ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ o0o ơ TRỊNH THỊ MINH THẢO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VSBS) LUẬ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội - Năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
TRỊNH THỊ MINH THẢO
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VSBS)
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ NHUNG
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HD XÁC NHẬN CỦA CTHĐ
CHẤM LUẬN VĂN
Hà Nội - Năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy, cô Trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc gia
Hà Nội cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian
học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn Cô TS Nguyễn Thị Nhung – người đã định hướng nghiên cứu, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Tôi
cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc
gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 02 năm tôi theo học tại trường
Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá
trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang kiến thức quý báu cho tôi trong quá
trình công tác tiếp sau đây
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, ban lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam (VCBS) đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu và thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2020
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Minh Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tôi thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các số liệu
sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy
định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách
trung thực, khách quan, phù hợp thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố
trong bất kì luận văn nào khác
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH VẼ iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 5
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động môi giới chứng khoán và chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán 5
1.2.Cơ sở lý luận về hoạt động môi giới chứng khoán và chất lượng môi giới chứng khoán 7
1.2.1 Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 7
1.2.2 Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 15
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 22
2.1 Thiết kế nghiên cứu 22
2.1.1 Nội dung nghiên cứu 22
2.1.2 Quy trình nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 23
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin/dữ liệu 24
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin/dữ liệu 28
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 28
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 30
3.1 Khái quát về Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 30
Trang 63.1.1 Quá trình thành lập và phát triển 30
3.1.2 Cơ cấu tổ chức, nhân sự 31
3.1.3 Các dịch vụ của Công ty 32
3.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Chứng khoán VCBS trong thời gian từ năm 2014 – 2018 35
3.2.Hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS 42
3.3.Thực trạng chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 45
3.3.1 Chất lượng hoạt động môi giới tại VCBS thể hiện qua các chỉ tiêu định lượng 45 3.3.2 Chất lượng môi giới tại VCBS thông qua cảm nhận của nhà đầu tư (sự hài lòng của khách hàng) 50
3.4 Đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 50
3.4.1 Kết quả đạt được 54
3.4.2 Hạn chế tồn tại và nguyên nhân 55
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 61
4.1.Phương hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam tới năm 2020 61
4.1.1 Quan điểm phát triển 61
4.1.2 Mục tiêu 62
4.2.Định hướng phát triển Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 63
4.3.Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 64
4.3.1 Xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp 64
4.3.2 Tăng cường công tác chăm sóc khách hàng, quan tâm đến quyền lợi của khách hàng 65
4.3.3 Hoàn thiện mô hình tổ chức .67
Trang 74.3.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 68
4.3.5 Nâng cao năng lực tài chính 70
4.3.6 Đầu tư cho hoạt động Marketing 70
4.3.7 Đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ .72
4.3.8 Xây dựng và hoàn thiện hoạt động kiểm tra kiểm soát rủi ro .74
4.3.9 Nâng cao hiệu quả hoạt động phân tích, đầu tư .74
4.3.10.Đa dạng hóa dịch vụ và cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng 75
4.4 Kiến nghị 79
4.4.1 Kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan chức năng 79
4.4.2 Kiến nghị với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước 80
4.4.3 Kiến nghị với Cơ quan chủ quản của VCBS là Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 83
KẾT LUẬN .85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .86
Phụ lục 1:
Trang 8Ngoại thương Việt Nam
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê về tuổi của đối tượng khảo sát 24
Bảng 2.2: Thống kê về thu nhập của đối tượng khảo sát 25
Bảng 2.3: Nội dung khảo sát/điều tra 25
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của VCBS trong thời gian qua 35
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp doanh thu của một số CTCK từ 2015-2019 40
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp lợi nhuận sau thuế của một số CTCK từ 2015-2019 41
Bảng 3.4: 10 công ty chứng khoán thị phần giá trị giao dịch môi giới cổ phiếu & chứng chỉ quỹ cao nhất năm 2019 tại HOSE 41
Bảng 3.5: 10 công ty chứng khoán thị phần giá trị giao dịch môi giới trái phiếu cao nhất năm 2019 tại HOSE .36
Bảng 3.6: Chức năng và nhiệm vụ của các cấp trong hoạt động môi giới tại VCBS40 Bảng 3.7: Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS .41
Bảng 3.8: Kết quả kinh doanh năm 2018 theo phòng kinh doanh .42
Bảng 3.9: So sánh phí môi giới của VCBS với các CTCK khác 43
Bảng 3.10: Số lượng tài khoản mở mới tại VCBS giai đoạn 2016-2019 .44
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Quy trình hoạt động môi giới tại CTCK 13
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu 22
Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của VCBS năm 2018 32
Hình 3.2: Mô hình tổ chức khối bản lẻ của VCBS 39
Hình 3.3: Đánh giá của khách hàng về dịch vụ môi giới chứng khoán của VCBS 45
Hình 3.4: Đánh giá của khách hàng về từng khía cạnh của dịch vụ môi giới tại VCBS 48
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Đánh giá của khách hàng về dịch vụ môi giới chứng khoán của VCBS .50Biểu đổ 3.2: Biểu đồ 3.2: Đánh giá của khách hàng về từng khía cạnh của dịch vụ môi giới tại VCBS 54
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2020, Việt Nam được kì vọng sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư bắt nguồn từ xu hướng nới lỏng của nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới,
