Trên cơ sở kế thừa và phát triển kết quả của các công trình nghiên cứu trước, trong luận văn này chúng tôi sẽ cố gắng xem xét, phân tích, so sánh và đối chiếu một số hành động ngôn từ tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******************
NGUYỄN THỊ THU THỦY
CÂU NGÔN HÀNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (Ý NGHĨA HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN VÀ CAM KẾT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
MÃ SỐ: 5.04.27
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******************
NGUYỄN THỊ THU THỦY
CÂU NGÔN HÀNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (Ý NGHĨA HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN VÀ CAM KẾT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
MÃ SỐ: 5.04.27
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN KIÊN TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2007
Trang 3QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Luận văn sử dụng một số quy ước viết tắt sau:
Sp1: Chủ thể phát ngôn, người nói ngôi số một
Sp2: Bổ ngữ tiếp nhận, người nghe ngôi số hai
Sp3: Bổ ngữ tiếp nhận của một số động từ ngôn hành có thể là ngôi số ba ĐTNH (V): Động từ ngôn hành
BNND: Bổ ngữ nội dung của động từ ngôn hành
TPMR: Thành phần mở rộng của câu ngôn hành, có thể là hành động giải
thích, biện hộ, chứùng minh… cho hành động được thể hiện qua động từ ngôn hành
NP: Ngữ danh từ
VP: Ngữ động từ
CL: Mệnh đề hay một kết cấu chủ vị
MH: Mô hình cấu trúc phát ngôn của câu ngôn hành
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1 Lý do chọn đề tài - 4
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - 5
3 Mục đích nghiên cứu - 6
4 Lịch sử nghiên cứu - 6
5 Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu - 9
6 Đóng góp của luận văn - 10
7 Bố cục của luận văn - 11
CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CỞ SỞ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI - 13
1.1 KHÁI NIỆM ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH - 13
1.1.1 Động từ ngôn hành (performative verbs) - 13
1.1.2 Động từ nói năng và động từ ngôn hành - 14
1.1.3 Các loại động từ ngôn hành - 15
1.2 KHÁI NIỆM CÂU NGÔN HÀNH - 17
1.2.1 Câu ngôn hành - 17
1.2.2 Điều kiện để có một câu ngôn hành - 19
1.2.3 Mô hình cấu trúc câu ngôn hành - 21
1.3.4 Câu ngôn hành có chứa động từ tình thái - 24
1.3 HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾNVÀ CÁC ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH THUỘC NHÓM CẦU KHIẾN - 28
1.3.1 Hành động cầu khiến - 28
1.3.2 Các động từ ngôn hành thuộc nhóm cầu khiến - 31
1.4 HÀNH ĐỘNG CAM KẾT VÀ CÁC ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH THUỘC NHÓM CAM KẾT - 31
1.4.1 Hành động cam kết - 31
1.4.2 Các động từ ngôn hành thuộc nhóm cam kết - 34
1.5 TIỂU KẾT - 35
CHƯƠNG HAI: CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH - 37
Trang 52.1 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG
VIỆT - 37
2.1.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời yêu cầu - 37
2.1.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời nhờ cậy - 62
2.1.3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời ra lệnh - 67
2.1.4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời mời - 72
2.1.5 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời khuyên bảo - 77
2.2 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG ANH - 83
2.2.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời yêu cầu (request) 83 2.2.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời mời (invite) - 94
2.2.3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời ra lệnh (order) - 97
2.2.4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời khuyên bảo (advise) - 98
2.2.5 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời nhờ (ask somebody for help) - 102
2.3 SO SÁNH CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH - 103
2.3.1 Những nét tương đồng - 103
2.3.2 Những nét khác biệt -104
2.4 TIỂU KẾT - 106
CHƯƠNG BA: CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH - 108
3.1 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG VIỆT - 108
3.1.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời hứa hẹn - 108
3.1.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời bảo đảm - 121
3.1.3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời tha thứ - 124
3.1.4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời trao tặng - 127
3.2 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG ANH - 135
3.2.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời hứa hẹn (promise) 136 3.2.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời bảo đảm (assure) 141 3.2.3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời tha thứ (forgive) 145 3.2.4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời trao tặng (give) - 146 3.3 SO SÁNH CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG
Trang 63.3.1 Những nét tương đồng - 149
3.3.2 Những nét khác biệt - 150
3.4 TIỂU KẾT - 152
KẾT LUẬN - 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 161 QUY ƯỚC TRÌNH BÀY NGUỒN NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN
BẢNG PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngữ dụng học đã và đang thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà Việt ngữ học như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Diệp Quang Ban, Hoàng Phê, Cao Xuân Hạo và các học viên cao học, nghiên cứu sinh … Ngôn ngữ đã được nghiên cứu, xem xét không chỉ ở hệ thống khép kín nội tại của nó, mà được nghiên cứu kĩ trong thực tế sử dụng Hành động ngôn từ, là một trong những đối tượng nghiên cứu cơ bản của ngữ dụng học, trong đó có lớp động từ nói năng Trong lớp động từ này, lại có một nhóm động từ được sử dụng với chức năng ngôn hành Tức là khi nói ra một điều gì, thì người nói đã đồng thời thực hiện luôn một hành động: hành động đó gọi là hành động ngôn từ
Hoạt động giao tiếp là một trong những hoạt động cơ bản của con người, bởi sống trong một cộng đồng xã hội con người luôn phải gặp gỡ, giao
lưu với nhau Vậy là họ cần phải hỏi- đáp, cám ơn, xin lỗi, khen ngợi, phàn nàn,
trách mắêng, hứa hẹn, yêu cầu, nhờ vả… Có nghĩa là, những người tham gia vào
quá trình giao tiếp cần phải bày tỏ thái độ, ý kiến, nguyện vọng, mong muốn…
với người nghe sao cho vừa lịch sự, trang trọng, và vừa đạt được hiệu quả giao
tiếp cao nhất Do đó, yêu cầu, nhờ vả, mời mọc, hứa hẹn, hỏi han… đúng lúc,
đúng chỗ, đúng đối tượng bằng những hành động ngôn từ nào là một việc nên làm, mặt khác cần tránh những hành vi có thể xâm hại đến tình cảm, đạo đức, danh dự v.v của người nghe cũng là một điều có ích
Đó là những lí do để chúng tôi chọn khảo sát vấn đề hành động ngôn
từ trong ngôn ngữ với đề tài “Câu ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh”
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 81 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lớp động từ ngôn hành và câu ngôn hành trong tiếng Việt, sau đó, so sánh, đối chiếu với tiếng Anh để tìm
ra sự khác biệt và tương đồng của hành động ngôn từ giữa hai ngôn ngữ
2 Động từ ngôn hành trong một ngôn ngữ chiếm một số lượng rất lớn và được sử dụng vào mục đích, hành động ở lời khác nhau Luận văn chỉ khảo sát 2 nhóm động từ ngôn hành tạo nên những phát ngôn ngôn hành tường minh sau:
- Nhóm động từ ngôn hành có ý nghĩa cầu khiến
- Nhóm động từ ngôn hành có ý nghĩa cam kết
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Các công trình của nhiều tác giả trước đây, khi nghiên cứu về ngữ dụng học và khảo sát câu ngôn hành còn ít đề cập đến câu ngôn hành như một bộ phận riêng của ngữ dụng học Các công trình đối chiếu, so sánh câu ngôn hành giữa hai ngôn ngữ Việt – Anh cũng chỉ mới dừng lại ở một phạm vi hẹp và chưa có tính hệ thống
Chúng tôi nghiên cứu đề tài “Câu ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng
Anh” nhằm góp thêm ngữ liệu để làm rõ một số vấn đề về hành động ở lời
nhằm làm sáng rõ mối quan hệ giữa động từ ngôn hành và hành động ở lời; cùng một hành động ở lời nhưng động từ biểu thị nó ở ngôn ngữ này (tiếng Việt) có thể dùng trong chức năng ngôn hành nhưng ở ngôn ngữ khác (tiếng Anh) thì sao?
