1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc chăm

122 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm
Tác giả Lưu Tấn Thành
Người hướng dẫn GS. TS. Huỳnh Như Phương
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận Văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (8)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (13)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 5. Đóng góp của luận văn (14)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (14)
  • Chương 2: Cái đẹp trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm (14)
    • 2.4. Những diễn hóa mô típ của cái đẹp trong truyện kể dân gian Chăm (47)
  • Chương 3: Cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm (16)

Nội dung

Văn học dân gian của người Chăm hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều như văn học dân gian các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam như H’Mông, Thái, Khmer, Ê Đê, Ra Glai, Xtiêng… Một số các c

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quá trình sưu tầm và nghiên cứu truyện kể dân gian Chăm bắt đầu từ cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX, với những ghi chép của các nhà truyền đạo Tây phương về phong tục, nghi lễ và văn hóa truyền khẩu của người Chăm G Maspero là người tiên phong trong nghiên cứu Champa, sử dụng tư liệu từ Trung Quốc và bia kí Phạn ngữ để tìm hiểu lịch sử Champa từ thế kỉ II sau Công nguyên đến năm 1471 Các nhà nghiên cứu Pháp như G Coedes, L Finot, M Durand, A Cabaton và E Aymonier đã tiếp thu kết quả của Maspero, cho rằng sau năm 1471, khi Vijaya - Champa bị thất thủ trước Đại Việt, quốc gia này không còn tồn tại Mặc dù có nhiều bài viết đề cập đến chủ đề này, nhưng chúng thường chỉ dừng lại ở vài trang và chưa thể hiện đầy đủ nội dung của vấn đề.

Trước đây, việc sưu tầm truyện kể dân gian Chăm chỉ có khoảng 100 đơn vị, nhưng gần đây, tác giả đã thu thập hơn 100 truyện, được phân loại thành nhiều thể loại khác nhau Mục đích của việc này là để khám phá cái đẹp, cái bi và cái hài trong tín ngưỡng và văn hóa Chăm.

Trong thế kỉ XX, việc sưu tầm và giới thiệu truyện kể dân gian Chăm đã gia tăng đáng kể Tại miền Nam trước 1975, Trung tâm Văn hóa Chăm do linh mục Moussay phụ trách đã sưu tầm ba truyện cổ tích Chăm, được in trong tập Khảo lục nguyên cảo Chàm Các tạp chí như Bách Khoa, Văn hóa Nguyệt San, và Văn đàn đã đăng tải nhiều truyện kể dân gian Chăm nhờ sự quan tâm của các học giả như Bố Thuận, Nguyễn Khắc Ngữ, và Dã Tường Vy Ở miền Bắc, Nguyễn Đổng Chi đã đưa 20 truyện cổ tích người Chăm vào bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Hiện nay, việc sưu tầm, chỉnh lý và nghiên cứu truyện cổ Chăm đã được thực hiện một cách thấu đáo hơn, với sự thành lập Trung tâm nghiên cứu Văn hóa Chăm tại Ninh Thuận, nơi đã xây dựng nhiều công trình khoa học có giá trị Một số tuyển tập nổi bật về truyện cổ Chăm bao gồm "Truyện cổ Chàm" (Phạm Xuân Thông, 1978), "Truyện cổ các dân tộc Thuận Hải" (Đỗ Kim Ngư, 1982), và "Trái tim nàng Pali" (Đỗ Kim Ngư, 1986).

Chăm (Trịnh Hồng Lan, Nguyễn Thị Tư, Anh Đức sưu tầm, Sở Văn hóa Thông tin

Nghĩa Bình xuất bản năm 1986; Nàng bàn tay do Hồ Phú Diên và Đỗ Kim Ngư sưu tầm, biên soạn, xuất bản bởi Hội Văn nghệ Thuận Hải năm 1987; Bò thần Kapin cũng do Đỗ Kim Ngư sưu tầm và biên soạn, xuất bản năm 1988; Hoa Bơ Nga Chơ Re được xuất bản bởi Nxb Kim Đồng, Hà Nội năm 1987; Nữ thần Pô Nugar do Trần Việt Kỉnh sưu tầm và biên soạn, xuất bản năm 1989; Chàng Rắn do Đỗ Kim Ngư biên soạn, xuất bản bởi Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh năm 1993; Truyện cổ dân gian Chăm do Trương Hiến Mai, Nguyễn Thị Bạch Cúc, Sử Văn Ngọc và Trương Tốn dịch, phối hợp xuất bản bởi Nxb Văn hóa dân tộc và Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm năm 2000 Gần đây nhất có công trình