đặc biệt là khu vực châu Á, khi Việt Nam có lợi thế cạnh tranh là nền tảng chính trị
ổn định, lạm phát và tỉ giá trong tầm kiểm soát Cùng với sự phát triển không ngừng
của kinh tế Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng ghi nhận sự phát triển
ổn định và tăng trưởng tích cực Sự trưởng thành của các Công ty chứng khoán Việt
Nam không chỉ thể hiện trong sự tăng trưởng số lượng và quy mô vốn mà còn thể
hiện rõ nét qua phương thức và chất lượng sản phẩm, cung cấp dịch vụ cho khách
hàng Chính điều này đã làm tăng vai trò của Công ty chứng khoán đối với thị
trường chứng khoán nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung Đặc biệt, chỉ xét
riêng về nghiệp vụ Môi giới chứng khoán – hoạt động mang lại phần lớn lợi nhuận
cho các công ty chứng khoán, cũng đã thấy được vai trò quan trọng của hoạt động
này đối với các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bên cạnh các phương thức cạnh tranh về phí Môi giới, lãi suất giao dịch, trong vài năm trở lại đây các Công ty tài chính có tiềm lực tài chính mạnh đang hướng
đến đầu tư cho công nghệ để có thể cung cấp các dịch vụ tiện ích giao dịch trực
tuyến, sản phẩm tài chính mang lại hiệu quả đầu tư tốt nhất tới khách hàng Theo
đó, các tiện ích khách hàng được trải nghiệm tại hệ thống giao dịch mới rất đa dạng:
giao dịch trong phiên, tra cứu tài khoản chứng khoán, chuyển tiền cuối ngày, … hay
các sản phẩm tài chính như cho vay, cầm cố chứng khoán, … Điều rõ ràng là với
các công ty chứng khoán nhỏ, vốn mỏng, khả năng triển khai các sản phẩm tài
chính hay đầu tư cho phần mềm công nghệ là hạn chế Các công ty chứng khoán
nhỏ chỉ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi riêng với một vài khách hàng quan
trọng (VIP) Tuy nhiên khi các công ty chứng khoán lớn nhìn ra được những khách
hàng này và đưa ra chính sách ưu đãi hơn, phần lớn khách hàng sẽ lựa chọn rời bỏ
công ty chứng khoán nhỏ để tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới tại công ty chứng
Trang 12khoán lớn Thêm vào đó, các công ty chứng khoán nhỏ với mục tiêu phấn đấu đạt
chỉ tiêu an toàn tài chính hoặc không bị thua lỗ thì khả năng triển khai việc hỗ trợ
khách hàng trên diện rộng cũng hạn chế vì e ngại không bù đắp được rủi ro Trong
17 năm phát triển, thị trường chứng khoán đã chứng minh công ty chứng khoán có
lợi thế nào sẽ phát huy tối đa để đánh vào điểm yếu của đối thủ tạo nên những cuộc
cạnh tranh khốc liệt và đó cũng là hiện tượng các công ty chứng khoán tái cấu trúc,
ganh đua thị phần
Là một trong những thành viên đồng hành cùng với thị trường ngay từ những ngày đầu thành lập, trong suốt 15 năm qua, Công ty TNHH Chứng khoán Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) không ngừng cải tiến phát triển sản
phẩm dịch vụ, đầu tư hệ thống công nghệ hiện đại để góp phần thúc đẩy thị trường
chứng khoán phát triển Với mục tiêu chiến lược của Vietcombank là trở thành ngân
hàng số 1 Việt Nam, 1 trong 300 tập đoàn tài chính ngân hàng lớn nhất thế giới và
được quản trị theo các thông lệ quốc tế tốt nhất, VCBS tiếp tục thực hiện định
hướng trở thành Ngân hàng đầu tư hàng đầu tại Việt Nam, tập trung đẩy mạnh phát
triển hoạt động kinh doanh thông qua hoạt động môi giới và hỗ trợ tài chính
Với lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Nâng cao chất lượng
hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)”
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết, phương pháp luận về chất lượng môi giới chứng khoán; phân tích, đánh giá thực trạng về chất lượng hoạt động môi giới
chứng khoán tại công ty chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam,
tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi giới chứng khoán để có
thể đáp ứng trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của thị trường
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán của công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)
Từ đó, kiến nghị một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng môi giới
chứng khoán tại Công ty chứng khoán VCBS
Trang 132.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
(VCBS)
giới chứng khoán tại công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Ngoại thương Việt Nam (VCBS)
3 Câu hỏi nghiên cứu
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS) trong những năm
gần đây đã đạt được những thành tựu và còn tồn tại những hạn chế gì? Nguyên nhân?
Việt Nam (VCBS) cần làm gì để cải thiện chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động môi giới chứng khoán và chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu
Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)
TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
(VCBS)
5 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm
4 chương:
Chương 1 : Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí luận về chất lượng hoạt động
môi giới của các Công ty chứng khoán
Trang 14Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu Chương 3 : Thực trạng chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công
ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Chương 4 : Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới
chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI
CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động môi giới chứng khoán và
chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán
Trước tầm quan trọng của hoạt động Môi giới chứng khoán (MGCK), trong những năm qua đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về hoạt động môi giới
trên thị trường chứng khoán Có thể kể đến như:
Lê Ngọc Cường (2019) thực hiện bài viết xác định 6 nhóm nhân tố tác động tới chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán và thực trạng chất lượng dịch vụ môi giới
chứng khoán tại các công ty chứng khoán trên địa bàn thành phố Hà Nội Theo đó, 6
nhóm nhân tố gồm: Phương tiện hữu hình, mức độ tin, khả năng phản, mức độ đảm
bảo, sự thấu cảm, dịch vụ hỗ trợ Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán, góp phần giúp các công ty chứng khoán
trên địa bàn thành phố nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập
Nhã An (2019) thực hiện bài viết so sánh cách phản ứng nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán khi luồng vốn nước ngoài có xu hướng chảy
vào thâu tóm các CTCK trong nước và tác động từ thay đổi thông tư số
128/2018/TT-BTC của Bộ tài chính quy định mức trần giá dịch vụ mua, bán chứng
khoán là 0,5% giá trị giao dịch mà không còn quy định về mức sàn 0,15% như quy
định cũ Tác giả nhận định năm 2019 sẽ chứng kiến sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn
trong hoạt động kinh doanh của các CTCK Quy định mới tại Thông tư