Qua so sánh đối chiếu câu ngôn hành trong, tiếng Việt và tiếng Anh chúng tôi mong muốn tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa hành động ngôn từ trong hai ngôn ngữ Sự tương đồng hay khác biệt đó có những ảnh hưởng như thế nào đối với người học tiếng Việt và những người học tiếng Anh để từ đó có sự vận dụng linh hoạt trong việc dạy và học tiếng
4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trong giao tiếp lời nói vô cùng quan trọng Cũng chính vì vậy mà việc nghiên cứu lời nói đã được giới ngữ học quan tâm từ lâu nay, nhất là việc
Trang 9nghiên cứu những câu nói có tính chất hành động Có nghĩa là khi nói ra một
điều gì đó là đã thực hiện xong một hành động, ví dụ khi người nói nói câu “Tôi
xin lỗi anh” là đồng thời thực hiện luôn hành động xin lỗi; hay câu “Tôi đảm bảo với anh hàng này chất lượng tốt nhất” tức là người nói cũng thực hiện xong
hành động đảm bảo Những phát ngôn như vậy được gọi là những phát ngôn
ngôn hành, các động từ như xin lỗi, đảm bảo là những động từ ngôn hành
Câu ngôn hành (hay câu ngữ vi và động từ ngôn hành (hay động từ ngữ vi) là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả Sau đây, chúng tôi sẽ điểm qua một vài tác giả tiêu biểu trong và ngoài nước theo nguồn tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Việt có thể còn nhiều thiếu sót và chắc chắn là chưa bao quát hết của chúng tôi
4.1 Các tác giả nước ngoài
4.1.1 J.Austin trong cuốn “How to do things with words” lần đầu tiên
giới thiệu lí thuyết hành động ngôn từ (speech act theory) J.R.Searle đã điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển lí thuyết hành động ngôn từ của J.Austin Cùng với J.Austin, Searle bàn đến các điều kiện thích dụng (felicity condition) để việc thực hiện một hành động đúng với dụng ý (theo Nguyễn Đức Dân [13] và Nguyễn Thiện Giáp [21] Đó là các điều kiện sau:
a Điều kiện chung (general condition)
b Điều kiện nội dung (content condition)
c Điều kiện ban đầu (preparatory condition)
d Điều kiện chân thực (sincerity condition)
e Điều kiện thiết yếu (essential condition)
4.1.2 Một số tác giả khác như G.Yule (“Pragmatics”), Jean Stilwell Perccei (“Pragmatics”), Alan Cruse (“ Meaning in language – An introduction
to semantics and pragmatics”), Gabriele Kaper and Shoshana Blumkilka
(“Interlanguage pragmatics”) … tiếp cận ngữ dụng học từ nhiều lăng kính khác
nhau Mặc dầu có đi sâu phân tích lí thuyết hành động ngôn từ nhưng các công
Trang 10trình trên chưa bàn đến động từ ngôn hành hay phát ngôn ngôn hành như một nhóm riêng, một bộ phận riêng của ngữ dụng học
4.2 Các tác giả trong nước
4.2.1 Trong nhiều năm trở lại đây, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học ngày càng đạt được một số thành tựu đáng kể Ngoài các nhà ngôn ngữ học gạo cội như Cao Xuân Hạo [24], Nguyễn Đức Dân [14], Đỗ Hữu Châu [9], Diệp Quang Ban [5], Nguyễn Thiện Giáp [22], Hồ Lê [37]… các luận văn, luận án, và các bài nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành cũng tập trung xem xét ngữ dụng học từ nhiều góc độ trong đó có bàn về hành động ngôn từ và câu ngôn hành như: Nguyễn Văn Lập [35] , Phạm Thị Hòa [28]ø, Tạ Thị Thanh Tâm [46], Cao Thị Quỳnh Loan [36], Võ Thị Ngọc Duyên [17] …
4.2.2 Trong luận văn này chúng tôi theo quan niệm của Cao Xuân Hạo Oâng cho rằng “câu ngôn hành là câu trần thuật tự biểu thị, tức là nó biểu thị hành động trong khi nói nó ra và bằng cách nói nó ra” [24, tr 413] Kiểu câu này sử dụng một loại động từ chỉ hành động gọi là động từ ngôn hành Tác giả đã chia lớp động từ ngôn hành thành 2 loại: loại cần một bổ ngữ nội
dung (BNND) mới làm thành một phát ngôn ngôn hành như các vị từ hứa, cam
đoan, cấm, khuyên, cảnh cáo…và loại không cần một BNND như thế, đó là các
vị từ xin lỗi, cảm ơn, chào, từ… Ông không đồng ý với các quan điểm thừa
nhận phát ngôn ngôn hành hàm ẩn Ông cũng phân tích rất kĩ “những điều kiện nhất định khá ngặt nghèo” để một vị từ gọi là ngôn hành có được tính ngôn hành Các điều kiện đó là: 1 Chủ ngữ là ngôi thứ nhất (chủ ngữ này có thể ẩn);
2 Vị từ được dùng ở thì hiện tại thức chỉ định trong mệnh đề chính của câu; 3 Bổ ngữ tiếp nhận hành động ngôn hành được biểu thị là ngôi thứ hai Tuy vậy,
“mức ngặt nghèo” của những điều kiện quy định tính ngôn hành của các vị từ ngôn hành có thể khác nhau tuỳ vào từng vị từ
4.2.3 Đặc biệt, viết riêng về hiện tượng ngôn hành, có luận văn của Võ Thị Ngọc Duyên [17] và luận văn của Cao Thị Quỳnh Loan [36]
Trang 11Võ Thị Ngọc Duyên cho rằng “động từ ngữ vi là một loại động từ khá đặc biệt của động từ vì động từ này không biểu thị hành động, tình trạng mà bản thân nó là một hành động.” [17, tr.71] Vì thế nó gây nên một tác động nhiều hay ít cho đối tượng tiếp nhận về mặt tâm lí tình cảm và đồng thời giúp khẳng định lập trường của chủ thể giao tiếp Tác giả cũng đã liệt kê được 6 dạng thức phát ngôn của động từ ngữ vi dựa vào sự có mặt của các yếu tố như chủ thể giao tiếp, động từ ngữ vi, đối tượng giao tiếp, nội dung của động từ ngữ
vi
Cao Thị Quỳnh Loan [36] đã có một số nhận xét bước đầu về hiện tượng ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh Có thể nói đây là công trình so sánh về hiện tượng ngôn hành khá công phu và có nhiều giá trị Tác giả đã khảo sát thực tế với 40 đối tượng là giáo viên gồm 20 tình huống giao tiếp khác
nhau như cám ơn, xin lỗi, chào, bảo đảm…, cùng với 42 tác phẩm văn học gồm
truyện ngắn, kịch được dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh và từ tiếng Anh sang tiếng Việt và rút ra một số nhận xét sau: 1 tiếng Anh có những câu ngôn hành
ở thể tiếp diễn nhưng không thể dịch “đang” trong tiếng Việt; 2 trong tiếng Anh câu ngôn hành có thể ở thái bị động; 3 trong tiếng Anh khi tình thái từ kết hợp với động từ ngôn hành tạo thành những câu ngôn hành hữu hạn và lực ngôn trung của câu bị thay đổi; 4 trong ngôn ngữ có những động từ không có cách dùng ngôn hành; và 5 tiếng Việt và tiếng Anh đều có những cấu trúc ngữ pháp riêng thể thể hiện phát ngôn ngôn hành và những phương thức riêng để thực hiện một hành động ngôn trung nào đó
4.2.4 Lí thuyết hành động ngôn từ là một quan niệm không mới trong nghiên cứu ngôn ngữ học, nó đã được nhiều tác giả, nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Và bởi vì hành động ngôn từ là một phạm trù sâu rộng, một mảnh đất màu mỡ đầy tiềm năng mà giới ngữ học vừa mới đăït chân cày xới, hơn nữa mỗi tác giả lại tiếp cận nó theo lăng kính riêng, quan điểm riêng của mình nên vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ cho chúng ta tiếp tục khám phá, tìm hiểu
Trang 12Trên cơ sở kế thừa và phát triển kết quả của các công trình nghiên cứu trước, trong luận văn này chúng tôi sẽ cố gắng xem xét, phân tích, so sánh và đối chiếu một số hành động ngôn từ trong tiếng Việt và tiếng Anh, cụ thể là
2 nhóm động từ ngôn hành chỉ hành động cầu khiến và hành động cam kết
5 PHƯƠNG PHÁP VÀ NGỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
5.1.1 Phương pháp phân tích ngữ pháp
Dựa trên nguồn ngữ liệu thu thập được, chúng tôi sẽ mô tả, phân tích, mô hình hoá các kiểu câu ngôn hành Các nhận định, đánh giá của chúng tôi về cấu trúc, chức năng, ngữ nghĩa của các loại câu ngôn hành chủ yếu dựa vào việc phân tích dữ liệu
5.1.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để rút ra những nét tương đồng hay khác biệt trong hành động ngôn từ của hai ngôn ngữ Việt-Anh thì phương pháp so sánh, đối chiếu là phương pháp chiến lược chủ yếu trong toàn luận văn Chúng tôi thực hiện việc so sánh, đối chiếu câu ngôn hành giữa hai ngôn ngữ này trên các bình diện sau: cấu trúc, và ngữ nghĩa Trên cơ sở đó chúng tôi rút ra các nhận xét và kết luận
