Một trong những vương quốc lớn mạnh nhất thời cổ đại ở Đông Nam Á chính là Vương quốc Phù Nam, đây là vương quốc chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ rõ nét nhất, quá trình tiếp biến giữa v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN DUY KHOA
ẢNH HƯỞNG CỦA ẤN ĐỘ GIÁO TRONG LỊCH
SỬ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 03 13 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐẶNG VĂN THẮNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6 NĂM 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN DUY KHOA
ẢNH HƯỞNG CỦA ẤN ĐỘ GIÁO TRONG LỊCH
SỬ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 03 13 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐẶNG VĂN THẮNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6 NĂM 2017
Trang 31
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM KẾT 4
DẪN LUẬN 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 9
6 Bố cục đề tài 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 ẤN ĐỘ, ẤN ĐỘ GIÁO VÀ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM 12
1.1 Ấn Độ từ thế kỷ I – VII 12
1.2 Ấn Độ giáo từ thế kỷ I – VII 16
1.3 Vương quốc Phù Nam 19
1.3.1 Giai đoạn hình thành của vương quốc Phù Nam (thế kỷ I – III) 22
1.3.2 Giai đoạn phát triển của vương quốc Phù Nam (thế kỷ IV – V) 25
1.3.3 Giai đoạn suy vong của vương quốc Phù Nam (thế kỷ VI – VII) 32
1.4 Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA ẤN ĐỘ GIÁO THỜI KỲ HÌNH THÀNH VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM 39
2.1 Ảnh hưởng về chính trị 41
2.2 Ảnh hưởng về kinh tế 44
2.3 Ảnh hưởng về văn hóa – xã hội 54
2.4 Tiểu kết chương 2 64
Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA ẤN ĐỘ GIÁO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM 67
3.1 Ảnh hưởng về chính trị 67
Trang 42
3.2 Ảnh hưởng về kinh tế 70
3.3 Ảnh hưởng về văn hóa – xã hội 82
3.4 Tiểu kết chương 3 92
Chương 4 ẢNH HƯỞNG CỦA ẤN ĐỘ GIÁO THỜI KỲ SUY VONG VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM 95
4.1 Ảnh hưởng về chính trị 95
4.2 Ảnh hưởng về kinh tế 98
4.3 Ảnh hưởng về văn hóa – xã hội 101
4.4 Tiểu kết chương 4 111
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 131
Trang 53
LỜI CẢM ƠN Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Việt Nam “Ảnh hưởng
của Ấn Độ giáo trong lịch sử vương quốc Phù Nam” là kết quả của quá trình cố gắng
không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của quý thầy cô, bạn
bè, đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những
người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu khoa học vừa qua
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Đặng Văn Thắng đã
trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho
luận văn này
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô lãnh đạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Lịch sử, Phòng Sau Đại
học, Thư viện trường đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa
học của mình
Do kiến thức còn hạn hẹp nên trong luận văn này, tác giả không thể tránh khỏi
những thiếu sót về mặt kiến thức, lỗi trình bày Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của quý thầy cô nhằm giúp cho luận văn được hoàn thiện tốt hơn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn lớp Cao học Lịch sử Việt Nam khóa
2013 – 2015 của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh; các đồng nghiệp Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị
công tác đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Trân trọng!
TÁC GIẢ
NGUYỄN DUY KHOA
Trang 64
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Văn Thắng Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là hoàn toàn trung thực và được thực hiện một cách cẩn trọng, nghiêm chỉnh của tác giả Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền
do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 6 năm 2017
Người cam kết
Nguyễn Duy Khoa
Trang 7Khu vực Đông Nam Á thời cổ đại là nơi hình thành rất nhiều vương quốc cổ, ở cả khu vực lục địa và hải đảo Khu vực Đông Nam Á lục địa thời cổ đại từ lâu đã tồn tại một nền văn minh bản địa, hình thành trên cơ tầng văn hóa Đông Nam Á và mang bản sắc khu vực đậm nét là nền văn minh lúa nước Một trong những vương quốc lớn mạnh nhất thời cổ đại ở Đông Nam Á chính là Vương quốc Phù Nam, đây là vương quốc chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ rõ nét nhất, quá trình tiếp biến giữa văn minh Ấn Độ với nền văn hóa Phù Nam đã đưa đến sự kết hợp độc đáo giữa yếu tố Ấn Độ và Đông Nam Á ở vương quốc này, trong đó Ấn Độ giáo có những dấu ấn riêng biệt, độc đáo ở vương quốc Phù Nam
Nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ giáo đã có nhiều công trình nhưng lịch sử Ấn Độ giáo ở Phù Nam thì hiện nay các công trình nghiên cứu chỉ đề cập một cách tổng quát về những ảnh hưởng của nó ở các công trình sử học và văn hóa, còn những biểu hiện của ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ ở Phù Nam thì đã được các nhà khảo cổ học chứng minh thông qua những hiện vật khảo cổ Trong đó, những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo từ lúc du nhập vào vương quốc Phù Nam cho đến khi được xem là quốc giáo và phát triển trên mọi mặt của đời sống cư dân Phù Nam thì chưa có một công trình nào nghiên cứu và hệ thống lại
Trong nền văn hóa Óc Eo hiện nay – thương cảng của vương quốc Phù Nam xưa kia, có rất nhiều hiện vật khảo cổ được phát hiện cho thấy những ảnh hưởng rõ nét của
Trang 86
Ấn Độ giáo với vương quốc này Những hiện vật của nền văn hóa Óc Eo của vương quốc Phù Nam hiện nay được trưng bày tại các khu di chỉ và bảo tàng nhưng ngoài những nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ thì mức độ phổ quát những kiến thức về Ấn Độ giáo ở vương quốc Phù Nam thông qua những hiện vật khai quật được thì không phải ai cũng biết
Ngày nay, tìm hiểu về vương quốc Phù Nam là vấn đề được giới khoa học ngày càng tập trung nghiên cứu, ngoài việc giải thích những vấn đề khoa học như mức độ ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, sự phát triển của lãnh thổ Phù Nam ở giai đoạn đế chế, ảnh hưởng của yếu tố Phù Nam tới những thuộc quốc, giai đoạn suy tàn của Phù Nam… nhưng vẫn ít có công trình bàn về Ấn Độ giáo ở Phù Nam
Một vấn đề thực tiễn trong việc nghiên cứu về “Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trong lịch sử vương quốc Phù Nam” là tìm ra những luận cứ thuyết phục nhằm xác lập chủ quyền của vùng đất Nam Bộ của Việt Nam, chủ quyền không thể chối cãi trong lịch sử Việt Nam, từ đó góp phần vào mục tiêu chiến lược phát triển bền vững vùng Nam Bộ Với những vấn đề đã nêu trên, việc nghiên cứu về vấn đề “Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trong lịch sử vương quốc Phù Nam” dưới góc độ tiếp cận của khoa học lịch sử cũng góp thêm một cách nhìn nhận mới trong nghiên cứu khoa học, bên cạnh đó làm phong phú thêm những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo đối với nền văn hóa Óc Eo thông qua các hiện vật khảo cổ Đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài này làm luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về Ấn Độ giáo trong nền văn minh Ấn Độ có rất nhiều công trình của
các tác giả nước ngoài, trong đó có hai tác phẩm nổi tiếng là “5000 năm lịch sử và văn
hóa Ấn Độ” của tác giả Anjana Mothar Chandra và tác phẩm “Lịch sử văn minh Ấn Độ” của Will Durant Hai tác phẩm này trình bày khá sâu sắc về nền văn minh Ấn Độ với
những thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực, đặc biệt là tôn giáo và nghệ thuật Thông qua hai tác phẩm này góp phần giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quát ban đầu về Ấn Độ giáo, một trong hai tôn giáo lớn của đất nước Ấn Độ cùng với Phật giáo
Trang 97
Nghiên cứu về Đông Nam Á, trong đó có đề cập đến vương quốc Phù Nam và nền văn hóa Óc Eo, cũng như trình bày sơ nét về sự truyền bá văn minh Ấn Độ ở Đông Nam
Á là công trình của “Lịch sử Đông Nam Á” do GS Lương Ninh chủ biên và “Lịch sử
Đông Nam Á” của D.G.E Hall Cả hai tác phẩm đều đề cập đến vương quốc Phù Nam
và văn hóa Óc Eo nhưng chưa cho thấy rõ vai trò của Ấn Độ giáo trong vương quốc Phù Nam
Ở góc độ Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ có tác phẩm “Cổ sử các quốc gia Ấn Độ
hóa” của GS G Coedes trình bày khá sâu sắc về những ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ
như là một cơ chế tất yếu của sự hình thành các quốc gia ở Đông Nam Á cổ đại, trong đó
có Phù Nam, một quốc gia mà Coedes cho rằng đó là Vương quốc Ấn hóa ở Đông Nam
Á Những ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ trong đó có Ấn giáo được trình bày trong thể chế nhà nước của Phù Nam
Nghiên cứu chuyên sâu về vương quốc Phù Nam – lịch sử và văn hóa có các tác
