đăng trong

tập sách Ngoài trời lại có trời, nhưng cũng chỉ là sự tổng hợp thông tin từ

những bản dịch trước đó Trong một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết

hay chủ nghĩa hiện thực như: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây

hiện đại của Đặng Anh Đào, Những mưu toan đổi mới của tiểu thuyết, Khảo về tiểu thuyết, Số phận của tiểu thuyết… Tuy nhiên, ở những công

trình này thì tên tuổi và tác phẩm của Moravia chỉ được nhắc đến như một cách lấy ví dụ về một trào lưu sáng tác xuất hiện trong xu hướng chung của tiểu thuyết hiện đại chứ chưa đưa ra được một hệ thống nghiên cứu trọn vẹn

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trang 9

Đối với những công trình nghiên cứu nước ngoài thì tình hình hoàn toàn trái ngược, Moravia được đánh giá như một biểu tượng của văn học Ý thế kỷ XX nên các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực điện ảnh và văn học của Ý

và các nước châu Âu, Mỹ mất khá nhiều bút mực, công sức dành để nghiên cứu về Moravia và những sáng tác của ông Nhà nghiên cứu văn học người Ý Sergio Pacifici trong các công trình nổi tiếng viết về tiểu thuyết hiện đại Ý, đã

được dịch ra tiếng Anh (như: A Guide to Contemporary Italian Literature, From Futurism to Neorealism, The Modern Italian Novel From Pea To Moravia) đã dành nhiều công phu viết về hiện tượng Moravia và chủ nghĩa

hiện thực mới Có những công trình nghiên cứu về Moravia dài tới mười ba tập, đó còn chưa kể tới những nghiên cứu nhỏ lẻ ở trong và ngoài nước Ý Các nghiên cứu Moravia bắt đầu xuất hiện nhiều từ thập niên sáu mươi thế kỷ

trước Năm 1962 Sanguineti lấy nguyên tên Alberto Moravia cho công trình

nghiên cứu của mình Năm 1966, nhà văn nhà nghiên cứu người Ý khác là

Giuliano Dego cũng cho xuất bản công trình Moravia Năm 1972, hai nhà

nghiên cứu là Freed Donald và Joan Ross thuộc trường đại học Sounthern

Illinois (Mỹ) xuất bản công trình The Existentialism of Alberto Moravia

(Chủ nghĩa hiện sinh của Alberto Moravia) tác phẩm tập trung nghiên cứu, lý giải phong cách sang tác của Moravia dưới góc độ một nhà hiện sinh chủ nghĩa

Hiện nay, hàng năm vẫn thường xuất hiện thêm nhiều những nghiên cứu mới về nhà văn này Tuy nhiên do khó khăn về ngôn ngữ, nhiều tài liệu các công trình này được viết bằng tiếng Ý nên người viết chưa thể tiếp cận được Trong điều kiện thiếu thốn về tư liệu nghiên cứu như vậy, ngoài việc tận dụng tối đa những tài liệu được dịch sang tiếng Việt, người viết cố gắng

mở rộng vấn đề bằng cách sử dụng những phương pháp mang tính tổng hợp,

so sánh những sáng tác của Moravia trong tương quan với những nhà văn,

Trang 10

những trường phái khác thuộc chủ nghĩa hiện đại để có được một cách nhìn toàn diện về nhà văn này trong tương quan với hoàn cảnh lịch sử, xã hội Một chú ý nữa là dòng văn học hiện thực mới chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của khuynh hướng điện ảnh hiện thực mới ở Ý lúc bấy giờ, vì vậy, trong chừng mực nào đó những quan điểm trong nghệ thuật điện ảnh hiện thực mới cũng

có thể trở thành những lý lẽ, luận cứ (ít nhất ở điểm giao thoa giữa văn học và điện ảnh) sẽ được người đọc vận dụng cho bài nghiên cứu này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là toàn bộ những tác phẩm của

Moravia đã được dịch sang tiếng Việt như: Cô gái thành Rome; Bóng ma

giữa trưa (hay Tôi bị vợ khinh, Người chồng bị vợ khinh, Ảo ảnh ban trưa); Những tham vọng sụp đổ; Hai người đàn bà; Thời đại của sự thờ ơ (hay Người tình của mẹ 1929); Tình vợ chồng

Một điểm cần chú ý nữa là để hiểu hết những ý nghĩa, giá trị phản ánh

từ những sáng tác của Moravia chúng tôi cũng phải dựa trên cơ sở những tư liệu về đất nước, con người Ý Những điều kiện về lịch sử xã hội trong thế kỷ

XX, coi đây là yếu tố chủ đạo tác động đến tư tưởng, quan điểm sáng tác của Moravia Ngoài ra, tất cả những sách, báo, tạp chí, bài nghiên cứu trên các website liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng sẽ trở thành tư liệu

để khảo sát phục vụ công tác nghiên cứu đề tài này

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau

- Phương pháp so sánh đối chiếu

Trang 11

Đây sẽ là phương pháp chính mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu đề tài này bởi không ít nhà nghiên cứu xem chủ nghĩa hiện thực mới như một hướng phát triển của chủ nghĩa hiện thực, nhưng những ý kiến về trào lưu này vẫn có nhiều bất đồng Ngay cả sự thể nghiệm những lý thuyết về hiện thực mới trong sáng tác của Moravia cũng còn nhiều vấn đề gây tranh cãi, ngoài những đặc trưng riêng tạo nên phong cách của nhà văn còn có những điểm chung của chủ nghĩa hiện thực truyền thống, hơn nữa trong quá trình dịch các tác phẩm từ nhiều thứ tiếng khác nhau chắc chắn khó tránh khỏi “độ vênh” về nội dung giữa các bản dịch với nguyên bản, do đó việc so sánh để tìm ra thông điệp của từng tác phẩm cũng hết sức cần thiết

Việc sử dụng phương pháp so sánh sẽ giúp chúng ta có cái nhìn rạch ròi

về tương quan giữa chủ nghĩa hiện thực truyền thống với một số hình thức khác của nó như chủ nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa…

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Luận văn cố gắng vận dụng những thành tựu của thi pháp học để giải quyết vấn đề đặt ra, giúp xác định đặc trưng thể loại, các thủ pháp nghệ thuật,

hệ thống không – thời gian, hệ thống nhân vật… tạo nên phong cách sáng tác của nhà văn, qua đó có thể khái quát lên được những nét cơ bản về đặc trưng nghệ thuật, những cách tân của chủ nghĩa hiện thực trong những sáng tác của Moravia… Từ đó có thể rút ra được những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa hiện thực mới, những điểm tương đồng và khác biệt của phương pháp sáng tác này với chủ nghĩa hiện thực truyền thống

Trang 12

- Văn bản học

Trong điều kiện những công trình nghiên cứu về Moravia và những sáng tác của ông tại Việt Nam còn rất hạn chế, việc nghiên cứu, khảo sát văn bản những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt là hết sức cần thiết Người viết cố gắng áp dụng những lý thuyết khảo sát văn bản để tìm hiểu cặn kẽ những biểu hiện của lý thuyết hiện thực mới trong tác phẩm của Moravia Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi phải phối hợp thêm một số phương pháp như: lịch sử xã hội, văn hoá – văn học, nghiên cứu tiểu sử, xã hội học, phương pháp hệ thống cấu trúc, phương pháp liên ngành… với mong muốn có được cách tiếp cận toàn diện nhất về Moravia và những sáng tác của ông trong vai trò là điển hình của chủ nghĩa hiện thực mới

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và Kết luận, luận văn gồm ba chương chính:

Chương 1: Moravia và con đường đến với chủ nghĩa hiện thực mới

Chương này nhằm cung cấp những lý thuyết cơ bản về chủ nghĩa hiện thực mới (lịch sử hình thành, phát triển ) trong lĩnh vực điện ảnh và trong văn học Tìm hiểu về cuộc đời, những sáng tác của Moravia với vai trò là những tác phẩm tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực mới, quan điểm của ông về tiểu thuyết, tiểu thuyết hiện thực mới

Chương 2: Chủ nghĩa hiện thực mới trong tiểu thuyết Moravia

Chủ nghĩa hiện thực mới là sản phẩm của một thời đại mới Chương hai

đi vào tìm hiểu những đặc trưng nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực mới được phản ánh trong các tác phẩm của Moravia, những cái nhìn mới của nhà văn vào hiện thực

Trang 13

Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật hiện thực mới trong tiểu thuyết của Moravia

Chương này đi vào tìm hiểu một số phương diện nghệ thuật như kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật trong một số tiểu thuyết được xem là biểu hiện của

"hiện thực mới" rõ nét nhất của Moravia

6 Đóng góp của luận văn

Có thể xem những lý thuyết trong công trình này là những nghiên cứu, sưu tầm và sắp xếp một cách có hệ thống nhất bằng tiếng Việt về Moravia -với tư cách là tác giả tiêu biểu của một trào lưu văn học phương Tây thế kỷ

XX Công trình cũng cung cấp những lý thuyết cơ bản, những đặc trưng nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực mới được minh họa bằng những dẫn chứng cụ thể

Với khối lượng sáng tác đồ sộ của Moravia, công trình nghiên cứu ngắn này mới chỉ chạm được đến những đặc điểm cơ bản của một số tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn Chúng tôi hy vọng những thông tin nền tảng này sẽ cung cấp một số gợi mở hữu ích cho những công trình mở rộng, tìm hiểu về Moravia và chủ nghĩa hiện thực mới sau này, không chỉ trong tiểu thuyết mà

cả những truyện ngắn của Moravia

Trang 14

CHƯƠNG 1:

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỚI VÀ CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỚI 1.1 Chủ nghĩa hiện thực mới, một bước tiến của chủ nghĩa hiện thực