5.2 Nguồn ngữ liệu
Luận văn sử dụng các loại tư liệu chủ yếu sau:
Một số công trình liên quan đến lí thuyết giao tiếp và hành động ngôn từ
Các câu ngôn hành xuất hiện trong hoạt động giao tiếp hàng ngày, trong các tác phẩm văn học cụ thể chúng tôi đã khảo sát 21 tác phẩm văn học gồm truyện ngắn tiểu thuyết, kịch bản phim trong tiếng Việt và tiếng Anh (xem Phần quy ước trình bày nguồn ngữ liệu trích dẫn), trong các văn bản hành chính- công vụ…, trên các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, trong tiếng Việt và tiếng Anh
Trang 136 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Giao tiếp đã, đang và sẽ là một nhu cầu quan trọng bậc nhất của con người Để việc giao tiếp diễn ra có hiệu quả như mong muốn thì việc tìm hiểu công cụ giao tiếp, đặc biệt là ngôn ngữ là một việc làm vô cùng thiết thực
Lí thuyết hành động ngôn từ nghiên cứu hành động ở lời cũng nhằm mục đích đó Trên cơ sở phân tích, so sánh, đối lập các câu có nghĩa ngôn hành của hai ngôn ngữ Việt – Anh, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ có những đóng góp sau:
6.1 Về thực tiễn
Từ những nét tương đồng và những nét đăïc trưng trong hành động ngôn từ của hai ngôn ngữ sẽ có những vận dụng linh hoạt trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và ngược lại dạy tiếng Anh cho người Việt
Trong hoạt động giao tiếp hàng ngày cùng cần tránh sử dụng những hành động cầu khiến và cam kết không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng, xâm hại đến thể diện của các bên tham gia giao tiếp Ngược lại, biết sử dụng đúng lúc đúng chỗ sẽ làm tăng hiệu quả của hoạt động giao tiếp
6.2 Về lí luận
Luận văn sẽ góp phần nghiên cứu về câu ngôn hành, liệt kê những dạng thức của câu ngôn hành qua phân tích, mô hình hoá nguồn ngữ liệu tập hợp được Một động từ ngôn hành sẽ có thể có những dạng thức nào
Có nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng bất kể câu nói nào cũng là câu ngôn hành vì chúng ta có thể thêm vào trước đó một động từ ngôn hành để gọi tên hành động ngôn từ trong câu Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với quan niệm của Cao Xuân Hạo chỉ thừa nhận những câu ngôn hành tường minh, tức là những câu có động từ ngôn hành xuất hiện trên bề mặt phát ngôn của câu nói đó
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang 14Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bảng phụ lục liệt kê danh sách các động từ ngôn hành đã khảo sát, luận văn gồm 3 chương với các nội dung cơ bản như sau:
CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CƠ SỞ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương một gồm 23 trang, chúng tôi trình bày các khái niệm và lí thuyết về động từ ngôn hành và câu ngôn hành, điều kiện để có một câu ngôn hành, các mô hình cấu trúc câu ngôn hành cũng như hành động cầu khiến, hành động cam kết và các động từ biểu thị các ý nghĩa này
CHƯƠNG HAI: CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Chương hai gồm 70 trang, chúng tôi khảo sát hành động cầu khiến
tường minh gồm các hành động xin, xin phép, mời, yêu cầu, ra lệnh, nhờ cậy,
cấm trong cả hai ngôn ngữ Việt-Anh; sau đo,ù tiến hành so sánh để rút ra những
nét tương đồng và dị biệt trong hành động ngôn từ của hai ngôn ngữ này
CHƯƠNG BA: CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Chươing ba gồm 45 trang (từ trang 108 đến trang 153), luận văn tiếp tục trình bày kết quả nghiên cứu hành động ngôn từ cam kết bao gồm các hành
động như hứa, thề, cam đoan, bảo đảm, cam kết, tha thứ, cho, biếu, tặng trong
tiếng Việt và tiếng Anh Chúng tôi cũng so sánh, đối chiếu trên các phương diện như, cấu trúc, ngữ nghĩa để tìm ra những nét khác nhau và giống nhau
*********************
CHƯƠNG MỘT
Trang 15NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CƠ SỞ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Ơû chương này luận văn giới thiệu các khái niệm về động từ ngôn hành, câu ngôn hành và điều kiện để có một câu ngôn hành, hành động cầu khiến và cam kết
1.1 KHÁI NIỆM ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH
1.1.1 Động từ ngôn hành
Động từ là một thực từ dùng để biểu diễn một động tác, một hành vi, một ý nghĩa hoặc một cảm xúc, một trạng thái hoặc sự phát triển, sự biến hoá của một trạng thái Trong ngôn ngữ , động từ là một lớp từ vựng chiếm số lượng khá lớn và rất phức tạp, nhất là trong các ngôn ngữ biến hình Động từ có thể được phân chia làm nhiều loại khác nhau tùy theo quan niệm và tiêu chí của mỗi tác giả Như động từ nội hướng, động từ ngoại hướng động từ gây khiến, động từ xuất hiện, tồn tại, tiêu tan, động từ cảm nghĩ, nói năng, động từ tình thái
Các động từ chủ yếu được dùng để mô tả các hoạt động, tình trạng hay quá trình trong đời sống Nhưng trong đó có một lớp động từ không được dùng với chức năng mô tả hành động mà chính là để thực hiện hành động Lớp động từ đó gọi là động từ ngôn hành
Động từ ngôn hành (performative verbs) là động từ mà khi được sử dụng trong một điều kiện nhất định thì ngay việc dùng nó cũng chính là cái hành động được nó biểu hiện Nói cách khác, động từ ngôn hành là những động từ chỉ những hành động được thực hiện bằng ngôn từ tức là khi nói ra một điều
gì đó tức là đã thực hiện một hành động
Cao Xuân Hạo cho rằng:“vị từ ngôn hành là một vị từ mà khi được dùng trong một điều kiện nhất định thì ngay việc sử dụng nó cũng chính là cái hành động được nó biểu hiện” [24, tr 414] và “một vị từ đáng gọi là vị từ ngôn
Trang 16hành chỉ có thể là một vị từ biểu thị một hành động mà cách (hay một trong những cách) thực hiện bình thường là thông qua ngôn ngữ, và cụ thể là thông qua việc sử dụng cái vị từ ấy.” [24, tr 415]
Hành động được một động từ ngôn hành biểu hiện phải được thực
hiện bằng cách sử dụng chính động từ ngôn hành ấy Ví dụ: Để khuyên ai ta dùng động từ khuyên như trong câu “ Tôi khuyên anh nên bỏ hút thuốc” Để cảm
ơn hay xin lỗi, ta không còn cách nào khác ngoài việc phát âm động từ cảm ơn
hay xin lỗi Nhưng để thực hiện hành động mắng, chửi lại không thể dùng động từ mắng, chửi được mà phải dùng một câu khác chứa một động từ khác Ta không thể mắng ai bằng câu: “Tao mắng mày rằng mày là đồ ăn hại”; mà chỉ
có thể dùng các câu như:
- Đồ ăn hại
- Đồ ngu
- Đồ hậu đậu
1.1.2 Động từ nói năng và động từ ngôn hành
Dựa vào khả năng có thể được sử dụng với chức năng ngôn hành hay không, các động từ nói năng trong tiếng Việt được chia làm ba loại [9, tr 99]
Loại 1: Động từ nói năng vừa dùng với chức năng ngôn hành và vừa
dùng với chức năng miêu tả Đó là các động từ: hỏi, hứa, mời, tuyên án, tuyên
bố, phê bình, cảnh cáo… Ví dụ: “Tôi hứa sẽ đến đúng giờ.” (6) Và “Tôi vừa hứa sẽ đến đúng giờ.” (7) Câu (6) là một phát ngôn ngôn hành thể hiện hành động
hứa nhưng câu (7) là một câu miêu tả bởi trong câu này xuất hiện yếu tố trạng
từ chỉ thời gian “vừa” Hay câu “Tôi cảnh cáo anh lần thứ nhất tội gian lận
trong khi làm bài thi.” (8) ; “Họ cảnh cáo anh ta tội gian lận trong thi cử.” (9)
Câu (8) là một phát ngôn ngôn hành biểu thị hành động cảnh cáo, còn câu (9) chủ ngữ của động từ cảnh cáo là ngôi thứ ba nên nó là một câu miêu tả
Loại 2: Động từ nói năng chỉ được dùng trong chức năng ngôn hành , không thể dùng trong chức năng miêu tả Đó là một số không nhiều các động từ
sau: cảm tạ, đội ơn, đa tạ, phỉ thui, đốt mồm đốt miệng… Ví dụ ta chỉ có thể nói
Trang 17“Xin đa ịa ơn cứu mạng của ngài”, chứ không thể nói “Ông ấy đa tạ ơn cứu
mạng của ngài”
Loại 3: Động từ chỉ có thể dùng trong chức năng miêu tả lại hành động ở lời, không thể dùng trong chức năng ngôn hành Các động từ thuộc
nhóm này có hỏi han, bảo ban, sai khiến, chửi, mắng, khoe, dọa, giễu … Ví dụ