128/2018/TT-BTC sẽ tạo ra một cuộc cạnh tranh về phí môi giới trong thời gian tới
Thị trường cũng đón nhận ngày càng nhiều sự tham gia của các CTCK nước ngoài
có tiềm lực về nguồn vốn, nhân sự, công nghệ,… Bên cạnh đó là sự chủ động cạnh
tranh trong chiến lược kinh doanh ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo, phát triển
hệ thống giao dịch- các yếu tố sẽ góp phần đáng kể vào kết quả kinh doanh của từng
CTCK
Trang 16Trần Anh (2019) đưa ra quan điểm của mình về tương lai nghề môi giới chứng khoán nhìn từ thị trường Hàn Quốc Tác giả đưa ra so sánh cách áp dụng ứng
dụng trí tuệ nhân tạo AI để tư vấn khách hàng qua robot advisor ở một thị trường
chưa đầy 20 năm tuổi như Việt Nam so với cách ứng dụng AI kết hợp công nghệ
phân tích dữ liệu lớn Big Data tại các công ty chứng khoán Hàn Quốc, điển hình là
Tập đoàn tài chính Mirae Asset Từ đó tác giả nhận định những sản phẩm tài chính
được xây dựng dựa trên AI, Big Data tại thị trường Việt Nam cần được tùy biến để
phù hợp với đặc thù dữ liệu thông tin, từ đó mới thể hiện được vai trò của AI trong
việc đưa ra tư vấn, quản lí đầu tư hiệu quả Trong khi các nhà phát triển ứng dụng
tài chính công nghệ phải làm việc nỗ lực không ngừng để nghiên cứu về AI và
BigData, các nhà môi giới chứng khoán phải thích nghi với việc sử dụng ứng dụng,
đi đầu trong việc sử dụng công nghệ và tìm ngách cung ứng dịch vụ để giữ vững,
phát huy vai trò môi giới của mình
Nguyễn Thị Như Quỳnh (2015), trình bày tổng quan lý thuyết về thương hiệu, phát triển thương hiệu và dịch vụ môi giới chứng khoán, đồng thời đưa ra các
tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán cả về định tính và định
lương Tác giả nêu lên các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới dịch vụ
môi giới chứng khoán đối với các công ty chứng khoán nói chung và IVS nói riêng
Trên cơ sở đó tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp và sơ cấp bằng phương pháp bảng câu
hỏi điều tra, quan sát để đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ
môi giới chứng khoán tại IVS Tuy tác giả có đánh giá về chất lượng của dịch vụ
môi giới chứng khoán nhưng không có sự liên kết và theo các tiêu chí mà tác giả
đưa ra ban đầu
Ngoài ra, còn có một vài công trình nghiên cứu khác có đề cập đến hoạt động môi giới chứng khoán như nghiên cứu của TS Bùi Thị Thanh Hương (2009),
Trang 17CTCK Tuy nhiên, các nghiên cứu về dịch vụ môi giới chứng khoán và nâng cao
chất lượng dịch vụ môi giới còn chưa nhiều Phạm vi nghiên cứu là công ty TNHH
Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)
trong khoảng thời gian 2015 -2019 là chưa có nghiên cứu nào đề cập tới Từ khoảng
trống đó và trên cơ sở kế thừa một số nội dung có tính lý luận và thực tiễn, tác giả
lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công
ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt
Nam (VCBS)” để nghiên cứu, với mục đích là: (i) Phân tích thực trạng hoạt động
môi giới chứng khoán của công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS); (ii) Đề xuất và kiến nghị một số giải pháp
và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng môi giới chứng khoán tại Công ty chứng
khoán VCBS
1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động môi giới chứng khoán và chất lượng môi giới
chứng khoán
1.2.1 Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
Nhu cầu đầu tư chứng khoán ngày càng tăng cao đặt các Công ty chứng khoán vào cuộc đua mới: cuộc đua về tăng vốn và cạnh tranh thị phần môi giới
Cuộc đua này càng mạnh thì lợi ích các công ty chứng khoán đem lại cho nhà đầu
tư càng lớn Thật vậy, chứng khoán là kênh lợi nhuận khá tốt nhưng mặt khác ẩn
chứa nhiều rủi ro, đòi hỏi nhà đầu tư phải có lượng kiến thức am hiểu nhất định về
đầu tư tài chính, chứng khoán Do đó, một trong những nghiệp vụ đặc trưng và quan
trọng của công ty chứng khoán là Môi giới chứng khoán, thông qua việc tư vấn, hỗ
trợ mua bán chứng khoán cho khách hàng, Công ty chứng khoán hưởng doanh thu
từ chi phí giao dịch
Theo khoản 20, điều 6 Luật chứng khoán 2006 quy định: “Môi giới chứng
khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán
cho khách hàng”
Theo đó, công ty chứng khoán sẽ đại diện cho khách hàng giao dịch thông
Trang 18qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC, khách
hàng phải chịu trách nhiệm với kết quả giao dịch của mình Hoạt động môi giới
chứng khoán tích hợp nhiều nghiệp vụ khác nhau, bao gồm: tư vấn đầu tư chứng
khoán, tiếp thị, nhận lệnh mua bán của khách hàng, kí kết hợp đồng cung cấp dịch
vụ cho khách hàng, mở tài khoản giao dịch, quyết toán các giao dịch phát sinh,…
Khác với nghề môi giới trong các lĩnh vực khác, môi giới chứng khoán là nghiệp vụ
mang tính chuyên nghiệp cao, yêu cầu người môi giới phải có kĩ năng, có trình độ
chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu phải có môi trường hỗ trợ
khá đa dạng, bao gồm bộ máy tổ chức, môi trường pháp luật, văn hóa, xã hội cùng
với các trang thiết bị cần thiết
1.2.1.2 Nguyên tắc của hoạt động môi giới chứng khoán
Hoạt động môi giới dễ dẫn tới xung đột lợi ích giữa CTCK với khách hàng Khi CTCK tham gia vào việc kinh doanh thì CTCK cũng đặt mục tiêu lợi nhuận nên sẽ xảy
ra mâu thuẫn giữa CTCK và khách hàng, các xung đột gián tiếp thể hiện như sau:
môi giới Nhà môi giới được hưởng % trên giá trị giao dịch của khách hàng Xung
đột ở đây là người môi giới vẫn có thu nhập ngay cả khi vì khuyến nghị của mình
mà khách hàng bị thua lỗ Thực tế, có những trường hợp chính nhà môi giới của
CTCK khuyến nghị khách hàng giao dịch liên tục chỉ vì hoa hồng của mình chứ
không vì lợi ích của khách hàng Bên cạnh đó, một trong số các hành vi đáng báo
động hiện nay là nhân viên môi giới lợi dụng việc ủy quyền tài khoản của khách
hàng để bán khống (short-sell) danh mục chứng khoán và kiếm lời
ra nhận định, khuyến nghị gửi khách hàng đọc hàng ngày
khi triển khai thực hiện giao dịch chứng khoán với các dịch vụ ngày càng đa dạng
Để tránh những xung đột lợi ích có thể xảy ra, CTCK cần tuân thủ những quy định sau:
Trang 19(i) Tách biệt hoạt động tự doanh với hoạt động môi giới: CTCK cần tách biệt
hai hoạt động này về nhân sự, về quy trình nghiệp vụ và tách biệt nguồn vốn công
ty với tài khoản khách hàng
(ii) Ưu tiên khách hàng: CTCK cần đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu
CTCK phải cung cấp thông tin cho khách hàng một cách trung thực, chính xác
và kịp thời; ưu tiên lệnh giao dịch của khách hàng trước lệnh giao dịch của bộ
phận tự doanh
Nhân viên môi giới phải luôn đặt đạo đức nghề nghiệp lên hàng đầu: Nhân viên môi giới không chỉ là người trung gian giao dịch chứng khoán cho khách
hàng mà còn là người cung cấp thông tin, đưa ra nhận định và tư vấn tài chính,