phẩm của GS Lương Ninh như “Nước Phù Nam”, “Vương quốc Phù Nam – lịch sử và
văn hóa”; Lê Hương có quyển “Sử liệu Phù Nam” Những tác phẩm này cho ta biết
được quá trình hình thành của vương quốc Phù Nam, những giai đoạn phát triển và nguyên nhân suy vong Tuy có đề cập đến sự tiếp nhận Ấn Độ giáo và vai trò của nó trong tổ chức nhà nước nhưng chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề này
Ở lĩnh vực Khảo cổ học có rất nhiều tác phẩm của các tác giả đề cập đến nền văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam nhưng khai thác và trình bày ở góc độ khảo cổ thông qua những hiện vật khai quật được
Về văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam có 04 Hội thảo khoa học chuyên sâu, trong đó có 02 Hội thảo được tổ chức tại An Giang vào năm 1984 và năm 2009, 02 Hội thảo được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1998 và năm 2004 Tuy nhiên, các bài viết chủ yếu là trình bày những vấn đề về thành tựu khảo cổ trong nghiên cứu về văn hóa Óc Eo và những bài viết về lịch sử vương quốc Phù Nam Những tài liệu này có
ít thông tin đề cập đến Ấn Độ giáo ở Phù Nam và những tư liệu được trình bày rời rạc
Trang 10Từ những phân tích về tổng quan tình hình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy cần thực hiện đề tài này nhằm hệ thống các mảng kiến thức rời rạc về một vấn đề đã phổ biến trong lịch sử vương quốc Phù Nam là Ấn Độ giáo, qua đó cung cấp thêm cách nhìn mới, góc độ tiếp cận mới về vương quốc Phù Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ và phong phú thêm những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trong vương quốc Phù Nam từ lúc hình thành vương quốc lịch sử này và vai trò của nó trong đời sống của cư dân Phù Nam Những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo cũng đóng một vai trò quan trọng đến sự hình thành nền văn minh Phù Nam mà những thành tựu của nó còn sót lại đang lưu giữ trong nền văn hóa Óc Eo hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề sau:
Thứ nhất, đề tài nghiên cứu về sự ra đời của Ấn Độ giáo và quá trình truyền bá văn minh Ấn Độ ở khu vực Đông Nam Á
Thứ hai, đề tài nghiên cứu cơ bản về sự ra đời của vương quốc Phù Nam và quá trình tiếp nhận Ấn Độ giáo trở thành tôn giáo chính ở Phù Nam
Thứ ba, đề tài nghiên cứu những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trong vương quốc Phù Nam thể hiện trên các mặt chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội của vương quốc Phù Nam
Trang 119
Thứ tư, đề tài nghiên cứu những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo được thể hiện trên các hiện vật của nền văn hóa Óc Eo và hệ thống những vị thần Ấn Độ giáo trong nền văn hóa
Óc Eo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trong vương quốc Phù Nam, những ảnh hưởng này được thể hiện trong chính trị - xã hội và nền văn hóa Phù Nam được thể hiện qua những di chỉ thuộc nền văn hóa Óc Eo Ngoài ra đề tài không đi sâu nghiên cứu về vương quốc Phù Nam trên mọi lĩnh vực mà tập trung vào những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trong đời sống cư dân Phù Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về thời gian nghiên cứu là toàn bộ quá trình ra đời, phát triển và suy vong của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ VII Trong mỗi giai đoạn tồn tại của vương quốc Phù Nam, những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo đều có những biểu hiện rõ nét
Phạm vi về không gian nghiên cứu: không gian nghiên cứu của đề tài là nền văn hóa Óc Eo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có những biểu hiện rõ nét nhất của yếu tố Ấn Độ trong sự tồn tại của vương quốc Phù Nam Tuy không gian nghiên cứu có phần hạn hẹp so với giai đoạn tồn tại của vương quốc Phù Nam trong lịch sử, nhưng thông qua những hiện vật thu được từ nền văn hóa Óc Eo cũng góp phần giải thích và phản ánh những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trong lịch sử vương quốc Phù Nam
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu:
Thư nhất, nguồn tư liệu nghiên cứu là các hiện vật của nền văn hóa Óc Eo được khai quật và lưu giữ, trưng bày tại các khu di chỉ
Trang 1210
Thứ hai, những báo cáo khoa học về quá trình khai quật và phân tích các hiện vật khảo cổ tại các di chỉ thuộc nền văn hóa Óc Eo của vương quốc Phù Nam Bên cạnh đó là những nguồn tư liệu sử học của các nhà nghiên cứu về vương quốc Phù Nam thông qua các đề tài, công trình nghiên cứu, sách đã xuất bản…
Thứ ba, những bài báo khoa học, bài nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực chuyên ngành và cận chuyên ngành có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Thứ tư, nguồn tư liệu thu được do tác giả quan sát và ghi nhận qua quá trình khảo sát, điền dã
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu đề tài là phương pháp lịch sử và phương pháp logic với mục đích khôi phục lại những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trong vương quốc Phù Nam như trong lịch sử tồn tại của nó
Phương pháp tiếp cận hệ thống là cơ sở cho quá trình nghiên cứu vì nội dung và nguồn tư liệu nghiên cứu được viết rời rạc ở nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu
Phương pháp khảo sát điền dã các hiện vật khảo cổ học của nền văn hóa Óc Eo nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Phương pháp liên ngành được sử dụng vì vấn đề nghiên cứu không chỉ nằm trong các tài liệu lịch sử mà còn được phản ảnh rất nhiều trong các tài liệu thuộc chuyên ngành Khảo cổ học, Ấn Độ học, Dân tộc học… Việc kết hợp tri thức chuyên ngành giúp vấn đề được sáng tỏ hơn trên nhiều khía cạnh
Đề tài luận văn lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu, đường lối, chủ trương của Đảng cũng được vận dụng làm kim chỉ nam kết hợp với việc tiếp thu, tổng hợp tri thức của những nhà khoa học khác về lĩnh vực có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Trang 131.3 Vương quốc Phù Nam
1.3.1 Giai đoạn hình thành của Vương quốc Phù Nam (thế kỷ I – III)
1.3.2 Giai đoạn phát triển của Vương quốc Phù Nam (thế kỷ IV – V)
1.3.3 Giai đoạn suy vong của Vương quốc Phù Nam (thế kỷ VI – VII)
Trang 1412
NỘI DUNG Chương 1 ẤN ĐỘ, ẤN ĐỘ GIÁO VÀ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM
1.1 Ấn Độ từ thế kỷ I – VII
Ấn Độ là một bán đảo hình tam giác, nằm ở phía Nam Châu Á với chiều ngang rộng từ 670 đến 870 kinh Đông (khoảng 2100km) và chiều dài từ 70 đến 320 vĩ Bắc (khoảng 3000km) Lãnh thổ của các quốc gia Ấn Độ vào thời cổ trung đại bao gồm sáu nước hiện nay là Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Bangladesh, Bhutan và Sri Lanka
Phía Bắc của Ấn Độ là dãy núi cao nhất thế giới Hymalaya, ngăn cách Ấn Độ với thế giới bên ngoài nên Ấn Độ còn được gọi là một “tiểu lục địa” Ngoài hai mặt giáp biển: vịnh Bengal ở phía Đông và vịnh Oman ở phía Tây, Ấn Độ còn có thể liên hệ với thế giới bằng đường bộ qua một số đèo ở phía Tây Bắc (đèo Khaibe ở phía bắc Pakistan
và đèo Bolan ở phía nam Pakistan)
Về mặt địa lý, Ấn Độ có thể chia thành hai miền với dãy núi Vindhya làm ranh giới Phía Bắc là hai đồng bằng rộng lớn do sông Hằng (Ganga) ở phía Đông Bắc tạo nên
và sông Ấn (Indus) ở phía Tây Bắc tạo nên Phía Nam là cao nguyên Decan rộng lớn toàn núi cao và rừng rậm Khí hậu của Ấn Độ đa dạng, phức tạp Miền núi Hymalaya lạnh lẽo Vùng Tây Bắc lưu vực sông Ấn khí hậu nóng và hiếm mưa Vùng Đông Bắc lưu vực sông Hằng có tác động của gió mùa, có mưa, cây cối tốt hơn Vùng cao nguyên Decan khí hậu tương đối nóng, nhiệt độ ít thay đổi
Ấn Độ là một đất nước rộng lớn, dân cư đông đúc, thành phần chủng tộc và ngôn ngữ của cư dân Ấn Độ hết sức phức tạp Theo nhiều học giả nhận định về cư dân của Ấn
Độ cho rằng người Dravida (thuộc chủng tộc Á – Úc) là dân bản địa xưa nhất, hiện nay con cháu của họ vẫn còn sinh sống ở trung tâm cao nguyên Decan và vùng cực nam bán đảo Sau đó là những chủng tộc bên ngoài đã xâm nhập vào Ấn Độ, đầu tiên là các bộ lạc người Aryan (thuộc chủng tộc Á – Âu) đã đến xâm nhập và làm chủ vùng bán đảo này, dồn người Dravida về phía Nam Về sau, người Hy Lạp, người Hungnô, người Ả Rập,
Trang 1513
người Mông Cổ,…đã xâm nhập vào Ấn Độ và sang thời cận đại, nhiều người châu Âu (Anh, Pháp,…) cũng đến sinh sống ở Ấn Độ, tạo thành một sự hỗn hợp chủng tộc hết sức phức tạp trong lịch sử của Ấn Độ
Lịch sử Ấn Độ bắt đầu với thời kỳ văn minh sông Ấn, điển hình là hai di chỉ Harappa ở Tây Punjap, thượng lưu sông Ấn và Mohendjo – Daro ở vùng Sind, Bắc hạ lưu sông Ấn Với hai di chỉ đó đã cho thấy Ấn Độ là chủ nhân của một nền văn minh ở vào hàng cổ nhất và phát triển nhất thế giới (tồn tại từ khoảng 3000 – 1500 TCN)