Nhà nghiên cứu người Nga – Boris Soutchkov đã định nghĩa chủ nghĩa hiện thực mới như sau: “Chủ nghĩa hiện thực mới ở Ý - một trào lưu của chủ nghĩa hiện thực phê phán mà đặc điểm tiêu biểu là rất chú ý tới đời sống thường ngày của con người bình thường, chú ý tới những nhu cầu và đòi hỏi hàng ngày của họ” [41, tr.315] Định nghĩa này đã xếp những sáng tác của Moravia vào nhóm hiện thực phê phán, không ít nhà nghiên cứu có chung quan điểm này vì nội dung trong các sang tác của Moravia nói nhiều đến mặt trái của xã hội bằng giọng châm biếm sâu cay

Chủ nghĩa hiện thực mới (neorealism), theo giải thích của Lại Nguyên

Ân trong Từ điển văn học (bộ mới), là một khuynh hướng văn học và nghệ

thuật Ý vào giữa những năm 40 – 50 của thế kỷ XX, nảy sinh sau đại chiến thế giới thứ II, gắn với văn hóa dân chủ và chống phát xít Trào lưu này phát triển mạnh trong lĩnh vực điện ảnh Ý sau đó ảnh hưởng tới văn học

Trong quá trình truy tìm nguồn gốc của khuynh hướng này, giới nghiên cứu chú ý tới trào lưu “chủ nghĩa chân thật” (tiếng Ý là Verismo), trào lưu được xem như chủ nghĩa hiện thực truyền thống của Ý đã có ảnh hưởng đến Moravia Verismo có ngọn nguồn của từ âm nhạc, cụ thể là dòng nhạc opera

Ý cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Mục đích của trường phái này là phơi bày hiện thực trần trụi của xã hội đương thời và đả kích những vở opera mang màu sắc thần thoại trước đó Ngoài Verismo, chủ nghĩa hiện thực mới còn chịu ảnh hưởng nhất định từ các nhà hiện sinh chủ nghĩa, của những nhà văn

Trang 15

thuộc chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Gorki, Fadeev) và một

số tác giả Mỹ như: Hemingway, Steinbeck Đặc điểm nổi bật của khuynh hướng hiện thực mới là sự phản ứng đối với văn học Ý dưới chế độ phát xít Mussolini, phản ứng lại một nền văn học xa rời nhân dân, đầy chất từ chương

và tính mị dân, hoặc rơi vào những tìm tòi thuần hình thức [18, tr.283]

Giống như hàng loạt các trào lưu văn học (chủ nghĩa tượng trưng, lập thể, đa đa, siêu thực, vị lai, biểu hiện, trừu tượng, v.v ), chủ nghĩa hiện thực mới xuất hiện cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tất cả nằm trong một xu hướng chung của sự vận động phát triển của văn học mà người ta gọi bằng cái tên

chung là chủ nghĩa hiện đại Trong bản dịch Văn học chủ nghĩa hiện đại của

Đỗ Văn Hiểu, trích dịch từ cuốn Lí luận văn học của Tôn Văn Hiến, Lưu An

Hải chủ biên (2002), Nxb Đại học Sư phạm Hoa Trung, Vũ Hán, Trung Quốc, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, “đây là giai đoạn chủ nghĩa tư bản phương Tây đi vào thời kỳ lũng đoạn, đồng thời cũng là thời kỳ xuất hiện hàng loạt những phát hiện khoa học trong lĩnh vực vật lý (thuyết lượng tử của Planck, thuyết tương đối của Einstein, nguyên lí không chắc chắn về nguyên tắc của Werner Heisenberg ) cùng những biến động về lịch sử xã hội đã làm tăng

sự hoài nghi của con người đối với truyền thống và lí tính vốn tưởng chừng như một giá trị cố hữu Từ đó hình thành trào lưu triết học tương ứng với trào lưu văn hóa xã hội, coi trọng chủ quan, nhấn mạnh phi lí tính Chủ nghĩa thần

bí của Kierkegaard, chủ nghĩa hiện sinh của Karl Jaspers, triết học siêu nhân của Nietzsche, duy ý chí luận và thuyết không gian sinh tồn ảo của Schopenhauer, thuyết trực giác của Bergson, học thuyết phân tích tinh thần của Freud…, sự biến đổi, hỗn loạn, mâu thuẫn và nguy cơ tương ứng của thế giới tư bản chủ nghĩa thẩm thấu vào các góc của xã hội, và cũng thấm vào lĩnh vực văn học nghệ thuật” [55]

Trang 16

Bản thân chủ nghĩa hiện đại và những trường phái trong đó không có được sự nhất quán, luôn có sự đan xen của rất nhiều quan điểm văn học trong quá trình phát triển và chuyển biến từ văn học cận đại sang văn học hiện đại của phương Tây Điều này bắt nguồn từ thực tiễn xã hội bấy giờ, thời điểm gắn liền với những khủng hoảng trầm trọng về ý thức con người dẫn đến hai cuộc thế chiến tàn khốc nhất trong lịch sử loài người “Con người thế kỷ XX nhận ra sự bất lực của những tri thức khoa học thế kỷ XIX trước việc giải thích vũ trụ, nhận ra những yếu tố phi nhân bản của đời sống kỹ nghệ hoá, nhận ra bản chất giả tạo của những định chế tôn giáo và xã hội và quan trọng hơn hết, nhận ra rằng hiện thực không phải là một ý niệm ngoại tại và khách quan, mà là những ý niệm nội tại, chủ quan, bị uốn nắn theo những khung lịch

sử, xã hội, chủng tộc và ý thức hệ, khiến nó có thể trở thành nguyên nhân của những xung đột chính trị và chiến tranh phi nghĩa núp sau những chiêu bài đạo đức giả Từ những nhận thức đó, con người không còn ngây thơ để tin tưởng vào một giá trị trung tâm nào Thuyết tương đối của Albert Einstein được ví như “đòn đánh” làm sụp đổ cái nhìn lý tính khép kín, hữu hạn, khả lượng và nhân quả của thế kỷ XIX đối với vũ trụ, để con người hiện đại được nhìn thấy vũ trụ như một thực thể mang tính tương đối, mở rộng, thường chuyển và bất định Cái nhìn đó, khi rọi về xã hội con người, sẽ không còn thấy là một hình ảnh của sự tiến hoá và phát triển theo tuyến tính lịch sử, mà

là một thứ cấu trúc hàm chứa những mặt nổi, mặt chìm và đổi thay theo những khung định chế ý thức Cái nhìn này khiến con người tỉnh mộng, đặc biệt khi những nghiên cứu và phát hiện mới trong lĩnh vực tâm lý học và tâm

lý liệu pháp cho thấy thực chất thái độ suy nghĩ và ứng xử của cá nhân chỉ là một sản phẩm bị nhào nặn bởi sức mạnh của những cơ cấu ý thức đứng sau” [52] Tuy nhiên cần lưu ý một điều, trong xu hướng chung của chủ nghĩa hiện đại, ở mỗi quốc gia, mỗi vùng miền lại có một điều kiện xã hội khác nhau nên

Trang 17

việc nảy sinh những trào lưu, khuynh hướng khác nhau cũng là điều dễ hiểu

Ở Nga có cuộc cách mạng tháng Mười đánh dấu sự thắng thế của chủ nghĩa cộng sản nên hình thành chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, ở Đức xuất hiện văn học phi lý tính và ở Ý lại có chủ nghĩa hiện thực mới Dường như

là một quy luật, việc xuất hiện một xu hướng phát triển của chủ nghĩa hiện thực thường diễn ra trong những xã hội có phong trào đấu tranh gay gắt giữa những giai cấp đối lập Nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa hiện thực là hướng tới miêu tả cuộc sống một cách chân thật, cụ thể lịch sử Nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên bang Xô Viết và hàng loạt đất nước xã hội chủ nghĩa khác cũng là một hình thức mới của chủ nghĩa hiện thực Tuy nhiên không thể đồng nhất nó với chủ nghĩa hiện thực Ý xuất hiện cùng thời điểm này Chủ nghĩa hiện thực mới ở Ý được hình thành trong những điều kiện khác hẳn so với ở Nga, mặc dù xét về bản chất, chủ nghĩa hiện thực mới cũng vẫn là phương thức phản ánh hiện thực xã hội, đưa hiện thực vào văn học như trào lưu hiện thực trước đó đã từng sử dụng Câu hỏi đặt ra là luồng nghệ thuật hiện thực mới này có giống với chủ nghĩa hiện thực

cổ điển, hay chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa xã hội cùng thời với nó hay không ?