Truyện dân gian của người Chăm được tuyển chọn bởi Sakaya, Sử Văn Ngọc, Gia Trang và Phước Thuyết, xuất bản bởi Nxb Văn hóa dân tộc vào năm 2017, cùng với tác phẩm Huyền thoại và truyền thuyết Chăm do Sakaya làm chủ biên, phát hành bởi Nxb Tri Thức vào năm 2018.

Các công trình nghiên cứu về truyện kể dân gian Chăm đã đóng góp giá trị khoa học quan trọng, với các tác giả sưu tầm và tuyển dịch những câu chuyện có ý nghĩa trong đời sống văn hóa Chăm Những ấn phẩm này được in song ngữ Chăm - Việt, tạo điều kiện thuận lợi cho độc giả lựa chọn cách đọc theo văn bản khác nhau.

Vào năm 1887, A Landes đã xuất bản tại Sài Gòn bộ sưu tập Contes Tjames (Truyện kể Chăm), bao gồm 16 truyện và một số đồng dao Trong đó, truyện số 10 mang tên Kajong và Halek Chỉ sau hơn 10 năm, vào năm 1898, bộ sưu tập này đã thu hút sự chú ý của nhiều độc giả.

Leclère cho in trọn Revue des Traditions populaires (tạp chí về những truyền thống dân gian) ở Paris, số Juin - Septembre truyện Chiếc giày vàng cũng của người Chăm

Truyện Tấm Cám, được Đinh Gia Khánh kể lại trong cuốn Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích (NXB Văn học, Hà Nội, 1968), có mối liên hệ chặt chẽ với các truyện Kajong, Halek và Chiếc giày vàng, cho thấy sự phổ biến của típ truyện này trên toàn thế giới Giáo sư đã chỉ ra rằng các mô típ cổ xưa trong những câu chuyện này rất gần gũi với truyện Tấm Cám Việt Nam, đồng thời hệ thống hóa các mối quan hệ giữa chúng với các kiểu truyện tương tự ở Đông Nam Á Qua đó, chúng ta có thể khám phá giá trị mỹ học của truyện kể dân gian Chăm.

Bài viết "Tìm hiểu quan hệ giao lưu văn hóa Việt - Chàm" (Tạp chí Dân tộc học số 1 - 1979) đã chọn ra 5 truyện cổ tiêu biểu để minh chứng cho sự giao lưu văn hóa giữa hai nền văn hóa này, bao gồm Sọ Dừa, Ramayana, Sự tích núi Trắng, Truyện nàng Cadiêng và Sự tích Po Nưgar Đặc biệt, các bài viết của giáo sư Nguyễn Tấn Đắc về kiểu truyện Tấm cũng được nhấn mạnh trong nghiên cứu này.

Cám của người Chăm: “Từ truyện Kajong và Halek của người Chăm đến type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á” (Tạp chí Văn hóa dân gian số 3, 1994); “Đọc lại truyện

Tấm Cám” (Tập san khoa học trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, số 2,

1995); “Mối giao lưu và tương tác văn hóa giữa các dân tộc ở Đông Nam Á qua kiểu truyện kể Tấm Cám” (Tạp chí Văn học số 6, 1996)

Trần Việt Kỉnh trong bài viết "Dân tộc Chăm và việc tìm hiểu truyện cổ Chăm" đã chỉ ra rằng truyện cổ Chăm phản ánh chủ đề chống áp bức, thể hiện mâu thuẫn giữa kẻ giàu và người nghèo Ông nhấn mạnh rằng khi có một anh hùng nổi dậy, hệ thống phong kiến sẽ bị lung lay, thậm chí có thể sụp đổ để nhường chỗ cho triều đại mới Lịch sử cho thấy chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm trong những cuộc tranh giành quyền lực mà không thể thoát ra khỏi hình thái xã hội đó Do đó, những chiến thắng của nhân dân và các nhân vật anh hùng trong truyện cổ chính là ước mơ của dân tộc Chăm.