Vào khoảng 1500 TCN, một số bộ lạc thuộc chủng tộc người Aryan (người da trắng nói ngôn ngữ Ấn – Âu) từ vùng thảo nguyên Trung Á đã di cư vào Ấn Độ, một số ít dừng chân ở thung lũng sông Ấn Còn phần lớn tiếp tục đi về phía Đông và định cư ở sông Hằng Với sự xâm nhập của người Aryan lịch sử Ấn Độ bước vào thời kỳ Veda - thời kỳ mà lịch sử của Ấn Độ được phản ánh trong bộ kinh Veda kéo dài từ 1500 – 600 TCN Trong thời kỳ này, trung tâm nền văn minh Ấn Độ đã chuyển từ lưu vực sông Ấn sang lưu vực sông Hằng, đây là thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy người Aryan, nhà nước ra đời Đồng thời đây cũng là thời kỳ xuất hiện một chế độ đẳng cấp đặc biệt ở Ấn Độ - chế độ đẳng cấp Vacna và một tôn giáo đặc biệt của Ấn Độ cổ đại – đạo Bàlamôn
Vào thế kỷ VI TCN, Ấn Độ có nhiều quốc gia nhỏ của người Aryan Những quốc gia này luôn gây chiến tranh và thôn tính lẫn nhau Đến thế kỷ V TCN, Magada đã chinh phục được nhiều nước xung quanh, trở thành nước lớn mạnh nhất vùng Đông Bắc Ấn Độ, còn ở vùng Tây Bắc, các nước nhỏ vẫn trong tình trạng phân tán và luôn xung đột lẫn nhau Trong khoảng thời gian từ thế kỷ VI đến thế kỷ IV TCN, nhiều thế lực bên ngoài
đã xâm chiếm Ấn Độ như Ba Tư, Hy Lạp – Macedonia Cuối cùng, dưới sự lãnh đạo của một quý tộc thuộc vương quốc Magadha là Chandra Gupta đã sáng lập ra vương triều Maurya (321 – 232 TCN), thống nhất toàn miền Bắc Ấn Độ
Sau khi vương triều Maurya sụp đổ, do sự phát triển không đều về kinh tế - xã hội
và sự chia cắt của điều kiện tự nhiên nên chưa tạo được sự thống nhất thực sự trên toàn
Trang 1614
miền Bắc Ấn Độ mặc dù dưới sự cai quản của một vương triều mạnh Trong khoảng năm thế kỷ tiếp theo (từ thế kỷ I TCN), Ấn Độ bị chia cắt thành nhiều vương quốc độc lập, thường xuyên xung đột với nhau
Mãi đến đầu thế kỷ IV, miền Bắc Ấn Độ mới được thống nhất lại dưới một vương triều hùng mạnh khác – vương triều Gupta Vương triều này tồn tại từ năm 320 đến năm
550, được coi là vương triều mở đầu lịch sử trung đại Ấn Độ Người sáng lập ra vương triều là Sandra Gupta, dưới thời của ông, lãnh thổ được mở rộng khắp lưu vực sông Hằng Đến thời con trai ông là Chandra Gupta II, lãnh thổ vương triều không ngừng mở rộng, bao gồm hầu hết miền Bắc và một phần miền Trung Ấn Độ Dưới thời trị vì của Sandra Gupta II, vương triều Gupta đạt đến sự cường thịnh Ông đã thống nhất gần như toàn bộ Ấn Độ, gồm toàn bộ miền Bắc, một phần miền Trung, một phần miền Nam và đảo Xây – lan
Thời kỳ vương triều Gupta là thời kỳ thống nhất và thịnh vượng của miền Bắc Ấn
Độ Về kinh tế, các ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp của Ấn Độ đều phát đạt và có những tiến bộ lớn Nhiều công trình thủy lợi có giá trị kinh tế được xây dựng Buôn bán trong nước được đẩy mạnh giữa các vùng Buôn bán với nước ngoài ngày càng được mở rộng Các thương nhân Ai Cập, Ba Tư, Malaysia, Trung Quốc thường đi lại trên đất Ấn Độ Mặt khác, Ấn Độ cũng là chặng dừng chân của “con đường
tơ lụa” nổi tiếng trong lịch sử thế giới nối Trung Quốc với Trung Á Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng có quan hệ buôn bán khá thân thiết với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á như Myanmar, Malaysia, Indonesia,…cho nên đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á Về văn hóa, Ấn Độ đạt được những thành tựu rực rỡ về văn học, nghệ thật, khoa học và tôn giáo Xã hội Ấn Độ ổn định và bình yên, đời sống nhân dân no
ấm, sung túc hơn các thời đại trước đó Vì vậy, thời kỳ này được gọi là “thời kỳ hoàng kim” trong lịch sử Ấn Độ Pháp Hiển một nhà sư Trung Hoa đã ở Ấn Độ hơn 10 năm (khoảng năm 400 đến 411) Ông đi nhiều nơi và bằng những điều mắt thấy tai nghe đã
viết cuốn “Phật quốc ký” và đã có những nhận xét thú vị nói về sự cai trị đất nước của vua Chandra Gupta II “ca ngợi đức độ và sự khoan dung của pháp luật, đời sống tự do
Trang 1715
và sung túc của dân chúng, ca tụng vẻ nguy nga, tráng lệ của thành phố và đền đài, sự quan tâm của nhà vua đối với dân chúng qua việc lập các nhà an dưỡng, bệnh xá,…”
[38, 47] Về tôn giáo, dưới triều Gupta, đạo Phật vẫn tồn tại, có ảnh hưởng lớn và được
bảo vệ nhưng không còn mạnh như thời Asoka Thay vào đó, đạo Bàlamôn dần được phục hồi và cải cách cho phù hợp với thực tế, xuất hiện dưới dạng một tôn giáo mới là Ấn
Độ giáo (hay Hindu giáo)
Từ thế kỷ V, sau thời gian phát triển cực thịnh dưới thời Gupta, Ấn Độ lại đứng trước sự đe dọa của người Hung nô Éptalít Những cuộc đụng độ đầu tiên giữa người Éptalít với vương triều Gupta đã diễn ra dưới thời Sandra Gupta Sau khi ông qua đời, vương triều Gupta suy yếu dần, một số thủ lĩnh địa phương nổi lên xưng vương Đến cuối thế kỷ V, người Éptalít lại tấn công Ấn Độ, sau đó thiết lập sự thống trị của mình với Ấn
Độ Tuy nhiên, do người Éptalít có nền văn hóa thấp hơn Ấn Độ nên họ đã dần dần bị đồng hóa Họ chuyển từ lối sống chăn nuôi du mục sang định cư nông nghiệp, đồng thời theo các tôn giáo của người Ấn Độ
Sự thống trị của người Éptalít không vững chắc nên chẳng duy trì được lâu Sau khi Mihiracula mất, sự thống trị của người Éptalít ở Ấn Độ cũng chấm dứt Ấn Độ lại bị phân tán thành nhiều công quốc nhỏ, xung đột, chém giết lẫn nhau trong suốt mấy chục năm Tình trạng chia cắt và rối loạn đó kéo dài tới cuối thế kỷ VI
Đầu thế kỷ VII, vương công của tiểu quốc Thanesar là Harsha lần lượt thu phục các tiểu quốc, thống nhất miền Bắc Ấn Độ, lập nên vương triều Harsha Dưới thời Harsha, Ấn Độ phát triển cường thịnh và khá toàn diện về kinh tế, văn hóa Theo nhà sư Huyền Trang, dưới thời Harsha, dân chúng sống yên vui, thanh bình, xã hội ổn định Vua cho xây dựng nhiều công trình văn hóa xã hội tráng lệ như công viên, nhà an dưỡng,… Nhiều ngôi chùa Phật giáo và đền Hindu giáo được xây dựng Về tôn giáo, vua Harsha là một phật tử mộ đạo, ông cho tổ chức đại hội Phật giáo năm năm một lần Đây còn là dịp
để ông bố thí cho những người nghèo khổ trong toàn quốc Đặc biệt, ông cho xây dựng một tu viện Phật giáo lớn ở Nalanda, thu hút hàng vạn người từ khắp Ấn Độ, các nước
Trang 1816
khác đến học tập, nghiên cứu giáo lý nhà Phật Tuy nhiên, sự thống nhất của miền Bắc
Ấn Độ dưới thời Harsha cũng không vững chắc Trên thực tế, vua Harsha chỉ trực tiếp cai trị kinh đô, xứ Thanesar và một số vùng khác Các thủ lĩnh địa phương có rất nhiều quyền hành và họ chỉ phụ thuộc vào chính quyền trung ương ở mức độ nhất định Chính vì thế, sau khi Harsha mất, vương quốc rộng lớn do ông lập nên cũng suy yếu dần và đến năm
648 thì bị tan rã
Ở miền Nam Ấn Độ, từ những thế kỷ đầu công nguyên cho đến giữa thế kỷ VII vẫn bị chia cắt thành những vương quốc đối địch nhau, trong đó có hai vương quốc lớn mạnh hơn cả là Panlava (Tây Nam Deccan) và Salukia (Bắc Deccan) Panlava là nước có quan hệ thương mại bằng đường biển với nhiều nước ở Đông Nam Á và có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển kinh tế, văn hóa của các quốc gia này
1.2 Ấn Độ giáo từ thế kỷ I – VII
Ấn Độ là quốc gia đã khai sinh ra hai tôn giáo lớn trên thế giới là Hindu giáo (Ấn
Độ giáo) và Phật giáo Ngày nay ở đây, ngoài những tôn giáo bản địa còn có mặt của các tôn giáo lớn trên thế giới: Islam (Hồi giáo), Thiên Chúa giáo,… Điều này chứng tỏ sự đa dạng và phong phú trong đời sống tinh thần của người dân Ấn Độ Hiện nay ở Ấn Độ, những người theo đạo Ấn Độ chiếm 83% dân số, tiếp đến là đạo Islam 11%, đạo Thiên Chúa chiếm 2,6%, đạo Xích 2%, đạo Phật 0,75%
Ấn Độ giáo là tôn giáo lớn thứ ba trên thế giới về số lượng tín đồ và là tôn giáo chiếm ưu thế nhất ở Ấn Độ với khoảng 828 triệu người [1, 107] (số liệu thống kê năm 2001) Tuy là một trong những tôn giáo có nhiều tín đồ nhất nhưng lại không phải là tôn giáo được phổ biến rộng rãi đến các dân tộc khác trên thế giới, gần như chỉ có người Ấn
Độ theo đạo này với 95% số tín đồ sinh sống ở Ấn Độ và trong những cộng đồng kiều dân Ấn ở nước ngoài Ấn Độ giáo cũng là một trong những tôn giáo được hình thành từ rất sớm và đã trải qua ba thời kỳ phát triển là Veda, Bàlamôn và Hindu
Thời kỳ Veda được hình thành vào khoảng thiên niên kỷ thứ II đến thiên niên kỷ thứ I TCN (thời kỳ văn minh sông Ấn), đánh dấu bằng bộ kinh Veda viết bằng chữ Phạn
Trang 1917
Đó là những tác phẩm đặt nền móng đầu tiên cho Ấn Độ giáo về mặt tư tưởng, giáo lí và nghi thức Các vị thần đều là những biểu trưng của các hiện tượng tự nhiên như Indra (thần Sấm), Varuna (thần Không Trung), Surya (thần Mặt Trời),… Theo kinh Veda, con người hòa đồng vào vũ trụ, vào thế giới tự nhiên, có mối liên hệ với các thần linh Con người nếu chăm chỉ cúng tế và cầu nguyện thì sẽ được phù hộ, được hưởng điều may mắn, tránh được những rủi ro trong cuộc sống Và trong thời kỳ Veda này, mọi người bình đẳng không phân chia đẳng cấp
Vào giữa thiên niên kỷ I, khi người Aryan vào Ấn Độ, họ mang theo một số tín ngưỡng nguyên thủy của mình kết hợp với tín ngưỡng của thổ dân (Veda) Khi xã hội Ấn