Lịch sử văn học Ý nhìn nhận giai đoạn nảy sinh chủ nghĩa hiện thực mới là giai đoạn gắn liền với sự tan rã của những liên hệ gia đình và sự hủy hoại của nhân cách dưới tác động của lòng vị kỷ của con người trong xã hội, con người phải loại bỏ những mặt tốt đẹp của nhân tính do ảnh hưởng của sự tính toán trục lợi do những cám dỗ từ bên ngoài Tâm hồn con người vì thế trở lên tàn bạo và trống rỗng, những giá trị đạo đức truyền thống bị xem thường

Đó cũng chính là sự khủng hoảng về ý thức của con người thế kỷ XX

Trang 18

Nếu như hiện thực trong xã hội Pháp mà Balzac sống là giai đoạn chủ nghĩa tư bản đang trên đà trỗi dậy, con người bị cơn lốc tiền tài, danh vọng lôi cuốn, xã hội Ý trong cách nhìn của Moravia là xã hội mà bề ngoài của nó đã

có những tiến bộ nhất định về điều kiện vật chất, kỹ thuật… thế nhưng đứng ở

vị trí này con người lại chẳng thể tìm ra được ý nghĩa, giá trị cần thiết của cuộc sống Con người sống một cách cảm tính và cuối cùng rơi vào bế tắc vô tận Trong bối cảnh của một đất nước trong nhiều thập kỷ chế độ độc tài cai trị sử dụng một nền “nghệ thuật ru ngủ” thì chuyện xuất hiện một khuynh hướng đi ngược lại với nó là chuyện tất nhiên Nước Ý trong và sau chiến tranh thế giới thứ II, có những tác phẩm (văn học, điện ảnh ) mới xuất hiện, phản ánh, bóc trần cuộc sống thực tế của tầng lớp lao động bình dân trong xã hội Đó đúng là bức tranh xã hội rộng lớn, khắc họa chân thực những số phận thấp cổ bé họng trong xã hội Ý, hoàn toàn trái ngược lại với nền nghệ thuật được tầng lớp cầm quyền Ý tô hồng Chính vì vậy, những người nghệ sĩ sáng tác theo khuynh hướng hiện thực mới đều bị giới cầm quyền quy kết là những

kẻ chống đối, đi ngược lại với tư tưởng chỉ đạo của dòng nghệ thuật độc tài

Trong cuốn Số phận lịch sử cuả chủ nghĩa hiện thực, Boris

Soutchkov đã có sự so sánh rất cụ thể giữa chủ nghĩa hiện thực phê phán với chủ nghĩa hiện thực mới cho thấy giữa hai thuật ngữ này cũng có những ranh giới rõ rang, giống như ranh giới của hiện thực xã hội chủ nghĩa với hiện thực truyền thống Đối với chủ nghĩa hiện thực phê phán – hiện thực truyền thống, ông quan niệm, “sức mạnh khái quát nghệ thuật thường có ở những tác phẩm

là dưạ vào chủ nghĩa lịch sử tự phát của tư duy những người sáng tạo ra chúng Điều này đã cho phép những đại diện cự phách của chủ nghĩa này nhìn nhận và miêu tả nhân vật của họ trong sự thống nhất những nét tâm lý và xã hội của chúng, đồng thời tạo khả năng cho họ miêu tả những căn cứ xã hội của tâm lý con người, của thế giới bên trong con người Chủ nghĩa hiện thực

Trang 19

mới nhấn mạnh tính chất tư liệu, tính xác thực của cái được miêu tả, và vì thế các tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực mới biến thành một loại tư liệu về thời đại, tài liệu này lưu giữ và truyền đạt kinh nghiệm cá nhân của người sáng tác

Vì vậy trong các tác phẩm hiện thực mới, việc phân tích tâm lý đã lùi bước trước việc miêu tả tình thế mà các nhân vật hoạt động Nhưng việc miêu tả tính cách nhân vật vẫn giữ được tính quyết định về mặt xã hội bởi vì duy trì tính chất tư liệu [41, tr.316]

Tại buổi tọa đàm về số phận của tiểu thuyết của báo Paeze sera (một tờ báo nổi tiếng về nghệ thuật ở Ý) tổ chức tháng 3 năm 1965 Moravia đã mô tả quá trình làm mới thực tại của nhà tiểu thuyết thế kỷ XX như thế này: “Phải thừa nhận rằng cuộc sống xã hội chúng ta chứa đầy những thây ma, sai lạc, những cặn bã hàng thế kỷ mà chúng ta có thể phản ánh chúng như chính bản thân chúng Chúng ta sống giữa những sự vật chết, mặc dù thực sự chết nhưng dường như vẫn đang sống Chúng chết như thế nào thì đã rõ ràng vì nó đã vấp phải viên đá thử vàng là thứ tiểu thuyết có khả năng phơi bày tất cả sự bất chính của chúng Cuộc sống xã hội được đan dệt bằng những sự vật bất chính bởi vì không có cuộc sống xã hội hiện đại, chỉ có cuộc sống hiện đại bao gồm những giá trị được kế thừa từ lâu đời, những giá trị đã hoàn toàn mục nát vì

sự già cỗi của chúng Nhưng những cái đã qua ấy, thông qua ý thức của nhà văn, chúng lại có thể trở thành những sự kiện mới, thậm chí không ai đả động

tới nó và lợi dụng nó” [3, tr.25]

Các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình trong buổi hội thảo này cũng nhất trí một điều là khi đứng trước sự khủng hoảng của thái độ với thực tại, người ta bắt đầu kiểm tra các phương thức đã dùng để xác lập sự tiếp xúc với thực tại Do đó nhà tiểu thuyết đang thí nghiệm những phương thức của riêng mình để khẳng định hiệu lực, kết quả của chúng, khẳng định rằng chúng có

Trang 20

một sức mạnh miêu tả nào đó Vì thế Moravia coi “tiểu thuyết mới và những cuốn tiểu thuyết ra đời ở châu Âu và Ý chỉ như những thí nghiệm có mục đích thay đổi các phương thức biểu hiện, mà cũng có nghĩa là biến đổi cả thực tại, tức là đem lại cho thực tại mới lối thoát qua các “nắp van” là những phương thức ngôn ngữ biểu hiện mới” [3, tr.36]

Một điều chắc chắn rằng, chủ nghĩa hiện thực mới không thoát ly hoàn toàn khỏi chủ nghĩa hiện thực truyền thống thế kỷ XIX, bản thân tên gọi của trường phái này cũng nói lên điều đó Quy luật “phủ định của phủ định” trong phép biện chứng duy vật cũng đã chỉ ra, những cái đi sau không thể phủ định toàn bộ những cái trước đó Đây cũng là quy luật chung của sự phát triển nghệ thuật, một nền nghệ thuật mới, tiến bộ, luôn bao hàm yếu tố kế thừa, sự

kế thừa ở đây là từ chủ nghĩa hiện thực cổ điển Do vậy, cũng giống như chủ nghĩa hiện thực huyền ảo hay hiện thực xã hội chủ nghĩa…, chủ nghĩa hiện thực mới như một nhánh phát triển của chủ nghĩa hiện thực cổ điển, vì thế không thể loại bỏ hoàn toàn những đặc trưng cơ bản của của của nghĩa hiện thực vốn được xem là “cha đẻ” ra chúng Điều này hoàn toàn phù hợp với logic vận động Hiện thực cũng là một phạm trù của phép biện chứng, nên nó luôn luôn mới, vận động theo thời gian, cái sau kế thừa cái trước Tuy nhiên không phải trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể sản sinh ra những tình thế tương tự Không phải cứ sống dưới chế độ phát xít, dùng nền nghệ thuật mới đấu tranh với nền nghệ thuật của giai cấp cầm quyền là có thể nảy sinh dòng văn học hiện thực mới Chẳng phải ở Đức hay Nhật Bản cũng chịu sự cai trị, cũng bị chế độ phát xít hà khắc kìm kẹp đó sao Ở những quốc gia đó cũng xuất hiện những phong trào dùng nghệ thuật chống phát xít sôi nổi không thua

gì nước Ý, nhưng hiện thực lại chẳng thể được làm mới một cách đầy đủ trong nghệ thuật như ở Ý Điều đó nói nên rằng trào lưu này ngoài những vận động thông thường của một khuynh hướng nghệ thuật (từ hiện thực đến hiện

Trang 21

thực mới), nó còn là kết quả sự tác động bởi những nhân tố khách quan lịch

sử khiến nó có những đặc trưng nghệ thuật nghệ thuật riêng mà chỉ có thể có được ở cái nôi nó nảy nở và phát triển, cụ thể ở đây là nước Ý

Adoardo Sanguinetti (1930 – 2010), một nhà văn, nhà phê bình Ý còn đưa ra luận điểm cho rằng, tiểu thuyết hiện thực mới là tàn dư của cấu trúc tiểu thuyết gắn với xã hội tư sản Ông gọi tiểu tiểu thuyết hậu chiến Ý chỉ là

“sự phục chế của tiểu thuyết” [3, tr.38] Nhìn vào quan điểm này cho thấy Sanguinetti đã bỏ qua những điều cơ bản về sự kế thừa và phát triển trong xu hướng vận động của lịch sử văn học Trong các tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực mới, những đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực cổ điển đã không còn giữ nguyên bản sắc của nó nữa Chẳng hạn như yếu tố điển hình (tính cách, hoàn cảnh) không còn được vận dụng một cách chặt chẽ thông suốt Cấu trúc của những tác phẩm tiểu thuyết cũng có sự thay đổi rõ ràng Không còn là bức tranh xã hội rộng lớn, có những số phận mang tính đặc trưng, thay vào đó là

sự tập trung nhấn mạnh đến số phận cá nhân nhân vật bằng cách miêu tả sự trải nghiệm của cá nhân, xây dựng hình ảnh nhân vật, nhờ vậy cái điển hình của hoàn cảnh hay tính cách đã bị tước bỏ, được thay thế bằng sự thật trần trụi lấy từ những lát cắt của cuộc sống, vì vậy không thể gọi đó là sự phục chế được

Dường như chủ nghĩa hiện thực mới Ý được định hình trong điện ảnh sớm hơn, trong khi khái niệm điện ảnh hiện thực mới được dùng rộng rãi hơn

để chỉ dòng phim Ý giai đoạn này, trong lĩnh vực văn học lại được sử dụng một các dè dặt Điều này nảy sinh một vấn đề là nếu lấy căn cứ khái niệm hiện thực mới xuất phát từ điện ảnh, thì liệu lý thuyết của các nhà làm phim

có thể soi sáng được khuynh hướng văn học này ? Trong bộ phim nổi tiếng được coi như tuyên ngôn nghệ thuật của khuynh hướng hiện thực mới, bộ