Trần Việt Kỉnh đã tổng hợp các tác giả trong nghiên cứu về truyện kể dân gian Chăm, khẳng định ý nghĩa của một xã hội dân chủ sơ khai qua các lễ nghi tôn giáo của dân tộc này Ông cũng nhấn mạnh mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa người Chăm và các dân tộc khác.

Hồ Quốc Hùng trong bài báo “Thử nhận diện dấu vết tín ngưỡng Chăm qua nhóm truyện cổ người Việt ở Thuận Hóa” đã chỉ ra vai trò quan trọng của tín ngưỡng Chăm và mối quan hệ giữa văn hóa Việt - Chăm Ông nêu bật một số truyện tiêu biểu như Sọ Dừa, Dạ Thoa Vương, Thạch Sanh, Bánh Chưng Bánh Dày, và Thiên Yana, thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Ảnh hưởng của văn hóa Chăm qua tín ngưỡng trong tự sự dân gian được thể hiện ở nhiều cấp độ, làm nổi bật những lớp văn hóa bồi tụ trong các truyện cổ người Chăm.

Ngô Văn Doanh qua bài báo Thần Sóng Po Riyak - Từ kinh Coran đến Thần Điện dân gian của người Chăm (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á - 2003, số 4, tr 54-

Ông nêu rõ quan niệm về vị thần Po Riyak trong tín ngưỡng của người Chăm, nhấn mạnh sự ảnh hưởng từ kinh Coran Ông khẳng định rằng al-Hadir, “kẻ nô lệ của Allah”, đã trở thành vị thần sóng Po Riyak được người Chăm thờ phụng Người Chăm đã bản địa hóa vị thần này, biến ông thành một nhân vật gần gũi với văn hóa của họ Điều này phản ánh sự giao thoa văn hóa tự nhiên giữa các dân tộc, tương tự như trường hợp của các vị thần khác trong thần điện của người Chăm, như thần Chằn tinh ở núi đá trắng.

Trước đây, nghiên cứu về truyện kể dân gian Chăm còn hạn chế, gần đây có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Vân khảo sát ba thể loại như thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích thần kỳ, nhưng chưa khai thác sâu về mỹ học dân gian Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Mỹ Dung chỉ đề cập thoáng qua về văn học dân gian Chăm Công trình của Inrasara về Văn học Chăm khái luận đã chỉ ra nhiều mô típ và hướng tiếp cận rõ ràng, nhưng vẫn chưa nghiên cứu thẩm mỹ trong truyện kể dân gian Chăm Ngoài ra, còn nhiều bài viết khác nhưng chưa đủ sâu sắc.

Truyện cổ Chiêm Thành thể hiện sự tự do trong tư duy, không bị ràng buộc bởi lý luận hay khuôn khổ đạo đức nào, do đó mang đến nhiều sắc thái văn nghệ phong phú.

Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, người viết tiến hành các phương pháp sau:

Phương pháp lịch sử - xã hội giúp đặt truyện kể dân gian dân tộc Chăm trong bối cảnh lịch sử, từ đó tạo ra cái nhìn sâu sắc về tiến trình phát triển của truyện kể dân gian Chăm, bắt đầu từ giai đoạn phôi thai trong xã hội Chăm cổ đại cho đến hiện tại.

Phương pháp hệ thống: xem truyện kể dân gian dân tộc Chăm như một hệ thống nghệ thuật để thấy được nét đẹp về văn hóa - xã hội Chăm

Phương pháp so sánh được áp dụng để phân tích truyện kể dân gian Chăm về mặt thẩm mỹ, so sánh với các tác phẩm dân gian khác như Việt, Ê Đê, Mơ nông, Ra Glai Qua đó, chúng ta nhận diện được bản sắc cái đẹp rực rỡ và hoa mỹ trong truyện kể dân gian của dân tộc Chăm.