Độ phân hóa giai cấp và nhà nước ra đời (thiên niên kỷ I TCN) đạo Veda không còn thích hợp nữa, một tôn giáo mới của xã hội có giai cấp ở Ấn Độ được hình thành: Bàlamôn giáo Thời kỳ Bàlamôn được đánh dấu bằng bộ Thánh điển Brahmana là tập sách chú giải diễn nghĩa của kinh Veda Đạo Bàlamôn tôn thờ ba vị thần tối cao là thần Brahma (thần sáng tạo), thần Vishnu (thần bảo vệ), thần Shiva (thần hủy diệt) Ngoài ra còn có một số thần phụ như thần Lakshmi (vợ thần Vishnu), nữ thần Parvati (vợ thần Shiva), nữ thần Ganga (thần ngự trị trên sông Hằng), thần Voi, thần Khỉ (Hanuman), thần Bò (Nandin),…
Đạo Bàlamôn đề cao thuyết “luân hồi – nhân quả” nghĩa là khi con người chết đi chỉ có thể xác là bị hủy diệt, còn linh hồn có thể di chuyển sang một thể xác khác, tốt hay xấu tùy theo nghiệp mà họ mắc phải ở kiếp trước Thuyết “thiên – nhân nhất thể” cho rằng các giáo sĩ nhờ tu luyện mà linh hồn được hòa hợp với khí thiêng của đấng Brahma, diệt được tội truyền kiếp, hủy được nạn luân hồi, nhờ đó mà tìm được cõi giải thoát
Với lý do đó, đạo Bàlamôn đã dùng những tư tưởng duy tâm, tôn giáo, siêu hình
để giải thích các hiện tượng xã hội Chẳng hạn khi đề cập đến sự tồn tại của đẳng cấp Varna và sự khác nhau về quyền lợi, địa vị của bốn đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại, đạo Bàlamôn giải thích rằng: các đẳng cấp do thần Brahma tạo ra từ sự phồn vinh của thế giới, từ miệng, tay, đùi và bàn chân của mình, ngài đã tạo ra các đẳng cấp Brahman,
Trang 2018
Kshatriya, Vaisya và Sudra Do thần tạo ra nên không thể thay đổi được, những người thuộc ba đẳng cấp trên được sinh hai lần, khuyên con người phải an phận thủ thường Vì vậy có thể nói giáo lý của đạo Bàlamôn được xây dựng trên nền tảng của ba yếu tố: Dacma (đạo), Varna (đẳng cấp), Asrama (các giai đoạn của đời sống)
Tiếp nối thời kỳ Bàlamôn là thời kỳ Hindu Đây là thời kỳ cuối cùng và dài nhất của đạo này từ cuối thiên niên kỷ I TCN và hoàn thiện vào thiên niên kỷ I sau CN Đạo Hindu là bước phát triển cao của Bàlamôn Giáo lý Hindu về cơ bản không khác so với giáo lý của Bàlamôn giáo Hindu giáo cũng tin có luân hồi, có nghiệp báo và giải thoát
Về thần linh, Hindu giáo không những tiếp nhận toàn bộ hệ thống thần linh của Bàlamôn giáo mà còn sáng tạo thêm vô số thần linh có quan hệ thân thuộc với các thần linh như thần Khỉ, thần Bò, thần Rắn, thần Hổ,…(thần Khỉ Hanuman sở dĩ được tôn sùng vì có công giúp Brahma giết quỷ Ravan để đưa Sita trở về quê hương Còn thần Bò Kamđênu thì được thần Krisna (kiếp thứ 8 của thần Vishnu) chăn dắt suốt đời theo Krisna) Ngoài
ra thần Bò Kamđênu còn được thần Brahma tạo ra đồng thời với đẳng cấp Bàlamôn và được coi là mẹ đẻ của hầu hết các vị thần Vì vậy, cho đến nay bò được coi là con vật thiêng liêng, các tín đồ Hindu kiêng ăn thịt bò và những đồ dùng làm từ bò Các thần linh trong thời kỳ này được trừu tượng hóa và khái quát hóa, quy tụ thành ba vị thần tượng trưng cho ba lực lượng phổ biến trong vũ trụ: thần Brahma là chúa tể các vị thần, thần Vishnu và thần Shiva
Đỉnh cao của giáo lý Hindu được thể hiện trong bộ kinh Upanisat Người ta tin rằng Brahma là có thật, là linh hồn của thế giới, là sức mạnh thần kỳ vô hình Linh hồn con người cũng là một bộ phận của Brahma nên tuy có sống có chết nhưng linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi Trong vòng luân hồi, con người sẽ tái sinh vào một kiếp mới, người tốt
sẽ được tái sinh trong kiếp sung sướng, người ác sẽ phải nhập vào kiếp thấp hèn hoặc trở thành loài vật, cỏ cây Vì thế, tín đồ Hindu luôn tôn trọng muôn loài, từ thực vật đến động vật và chấp nhận thân phận mình cho dù bất hạnh, khổ cực đến mấy Chính điểm này, đạo Hindu đã bênh vực và duy trì sự phân cách chặt chẽ giữa các đẳng cấp trong xã hội
Trang 21Nền văn hóa Ấn Độ không chỉ có ảnh hưởng ở phạm vi trong nước mà nó còn vươn xa ra bên ngoài, ảnh hưởng sâu rộng đến các các khu vực khác, đặc biệt là những quốc gia ở Đông Nam Á Trong quá trình giao lưu đó, kết hợp cùng những yếu tố nội sinh dựa trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp lúa nước (văn minh bản địa), tận dụng tối đa những lợi thế về địa lý mang lại, các quốc gia cổ Đông Nam Á đã tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực từ nền văn hóa Ấn Độ, từ đó tạo nên tiền đề cho các quốc gia Đông Nam Á cổ đại lần lượt ra đời và phát triển điển hình là vương quốc cổ Phù Nam
1.3 Vương quốc Phù Nam
Vương quốc Phù Nam ra đời từ thế kỷ I sau CN, tồn tại và phát triển trong gần bảy thế kỷ, đến thế kỷ VII thì suy vong Đây là một quốc gia cổ, đã từng là một vương quốc hùng mạnh, có sự ảnh hưởng lớn đối với nhiều nước trong khu vực
Phù Nam là cách phát âm theo giọng bạch thoại của Trung Hoa trong thư tịch cổ Trung Hoa “Fou – nan” Nó xuất phát từ ngôn ngữ Khmer cổ là Vnam, Bnam, Bnom, Pnong có nghĩa là núi đồi Đây chính là cách phiên âm mà bộ lạc người Môn - Khmer cổ
tự gọi mình Do đó, nhiều nhà khoa học đoán định rằng, họ chính là chủ nhân của nền văn hóa Đồng Nai Phù Nam chính là cách phiên âm tên tộc người của bộ lạc Môn - Khmer cổ gọi họ là Người miền núi Bên cạnh đó, vương tước của vua Phù Nam theo tiếng Phạn là Sailaraja hay Kurung Bnam có nghĩa là “Vua núi”
Các thư tịch cổ Trung Hoa ghi chép lại về cương vực của vương quốc cổ Phù Nam như sau:
Trang 2220
Lương thư chép cụ thể hơn: “Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam trong vịnh lớn, phía Tây của biển cách Nhật Nam có đến 7000 lý, cách Lâm Ấp ở phía Tây Nam đến hơn 3000 hải lý Thành cách biển 500 lý (khoảng 200 km), có sông rộng 10 lý,
từ Tây bắc chảy sang Đông nhập vào biển Nước rộng hơn 3000 lý, đất trong vùng ẩm thấp nhưng bằng phẳng rộng rãi” [37, 19]
Tấn thư cũng viết về nước Phù Nam:“Phù Nam cách Lâm ấp về phía tây hơn 3000
lý ở trong vùng vịnh biển lớn nhất, đất rộng 3000 lí có những thành phố xây tường, có lâu đài và nhà để ở” [37, 231]
Nam Tề thư chép: “Nước Phù Nam ở trong vùng dân Man, phía tây của biển lớn,
ở miền nam của Nhật Nam, dài rộng hơn 3000 lý, có sông chảy về phía đông ra biển”
[37, 19]
Căn cứ vào những chi tiết có tính chất tương đối trên, dựa vào địa ký bán đảo Đông Dương, các nhà nghiên cứu đã cơ bản thống nhất cương vực của vương quốc Phù Nam như sau: Nằm ở phía Nam bán đảo Đông Dương, phía Nam quận Nhật Nam (phần
đất phía Nam của nước Nam Việt cũ) và Lâm Ấp (từ dưới Quảng Nam đổ vào) “Vịnh
phía Tây biển lớn” ý nói tới vịnh Thái Lan ngày nay “Các con sông lớn chảy từ hướng Tây đổ ra biển, con sông chảy từ mạn Tây Bắc về hướng Đông rồi đổ ra biển” tương ứng
với phần hạ lưu của sông Mekong “Đất từ trên cao đổ xuống và rất bằng phẳng” là thế
đất châu thổ Đó cũng là hình ảnh của châu thổ sông Mekong, bao gồm khu vực dòng chảy của các sông Hậu, sông Tiền, sông Vàm Cỏ, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn
Về cư dân của Phù Nam, Tấn thư cho biết: “Người đều đen đúa, xấu xí, búi tóc,
thân trần, đi chân đất, tính chất phát, thẳng thắn, không trộm cướp, theo nghề cày cấy, trồng trọt; một năm trồng, thu hoạch 3 năm” [37, 19]
Còn theo Nam Tề thư chép: “Người Phù Nam thông minh, lanh lợi và giảo quyệt,
đánh phá các thành ấp lân cận, bắt dân không phục làm nô tì (tờ 13) nhưng (tờ 15) lại viết: Người tính tình hiền lành, không giỏi chiến trận, thường bị nước Lâm Ấp xâm lấn đánh phá, không thông giao được với Giao Châu” [37, 19]
Trang 2321
Chu Ứng cũng ghi lại: “Người nước đó ở trần, chỉ có phụ nữ mặc áo chui đầu, Khang Thái và Chu Ứng đều nói rằng trong nước thật đẹp, chỉ có người hở hang bẩn thỉu, thật quái lạ (Vua Phạm Tầm nghe được, từ đó ra lệnh con trai trong nước quấn vải ngang mình gọi là cái can man”) [37, 20]
Về những sản vật cũng như đời sống vật chất của cư dân Phù Nam cũng rất đa
dạng và phong phú Tấn thư kể:“dân theo nghề cày cấy trồng trọt Một năm trồng thu
hoạch ba năm…Bát đĩa phần nhiều bằng bạc Dùng vàng bạc, hương liệu làm đồ cống và nạp thuế”; lại nói thêm “Người Phù Nam đúc vòng bằng vàng, bát đĩa bằng bạc, đốn gỗ làm nhà Vua chúa ở nhà lầu nhiều tầng, có thành lũy bằng gỗ cây (?) Dọc bờ biển có loại trúc lá to dài 8 - 9 thước, đem bện lá để lợp nhà (có lẽ là dừa nước nippa fruticans).” (tờ 15 – 16) kể tiếp “Dân cũng làm nhà gác để ở, làm thuyền dài 8 – 9 trượng (khoảng 8m), đục rộng 6 – 7 thước (khoảng 1m)” [37, 20]
Nam Tề thư viết: “ Nước có mía, an thạch lựu, quýt, có nhiều cau Hứng nước hoa
ấy (an thạch lựu) ủ trong vò mấy ngày thì thành rượu” [37, 20]
Lương thư lại viết: “(Nước) sản vàng bạc, đồng thiếc, trầm hương, mộc hương, ngà voi, chim công lông biếc, anh vũ 5 sắc, (dân) có nhà ở, ăn gạo tẻ” [37, 231]
Về văn hóa, tín ngưỡng cũng như phong tục của Phù Nam, Tấn thư viết như sau:
“(Phù Nam) cũng có sách vở, có nhà lưu giữ sách vở, tài liệu Văn tự giống chữ người