ta chỉ có thể nói “Tôi bảo anh đi đi sao anh còn đứng ì ra đấy”; không thể nói
“Tôi bảo ban anh đi đi sao anh còn đứng ì ra đấy”; ta chỉ có thể miêu tả lại hành động bảo bằêng câu: “Anh vừa bảo ban gì con tôi đấy?”; hay như “Bà ta
mới chửi nó một trận nên hồn”, “Nó thường xuyên bị mẹ mắng”
Xét về mặt cấu tạo, động từ nói năng trong tiếng Việt có thể đơn âm tiết, đa âm tiết Sự khác biệt về phương thức cấu tạo cũng có thể phản ánh những hiệu lực khác nhau của động từ nói năng tiếng Việt
Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu tiểu loại động từ nói năng vừa được dùng với chức năng ngôn hành vừa được dùng với chức năng miêu tả, trong đó chúng tôi chỉ khảo sát loại động từ này khi được sử dụng với chức năng ngôn hành
1.1.3 Các loại động từ ngôn hành
a Các nhà ngôn ngữ học như J Austin, J.R Sealre, hay B Fraser chưa thật sự thốâng nhất với nhau về tiêu chí phân loại động từ ngôn hành J Austin cho rằng có nhiều loại động từ ngôn hành khác nhau và ông đã phân
chia động từ ngôn hành ra làm năm nhóm gồm: verdictives (phán định),
exercitives (hành chức), commisives (cam kết), behabitives (ứng xử), expositives
(trình bày) [60, tr 150] J.R Searle cho rằng tiêu chí phân loại của Austin chồng chéo lên nhau nên sau đó đã phân lại làm năm nhóm như sau:
declaratives (tuyên bố), assertives (xác tín), expressives (biểu cảm), directives
(điều khiển), và commissives (cam kết) (Dẫn theo Cao Thị Quỳnh Loan [35, tr 25] ) Còn B.Fraser chia động từ ngôn hành ra làm 8 nhóm sau: (1) hành động
khẳng định (act of asserting), (2) hành động đánh giá (acts of evaluating), (3) hành động nói lên thái độ của người nói (acts of reflecting speaker attitude), (4)
Trang 18hành động quy định (acts of stipulating), (5), hành động yêu cầu (acts of
requesting), (6) hành động đề nghị (acts of suggesting), (7) hành động sử dụng
chức trách (acts of exercising authority), (8) hành động cam kết (acts of
committing) (theo Cao THị Quỳnh Loan [36, tr 25 - 26] )
b Cao Xuân Hạo cho rằng trong tiếng Việt các động từ ngôn hành có thể chia làm hai loại dựa trên tiêu chí động từ ngôn hành đó có cần một bổ ngữ chỉ nội dung để làm thành một phát ngôn ngôn hành hay không
Nhóm 1, gồm những động từ ngôn hành không cần một bổ ngữ chỉ nội
dung Ví dụ như cám ơn, xin lỗi, chào, từ, xin, hàng
Nhóm 2, gồm những động từ ngôn hành cần một bổ ngữ nội dung mới làm thành một phát ngôn ngôn hành Đó là các động từ ngôn hành như
khuyên, cấm, yêu cầu, ra lệnh, công nhận, thề, hứa, mời, thông báo…
Trong thực tế sử dụng loại động từ ngôn hành thuộc nhóm này chiếm đại đa số
Xét các ví dụ:
(19) Tôi xin lỗi anh
(20) Chào cô
(21) Em xin cám ơn chị
(22) Mày là thằng con bất hiếu Từ nay tao từ mày
(23) Tôi khuyên anh nên tập thể dục mỗi ngày và ăn uống điều độ để giữ gìn sức khoẻ
(24) Tao cấm mày không được chơi với thằng ấy nữa
(25) Tôi yêu cầu cô ra khỏi đây ngay
Các câu (19), (20), (21), (22) chỉ cần một bổ ngữ tiếp nhận ở ngôi số
hai Còn các câu (23), (24), (25) sau các động từ ngôn hành khuyên, cấm, yêu
cầu ngoài bổ ngữ tiếp nhận ở ngôi số hai thì còn cần một bổ ngữ nội dung khuyên ai điều gì, cấm ai điều gì, yêu cầu ai điều gì
Khi khảo sát hành động ngôn từ có nghĩa cầu khiến (directive) và cam
kết (commisive), chúng tôi sử dụng cách phân loại của J.R Searle Để phân
Trang 19tích các mô hình cấu trúc ngữ pháp, chúng tôi dựa vào cách phân chia của Cao Xuân Hạo
1.2 Khái niệm câu ngôn hành
1.2.1 Câu ngôn hành
Có nhiều quan niệm khác nhau về câu ngôn hành, khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chọn quan niệm của Cao Xuân Hạo
Còn Cao Xuân Hạo viết:
“Câu ngôn hành là một câu trần thuật tự biểu thị Tức là biểu thị chính cái hành động được thực hiện trong khi nói nó ra và chính bằng cách nói nó ra Kiểu câu này vận dụng một loại “vị từ” mà Austin gọi là “vị từ ngôn hành” (hay “vị từ ngữ vi”, theo Nguyễn Đức Dân
1984 và Hoàng Phê 1984) (từ nay sẽ gọi là vị từ ngôn hành và viết tắt là VTNH) Vị từ ngôn hành là một vi từ mà khi được dùng trong một điều kiện nhất định thì ngay việc sử dụng nó cũng chính là cái hành động được nó biểu hiện” [24, tr 415]
Ví dụ:
(26) Tôi xin thề sẽ không bao giờ nói ra sự thật
Thì chính bản thân câu nói ấy cũng chính là hành động “thề” được
thực hiện thông qua động từ ngôn hành thề Một khi câu đã được phát ngôn
thì đồng thời cũng là thực hiện một hành động Ơû đây chúng ta thấy phát ngôn với hành động là một chứ không phải là phát ngôn với hành động song song với nhau hay phát ngôn thực hiện xong rồi mới có hành động như trong
phát ngôn của một người đang thực hiện hành động quét nhà “Tôi đang quét
nhà”, hay như một người nói câu “Tôi sẽ giặt quần áo” và liền sau đó anh ta
đi lấy quần áo bẩn và bắt đầu giặt
“Đây là một nét đặc trưng riêng của tín hiệu ngôn ngữ, và không thể có một hệ thống tín hiệu nào có được một cái gì tương tự như thế…” [24, tr 415] Một câu xứng đáng là một câu ngôn hành khi nó sử dụng một động từ
Trang 20biểu thị hành động mà cách thông thường nhất là thông qua ngôn ngữ bằng việc sử dụng chính động từ ấy
Dựa vào sự có mặt hay không có mặt của động từ ngôn hành trong
phát ngôn, các nhà ngôn ngữ học chia câu ngôn hành ra làm 2 loại: câu
ngôn hành tường minh (explicit performatives) và câu ngôn hành hàm ẩn (implicit performatives) Câu ngôn hành tường minh là câu có chứa một
động từ ngôn hành trên bề mặt phát ngôn, còn câu ngôn hành hàm ẩn là câu không có động từ ngôn hành xuất hiện trên bề mặt và nghĩa của hành động ngôn trung được suy ra từ một sự đoán định của người tiếp nhận
Trong luận văn này chúng tôi chỉ chấp nhận quan niệm câu ngôn hành tường minh và chỉ khảo sát các câu ngôn hành tường minh Là những phát ngôn có động từ ngôn hành xuất hiện trong biểu thức ngôn hành
Kết hợp định nghĩa về câu ngôn hành, biểu thức ngôn hành tường
minh và động từ ngôn hành, ta có thể nói: câu ngôn hành (hay phát ngôn
ngữ vi) là một câu biểu thị một hành động, loại câu này có chứa một động từ ngôn hành trong biểu thức ngôn hành tường minh làm kết cấu lõi đặc trưng cho hành động ở lời tạo ra nó
Tuy vậy không phải bất kỳ một phát ngôn nào chứa một động từ ngôn hành đều là câu ngôn hành Để một phát ngôn có được tính ngôn hành cần phải có những điều kiện khác nữa mà người ta gọi là những điều kiện thích dụng
1.2.2 Điều kiện để có một câu ngôn hành
Bất kỳ một hành động nào muốn thực hiện được cũng cần có những điều kiện nhất định Hành động ở lời lại càng cần những điều kiện ràng buộc chặt chẽ hơn, đa dạng hơn J.L Austin và J.R Searle nói đến các điều kiện sau đây, gọi là những điều kiện thích dụng (felicity conditions) (thuật ngữ Nguyễn Thiện Giáp dùng, Đỗ Hữu Châu gọi là những điều kiện “may mắn”; Nguyễn Đức Dân dịch là những điều kiện thuận lợi) Đó là những hoàn cảnh thích hợp để hành động ngôn từ được thực hiện thành công, đúng với dụng ý
Trang 21Tuy vậy, ở đây chúng ta đang nói đến những hành động ở lời chân thực chứ không phải là những hành động ngôn từ không chân thực hay gián tiếp…
a Điều kiện chung (general condition)
Đối với những người tham gia trong quá trình giao tiếp họ phải hiểu ngôn ngữ đang dùng và không đùa giỡn, không đóng kịch, họ cũng không bị bắt buộc làm điều đó, và tất nhiên đó là những người có tâm sinh lí bình thường
b Điều kiện nội dung (content condition)
Là điều kiện cần thiết, cụ thể cho việc thực hiện hành động ngôn từ Nội dung của mệnh đề nội dung có thể là một mệnh đề đơn giản, một hàm mệnh đề Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của người nói Ví dụ
đối với hành động thề, hứa hẹn, thì nội dung của phát ngôn phải nói về tương lai và đó là hành động của người nói; hành động ra lệnh, yêu cầu,
cấm, khuyên thì sự kiện tương lai là hành động của người nghe