Để hiểu rõ về truyện kể dân gian của dân tộc Chăm, tác giả tiến hành điều tra và sưu tầm nhằm thu thập các đơn vị truyện cổ hiện có Dựa trên dữ liệu thu thập được, tác giả sẽ làm sáng tỏ quan niệm về cái đẹp trong truyện kể dân gian của người Chăm.

Phương pháp thống kê và phân loại được áp dụng để phân tích các đơn vị truyện kể dân gian của người Chăm, dựa trên nội dung và hình thức thẩm mỹ Điều này giúp dễ dàng hơn trong việc nhận diện và hiểu rõ các đặc trưng thẩm mỹ của truyện kể dân gian dân tộc Chăm.

Phương pháp nghiên cứu liên ngành là yếu tố quan trọng trong việc nghiên cứu truyện kể dân gian của dân tộc Chăm Đề tài này áp dụng kiến thức từ nhiều lĩnh vực như phân tâm học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học và nhân học để khám phá sâu sắc các câu chuyện dân gian của dân tộc Chăm.

Đóng góp của luận văn

Đề tài nghiên cứu đầu tiên về “Cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm” đóng góp cái nhìn sâu sắc về giá trị thẩm mỹ trong văn hóa dân gian của người Chăm Nó khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của các truyện kể dân gian, thể hiện sự phong phú về cái đẹp của dân tộc và đóng góp lớn lao cho văn học dân tộc thiểu số ở Việt Nam Ngoài ra, đề tài còn là tư liệu hữu ích cho nghiên cứu văn học dân gian thiểu số tại Việt Nam.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về Văn học dân gian Chăm

Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về dân tộc Chăm và đặc điểm của truyện kể dân gian của họ Nó khám phá quá trình hình thành và phát triển văn học dân gian Chăm, từ đó làm nổi bật những nét đặc trưng của truyện kể dân gian Bên cạnh đó, chương cũng nêu rõ mối quan hệ giữa truyện kể dân gian Chăm và các truyện cổ của các dân tộc khác, đặc biệt là về thể loại trong truyện kể dân gian người Chăm.

Cái đẹp trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm

Cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm

1 1 Khái quát về dân tộc Chăm

Người Chăm, còn được biết đến với nhiều tên gọi như Cam, Chàm, Chiêm, Hời, đã xuất hiện trong lịch sử với các phiên âm khác nhau từ các học giả nước ngoài Học giả Pháp gọi họ là tộc Cam, Tchames, Chams, trong khi người Anh sử dụng từ Chàm Vào cuối thế kỷ II sau Công nguyên, vương quốc Champa, lúc đó được gọi là Lâm Ấp (Lingi), được thành lập và trải dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận ngày nay Qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử, biên giới của đất nước đã thu hẹp dần về phía Nam và cuối cùng biến mất vào đầu thế kỷ XIX.

Người Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynésien, cùng với các tộc người như Chu Ru, Ra Glai, Gia Rai và Ê Đê Điều này cho thấy cư dân Chăm có nguồn gốc từ thế giới Đa đảo, nơi mà người Indonesien chiếm ưu thế và là nhóm đông đảo nhất.

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó người Chăm nổi bật với nền văn hóa phong phú và đa dạng Văn hóa của người Chăm được coi là một di sản lớn của văn hóa Việt Nam, với nhiều phong tục và tập quán độc đáo Gần đây, các di tích như Mĩ Sơn, tháp Ppo Klaung Girai và tháp Ppo Rome đã được trùng tu và phát triển du lịch Người Chăm chủ yếu sinh sống ở Việt Nam và một số quốc gia khác như Lào, Thái Lan, Campuchia, và Pháp, với dân số khoảng 132.837 người theo thống kê năm 1999 Họ phân bố rải rác, chủ yếu tập trung ở Ninh Thuận và Bình Thuận, trong khi một bộ phận khác sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh An Giang, Tây Ninh Những khó khăn về kinh tế đã ảnh hưởng đến mối giao lưu giữa các cộng đồng người Chăm.