Trang 22

phim Rome thành phố mở, ý định của đạo diễn người Ý – Rossellii (1906 –

1977) là xây dựng kết cấu bộ phim giống như một vở nhạc kịch Những cảnh quay được tiến hành quay trực tiếp về những gì đang diễn ra ngoài xã hội, bằng khung cảnh thực mà bất cứ người dân Ý nào cũng có thể nhận ra Nó khác với những cảnh quay được dàn dựng trong những phim trường đồ sộ của chính quyền độc tài Mục đích mà bộ phim hướng tới là giúp người xem nhận thức nó như một thực tế đang diễn ra trước mắt họ, giúp họ phân định rõ ràng giữa cái tốt và cái xấu bằng chủ quan của từng người Mục đích gần giống với phương pháp gián cách (lạ hóa) trong các vở kịch của nhà viết kịch người Đức - Bertolt Brecht Đó là một cách làm mà nhà làm phim muốn kích động tình cảm, suy nghĩ (từ phía khán giả) chứ không phải là một phản ứng thụ động, rơi vào trạng thái cảm xúc của nhân vật

Các nhà nghiên cứu điện ảnh lúc bấy giờ cũng chỉ xác định được những yếu tố căn bản về nội dung như: đó là những phim mang cảm hứng nhân bản, đấu tranh cho công bằng xã hội và phẩm giá của người thường dân, nhìn thẳng vào cuộc sống của những con người đói khát đến kiệt sức, vào những cặp mắt không có tuổi thơ của con cái họ, cho thấy cuộc đời đã biến người ta trở lên hung dữ như thế nào… Thêm vào đó, tính xác thực của thủ pháp miêu

tả bằng hình ảnh, tính chính xác của các chi tiết, việc sử dụng người diễn nghiệp dư, người thật, việc thật trên chính đường phố Ý, dùng ngôn ngữ thông tục, pha tiếng địa phương… khiến phim diễn xuất trở lên gần với phim

tư liệu Tuy nhiên, họ chưa giải mã được hết tính nghệ thuật trong việc vận dụng những thủ pháp để thực hiện dòng phim này

Điều mà người ta nói tới nhiều là những bộ phim hiện thực mới như một sự phản ứng lại với dòng phim của chế độ phát xít Ý, và nêu lên được bản chất của chủ nghĩa hiện thực mới là sự nối tiếp tính liên tục vận động của

Trang 23

lịch sử, bởi lẽ nó gắn liền với trào lưu phản ánh toàn bộ sự chân thực đã in đậm dấu ấn trên nền văn hóa Ý đầu thế kỷ XX Rõ nhất trong điện ảnh mới,

có thể tìm thấy sự tiếp thu, ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa từ điện ảnh Xô Viết được Trung tâm thử nghiệm phim của Ý truyền bá

từ năm 1935 Tuy chủ nghĩa hiện thực mới ở điện ảnh chỉ phát triển trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng kinh nghiệm của nó tác động mạnh đến tiến trình điện ảnh thế giới, rõ nhất là thể tài “điện ảnh chính trị” những năm 1960

“thật khó mà cho rằng hiện nay không có tiểu thuyết Marxism, bởi vì chủ nghĩa Marx đã thâm nhập vào nhận thức, vào thái độ của chúng ta đối với thực tại đến nỗi không thể không có tiểu thuyết Marxism [3, tr.45] Tuy nhiên, chủ nghĩa hiện thực mới ở Ý cũng có những nguyên tắc riêng của nó, chẳng hạn như việc bắt nguồn từ chủ nghĩa chân thật, cùng là phản ánh hiện thực nhưng có những khác biệt cơ bản trong việc xác lập sự tiếp xúc với thực tại khách quan Và nó có xu hướng trình bày đời sống một cách tự nhiên, bằng phong cách ngôn ngữ mang tính giản dị, cô đọng, trầm tĩnh, dễ hiểu Đặc biệt, trung tâm của các tác phẩm hiện thực mới là số phận con người bình thường

Trong văn học Ý, chủ nghĩa hiện thực mới có sự tham gia của một loạt nhà văn trẻ, mạnh mẽ nhất trong những năm trước và trong chiến tranh thế

Trang 24

giới thứ hai, mặc dù không tập hợp thành tổ chức nhưng gần gũi nhau trong việc lựa chọn đề tài kháng chiến chống phát xít, xây dựng các nhân vật thường là những thường dân, du kích, tham gia chống phát xít, chống giới chủ

ở đô thị hay thôn quê, chống lạc hậu và bần cùng… Thể loại chủ yếu của các nhà văn thuộc khuynh hướng hiện thực mới là tính “tư liệu” trong phương thức trần thuật có sự kết hợp các yếu tố hồi ký, tự truyện với hư cấu nghệ thuật, kết hợp việc miêu tả các biến cố thực với những câu chuyện về sự

trưởng thành của nhân vật…

1.2 Chủ nghĩa hiện thực mới trong điện ảnh và văn học

Trong sự xuất hiện và phát triển của chủ nghĩa hiện thực mới, hai lĩnh vực: điện ảnh và văn học được coi là hai dòng nghệ thuật mang dấu ấn đặc trưng Xác định hiện thực mới xuất hiện trong điện ảnh trước hay văn học trước là một yêu cầu cần thiết Tuy nhiên, yêu cầu này đến nay vẫn chưa rõ

ràng Khái niệm neorealism là tên gọi một cách khá mơ hồ do nhà phê bình

điện ảnh mác xít của Ý là Umberto Barbaro đề xuất vào năm 1942, sau này các nhà nghiên cứu lấy chính năm này làm cái mốc cho giai đoạn hình thành

và phát triển điện ảnh hiện thực mới (1942 – 1951) Trong đó, dấu ấn nền điện ảnh Ý trong những năm 1945 - 1955 là một trong những trào lưu điện ảnh quan trọng nhất của thời hậu chiến và đã tạo được nhiều ảnh hưởng sâu

xa tới tiến trình lịch sử điện ảnh thế giới

Xuất phát từ thực tế thời kỳ chế độ độc tài Mussolini cầm quyền, tại Ý lúc bấy giờ hình thành nền công nghiệp “điện ảnh gây mê”, nền điện ảnh đã sản sinh ra những bộ phim sử thi lịch sử đồ sộ và kịch bi lụy (melodramas) phục vụ tầng lớp khán giả trung lưu Dòng phim cũ này có biệt hiệu là “điện thoại trắng” (white – telephone), do trong các bộ phim này có một chi tiết bắt buộc là phải có sự xuất hiện hình ảnh của chiếc máy điện thoại trắng - biểu

Trang 25

tượng của sự giàu sang phú quý) Các nhà phê bình gọi một cách mỉa mai về thể loại phim hài theo chủ nghĩa thế giới điên rồ nói về đời sống của bọn nhà giàu vô công rồi nghề quẩn quanh bên các cô ả õng ẹo Đó là những bộ phim

có nội dung sơ sài, nông cạn và suy đồi được sử dụng như một công cụ tuyên truyền cho chế độ cầm quyền, nhất là việc cổ vũ cho cho quân đội phát xít trong suốt thời gian diễn ra cuộc thế chiến thứ hai Thế nhưng, chế độ phát xít

Ý lúc này đã bước sang giai đoạn suy thoái, tiến dần tới sự diệt vong Bản thân nền điện ảnh vốn được xem là công cụ tuyên truyền cho chế độ này theo

đó cũng nảy sinh nhu cầu cần được thay thế

Những mầm mống của dòng phim mới trong nền điện ảnh Ý nảy sinh vào đúng giai đoạn mà chính quyền phát xít kiểm duyệt gắt gao nhất Bộ phim

báo hiệu sự xuất hiện dòng phim mới là Quattro passi tra le nuvole (tạm dịch

là Bước đi trong những đám mây) của đạo diễn Alessandro Blasetti vào năm

1942 được đặc biệt chú ý của đông đảo khán giả bấy giờ, nó giống như một

sự bất ngờ đối với xã hội Ý, bởi lần đầu tiên có một bộ phim mà nội dung đề cập đến cuộc sống của tầng lớp bình dân, giống như một sự “ngược dòng” với dòng phim hiện hành dưới chế độ phát xít Ý đang thống trị Nhiều nhà nghiên cứu sau này coi đó là sự kiện đầu tiên đánh dấu sự ra đời của trào lưu hiện thực mới trong nghệ thuật điện ảnh Ý, sau đó khái niệm này được sử dụng

rộng rãi sang lĩnh vực văn học, hội họa… Sau Bước đi trong những đám

mây còn xuất hiện một số bộ phim khác đánh dấu sự manh nha và phát triển

của một dòng phim hiện thực mới Đáng chú ý, bộ phim được coi là mốc đánh

dấu điện ảnh hiện thực mới thành hình là Rome Città apera (Rome - Thành

phố mở, 1945), ra đời ngay sau khi chiến tranh kết thúc Ngay khi công chiếu,

bộ phim nhanh chóng tạo được tiếng vang, và được xem là kinh điển của điện ảnh hiện thực mới, vì lần đầu tiên có một bộ phim mà nội dung của nó dám nói và nói thẳng những điều mà những phim trước đó chưa dám nói hoặc là