c Điều kiện ban đầu (preparatory condition)
Quy định những gì liên quan đến sự cần thiết để hành động ngôn từ được thực hiện Ví dụ hành động mệnh lệnh thì người ra lệnh phải ở vị thế cao hơn, và tin rằng mình có đủ quyền lực để buộc người nghe phải thi hành mệnh lệnh Khi đưa ra một lời cảnh báo, cần có những điều kiện ban đầu như sau: người nói chưa rõ người nghe đã biết việc này hay chưa, người nói nghĩ rằng điều đó sẽ xảy ra và mang lại kết quả không có lợi Với hành
động kết án ai thì điều kiện ban đầu là người nói phải là quan toà (chánh án
toà án), người nghe là tội phạm, và hoàn cảnh xảy ra sự kiện này là ở một phiên toà
d Điều kiện chân thực (sincerity condition)
Quy định người nói phải chân thành trong nội dung phát ngôn Mỗi hành động ngôn từ quy đinh tính chân thành trong phát ngôn khác nhau
Chẳng hạn, hành động cam đoan thì phải tin rằng những điều mình cam
Trang 22đoan là đúng sự thật; hành động cấm thì phải tin rằng mình có đủ quyền hạn
để cấm và điều bị cấm là một sự kiện xấu
e Điều kiện thiết yếu (essential condition)
Quy định trách nhiệm và sự ràng buộc của người nói Khi người nói hứa hẹn một điều gì thì họ đã gắn mình vào trách nhiệm thực hiện lời hứa Khi lên án một điều gì thì trách nhiệm cũng gắn vào người nói Nhưng khi ra lệnh thì trách nhiệm và sự ràng buộc lại gắn vào người nghe (có nghĩa là người nghe bị ràng buộc và có trách nhiệm thực hiện nội dung bổ ngữ sau động từ ra lệnh)
Ngoài những điều kiện được J.L Austin và Searle nêu ra, theo Cao Xuân Hạo, một câu được gọi là ngôn hành chỉ có tính chất ngôn hành trong những điều kiện nhất định Đó là:
Chủ ngữ động từ ngôn hành là ngôi thứ nhất (trong nhiều trường hợp giao tiếp chủ ngữ có thể ẩn) Nếu chủ ngữ là ngôi thứ hai hay thứ ba, thì phát ngôn ấy chỉ có thể là trần thuật, ví dụ khi một người nói câu: “Anh ấy mời cậu đi dự đám cưới.” Thì người ấy tuyệt nhiên không hề mời, mà “anh ấy” cũng không mời
Động từ ngôn hành phải được dùng ở thì hiện tại của thức chỉ định trong mệnh đề chính của câu Trong tiếng Việt không có sự xuất hiện của những từ chỉ thời gian và không có tình thái từ chỉ thời
thể như đã, đang, sẽ, vẫn, rồi, còn… đi kèm với động từ ngôn
hành
Đối tượng tiếp nhận hành động ngôn từ thường là ngôi thứ hai
Đối với một số hạn hữu động từ ngôn hành như xin, có lời thì bổ
ngữ tiếp nhận có thể là ngôi thứ ba
Ví dụ: “Tôi có lời ca ngợi các đồng chí ấy.”, “Tôi có lời chia buồn với
gia đình.” “Tôi tha thứ cho tất cả mọi người”
Những điều kiện bắt buộc, hạn chế, quy định tính ngôn hành của các
vị từ ngôn hành, có thể khác nhau, tuỳ theo nghĩa của từng vị từ Nhưng một
Trang 23câu nếu thiếu vắng một trong ba điều kiện trên thì nó không còn mang tính ngôn hành nữa
1.2.3 Mô hình cấu trúc câu ngôn hành
Chúng tôi đồng ý với Võ Thị Ngọc Duyên [17, tr 49-50-51] về các nhận xét sau:
- Động từ ngôn hành là hạt nhân của phát ngôn ngôn hành Nhờ có động từ ngôn hành mà chủ đề của phát ngôn được biểu đạt một cách tường minh
- Tính hoàn chỉnh của nội dung thông báo là điều kiện quyết định cho một phát ngôn hình thành Vì vậy trước hoặc sau động từ ngôn hành là nội dung cụ thể của hành động hoặc giải thích nguyên nhân của hành động (chúng tôi gọi thành phần này là thành phần mở rộng của phát ngôn: kí hiệu TPMR)
Trong cấu trúc câu ngôn hành thường có 4 yếu tố sau, có khi xuất hiện đầy đủ nhưng có khi ẩn đi một vài yếu tố:
a Các đại từ, danh từ, danh ngữ biểu thị chủ thể giao tiếp, kí hiệu Sp1
b Động từ ngôn hành: thành phần không thể thiếu, luôn luôn xuất hiện trong câu, kí hiệu ĐTNH (V)
c Đại từ, danh từ, danh ngữ biểu thị đối tượng tiếp nhận, kí hiệu Sp2 (cũng có thể là một Sp3 nào đó tuỳ sự cho phép của động từ )
d Bổ ngữ biểu thị nội dung, kí hiệu BNND
Dựa vào sự xuất hiện của các thành phần nêu trên, qua phân tích ngữ liệu thu thập được, và dựa vào quan điểm phân loại của Cao Xuân Hạo, cũng như kế thừa kết quả nghiên cứu của các luận văn trước, chúng tôi đã tổng kết thành 9 mô hình phát ngôn của câu ngôn hành như sau:
Mô hình 1
Sp1 ĐTNH Sp2 BNND
Trang 24Đây là mô hình đầy đủ nhất của câu ngôn hành vì nó có tất cả các yếu tố, và có thể có thêm thành phần mở rộng (TPMR) Ví dụ:
Tôi đề nghị đồng chí hãy triển khai ngay kế hoạch hành động
Sp1 ĐTNH Sp2 BNND
Mô hình 2
ĐTNH Sp2 BNND
Mô hình này thiếu yếu tố chủ thể giao tiếp Sp1 Ví dụ:
Chúc các bạn thành công
ĐTNH Sp2 BNND
Mô hình 3
Sp1 ĐTNH BNND
Mô hình này khuyết đối tượng giao tiếp Sp2 Ví dụ:
Bây giờ tôi xin phép sang phần hai
Trang 25Mô hình này chỉ có hai yếu tố động từ ngôn hành và đối tượng tiếp nhận Sp2 Ví dụ:
Anh làm thế là đúng, em thừa nhận
Đừng bao giờ vác mặt về đây nữa, tao cấm, nghe chưa?
Trang 26Các mô hình cấu trúc trên, chúng tôi nghĩ, vẫn là chưa đầy đủ chưa bao quát hết các dạng thức phát ngôn của câu ngôn hành bởi vì ngôn ngữ trong hành chức sẽ biến hoá, thay đổi khôn lường Chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này ở các chương tiếp theo
1.2.4 Câu ngôn hành có chứa động từ tình thái
1.2.4.1 Câu ngôn hành có chứa động từ tình thái trong tiếng Việt
Khi khảo sát câu ngôn hành trong tiếng Việt, chúng tôi theo quan đểm của Cao Xuân Hạo [24] về các nhận xét nhau:
a “Xin là một tác tử (operator) đánh dấu tính ngôn hành của phát
ngôn cũng như của vị từ đi sau nó, một cách độc lập đối với ngữ cảnh và tình huống, đối với sự có mặt hay không có mặt của bổ ngữ chỉ người tiếp nhận ở ngôi số hai.” [24, tr 421- 422]
b Ngoài xin còn có tổ hợp từ có lời (hay xin có lời) cũng là một tác tử
đảm bảo cho động từ đi sau có được tính ngôn hành Hơn nữa khi sử dụng chính các tác tử này thì phát ngôn sẽ có tính ngôn hành ngay cả khi nó vi phạm một trong ba điều kiện của câu ngôn hành: bổ ngữ tiếp nhận là ngôi số ba Ví dụ:
(45) Tôi có lời chúc mừng chú thím ấy
(46) Tôi xin gửi lời thăm anh và các cháu
c Các động từ tình thái khác như: nên, muốn, mong, ước, cần, phải,
cần phải, buộc lòng phải, thấy cần, có thể, có vẻ, dám, định, toan, nỡ, suýt, thử, có chủ ý… khi đứng trước động từ ngôn hành sẽ làm mất tính ngôn hành
của câu Tức câu có chứa động từ tình thái xét trên bình diện cấu trúc đề là câu trần thuật Vì vậy chúng không phải là đối tượng khảo sát của chúng tôi
1.2.4.2 Câu ngôn hành có chứa động từ tình thái trong tiếng Anh
Trong tiếng Anh, việc sử dụng động từ tình thái có ảnh hưởng đến câu ngôn hành như thế nào là một vấn đề hết sức phức tạp B.Fraser đã nghiên cứu trường hợp câu có động từ tình thái đứng trước các động từ ngôn
Trang 27hành như: must, can, will, would, might, should Một câu ngôn hành phải
mang tính chân thực, tức là nó biểu thị một hành vi tại lời thực (theo Nguyễn Đức Dân [13, tr 45] và Cao Thị Quỳnh Loan [36, tr 26- 33]) Theo đó, một câu ngôn hành có các từ tình thái đứng trước là những câu ngôn hành hữu hạn (hedged performatives) (thuật ngữ này được Nguyễn Đức Dân
[14, tr 45] dịch là những biểu thức ngữ vi bị cản) “câu ngôn hành hữu hạn
có thể là câu ngôn hành mạnh (strongly performatives) hay câu ngôn hành yếu (weakly performatives) phụ thuộc vào đặc điểm loại từ tình thái và từng loại động từ ngôn hành khi kết hợp với nhau.” [36, tr 33]
Theo K.Allan:
“A performative clause must be “realis”, i.e., denote an actualization
of the illocutionary act Therefore (a) a performative verb can only co-occur with root madals which are “realis”, and not with “irrealis” epistemic modal auxiliaries; and (b) a performative clause must be in the indicative mood.” [59, tr 3001]
(Một câu ngôn hành phải “chân thực”, tức là biểu thị một lực ngôn trung thực sự Do đó, một động từ ngôn hành chỉ có thể cùng xuất hiện với động từ tình thái gốc, ở thức thực thi chứ không phải là trợ động từ tình thái dạng giả định.)