khuynh hướng biến động giá của các loại chứng khoán và khuynh hướng chung
của TTCK Theo Luật chứng khoán, nhân viên môi giới được phép kinh doanh
chứng khoán như các nhà đầu tư khác, do đó khi nhân viên môi giới đặt lợi ích
của mình lên trước lợi ích của khách hàng sẽ dẫn đến những hành vi làm ảnh
hưởng trực tiếp tới lợi ích của khách hàng Bên cạnh đó, nhân viên môi giới còn
chịu áp lực từ hoạt động tự doanh của Công ty Bởi vậy, với nhân viên môi giới,
đạo đức nghề nghiệp phải được đặt lên hàng đầu, họ phải tuân thủ những quy tắc
chuẩn mực và đạo đức nghề nghiệp sau:
mình, nắm được những thông tin cá nhân cơ bản, tình hình tài chính, mục tiêu đầu
tư, khả năng chịu đựng rủi ro,… để từ đó đưa ra những tư vấn phù hợp với từng đối
tượng khách hàng
Trung thực, công bằng trong hoạt động môi giới: Nhân viên môi giới phải
ưu tiên lợi ích của khách hàng; tôn trọng tài sản, bảo vệ quyền lợi của khách
hàng; cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời cho khách hàng; không
gợi ý khách hàng mua bán vì lợi ích riêng; không xúi giục khách hàng giao dịch
chứng khoán để kiếm hoa hồng mà nên đưa ra những lời khuyên hợp lý để hạn
chế đến mức thấp nhất những thiệt hại, rủi ro của khách hàng; không đưa ra
những lời hứa hẹn đảm bảo lợi ích của khách hàng sẽ nhận được; không có hành
Trang 20vi, biểu hiện có thể gây ra sự hiểu lầm về tính trung thực, độ tin cậy cho khách
hàng,…
theo đúng yêu cầu của khách hàng, đồng thời tuân theo quy định về nghiệp vụ và
các quy định khác của Công ty Người môi giới cần không ngừng nâng cao trình độ
tay nghề cũng như trình độ chuyên môn về chứng khoán và TTCK nhằm cung cấp
cho khách hàng những sản phẩm tốt nhất có thể
Bảo mật: Nhân viên môi giới cần bảo quản tốt hồ sơ, thông tin, tài liệu của
khách hàng; không được thảo luận bất cứ thông tin nào về khách hàng với những
người không có liên quan; không sử dụng thông tin của khách hàng dưới bất kỳ
hình thức nào để tác động tới các giao dịch vì lợi ích của bản thân nhân viên môi
giới, của Công ty hay của khách hàng khác
1.2.1.3 Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán
Với tư cách là một thể chế bậc cao của nền kinh tế thị trường, một trong những đặc trưng cơ bản của thị trường chứng khoán là hoạt động theo nguyên tắc
trung gian Theo nguyên tắc này, các giao dịch trên thị trường phải thực hiện qua
các CTCK và nhân viên môi giới chứng khoán Môi giới chứng khoán ở đây được
hiểu như là hoạt động của hai yếu tố này, trong sự tương quan chặt chẽ với nhau,
với một đối tác chung là khách hàng- người đầu tư, để tác động tới sự vận hành và
phát triển của thị trường chứng khoán Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán
được nghiên cứu dưới các khía cạnh sau :
Với thị trường chứng khoán
môi giới cung cấp đến cho khách hàng những hàng hóa, dịch vụ và xem xét thị
trường cần những loại hàng hóa với chất lượng như thế nào để từ đó cung cấp
những ý tưởng thiết kế ra những sản phẩm và dịch vụ mới tới khách hàng
Hình thành nền văn hóa đầu tư: Trong nền kinh tế chưa phát triển, môi
trường đầu tư còn thô sơ, người dân chưa có thói quen sử dụng tiền nhàn rỗi của
mình để đầu tư vào các tài sản tài chính với mục đích kiếm lời, mà chỉ biết gửi tiền
Trang 21tiết kiệm tại các ngân hàng, mua vàng và cất trữ ở nhà trong khi nhu cầu về vốn của
nền kinh tế là rất lớn Để thu hút công chúng đầu tư, nhà môi giới chứng khoán tìm
cách tiếp cận những khách hàng tiềm năng và đáp ứng nhu cầu của họ Nhà môi
giới mang theo các sản phẩm tài chính phù hợp với nhu cầu của khách hàng, giải
thích cho khách hàng biết về những lợi ích mà sản phẩm đem lại, đồng thời quan
tâm, chăm sóc tài khoản của khách hàng theo hướng có lợi cho họ Hoạt động này
lâu dần sẽ hình thành nên thói quen đầu tư vào tài sản tài chính của những người có
nguồn vốn nhàn rỗi, thu hút họ đến với TTCK nói chung và đến với CTCK nói
riêng Nhà môi giới sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư những kiến thức cơ bản về thị
trường, cập nhật những thông tin về chứng khoán để giúp các nhà đầu tư tiềm năng
có cái nhìn tổng quát về thị trường trước khi họ đưa ra một quyết định đầu tư Hoạt
động môi giới chứng khoán sẽ thâm nhập sâu rộng vào cộng đồng các doanh
nghiệp, vào công chúng đầu tư và góp phần hình thành nên “nền văn hóa đầu tư”
cạnh tranh mạnh mẽ với nhau Để có thể tồn tại và phát triển, các CTCK luôn không
ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ chân khách hàng cũ, thu hút thêm nhiều
khách hàng mới, gia tăng tài sản mà các nhà đầu tư ủy thác cho Công ty Do đó, nhà
môi giới cần phải không ngừng trau dồi kiến thức nghiệp vụ, nâng cao đạo đức nghề
nghiệp, kỹ năng hành nghề Quá trình này đã nâng cao được chất lượng và hiệu quả
của dịch vụ của hoạt động môi giới trên TTCK
Hoạt động của các CTCK và các nhân viên môi giới chính là một yếu tố góp phần
hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh chứng khoán bởi lĩnh vực
này là nơi phát sinh và bộc lộ rõ những xung đột lợi ích giữa các đối tượng tham gia
thị trường Hoạt động môi giới chứng khoán sẽ đưa pháp luật đến với các nhà đầu
tư, đồng thời cũng phản ánh những bất cập trong điều chỉnh của khuôn khổ pháp lý
tới các nhà làm luật để kịp thời chỉnh sửa cho phù hợp
Với Công ty chứng khoán Hoạt động Môi giới đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động chung của
Trang 22Công ty chứng khoán Chức năng chính là cung cấp dịch vụ với hai tư cách: nối liền
khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư và nối liền giữa người bán với người
mua để hưởng phí thì hoạt động môi giới đã tạo ra một khoản doanh thu rất lớn cho
Công ty Chứng khoán Đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động của Công ty
chứng khoán bằng việc thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư đến công ty
Thêm vào đó, hoạt động môi giới còn góp phần giúp CTCK phát triển quan hệ với
các tổ chức khác, các CTCK khác cũng thực hiện hoạt động này trên thị trường
chứng khoán
Góp phần nâng cao uy tín của công ty chứng khoán thể hiện bằng việc khi chất lượng của hoạt động môi giới của công ty thực sự đem lại sự thỏa mãn cho
khách hàng thì uy tín của công ty cũng ngày một cao, được đánh giá cao trên thị
trường chứng khoán chính là ưu thế lớn khi thị trường chứng khoán ngày càng khắc
nghiệt với việc kinh doanh của các công ty chứng khoán
Góp phần đẩy mạnh các hoạt động khác của CTCK: hoạt động môi giới luôn gắn kết chặt chẽ với các hoạt động khác của công ty, hỗ trợ lẫn nhau để đem tới cho
khách hàng những dịch vụ tốt nhất Do đó, khi chất lượng của hoạt động Môi giới
càng được nâng cao thì đòi hỏi các hoạt động khác cũng phải được hoàn thiện và
nâng cao hơn để mang lại sự hoạt động hiệu quả nhất cho công ty