Trang 26

nói một cách dè dặt Bộ phim phản ánh chính xác bầu không khí đạo đức và tâm lý của thời kỳ sau chiến tranh nhờ sự phối hợp giữa phong cách làm phim mới làm nổi bật tâm trạng, sự căng thẳng và bi kịch cuộc sống của xã hội Ý dưới sự chiếm đóng của Đức quốc xã Bộ phim được giới nghiên cứu đánh giá giống như một thông điệp thông báo sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực mới Sau khi bộ phim xuất hiện, cũng là lúc cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc, nền kinh tế Ý sau chiến tranh bị thiệt hại nặng nề, cơ sở hạ tầng tại nhiều thành phố lớn bị phá huỷ, hàng loạt phim trường lớn của nền công nghiệp điện ảnh Ý nằm trong cảnh đổ nát Thiếu thốn về trang thiết bị kỹ thuật, ngân sách làm phim eo hẹp khiến những bộ phim trong những năm đầu thời hậu chiến luôn lấy tiêu chí tiết kiệm kinh phí tối đa làm đầu Các nhà làm phim đã nghĩ tới việc tận dụng triệt để những khung hình là những bối cảnh thực tế Hầu hết những cảnh quay của các bộ phim ở thời điểm đó được tiến hành ngoài trời, ngay trên những con đường, góc phố bị tàn phá, hủy diệt bởi bom đạn Nội dung của phim đề cập đến cuộc sống khó khăn của con người trong xã hội Ý sau chiến tranh Điều bất ngờ là trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy, điện ảnh Ý đã tạo nên cơn địa chấn trong nền điện ảnh thế giới, khi

xuất hiện hàng lọat những bộ phim để đời như sáu tập phim Paisà (1946),

Germania anno zero (nước Đức năm số 0, 1948) đều của đạo diễn Roberto

Rossellini Đồng thời, điều được lịch sử điện ảnh Ý ghi nhận là từ những tác phẩm điện ảnh hiện thực mới, lần đầu tiên một nữ viên Ý (diễn viên Anna Magnani) giành Giải Oscar nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Những thành công vang dội đó đã khiến Chủ nghĩa hiện thực mới trong điện ảnh Ý thực sự

thăng hoa trong những bộ phim kinh điển xuất hiện liên tục như: Kẻ cắp xe

đạp (Ladri di biciclette, 1948), Miracolo a Milano (Miracolo ở Milan, 1950)

của đạo diễn Vittorio De Sica

Trang 27

Trong buổi diễn thuyết tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhăn văn Thành phố Hồ Chính Minh tháng 3 năm 2011, liên quan đến nội dung “sự phát triển lý thuyết điện ảnh ở phương Tây từ những thập niên 1960 cho đến nay” Giáo sư David James, đến từ đại học Nam California đã tổng kết những đặc trưng cơ bản của dòng phim hiện thực mới Ý, đó là nguyên tắc tôn trọng hiện thực, không thoát ly thực tế trên cơ sở xem xét các điều kiện xã hội Ý, đặc biệt là của tầng lớp trung lưu và tầng lớp lao động Sử dụng các diễn viên không chuyên đóng các vai tương tự như các vị trí thực của họ trong đời sống Chẳng hạn như trường hợp cả gia đình người công nhân tại Rome vào các vai

chính trong phim Kẻ cắp xe đạp

Nhà văn tiên phong của chủ nghĩa hiện thực mới cùng thời với Moravia

là Cesare Zavattini – tác giá kịch bản bộ phim này đã đưa ra sự đối lập hoàn toàn so với những bộ phim dựng từ những phim trường Hollywoods hiện đại bấy giờ Trong khi các nhà làm phim của Mỹ tiếp tục tự thỏa mãn bản thân bằng một phiên bản sự thật được làm cho ngọt ngào thì giới nghệ sỹ Ý bị thu hút bởi sự thật, bởi thực tế cọ xát mà họ muốn biết và hiểu một cách trực tiếp

và thấu đáo, triệt để Kết quả là vị trí của điện ảnh Mỹ hoàn toàn trái ngược với vị trí của của các nhà làm phim Ý

Có thể chắc chắn một điều, hiện thực mới trong điện ảnh được các nhà nghiên cứu gọi bằng một cái tên rõ ràng, hoàn chỉnh sớm hơn so với văn học Bản thân những đạo diễn, nhà biên kịch hay diễn viên của trào lưu này cũng chấp nhận tên gọi về trào lưu đó Tuy nhiên trong lĩnh vực văn học dường như không có sự đồng thuận dễ dàng như vậy, thay vào đó là sự khước từ từ chính những những nhân vật được coi là “ngọn cờ” đầu của văn học hiện thực mới Moravia - người tiên phong của chủ nghĩa hiện thực mới Ý, có những sáng tác xuất hiện trước khi có khái niệm điện ảnh hiện thực mới trước đó hơn một

Trang 28

thập kỷ Ngay từ tiểu thuyết đầu tay Gli Indifferenti (Thời đại của sự thờ ơ),

viết năm 1929, đã bộc lộ rất nhiều yếu tố mà sau này lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực mới đã sử dụng như những căn cứ cần thiết để nghiên cứu lý thuyết hiện thực mới trong văn học

Thật khó để có thể khẳng định một cách chính xác về thời điểm xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực mới, nhất là trong tình thế bùng nổ các khuynh hướng, trào lưu nghệ thuật hiện đại giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Có chăng chỉ là sự định lượng về giai đoạn nảy sinh và phát triển của chủ nghĩa hiện thực mới tại Ý từ những năm 1930 đến 1960 Một vấn đề khác nữa

là bản thân những thế hệ nghiên cứu trong và ngoài nước Ý nhiều thập niên qua cũng chưa thể rút ra những nguyên tắc cụ thể của dòng văn học này, nhất

là ở phương diện là một loại hình văn học Người ta nghiên cứu và nói nhiều đến điện ảnh hiện thực mới, nhưng cũng không thể bê nguyên lý thuyết của dòng điện ảnh này vào áp chế cho văn học Italo Calvino (1923-1985) một tiểu thuyết gia hiện thực mới Ý nhìn nhận về văn học chủ nghĩa hiện thực mới

“phải thừa nhận một điều, nó có một khuôn khổ hạn hẹp, và không bao giờ có một trường học rộng rãi để có thể chia sẻ những nguyên tắc lý thuyết” [47]

Để phục vụ mục đích nghiên cứu, chúng ta nên thống nhất lấy quan niệm sơ khai ban đầu của giới học giả, trí thức Ý coi chủ nghĩa hiện thực mới giống như một hiện tượng đi ngược lại những khuôn khổ của chủ nghĩa phát xít Ý lúc bấy giờ Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến chủ nghĩa hiện thực mới trở thành niềm tự hào của đông đảo người dân Ý khi coi

nó giống như một thứ vũ khí tư tưởng chống lại chế độ phát xít

Trang 29

1.3 Moravia và tiểu thuyết hiện thực mới

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Moravia

Alberto Moravia sinh ngày 22 tháng 11 năm 1907, mất ngày 26 tháng 9 năm 1990, tên thật là Alberto Pinhecle Sinh ra trong một gia đình Do Thái khá giả, cha của ông là một kiến trúc sư ở Venice, còn mẹ của ông là một phụ nữ trung lưu ở Ancona, thành phố phía đông bắc nước Ý Từ nhỏ Moravia đã được học các ngoại ngữ: Anh, Pháp, Đức Tuy nhiên, đến năm lên chín ông mắc phải căn bệnh nan y - lao xương, sự cố này đã khiến ông phải nằm trên giường bệnh suốt bảy tám năm trời Những năm tháng tuổi thơ trôi qua trên giường bệnh, ông giết thời gian bằng cách tự học và say mê đọc các tác phẩm của Dostoevsky, Joyce, Ariosto Goldoni, Shakespeare, Molière, Mallorme… những nhà văn ít nhiều đã để lại những dấu ấn trong các sáng tác của Moravia sau này Bản thân Moravia từng thừa nhận, "Thật là khó khăn cho tôi khi ra viện không được nhìn cuộc đời bằng con mắt người bệnh" Toàn bộ những kiến thức mà ông có được đều bằng con đường tự học

"Tôi sinh ra như một nông dân, qua tật bệnh, tôi đã hấp thu được chủ nghĩa suy đồi văn hóa châu Âu và trở thành trí thức" [27, tr.1] Những điều tiếp thu

từ những gì đọc được, đã khơi gợi ý định sáng tác trong Moravia, ông tìm thấy trong văn học có những sức mạnh kỳ diệu và quyết định dấn thân vào sự nghiệp sáng tác Mười tám tuổi ông bắt đầu viết, tác phẩm đầu tay cũng là

tiểu thuyết nổi tiếng nhất thời kỳ thanh niên của ông là Thời đại của sự thờ

ơ, đề cập đến thực tế suy đồi đạo đức của người mẹ và hai đứa con thuộc tầng lớp quý tộc Ngay khi xuất hiện, tác phẩm đã gây rất nhiều tranh cãi bởi ông là dòng dõi của một nhà tư sản nhưng ông lại chối bỏ nguồn gốc tư sản của gia đình mình, từ đó đã tạo ra một làn sóng chống chủ nghĩa phát xít vốn rất "thịnh" ở Ý thời bấy giờ Tác phẩm thể hiện rõ sự trống vắng về tinh thần

Trang 30

của một thế hệ thanh niên lớn lên dưới chế độ phát xít Tác giả cũng đã bóc trần bản chất xã hội phát xít được ngụy trang bằng bề nổi cuộc sống xa hoa giả tạo, vì điều này cuốn sách vừa in xong đã bị chính quyền phát xít cấm đọc và cấm bàn luận Tên tuổi Moravia nổi tiếng ngay từ tác phẩm đầu tay, nhiều tờ báo, tạp chí muốn ông cộng tác, đồng thời ông cũng bắt đầu được chính quyền độc tài chú ý