Ta thử xét một vài ví dụ minh hoạ
a Động từ tình thái “will”
Nếu Max nói với dì của cậu ấy rằng:
(53) I will hereby promise to visit you next time I’m in town
(“Bằng lời nói này” cháu hứa sẽ thăm dì vào lần tới khi cháu lên thành phố.)
Nhưng sau đó Max không thăm dì như cậu ấy hứa, và dì cậu đã trách
mắng “Nhưng cháu đã hứa đi thăm dì” Thế là dì của Max kết tội Max đã
không giữ lời hứa Điều này là do (53) biểu thị một hành động tương lai có
thể giải thích bằng câu sau “I will with these words make the promise to visit
Trang 28you next time I am in town.” Câu (53) động từ tình thái “will” được sử dụng
với nghĩa gốc của nó, biểu thị một hành động có thật, nó có hiệu lực tại lời được mô tả bởi động từ ngôn hành “promise” Ta hãy xem câu sau:
(54) Tomorrow when I see her, I will promise to visit next time I am in
town (Ngày mai khi cháu gặp cô ấy, cháu hứa sẽ thăm dì lần tới khi cháu lên thành phố)
Ơû câu (54) ta không thể dùng “hereby” xen vào giữa “will” và
“promie” Trong câu (54) động từ tình thái “will” được dùng với nghĩa giả định, biểu thị một sự kiện không có thật, tức là một hành động hứa trong tương lai Vậy (54) không phải là một câu ngôn hành
b Động từ tình thái “can”
(55) I can hereby authorize you to act as our agent from this moment
Câu (55) là một câu mơ hồ về tính ngôn hành Nếu “can” nghĩa là có quyền và “hereby” có nghĩa là bằng lời nói này thì câu (55) tạo ra một phát
ngôn có tính ngôn hành với hiệu lực ở lời là hành động uỷ nhiệm cho ai làm
một việc gì đó Nhưng nếu “I can hereby” có nghĩa là “dùng một thông điệp từ một văn phòng trung tâm cho phép tôi ủy quyền cho anh…” thì (55) không còn là một phát ngôn ngôn hành nữa Nó có lực ngôn trung là một câu trần thuyết về khả năng của người nói (Sp1) xác lập sự uỷ quyền đối với người nghe (Sp2)
c Động từ tình thái “must”
Ví dụ:
(56) I must ask you some questions
(57) I must hereby take my leave of you
(58) I must apoligize you for arriving too late
(59) I must pronounce you man and wife
Trong các câu trên nếu bỏ động từ tình thái “must” đi thì phần còn
lại vẫn là những phát ngôn ngôn hành với hành động ở lời là hỏi (56), từ biệt (57), xin lỗi (58), tuyên bố (59) Nhưng khi đứng sau “must” chúng có giá trị
Trang 29ngôn hành khác nhau Câu (57) động từ tình thái “must” dường như không ảnh hưởng đến giá trị ngôn hành của phát ngôn; nhưng trong (56) và (58) thì
khác “must” làm phương hại đến hành vi hỏi và xin lỗi Khi “must” đứng trước động từ xin lỗi thì hành động xin lỗi mang tính miễn cưỡng, không thật
lòng của người nói Những câu ngôn hành kiểu này được gọi là những biểu thức ngôn hành yếu (weakly peformative), tức là khi “must” đứng trước sẽ tạo thành một phát ngôn ngôn hành sai hoặc phi chuẩn
Riêng (59) là một câu ngôn hành khó có thể chấp nhận được trong một ngữ cảnh trang trọng: tại buổi lễ kết hôn trong nhà thờ trước mặt Chúa
và đông đảo bà con giáo dân, Đức cha không thể dùng câu “I must
pronounce you man and wife.” để tuyên bố hai người đã nên vợ nên chồng
Trong trường hợp đó cha sẽ nói: “I hereby pronounce you man and wife.”
Sự xuất hiện của động từ tình thái trong các câu ngôn hành trong tiếng Anh là do tình huống giao tiếp quy định Do vậy nếu không chứng kiến cảnh huống thực của phát ngôn hoặc không dựa vào ngữ cảnh của cuộc thoại thì khó có thể phân biệt được đâu là câu ngôn hành, đâu là câu trần thuật nhất là khi trong câu có chứa động từ tình thái
Vì vậy, khi khảo sát nguồn ngữ liệu trong tiếng Anh Chúng tôi cố gắng hạn chế sử dụng những ví dụ có chứa các động từ tình thái Tuy vậy có một số động từ ngôn hành trong một vài ví dụ cùng xuất hiện với động từ tình thái, chúng tôi sẽ phân tích dựa vào tình huống giao tiếp
1.3 HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN VÀ CÁC ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH THUỘC NHÓM CẦU KHIẾN
1.3.1 Hành động cầu khiến
1.3.1.1 Cầu khiến (directive) là hành động mà người nói (Sp1) dùng
để khiến người nghe (Sp2) làm một cái gì đó Hành động này thể hiện ở những câu mà người nói điều khiển người nghe thực hiện một hành động X nào đó
1.3.1.2 Theo J.Austin và J.R Searle , để hành động cầu khiến được
thực hiện cần phải thoả mãn các điều kiện sau:
Trang 30Nội dung mệnh đề: hành động X trong tương lai là do Sp2 thực hiện Điều kiện ban đầu: a/ Sp2 có khả năng thực hiện được hành động đó và Sp1 tin rằng Sp2 có thể thực hiện nó; b/ Sp1 và Sp2 không tin rằng Sp2 sẽ thực hiện X theo tiến trình bình thường của sự kiện
Điều kiện chân thực: Sp1 muốn Sp2 thực hiện X
Điều kiện thiết yếu: Hành động cầu khiến được xem như là trách nhiệm, mong muốn và cố gắng của Sp1 làm cho Sp2 thực hiện X
1.3.1.3 A.Wierzbicka trong cuốn English speech act verbs đã phát biểu cấu trúc ngữ nghĩa của động từ cầu khiến (direct 1) như sau [58, tr 42- 43]:
• Tôi cho rằng tôi là ai đó có thể nói những điều mà những người
ở đây phải làm
• Tôi cho rằng những người ở đây phải làm công việc mà tôi muốn họ phải làm
• Tôi cho rằng họ muốn biết công việc họ cần phải làm
• Tôi nói rằng tôi muốn những người ở đây phải làm X
• Tôi nói như vây vì tôi muốn làm cho những người có mặt ở đây sẽ làm điều tôi nói ra (X)
• Tôi cho rằng những người có mặt ở đây sẽ làm X vì điều đó Dựa vào những điều kiện thỏa mãn hành vi ở lời mà Austin và Searle
đưa ra cũng như cấu trúc ngữ nghĩa của động từ cầu hiến (direct) mà A.Weirzbicka đã xây dựng nên có thể nói khái quát rằng: cầu khiến là một
hành động mà người nói dùng ngôn ngữ của mình (tiếng nói hay chữ viết) để tác động đến người nghe/đọc nhằm làm cho họ thực hiện một hành động nào đó
ở tương lai
1.3.1.4 Các nhà ngôn ngữ học gọi các động từ và câu có nghĩa cầu khiến bằng những cái tên khác nhau
a Diệp Quang Ban gọi đó là câu “khiển động” [4, tr 196]
Tác giả đã liệt kê các động từ có ý nghĩa khiển động thường thấy là:
bắt (ép), buộc, bức, cản (trở), cấm, chỉ bảo, đòi hỏi, ép, ép buộc, giục, giúp,
Trang 31giúp đỡ, hướng dẫn, hô hào, kêu gọi, khuyên bảo (khuyên nhủ, khuyên răn), khích lệ, khuyến khích, kích thích, lãnh đạo, mời, nài ép, nài xin, ngăn, ngăn cản, sai, thúc, thúc đẩy, thuyết phục, xin, yêu cầu…
Câu khiển động nếu được dùng với chủ ngữ là ngôi nhân xưng thứ
nhất và ra lệnh trong khi đang nói ra câu đó, thì chúng thuộc kiểu câu cầu khiến trực tiếp hay câu ngôn hành tường minh (explicit performatives)
b Một số tác giả khác như Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Hữu Quỳnh gọi
đây là câu gây khiến (dẫn theo Phạm Thị Hòa [28, tr 103]) Các tác giả này
xây dựng mô hình cú pháp của những phát ngôn chứa động từ gây khiến là: N1
V1 N2 V2… Tức là động từ gây khiến luôn cần hai bổ ngữ “Bổ ngữ thứ nhất bao giờ cũng là một danh từ biểu thị đối tượng mà hoạt động do động từ gây khiến chuyển tới… Bổ ngữ thứ hai bao giời cũng do một động từ biểu thị hoạt động của N2 là kết quả của sự thúc đẩy, giúp đỡ, cản trở, hay cho phép của N1.”