Hồ Ma chay, hôn nhân đại khái cũng giống như Lâm Ấp” [37, 21]
Còn Nam Tề thư viết: “Tục nước đó thờ thiên thần Ma ê thủ la (Mahesvara: Maha
Shiva?) (Còn dân thì) lấy việc chọi gà, đấu lợn làm trò vui” [37, 21]
Lương thư cũng khẳng định điều đó: “Phong tục thờ thiên thần; lấy đồng đúc tượng, tượng 2 mặt, 4 mặt 8 tay, tay bồng đứa bé, chim, hình Mặt Trăng, Mặt Trời”
“Vua thường ở nhà lầu, không cúng tế, không thờ quỷ thần Vua Phù Nam mấy lần sai sứ đem thư đến, hai bên cùng nhau trao đổi thư từ Vua (Phù Nam) lại có khả năng viết sách chữ Thiên Trúc (Ấn Độ), sách có 3000 lời nói về nguyên do kiếp trước sau của vua, cũng tương tự kinh Phật” [37, 21]
Trang 2422
Nếu như Nam Tề thư và Lương thư chỉ nói về tín ngưỡng thờ Hindu giáo của cư dân Phù Nam thì Tùy thư lại kể: “Kính quỷ thần nhiều như vậy, nhưng cũng thờ Phật
pháp, lại rất tin đạo sĩ Phật và đạo sĩ đều được lập tượng ở các quán” [37, 21]
Qua những chi tiết miêu tả về vương quốc Phù Nam của các thư tịch cổ của Trung Hoa, ta thấy rằng mặc dù từ khi thành lập đến khi suy vong chỉ kéo dài khoảng bảy thế
kỷ, thế nhưng Phù Nam thực sự là một quốc gia phát triển đến trình độ cao so với các nước khác trong khu vực
Quá trình hình thành, phát triển và suy vong của vương quốc Phù Nam được chia làm ba giai đoạn sau:
Giai đoạn 1 – giai đoạn hình thành: từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ III
Giai đoạn 2 – giai đoạn phát triển: từ thế kỷ IV đến thế kỷ V
Giai đoạn 3 – giai đoạn suy vong: thế kỷ VI đến thế kỷ VII
1.3.1 Giai đoạn hình thành của vương quốc Phù Nam (thế kỷ I – III)
Vương quốc Phù Nam ra đời chịu ảnh hưởng bởi những truyền thuyết từ Ấn Độ, nhưng những ghi chép về sự ra đời của vương quốc Phù Nam lại nằm trong những quyển sách sử của các triều đình Trung Hoa
Theo thư tịch cổ và bi ký, lúc bấy giờ từ vùng đất Nam Bộ của Việt Nam sang đến Biển Hồ của Campuchia có 7 liên minh bộ lạc của cư dân bản địa và một số thị tộc, bộ lạc sống lẻ tẻ ở miền núi Đứng đầu liên minh các thị tộc, bộ lạc này là một nữ chúa mà các sử sách Trung Hoa đều gọi là Liễu Diệp Khoảng thế kỷ I, một người Ấn Độ mà theo
sử sách Trung Hoa đó là Hỗn Điền đã đem quân đội theo đường biển tấn công vào vương quốc của Liễu Diệp, lấy Liễu Diệp làm vợ, thay vợ làm vua đất nước này Dần dần, Hỗn Điền chinh phục các thị tộc, bộ lạc khác, lập ra nước Phù Nam.Những thư tịch cổ Trung Hoa chép lại sự kiện này như sau:
Trang 2523
Tấn thư kể sớm nhất về sự kiện này: “Vua nước đó vốn là người con gái, tên là Diệp Liễu Thời đó, có người nước ngoài là Hỗn Hội, thờ tiên thần, nằm mộng thấy thần ban cho cây cung và dạy là phải đi thuyền lớn ra biển
Sáng ngày, Hỗn Hội đến đền thờ thần, được cây cung, rồi theo thuyền lênh đênh
ra biển tới ấp ngoài của nước Phù Nam Diệp Liễu đưa nhiều người ra chống lại Hỗn Hội giương cung bắn, Diệp Liễu sợ hãi xin hàng Hỗn Hội bèn lấy làm vợ và chiếm cứ đất nước…Đầu niên hiệu Thái Thủy của Vũ Đế sai sứ sang cống tiến…” [37, 24]
Nam Tề thư có hơi khác chút ít: “người ngoài cõi tên là Hỗn Điền đến miếu thờ thần, nhặt được cây cung dưới gốc cây… Hỗn Điền lấy Liễu Diệp làm vợ… cai trị nước
đó, con cháu truyền cho nhau” [37, 24]
Lương thư cũng có viết nhưng khác Tấn thư một vài chi tiết Về tên gọi, chữ
“điền” hơi giống mặt chữ “hội”; Liễu Diệp thay vì Diệp Liễu Lương thư viết: “Liễu Diệp trẻ tuổi, khỏe mạnh như con trai… Người của Liễu Diệp đông, thấy thuyền đến thì muốn bắt giữ Hỗn Điền liền giương cung bắn, tên xuyên qua bên mạn thuyền, đến những
kẻ theo hầu Liễu Diệp sợ hãi xin hàng Hỗn Điền lấy Liễu Diệp làm vợ, rồi cai trị nước Phù Nam…” [37, 24]
Mặc dù các thư tịch cổ của Trung Quốc chép về sự kiện trên có đôi chút khác nhau nhưng về cơ bản thì có sự thống nhất về sự ra đời của vương quốc Phù Nam như đã trình bày ở trên Hỗn Điền cai trị nước Phù Nam, ông không bằng lòng với lối y phục của vợ nên đã dạy lại cho phụ nữ cách ăn mặc Ngoài ra, ông còn đem pháp luật, chữ viết và tôn giáo của Ấn Độ truyền vào Phù Nam Như vậy, ngay từ khi ra đời, vương quốc Phù Nam
đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ Tuy nhiên, văn hóa Ấn Độ chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, tác động vào quá trình phát triển tự thân của những nền văn hóa bản địa đã được trình bày ở trên Sau này, trong quá trình phát triển, Phù Nam vẫn tiếp tục tiếp nhận ảnh hưởng của Ấn Độ thông qua quá trình trao đổi, giao lưu buôn bán, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của mình
Trang 2624
Từ đầu thế kỷ I đến thế kỷ III, là thời kỳ đầu tiên lập quốc nên luôn phải đối phó với tình trạng phân chia cát cứ Khi Liễu Diệp kết hôn với Hỗn Điền đã sinh được 7 người con trai, phân cho đi cai trị làm vua 7 ấp Hỗn Bàn Huống lên làm vua lập kế li gián 7 ấp, sau đó cử binh đi đánh chiếm, rồi cho con cháu phân chia cai trị các ấp, hiệu là tiểu vương Đây được coi là thời kỳ khắc phục tình trạng phân chia cắt cứ và thành lập một quốc gia thống nhất
Vào thời kỳ này, kinh đô của vương quốc Phù Nam cũng được xác lập Căn cứ vào những phát hiện khảo cổ học và thư tịch cổ Trung Hoa cùng với những kết quả của các công trình nghiên cứu gần đây nhất đã chứng tỏ, kinh đô của vương quốc Phù Nam nằm ở Angkor Borei Pelliot là người đầu tiên đưa ra quan điểm cho rằng Angkor Borei
là kinh đô của Phù Nam nằm trong công trình Nước Phù Nam (1903) Tuy nhiên, ông chưa đưa được chứng cứ nào thực sự thuyết phục mà chỉ nêu ra như một giả thiết [37, 44] Người thứ hai xác nhận đó là P Dupont (1955) và đến L.Malleret thì được chứng minh bằng một sốhiện vật khảo cổ [37, 44] Một nhà sử học có tên là G Coedes đã đưa ra những minh chứng cho rằng kinh đô của Phù Nam là Ba Phnom Tuy nhiên, những minh chứng ông đưa ra lại rất phù hợp và vô tình đã chứng minh cho giả thiết Angkor Borei chính là kinh đô của vương quốc cổ Phù Nam Kinh đô Angkor Borei được xác định như sau:
Có một con sông lớn chảy từ hướng Tây – Bắc về phía Đông và đổ ra biển Đây là điều hiển nhiên và dễ hiểu đó là sông Mekong chia làm hai nhánh đổ ra biển Đông, là sông Tiền (ở cửa Đại) và sông Hậu (ở cửa Định An) và một số cửa khác
Kinh đô cách biển 500 lí (250km) Angkor Borei cách Châu Đốc 30km và theo sông Hậu ra cửa Định An vừa đúng 250km
Phong tục ở đây là xây thành phố có tường thành bao quanh, xây cung điện và nhà
ở Điều này được thể hiện tương đối rõ ràng qua những chứng cứ khảo cổ khai quật được
ở khu vực Angkor Borei
Trang 2725
Angkor Borei thực chất là phiên âm từ tên cổ trước kia là Nagara Pura nghĩa là
Đô thành Quốc gia Từ này được Khmer hóa, tưởng là một từ Khmer nhưng thực chất là
chuyển âm của một từ Phạn, gọi từ thời Phù Nam Angkor Borei ngày nay thuộc tỉnh Takeo, Campuchia
Như vậy, có thể thấy rằng vương quốc Phù Nam gắn với hệ thống rạch biển, với trục kênh chính Đông – Tây trên miền Tây sông Hậu, có đầu Tây là Angkor Borei và đầu Đông là cảng thị Óc Eo
Dựa trên những tài liệu thư tịch cổ và khảo cổ học chúng ta còn có thể thấy sự phong phú, đa dạng trong cư dân của vương quốc Phù Nam Đối chiếu với những thành tựu về khảo cổ học và dân tộc học, các nhà nghiên cứu cơ bản đều nhận định rằng [36, 148]: Cư dân Phù Nam gồm hai bộ tộc Môn – Khmer cổ và Nam Đảo Bộ lạc Môn - Khmer cổ (Vnam, Bnam, Pnong) là bộ lạc người miền núi Bộ lạc này là người vùng núi, sống trên các thềm cao miền Nam, trải qua quá trình sinh sống họ tiến dần xuống biển và gặp người Biển – Nam Đảo Quốc gia mới lập theo thói quen gọi tên là Phù Nam Có lẽ,
họ chính là chủ nhân của nền văn hóa Đồng Nai ở thời đại kim khí Bộ lạc thứ hai là bộ lạc Nam Đảo, sống chủ yếu ở ven biển Trên miền Tây sông Hậu, hai bộ lạc này đã kết hợp một cách thành công hai yếu tố biển và núi, cùng nhau xây dựng một quốc gia mới,
bổ sung cho nhau bằng những sở trường vốn có của mình: người Môn - Khmer cổ có khả năng chinh chiến và tổ chức xã hội, còn người Nam Đảo có khả năng khai thác biển và buôn bán với nước ngoài Chính điều này đã tạo nên sự phát triển đỉnh cao của vương quốc Phù Nam thời cổ đại ở khu vực Đông Nam Á
1.3.2 Giai đoạn phát triển của vương quốc Phù Nam (thế kỷ IV – V)
Đây là giai đoạn phát triển cường thịnh của vương quốc Phù Nam và đưa vương quốc này trở thành một đế quốc hùng mạnh ở Đông Nam Á Sự phát triển rực rỡ của vương quốc Phù Nam được thể hiện khá rõ ở ba khía cạnh: Thứ nhất, nền kinh tế Phù Nam trong giai đoạn này khá phát triển, thông qua cảng thị Óc Eo đã trở thành một đầu mối thương mại Đông – Tây quan trọng, tạo nên sức mạnh cho đất nước; Thứ hai, Phù