Sau khi bệnh tật thuyên giảm, trong khoảng thời gian từ 1930 – 1938, Moravia làm phóng viên cho nhật báo La Stampa và tờ La Gazetta del Popolo của Ý, vừa viết văn vừa làm báo, ông có điều kiện đi thực tế qua nhiều nước châu Âu, Mỹ, Mexico, Trung Quốc Thời kỳ này ông viết nhiều truyện châm

biếm, sau in thành tập Bệnh truyền nhiễm (L’Epidemia, 1944) chế giễu cay

độc một xã hội đang bị phát xít hóa, và thể hiện nỗi đau, sự bế tắc trước thời cuộc của con người Càng những sáng tác về sau, thái độ của Moravia đối với chủ nghĩa phát xít càng rõ hơn Một tác phẩm khác có tác động mạnh mẽ

không kém là tiểu thuyết châm biếm Hội hóa trang (La Mascherata, 1941), bị

chính quyền thu hồi, bản than tác giả bị nhà cầm quyền truy lùng ráo riết, ông

bị buộc phải ngừng viết Do đó, suốt một thời gian dài, Moravia đã ký bằng tên là Preudo (Người đội lốt) Trong suốt thời kỳ Hitle cầm quyền đưa quân vào Ý, Moravia luôn sống trong nỗi lo bị bắt giam, tù đầy Năm 1941 sau khi cưới bà Elsa Morante là lúc sự khủng bố của chính quyền với Moravia lên đến cao trào, bốn năm liền phải trốn tránh sự săn lùng của chính quyền, cả ông và

vợ đều bị gán cho cái mác "có tư tưởng bạo loạn, lật đổ chính quyền", hai người chạy đến Fondi, một thị trấn nhỏ vùng Ciociara, sống chín tháng trong một cái chuồng lợn Mùa đông năm 1943 - 1944, Moravia vẫn phải sống trong núi, ăn mặc như nông dân để tránh sự truy bắt của quân Đức Cuộc sống vất vả, tù túng và luôn bị đe doạ như vậy, khi trở về Rome, ông đã miêu tả rất

Trang 31

thành công trong việc truyền tải những nỗi đau thể xác và tinh thần đã nếm

trải qua tiểu thuyết nổi tiếng Hai người đàn bà (La Ciociara)

Ngoài việc xuất phát từ tư liệu của chính bản thân, tác phẩm còn tái hiện một bức tranh rộng lớn và chân thực về đời sống nhân dân trong những năm đại chiến II Thông qua hành trình của nhân vật chính là một phụ nữ bình thường, sau khi trải qua mọi thử thách đau khổ, đã thức tỉnh và lên án quyết liệt cuộc chiến tranh phát xít như một tội lỗi khủng khiếp Tác phẩm sau này được chuyển thể thành phim rất ăn khách với diễn xuất của diễn viên nổi tiếng Sophia Loren, người từng đoạt tượng vàng Ocar và được viện phim Mỹ xếp vào một trong số những ngôi sao điện ảnh xuất sắc nhất mọi thời đại Với

vai diễn Cesira trong Hai người đàn bà, giải Oscar năm đó Soren đạt giải nữ

diễn viên xuất sắc nhất

Sau khi Rome được giải phóng (1944), Moravia mới trở lại thủ đô, và

cho in hai cuốn tiểu thuyết: Agostino (1945) nhân vật chính là một cậu bé

nghèo khổ, sống bế tắc đến mức phải tìm đến con đường tự hủy hoại mình và

Cô gái thành Rome (La Romana, 1947), kể về một cô gái ngây thơ bị xã hội

vùi dập đến cùng cực, phải kiếm sống bằng nghề làm đĩ Kế đó, là ba tiểu

thuyết ngắn Sự phục tùng (1948), Tình vợ chồng (L’Amore conjugale, 1949), Kẻ tùy thời (Il Confomisto, 1951), vạch mặt chủ nghĩa phát xít trong

các hình thái tâm lý, đạo đức xã hội Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, quyền tự do ngôn luận được lập lại trong giới nghệ thuật Ý Moravia lại được sáng tác và làm việc như một nhà văn, nhà báo, nhà phê bình phim cho tạp chí L'espresso Các tác phẩm của ông được xuất bản lại sau bao năm bị cấm Được không khí hoà bình tiếp sức, Moravia đã viết liên tục hai mươi tiểu thuyết, bẩy vở kịch Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng kèm theo

đó là những giải thưởng cao quí của Ý: Striga năm 1952, Marzott năm 1954

Trang 32

Hơn một trăm truyện ngắn xuất sắc của ông được tập hợp và in thành hai tập

chung tựa đề Những câu chuyện thành Rome (1959), đã chứng tỏ tài năng

lớn của Moravia trong sự hiểu biết thấu đáo đời sống, phong tục, ngôn ngữ người dân thủ đô Rome, và cách nhìn nhân hậu, đầy cảm động của ông đối với người nghèo, “con người nhỏ bé” và chẳng được hưởng một chút ưu đãi nào trong xã hội Toàn bộ truyện ngắn của ông là một bản cáo trạng hùng hồn

và chua chát những nỗi khổ vô lý, thậm chí vô nghĩa của người dân thường cùng cực, không thành đạt, thất nghiệp, lang thang, và bị nhịp sống quay cuồng và vô tình của thành phố lớn tư bản chủ nghĩa dồn đến chân tường

Ngoài ra, một số tiểu thuyết sau chiến tranh như Sự khinh bỉ (Il Dissprezzo, 1952) và Hai người đàn bà (La Ciociara, 1957) thể hiện bước tiến mới của Moravia trong dòng văn học hiện thực phê phán Sự khinh bỉ phân tích tác

hại của điện ảnh Hollywood gây ra ở Ý những hậu quả quái gở, và đặt vấn đề đấu tranh chống lại những bệnh hoạn đang lan rộng của nó Năm 1960, trong

tiểu thuyết Nỗi buồn chán (La Noia), Moravia là một trong những nhà văn Ý

đầu tiên viết một cách căm giận, đau xót về sự cô độc của con người trong xã hội hiện đại, dẫn đến sự hủy hoại về cả tinh thần và thể xác Tập truyện ngắn

Người máy (Automa, 1963) cũng đề cập đến những đề tài này với nhiều biến

dạng khác nhau Năm 1952, Tòa thánh Vatican lấy cớ là các tác phẩm của Moravia đầy chất nguy hiểm và vi phạm đạo đức, đã ra lệnh cấm con chiên không được đọc

Moravia cũng được đánh giá là nhà văn hiện thực phê phán đứng hàng đầu trong văn học Ý thế kỷ XX Văn phong của ông sáng sủa, chặt chẽ, đôi lúc pha châm biếm sâu sắc Tính chất xã hội trong sáng tác của ông đầy khám phá, gây ấn tượng Ở Việt Nam hiện mới chỉ có khoảng năm tiểu thuyết và một tập truyện ngắn của Moravia, còn quá ít ỏi so với số lượng sáng tác khổng lồ của nhà văn này

Trang 33

1.3.2 Con đường đến với chủ nghĩa hiện thực mới

Moravia được coi là nhà văn tiêu biểu của nước Ý, sở dĩ ông được tôn vinh như vậy bởi hai lý do Thứ nhất, trước ông thể loại tiểu thuyết tại Ý phát triển rất yếu ớt, gần như không có tên tuổi nào để lại dấu ấn trong nền văn học

Ý, ngay cả trong thời điểm phát triển mạnh mẽ của thể loại này tại châu Âu thế kỷ XIX Chỉ đến khi những tiểu thuyết của Moravia xuất hiện và được biết đến rộng rãi trên toàn đất nước Ý thể loại này mới trở nên phổ biến Ông đã đóng góp cho nền văn học Ý một khối lượng tiểu thuyết đồ sộ ông trở thành tiểu thuyết gia vĩ đại đầu tiên của nền văn học Ý Lý do thứ hai, ông chính là một trong những nhà văn đầu tiên khai phá ra chủ nghĩa hiện thực mới không chỉ trong phạm vi nước Ý mà nó còn trở thành một trào lưu trong nền văn học thế giới, phát triển mạnh ở giai đoạn giữa thể kỷ XX Những cuốn tiểu thuyết của Moravia đã tạo được tiếng vang trong nền văn học thế giới, vì vậy tiểu thuyết hiện thực mới của Moravia là niềm tự hào của văn học Ý đóng góp cho nền văn học thế giới Không lâu sau này trào lưu hiện thực mới đã ảnh hưởng lan rộng đến rất nhiều nền nghệ thuật ở những quốc gia cách xa nước Ý đến nửa vòng trái đất như Nhật Bản, Iran… trong suốt những thập niên từ 1950 –

1970

Không nhận mình là một người hoàn toàn thuộc về chủ nghĩa hiện thực, nhưng Moravia cũng không thể chối bỏ những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực trong những sáng tác của mình Những nguyên tắc cơ bản của khuynh hướng Marxism, điều này một phần xuất phát từ thực tế những năm tháng tuổi thơ buồn tủi của ông, bị căn bệnh lao xương hành hạ, ông gần như phải nằm cố định một chỗ từ khi lên chín đến năm mười sáu tuổi, trong suốt thời gian đó ông chỉ biết lấy sách vở làm bạn, ông đọc nhiều sáng tác của những nhà văn bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên ông không chọn

Trang 34

bất cứ một ai làm hình mẫu, đồng thời ông cũng không rập khuôn bất cứ một trường phái, chủ nghĩa nào Ông sáng tác theo một phong cách của riêng mình

Những đối tượng trong sáng tác của Moravia có thể dễ dàng tìm ra hai nhóm đặc trưng dựa trên hai đối tượng nhân vật mà ông tập trung khắc họa,

đó là tầng lớp trí thức và tầng lớp bình dân Dù viết về tầng lớp nào, nhà tiểu thuyết cũng luôn nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh

mà nó đang tồn tại, cái hoàn cảnh luôn luôn khơi dậy ở nhân vật ý trí phản kháng, nhưng lại trở thành định mệnh khiến suốt đời dù có sức vùng vẫy nhưng họ vẫn không ra khỏi những tù túng mà hoàn cảnh áp đặt cho mình Có

lẽ vì điều này mà nhiều người cho rằng cách nhìn cuộc sống của Moravia quá

bi quan Tuy nhiên, đó không phải là đặc trưng phong cách sáng tác của Moravia, xét ở khía cạnh khác ông vẫn là một nhà nhân đạo và hiện thực Bởi ông luôn đặt niềm tin vào con người, lòng tin đó giúp ông có đủ kiên trì và tỉnh táo trong việc phản ánh thực tế đang ra sức “bẻ cong” con người