c Một nhóm các tác giả khác như Nguyễn Thiện Giáp [22], Nguyễn
Thị Lương [38], Bùi Thị Kim Tuyến [53] lại gọi đây là câu cầu khiến Bùi
Thị Kim Tuyến cho rằng: “Hành động cầu khiến là hành động ngôn từ được người nói sử dụng nhằm điều khiển người nghe thực hiện hành động theo chủ ý của người nói… Tùy theo lực ngôn trung và hành động xuyên ngôn của cầu khiến mà hành động này có tác động tích cực hay tiêu cực cho cả hai phía người nói lẫn người nghe.”[53, tr 107] Tác giả này cũng cho rằng một trong những phương thức thể hiện hành động cầu khiến là dùng câu ngôn hành Nhìn chung, các tác giả đều gặp nhau ở một điểm chung là: các động từ kể trên là những động từ nói năng và có khả năng tạo thành phát ngôn có cấu trúc:
Sp1 V1 Sp2 V2
Trong đó Sp1, Sp2 là nhân vật hội thoại, V1V2 là động từ cầu khiến và nội dung cầu khiến
Phạm Thị Hoà khi khảo sát “Hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ
vựng chỉ người – Các động từ nhiều nghĩa có nghĩa nói năng” đã gọi các động
từ nói năng thuộc nhóm này là động từ điều khiển [28] Tác giả dựa vào một số
Trang 32nhân tố như: 1/ tiền giả định; 2/ Nội dung của biểu thức ngữ vi và vị thế, vai quan hệ giữa Sp1 và Sp2; 3/ lợi ích của hành động tương lai X do Sp2 thực hiện là thuộc về Sp1 hay Sp2; 4/ cách thức hay là các yếu tố mà Sp1 dùng để tăng cường hiệu quả của đích điều khiển hoặc để giảm nhẹ tính cưỡng bức của các biểu thức ngữ vi điều khiển Tác giả đã chia các động từ nói năng nhóm điều khiển ra làm 4 tiểu nhóm như sau:
1 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời nhờ
2 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời yêu cầu
3 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời ra lệnh
4 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời khuyên
1.3.1.5 Luận văn chọn thuật ngữ cầu khiến làm tên gọi chung cho cả
nhóm Chúng tôi cũng đồng ý với tác giả Vũ Thị Thanh Hương [28, tr 35] khi cho rằng “ở nghĩa rộng cầu khiến là hành vi mà thông qua đó S (Sp1) muốn tạo
ra bất kì một sự thay đổi nào trong hành động của H (Sp2) bất kể hành động ấy
có lợi hay hại cho S hay H theo đó cầu khiến không chỉ bao gồm ra lệnh, sai
bảo, yêu cầu, nhờ vả mà còn cả mời mọc, xin phép.” Chúng tôi chọn khảo sát
các động từ nói năng được dùng với chức năng ngôn hành, các động từ nói năng
không được sử dụng trong chức năng ngôn hành ví dụ như mời mọc, khuyên bảo,
cấm đoán… chúng tôi sẽ không khảo sát
1.3.2 Các động từ ngôn hành thuộc nhóm cầu khiến
Căn cứ vào cách phân loại của tác giả Phạm Thị Hoà, chúng tôi tạm thời phân chia lại các động từ ngôn hành thuộc nhóm cầu khiến thành các tiểu nhóm sau:
1 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời yêu cầu gồm có động từ xin,
cầu xin, xin phép, van, hỏi, yêu cầu, đề nghị, kiến nghị
2 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời nhờ gồm có động từ nhờ, cậy,
trông cậy
3 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời ra lệnh gồm có động từ ra
lệnh, cấm
Trang 334 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời mời có động từ mời
5 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời khuyên gồm có động từ
khuyên, cảnh cáo
1.4 HÀNH ĐỘNG CAM KẾT VÀ CÁC ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH THUỘC NHÓM CAM KẾT
1.4.1 Hành động cam kết
1.4.1.1 Cam kết (commisive) là hành động mà Sp1 tự nguyện giao ước
với Sp2 sẽ thực hiện X trong tương lai Và do đó Sp1 đã tự ràng buộc mình vào chính những điều kiện do mình đưa ra, mà nếu không thực hiện đúng như điều đã cam kết, Sp1 sẽ trở thành một người xấu, mất thể diện
1.4.1.2 Theo J R Searle và J Austin, để hành động cam kết được
thực hiện cần phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Điều kiện nội dung: hành động X trong tương lai là do Sp1 thực hiện/ hay nói cách khác nội dung mệnh đề của động từ cam kết là nói về tương lai
Điều kiện ban đầu: 1 Sp1 biết rằng mình có khả năng thực hiện X; 2 Sp1 muốn làm cho Sp2 biết rằng Sp1 có khả năng thực hiện X và sẽ thực hiện dù có khó khăn gì
Điều kiện chân thực: Sp1 chân thành trong những điều mình cam kết; Sp1 muốn tự nguyện thực hiện X, Sp1 tin rằng thực hiện X sẽ có lợi cho Sp2
Điều kiện thiết yếu: Sp1 tự trói buộc mình vào trách nhiệm thực hiện những điều mình nói ra
Trạng thái tâm lí của người nói trong hành động cam kết là định làm
cái gì đó Hướng khớp ghép giữa từ ngữ và thực tại là làm cho thực tại khớp với từ ngữ: S định X
1.4.1.3 Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ cam kết (pledge) được Anne
Weirzerbicka [58 tr 207] xây dựng như sau:
Tôi muốn làm X một lúc nào đó sau thời gian này
Tôi giả định rằng nhiều người sẽ làm nó
Tôi giả định rằng điều này sẽ tốt cho Y
Trang 34Tôi biết rằng một lúc nào đó sau lúc này tôi có lẽ không muốn làm nó nếu tôi không phải làm
Tôi muốn nói một điều gì đó bây giờ mà điều đó sẽ nhắc cho tôi biết tôi phải làm nó
Tôi nói: tôi sẽ làm; và nếu tôi không làm, tôi muốn người khác nghe nó nghĩ rằêng tôi là người xấu hơn bất kì người nào khác
Tôi nói điều này bằng cách này vì tôi muốn làm cho chính mình phải làm nó, và cho người khác biết rằng tôi phải làm điều đó
Dựa vào những điều kiện thỏa mãn hành vi ở lời mà J.Austin và
J.R.Searle đưa ra cũng như cấu trúc ngữ nghĩa của động từ cam kết (pledge) mà A.Weirzbicka đã xây dựng nên có thể nói một cách khái quát rằng: cam kết là
hành động người nói dùng để bảo đảm và chịu trách nhiệm cho một hành động
ở tương lai Hành động trong tương lai có thể do Sp1 thực hiện hoặc một sự tình nào đó khác mà Sp1 biết chắc, nắm rõ chứ không do chính Sp1 thực hiện
14.1.4 Xuất phát từ nghĩa khái quát đó, các động từ thuộc nhóm này
có hai tên gọi khác nhau Cam kết là nhóm động từ nói năng được Austin phân chia theo lực ngôn trung thuộc nhóm số 3 (commissive) [60, tr 156-157] Điểm
chung của hành động cam kết là ràng buộc người nói vào một hành động ở tương lai
A.Weirzerbicka gọi các động từ thuộc nhóm này là động từ hứa hẹn nhóm 17 (promise) [58, tr 205] Nguyễn Thiện Giáp cũng dùng thuật ngữ này
Oâng cho rằng hứa hẹn là hành động người nói dùng để cam kết một hành động tương lai nào đó [23 tr 48] Hành động này thể hiện ở những câu nói mà khi nói
ra là người nói cam kết thực hiện một hành động nào đó
1.4.1.5 Chúng tôi chọn thuật ngữ cam kết làm tên gọi chung cho các động từ ở nhóm này vì chúng tôi cho rằng cam kết có nghĩa rộng hơn, bao quát hơn hứa hẹn, có thể bao nghĩa của các động từ còn lại trong nhóm
1.4.1.6 Mô hình cấu trúc chung của các động từ thuộc nhóm này như sau:
Trang 35Sp1 V Sp2 BNND (TPMR)
(V thuộc nhóm cam kết) Tuy nhiên, tuỳ từng động từ cụ thể mà mô hình cấu trúc ngữ nghĩa này có thể khác đi đôi chút, tức là một số động từ của nhóm này sẽ không cần
một BNND như động từ tha thứ, bỏ qua BNND có thể là một ngữ động từ (VP)
danh ngữ (NP), hoặc một mệnh đề (CL)
Ví dụ:
- Tôi hứa sẽ làm đúng như vậy BNND là một ngữ động từ
- Tôi bảo đảm với anh đây là hàng tốt nhất hiện nay BNND là một
mệnh đề
- Cô cho cháu cái áo này BNND là một danh ngữ