Văn hóa là khái niệm rộng, phản ánh bản sắc riêng của mỗi quốc gia Nền văn hóa và thực tế cuộc sống của mỗi dân tộc là nguồn cội nuôi dưỡng văn học nghệ thuật, đồng thời bảo tồn và làm phong phú bản sắc văn hóa Văn hóa Champa, một nền văn minh sớm hình thành tại miền Trung Việt Nam, là một phần của nền văn hóa đa dạng ở đây Người Chăm có những phong tục tập quán và lễ nghi tôn giáo độc đáo, tạo nên nề nếp và lối sống riêng, góp phần làm nổi bật bản sắc dân tộc của họ.

Người Chăm sử dụng chữ Chăm Akhar Thrah, một hệ thống chữ viết truyền thống, và các dữ kiện khảo cổ cho thấy họ thuộc nhóm tộc người Mã Lai - Đa Đảo đã du nhập vào Việt Nam Tiếng Chăm xuất hiện từ thế kỷ IV và từng được sử dụng rộng rãi từ Hoành Sơn đến Biên Hòa (Đồng Nai) ngày nay Tuy nhiên, qua các giai đoạn lịch sử, ngôn ngữ Chăm hiện chỉ còn lưu hành chủ yếu ở các làng quê của người Chăm, đặc biệt là tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Hiện nay, tiếng Chăm ở Việt Nam có sự khác biệt, với hiện tượng giao tiếp giữa người Chăm và người Việt, dẫn đến sự pha trộn ngôn ngữ.

Về tôn giáo - tín ngưỡng

Người Chăm chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tôn giáo và tín ngưỡng, với hai tôn giáo chính là Bàlamôn giáo và Hồi giáo Bàlamôn giáo, có nguồn gốc từ Ấn Độ, du nhập vào Champa vào cuối thế kỷ IV, đặc trưng bởi việc thờ thần Shiva và thánh Allah Hồi giáo, xuất phát từ Ả Rập, được truyền qua Mã Lai và vào Champa từ thế kỷ X Mỗi tôn giáo có những kiêng kỵ riêng: người Chăm Hồi giáo (Bàni) kiêng thịt heo và thịt dông, trong khi người Chăm Bàlamôn kiêng thịt bò Lễ nghi tôn giáo và phong tục tập quán đóng vai trò quan trọng trong tang lễ của người Chăm Đối với người Chăm Bàlamôn, người chết được chôn một hoặc hai năm trước khi được thiêu và xương sọ được lưu giữ cho đến khi đủ một trăm miếng để đưa vào Kut Người Chăm Awal (Bàni) cũng có những lễ nghi cụ thể từ khi sinh ra đến khi mất, với các nghi lễ như “Katat” khi con trai lên 14-15 tuổi và các lễ cưới khi trưởng thành.

“likhah” (đám cưới) Con trai có qua lễ Katat, sau này mới tiến hành đám likhah được

Khi cha mẹ mất con trai mới được dự lễ “tẩy thể” (tắm gội thể xác trước khi chôn cất) và lễ “âuwa” (lễ trả hiếu cho cha mẹ)

Người Chăm có những ngày kiêng kỵ trong sinh hoạt hàng ngày, như ngày Chủ nhật và ngày thứ Năm, khi họ tránh xuất của cải Đối với một bộ phận người Chăm theo Islam, sinh hoạt hàng ngày càng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tôn giáo, yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt các lễ nghi và tập quán của Islam Bài viết này nhằm khám phá cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian của người Chăm, từ đó tìm hiểu những giá trị thẩm mỹ trong các thể loại tự sự của dân tộc này.

1 2 Văn học dân gian Chăm

Văn học dân gian Chăm là sản phẩm tập thể, được truyền miệng từ nhân dân lao động, bắt nguồn từ thời kỳ hình thành nhà nước Champa và phát triển qua nhiều giai đoạn trong chế độ mẫu hệ cho đến ngày nay Trong quá trình sáng tác, văn học dân gian đã tích lũy nhiều kinh nghiệm nghệ thuật, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của quần chúng Từ thế kỷ XIX, truyện kể dân gian Chăm đã thu hút sự quan tâm, bắt đầu từ các tác phẩm của A Landes vào năm 1887 cho đến cuốn chuyên luận của Inrasara, cung cấp tư liệu quý giá cho văn chương Chăm.