1.3.3 Quan niệm của Moravia về tiểu thuyết

Trong những năm sau thế chiến thứ II, văn đàn thế giới xuất hiện rất nhiều những cuộc tranh luận về số phận của tiểu thuyết Tại Ý cũng có không

ít buổi thảo luận xoay quanh vấn đề này, trong những cuộc tranh luận ấy, tác phẩm của Moravia luôn được đem ra mổ xẻ, phân tích Nhiều nhất có lẽ là vấn đề liên quan đến sự xuất hiện tiểu thuyết tại Ý giai đoạn đầu thế kỷ XX được Sanguinetti đúc kết, từ nửa đầu thế kỷ XX, không chỉ đội ngũ các nhà nghiên cứu Ý mà rất nhiều nhà nghiên cứu văn học trên khắp thế giới lúc bấy giờ đặt ra vấn đề “sự khủng hoảng của thể loại tiểu” [3, tr.21] Họ gọi tiểu thuyết hiện thực thế kỷ XIX (chủ nghĩa hiện thực phê phán) là hiện thực tư sản, và quy những sang tác của Moravia vào dòng văn học này Tuy nhiên,

Trang 35

bước sang thế kỷ XX tình hình đã hoàn toàn biến đổi Cùng với những biến động to lớn của lịch sử, đời sống nghệ thuật nói chung cũng chịu những tác động to lớn Đối với văn học thì thể loại tiểu thuyết chiụ tác động mạnh mẽ nhất, sự khủng hoảng của thể loại này không ít lần được nói tới Sanguinetti lấy năm 1910 làm cái mốc cho sự khủng hoảng đó, ông gọi sự khủng hoảng tiểu thuyết là sự khủng hoảng của một cấu trúc tiểu thuyết nhất định, gắn với

xã hội tư sản “Vào thời điểm thịnh hành của chủ nghĩa hiện thực, xã hội tư sản dường như là một xã hội bình thường, và cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng tiểu thuyết đều nảy ra ấn tượng rằng trước mặt họ không phải là một ước

lệ có tính chất thích nghi mà là bản thân cái thực tại họ tiếp xúc Nhưng vào thời điểm mà xã hội tư sản dường như không còn đặc tính thứ hai, thì người sản xuất – nhà tiểu thuyết, cũng như người tiêu dùng - người đọc, nếu họ hiểu

và chia sẻ cái ý thức phê phán, cả hai loại người ấy sẽ không còn chấp nhận

sự tương đồng này giữa ngôn từ và thực tại, giữa hệ thống giao tiếp và hệ thống giá trị mà chúng vốn có” [3, tr.35]

Ban đầu Sanguinetti gọi những tiểu thuyết như Moravia là tiểu thuyết

hậu chiến Ý hay chủ nghĩa tự nhiên mới và cho rằng những sáng tác theo phong cách đó chỉ là sự phục chế của tiểu thuyết cũ, xuất hiện ở đúng giai đoạn hàng loạt sáng tác của một số cây viết theo lối cũ báo hiệu sự cáo chung cho tiểu thuyết cổ điển Hầu hết những nhà tiểu thuyết chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Freud, triết học Bergson, từ bỏ tiểu thuyết truyền thống thế kỷ XIX,

để “phiêu lưu vào thế giới bên trong thế giới của tiềm thức, vô thức….” [3, tr.35]

Những cuộc tranh luận về vấn đề này diễn ra ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, sau đó bị gián đoạn bởi hai cuộc đại chiến thế giới Và phải hơn một thập niên sau thế chiến thứ hai, các nhà văn Ý mới lật lại vấn đề này

Trang 36

Những cuộc tranh luận nảy lửa liên tục diễn ra trong các buổi tọa đàm tại Ý trong thập niên 1960 Tại đó, không ít lần Moravia phải lên tiếng phủ nhận những ý kiến cho rằng những sáng tác của ông xếp vào chủ nghĩa hiện thực mới, bởi một điều dễ hiểu, khái niệm hiện thực mới tại Ý lúc đó gần như chỉ dùng để gọi những tác phẩm điện ảnh Tuy nhiên ngay cả với những ý kiến xếp những sáng tác của ông vào dòng hiện thực phê phán, hiện sinh hay hiện thực xã hội chủ nghĩa ông đều không vừa lòng

Moravia thừa nhận, tiểu thuyết hiện thực là đặc trưng cơ bản của văn học thế kỷ XIX và ông cũng phủ quyết quan điểm cho rằng thể loại tiểu thuyết như ở thế kỷ XIX không còn tồn tại trong thế kỷ XX Có lần được hỏi

ý kiến về tiểu thuyết tương lai, Moravia trả lời rằng, “Tiểu thuyết kiểu như chúng ta biết từ thế kỷ XIX đã chết sau Proust (Marcel Proust) và James Joyce, họ là những nhà văn cuối cùng của thế kỷ XIX Những nhà văn vĩ đại Tôi nghĩ rằng, ngày nay chúng ta đang hướng tới tiểu thuyết tư tưởng hoặc tiểu thuyết tư liệu, tiểu thuyết với quan niệm triết lý hoặc tiểu thuyết ghi chép khoa học một quá trình đời sống, tước bỏ mọi tính cách đã được định sẵn và mọi phân tích tâm lý Không cần phải nói thêm rằng, một tiểu thuyết hay có thể mang bất kỳ hình thức nào, nhưng được đưa lên hàng đầu hiện nay là hai biến thức tiểu thuyết: Tiểu thuyết tiểu luận (roman - essais) và tiểu thuyết tư liệu (roman - ducumentaire) tức là ghi lại một điều gì đó xảy ra với con người” [9, tr.8]

Trước bối cảnh của một thế giới mới, một hiện thực mới thì thể loại tiêu biểu của văn học cũng phải có những thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh mới, tình thế mới và nó cũng sẽ tạo ra được một sắc thái riêng ở thế kỷ XX Ông khẳng định, “tiểu thuyết là thể loại chứ không phải là một “vật” nào đó

có thể co giãn đến vô tận, cho nên nó cũng có những lý thuyết về thể loại của

Trang 37

nó, đồng thời nó còn tạo nên phong cách cho từng tác giả sáng tạo lên nó” [3, tr.41]

Trong những cuộc thảo luận sau này, Moravia đã kéo vấn đề về tận gốc xuất phát điểm của nó, ông có một cách nhìn nhận khá rạch ròi khi cho rằng trong tiểu thuyết châu Âu có hai trào lưu, một trào lưu muốn phê phán giai cấp tư sản bằng chính cấu trúc tiểu thuyết như Becket, trào lưu sử dụng những cấu trúc đã từng có sự đồng đẳng với xã hội tư sản, để chỉ ra sự suy sụp của

nó Khả năng thứ hai vốn có trong truyền thống và không chỉ là trong truyền thống mà cả trong thực tiễn của phái “tiền phong” – đó là khả năng kể lại sự khủng hoảng ấy và giải thích nó một cách khoa học Nhưng theo ông, phái tiền phong hoàn toàn không muốn giữ lập trường khoa học trong thái độ với giai cấp tư sản cũng như đối với văn học “Bây giờ đây nếu như có thể khẳng định một điều gì đó chắc chắn, thì chính là thế giới hiện đại ít nhất cũng phải tới hai phần ba dựa trên nhận thức khoa học, nhưng phái tiền phong thì lại chưa đủ nhận thức đó, và vì thế nó buộc phải một điều không tránh khỏi – tái tạo cuộc khủng hoảng hiện đại, và ghi nhận nó giống như chiếc máy ghi địa chấn” [3, tr.42, 43]

Rất khó để có thể quy một văn nghệ sĩ thế kỷ XX như trường hợp của Moravia vào một trường phái nhất định, bản thân nhà văn không bằng lòng với cách gọi những sáng tác của mình và một số nhà văn khác trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến là chủ nghĩa hiện thực mới, thay vào đó ông nghiêng

về cách quy những sáng tác đó về chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa tự nhiên mới hoặc chính xác hơn chủ nghĩa hiện thực theo ý nghĩa nó có một lập trường nhất định trong quan hệ với thực tại (theo phong cách của Jean Paul Sartre và Albert Camus) [3, tr.39] Phong cách ấy không gắn với phái tiền phong của quá khứ và nó khôi phục lại một vài thủ pháp nào đó trong việc nghiên cứu

Trang 38

thực tại, vay mượn những thủ pháp ấy, ví dụ của Dostoevsky hoặc trong sáng tác của các nhà văn ở thế kỷ XIX Sau sự khủng hoảng ấy là phong trào của những người mà để cho tiện, đã tự gọi mình là “tiền phong mới”

Điều đáng nói ở đây là nhìn lại hơn một nửa thế kỷ khủng hoảng của thể loại tiểu thuyết, Moravia gọi đó là “sự khủng hoảng của nhân vật mang vấn đề, bởi vì nhân vật đó là con người của xã hội tư sản thế kỷ XIX Không còn nhân vật mang vấn đề mà là chính các nhà tiểu thuyết mang vấn đề Bản thân nhà tiểu thuyết là nhân vật chính trong những cuốn tiểu thuyết do mình viết ra Nói cách khác, tiểu thuyết trở thành vấn đề của một thiết chế thẩm mỹ

và văn học chứ không phải thiết chế tâm lý xã hội… do đó, nhân vật chính không thể phải là bản thân nhà tiểu thuyết Những vấn đề về quan hệ đối với thực tại hay của một thiết chế xã hội và thẩm mỹ học, tất thảy đều là vấn đề của nhà tiểu thuyết Anh ta không muốn và cũng không tán thành điều đó và thế là đã nhận được kết quả kỳ quái Nhưng nếu như trong sáng tác của mình anh ta đi tới bản chất thì anh ta phải sáng tác tiểu thuyết và chính bản thân mình và chỉ ra xem vì sao và như thế nào mà anh ta đã sáng tác ra cuốn tiểu thuyết như anh ta đã viết” [3, tr.22]