1.4.2 Các động từ ngôn hành thuộc nhóm cam kết
Dựa vào các yếu tố như:
- Tiền giả định của các động từ nhóm cam kết
- Nội dung của biểu thức ngôn hành và quan hệ giữa các vai giao tiếp Sp1, Sp2
- Lợi ích của hành động X trong tương lai thuộc về Sp1, Sp2, hay một Sp3 nào đó
- Cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ pháp của BNND trong biểu thức ngôn hành
- Cách thức hay các yếu tố mà Sp1 dùng để tăng cường hiệu quả của lời mình nói tức là tăng tính tự nguyện thực hiện X
Chúng tôi tạm thời chia các động từ ngôn hành thuộc nhóm cam kết thành các tiểu nhóm sau
1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời hứa hẹn gồm:
hứa, thề, cam đoan, cam kết
2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời bảo đảm gồm:
bảo đảm, cá
3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời tha thứ gồm:
tha, tha thứ, bỏ qua
Trang 364 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời trao tặng (trao chuyển quyền sử dụng) gồm: cho, biếu, tặng, cho phép
1.5 TIỂU KẾT
Câu ngôn hành là một loại câu biểu thị chính hành động được thực hiện trong khi phát ngôn và hành động ấy phải được chính một động từ ngôn hành biểu thị Động từ ngôn hành đó phải nằm trong một biểu thức ngôn hành tường minh là kết cấu lõi đặc trưng của câu ngôn hành Nói tóm lại:
câu ngôn hành (hay câu ngữ vi, câu ngữ vi) là câu biểu thị hành động có chứa một động từ ngôn hành trong biểu thức ngôn hành tường minh làm kết cấu lõi đặc trưng cho hành động ở lời tạo ra nó
Các điều kiện sau đây là những đặc trưng của câu ngôn hành :
Chủ ngữ của động từ ngôn hành phải ở ngôi thứ nhất (chủ ngữ ấy có thể lược bỏ trong một số ngữ cảnh giao tiếp)
Động từ ngôn hành được dùng phải ở thì hiện tại đối với ngôn ngữ có phạm trù thì (trong tiếng Anh nó phải ở thể đơn và có thể chứa trạng từ
“hereby” với nghĩa là bằng cách nói những lời này, nó có thể phủ định và nhấn mạnh) và không có những từ chỉ thời gian hoặc những từ tình thái chỉ
thời thể như đã, vẫn, sẽ, đang, rồi…
Ý nghĩa ngôn hành chỉ thật sự minh bạch khi vị từ hữu quan có một đối tượng làm bổ ngữ tiếp nhận thường ở ngôi thứ hai (trừ một vài động từ ngôn hành đặc biệt, bổ ngữ tiếp nhận có thể là ngôi số ba) Đối với nhóm động từ thứ hai theo cách phân chia của Cao Xuân Hạo thì động từ ấy còn cần một bổ ngữ nội dung nữa mới làm nên một phát ngôn ngôn hành
Dựa vào cơ sở lí thuyết về động từ ngôn hành, câu ngôn hành, hành động cầu khiến và cam kết, ở các chương tiếp theo chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa của từng động từ ngôn hành trong mỗi nhóm để rút ra những nhận xét bước đầu về hiện tượng ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh
Trang 37CHƯƠNG HAI
CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
2.1 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT
2.1.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời yêu cầu 2.1.1.1 Động từ xin
Theo “Đại từ điển tiếng Việt", (Nguyễn Như Yù chủ biên) thì xin là một động từ có hai nghĩa: 1 Tỏ ý muốn người khác cho cái gì hoặc cho phép làm
điều gì: xin tiền, xin nghỉ, xin phát biểu; 2 Từ dùng đầu lời yêu cầu, lời mời mọc, tỏ ý lịch sự, khiêm nhường: xin đến đúng giờ, xin tự giới thiệu, xin trân trọng cám ơn [56, tr.1864]
Như vậy, động từ xin là một động từ ngôn hành thuộc nhóm cầu khiến và xin cũng là một dấu hiệu đánh dấu tính ngôn hành của một phát ngôn
Ơû phần này, chúng tôi sẽ phân tích mô hình kết cấu của động từ xin với tư cách
là một động từ ngôn hành
Khảo sát tư liệu (ngôn ngữ nói và viết) cho thấy tham gia vào cấu
tạo phát ngôn của động từ ngôn hành xin gồm có các thành phần sau: động từ ngôn hành xin, thành phần chủ ngữ – người nói (Sp1), bổ ngữ tiếp nhận- người
nghe (Sp2), bổ ngữ chỉ sự việc – nội dung hành động X trong tương lai (BNND), và các thành phần mở rộng (TPMR) có thể đứng trước hoặc sau biểu thức ngôn hành tường minh Mô hình đầy đủ của câu ngôn hành này như sau:
Trang 38Sp1 XIN Sp2 BNND (TPMR)
Dựa vào sự xuất hiện hay không xuất hiện của các thành phần này,
chúng tôi nhận thấy hành động yêu cầu có tham gia của động từ ngôn hành xin
có các mô hình sau:
Mô hình 7 (xem mục 1.2.3)
Mô hình này chỉ có 3 yếu tố sau
Sp1 XIN Sp2
Ví dụ 1:
- Em xin ông Đó không phải nhạc ngụy mà là bản Trở về cát bụi,
người hát rong nào cũng hát… (05; 177)
Ví dụ 2:
Sp1: - Nếu cậu có thương con cậu, thì mai, tôi gửi lại trao trả cậu
Sp2: - Chết nỗi! Tôi xin mợ (01; 40)
Ví dụ 3:
Sp1: - Tôi không nói bừa, cậu bênh mẹ cậu à! Ối giời ơi! Này, cậu giết tôi trước đi! Oái làng phố ơi ! Con gái già nó hại tôi!
Sp2: -Tôi xin mợ Tôi van mợ Tôi lạy mợ (01; 108)
Thường thì mô hình này được sử dụng khi người nói cầu xin một điều
gì đó mà nội dung cụ thể của nó nằm trong phần tiền giả định của động từ này Nội dung yêu cầu là một điều gì đó mà nếu Sp2 thực hiện sẽ có hại hay gây ra tổn thất cho Sp1 nên Sp1 cầu xin Sp2 đừng thực hiện hành động đó nữa Trong mô hình giao tiếp này, vai giao tiếp của Sp1 và Sp2 không phân định, có thể Sp1 > Sp2 hoặïc Sp1 < Sp2 Mô hình này cũng thường đi chung với cấu trúc của
động từ van, lạy như trong ví dụ 3 để tăng tính thuyết phục, tăng mức độ yêu
cầu đã đến mức khẩn thiết, cấp bách
Khảo sát tư liệu, chúng tôi thấy trong nhiều trường hợp câu ngôn
hành có động từ xin thường được tỉnh lược chủ ngữ (Sp1)õ
Mô hình 2
XIN Sp2 BNND
Trang 39Ví dụ 1:
- Cụ lớn thứ lỗi, cụ lớn dạy thế, chứ cụ lớn muốn sai bảo việc gì,
xin cụ lớn cứ truyền cho (01; 183)
Ví dụ 2:
- Lạy quan lớn, xin quan lớn một xu! (01; 165)
Thực ra, khi tỉnh lược Sp1 ở câu ngôn hành thì trước đó hoăïc ngay sau đó ở những phát ngôn liên hành vi Sp1 sẽ được khôi phục tường minh lại
Ví dụ 3:
- Xin các anh tha cho ảnh Em đã nói chưa quen bị làm nhục thì
đừng vào chốn hang hùm ổ sói mà ảnh không nghe em
- Xin anh hết sức bình tĩnh Người ta báo với chúng tôi anh công
khai hát nhạc ngụy ở đây (05; 177)
Ví dụ 4:
- Xin các anh tha tội cho tôi Tha cho tôi, các anh muốn gì tôi cũng
chịu (05; 68)
Ví dụ 5:
- Thì lạy thầy, thế này, làng ta thì đông, thầy cắt ai không được Tại
nhà em ốm yếu nên xin thầy hoãn đến lượt sau (01; 502)
Mô hình 1
Sp1 XIN Sp2 BNND
Ví dụ:
- Con lạy thầy khoá, con xin thầy khoá kiếm bữa ăn !
- Thân con mắt mù chân chậm, làm ăn chả được, con xin ông xin bà
thí bỏ cho con đồng trinh! (01; 105)
Chúng tôi nhận thấy BNND trong câu ngôn hành có động từ ngôn
hành xin thường là một ngữ động từ bắt đầu bằng một động từ nhưng cũng có
thể là một ngữ danh từ Khi nó là một ngữ động từ, có thể bắt đầu bằng các phụ
từ như: hết sức, hãy, chớ, đừng, cứ Chúng tôi tạm chia các phát ngôn ở mô hình
1 thành các loại sau:
Trang 40BNND là những hành động X mà Sp1 yêu cầu Sp2 không thực hiện
trong tương lai, đứng trước BNND thường là 2 phụ từ đừng, chớ và lợi ích của
hành động X thuộc về Sp1
Sp1 XIN Sp2 hãy/cứ/ hết sức/hết lòng BNND
Kiểu này gồm các phụ từ hãy, cứ, hết sức, hết lòng đứng trước
BNND
Ví dụ 1:
- Thưa ngài, xin ngài hãy thư cho ít bữa khi nào thư thả, tôi sẽ đi
làm và nộp sau (01; 154)