Với nhà đầu tư Góp phần làm giảm chi phí giao dịch: Trên các thị trường hàng hóa thông thường, người mua và người bán phải trực tiếp gặp nhau để kiểm tra chất lượng
hàng hóa và thỏa thuận giá cả Điều này đòi hỏi cả hai bên phải mất rất nhiều thời
gian, tiền bạc và công sức để có thể tìm được đối tác và loại hàng hóa phù hợp với
mục đích của mình Trên TTCK, cả người mua và người bán đều giao dịch một loại
hàng hóa đặc biệt, đó là chứng khoán Loại hàng hóa này chỉ có giá trị chứ không có
giá trị sử dụng như các hàng hóa thông thường khác nên nhà đầu tư không thể thẩm
định chất lượng hàng hóa bằng các giác quan mà họ phải bỏ ra chi phí, tham gia các
lớp học đào tạo kỹ năng phân tích, quy trình giao dịch trên thị trường Những chi
phí đó chỉ có các CTCK hoạt động chuyên nghiệp với quy mô lớn mới có khả năng
Trang 23trang trải bởi được hưởng lợi ích kinh tế nhờ quy mô Thông qua hoạt động môi
giới của CTCK, nhà đầu tư có thể tiết kiệm được một chi phí không nhỏ trong giao
dịch chứng khoán
Khi tham gia đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư phải chấp nhận đánh đổi giữa lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro Các nhà đầu tư tìm tới hoạt động môi giới của CTCK
để có thể gặp được đối tác phù hợp sẽ giúp họ giảm được chi phí về thời gian, tiền
bạc lẫn rủi ro trong việc tìm kiếm đối tác trên thị trường
Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng: Thông tin luôn rất quan trọng trong các hoạt động kinh doanh Trên TTCK cũng vậy, thông tin góp phần không
nhỏ ảnh hưởng tới giá cả của chứng khoán Các nhân viên môi giới sẽ cung cấp
cho khách hàng những thông tin liên quan đến tình hình thị trường, đến chứng
khoán niêm yết, … Dựa trên những thông tin này, nhà đầu tư sẽ phân tích và đưa
ra các quyết định về việc mua bán chứng khoán, cũng như giá cả một cách hợp
lý Nhân viên môi giới luôn là người nắm bắt được thông tin cập nhật về chứng
khoán bởi họ có các mối quan hệ rộng rãi, hơn nữa họ lại biết cách tiếp cận các
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và tiến hành sàng lọc trước khi cung cấp cho
khách hàng Do đó, thông tin mà nhà đầu tư có được từ nhân viên môi giới có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng
Không chỉ cung cấp thông tin, nhà môi giới còn có thể là người tư vấn chuyên nghiệp cho khách hàng của mình Các nhà môi giới có thể thực hiện việc tư
vấn theo các mức độ khác nhau, tùy theo nhu cầu của khách hàng Ngoài việc tư
vấn cho khách hàng các loại chứng khoán đơn thuần, nhà môi giới còn có thể đưa ra
danh mục đầu tư tối ưu, phụ thuộc vào nhu cầu và khả năng của mỗi khách hàng với
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho khách hàng của mình
1.2.1.4 Quy trình hoạt động môi giới tại CTCK
Quy trình hoạt động môi giới là các bước công việc mà bộ phận môi giới, các nhân viên môi giới phải làm để thực hiện hoạt động môi giới Mỗi
CTCK có một quy trình hoạt động môi giới riêng phụ thuộc vào đặc điểm của
từng công ty Tuy nhiên về nội dung cơ bản, quy trình hoạt động môi giới của
Trang 24các CTCK đều bao gồm các bước sau:
Hình 1.1: Quy trình hoạt động môi giới tại CTCK
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Bộ phận Môi giới cần xác định đúng nhóm đối tượng mục tiêu Trong giai đoạn này, hoạt động quảng bá hình ảnh công ty, quảng cáo các sản phẩm, dịch vụ
hỗ trợ của công ty đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách hàng Việc tìm
kiếm khách hàng đòi hỏi nhân viên môi giới phải chủ động thông qua các mối quan
hệ cá nhân, qua sự giới thiệu của họ hàng, người thân, bạn bè, có kĩ năng marketing,
kĩ năng bán hàng và thu thập thông tin tốt, …
(ii) Tìm hiểu cụ thể các nhu cầu, mục tiêu tài chính, khả năng chấp nhận rủi ro của
khách hàng để đưa ra khuyến nghị về cơ hội đầu tư và sản phẩm tài chính thích hợp
Sau khi tìm kiếm khách hàng, bộ phận Môi giới sàng lọc thông tin từ danh sách khách hàng để xác định nhu cầu đầu tư, khả năng tài chính, khả năng chịu
đựng rủi ro của khách hàng, … Từ đó, nhân viên môi giới lựa chọn cơ hội đầu tư và
các sản phẩm tài chính thích hợp để thuyết phục khách hàng sử dụng Công việc
này đòi hỏi nhân viên môi giới vận dụng linh hoạt kĩ năng nghề nghiệp và có tính
kiên nhẫn cao khi thuyết phục khách hàng Mỗi nhân viên môi giới cần phải lấy
được niềm tin của khách hàng bằng chính sự chân thành của mình
Sau khi thu hút được khách hàng đến mở tài khoản tại CTCK, nhân viên môi giới sẽ tư vấn, đưa ra những lời khuyến nghị mua bán chứng khoán và giới thiệu
cho khách hàng các dịch vụ mà công ty cung cấp để đáp ứng các nhu cầu đầu tư của
khách hàng Ngoài ra, nhân viên môi giới còn phải tiến hành theo dõi sự biến động
Tìm kiếm, lựa chọn khách hàng tiềm năng
Tìm hiểu nhu cầu, mục tiêu tài chính, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng
Cung cấp cácdịch vụ trong và sau bán hàng
Trang 25của tài khoản khách hàng một cách liên tục để có thể đưa ra những lời khuyến nghị
kịp thời, hạn chế tối đa rủi ro cho tài khoản khách hàng
Một trong những đặc thù riêng của lĩnh vực chứng khoán là sự thay đổi nhanh chóng của thị trường, điều này đòi hỏi nhân viên môi giới phải tương tác liên
tục với khách hàng để có những quyết định đúng đắn, tránh thiệt hại cho khách
hàng Thêm vào đó, nhu cầu của con người cũng thường xuyên thay đổi, yêu cầu
nhân viên môi giới phải tìm kiếm, phát hiện và đáp ứng kịp thời các nhu cầu mới
xuất hiện của khách hàng nhằm bán thêm các sản phẩm dịch vụ, tạo ra lợi thế cạnh
tranh với các công ty khác đồng thời giúp công ty tránh trường hợp khách hàng
chạy theo đối thủ cạnh tranh
1.2.2 Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
1.2.2.1 Khái niệm chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán
Nếu như chất lượng cao rất quan trọng trong lĩnh vực sản xuất, nơi hàng hóa được sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng thì chất lượng lại càng quan trọng
hơn trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt dịch vụ môi giới chứng khoán vì có tính chất vô
hình khó nhận biết Có thể xem xét chất lượng dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp
mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng
trong hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ đầu ra Khi một CTCK hiểu được khách
hàng của họ sẽ đánh giá dịch vụ như thế nào, họ sẽ có khả năng tạo ra tác động vào
những đánh giá theo hướng mong muốn Chất lượng là sự so sánh giữa sự mong đợi
về giá trị đầu tư của khách hàng với giá trị dịch vụ thực tế khách hàng nhận được
Đó đồng thời cũng là sự đo lường phân phối dịch vụ phù hợp với sự mong đợi của
khách hàng tốt tới mức nào, sự thỏa mãn của khách hàng trong quá trình khách hàng
đầu tư và cảm nhận dịch vụ do các CTCK cung cấp
Hệ thống môi giới chứng khoán đã ra đời từ rất sớm, đi cùng với sự ra đời của thị trường chứng khoán Hoạt động này ra đời và phát triển xuất phát từ đòi hỏi