Nhà phê bình, nhà tiểu thuyết Ý, Valter Yex khi đề xuất những ý kiến

về trật tự xã hội có liên quan đến sự khủng hoảng của tiểu thuyết đã không thừa nhận là “thực tại hoàn toàn làm mất cá tính, dẫn đến làm mất khả năng tìm ra những xung đột, những mâu thuẫn tạo cho cuộc sống có nhân vật mang vấn đề” [3, tr 23, 24]

Đối với vấn đề quan hệ giữa thể loại tiểu thuyết với thực tại, Moravia cho rằng “tiểu thuyết không thể tách rời yêu cầu bao quát toàn vẹn thực tại” [3, tr.30] Theo ý của ông, ngoài tiểu thuyết ra, không có bất cứ thể loại văn học nào có thể có được lợi thế phản ánh hiện thực Moravia đã dùng thể loại

Trang 39

thơ đem ra so sánh để làm nổi bật được yếu tố cốt lõi này của tiểu thuyết “Sự bao quát giữa thể loại thơ và tiểu thuyết, sự bao quát của thơ chỉ có được vào khoảnh khắc bừng ngộ cao độ, tức là thể loại thơ chỉ có thể “chộp” được một khoảnh khắc ấn tượng (theo cách nhìn của người sáng tác), nên nó mang đặc trưng của yếu tố cá nhân chứ không mang tính khách quan có tầm bao quát rộng lớn như tiểu thuyết Thơ không thể đặt cho mình mục đích tái tạo thực tại, tiểu thuyết đã thành một cái gì đó gần với văn chính luận nên có đủ khả năng làm được điều đó Ông dự đoán, với những biến động mạnh mẽ từ điều kiện khách quan thế kỷ XX, sẽ có những tiểu thuyết tiểu luận và những tiểu thuyết phúng dụ Vì cùng với những biến động to lớn của thực tế cuộc sống,

sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật… đã trang bị cho đội ngũ những người cầm bút những tư liệu vô cùng phong phú Xưa kia nhà tiểu thuyết bị hạn chế trong sự lĩnh hội của riêng mình, còn bây giờ họ có thể dựa trên những dữ kiện của nhân chủng học, triết học, xã hội học, tâm lý học, chúng đề

ra nhiều học thuyết mà họ có thể kiến lập sự ước lệ của mình từ mỗi dữ kiện

ấy Do đó ông tin vào khả năng sáng tạo của tiểu thuyết xuất phát không phải

từ thực tại khách quan mà từ các tư tưởng” [3, tr.30,31]

Áp dụng vào thực tế sáng tác của Moravia mà lý giải sẽ thấy rằng, ông xuất thân từ tầng lớp quý tộc nhưng ông đã không dùng con mắt của tầng lớp trên để nhìn xã hội, ông biết đặt mình vào vị trí của những người lao động bần cùng để khắc họa cho được cái mặt trái của xã hội đó Cái thực tế mà người ta gọi là xã hội hiện đại theo ông thực ra đó là một ảo tưởng Ông cho rằng, cuộc sống xã hội được đan dệt bằng những sự vật bất chính bởi vì không có cuộc sống xã hội hiện đại, chỉ có cuộc sống gồm những giá trị được kế thừa từ lâu đời, những giá trị hoàn toàn mục nát vì sự già cỗi của chúng Những cái đã qua ấy thông qua ý thức nhà văn, chúng lại có thể trở thành những sự kiện mới, thậm chí không ai đả động tới nó và lợi dụng nó Rõ ràng trong luận

Trang 40

điểm này đã phản ánh một cách nhìn mới về hiện thực, và thể loại tiểu thuyết đảm đương vai trò trong việc khắc họa hiện thực đó Đây chính là “vấn đề”

mà Moravia cố gắng tìm kiếm và giải mã trong suốt quá trình sáng tác của mình

Cũng cần lưu ý, khi Moravia đưa ra quan niệm, nhà tiểu thuyết phải mang vấn đề, Francesca Leonetti - một nhà văn người Ý khác đã đưa ra thắc mắc là muốn nhà tiểu thuyết trở thành người mang “vấn đề” thì “nhà tiểu thuyết phải đứng trên lập trường nào đó trong quan hệ với thực tại để tạo nên phạm vi quen thuộc những hành động liên quan đến việc viết cuốn tiểu thuyết tương lai” [3, tr.26] Trong lần nói chuyện với nhà bình bút người Pháp – Madeleine Chapsal, năm 1963 tại Paris (Pháp) một lần nữa Moravia nói rõ điều này, Moravia quan niệm, “dù cho một nghệ sĩ có độc lập đến đâu khi người ta làm ra những đồ vật (tác phẩm) cho một xã hội rộng lớn, họ cũng tự đặt cho mình những vấn đề khác nhau” [42, tr.6] Với Moravia, vấn đề lớn nhất trong sáng tác của mình là ông đặc biệt chú ý tới tầng lớp bình dân, hai nhân vật này mang vấn đề của ông Ông cho rằng, “trong giới bình dân người

ta mới tìm thấy ý nghĩa của thiên nhiên, ý nghĩa của luân lý đã hoàn toàn mất

đi trong giới tiểu tư sản Vì thế ông quan niệm, chỉ còn hai loại tiểu thuyết có thể viết được là tiểu thuyết tư tưởng và tiểu thuyết bình dân Ông muốn đưa ra hai loại nhân vật một bên là người trí thức, nhân vật của hoài nghi bị giằng giật giữa lương tâm và trí sáng suốt của mình Và nhân vật ngộ nghĩnh như các nhân vật trong các câu chuyện kể La Mã, nhân vật ngộ nghĩnh chỉ có những nhu cầu kinh tế, hắn chỉ có một việc lo là cái bụng, hắn không có ước vọng nào khác, hắn dửng dưng với ái tình Đối với hắn vấn đề là phải ăn hay

là chết, bởi thế hắn mới có thái độ lừa lọc, biện luận, nhưng cũng không thiếu

sự khôn ngoan khéo léo [42, tr.8]

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (2007), Hồn và xác tiểu thuyết, Nxb Văn học 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn và xác tiểu thuyết
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Văn học 2007
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (2003), Văn học hậu hiện đại thé giới những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thé giới những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
3. Lại Nguyên Ân, Nguyễn Minh Phong biên dịch (1983), Số phận của tiểu thuyết, ý kiến các tác giả nước ngoài; Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số phận của tiểu thuyết, ý kiến các tác giả nước ngoài
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Nguyễn Minh Phong biên dịch
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
4. Bakhtin .M (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin .M
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1992
5. Lương Ngọc Bính (1995) Văn học Đức chống phát xít, những vấn đề mỹ học và thi pháp, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Đức chống phát xít, những vấn đề mỹ học và thi pháp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Brewster .Dorothy, John Angus Burrell, Dương Thanh Bình dịch, (2003), Tiểu thuyết hiện đại, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Brewster .Dorothy, John Angus Burrell, Dương Thanh Bình dịch
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
7. Đào Ngọc Chương, luận án Tiến sĩ (2002), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của E.Hemingway, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của E.Hemingway
Tác giả: Đào Ngọc Chương, luận án Tiến sĩ
Năm: 2002
8. Đỗ Đức Dục (1981), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1981
9. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
10. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb. KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1998
11. Đặng Anh Đào (2001) Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
12. Đờnhiêpôrốp .V, Cudơnétxốp .M, Trương Xuân Thâm dịch (1961) Những mưu toan đổi mới trong nền tiểu thuyết hiện đại, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mưu toan đổi mới trong nền tiểu thuyết hiện đại
Nhà XB: Nxb Văn học
13. Hoàng Hải, Trịnh Đình Hùng, Nguyên Hùng dịch (1999), Truyện ngắn Moravia, Tập truyện ngắn, Nxb. Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Moravia
Tác giả: Hoàng Hải, Trịnh Đình Hùng, Nguyên Hùng dịch
Nhà XB: Nxb. Hội Nhà văn
Năm: 1999
14. Lê Bá Hán, Phương Lựu, Bùi Ngọc Trác; Ch.b: Nguyễn Lương Ngọc (1980), Cơ sở lý luận văn học, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Phương Lựu, Bùi Ngọc Trác; Ch.b: Nguyễn Lương Ngọc
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1980
15. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng Chủ Biên(2007), Từ Điển Thuật Ngữ Văn Học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển Thuật Ngữ Văn Học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng Chủ Biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
16. Đặng Thị Hạnh (1985), Văn học lãng mạn và văn học hiện thực Phương Tây thế kỉ XIX, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn và văn học hiện thực Phương Tây thế kỉ XIX
Tác giả: Đặng Thị Hạnh
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
17. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1995), Lý luận văn học - Vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học - Vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
18. Đỗ Đức Hiểu (ch.b), Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu… (2004), Từ điển văn học: Bộ mới, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học: Bộ mới
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu (ch.b), Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu…
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
19. Nguyễn Thái Hòa (2005), Từ điển tu từ - Phong cách - Thi pháp học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ - Phong cách - Thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
56. Moravia. A – Italia Novelist, http://panathinaeos.wordpress.com/2011/03/03/alberto-moravia-italian-novelist/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w