Ngôn ngữ Chăm chứa đựng nhiều thể loại văn học phong phú như thần thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn Trong kho tàng văn bản này, văn học Chăm không chỉ là những bản tụng ca về các vị thần trong cõi hư vô mà còn phản ánh sinh hoạt thường nhật của cộng đồng tộc người Chăm.

Nghiên cứu văn học Chăm chưa có sự phân chia giai đoạn rõ ràng, chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quan Nhà nghiên cứu Inrasara chia văn học Chăm thành ba bộ phận: văn học dân gian, văn học viết và văn học bia ký, đồng thời làm sáng tỏ các đặc trưng của từng thể loại qua các tác phẩm Trong khi đó, Sakaya phân loại văn học Chăm thành văn chương cổ, văn chương cận đại và văn học hiện đại, nhưng cách phân chia này có phần võ đoán Chúng tôi cho rằng văn học Chăm nên được chia thành hai bộ phận chính: văn học dân gian và văn học viết.

Văn học dân gian Chăm phản ánh chân thực bản tính và phẩm cách của con người lao động qua các thời kỳ Văn bia ký, được sáng tác từ thế kỷ III đến XV bằng văn tự Chăm cổ và Sanskrit, hiện diện khắp miền duyên hải Trung Bộ Các học giả Pháp đã phát hiện và dịch gần 200 minh văn, trong đó Lương Ninh đã dịch 25 minh văn sang tiếng Việt, cho thấy giá trị sử học và văn học của những tác phẩm này Người Chăm sở hữu một kho tàng văn học dân gian phong phú và đa dạng.

Truyện kể dân gian Chăm bao gồm hơn 100 tác phẩm như thần thoại, truyền thuyết và cổ tích, được sưu tầm và tuyển chọn bởi nhiều tác giả như A Landes, E Aymonier, và Inrasara Những tác phẩm này giúp độc giả hiểu rõ hơn về văn hóa và truyền thống của người Chăm Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu của Lưu Văn Đảo và Inrasara về "Tục ngữ - Câu đố Chăm" cũng đóng góp quan trọng vào việc khám phá và gìn giữ di sản văn hóa này.

Tục ngữ, thành ngữ và câu đố Chăm bao gồm hơn 1000 câu tục ngữ, câu đố, cùng 30 bài ca dao và đồng dao được sưu tầm và dịch sang tiếng Việt Ngoài ra, còn có các bài hát dân gian như Damnưy, Dauh, Mưdwơ Dauh Kadhar, mang giá trị nhân văn cao và giáo dục tri thức cho con người, góp phần phát triển văn học đa dân tộc Việt Nam Bài viết cũng giới thiệu khái quát về hệ thống truyện kể dân gian của dân tộc Chăm, nêu rõ các đặc điểm của từng thể loại như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn.

Thần thoại Chăm bao gồm những câu chuyện về các vị thần, anh hùng và nhân vật văn hóa, phản ánh quan niệm nguyên thủy của người Chăm về nguồn gốc thế giới và đời sống Theo tác giả Inrasara, những truyện kể này mang ý nghĩa sâu sắc trong việc hiểu biết về văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng Chăm.

Văn học Chăm khái luận cho thấy rằng, mặc dù chất liệu thần thoại Chăm chủ yếu xoay quanh các vị thần và công việc của họ, nhưng những biểu hiện tâm lý và nếp sinh hoạt của các thần thánh lại phản ánh rất thực cuộc sống của con người Thần thánh cũng trải qua những cảm xúc như buồn ngủ, say sưa, giận hờn, và có gia đình, như thể hiện trong các truyện như Atmuhekat và Ppo Inư Nưgar Thần thoại dân tộc Chăm không chỉ giải thích sự hình thành vũ trụ mà còn liên quan đến tôn giáo, với nhiều nhân vật tiêu biểu như Pô Inư Nưgar, Pô Kuk, và At Mahekait.

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w