khách quan của thị trường và đóng vai trò không thể thiếu đối với sự phát triển của
thị trường Do đó, có thể hiểu chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán thể hiện
ở những lợi ích mà nó mang lại cho các chủ thể tham gia thị trường nói riêng và nền
Trang 26kinh tế nói chung
Hoạt động môi giới chứng khoán có chất lượng khi đem lại mức lợi nhuận cao và uy tín cho công ty chứng khoán, đem lại cơ hội kinh doanh và đảm bảo về an
toàn tài chính cho khách hàng từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Chất
lượng môi giới có thể nhìn từ nhiều góc độ:
Đối với một CTCK, hoạt động môi giới chứng khoán được đánh giá là đạt chất
lượng khi tăng được vị thế, uy tín của công ty Đồng thời mở rộng được mối quan hệ với
khách hàng trong và ngoài nước, đem lại khoản thu thường xuyên cho công ty Để làm
được điều đó, CTCK phải cung cấp các dịch vụ môi giới tốt nhất phục vụ nhu cầu của
khách hàng, có sức cạnh tranh nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn và sinh lợi Đồng thời
phải tuân thủ đúng pháp luật và các quy định về chứng khoán
Đối với khách hàng, hoạt động môi giới được đánh giá là có chất lượng tốt
khi thông qua các dịch vụ môi giới mà khách hàng có được cơ hội đầu tư, kiếm
thêm được lợi nhuận Mức phí môi giới thấp cùng với thủ tục gọn nhẹ đơn giản,
nhập lệnh nhanh và chính xác Khách hàng được hưởng một số lợi ích đi kèm như :
mua bán kí quỹ, cầm cố, ứng trước tiền bán chứng khoán, …
1.2.2.2 Các tiêu chí đo lường chất lượng môi giới chứng khoán
Đối với CTCK việc đánh giá chất lượng hoạt động môi giới chính là để nhằm nâng cao và phát triển nó Do đó, công ty không thể chỉ đánh giá những lợi
ích hiện tại mà hoạt động môi giới đem lại mà còn đánh giá tiềm năng phát triển của
nó trong tương lai Điều đó có nghĩa là công ty cần phải quan tâm đến khả năng làm
thoả mãn lợi ích cho khách hàng của hoạt động này cũng như vai trò của nó đối với
nền kinh tế Vì vậy hệ thống các chỉ tiêu được đánh giá chất lượng hoạt động môi
giới bao gồm các chỉ tiêu xét trên lợi ích mà công ty đạt được từ hoạt động môi giới
và những chỉ tiêu phản ánh lợi ích mà hoạt động môi giới chứng khoán mang lại
cho khách hàng và cho nền kinh tế
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có một hệ thống các chỉ tiêu thống nhất nào phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán Tuy
nhiên, chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán có thể được đánh giá dựa trên
một số chỉ tiêu sau:
Trang 27Chỉ tiêu định tính: Đánh giá chất lượng môi giới chứng khoán thông qua cảm nhận của khách hàng
Chỉ tiêu định tính có thể được đánh giá khả năng hoạt động, tính chuyên nghiệp của sản phẩm dịch vụ, mức độ tác động của hoạt động môi giới chứng khoán
tới các hoạt động khác Đo lường về chất lượng môi giới chứng khoán chính là đo
lường sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ Hay có thể nói cách khác
mục đích cuối cùng của nâng cao chất lượng là làm khách hàng hài lòng nhất Do
đó, kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào chủ quan, thái độ và khả
năng nhận biết của khách hàng.haha
Parasuraman và cộng sự là những người đi đầu trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách cụ thể và chi tiết Dựa trên định nghĩa truyền thống về chất lượng
dịch vụ, Parasuraman đã xây dựng thang đo SERVQUAL để đánh giá chất lượng
dịch vụ gồm 21 biến phụ thuộc 5 thành phần để đo lường cảm nhận và kỳ vọng về
chất lượng dịch vụ, bao gồm: (1) Mức độ tin cậy, (2) mức độ đáp ứng, (3) năng lực
phục vụ, (4) mức độ đồng cảm, (5) phương tiện hữu hình Cụ thể như sau:
(1) Tin cậy (Reliability): Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng
hạn ngay lần đầu
(2) Đáp ứng (Responsiveness): Thể hiện sự sẵn lòng của nhân viên phục vụ
nhằm cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng
phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
khách hàng
giao dịch, các trang thiết bị để thực hiện dịch vụ
Chỉ tiêu định lượng: Chỉ tiêu định lượng được thể hiện cụ thể như sau:
Doanh thu từ hoạt động môi giới là tổng giá trị mà công ty thu được từ phí môi giới mà khách hàng phải trả khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của hoạt động
Trang 28môi giới của công ty Doanh thu từ hoạt động môi giới được phân tích ngoài số
tuyệt đối còn phải được xem xét trong mối tương quan với doanh thu từ các hoạt
động khác của ngân hàng, nghĩa là tỷ trọng doanh thu từ hoạt động môi giới trong
tổng doanh thu của công ty Chỉ tiêu này thể hiện khả năng sinh lời và vị trí của hoạt
động môi giới trong CTCK, tỉ trọng tăng chứng tỏ khách hàng hài lòng với dịch vụ,
tăng thúc đẩy giao dịch từ đó doanh thu và phí giao dịch tăng Chỉ tiêu này được
tính như sau:
𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑚ô𝑖 𝑔𝑖ớ𝑖 = 𝑀ứ𝑐 𝑝ℎí 𝑔𝑖𝑎𝑜 𝑑ị𝑐ℎ 𝑥 ∑ 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑔𝑖𝑎𝑜 𝑑ị𝑐ℎ Ngoài ra, chỉ tiêu này còn được xem xét dưới góc độ so sánh với tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của CTCK
Để bắt đầu tìm đến CTCK nào để giao dịch, phí môi giới là một trong những yếu tố đầu tiên mà khách hàng cân nhắc Một biểu phí cao hơn tương đối so với các
CTCK khác sẽ làm giảm tính cạnh tranh của nghiệp vụ môi giới chứng khoán và
điều đó làm giảm lãi thu được từ hoạt động môi giới của CTCK
Thị phần môi giới chứng khoán của các công ty chứng khoán là một trong những tiêu chí so sánh mức độ cạnh tranh của các công ty chứng khoán trên thị
trường Một công ty chứng khoán có thị phần càng lớn thì chiếm ưu thế càng cao
Để có thị phần môi giới chứng khoán lớn thì các công ty chứng khoán này phải thu
hút được một lượng lớn khách hàng; thu được nhiều doanh thu môi giới chứng
Trang 29khoán Như vậy thị phần môi giới chứng khoán là một trong những chỉ tiêu định
lượng rất quan trọng đo lường sự phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán
Số lượng tài khoản được mở mới và tài khoản được kích hoạt tại CTCK phản ánh mức độ thành công của nhân viên môi giới trong việc thu hút khách hàng Nếu
số lượng tài khoản khách hàng mở tại CTCK và số lượng tài khoản được kích hoạt
tăng lên trong điều kiện ổn định chứng tỏ việc thu hút khách hàng của CTCK đó tốt
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán
của Công ty chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động chính của CTCK nên nó hoạt động trong mối quan hệ với các hoạt động khác và các chủ thể khác nhau trên thị trường
Vì vậy, chất lượng môi giới của CTCK chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm
nhân tố chủ quan và khách quan
Nhân tố chủ quan
Mô hình tổ chức hoạt động của CTCK ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty CTCK có nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, nếu