Trang 28Về thương nghiệp, Phù Nam có một vị trí hết sức thuận lợi để phát triển, đó là nằm trên đường thông thương giữa Ấn Độ và Trung Quốc, cũng là điểm nối giữa các quốc gia Đông Nam Á lục địa với các nước nước Đông Nam Á hải đảo Ngoài ra, Phù Nam có có nhiều sông lớn đổ ra biển, cửa sông rộng và đồng bằng Nam Bộ lúc bấy giờ vẫn còn trũng, thường ngập nước vào mùa mưa Do đó, Phù Nam có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển thương nghiệp cả về nội thương lẫn ngoại thương
Sự phát triển của nội thương được Lương thư miêu tả: “chợ nơi đó đông – tây gặp
gỡ hội hợp, hằng ngày có hơn vạn người, sản vật hàng hóa quý hiếm không gì không có”
[37, 240].Các sản phẩm được mang đến trao đổi thường là các mặc hàng nông nghiệp
như lúa gạo, trái cây,…và những mặt hàng của thủ công nghiệp như gốm,…
Còn ngoại thương, Phù Nam có một thương cảng lớn là Óc Eo Nơi đây hội tụ rất đông cư dân của những nước khác đến làm ăn, buôn bán Bên cạnh quan hệ với các nước trong khu vực, Phù Nam còn mở rộng buôn bán với các nước khác Quan hệ thương mại với Ấn Độ diễn ra rất thường xuyên, dấu vết còn để lại của mối quan hệ này rất nhiều thường là tượng các vị thần của Bàlamôn giáo, tượng Phật,… Buôn bán với Trung Hoa cũng được diễn ra thường xuyên, những hiện vật được tìm thấy chứng minh cho điều này
là gương đồng thời Đông Hán, tượng Phật mang phong cách Bắc Ngụy,… Ngoài ra, những hiện vật như tiền đồng, tiền bạc hình mặt trời, huy chương có khắc hình và chữ của Antoninus Pius năm 152, Marcus Aurelius (161 – 180); vương triều Sassanid (Ba Tư); vương triều Kushana (Trung Á),… chứng tỏ Phù Nam có mối quan hệ ngoại thương với rất nhiều nước và rất phát triển Khi buôn bán với các nước khác, sản phẩm được trao
Trang 2927
đổi theo các thư tịch của Trung Hoa ghi lại như Nam Tề thư viết là: “hàng hóa đổi chác
có vàng, bạc, lụa bạch”[45, 271] Lương thư nêu rõ hơn là: “sản vật Phù Nam có vàng, bạc, đồng, thiếc, trầm hương, ngà voi, lông trả, chim vẹt ngũ sắc” [45, 273] Theo Nam
Tề thư có ghi: “vua nước Phù Nam từng sai sứ đem các loại vật phẩm đến Quảng Châu buôn bán trao đổi” [37, 234] Tóm lại, Phù Nam xuất chủ yếu các mặt hàng thủ công
nghiệp, nông sản và những tài nguyên thiên nhiên quý
Qua đó ta thấy, Phù Nam là nơi hội tụ của thương nhân Thương mại của đất nước phát triển cả về nội thương lẫn ngoại thương Về ngoại thương, Phù Nam có quan hệ buôn bán với các nước trong khu vực, với Ấn Độ, Trung Hoa và có thể là với các nước ở vịnh Ba Tư và Địa Trung Hải Những gì đã đạt được chứng minh rằng Phù Nam trong giai đoạn này thật sự trở thành một vương quốc rất phát triển về thương mại
Không chỉ phát triển thương mại, Phù Nam còn có nền nông nghiệp khá phát triển Hoạt động nông nghiệp của Phù Nam được phản ánh trong nhiều thư tịch cổ Trung Hoa,
di vật khai quật được Về trồng trọt, cây trồng chính của Phù Nam là cây lúa Có rất nhiều giống lúa được trồng, theo các di chỉ khai quật được cho thấy chủ yếu là giống lúa
hạt tròn, thon dài,… Phương thức canh tác theo Tân Đường thư chép: “ruộng gieo cấy 1
năm thì gặt hái 3 năm” [37, 20] Tấn thư cũng ghi rằng: “dân theo nghề cày cấy trồng trọt, một năm trồng thu hoạch ba năm….” [37, 20] Bên cạnh cây lúa, cư dân Phù Nam
còn trồng nhiều loại cây khác như chuối, quất, an thạch lựu, kê, mía, dừa, cau,…Điều này
được Lương thư chép: “dân dùng chuối, mía, rùa, chim làm lễ vật… [37, 22] Sự đa dạng
về cây trồng chứng tỏ nghề trồng trọt của cư dân Phù Nam đạt trình độ cao
Ngoài trồng trọt, chăn nuôi cũng phát triển không kém Những di tích khảo cổ cho thấy có rất nhiều xương động vật được tìm thấy như trâu, bò, chó, heo,… Chứng tỏ vật nuôi của cư dân Phù Nam khá đa dạng Bên cạnh chăn nuôi gia đình còn xuất hiện những trại chăn nuôi tập trung, theo Minh văn khai quật được tại vùng núi Ba Thê cho biết các chủ trại hiến cho thần 60 con bò, 2 con trâu, 30 con dê; Minh văn ở Angkor Borei ghi một chủ trại khác cho thần 100 con bò, 20 con trâu [3, 38]
Trang 3028
Sản xuất thủ công nghiệp của Phù Nam diễn ra trên các lĩnh vực chủ yếu như luyện kim và chế tác đồ kim loại, chế tác công cụ sinh hoạt và sản xuất, các sản phẩm phục vụ cho giao thông, tôn giáo,…
Ở Phù Nam, luyện kim xuất hiện khá sớm, kim loại dùng để làm nguyên liệu rất nhiều như vàng, đồng, thiếc, sắt, bạc Đồng được sử dụng chủ yếu làm sản phẩm phục vụ tôn giáo như tượng, chân đèn, kệ thờ,…và một số công cụ sinh hoạt, lao động như chum đồng, lưỡi câu, giá kê,…Vàng dùng để sản xuất kim hoàn phục vụ cho nhu cầu làm đẹp của con người và thần linh, sản phẩm đa dạng như dây chuyền, vòng đeo tay, minh văn, nhẫn,…với những hoa văn trang trí đa dạng Ngoài ra trong văn hóa Óc Eo còn phát hiện con lăn, dây chuyền, tiền, đồ dùng trong ăn uống như chén, đũa làm bằng bạc Qua đó, có thể nói rằng trong thời kỳ này nghề luyện kim của Phù Nam rất phát triển
Bên cạnh luyện kim thì nghề gốm cũng rất phát triển và giữ vai trò quan trọng nhất phục vụ rất nhiều cho nhu cầu của cuộc sống Gốm có nhiều loại, tùy theo cách pha chế giữa đất sét và cát cùng những tạp chất sao cho đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng
Kỹ thuật làm gốm bằng bàn mài là chủ yếu, hoa văn trang trí đa dạng như văn thừng, vạch song song, tam giác, hoa lá,…chứng tỏ trình độ thẩm mỹ cao của người thợ
Nghề đóng thuyền của Phù Nam phát triển theo nhu cầu đi lại và sự phát triển của thương nghiệp Thư tịch cổ Trung Hoa viết khá chi tiết về nghề thủ công này Sách Nam
Châu Di Vật của Vạn Chấn thế kỷ III miêu tả: “loại lớn dài 12 trượng, cao hơn mặt nước
đến 2,3 trượng trông như một tòa nhà lầu, chở được sáu, bảy trăm người, vật dụng tới vạn hộc” [5, 140]; “nước Phù Nam sẵn gỗ làm thuyền chiều dài đến 12 tầm, rộng 6 thước, đầu đuôi như cá dùng sắt bọc những nơi hiểm yếu Chiếc lớn chở cả trăm người Mỗi người bơi một chèo dài, lúc đứng thì dùng chèo bơi ngắn, nước cạn dùng sào chống Mọi người đồng loạt ra tay chèo ứng theo một tiếng hô” [5, 140].Qua đó cho thấy nghề
đóng thuyền của Phù Nam đã đạt đến trình độ cao
Từ thế kỷ III, Phù Nam trở thành một cường quốc ở Đông Nam Á, chinh phục các nước lân bang do đó cương vực của vương quốc còn mở rộng Về phía đông đã kiểm soát
Trang 3129
cả vùng đất Nam Trung Bộ (giáp với Chămpa), phía Tây đến phần lớn thung lũng sông
Mê Nam (Thái Lan) và cao nguyên Korat, phía Nam đến các nước ngoài hải đảo thuộc phần đất phía Bắc bán đảo Malaysia ngày nay Như vậy, trong thời gian thịnh trị của mình vương quốc Phù Nam đã kiểm soát một vùng tương đối rộng lớn, bao gồm cả Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo
Nhờ vào lực lượng quân đội hùng mạnh, Phù Nam dưới thời của Phạm Sư Man đã tiến hành chinh phục những quốc gia lân cận, nắm giữ vị trí thủ lĩnh trong khu vực
Lương thư viết “Man là người mạnh khỏe, dũng cảm, có mưu lược xảo quyệt, lại dùng uy lực quân sự đánh phá các nước láng giềng đều bắt thần thuộc như cũ… hơn 10 nước, mở rộng đất đai 5, 6 ngàn lí [37, 242] Nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam cho rằng, khởi
điểm của Phù Nam ở Vyadhapura (thành phố của những thợ săn), có lẽ đã đúng với tên gọi của nó khi đây là nơi có tinh thần thượng võ và trình độ chế tác vũ khí phát triển Nhờ
đó, quân đội Phù Nam dần lớn mạnh và khống chế các nước xung quanh, kể cả những nước có thế mạnh về kinh tế nhưng quân sự thì thua kém vương quốc Phù Nam
Quân đội Phù Nam có đủ các loại thủy - tượng - bộ binh, trong đó thủy binh được xem là đội quân tinh nhuệ nhất mang tầm chiến lược của quốc gia cổ đại này Hàng chục
chiến thuyền được đầu tư đóng to, trang bị vũ khí đầy đủ Trong tập ký sự “Chuyện lạ ở
phương Nam” của hai sứ thần Trung Hoa là Chu Ứng và Khang Thái đã mô tả những con
tàu Phù Nam đủ lớn để chở 600-700 người với 40-50 mái chèo Tàu dài 20 bộ (48m), nổi cao lên mặt nước khoảng 3 bộ, có 4 cột buồm với các cánh buồm nằm nghiêng rộng khoảng 10 bộ Với sức mạnh của thủy binh, Vương quốc Phù Nam đã bành trướng thương nghiệp biển và lãnh thổ Thực tế các chiến thuyền của Phù Nam đã Nam chinh, Tây phạt bắt hơn 10 vương quốc thần phục làm chư hầu, phải cống nạp thuế hàng năm dưới sự bảo hộ của vua Phù Nam Từ địa bàn chính là đồng bằng sông Cửu Long, sau khi chinh phạt thu phục 10 nước chư hầu, vương quốc Phù Nam kiểm soát một vùng rộng lớn
từ Nha Trang đến thung lũng Mê Nam, gồm một phần đảo Mã Lai và vùng ven vịnh Thái Lan Từ giữa thế kỷ thứ III - IV, Phù Nam chinh phục quân sự vùng Bắc bán đảo Mã Lai nhằm đảm bảo kiểm soát giao thương trên biển Đông - Ấn Độ Dương, trong số hơn chục
Trang 3230
nước chư hầu bị Phù Nam thuần phục có cả Chân Lạp (Khmer cổ hay Campuchia ngày nay) Đây chính là một mầm mống, một thế lực có ảnh hưởng lớn đến sự suy vong của vương quốc Phù Nam sau này
Sức mạnh quân đội Phù Nam được Lương thư ghi lại như sau: Phù Nam rộng 3000
lý, đến thời Phạm Man lại “đóng tàu to, vượt biển lớn, mở rộng thêm đến 5-6 nghìn lí,
chinh phục hơn 10 nước, đến tận Kim Lân – Xứ Vàng” [34, 49] Những nước mà Lương
Thư đề cập đến là thuộc quốc là Đốn Tốn, Khuất Đô Côn, Điển Tôn, Cửu Trĩ Trong khi
sách Thủy kinh chú còn khen ngợi: “Phù Nam có đội chiến thuyền mạnh nhất trong khu
vực Nam Man” [39]
Với lực lượng quân đội hùng mạnh, mục tiêu mà Phù Nam muốn hướng tới nhất chính là các quốc gia ở trung lưu sông Mekong bao gồm các vùng đất thuộc Campuchia, Trung Thái Lan và bán đảo Malaya (gồm cả Bắc Malaysia và Nam Thái Lan), nơi sinh sống đông đảo của các bộ tộc người Môn - Khmer cổ Những quốc gia nằm ở hạ lưu sông Chao Phraya (Thái Lan) và bắc bán đảo Malaya đến eo đất Kra chính là những nơi có địa thế quan trọng, nằm chắn ngang con đường thương mại quốc tế lúc bấy giờ Đây chính là
nơi mà sách sử đã miêu tả lại với sự sung túc và giàu có: “dân mặc vải sợi bông, choàng
khăn đính ngọc, đeo dây vàng, ở nhà sàn có tường xây gạch chốn gặp gỡ Đông-Tây, hàng hóa không thiếu thứ gì” [34, 65] Có lẽ chính sự giàu có và ưu thế phát triển này mà
Phù Nam đã sớm vươn lên nắm quyền chi phối, cai quản
Như vậy, với lực lượng thủy quân hùng hậu đã trở thành công cụ để Phù Nam bành trướng lãnh thổ, nắm giữ con đường thương mại trọng yếu của thế giới đi ngang qua bán đảo Malaya Còn với tượng quân mạnh đã giúp Phù Nam chinh phục những tiểu quốc lân cận, nhất là những tiểu quốc người Môn ở miền Trung Thái Lan và bán đảo Malaya,
từ đó đã đưa vương quốc này trở thành một đế chế nắm giữ được địa vị lãnh đạo của mình trong khu vực
Về vấn đề bang giao, hòa hảo với các quốc gia lớn ở khu vực Đông Nam Á, nếu như Phạm Sư Man là ông vua có công lớn trong việc mở rộng lãnh thổ, thì Phạm Chiên
Trang 33Độ đến cai trị, chứng tỏ quan hệ tốt đẹp và sự tương đồng tương đối lớn giữa văn hóa của hai vương quốc này
Đối với Trung Quốc, quan hệ được thể hiện ở 3 điểm: một là, quan hệ thần phục
và triều cống; hai là, quan hệ thương mại, giao lưu, buôn bán; ba là, quan hệ giao lưu văn hóa Năm 243, dưới thời Tam Quốc, Phạm Chiên đã phái sứ bộ qua triều đình Đông Ngô
để đặt quan hệ ngoại giao Khoảng năm 245 – 250, dưới thời Tôn Quyền, triều đình nhà Đông Ngô lại phái Khang Thái và Chu Ứng đến Phù Nam
Quan hệ giao lưu văn hóa qua lại, đặc biệt là tôn giáo giữa Ấn Độ, Trung Quốc và Phù Nam được duy trì ngay cả khi Phù Nam đã khủng hoảng Sử chép: khoảng năm 535 – 545, triều đình nhà Lương cử một phái bộ đến Phù Nam xin nhà vua cho sưu tầm kinh phật và thỉnh cầu các cao tăng sang giảng dạy Phật pháp ở Trung Quốc Nhân dịp này, vua Phù Nam cũng phái hòa thượng Ấn Độ là Paramarth đang hành đạo ở Phù Nam mang theo 240 bộ kinh sách đến triều đình Trung Hoa [37, 131] Bên cạnh đó, Phù Nam còn giữ được quan hệ tương đối hòa bình và thân thiện với vương quốc cổ Champa đang trong giai đoạn sơ kỳ hình thành
Tóm lại, qua những điều đã trình bày đã cho thấy vương quốc Phù Nam từ thế IV đến thế kỷ V đã phát triển với một trình độ khá cao về tất cả mọi mặt Điều này đã tạo tiềm lực sức mạnh để Phù Nam trở thành một đế quốc hùng mạnh trong khu vực
Trang 3432
1.3.3 Giai đoạn suy vong của vương quốc Phù Nam (thế kỷ VI – VII)
Vương quốc Phù Nam với vai trò nổi bật của mình trở thành trung tâm thương mại sớm nhất trong khu vực Đông Nam Á và mặc sức lấn át các tiểu quốc lân cận phải phụ thuộc vào kinh tế, thậm chí bắt các nước phải thần phục làm chư hầu Tuy nhiên, sức ảnh hưởng của Phù Nam chỉ kéo dài từ thế kỷ III cho đến giữa thế kỷ thứ VI Năm 514, vua Jayavacman I mất, người kế vị thay ông lấy hiệu là Rudravaman lên ngôi sau khi đã giết chết anh trai mình là thái tử Gunavarman Năm 550, một người thuộc phe Thái tử Gunavarman đã chiếm kinh đô và lên ngôi vua Nhân cơ hội này, Bhavavarman (cháu của Rudravanm đã cưới con gái vua Chân Lạp và trở thành vua mới của nước này) đã tiến đánh và chiếm kinh đô Vua Phù Nam phải chạy xuống phía Nam lập triều đình tại Naravaragara (Na Phất Na) Tuy vậy, triều đình Phù Nam vẫn còn chống giữ được cho đến năm 627 mới bị tiêu diệt hoàn toàn Trong thời gian này Phù Nam có cầu cứu Trung Hoa đánh Chân Lạp nhưng không được chấp thuận Như vậy, Chân Lạp vốn là một tiểu vùng của Phù Nam đã thôn tính cả Phù Nam và thiết lập một đế quốc tương đối hùng mạnh trên chính địa bàn của vương quốc Phù Nam
Sự suy vong của một quốc gia luôn xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Đối với sự sụp đổ của vương quốc Phù Nam cũng thế, yếu tố chủ quan dẫn tới sự tan rã của nhà nước Phù Nam là sự thay đổi con đường thương mại trên biển và sự lỏng lẻo về thể chế chính trị, còn yếu tố khách quan là sự thay đổi về địa chất
và cuộc tấn công của Chân Lạp đã dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của vương quốc hùng mạnh này Trong đó, cuộc tấn công của Chân Lạp chính là nhân tố trực tiếp đưa đến sự sụp đổ của vương quốc Phù Nam
Về yếu tố chủ quan: việc thay đổi con đường thương mại Đông – Tây đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế mậu dịch hàng hải của Phù Nam, kéo theo đó cảng thị Óc Eo của Phù Nam cũng mất đi vai trò là trạm trung chuyển, neo đậu của tàu thuyền Đầu thế kỷ VII ưu thế thương mại của Phù Nam giảm đi nhanh chóng, đã có sự dịch
Trang 3533
chuyển hoạt động thương mại từ trung tâm là thương cảng Óc Eo ven bờ biển Tây Nam
cổ xuống khu vực Malacca (Malaysia) và Sumatra (tức quần đảo Indonesia ngày nay)
Trước thế kỷ VI, những hạn chế về kỹ thuật hàng hải đã khiến cho con đường buôn bán trên biển được các thương nhân chú ý đến là men theo tuyến đường ven biển từ Nam Âu qua Trung Cận Đông đến Nam Ấn vào Vịnh Bengal, rồi đến Eo Kra (bán đảo
Mã Lai) tiến vào phía Tây vịnh Thái Lan rồi đến các cảng của Phù Nam, Đông Nam Á và đến Trung Quốc Như vậy, với những lợi thế về vị trí đặc biệt của mình trong thời kỳ phát triển thịnh đạt đã giúp cho Phù Nam đóng vai trò quan trọng là ngã ba giao lưu buôn bán Đông – Tây Tuy nhiên, khi kỹ thuật hàng hải phát triển cùng với sự thay đổi của hệ thống giao thông đường thủy quốc tế đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến Phù Nam Sự chuyển hướng buôn bán, giao thương của hai thị trường lớn là Trung Quốc và Ấn Độ cũng góp phần tạo nên sự suy yếu của vương quốc Phù Nam Một số tiểu quốc mới nổi như Java, Sumatra,…đã bắt đầu có sự chuyển hướng buôn bán Thương cảng Koying (Indonesia) được nhắc đến như một hải cảng trung chuyển hàng hóa của quốc gia này ở đường bờ biển Đông Nam Sumatra Lúc bấy giờ, Phù Nam vẫn là một quốc gia hùng mạnh với thế lực kinh tế mang tầm khu vực nên đã không quan tâm đến những thế lực kinh tế mới quanh mình Chính sự thay đổi của tuyến đường này đã làm mất vai trò trung tâm thương mại của cảng thị Óc Eo, không những thế, các tiểu quốc phụ thuộc khác của Phù Nam cũng đặt quan hệ trực tiếp với Trung Quốc thay cho thông qua Phù Nam như trước kia Tóm lại, có thể khẳng định, sự suy giảm của kinh tế thương mại đường biển đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về tiềm lực kinh tế của vương quốc Phù Nam
Cùng với việc mất vị trí về thương cảng, thương nghiệp sa sút thì nông nghiệp và thủ công nghiệp là hai nền kinh tế chủ yếu của Phù Nam cũng có dấu hiệu suy sụp Bên cạnh đó, một yếu tố mang tính quan trọng khác làm cho vương quốc Phù Nam sụp đổ đó
là ngay từ lúc đầu thành lập và cả khi trở thành một đế quốc hùng mạnh, Phù Nam vẫn chỉ là tập hợp của những tiểu quốc phụ thuộc Những tiểu quốc này có quan hệ hết sức lỏng lẻo với nhau nên nguy cơ cát cứ là rất lớn Một khi chính quyền trung ương suy yếu thì việc nổi dậy thâu tóm quyền lợi của một thế lực mới mạnh lên là điều tất yếu xảy ra
Trang 3634
Bên cạnh đó là những mâu thuẫn trong nội bộ triều đình cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức mạnh của vương triều Phù Nam Những cuộc chính biến, tranh ngôi trong vương triều giữa các hoàng thân với nhau, không chăm lo phát triển sản xuất đáp ứng nhu cầu nguồn hàng, củng cố hệ thống cảng biển,… dẫn đến triều đình trung ương bị chia rẽ, suy yếu, bỏ mặc nền kinh tế đang trên đà tuột dốc Có thể ví dụ trường hợp, rất nhiều ông vua của Phù Nam lên ngôi bằng việc giết người kế vị của vua trước để giành ngôi Chẳng hạn Phạm Chiên giết Phạm Kinh Sinh – người kế vị của Phạm Sư Man; Phạm Tràng – con út của Phạm Sư Man đã giết Phạm Chiên để giành ngôi; Phạm Tầm là tướng của Phạm Chiên lại sát hại Phạm Tràng để lên ngôi; hay việc Rudravaman giết em trại mình đã tạo điều kiện để vua mới của Chân Lạp lợi dụng tình hình triều đình Phù Nam không ổn định
để tấn công, chiếm kinh đô Phù Nam Chính nguyên nhân này cùng với sự lớn mạnh của các nước chư hầu xung quanh cũng là yếu tố tiên quyết làm suy vong nhanh chóng vương quốc này
Yếu tố khách quan quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự suy vong của Phù Nam