có một mô hình tổ chức tốt giúp cho các hoạt động được chuyên môn hóa cao, tạo
điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả của từng hoạt động dẫn đến các hoạt động
kinh doanh của công ty ngày một phát triển Từ đó hoạt động môi giới cũng có hiệu
quả hơn và nâng cao được chất lượng
Con người là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển của hoạt động môi giới, là những người trực tiếp tiếp xúc, bán các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng
nên thành công của họ cũng chính là thành công của công ty Hiện nay các CTCK
luôn phải cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàng và thỏa mãn tối đa nhu cầu của
họ, muốn vậy nhân viên môi giới phải thường xuyên cập nhật thông tin thị trường,
nắm bắt được xu hướng biến động giá cả trong hiện tại và có những dự đoán về xu
hướng tăng giảm chứng khoán trong tương lai Nhà môi giới phải không ngừng
Trang 30nâng cao chuyên môn, trau dồi các kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng truyền đạt thông
tin, kỹ năng bán hàng Thêm vào đó họ còn phải luôn giữ vững đạo đức nghề
nghiệp, đây là yếu tố quan trọng để tạo lập niềm tin của khách hàng
Đối với CTCK cơ sở vật chất kỹ thuật cũng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực phục vụ, giảm chi phí, tăng cường hình ảnh cũng như uy tín của
công ty Cơ sở vật chất của các văn phòng và trụ sở làm việc đầy đủ sẽ tạo điều kiện
giúp cho hoạt động kinh doanh của công ty thuận lợi Đặc biệt là công nghệ thông
tin hiện đại sẽ hỗ trợ cho việc thu thập và xử lý thông tin; phân tích một cách đầy đủ
và kịp thời để từ đó giúp nâng cao chất lượng hoạt động của công ty
(iii) Uy tín của công ty
Uy tín được coi là điều kiện quyết định sự thành công trong kinh doanh của bất kể CTCK nào Nếu hoạt động mà không có uy tín sẽ không thể tồn tại trên thị
trường Những nhà đầu tư họ bao giờ cũng tìm đến những công ty có uy tín để được
tư vấn cho cá quyết định đầu tư của mình
Nhân tố khách quan Nhân tố khách quan là nhân tố bên ngoài tác động đến tất cả mọi CTCK và mọi hoạt động của nó Nhân tố này bao gồm:
Một nền kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của cả TTCK và kéo theo
đó là hoạt động môi giới Một môi trường kinh doanh tốt chính là tiền đề tốt nhất
cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Sự ổn định về chính trị cũng là điều
kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư tham gia vào thị trường
Với chính sách và pháp luật của nhà được đặt ra một cách khách quan cụ thể rõ ràng sẽ khiến cho thị trường phát triển; tạo được tâm lý an tâm cho các tổ chức, cá nhân
tham gia thị trường Các hoạt động của CTCK đều bị điều chỉnh trực tiếp bởi hệ thống
văn bản pháp luật của nhà nước nên việc bổ sung thay đổi các chính sách; các điều luật
liên quan đều có tác động đến hoạt động của công ty chứng khoán
Trang 31(vi) Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Khi TTCK có phát triển thì CTCK mới phát triển được Sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ tạo ra môi trường đầu tư tốt; thông tin được chính xác minh
bạch công bố kịp thời giúp cho nhân viên môi giới cung cấp được nhiều thông tin
cho khách hàng
(vii) Đối thủ cạnh tranh
Các công ty chứng khoán đều thực hiên dịch vụ môi giới chứng khoán Các CTCK muốn tồn tại và phát triển đều phải tạo được lợi thế cạnh tranh riêng cho
mình, được thể hiện ở chi phí giao dịch hợp lí, sản phẩm dịch vụ đa dạng, chất
lượng tư vấn tốt, trang thiết bị hiện đại,…
(viii) Nhận thức của nhà đầu tư
Điều này phụ thuộc rất lớn vào sản phẩm của các CTCK mang lại Nếu các sản phẩm và dịch vụ của CTCK mang lại nhiều lợi ích thì sẽ khiến cho các nhà đầu
tư có thói quen và sẵn sàng sử dụng dịch vụ của mình Việc nâng cao nhận thức của
các nhà đầu tư là một bài toán khó, phụ thuộc vào CTCK trong việc tuyên truyền
những sản phẩm dịch vụ của mình ra công chúng
Trang 32CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
2.1.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn chủ yếu xoay quanh hoạt động môi giới chứng khoán và chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty chứng
khoán Cụ thể, luận văn tập trung đánh giá thực trạng hoạt động môi giới chứng
khoán của công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại
thương Việt Nam (VCBS) Từ đó, luận văn sẽ kiến nghị một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng môi giới chứng khoán tại Công ty chứng khoán VCBS
2.1.2 Quy trình nghiên cứu
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Hình 2.1 cho thấy quy trình nghiên cứu của luận văn gồm 5 bước:
bước xác định những lý thuyết bản lề, những định nghĩa, những tiêu chí, tiêu chuẩn
tính cần tính toán để có thể làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu Để thực hiện điều
này, tác giả đã nghiên cứu kỹ một số tài liệu tham khảo là các nghiên cứu của các
tác giả đi trước, các giáo trình, luận văn … cũng như các văn bản quy phạm pháp
luật liên quan tới chứng khoán nói chung và hoạt động môi giới nói riêng… Từ đó,
tác giả xây dựng một nghiên cứu một cách khoa học và tuần tự
Trang 33 Bước 2 - Thu thập dữ liệu: Sau khi có những lý thuyết bản lề dành cho nghiên
cứu, tác giả tiến hành đi thu thập những dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu Những dữ
liệu này được tác giả thu thập từ cả các nguồn sơ cấp và nguồn thứ cấp
liệu, công bố trên thị trường chứng khoán Tổng hợp, phân tích số liệu, các chỉ tiêu cho
phép đánh giá chất lượng dịch vụ môi giới tại VCB cho phép tác giả đưa ra những nhận
định về nguyên nhân, thực trạng chất lượng hoạt động môi giới tại VCBS
tài khoản và thực hiện giao dịch qua VCBS
bước thứ 2, tác giả tiến hành phân tích các dữ liệu theo phương pháp so sánh, phân
tích nhằm tìm ra các lý do, biện giải cho việc xuất hiện những dữ liệu như vậy Để
làm được điều này trước tiên tác giả cần phải thông hiểu các lý thuyết bản lề, sau đó
tính toán và phân tích các số liệu xem trùng khớp như thế nào với các lý thuyết, có
thể so sánh cả với những trường hợp thực tế mà tác giả thu thập được Từ đó sẽ phát
hiện ra các vấn đề khác biệt trong trường hợp nghiên cứu
liệu đã tìm được ở bước trên, tác giả tiến hành phân tích điều kiện thực tế của môi
trường kinh tế vĩ mô, vi mô, môi trường ngành trong nghiên cứu, các điều kiện thực
tiễn của VCBS để phát hiện ra những vấn đề cũng như nguyên nhân của những vấn
đề phát sinh trong hoạt động môi giới tại VCBS
tìm ra, tác giả phân tích và dự báo các điều môi trường vĩ mô, vi mô, quy phạm
pháp luật, định hướng của nhà nước để tìm ra những giải pháp cải thiện chất lượng
của hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS) trong
Trang 34những năm gần đây đã đạt được những thành tựu và còn tồn tại những hạn chế gì?
Nguyên nhân?