có lẽ là do cuộc tấn công của Chân Lạp Chân Lạp ra đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ V đầu thế kỷ thứ VI, nằm ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp (Chiêm Thành - tiền thân của Chăm Pa) Thủ đô của Chân Lạp có tên là Linkiapơpơ hay Lingaparvata Chân Lạp được hình thành như một tiểu quốc chư hầu mới nhất của vương quốc Phù Nam ở cuối thế kỷ thứ V, được vua Phù Nam tin tưởng giao cho một hoàng thân cai trị Trong thế kỷ VI, Chân Lạp đã vươn lên chinh phục các bộ lạc xung quanh trên lưu vực sông Xê Mun Sự suy yếu của Phù Nam đã tạo điều kiện cho Chân Lạp mở rộng ảnh hưởng về phía Đông Nam và từng bước thay thế hoạt động kinh tế thương mại của Phù Nam trong khu vực Đông Nam Á Một trong những nhân vật làm nên cuộc biến loạn và làm suy vong vương quốc Phù Nam là Bhavavarman - vốn là một trong những người thuộc Hoàng tộc của Phù Nam Vào thế kỷ VI (khoảng năm 540- 550) vua Chân Lạp đem quân đánh chiếm vương
quốc Phù Nam Theo Tân Đường thư: “vua Phù Nam thất bại chạy về phía nam đến Na
Phất Na, tiếp tục trị vì đến 40 năm nữa, nơi kênh rạch chằng chịt, ngập nước, khó đi, khó đến” [37, 156] Phù Nam đã nhiều lần cử sứ thần sang Trung Hoa cầu cứu nhưng chỉ
Trang 3735
nhận được sự thờ ơ của Hoàng đế Trung Hoa và sự quay lưng của các nước có thế lực xung quanh Cho đến năm 627, dưới triều đại của Isanavarman thì việc thôn tính vương quốc Phù Nam cơ bản hoàn thành Phù Nam bị sáp nhập hoàn toàn vào Chân Lạp Sau
đó, Chân Lạp tiếp tục sử dụng và chuyển kinh đô lên vùng đất cao Angko Borei (Campuchia ngày nay) Vì thế, kinh thành và thương cảng Óc Eo (cuối tk VI – đầu tk VII, vua Phù Nam sau khi bị Chân Lạp đánh đuổi khỏi Angko Borei đã chạy về cảng Nagarava [37, 150] (Óc Eo, An Giang), nơi đây được xem là kinh đô cho tới khi Phù Nam diệt vong) rơi vào cảnh hoang tàn Không chỉ tàn phá cuộc sống vùng sông nước mà Chân Lạp còn hủy diệt hoàn toàn những vùng cao khác thuộc vương quốc Phù Nam Chính vì khả năng thích ứng kém của cư dân Phù Nam đã đẩy vương quốc Phù Nam đến diệt vong và tan biến sau những đợt sóng biển dâng trào Ngày nay, những đền, thành phố, kinh đô xưa của Phù Nam chỉ còn là di tích nằm trong lòng đất ở khắp đồng bằng, những triền núi cao ở miền Tây Nam Bộ
Ngoài sự tấn công của Chân Lạp thì những thay đổi về địa chất trong thời kỳ này cũng đã góp phần dẫn đến sự diệt vong của cảng thị Óc Eo và vương quốc Phù Nam Dựa trên cơ sở các tài liệu khoa học, các nhà khoa học đã chứng minh rằng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là kết quả của quá trình biển tiến, biển lùi Ở thế kỷ VII, giai đoạn địa chất Halocen muộn đã diễn ra một đợt biển tiến quy mô nhỏ ở đồng bằng sông Cửu Long với mực nước trung bình 0,8m [9, 21] Chính đợt nước này kết hợp với cuộc tấn công của Chân Lạp đã liên tiếp vùi dập những thành tựu cả về vật chất lẫn tinh thần của vương quốc Phù Nam Đây có thể là nguyên nhân dẫn tới sự chôn vùi lãnh thổ của Phù Nam
Mặt khác, khi nói về nguyên nhân suy vong của đế quốc Phù Nam, theo Giáo sư
Phan Huy Lê trong sách Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam có nêu ra ba giả thuyết
[24, 394] :
Thứ nhất là, về điều kiện tự nhiên, có vấn đề biển lấn, nhưng cần nhà địa chất và địa lý xác định rõ ràng hơn mức độ biển lấn, tác động biển lấn đối với đời sống cư dân
Trang 38Thứ ba là, một số nhà khoa học nói tới yếu tố chiến tranh Tư liệu cho phép khẳng định Chân Lạp vốn là một thuộc quốc của Phù Nam và nhân lúc Phù Nam suy yếu đã tiến đánh nước tôn chủ Rõ ràng có cuộc chiến tranh giữa Chân Lạp và Phù Nam Tất nhiên cuộc chiến tranh kéo dài và cuối cùng Phù Nam phải rút về phía Nam rồi thất bại hoàn toàn Không ai nghi ngờ về cuộc chiến ấy, nhưng tại sao một thuộc quốc lại có thể đánh bại nước tôn chủ, vấn đề là phải tìm đến nguyên nhân sâu xa giải thích sự thất bại của Phù Nam ngay bên trong của Phù Nam Ngoài những nhân tố đã nêu trên thì trong tổ chức thiết chế của đế chế Phù Nam cũng có nhiều vấn đề cần đặt ra để nghiên cứu
Như vậy cho đến nay sự sụp đổ và suy vong của vương quốc Phù Nam vẫn còn là một bí ẩn, cần được khoa học chứng minh
1.4 Tiểu kết chương 1
Qua những vấn đề được trình bày ở trên, có thể thấy rằng lịch sử văn hóa của Ấn
Độ từ thế kỷ I đến thế kỷ VII sau CN có ảnh hưởng hết sức to lớn đối với việc hình thành
và phát triển của các quốc gia cổ ở Đông Nam Á, trong đó có vương quốc Phù Nam
Với sự xâm nhập của người Aryan vào Ấn Độ vào khoảng 1500 TCN đã làm cho lịch sử Ấn Độ bước vào một thời kỳ mới – thời kỳ Veda (kéo dài từ 1500 – 600 TCN)
Trang 3937
Đây là thời kỳ xuất hiện chế độ đẳng cấp và tôn giáo đặc biệt trong lịch sử Ấn Độ - chế
độ đẳng cấp Vacna và Bàlamôn giáo
Đến đầu thế kỷ IV, miền Bắc Ấn Độ mới được thống nhất lại dưới một vương triều hùng mạnh – vương triều Gupta Đây là thời kỳ thống nhất và thịnh vượng của miền Bắc Ấn Độ Đạo Bàlamôn dưới thời Gupta được xuất hiện dưới dạng một tôn giáo mới là
Ấn Độ giáo (hay Hindu giáo) Ấn Độ là chặn dừng chân của “con đường tơ lụa” nổi tiếng trong lịch sử thế giới nối Trung Quốc với Trung Á Đồng thời, Ấn Độ còn có quan hệ buôn bán khá thân thiết với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á cho nên văn hóa của
Ấn Độ đã có những ảnh hưởng rất sâu sắc đến các quốc gia Đông Nam Á
Ấn Độ giáo là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới, được hình thành từ rất sớm
và phát triển qua ba giai đoạn: Veda – Bàlamôn – Hindu Thời kỳ Veda được đánh dấu bằng bộ kinh Veda bằng chữ Phạn
Khi xã hội Ấn Độ phân hóa giai cấp và nhà nước ra đời (thiên niên kỷ I TCN), một tôn giáo mới phù hợp hơn Veda được hình thành trong xã hội có giai cấp ở Ấn Độ: Bàlamôn giáo Đạo Bàlamôn tôn thờ ba vị thần tối cao là thần Brahma, thần Vishnu, thần Shiva, ngoài ra còn có một số thần phụ khác Giáo lý của đạo Bàlamôn được xây dựng nhằm mục đích duy trì và củng cố địa vị của các đẳng cấp trong xã hội, khuyên con người phải an phận thủ thường
Tiếp nối thời kỳ Bàlamôn là thời kỳ Hindu Giáo lý Hindu giáo về cơ bản không khác so với giáo lý của Bàlamôn giáo Hindu giáo là thời kỳ tiếp nối và nâng cao của Bàlamôn giáo, được duy trì và phát triển cho đến ngày nay, trở thành tín ngưỡng thiêng liêng của đại bộ phận người dân Ấn Độ
Nhìn chung, trong thời kỳ từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, văn hóa Ấn Độ đã có sức ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở phạm vi trong nước mà nó còn vươn xa đến các khu vực khác, đặc biệt là những quốc gia ở Đông Nam Á Trong quá trình giao lưu buôn bán, những yếu tố văn hóa bản địa của nền văn minh nông nghiệp cùng với vị trí địa lý thuận lợi, các nước Đông Nam Á đã biết tiếp thu một cách có chọn lọc nền văn hóa từ bên
Trang 4038
ngoài để làm phong phú và đa dạng hơn nền văn hóa riêng của mình, tạo tiền đề cho các quốc gia Đông Nam Á cổ đại lần lượt ra đời và phát triển Quốc gia đầu tiên ở Đông Nam
Á ra đời dựa trên cơ sở của nền văn minh Ấn Độ là vương quốc Phù Nam
Vương quốc Phù Nam ra đời, tồn tại và phát triển trong gần 7 thế kỷ, từ thế kỷ I sau CN đến thế kỷ VII thì suy vong Phù Nam được biết đến là một vương quốc cổ, hùng mạnh và có sức ảnh hưởng lớn đối với nhiều nước trong khu vực
Nguồn gốc ra đời của vương quốc Phù Nam nhuốm nhiều màu sắc truyền thuyết
từ Ấn Độ, tuy nhiên những ghi chép chỉ rõ về sự ra đời của Phù Nam lại được thể hiện trong những thư tịch cổ của Trung Hoa Sau này, trong quá trình phát triển, Phù Nam vẫn tiếp tục tiếp nhận ảnh hưởng của Ấn Độ thông qua quá trình trao đổi, giao lưu buôn bán, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của mình
Từ đầu thế kỷ I đến thế kỷ III, được coi là thời kỳ khắc phục tình trạng phân chia cát cứ và thành lập một quốc gia thống nhất Từ thế kỷ IV đến thế kỷ V là giai đoạn phát triển cường thịnh của vương quốc Phù Nam và đưa vương quốc này trở thành một đế quốc hùng mạnh ở Đông Nam Á Sự phát triển đạt đến đỉnh cao của vương quốc Phù Nam được thể hiện khá rõ: nền kinh tế Phù Nam phát triển mạnh, thông qua cảng thị Óc
Eo đã trở thành một đầu mối thương mại Đông – Tây quan trọng, tạo nên sức mạnh cho đất nước; chinh phục các nước ở phía Tây, mở rộng lãnh thổ; mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực châu Á đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ
Với vai trò nổi bật trong khu vực, Phù Nam đã trở thành trung tâm thương mại sớm nhất khu vực Đông Nam Á và bắt các nước lân cận phải phụ thuộc, thần phục mình Nhưng thời kỳ vàng son đó của vương quốc Phù Nam chỉ kéo dài đến giữa thế kỷ VI, sau
đó rơi vào suy vong Đối với Phù Nam, những yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của vương quốc
là sự thay đổi con đường thương mại trên biển và sự lỏng lẻo về thể chế chính trị Ngoài
ra, còn có sự thay đổi về địa chất và cuộc tấn công của Chân Lạp Trong đó, nhân tố trực tiếp đưa đến sự sụp đổ của vương quốc Phù Nam là cuộc tấn công của Chân Lạp