Việt Nam (VCBS) cần làm gì để cải thiện chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin/dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu thứ cấp mà luận văn sử dụng bao gồm:
niên của các công ty chứng khoán khác như SSI, VNDirect, MBS…;
Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra/khảo sát khách hàng
là các nhà đầu tư mở tài khoản và giao dịch qua VCBS
- Mục tiêu khảo sát/điều tra: Đo lường chất lượng dịch vụ môi giới chứng
khoán do VCBS cung cấp
giao dịch trên thị trường chứng khoán qua VCBS Mô tả về đối tượng khảo sát/điều
tra được thể hiện ở Bảng 2.1 và Bảng 2.2 dưới đây:
Bảng 2.1:Thống kê về tuổi của đối tượng khảo sát
Trang 35Bảng 2.2:Thống kê về thu nhập của đối tượng khảo sát Thu nhập (triệu đồng) Số người trả lời Tỷ lệ (%)
Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên kết quả khảo sát
- Hình thức khảo sát/điều tra: 250 bảng câu hỏi được thực hiện qua online
survey và phỏng vấn trực tiếp khách hàng đến công ty Tổng cộng nhận lại được
250/250 phiếu trả lời, trong đó có 03 phiếu không hợp lệ do thiếu thông tin Như
vậy, có tổng 247 phiếu trả lời về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của nghiên cứu và
kích cỡ mẫu đề ra cho nghiên cứu
biết kết quả vận hành như thế nào và trên cơ sở đó cải tiến tốt hơn Những đại lượng
đo lường cần phải được định nghĩa và đánh giá từ những điều kiện khách hàng
mong đợi Để đo lường chất lượng dịch vụ có thể sử dụng thang đo SERVQUAL
Thang đo này là công cụ do các tác giả Parasuraman, Zeithaml và Berry đề xướng,
dựa trên lí thuyết khoảng cách giữa cảm nhận của khách hàng về biểu hiện của dịch
vụ cụ thể được cung cấp bởi một công ty với những tiêu chuẩn của một dịch vụ
hoàn hảo (trong cùng lĩnh vực) mà họ còn mong đợi sẽ quyết định chất lượng dịch
vụ Kết quả phân tích giúp cho nhà quản lí ra quyết định cải tiến chất lượng dịch vụ
ngày càng tốt hơn Công cụ SERVQUAL rất hữu ích trong việc làm nổi bật những
điểm mạnh trong hoạt động dịch vụ của một công ty, cũng như những điểm cần
phải cải tiến nhằm đáp ứng mong đợi của khách hàng Hơn nữa, SERVQUAL cũng
dùng để đánh giá sự thay đổi mong muốn, kì vọng và cảm nhận chất lượng của
khách hàng theo thời gian
Luận văn kết hợp mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman và căn cứ vào thực tế quan sát được tại sàn giao dịch chứng khoán để hình thành nên câu hỏi
Trang 36khảo sát, gồm 5 yếu tố thuộc về chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán Cụ thể:
Tác giả thu thập ý kiến khách hàng thông qua bảng hỏi gồm 20 biến và được nhóm
thành 5 nhóm nhân tố đặc trưng cho chất lượng dịch vụ : (i) Tin cậy (Reliability):
Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng hạn ngay lần đầu; (ii) Đáp
ứng (Responsiveness): Thể hiện sự sẵn lòng của nhân viên phục vụ nhằm cung cấp
dịch vụ kịp thời cho khách hàng; (iii) Năng lực phục vụ (Assurance): Thể hiện trình
độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng; (iv) Đồng
cảm (Empathy): Thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng; (v)
Phương tiện hữu hình (Tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân
viên phục vụ, các trang thiết bị để thực hiện dịch vụ Bảng hỏi sử dụng thang đo
Likert (từ 1 đến 5) và được thiết kế chi tiết như bảng 2.3 dưới đây:
Bảng 2.3: Nội dung khảo sát/điều tra STT Mã hóa Diễn giải
Tin cậy (Reliability)
nước về chứng khoán
quá trình thực hiện các cam kết của hợp đồng
Đáp ứng (Responsiveness)
nhanh chóng; đồng thời cung cấp dịch vụ hấp dẫn và tốt nhất cho bạn
thông tin nhằm hỗ trợ quá trình đầu tư của bạn
bạn về dịch vụ
bạn qua các kênh trực tiếp, điện thoại
suất ứng trước,…) hấp dẫn, phù hợp khả năng tài chính của bạn
Trang 37STT Mã hóa Diễn giải
(Responsiveness)
Năng lực phục vụ (Assurance)
đào tạo bài bản về kiến thức nghiệp vụ và chuyên môn
phân tích, báo cáo vĩ mô, cảnh báo rủi ro,…) cho bạn đảm bảo tính đa chiều và chất lượng tốt
lí công việc tốt
(Assurance)
Đồng cảm (Empathy)
(Empathy)
Phương tiện hữu hình (Tangibles)
Trading, Web Trading, Mobile Trading,…) đầy đủ, nhanh chóng, bảo mật và thân thiện
giao dịch của bạn
(Tangibles)
Đánh giá chung
giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam (VCBS)
Nguồn: Tác giả
Trang 382.2.3 Phương pháp xử lý thông tin/dữ liệu
Để đánh giá được toàn bộ thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS, việc phân tích công tác qua các chỉ tiêu định tính và định lượng là điều vô
cùng cần thiết Với những dữ liệu thu thập được, tác giả tự tính toán và đánh giá các
chỉ tiêu sau đó tổng hợp lại và đánh giá lại bức tranh toàn cảnh hoạt động môi giới
chứng khoán tại VCBS Từ đó, tác giả đưa ra những đánh giá của mình về hoạt
động môi giới chứng khoán tại VCBS một cách khách quan nhất
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá được sự thay đổi của cơ cấu các khoản mục doanh thu và lợi nhuận của hoạt động môi giới chứng khoán trong sự so
sánh với toàn bộ doanh thu và lợi nhuận tại VCBS
Phương pháp phân tích theo xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách tính toán giá trị chênh lệch và tỷ lệ % chênh lệch của các chỉ số qua nhiều năm Trong
luận văn này, học viên áp dụng phương pháp này để phân tích biến động của doanh
thu, và lợi nhuận qua các năm Tỷ lệ % chênh lệch qua các năm cho thấy xu hướng
tăng/giảm (tốt lên/xấu đi) của chỉ số cần phân tích là doanh thu và lợi nhuận
Phương pháp này giúp ích cho việc so sánh các chỉ tiêu định lượng của hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS với các công ty chứng khoán khác
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
2.2.4.1 Các chỉ tiêu định lượng
Doanh thu môi giới = Mức phí giao dịch x ∑ Giá trị giao dịch
Tổng doanh thu
Trang 39- Gia tăng số lượng tài khoản mở mới và tài khoản được kích hoạt
2.2.4.2 Các chỉ tiêu định tính
và đúng hạn ngay lần đầu
nhằm cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng
phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
nhân khách hàng
- Phương tiện hữu hình (Tangibles) : Thể hiện mạng lưới chi nhánh, Phòng giao
dịch, các trang thiết bị để thực hiện dịch vụ
Trang 40CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
3.1 Khái quát về Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam
3.1.1 Quá trình thành lập và phát triển
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) - thành viên 100% vốn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam,
được thành lập theo Quyết định số 27/QĐ-HĐQT ngày 07/01/2002 của Chủ tịch
Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, hoạt động trong lĩnh
vực kinh doanh chứng khoán Công ty được cấp phép hoạt động đối với tất cả các
nghiệp vụ chứng khoán theo Giấy phép số 09/GPHĐKD do Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước cấp ngày 24/04/2002 VCBS chính thức khai trương hoạt động từ ngày
18/6/2002 với số vốn điều lệ ban đầu là 60 tỷ đồng
Ngày 24/01/2006, theo Quyết định số 14/NĐ-NHNT.HĐQT, công ty đã thực hiện tăng vốn điều lệ lên 200 tỷ đồng Ngày 27/02/2009, Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước đã ra quyết định điều chỉnh Giấy phép thành lập và hoạt động của VCBS với
mức vốn điều lệ 700 tỷ đồng Ngày 29/12/2017, được sự chấp thuận của Ủy ban
chứng khoán Nhà nước, VCBS nâng vốn điều lệ lên 1000 tỷ đồng
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
vụ chứng khoán và kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật
(Bằng chữ: Một nghìn tỷ đồng)
Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội