Võ Thanh Thu - Cao Thị Việt Hương_Tạp chí cộng sản số 5 149 năm 2008 1.2 Các kênh huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.2.1 Nguồn huy động truyền thống: Tín dụng chính thức: Vay t
Trang 1Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CÁC KÊNH HUY ĐỘNG VỐN Ở VIỆT NAM
1.1 Khái quát doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNVVN) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé
về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành baloại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ
và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêunhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có sốlượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 laođộng Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ởnước mình Ở Việt Nam, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có
số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới
300 người được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa (không có tiêu chí xác định cụ thểđâu là doanh nghiệp siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa)
Năm họat động chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ
-Hậu cần nội vi: Gồm các họat động, như: bốc xếp, lưu kho, kiểm tra hàng tồn kho,lập chương trình vận chuyển từ nhà cung cấp tới doanh nghiệp
-Sản xuất: Gồm các họat động, như: chế biến từ nguyên vật liệu thành sản phẩm, bánthành phẩm, vận hành và bảo trì thiết bị, lắp ráp,…
-Hậu cần ngọai vi: Gồm các họat động, như: tập hợp, dự trữ, đưa sản phẩm đến nơitiêu thụ
-Thương phẩm hóa: Gồm các họat động, như: xử lý đơn đặt hàng, lựa chọn kênh phânphối, xúc tiến bán hàng,…
-Dịch vụ khách hàng: Gồm các họat động, như: dịch vụ tiền mại và dịch vụ hậu mại
Bốn họat động phụ doanh nghiệp vừa và nhỏ
-Tiếp liệu
-Phát triển công nghệ
-Quản trị nguồn nhân lực
-Tổ chức bộ máy doanh nghiệp
Chức năng Quản trị sản xuất – dịch vụ
-Quản trị sản xuất – dịch vụ là tiến hành biến đổi nguyên liệu thô thành hàng hóa haydịch vụ thông qua sử dụng nguồn nhân lực, nguyên liệu và máy móc
- Đầu vào của hệ thống sản xuất:
Hoạch định sản phẩm: đánh giá, thiết kế và phát triển sản phẩm
Quản trị nguồn nguyên liệu: quản lý tất cả mọi khâu trong việc mua hàng, cung ứng,kiểm soát, vận chuyển hàng hóa và kiểm soát chi phí tồn kho
Lao động: kiến thực, kỹ năng, tình trạng sức khỏa, và kiểu mẫu hành vi
Vốn: đạt mức hợp lý với loại hình và qui mô kinh doanh
Quản trị: sự phối hợp các thành phần trên vào sản xuất
Trang 2-Quá trình chế biến:
Địa điểm nhà máy, bố trí nhà máy
Quản trị nguồn nguyên liệu (vận chuyễn, đóng gói, tồn trữ, )
Bảo trì (nhà xưởng, kiến trúc, máy móc, thiết bị)
Hoạch định lịch trình sản xuất,
Kiểm tra sản xuất
-Đầu ra của hệ thống sản xuất:
Kiểm soát chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Kiểm soát chi phí
1.1.2 Đặc điểm:
Năng lực tài chính:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 95% tổng số công ty đang hoạt động tại ViệtNam, song phần lớn đang gặp khó khăn và có thể có nhiều doanh nghiệp phá sản.Theo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoảng 20% doanh nghiệp khó có thể tiếptục hoạt động Ngoài nhóm này, 60% thành viên hiệp hội đang chịu tác động của khókhăn kinh tế, nên sản xuất sút kém Lạm phát đang làm các công ty không kiểm soátđược chi phí, mất thị trường và không đủ vốn để duy trì sản xuất 20% còn lại là cáccông ty chịu ít ảnh hưởng và vẫn trụ vững do trước nay ít phải nhờ đến nguồn vốn vay
và được các lãnh đạo có kinh nghiệm dẫn dắt
Theo cuộc điều tra hơn 2.800 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại 10 tỉnh, thành phốcho thấy trong những trở ngại mà DN gặp phải thì thiếu vốn, ít khả năng tiếp cận vốn
là vấn đề nghiêm trọng nhất
Cũng theo kết quả cuộc điều tra, do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trungương phối hợp với Tổ chức Danida (Đan Mạch) tiến hành, các khó khăn sau thiếuvốn là mức độ cạnh tranh và sau đó mới là sự hạn chế về cầu đối với sản phẩm và khókhăn về đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh
Chính vì vậy, khá nhiều doanh nghiệp được hỏi cho rằng sự hỗ trợ tốt nhất cơ quanquản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp là việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếpcận tín dụng một cách dễ dàng và ít tốn kém hơn, sau đó mới đề cập tới việc hỗ trợ để
có được mặt bằng sản xuất kinh doanh cũng như cải thiện chính sách cho doanhnghiệp tư nhân, dỡ bỏ các thủ tục hành chính, hỗ trợ hoạt động tiếp thị
Cụ thể, theo đánh giá mặc dù thời gian qua, Nhà nước đã cải thiện đáng kể khả năngtiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp bằng cách mở rộng các loại tài sản có thể dùng đểthế chấp, tuy nhiên, điều này cũng chưa giải quyết được cơ bản tình trạng thiếu vốn,thiếu nguồn tín dụng từ các DNVVN
Tuy nhiên Dù khó khăn nhưng năm 2008 vẫn có 65,3 ngàn doanh nghiệp vừa
và nhỏ được khai sinh, cao hơn cả năm 2007.Trước những khó khăn về kinh tế thì đốitượng bị tác động nhiều nhất chính là các DNVVN Tuy nhiên, một điểm khá nổi bật
là càng khó khăn thì nhiều SME trong nước càng chứng tỏ được bản lĩnh, tài ứng biếncủa mình
Trang 3Kinh tế suy thoái, 80% DNVVN vẫn sinh lợi: Năm 2008, bình quân một quý
có 7.700 DNVVN ngừng hoạt động kinh doanh thì trong quý I-2009 chỉ có hơn 2.500DNVVN Từ năm 1991 đến nay, cả nước có 379 ngàn SME đã đăng ký, trong đó có303.500 doanh nghiệp đang thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước Điều đó cho thấy
kể cả khi kinh tế suy thoái vẫn có gần 80% SME kinh doanh có lợi nhuận để nộp thuế.Trong khi đó, DNVVN thuộc các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinhtế), sau hai năm hoạt động, số DN thực hiện nghĩa vụ thuế chỉ còn 60%-70% so vớicác DN đăng ký kinh doanh; sau bảy năm chỉ còn 40%-50%
Mặc dù tình hình kinh tế hết sức khó khăn nhưng năm 2008 vẫn có 65,3 ngànDNVVN được khai sinh, cao hơn cả năm 2007 Riêng hai tháng đầu năm nay cũng có10,5 ngàn DNVVN ra đời Điều này cho thấy DN vẫn tin vào thay đổi về cải cáchhành chính từ phía nhà nước Ngoài ra, các giải pháp kích cầu như bù 4% lãi suất chovay đã bắt đầu phát huy tác dụng hỗ trợ DN rất lớn
Ít bị tác động vì ít quan hệ với ngân hàng: Tại Việt Nam chỉ có khoảng 50%DNVVN có quan hệ với ngân hàng, các tổ chức tín dụng, số còn lại huy động vốn từanh em, bạn bè, người thân Đây có thể là lý do khiến các DNVVN trong nước chịutác động của khủng hoảng ít hơn so với các DN nước ngoài
Hệ thống quản lý chất lượng:
Môi trường kinh doanh ở phần lớn doanh nghiệp này còn nhiều rủi ro,DNVVN có số vốn chủ sở hữu rất thấp, ít có tài sản thế chấp cầm cố, không có ngườibảo lãnh, cũng không lập được phương án kinh doanh có đủ sức thuyết phục Báo cáotài chính hầu hết không đủ độ tin cậy Tỷ lệ nợ vay ngân hàng quá hạn cao hơn so vớicác tổng công ty và hộ nông dân Nhiều doanh nghiệp không thực hiện đúng chế độthống kê kế toán; số liệu phản ánh không chính xác tình hình sản xuất kinh doanh vàtài chính của mình
Hầu hết các cơ sở sản xuất manh mún, phân tán, trình độ công nghệ, thiết bịquá lạc hậu, lao động thủ công nên sản phẩm khó cạnh tranh với các doanh nghiệplớn.Trình độ cán bộ quản lý và lao động của các DN vừa và nhỏ còn nhiều hạn chế,khả năng quản trị điều hành thấp Hoạt động kinh doanh chủ yếu theo thương vụ,chạy theo phong trào mà không có chiến lược phát triển nên dễ đổ bể Các DNVVNvới trình độ công nghệ, quản lý và khả năng tài chính còn hạn chế, quy mô nhỏ, chiphí sản xuất cao, kiểu dáng sản phẩm đơn điệu, chất lượng sản phẩm chưa cao vàthiếu mạng lưới phân phối, tiếp thị, nhiều doanh nghiệp khó có thể áp dụng ngay tiêuchuẩn quốc tế đối với sản phẩm, hàng hóa của mình Do vậy, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ rất khó tiếp cận trực tiếp được với thị trường nước ngoài Các doanh nghiệpcòn thiếu thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, đối thủ cạnh tranh cùng loạikhiến doanh nghiệp khó có những bước đi thích hợp để tạo lợi thế cạnh tranh hànghóa cùng loại Môi trường kinh doanh, pháp lý không ổn định và năng lực quản lý cònyếu
Trang 41.1.3 Vai trò
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữnhững vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồngnhư sau:
Nguồn thu ngân sách từ DNNN hiện nay chiếm tỷ trọng lớn, nhưng hiềm mộtnỗi nếu như tình hình hiện nay thì để có 1 đồng thu ngân sách từ DNNN thì nhà nướccũng phải trợ cấp (cả cứng lẫn mềm) cho DNNN 1 đồng (ở đây chưa kể đến hoạtđộng bảo toàn vốn) Hơn nữa, một khi gia nhập WTO thì việc trợ cấp này không thểduy trì, và hệ quả là nguồn thu từ DNNN sẽ khó được đảm bảo Ngân sách nhà nước,
vì vậy, phụ thuộc ngày càng nhiều vào các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt quantrọng là từ thuế do các DN dân doanh đóng góp
Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thườngchiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xétcác doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vàotổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể
Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệpnhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồngthầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, doanhnghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế
Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ,nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động
Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ
và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp rápthành một sản phẩm hoàn chỉnh
Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ởnhững trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắpcác địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng vàtạo công ăn việc làm ở địa phương
Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực dân doanh sau một năm gia nhập WTO
Hội nhập WTO tạo môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho doanh nghiệpvừa và nhỏ ở khu vực kinh tế tư nhân phát triển Nhìn lại thời kỳ bao cấp, quản lý nềnkinh tế theo phương thức kế hoạch hóa tập trung, khu vực kinh tế tư nhân khôngnhững không có luật chính thức để điều tiết sự hoạt động, mà còn bị sự "kỳ thị" của
xã hội Đến nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực kinh tế tư nhân đượchoạt động bình đẳng trong một môi trường pháp lý chung: kể từ năm 2006 các khuvực kinh tế của Việt Nam, không kể quy mô đều chịu sự điều tiết chung của Luật Đầu
tư, Luật Doanh nghiệp, các Bộ luật về thuế Ngoài ra, vai trò của doanh nghiệp tưnhân ngày càng được nâng cao, doanh nhân làm ăn có hiệu quả, thành đạt được xã hộicoi trọng
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện thuận lợi tiếp cận với thị trường
thế giới Từ năm 2002 trở lại đây, mọi doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh
tế, kể cả hộ cá thể có đăng ký kinh doanh hợp pháp đều có quyền xuất - nhập khẩu
Trang 5trực tiếp với nước ngoài Các rào cản về giấy phép, hạn ngạch xuất - nhập khẩu giảmrất nhiều; việc đi lại của các cá nhân Việt Nam ra nước ngoài hết sức dễ dàng, khiếncác doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện thuận lợi tiếp cận với thị trường thế giới Môi trường kinh doanh minh bạch và công khai Nếu trước đây các thông tin về cơchế chính sách, thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp chưa được công khai đầy đủ, thường thay đổi, khiến cho các doanh nghiệp,đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận không kịp thời, tốn nhiều thời gian và tiềnbạc thì nay từ trung ương đến địa phương, các cơ quan của nhà nước đều công khaicông bố dưới nhiều hình thức các cơ chế chính sách có liên quan đến doanh nghiệp.Môi trường kinh doanh minh bạch, rõ ràng đã ảnh hưởng tích cực đến sự phát triểncủa các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thủ tục hành chính thuận lợi hơn – cơ hội tốt để loại trừ tham nhũng.Chương trình cải cách thủ tục hành chính đang từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhậpquốc tế Cơ chế "một cửa" ở các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất; hoànthiện cơ chế đăng ký kinh doanh; hoàn thiện thủ tục hải quan, thủ tục nộp thuế đãgiúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm chi phí thời gian và tiền bạc, nhờđó màtăng năng lực cạnh tranh
Nhờ có hội nhập, tính tự chủ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên Ởthời kỳ đóng cửa nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều hoạt động dưới sựquản lý và can thiệp khá sâu của Nhà nước: mua nguyên vật liệu ở đâu, bán cho ai đều
có địa chỉ cụ thể Nay mọi hoạt động của các doanh nghiệp đều do chủ đầu tư quyếtđịnh
Cùng với tiến trình hội nhập, thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế quangiảm Giá nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu phục vụ đầu vào của doanh nghiệp giảm,dẫn đến chi phí sản xuất hàng hóa tại Việt Nam giảm, điều này rất có ý nghĩa đối vớicác doanh nghiệp vừa và nhỏ khi nền sản xuất hàng hóa Việt Nam phụ thuộc nhiềuvào nhập khẩu; giúp các doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi hơn trong việc đưa hànghóa thâm nhập vào thị trường thế giới Việt Nam được hưởng Quy chế Tối huệ quốctại 164 nước trên thế giới nên nhiều ngành hàng, mặt hàng được miễn giảm thuế, xóa
bỏ hạn ngạch Đây chính là nguyên nhân cơ bản tác động tích cực đến hoạt động xuấtkhẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; sự cạnh tranh trên thị trường tăng, tạo độnglực thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ, nângcao chất lượng sản phẩm, hạ chi phí để nâng cao sức cạnh tranh
Những hạn chế của tiến trình hội nhập WTO đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Sự chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế ở tất cả các cấp chưa đáp ứng yêu cầu Hiện tại,các ngành, các bộ đang trong quá trình xây dựng chương trình kế hoạch hội nhậpquốc tế Nhiều nơi chưa nhận diện rõ hội nhập mang lại cơ hội gì, thách thức gì mộtcách cụ thể Vấn đề này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng cơ chế chính sách đápứng yêu cầu hội nhập, gây khó khăn cho các doanh nghiệp, trong đó có các doanhnghiệp vừa và nhỏ Bởi các doanh nghiệp này chưa nhận diện rõ cơ hội và thách thức
do hội nhập kinh tế quốc tế và WTO mang lại, do vậy chưa xây dựng cho mình chiếnlược kinh doanh phù hợp
Trang 6Môi trường kinh doanh của Việt Nam đã cải thiện nhiều, nhưng chưa nhanh, chưathực sự mang tính cách mạng Theo xếp hạng của "Doing Business - 2007" - một tổchức có uy tín, Việt Nam xếp hạng 104/175 nước tham gia khảo sát, tụt 6 bậc so vớinăm 2006; ở hàng năng lực cạnh tranh tụt 3 bậc, đứng thứ 132 trên thế giới Ngày 15-12-2007, tại Thành phố Hồ Chí Minh, ở hội thảo về "Đánh giá sự tác động của WTOđến nền kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập", đa số các chuyên gia cho rằng, sựthay đổi cơ chế quản lý chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO, do đó chưa tác độngmạnh nhằm mang lại những thay đổi lớn cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng
Nguồn vốn đầu tư trong nước tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế, điều kiệnnâng cấp và hiện đại hóa cơ sở vật chất rất thấp, khó có khả năng hội nhập sâu rộngtrong điều kiện cạnh tranh gay gắt
Thiếu thông tin về thị trường, trình độ quản lý doanh nghiệp yếu Đa số các doanhnghiệp vừa và nhỏ chưa có chiến lược kinh doanh, chưa xây dựng chương trình hộinhập khi Việt Nam đã gia nhập WTO Theo số liệu khảo sát các doanh nghiệp vừa vànhỏ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 50% số giám đốc các công ty chưa thamgia các lớp đào tạo quản trị kinh doanh, nhiều người trong số họ chưa tốt nghiệp phổthông, trình độ tiếng Anh, sử dụng công nghệ thông tin kém, khiến tỷ lệ doanh nghiệp
bị đóng cửa khá cao, bình quân trên 10%/năm
Theo cam kết WTO, Việt Nam bỏ tài trợ trực tiếp đối với hoạt động xuất khẩu (tài trợđèn đỏ) Điều này sẽ ảnh hưởng nhất định đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khitham gia xuất khẩu hàng hóa ra thị trường khu vực và thế giới
Những quy định, chuẩn mực kinh doanh mới như: bảo hộ quyền sở hữu tài sản trí tuệ;vấn đề rào cản kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh quốc tế, quản lý tiêu chuẩn hóaquốc tế, chuẩn mực nâng cao tính cạnh tranh cho doanh nghiệp đã tác động khôngnhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới được thành lập,kinh nghiệm kinh doanh còn nhiều hạn chế
Việc Việt Nam chưa được thừa nhận có nền kinh tế thị trường Theo cam kết khi gianhập WTO, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường cho đến năm 2018.Điều này đã tác động đến khả năng tự vệ, chống bị kiện phá giá của các doanh nghiệpvừa và nhỏ ở Việt Nam trong hoạt động thương mại quốc tế Bên cạnh đó, nền côngnghiệp phụ trợ của Việt Nam chưa phát triển, vì vậy, đa số các doanh nghiệp vừa vànhỏ bị lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu; nhập siêu ở Việt Nam gia tăng.Năm 2007, nhập siêu có thể lên tới 9 - 10 tỉ USD Nhập khẩu nhiều dẫn tới chi phí vàrủi ro kinh doanh tăng, tác động hạn chế đến khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp vừa và nhỏ ở trong nước cũng như thị trường quốc tế
Võ Thanh Thu - Cao Thị Việt Hương_Tạp chí cộng sản số 5 (149) năm 2008 1.2 Các kênh huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Nguồn huy động truyền thống:
Tín dụng chính thức: Vay từ ngân hàng
Hệ thống ngân hàng Việt nam có 2 cấp độ ngân hàng nhà nước và ngân hàngthương mại, gồm các loại sau:
Trang 7(1) Các ngân hàng quốc doanh (" State Owned Commercial Banks" ):
Các ngân hàng này là những đơn vị lớn nhất của hệ thống ngân hàng, bởi vì nóchiếm khoảng 75% toàn bộ tài sản của hệ thống ngân hàng trong nước
Mặc dù đa số các hoạt động tín dụng của các ngân hàng này là tài trợ ngắn hạn,nhưng những năm gần đây các ngân hàng quốc doanh đã tăng đáng kể phần tín dụngtrung và dài hạn trong toàn bộ các loại tín dụng Đến giữa năm 1996, ngân hàng Nhànước ước tính một cách tổng thể rằng phần tín dụng có kỳ hạn do các ngân hàng quốcdoanh cấp chiếm khoảng 30% trong toàn bộ các khoản tín dụng Tuy nhiên con số nàychỉ là con số trung bình không cho biết sự chênh lệch giữa các ngân hàng Để thamkhảo, phần tín dụng có kỳ hạn trong toàn bộ tín dụng cấp của ngân hàng BIDV đếncuối năm 1995 lên đến hơn 58%.Tuy nhiên có vẻ như các doanh nghiệp thuộc khuvực nhà nước vẫn được hưởng nhiều các khoản tín dụng có kỳ hạn (đến giữa năm
1996, theo ngân hàng Nhà nước thì các doanh nghiệp nhà nước nhận được 2/3 số tàitrợ có kỳ hạn) Như vậy, những chỉ thị của ngân hàng Trung Ương gửi các ngân hàng
và yêu cầu các ngân hàng đảm bảo việc tiếp cận các khoản tín dụng công bằng giữacác doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân có vẻ còn chưa có kết quả.Nhưng đúng là các quy định theo Thông tư mới đây của Thống đốc ngân hàng Nhànước số 417/ CV/ NH 14 đề ngày 30/5/97, cho phép các ngân hàng này tài trợ 100%tổng chi phí dự án đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước mà không yêu cầu có bảolãnh, sẽ ít tạo điều kiện lập lại sự cân bằng Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,chiếm khoảng 70% khách hàng của các ngân hàng quốc doanh, phần tín dụng có kỳhạn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ này nhận được có thể được đánh giá bằngkhoảng 15% toàn bộ các khoản tín dụng mà các ngân hàng này cấp Một trong những
lý do giải thích lượng tín dụng có kỳ hạn do các ngân hàng quốc doanh cấp không cao
là ở chỗ các ngân hàng này không có đủ nguồn tài chính dài hạn Nhưng gần đây, một
số ngân hàng đã được giao quản lý "nguồn tài trợ" do các đối tác nước ngoài cấp,hoặc đã ký những Hiệp định Tham gia với các Dự án Phát triển do các bên cho vayvốn nước ngoài tài trợ Theo các thoả thuận này, các ngân hàng sẽ có nguồn tài chínhcần thiết để cấp tín dụng có kỳ hạn cho những khách hàng đáp ứng được một số điềukiện, nhất là điều kiện về quy mô
(2) Các ngân hàng cổ phần (" Joint Stock Commercial Banks" ):
Các ngân hàng này thường có quy mô nhỏ, hiện nay có khoảng 50 ngân hàng và2/3 trong số đó đặt tại các thành phố, nhất là tại TP HCM Trong số các cổ đông củanhóm ngân hàng này, ta thấy có các doanh nghiệp hay các tổ chức nhà nước
Các ngân hàng này chủ yếu là hướng vào hoạt động tín dụng ngắn hạn Tuynhiên, có một số ngân hàng trong số đó gần đây cũng hoạt động cấp tín dụng trung vàdài hạn, mà họ đã xác định là một trong những hướng phát triển trong tương lai Vấn
đề cơ bản mà các ngân hàng cổ phần này gặp phải là thiếu nguồn tài chính dài hạn.Tuy nhiên một số ngân hàng cũng được quản lý nguồn tài trợ có nguồn gốc từ bênngoài, hay đã ký với các Dự án Phát triển kinh tế những Hiệp định cho phép các ngânhàng này tiếp cận với nguồn tài trợ để có thể tăng lượng các khoản vay có kỳ hạn.Như vậy, đối với các ngân hàng này thì ít nhất vấn đề cũng được giải quyết một phần
Trang 8(3) Các ngân hàng liên doanh:
Đó là các ngân hàng liên doanh giữa một ngân hàng quốc doanh với một hoặcnhiều đối tác nước ngoài Các ngân hàng này chịu sự chi phối của quy định với ngânhàng nước ngoài ("Regulations Foreign Banks Branchs anh Joint-venture banksoperating in Việt nam")
Mặc dù luôn ưu tiên hướng tới tín dụng thương mại ngắn hạn, các ngân hàngliên doanh cũng hoạt động trong việc cấp tín dụng có kỳ hạn, phần này chiếm trungbình khoảng 20% so với toàn bộ lượng tín dụng mà các ngân hàng liên doanh cấp.Các ngân hàng này quan tâm nhiều đến các khách hàng là những doanh nghiệp quốcdoanh lớn và những doanh nghiệp một phần (liên doanh) hay toàn bộ vốn nước ngoàihơn là đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các khoản tín dụng có kỳ hạn mà các ngânhàng này cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt nam chủ yếu là dành cho cácdoanh nghiệp quốc doanh nhỏ và các doanh nghiệp tư nhân có quy mô trung bình
(4) Các ngân hàng nước ngoài: (Foreign Banks" )
Đó là các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài Có khoảng 20 ngân hàng đã cógiấy phép thực hiện các hoạt động ngân hàng tại Việt nam
Trừ một số trường hợp đặc biệt, các ngân hàng cấp tín dụng có kỳ hạn:
- Cho các công ty liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: với điều kiện
là các doanh nghiệp này có thể đưa ra các bảo lãnh bằng các tài sản nằm ngoài Việtnam;
-Cho các doanh nghiệp quốc doanh lớn: với điều kiện các khoản vay phải được Nhànước đảm bảo hoặc nếu không thì phải là các ngân hàng Việt nam hàng đầu đảm bảo Hơn nữa, các khoản vay luôn được ghi bằng ngoại tệ Những ngân hàng này cũng cấp
"tín dụng người mua" cho cùng khách hàng, trong chừng mực mà họ được bảo đảmcác rủi ro có thể xảy ra bởi các tổ chức thể chế tại các quốc gia liên quan (COFACEcủa Pháp, HERMES của Đức, và DUCROIRE của Bỉ ) Như vậy, các doanh nghiệpvừa và nhỏ khó mà hy vọng nhận được tài trợ từ các ngân hàng này
Huy động vốn từ ngân hàng một trong những hình thức được sử dụng nhiềunhất ở các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Đối với cách thức huy động vốn này,doanh nghiệp có thể vay vốn ngắn hạn hoặc dài hạn, do vậy có thế đáp ứng được nhucầu về vốn của doanh nghiệp cho các mục tiêu khác nhau Thêm vào đó, lãi suất vayngân hàng được xem là chi phí của doanh nghiệp, do vậy doanh nghiệp được giảmmột phần thuế thu nhập Tuy nhiên, để vay được vốn ngân hàng, các doanh nghiệpphải có bản báo cáo kế hoạch sử dụng vốn cụ thể để ngân hàng thẩm định cũng nhưcần có tài sản để thế chấp cho các khoản vay đó Ngoài ra, doanh nghiệp cần tuân thủnhững quy định do ngân hàng đề ra trong việc sử dụng nguồn vốn vay Kết quả làdoanh nghiệp giảm sự chủ động trong việc vay và sử dụng vốn vì phụ thuộc vào đánhgiá của ngân hàng cũng như các quy định do các tổ chức tín dụng đặt ra Mặc dù được
sử dụng phổ biến nhất ở Việt nam, nhưng có thể kể đến các nhược điểm chủ yếu của
Trang 9phương án này là chi phí vốn khá lớn (lãi suất cao), thủ tục phức tạp, thời gian thẩmđịnh dự án cho tới khi ký hợp đồng tín dụng và bắt đầu giải ngân có thể tới hàng năm,hoặc hơn, điều này làm lỡ nhiều cơ hôị của nhà đầu tư Thêm nữa, các điều kiện củaNgân hàng đưa ra thường là khá ngặt nghèo, điều kiện cho vay thường là giảm thiểutối đa rủi ro cho Ngân hàng Bù lại, chủ đầu tư không phải chia sẻ phần lợi nhuận thuđược với bất kỳ ai, so với một vài phương án khác…
Tín dụng phi chính thức: Vay từ gia đình bạn bè hoặc chính các đối tác
thông qua việc ứng tiền trước hay được chấp nhận trả tiền nhận hàng
Các công ty mua hàng hoá và dịch vụ từ các nhà cung cấp và sẽ trả tiền saumột quãng thời gian nhất định Hoặc các khách hàng đặt mua phải trả trước một sốtiền nhất định cho sản phẩm/ dịch vụ sẽ nhận được trong tương lai Hình thức nàythường dễ thực hiện, đặc biệt là với các doanh nghiệp đã có mối quan hệ làm ăn lâudài với các nhà cung cấp Tuy nhiên, phương thức này lại gắn liền với việc mua hànghoá, dịch vụ và thường chỉ chiếm dụng được vốn trong thời gian ngắn Điển hình củaphương thức này là các siêu thị bán lẻ: Nhận hàng của nhà cung cấp với điều kiện tíndụng 30 tới 60 ngày, nhưng bán lẻ thu tiền ngay lập tức trong vài ngày… Ví dụ khác
là trong những thời điểm thị trường BĐS đang sốt nóng, rất nhiều chủ dự án của Việtnam cũng đã thành công kiểu "tay không bắt giặc" với phương án này (tín dụng củanhà thầu + bán trước các sản phẩm bất động sản) Dễ dàng nhận thấy, để áp dụngđược biện pháp này, thì uy tín đối với nhà cung cấp và khách hàng của chủ dự ánmang tính quyết định
và thời gian vay cũng dài hơn Tuy nhiên, thủ tục phát hành trái phiếu ra công chúngcủa doanh nghiệp hiện nay khá phức tạp, do vậy hình thức này chưa phổ biến ở ViệtNam hiện nay, tuy nhiên, trong tương lai, đây sẽ là một trong những hình thức chiếm
ưu thế vì doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả và có uy tín
Trang 10Các công ty, tập đoàn lớn trên thế giới thường mời các tổ chức đánh giá mứctín dụng có uy tín như Standard & Poor’s, Moody’s, Fitch để xếp hạng trái phiếu củamình (bond rating) Cách thức này giúp nhà đầu tư đánh giá được mức độ an toàn vàrủi ro của doanh nghiệp, do vậy, trái phiếu doanh nghiệp có vị trí xếp hạng tín dụngcao sẽ dễ huy động vốn qua kênh này hơn.
Trái phiếu cũng như các khoản vay ngân hàng dài hạn mang lại một số lợi íchcho doanh nghiệp như: lãi suất vay vốn thường cố định, do vậy, nếu doanh nghiệp thuđược lãi lớn thì không phải chia phần lãi đó cho ngân hàng và các trái chủ; lãi suấtvay được công nhận là chi phí của doanh nghiệp, do vậy, doanh nghiệp được giảmmột phần tiền thuế phải đóng cho Nhà nước; chủ sở hữu của doanh nghiệp không phảichia sẻ quyền kiểm soát doanh nghiệp khi vay vốn Tuy nhiên, các khoản vay dài hạn
đó cũng có một số bất lợi như doanh nghiệp phải trả tiền gốc và tiền lãi theo thời gian
đã quy định, do vậy nếu doanh nghiệp không tạo ra đủ lượng tiền mặt để trả cáckhoản vay đúng thời hạn, doanh nghiệp có thể bị phá sản; huy động vốn thông quaviệc đi vay sẽ làm tăng tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu, do vậy làm tăng rủi ro cho doanhnghiệp; doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định chặt chẽ hơn trong việc sử dụngvốn đi vay và thông thường chỉ vay được một số lượng vốn nhất định, phụ thuộc vàotài sản thế chấp của doanh nghiệp cũng như không được phép vượt quá một tỉ lệnợ/vốn chủ sở hữu nào đó
Phát hành cổ phiếu:
Đây là công cụ giúp doanh nghiệp thu được lượng vốn lớn để mở rộng và pháttriển doanh nghiệp Hình thức này giúp doanh nghiệp tăng lượng vốn đối ứng để thựchiện các dự án có quy mô lớn, cũng như nâng cao khả năng vay vốn của doanhnghiệp Với việc huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu, doanh nghiệpkhông phải trả lại tiền gốc cũng như không bắt buộc phải trả cổ tức nếu làm ăn khônghiệu quả Tuy nhiên, việc phát hành cổ phiếu thường làm giảm khả năng kiểm soátcủa những người chủ sở hữu hiện tại đối với doanh nghiệp, do vậy chủ các doanhnghiệp nhỏ không mong muốn thực hiện công cụ này Cổ tức cũng không được xem
là chi phí của doanh nghiệp nên doanh nghiệp không được hưởng lợi về thuế thu nhậpdoanh nghiệp như trong trường hợp lãi suất đi vay ngân hàng hoặc trái phiếu Các nhàđầu tư thường xem việc phát hành thêm cổ phiếu là một tín hiệu tiêu cực mà nguyênnhân chính là sự bất đối xứng về thông tin, do doanh nghiệp không thể cung cấp hếttoàn bộ thông tin ra thị trường, có thể là vì lý do cạnh tranh Ngoài ra nhà đầu tư cóthể suy đoán rằng công ty phát hành thêm cổ phiếu vì giá thị trường ở thời điểm đó làcao so với giá trị thực của công ty, và phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm lợi nhuận thuđược trên mỗi cổ phiếu bị giảm Do vậy giá cổ phiếu thường bị giảm giá khi doanhnghiệp công bố phát hành thêm cổ phiếu
Từ các quỹ đầu tư:
Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiềnnhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cô phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay
Trang 11các loại tài sản khác Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp,chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác
Ý tưởng tập trung các khoản tiền nhỏ thành một nguồn lớn hơn để đầu tư xuấthiện tại châu Âu vào khoảng giữa thế kỷ 19, khởi thủy ở Hà Lan, đến nửa cuối thế kỷ
19 thì được du nhập sang Anh Mặc dù có gốc gác từ châu Âu, nhưng Hoa Kỳ mới lànơi các quỹ đầu tư phát triển mạnh mẽ nhất Năm 1893, các khoản quyên góp và ủng
hộ tài chính xây dựng và phát triển Đại học Harvard tại Hoa Kỳ được ghi nhận như sựxuất hiện một quỹ đầu tư Vào ngày 21/3/1994, quỹ tương hỗ đầu tiên chính thứcđược thành lập bởi ba nhà kinh doanh chứng khoán tại Boston (Hoa Kỳ) có tên gọiQuỹ Tín thác các nhà đầu tư Massachusetts (Massachusetts Investors Trust-MIT) Có
lẽ, chính những người sáng lập cũng không thể dự báo trước tương lai phát triển phổbiến của loại hình này
Những quỹ đầu tư đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng đầu những năm
1990 Trong nửa đầu những thập kỷ 90, có tám quỹ đầu tư tiến hành hoạt động tạiViệt Nam với tổng lượng vốn huy động khoảng 700 triệu USD Những khó khăntrong nỗ lực tìm kiếm cơ hội bỏ vốn cùng tác động của khủng hoảng tài chính-tiền tệnăm 1997 đã khiến các quỹ nản lòng và lần lượt rút lui Thời điểm sau năm 1997 chỉcòn lại hai quỹ đầu tư là Vietnam Enterprise Investment Fund (VIEL) do công tyDragon Capital quản lý và Vietnam Frontier Fund (VFF) thuộc tập đoàn Finasa Bảnthân VFF, với qui mô 50 triệu USD, rốt cuộc cũng ra khỏi Việt Nam sau 10 năm hoạtđộng Chỉ khi thị trường chứng khoán có những dấu hiệu tăng trưởng tích cực, quỹnày mới trở lại với qui mô khiêm tốn hơn- 15 triệu USD, năm 2005 Giai đoạn từ
2002 đến 2005, hoạt động của các quỹ đầu tư tương đối trầm lặng Mặc dù vậy vẫnxuất hiện thêm nhiều quỹ mới thuộc các công ty Mekong Capital, VinaCapital, IDG,VietFund hay PXP Asset Management Cùng với những biến đổi tích cực và mạnh mẽcủa thị trường chứng khoán, từ giữa năm 2006, hệ thống tài chính Việt Nam ghi nhậngiai đoạn bùng nổ các quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ Trong hai năm 2006-2007,khoảng 20 quỹ đầu tư được mở mới Ủy ban chứng khoán nhà nước cũng cấp giấyphép hoạt động cho 17 công ty quản lý quỹ
Các loại hình quỹ đầu tư
Căn cứ vào nguồn vốn huy động, cấu trúc vận động vốn, hay cơ cấu tổ chức vàhoạt động của quỹ mà Quỹ đầu tư được phân chia thành các loại hình sau:
(1) Căn cứ vào nguồn vốn huy động:
Quỹ đầu tư tập thể (quỹ công chúng):
Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng Nhà đầu tư có thể
là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ Quỹ công chúngcung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư,giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp củađầu tư mang lại
Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên):
Trang 12Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ cácnhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặccác tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ côngchúng Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ cóthể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ
(2) Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn:
Quỹ đóng:
Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huyđộng vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ đầu tư khinhà đầu tư có nhu cầu bán lại Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khikết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trênthị trường chứng khoán Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếuhoặc chứng chỉ đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp Tổng vốn huy động củaquỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động Hình thức quỹđóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là Quỹ đầu tư VF1 do công ty VFM huyđộng vốn và quản lý
(3) Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ:
Quỹ đầu tư dạng công ty :
Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thànhtheo quy định của pháp luật từng nước Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hộiđồng quản trị do các cổ đông (nhà đầu tư) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý toàn
bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn công ty quản lý quỹ và giám sát hoạt động đầu tư củacông ty quản lý quỹ và có quyền thay đổi công ty quản lý quỹ Trong mô hình này,công ty quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hànhphân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinhdoanh khác Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của Ủy BanChứng Khoán Nhà Nước, quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân
Quỹ đầu tư dạng hợp đồng :
Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư Khác với mô hình quỹ đầu tư dạng công ty, môhình này quỹ đầu tư không phải là pháp nhân Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lậpquỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra
Trang 13trong điều lệ quỹ Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tàisản của quỹ, quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiệnbằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trongviệc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư Nhàđầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô hìnhquỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảmkhả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ.
Con số các quỹ đầu tư và qui mô vốn (dù mới chỉ là vốn điều lệ) cho thấy mộtthực tế: huy động vốn, trước giờ vẫn được xem như mấu chốt của các khó khăn, hóa
ra không thực sự là vấn đề Ở Nhật Bản hay châu Âu, cơ hội đầu tư mang lại mức lợisuất đột phá hầu như không còn, đặc biệt với khoản đầu tư từ vài chục tới trăm ngànUSD Mức lãi suất thấp và lạm phát cũng là nhân tố thúc đẩy nhà đầu tư tại các nềnkinh tế phát triển tìm kiếm cơ hội từ những nền kinh tế đang trỗi dậy như Việt Nam
Với nguồn lực tài chính dồi dào và hình ảnh hấp dẫn, các quỹ đầu tư tại ViệtNam (cả nội địa và quốc tế) không gặp trở ngại nào trong việc tập hợp và xây dựngđội ngũ chuyên môn sáng giá nhất trên thị trường Cho dù vấn đề nhân lực có thểkhiến các công ty chứng khoán hay ngân hàng đau đầu tìm kiếm giải pháp “tìm vàgiữ” trong hiện tại và nhiều năm tiếp theo, các cổ đông quỹ đầu tư cũng chẳng phảibận tâm nhiều Khi đã có đầy đủ nội lực, hiệu quả vận hành nằm trọn ở địa chỉ gửigắm đồng vốn của cổ đông Cơ bản có thể chia các quỹ đầu tư thành hai loại: quỹ đầu
tư theo chỉ số chung của thị trường hướng tới các đối tượng như chứng khoán niêmyết, cổ phiếu doanh nghiệp cổ phần hóa và quỹ đầu tư riêng lẻ theo các dự án,chuyển nhượng cổ phần riêng với chủ sở hữu hay sáng lập doanh nghiệp… Các quỹđầu tư với sức mạnh về tiềm lực tài chính, năng lực chuyên môn trong thu thập vàphân tích thông tin, dữ liệu có lợi thế với hoạt động đầu tư theo chiến lược “mô phỏngcấu trúc thị trường.” Diễn biến trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm qua chứng
tỏ rõ điều này.Với hoạt động đầu tư có tính chất riêng lẻ và dự án, câu chuyện kháchơn Thành công của các quỹ đầu tư tùy thuộc vào hai nhân tố quyết định: “know-how” và “know-who” Biết làm (know-how) thể hiện qua năng lực kỹ thuật nghiệp vụtài chính-đầu tư trong từng bước triển khai từ xác định dự án, nghiên cứu khả thi, xâydựng cấu trúc vốn dự án, tới vận hành và rút vốn Biết đúng người (know-who) thểhiện ở khả năng đưa ra các đánh giá thẩm định đáng tin cậy về năng lực sinh lợi củahoạt động kinh doanh, về nhân thân chủ dự án (thường là người sáng lập và có sở hữulớn tại công ty nhận đầu tư) và khả năng xử lý, vượt qua khó khăn kinh doanh của họ.Hội tụ đủ cả hai yếu tố này, các quỹ đầu tư mới có thể đảm bảo cam kết những dự ánchất lượng với cổ đông
Quỹ đầu tư có một đặc tính rất cần lưu ý: thời gian hoạt động hữu hạn, thôngthường từ 7 đến 10 năm Trước khi kết thúc hoạt động, đội ngũ điều hành quỹ cótrách nhiệm chuyển các tài sản thành tiền cho cổ đông Đó là cách làm bình thườngcủa quỹ đầu tư Như vậy, các công ty tiếp nhận đầu tư, hay rộng hơn là toàn bộ nền
Trang 14kinh tế, cần nhận thức rõ ràng: nguồn vốn từ các quỹ vào rồi sẽ đi ra, đặc biệt vớidòng vốn huy động từ nước ngoài Với vị thế một nền kinh tế thành viên của WTO,sức ép cạnh tranh không ngừng gia tăng với cộng đồng kinh doanh Việt Nam Cùngvới việc chia sẻ sở hữu với các quỹ đầu tư, các nhà điều hành doanh nghiệp đều đặt
kỳ vọng vào cơ hội mở rộng quan hệ kinh doanh, tiếp cận công nghệ quản lý và sảnxuất tiến bộ, phát triển kinh doanh trong lĩnh vực mới… Nguồn tài chính dồi dào từcác quỹ đầu tư, trực tiếp qua các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hay gián tiếp quagiao dịch cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán, đang khẳng định vai trò mộtkênh huy động vốn hiệu quả của doanh nghiệp nhưng rõ ràng, khi thực hiện các hợptác chiến lược, doanh nghiệp không chỉ trông đợi vào đồng vốn Tính chuyên nghiệpthấp tại phần đông các doanh nghiệp Việt Nam chính là điều các quỹ đầu tư lo ngạinhất Nhiều chuẩn mực vận hành thông thường vẫn còn xa lại tại các đơn vị sản xuấtkinh doanh Các yêu cầu cung cấp thông tin và đòi hỏi khá khắt khe về qui trình vậnhành từ phía người có vốn phần nào thúc ép doanh nghiệp thay đổi và hoàn thiện Tuyvậy, năng lực thực sự cần được duy trì và bồi đắp liên tục theo thời gian
Quy trình đánh giá của các quỹ đầu tư:
Quy trình này thường gồm các bước sau:
- Lãnh đạo công ty tiếp xúc, giới thiệu với quỹ dầu tư về công ty, kế hoạch kinhdoanh và nhu cầu tăng vốn
- Quỹ đầu tư tự đánh giá sơ bộ về công ty
- Hai bên đồng ý về bản ghi nhớ sơ bộ các điều khoản đầu tư
- Quỹ đầu tư thường thuê công ty thứ 3 chuyên nghiệp để đánh giá toàn diện về côngty
- Đàm phán cuối cùng và ký hợp đồng đầu tư Tùy thuộc vào quy mô và sự phức tạptrong hoạt động của công ty, quy mô của việc mua bán và từng quỹ đầu tư mà thờigian đánh giá dài hay ngắn (thường kéo dài từ 2 - 5 tháng)
Từ công ty cho thuê tài chính:
"Thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc thuêmáy móc, thiết bị và các tài sản khác không phải là bất động sản.Bên cho thuê camkết mua máy móc, thiết bị, và các tài sản khác theo yêu cầu của bên đi thuê và cóquyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên đi thuê được sử dụng tài sản đi thuê và trảtiền thuê trong suốt thời hạn thuê được thoả thuận trước và không thể huỷ hợp đồngtrước thời hạn Khi hết thời hạn thuê, bên đi thuê có thể được chuyển nhượng quyền
sở hữu tài sản, trả lại hoặc tiếp tục thuê tài sản phù hợp với những điều kiện đã thoảthuận trong hợp đồng thuê"
(Nghị định 64CP của Thủ tướng đề ngày 09 tháng 9 năm 1995)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì một giao dịch được gọi là thuê tàichính phải thoả mãn một trong những điều kiện:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữutài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên
Trang 15- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tàisản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mualại;
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấuhao tài sản thuê;
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhấtphải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Do đó cho thuê tài chính thực ra là một hình thức cấp tín dụng Khi một hợp đồngthuê tài chính được ký kết, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được cấp một khoảnvốn Khoản vốn này có được do doanh nghiệp không phải bỏ tiền ra mua tài sản màvẫn có tài sản sử dụng lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh Vì đáng lẽ ra, cóthể doanh nghiệp đã phải đi vay một số vốn tương đương giá trị tài sản trong hợpđồng thuê trả cho công ty cho thuê tài chính bao gồm cả vốn gốc và lãi
Các hình thức của thuê tài chính
Nếu máy móc, trang thiết bị do chính doanh nghiệp lựa chọn và thỏa thuận với công
ty cho thuê để mua tài sản đúng nhãn hàng mình cần thì hình thức đó gọi là thuê trựctiếp Ngoài ra, thuê tài chính còn có một hình thức khá phổ biến trong lĩnh vực bấtđộng sản nữa là hình thức bán và thuê lại (Sale and lease-back) Công ty cho thuê tàichính sẽ mua tài sản của doanh nghiệp, trả cho doanh nghiệp một khoản tiền mặt rồicho doanh nghiệp thuê lại tài sản đó Thuê tài sản mua bằng vốn vay (Leverageleases) cũng là một hình thức thuê tài chính khác dễ bắt gặp Trong hình thức này có
sự tham gia của 3 bên: bên đi thuê, bên cho thuê và nhà cho vay Ở đây, nghĩa vụ củadoanh nghiệp đi thuê không có gì thay đổi, chỉ khác là bên cho thuê đã sử dụng hợpđồng cho thuê để thế chấp cho nhà cho vay nhằm đảm bảo cho một khoản vay nào đó.Trên thế giới cho thuê tài chính đã xuất hiện từ rất sớm và phát triển mạnh mẽ từnhững năm 60 của thế kỷ trước Các sản phẩm cho thuê tài chính ngày càng đa dạng,
từ máy fax, máy photocopy cho đến xe tải, máy bay, tàu thủy… Tập đoàn IBM tại Mỹcòn cho thuê cả máy vi tính Việt Nam Airlines cũng đã thuê máy bay của TEAC,AirFrance,…
Ở Việt Nam, hoạt động này có mặt từ năm 1995 sau quyết định số 149/QĐ NH5 ngày 17/5/1995 của NHNNVN Hiện tại có 11 Cty cho thuê tài chính được cấpphép hoạt động, trong đó có 7 công ty trực thuộc các NHTM, 1 Cty liên doanh và 3Cty 100% vốn đầu tư nước ngoài Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động cho thuê tàichính trong những năm gần đây bước đầu cho thấy được ưu điểm nổi trội của kênh tíndụng này đối với các doanh nghiệp Việt nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
-Lợi ích của doanh nghiệp
Thông thường đối với các khoản vốn vay trung và dài hạn, các ngân hàngthương mại luôn đòi hỏi tài sản đảm bảo ( thế chấp hoặc cầm cố) và chỉ cho vay tối đa
là 80% tổng chi phí thực hiện dự án, nhưng với kênh cho thuê tài chính, doanh nghiệpchẳng những không cần ký quỹ đảm bảo hay tài sản thế chấp mà còn có thể được tàitrợ đến 100% vốn đầu tư Lãi xuất hoàn toàn dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên
Trang 16Kênh tín dụng này cũng cho phép doanh nghiệp được hoàn toàn chủ độngtrong việc lựa chọn máy móc thiết bị, nhà cung cấp, cũng như mẫu mã chủng loại phùhợp với yêu cầu của doanh nghiệp mình
Ngoài ra nếu doanh nghiệp đã lỡ đầu tư mua tài sản mà thiếu vốn lưu động thìvẫn có thể bán lại cho công ty cho thuê tài chính và sau đó công ty sẽ cho doanhnghiệp thuê lại Như vậy doanh nghiệp vừa có vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà vẫn được sử dụng tài sản
Kết thúc thời hạn thuê, doanh nghiệp được quyền ưu tiên mua lại tài sản vớigiá trị danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại
Bên cạnh đó một ưu điểm vô cùng quan trọng nữa của hình thức cho thuê tàichính đó là lợi ích được hưởng từ tấm chắn thuế Tài sản cho thuê tài chính vẫn thuộcquyền sở hữu của bên cho thuê nên bên cho thuê được phép khấu hao tài sản đó, làmgiảm thuế thu nhập phải nộp Mặt khác, bên đi thuê phải trả chi phí thuê, chi phí đóđược khấu trừ trước thuế nên cũng làm giảm thuế thu nhập mà doanh nghiệp phảinộp Như vậy cả hai doanh nghiệp đều nhận được lợi ích từ tấm chắn thuế
Qua những nét phác họa cơ bản trên, kênh tín dụng cho thuê tài chính có thể làmột sự lựa chọn tốt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi có nhu cầu Một đôi điềudoanh nghiệp cần biết khi tiếp cận với hình thức tín dụng này là :
Điều kiện thuê tài chính:
Doanh nghiệp phải có dự án thuê tài chính khả thi, tình hình tài chính lành mạnh, và
có khả năng tài chính để tham gia vào dự án thuê
Danh mục hồ sơ thuê tài chính : ( danh mục hồ sơ mà công ty tài chính yêucầu là khá giống nhau, chỉ khác biệt ở 1 vài hồ sơ)
(1) Hồ sơ pháp lý doanh nghiệp : 1 bộ
(2) Biên bản quyết định của HĐQT, HĐTV, chủ doanh nghiệp về việc thuê tài sản( bản chính)
(3) Giấy đề nghị thuê tài chính và Phương án thuê tài chính: 1 bộ
Bản thỏa thuận với nhà cung ứng tài sản kèm các tài sản kèm theo các tài liệu
về tài sản thuê
Biên bản xác nhận về việc lựa chọn nhà cung cấp( theo mẫu)
(4) Tài liệu liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp ( bản chính): 1 bộ
Báo cáo tài chính 2 năm gần nhất, quý gần nhất
Các tài liệu chứng minh năng lực tài chính khác
Tài liệu liên quan đến tài sản thuê
Các dự án phát triển kinh tế do đối tác nước ngoài tài trợ:Hiện nay, có 3
dự án thuộc loại này đang hoạt động tại Việt nam:
(1) Dự án "Tài chính Nông thôn":
Dự án này với thời hạn dự kiến là 4 năm được tài trợ nhờ một khoản vaykhoảng 120 triệu đôla, do "Hiệp hội Phát triển Quốc tế" (tiếng anh: IDA) cấp cho Nhà
Trang 17nước Việt nam Mục đích của dự án là hỗ trợ những cố gắng của chính phủ Việt namtrong việc cải thiện điều kiện sống tại các vùng nông thôn Để làm được điều đó, cácmục tiêu được đưa ra như sau:
Khuyến khích đầu tư ở các khu vực kinh tế tư nhân;
Tăng cường khả năng tài trợ cho đầu tư thuộc khu vực tư nhân của hệ thốngngân hàng;
Nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của người nghèo tại các vùngnông thôn
Qua góc độ mà chúng ta đang quan tâm, dự án thể hiện dưới hình thức một "nguồn tàitrợ" trị giá 100 triệu USD, gọi là "Quĩ phát triển nông thôn" (Rural DevelopmentFunds - RDF) Quĩ này dùng để tái tài trợ cho các khoản vay ngắn, trung và dài hạn
do các ngân hàng trong nước cấp cho các hộ kinh doanh, các doanh nghiệp vừa vànhỏ đóng tại các vùng nông thôn (có nghĩa là ngoài khu vực Hà nội và thành phố HồChí Minh) và với những lĩnh vực hoạt động rất khác nhau (nông nghiệp, chăn nuôi,chế biến, dịch vụ, )
Việc vận hành dự án được giao cho một Ban chuyên môn gọi là "Ban quản lý
dự án" (Project Management Unit) đặt trong Ngân hàng Nhà nước Ban này chịu tráchnhiệm chọn ra các ngân hàng trong nước, để ký Hiệp định Tham gia, cho phép cácngân hàng này tiếp cận được với nguồn tài trợ
(2) Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEDF):
Dự án này, thời hạn là 3 năm, do cộng đồng Châu Âu tài trợ Mục tiêu của dự
án là giúp đỡ Việt nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường Để thựchiện mục tiêu này, nhiều hoạt động được đưa ra nhằm thúc đẩy sự phát triển của cácdoanh nghiệp quốc doanh và tư nhân vừa và nhỏ trong 24 tỉnh thành, để tăng cườngphát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là tạo ra công ăn việc làm.Dự án có một "quỹ tàichính" khoảng 25 triệu USD để tái tài trợ một phần cho các khoản vay có kỳ hạn mànhững ngân hàng trong nước được tham gia cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhànước và tư nhân đáp ứng đủ điều kiện yêu cầu "Quỹ tái tài trợ" được hình thành từnhững khoản trả vay trong quá trình thực hiện dự án trước đó cũng do Liên minhChâu Âu tài trợ từ năm 1992 đến 1994 (trong khuôn khổ chương trình "EuropeanCommission International Programm"), các khoản vay đó được cấp cho những ngườiViệt nam hồi hương ("returnees") để họ tái định cư tại Việt nam Vì thế, nguồn tài trợnày là bằng VND.Việc vận hành nguồn tài trợ này được giao cho ban Quản lý dự ánhoạt động dưới chủ quản là "Ban Giám đốc" do ông thứ trưởng Bộ Lao động Thươngbinh và Xã hội (đối tác Việt nam của dự án) và ông Chủ tịch Phái đoàn, ông Đại sứ
EU tại Việt nam đồng làm giám đốc.Chính Ban quản lý Dự án chịu trách nhiệm lựachọn các ngân hàng trong nước sẽ được chấp nhận ký "Hiệp định Tái tài trợ" chophép tiếp cận nguồn tài trợ
(3) Nguồn tài trợ Mêkông (MFL):
Đó là một nguồn tài trợ trị giá 5 triệu đôla do công ty Tài chính Quốc tế (SFI) trựctiếp vận hành và quản lý, SFI là một trong những công ty của Ngân hàng Thế giới
Trang 18Nguồn tài trợ này dùng để cấp các khoản vay có kỳ hạn và tham gia góp vốn trongcác doanh nghiệp tư nhân nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân pháttriển Việc vận hành nguồn tài trợ này được phối hợp với việc vận hành một dự ánphát triển có tên là "Dự án Phát triển Mêkông" (MPDF), do nhiều bên cho vay vốn tàitrợ nhưng bộ phận thi hành cũng vẫn là SFI Dự án MPDF với thời gian vận hành là 5năm, đã mở rộng hoạt động của mình sang Việt nam, Lào, Campuchia Dự án có mụcđích thúc đẩy thành lập và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ địa phương: mộtmặt, bằng cách cung cấp hàng loạt các dịch vụ tư vấn phong phú, mặt khác giúp đỡnhiều tổ chức địa phương có hoạt động ảnh hưởng tới sự phát triển của các doanhnghiệp, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ nghề nghiệp của các tổ chức này.
Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa TPHCM (HCGF):
Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa để bảo lãnh cho cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa khi không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, vay vốn của các tổchức tín dụng HCGF cấp bảo lãnh tín dụng cho các khách hàng là các tổ chức hoạtđộng sản xuất - kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn Thành phố, có nhu cầu vay vốn các
tổ chức tín dụng - ngân hàng để phát triển, nhưng chưa có khả năng đáp ứng các điềukiện về bảo đảm tiền vay, bao gồm các đối tượng: doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế được xếp loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật; hợp tác
xã và liên hiệp hợp tác xã; hộ kinh doanh theo quy định tại Nghị định số
88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh
Điều kiện cấp bảo lãnh tín dụng: doanh nghiệp nhỏ và vừa có dự án đầu tư,phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả vốn, có vốn tự có thamgia tối thiểu 10% tổng giá trị dự án đầu tư; có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại
tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật tối thiểu bằng 30% giá trị khoản vay;không có khoản nợ đọng thuế, nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng hoặc tại các tổ chứckinh tế khác; đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả vốn vay đúng hạn.Trong trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp không hội đủ các điều kiện nêu trên, nhưngxét thấy cần thiết phải hỗ trợ vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển thì Giámđốc HCGF trình Hội đồng Quản lý Quỹ để xem xét quyết định
HCGF chỉ cấp bảo lãnh tín dụng tối đa bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trịkhoản vay và giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng tại tổ chức tín dụng.Mức bảo lãnh tín dụng tối đa cho một khách hàng không vượt quá 15% vốn chủ sởhữu của HCGF
Trang 19Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
2.1 Thực trạng nền kinh tế ảnh hưởng đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1.1 Lãi suất:
Đánh giá chung về việc nới lỏng chính sách tiền tệ bằng hàng loạt biện pháp nhưgiảm lãi suất cơ bản, hạ lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn, giảm dự trữ bắt buộc, các biệnpháp này nằm trong khuôn khổ của chính sách tiền tệ mở rộng, nghĩa là tăng cung tiềncho nền kinh tế Biện giải cho việc tăng cung tiền vốn đi ngược với mục tiêu chốnglạm phát tuy nhiên hiện nay nhiều nhà kinh tế và giới chính sách e ngại rằng nền kinh
tế đang lâm vào suy thoái trong đà suy thoái toàn cầu Do đó, việc nới lỏng cung tiềnnhắm tới mục đích kích thích nền kinh tế thực, thay vì chỉ hướng tới chống lạm phát
Đua hạ lãi suất, cơ hội vốn cho doanh nghiệp
- Khối ngân hàng thương mại đang bước vào một cuộc đua giảm lãi suất mới, doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa có cơ hội được tiếp cận nguồn vốn với lãi suất thấp hơn để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.
Lãi suất huy động giảm mạnh
Ngay trong ngày ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lãi suất cơ bản VND xuống13%/năm, nâng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND đối với tổ chức tín dụng
từ 5%/năm lên 10%/năm, đồng thời cho phép các ngân hàng thanh toán trước thời hạn20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, các ngân hàng thương mại cổ phần đã vào cuộcgiảm lãi suất huy động, với mức giảm từ 1% - 1,5%
Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) hạ lãi suất huy động từ 1% - 1,5% so với biểulãi suất cũ, xuống còn 16,5%/năm đối với kỳ hạn 3 tháng, 16,75%/năm đối với kỳ hạn
6 tháng, 16,4%/năm cho kỳ hạn 9 tháng và 16,3%/năm với kỳ hạn 12 tháng, kể từngày 21/10
Bắt đầu từ sáng hôm nay 22/10, lãi suất huy động tiết kiệm thưởng và tiền gửi kỳ hạn
ở khu vực Hà Nội và Hậu Giang của LienVietbank còn phổ biến từ 15,6%/năm 15,85%/năm dành cho kỳ hạn 1 tháng đến 6 tháng; tại TPHCM, lãi suất tiết kiệm củangân hàng này cao hơn, ở mức từ 15,7%/năm - 15,95%/năm
-Lý giải về “hành động” kịp thời, ông Phạm Quốc Thanh, Phó Tổng Giám đốcABBank cho hay: “Các chính sách của Ngân hàng Nhà nước đã giúp thanh khoản thịtrường được cải thiện, chỉ số giá tiêu dùng giảm liên tục qua từng tháng
Do đó, các ngân hàng đã chủ động cân đối được nguồn vốn và sử dụng vốn của mình.Tất cả các tác nhân này dẫn tới lãi suất huy động giảm như là một hệ quả tất yếu Tôitin là sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới”
Còn ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng Giám đốc LienVietBank thì cho rằng, Ngân hàngNhà nước nới lỏng hơn chính sách tiền tệ cũng sẽ có tác dụng tích cực trong ngắn hạn
và là tín hiệu tốt đối với thị trường Loạt chính sách này sẽ không chỉ đáp ứng đủ việcthiếu hụt vốn hiện nay của nền kinh tế mà thậm chí có thể dư vốn tạm thời”
Đến thời điểm này, khi lạm phát đã dần được kiềm chế, mục tiêu thúc đẩy tăng trưởngkinh tế được chú trọng hơn Các quyết định của Ngân hàng Nhà nước (có hiệu lực từ
Trang 20ngày 21/10) đã làm cho mặt bằng lãi suất chung của thị trường tài chính giảm xuống.Lãi suất huy động hạ nhiệt là tiền đề để lãi suất cho vay giảm thêm, tạo cơ hội chokhối doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
Bên cạnh việc giảm lãi suất huy động, ABBank và LienVietBank cũng công bố giảmlãi suất cho vay Cụ thể, ABBank giảm lãi suất cho vay VND xuống còn 18% - 19%;đối với các khách hàng thân thuộc, sử dụng nhiều dịch vụ của ABBank, mức lãi suất
ưu đãi chỉ còn 17% Lãi suất cho vay của LienVietBank cũng giảm từ 18% xuống còn17%/năm
Giảm mạnh nhất cho đến thời điểm này là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn (Agribank), với lãi suất cho vay VND đối với các hộ sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp giảm tới 4,5%, xuống còn 16,5%; đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tronglĩnh vực sản xuất và xuất khẩu, lãi suất cho vay còn 16,8%/năm
Luồng vốn đang hướng về DN nhỏ và vừa
Thời gian vừa qua, khá nhiều ngân hàng đã từng bước tiến hành cắt giảm lãi suất.Mức lãi suất cho vay của khối ngân hàng thương mại cổ phần dao dộng trong khoảng19% -21%/năm, khối ngân hàng quốc doanh là 18% - 20%/năm
Tuy nhiên, mức lãi suất ưu đãi này chủ yếu dành cho các doanh nghiệp lớn hoặc đãhợp tác lâu dài với các ngân hàng Còn lại hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫnphải vay vốn với lãi suất trần trên thị trường, cao nhất lên tới 21%/năm
Giảm lãi suất cho vay là một yêu cầu thực tế từ khó khăn của các doanh nghiệp trongthời gian qua, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc Ngân hàng nhà nước raquyết định giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống 13%/năm hé mở khả năng giảm bớt chiphí vay vốn, tạo thêm điều kiện để tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp vừa vànhỏ trong thời gian tới
Với việc hạ lãi suất cơ bản này, dự báo, lãi suất cho vay của các ngân hàng thời giantới sẽ dao động ở mức 18%/năm
Ông Phạm Quốc Thanh, đại diện của ABBank cho biết, ngân hàng này sẽ tiếp tục mởrộng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp tốt, có thị trường ổn định, để vượt qua giaiđoạn khó khăn hiện nay “Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được quản trị tốt, các nhàthầu điện lực luôn là khách hàng chiến lược của ABBank”, ông Thanh nhấn mạnh Theo đánh giá của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, thời gian gần đây, một số ngânhàng đã có động thái quan tâm hơn đến việc cho vay vốn đối với loại hình doanhnghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp này chỉ trông chờ vào vốn tíndụng cho vay ngắn hạn của ngân hàng cũng khó để cải thiện được tình hình bế tắchiện nay
Một số chuyên gia gợi ý: Nhà nước nên tìm các nguồn vốn dài hạn để hỗ trợ khốidoanh nghiệp nhỏ và vừa, chứ không chỉ đơn thuần là những nguồn vốn vay ngắn hạn
từ các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, các tồn tại trong quá trình doanh nghiệp
đi vay vốn như: thủ tục, thời hạn và số lượng vốn được vay cũng cần được quy định
rõ ràng hơn
Nguyễn Hiền http://dantri.com.vn/kinhdoanh/Dua-ha-lai-suat-co-hoi-von-cho-doanh- nghiep/2008/10/256386.vip
Trang 212.1.2 Lạm phát:
Tính đến hết tháng 8/2008, mức lạm phát ở Việt Nam vẫn cao (22,14%), tìnhhình kinh tế thế giới có nhiều biến động đã làm gia tăng một loạt các chi phí đầu vàocủa các doanh nghiệp như: chi phí nhân công, tiền lương, nguyên vật liệu nhập khẩu Trong khi đó, đầu ra lại không tăng được tương ứng…
Lạm phát cao dẫn đến chính phủ quyết định thắt chặt chính sách tiền tệ, ảnhhưởng lớn tới việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng của các doanhnghiệp Một số khoản vay dành cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ nằm vào khoảnvay vốn lưu động hoặc trong khoảng thời gian ngắn hạn dưới 1 năm Ngay cả khi vayđược thì với lãi suất cho vay trung bình khoảng 21%/năm buộc các doanh nghiệp phảicân nhắc, thậm chí không dám vay Vì theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, nếuvay với mức lãi suất 21% thì doanh nghiệp phải đạt mức lợi nhuận khoảng 40% mớibảo đảm hoạt động kinh doanh Theo thống kê, hiện có khoảng 350.000 doanh nghiệpđang hoạt động tại Việt Nam với 95% trong số đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là một yếu tố rất quan trọng trong nền kinh tế ViệtNam nhưng đang là nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất trong khó khăn kinh tế hiện nay ởViệt Nam Và theo ông Phan Xuân Cần, có tới 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏđang phải đối mặt với nguy cơ phá sản
Điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa thựchiện cho thấy, các tập đoàn, công ty lớn có cơ cấu vốn hợp lý thì mức độ ảnh hưởng
từ chính sách thắt chặt tiền tệ là không lớn Song với các DN phụ thuộc chủ yếu vàovốn vay ngân hàng, đặc biệt là DNVVN, DN ở nông thôn thì gặp rất nhiều khó khăn
về vốn
Lạm phát trong nước tăng cao cùng với giá cả thế giới tăng đã đẩy chi phí đầuvào sản xuất tăng cao làm đảo lộn kế hoạch đầu tư, kinh doanh của nhiều DN Thiếuvốn để triển khai kế hoạch kinh doanh, thực hiện các dự án đầu tư đang dở dang, songkhả năng tiếp cận vốn ngân hàng lại khó nên nhiều DNVVN rơi vào tình thế tiến thoáilưỡng nan, dừng lại cũng không được mà đi tiếp cũng không xong “Các doanhnghiệp vừa và nhỏ chính là đối tượng bị tác động nặng nề nhất và đang trong tìnhtrạng khó khăn”, Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đã nhấn mạnh như vậy
và kiến nghị Chính phủ có biện pháp hỗ trợ khối doanh nghiệp này Hiệp hội đã chia
số doanh nghiệp bị tác động thành ba nhóm:
Nhóm một là những doanh nghiệp bị tác động mạnh, đang hết sức khó khăn, bịphá sản hoặc đứng trước nguy cơ phá sản Nhóm này có thể chiếm tới 20% tổng sốdoanh nghiệp Đây thường là các doanh nghiệp có quy mô khá, đã có giai đoạn tăngtrưởng nhanh, đã có dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn vay ngânhàng
Trang 22Nhóm hai là những doanh nghiệp bị lạm phát và khủng hoảng kinh tế tác độngmạnh, hiện đang ở trong tình trạng khó khăn, sản xuất, kinh doanh bị đình trệ Sốlượng các doanh nghiệp thuộc nhóm này có thể đến 60% Lạm phát khiến các doanhnghiệp không kiểm soát được chi phí sản xuất, mất thị trường, không có đủ vốn đểduy trì sản xuất
Nhóm còn lại là những doanh nghiệp ít bị tác động hoặc thậm chí vẫn tìm được
cơ hội phát triển trong điều kiện lạm phát Đây có thể là những doanh nghiệp chưahoặc ít sử dụng vốn vay hoặc là những doanh nghiệp có người đứng đầu là nhữngdoanh nhân có kiến thức, kinh nghiệm với bản lĩnh cao trong kinh doanh
Việc thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã khiến hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại đứng trước “tình thế khó” giữa phục vụ tăng trưởngkinh tế và đảm bảo an toàn hoạt động Cho dù phải phục vụ mục tiêu phát triển kinh
tế, song các ngân hàng cũng không thể “phóng khoáng” đến mức tự đưa mình vàonguy cơ đổ vỡ Để tránh rủi ro, các ngân hàng thương mại đã chủ yếu tập trung cho
DN lớn, DN là khách hàng truyền thống có khả năng thanh khoản vay vốn Chuyệnkhách hàng mới, nhất là DNVVN khó vay vốn các ngân ngân hàng thương mại tronglúc bản thân ngân hàng cũng phải “gồng mình” chịu áp lực của lạm phát là không khóhiểu
Biện pháp tiền tệ để chống lạm phát trong thời gian qua đã phát huy tác dụng,bây giờ nền kinh tế đang bước vào một giai đoạn khác mà việc kích cầu, phục hồi sảnxuất - nhất là sản xuất tại khu vực dân doanh - đang được nhiều người nói đến nhưmột giải pháp cần thiết, trước khi tác động giảm phát trở nên quá nặng nề dẫn đến suythoái và làm tăng số lao động bị mất công ăn việc làm
2.1.3 Tỷ giá:
Trong khi các doanh nghiệp có lượng hàng xuất nhập khẩu lớn chú ý đến việcbảo hiểm rủi ro tỷ giá mỗi lần nhập hoặc xuất hàng, thì các doanh nghiệp có quy mônhỏ chưa quan tâm nhiều đến việc này Một trong nhưng lý do là do chính sách tỷ giácủa Việt Nam được giữ cố định và thiệt hại do biến động tỷ giá với các doanh nghiệpchưa nhiều Tuy nhiên trong năm 2008 và đầu năm 2009, Mặt dù tỷ giá niêm yết ởcác ngân hàng biến động không nhiều nhưng trong gia đoạn 2008 có sự chênh lệchquá lớn giữa tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng và tỷ giá ở thị trường tự do làm cho cácdoanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn vì thực sự các doanh nghiệp gần như không thểmua được USD ở ngân hàng theo tỷ giá niêm yết mà các ngân hàng đã bằng cách nàyhoặc cách kia bán USD theo tỷ giá gần như tỷ giá ở thị trường tự do mà tỷ giá này thìrắt cao có khi lên đến 19500VNĐ/USD Năm 2008, có thời điểm biến động tỷ giángoài thị trường tự do lên đến 50% chỉ trong vòng một tháng khiến cho các doanhnghiệp lỗ hàng tỷ đồng Trong khi hàng nhập khẩu của họ bị giữ tại cảng do chưathanh toán tiền, làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
Nhiều doanh nghiệp có nghe nói về các bảo hiểm rủi ro tỷ giá, nhưng có thể dochưa hiểu rõ hoặc không biết nơi nào cung cấp nên cũng không quan tâm đến việc sử
Trang 23dụng sản phẩm bảo hiểm Họ chỉ biết chấp nhận rủi ro khi có biến động về tỷ giá Cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa nắm rõ lắm về những công cụ có thể bảo vệ mình
Chị Nguyễn Thanh Hiền, Giám đốc công ty Thái Vina (quận Tân Phú, TPHCM), chuyên nhập khẩu hàng tiêu dùng từ Thái Lan, cho hay: “Đợt biến động tỷ giámạnh vào tháng 8/2008 lên đến 19.500 đồng một USD (trên thị trường tự do) đã gâythiệt hại cho chúng tôi không nhỏ” Thái Vina thường mua hàng trước trả tiền sau.Khi thỏa thuận ký hợp đồng thì tính tỷ giá tại thời điểm đó Nhưng khi trả tiền lại ápdụng biên độ tỷ giá tại thời điểm trả tiền, nếu tỷ giá đột ngột tăng cao thì công ty phải
bù chênh lệch Nhiều khi, USD ở thị trường chính thức khan hiếm nên chị Hiền phảimua ngoài thị trường tự do với giá cao hơn giá ngân hàng niêm yết vài trăm đồng mộtUSD Nhiều doanh nghiệp buộc phải chấp nhận lỗ tỷ giá để được nhập hàng, tránhviệc gián đoạn cung ứng hàng cho khách “Lợi nhuận của một năm có khi chỉ đủ bùđắp cho đợt biến động tỷ giá”, giám đốc một doanh nghiệp nhựa tại TP HCM chobiết Ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc kinh doanh ngoại hối ngân hàng ANZ, nói:
“Biến động tỷ giá năm 2008 khiến không chỉ doanh nghiệp xuất khẩu mà cả đơn vịnhập khẩu thiệt hại nặng nề” Tại hội thảo “Biến động tỷ giá VND/USD và thách thứcđối với doanh nghiệp nhỏ và vừa” được tổ chức 19/3, nhiều ý kiến cho rằng, cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa dễ bị tổn thương và có nguy cơ phá sản cao nhất từ khủnghoảng kinh tế Nếu không có phán đoán chính xác, những công cụ bảo hiểm tốt… thìdiễn biến tỷ giá trong thời gian tới rất có thể sẽ khiến những doanh nghiệp này phásản nhanh hơn
2.1.4 Thị trường chứng khoán
Đối với DN tiến hành cổ phần hóa thì nhiều cá nhân cùng “sở hữu” DN; lúc này
DN phải tính toán đến chi phí lợi nhuận để chi trả cho các cổ đông DN sẽ phải giảiquyết được các vấn đề: khi cổ phần hóa và niêm yết thì giá trị cổ phiếu của DN trênthị trường ra sao? Mức cổ tức chia cho cổ đông hàng năm? Cơ cấu vốn nợ/vốn chủ sởhữu là bao nhiêu?… Lúc này nhà quản trị sẽ phải tính toán rất chi tiết, ví dụ với 100đồng vốn thì sẽ thu về bao nhiêu lợi nhuận? Và khả năng quay vòng của tổng tài sản
sẽ như thế nào?…Mặc dù đã có cả một quá trình chuẩn bị nhưng các DNVVN vẫncòn gặp rất nhiều khó khăn trong việc hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.Các vấn đề về vốn, kinh nghiệm quản trị, kinh doanh, tiếp thị luôn được DN quantâm
Thêm vào đó Tâm lý “sợ” phải công khai thông tin khi tham gia thị trường chứngkhoán Việc kiểm toán và công bố thông tin định kỳ về tình hình kinh doanh là “nỗiniềm” của không ít doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn chưa quen với cách làm ăn chuẩnhóa Thậm chí các DNVVN có đến hai bản báo cáo tài chính khác nhau một được sửdụng cho mục đích thuế, bản báo cáo tài chính này thể hiện lợi nhuận thấp hơn rấtnhiều so với thực tế thậm chí là lỗ, một bản phản ánh thực tình hình của công ty dùngtrong nội bộ Họ không thể công khai Báo cáo tài chính phản ánh tình hình thực của
Trang 24công ty vì sợ cơ quan thuế còn báo cáo tài chính kia thì thể hiện tỷ suất sinh lợi thấpkhó mà huy động vốn trên thị trường chứng khoán
Trong khi tín dụng ngân hàng luôn được coi là nguồn vốn quan trọng nhất nhưng cácdoanh nghiệp khó có thể tiếp cận Nhất là trong bối cảnh kinh tế suy thoái, doanhnghiệp chật vật hiện nay, việc có nguồn tín đụng để duy trì sản xuất là hết sức cấp thiết
Một kênh huy động vốn khác mà các doanh nghiệp có thể chờ đợi để thay thế nguồnvốn vay từ các ngân hàng thương mại là từ việc phát hành cổ phiếu trên thị trườngchứng khoán Nhưng vào thời điểm hiện tại, dường như kênh này còn khó khăn hơnnhiều so với vốn vay Huy động vốn qua thị trường chứng khoán tại Việt Nam năm
2008 đã giảm 77% so với năm 2007, trong khi đó, thị trường chứng khoán những thángđầu năm 2009 vẫn thực sự ảm đạm
Mặt khác, hoạt động cho thuê tài chính- hoạt động có thể tháo gỡ khó khăn cho cácdoanh nghiệp thiếu vốn bằng cách thuê lại các tài sản lớn hiện vẫn đang rất manh múntại nước ta, bởi các doanh nghiệp hầu như chưa có được kiến thức về cách tiếp cận vốntheo hình thức này
Trang 252.2 Chính sách của chính phủ tác động lên việc huy động vốn các doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Vai trò của doanh nghiệp dân doanh vừa và nhỏ
Nguồn thu ngân sách từ doanh nghiệp nhà nước hiện nay chiếm tỷ trọng lớn, nhưnghiềm một nỗi nếu như tình hình hiện nay thì để có 1 đồng thu ngân sách từ doanhnghiệp nhà nước thì nhà nước cũng phải trợ cấp (cả cứng lẫn mềm) cho doanh nghiệpnhà nước 1 đồng (ở đây chưa kể đến hoạt động bảo toàn vốn) Hơn nữa, một khi gianhập WTO thì việc trợ cấp này không thể duy trì, và hệ quả là nguồn thu từ doanhnghiệp nhà nước sẽ khó được đảm bảo Ngân sách nhà nước, vì vậy, phụ thuộc ngàycàng nhiều vào các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt quan trọng là từ thuế do các DNdân doanh đóng góp Như vậy, phát triển khu vực kinh tế dân doanh một cách bềnvững sẽ là biện pháp quan trọng nhất để bảo đảm ngân sách quốc gia Hơn nữa, xét vềtính năng động và hiệu quả thì khu vực kinh tế dân doanh của chúng ta có lẽ chỉ thuamỗi khu vực đầu tư nước ngoài Kinh tế dân doanh lại là khu vực phát triển nhanhnhất và tạo ra công ăn việc làm mới nhiều nhất cho nền kinh tế, và do vậy sẽ là độnglực chủ yếu và bền vững cho tăng trưởng dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh cạnhtranh toàn cầu
Một hệ quả về chính sách là để duy trì mức tăng trưởng cao, Việt Nam phải cónhững giải pháp phát triển kinh tế dân doanh một cách bền vững, trong đó quan trọngnhất có lẽ là phải tạo lập được một môi trường kinh doanh lành mạnh để DN dândoanh phát triển Một trong những bài học quan trọng nhất từ sự thành công của LuậtDoanh nghiệp là quyền tự do kinh doanh của người dân một khi được tôn trọng sẽđơm hoa, kết trái, và tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế Do vậy, nhà nước cầnchủ động tạo điều kiện cho dân doanh phát triển thông qua các biện pháp giảm thiểurào cản và chi phí (cả về thời gian, tiền bạc, ức chế tâm lý) gia nhập thị trường và chiphí kinh doanh nói chung, để từ đó khơi dậy và khuyến khích tinh thần doanh nhânvốn rất sẵn trong dòng máu của đại đa số người dân Việt Nam
Nói đến phát triển môi trường kinh doanh lành mạnh không thể không nói tới việc tạolập một môi trường cạnh tranh để tạo điều kiện cho các DN tập bơi trong bể trước khiphải bơi trong hồ, và rồi thực sự tiến ra đại dương và bươn trải trước những làn sóngcạnh tranh của thời đại toàn cầu hóa Muốn thế, môi trường cạnh tranh trong nướcphải thực sự bình đẳng giữa các khu vực kinh tế Cụ thể là, nhà nước cần giảm thiểu
và tiến tới xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử đối với các DN với các hình thức sở hữukhác nhau Thực tế phát triển kinh tế mấy chục năm qua của đất nước đã cho thấy khuvực kinh tế dân doanh có một sức sống vô cùng mãnh liệt, nó đã và đang lớn lên hàngngày, hàng giờ bất chấp mọi thiệt thòi, không chỉ so với các doanh nghiệp nhà nước
mà còn đối với cả các DN có vốn đầu tư nước ngoài Nói như vậy cũng có nghĩa là,điều cần thiết nhất để phát triển kinh tế dân doanh ở nước ta không phải là việc cho nónhững ưu tiên, ưu đãi, mà đơn giản chỉ là hãy trả lại địa vị xứng đáng cho nó và chấmdứt mọi ưu đãi, ưu tiên bất hợp lý đối với những khu vực kinh tế khác
Để phát triển DN dân doanh ở Việt Nam, trong đó chủ yếu là DNVVN vốn rất
dễ bị tổn thương, nhà nước cần hình thành những thể chế để giúp “giảm sốc” hay
Trang 26“bảo hiểm” cho các DN này Đồng thời, tiếng nói của các DNVVN hiện nay cũng hếtsức yếu ớt và rời rạc Vì vậy, việc hình thành các hiệp hội thực sự đại diện và sẵnsàng bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng DN và lợi ích của mỗi thành viên trong hiệphội là điều kiện quan trọng để các DN dân doanh có thể lớn mạnh.
Những phân tích trên đã cho thấy nhà nước đóng một vai trò hết sức quantrọng trong việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho kinh tế dândoanh phát triển Bên cạnh đó, không thể không nói tới vai trò của các biện pháp cảicách hành chính liên quan tới hoạt động của DN Việc nâng cao hiệu quả của bộ máyhành chính nhà nước là một điều kiện then chốt để phát triển khu vực kinh tế dândoanh
VCCI đang đề nghị Chính phủ xem xét xây dựng một chương trình quốc gia về pháttriển DN, lấy DN làm động lực chính cho sự phát triển của VN trong giai đoạn tới Từnhận thức về vai trò của DN dân doanh và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một
số nước thành công trong việc phát triển DNVVN, rõ ràng đề nghị này của VCCI làhết sức cần thiết và đúng lúc Tuy nhiên, để đảm bảo có hiệu quả thì chương trình nàyphải đi vào thực chất của vấn đề chứ không thể chỉ mang tính hình thức Quan trọngnhất, chương trình này phải lấy kinh tế dân doanh làm trung tâm, thể hiện thông quaviệc phân bổ nguồn lực và có chính sách công bằng đối với khu vực này
Vũ Thành Tự AnhTạp chí tia sáng
2.2.1 Tác động các chính sách vĩ mô lên các doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Chính phủ đã có một loạt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích tiêu dùng,như bù lãi suất vay, giảm thuế VAT, giãn thuế
- Để kích thích tăng trưởng kinh tế, Chính phủ đã sử dụng cả chínhsách tài khóa và tiền tệ Trong phạm vi của chính sách tài khóa, kích thích tiêu dùngnội địa là một biện pháp quan trọng hàng đầu Kích thích tiêu dùng thành công sẽ trựctiếp giải tỏa bớt khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay, đó lànhu cầu sụt giảm trên cả thị trường trong nước và nước ngoài Để kích thích tiêudùng, Chính phủ đã quyết định giảm 50% thuế VAT đối với 19 nhóm mặt hàng vàhoãn thu thuế thu nhập cá nhân trong 5 tháng đầu năm 2009 Các nhà làm chính sáchcho rằng giảm thuế VAT sẽ giúp giảm giá bán, nhờ đó tăng cầu cho sản phẩm; cònhoãn thuế thu nhập cá nhân sẽ giúp tăng thu nhập khả dụng, nhờ đó tăng chi tiêu củangười tiêu dùng Về mặt lý thuyết, đây là những kỳ vọng hợp lý Tuy nhiên, trên thực
tế có thể những chính sách này không kích được tiêu dùng như kỳ vọng vì phản ứngcủa người tiêu dùng có thể rất khác so với tính toán của các nhà làm chính sách Bêncạnh chính sách giảm và hoàn 90% thuế VAT cho doanh nghiệp, Chính phủ còn giảm30% thuế thu nhập doanh nghiệp trong quý 4/2008 và cả năm 2009, đồng thời giãnthuế trong thời gian 9 tháng cho các DNVVN Đây là một chính sách được cộng đồngdoanh nghiệp hoan nghênh vì nhờ nó doanh nghiệp giảm được chi phí
- Về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động tăng tỷ giáUSD/VND và hạ lãi suất cơ bản Vừa góp phần giảm chi phí vốn vay cho doanhnghiệp vừa giúp cải thiện cán cân ngoại thương
Trang 27- Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ lãi suất4% cho doanh nghiệp cho đến hết năm 2009 Bản chất của việc bù 4% lãi suất là sửdụng công cụ tài khóa để thực hiện chính sách tiền tệ Số tiền dùng để bù 4% lãi suất
là từ ngân sách, được Ngân hàng Nhà nước triển khai thông qua hệ thống ngân hàngthương mại Trong chính sách này, ngân hàng thương mại đóng vai trò trung giangiữa Ngân hàng Nhà nước và doanh nghiệp để thực hiện việc hỗ trợ lãi suất Vì chínhsách bù lãi suất vừa mới được triển khai nên chưa thể đánh giá một cách đầy đủ Tuynhiên, có thể nhìn thấy một số hạn chế tiềm tàng đối với chính sách này như:
Chính sách này có thể không đến được những đối tượng cần hỗ trợ, thậm chí
có thể hỗ trợ nhầm đối tượng do tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Ngân hàngNhà nước với ngân hàng thương mại và giữa ngân hàng thương mại với doanhnghiệp Ngân hàng thương mại rất khó kiểm soát việc sử dụng đúng mục đích củađồng vốn do tính có thể hoán đổi mục đích sử dụng của đồng tiền
Đồng thời, chi phí cho công tác hậu kiểm của Ngân hàng Nhà nước cũng sẽrất tốn kém khi chỉ trong vòng hơn một tuần, riêng 5 ngân hàng thương mại có sở hữunhà nước đã cho vay 32.000 tỷ đồng trong chương trình hỗ trợ lãi suất Với tốc độtăng trưởng tín dụng nhanh như vậy, việc kiểm soát kịp thời và đầy đủ của Ngân hàngNhà nước là rất khó
Giữa các ngân hàng thương mại và khách hàng, việc thiếu thông tin sẽ khiếnnhiệm vụ của ngân hàng thương mại trong việc bảo đảm khách hàng sử dụng vốn hỗtrợ đúng mục đích trở nên khó khăn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có hoạtđộng phức tạp và có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng
Nếu không kiểm soát chặt chẽ, các khoản vay này có khả năng được sử dụngkhông đúng mục đích Vốn vay được hỗ trợ lãi suất có thể được doanh nghiệp dùng
để đầu cơ mua cổ phiếu, USD, vàng… thay vì đưa vào sản xuất kinh doanh
- Về mặt tiền tệ, dư âm lạm phát 20% của năm 2008 vẫn còn đó, nên chínhsách tiền tệ cần được mở rộng một cách thận trọng để tránh kích hoạt một làn sónglạm phát mới Bên cạnh đó, chính sách tỷ giá cố định trong khi VND bị định giá cao
so với USD sẽ khuyến khích nhập khẩu hàng tiêu dùng Không những thế, với chế độ
tỷ giá cố định, khi hạ lãi suất không đi với chính sách hợp lý khác thì không nhữngchưa chắc đã kích thích được doanh nghiệp và người dân tăng đầu tư và chi tiêu màcòn khuyến khích đầu cơ, tích trữ vàng, ngoại tệ mạnh hay đầu tư quá mức vào bấtđộng sản, cổ phiếu Các đối tượng được vay với lãi suất hỗ trợ chủ yếu vẫn là nhữngkhách hàng quen của ngân hàng thương mại, đồng thời lượng tín dụng giải ngân chủyếu vẫn từ các ngân hàng thương mại có sở hữu nhà nước
Có vẻ như nguồn tín dụng rẻ này không thực sự rộng mở cho tất cả mọi đối tượngkhách hàng mà chỉ đến tay những doanh nghiệp có quan hệ với ngân hàng, trong khinhiều doanh nghiệp khác tuy thực sự có nhu cầu như các DNVVN lại chưa vay được
- Chính phủ cần có chính sách linh hoạt Nếu theo dõi thấy nền kinh tếkhông có khả năng hồi phục vào cuối 2009 hoặc đầu 2010 thì có thể kéo dài thêm thờihạn áp dụng chính sách với điều kiện tác dụng của chính sách được đánh giá một cáchkhách quan, để tránh trường hợp việc kéo dài thời gian hỗ trợ lãi suất vừa không có
Trang 28tác dụng như mong muốn, vừa làm tăng thêm gánh nặng chi phí cho ngân sách nhànước, đồng thời gia tăng tính ỷ lại của doanh nghiệp và ngân hàng.
2.2.2 Chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ:
“Sửa đổi, bổ sung các quy định để đẩy nhanh việc xây dựng quỹ bảo lãnh tín
dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các địa phương; khuyến khích phát triển cácloại hình ngân hàng, ngân hàng thương mại cổ phần chuyên phục vụ các doanhnghiệp nhỏ và vừa, trong đó bao gồm cả việc phát triển nghiệp vụ cho thuê tài chính
và áp dụng biện pháp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản thế chấp đối với cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa có dự án khả thi, có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư
và kinh doanh.”
Quyết định của thủ tướng chính phủ số 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006
“Gói kích cầu 1 tỷ USD được sử dụng để hỗ trợ 4% lãi suất cho vay các dự án
và chương trình đầu tư trong 2 năm 2009 - 2010” Các dự án kết cấu hạ tầng giaothông qui mô lớn, các dự án đường bộ cao tốc, một số sân bay, cảng biển; các dự ánđầu tư ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, xây dựng quỹ nhà xã hội cho người nghèo
có thu nhập thấp, doanh nghiệp vừa và nhỏ… sẽ được hỗ trợ 4% lãi suất cho vaytrong 2 năm 2009 - 2010 Dự án với lãi suất ưu đãi trên theo nguyên tắc có hoàn trả,
dự án phải có đầy đủ thủ tục đầu tư hoặc đang trong quá trình triển khai thi côngnhưng chưa huy động được vốn Dự kiến bù lãi suất cho các dự án cơ sở hạ tầng giaothông và hạ tầng các khu kinh tế khoảng 50% (tương đương 7.170 tỷ đồng) Các dự
án cho khu vực nông nghiệp khoảng 25% (3.585 tỷ đồng), nhà xã hội khoảng 5% (717
tỷ đồng), các doanh nghiệp vừa và nhỏ khoảng 20% (2.868 tỷ đồng)
Tác động của chính sách kích cầu với doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng và giảm, giãn thuế là hai trong số các chính sách kíchcầu, hỗ trợ doanh nghiệp (DN) thúc đẩy sản xuất, kinh doanh đang được các bộ,ngành, địa phương triển khai Sau hơn hai tháng thực hiện, những chính sách này đãbước đầu phát huy hiệu quả, giúp nhiều DN vừa và nhỏ khôi phục sản xuất, bảo đảmviệc làm cho người lao động Không còn nhiều khó khăn như những tháng cuối năm
2008, hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều DNVVN tại một số địa phương đã cónhững tín hiệu khả quan Nhà máy bột can-xít Phú Thọ (khu công nghiệp Thụy Vân,Phú Thọ), liên tục chạy hết công suất, hiện mỗi tháng nhà máy sản xuất được 3.000tấn bột can-xít Cuối năm 2008, công ty gặp không ít khó khăn do thị trường xuấtkhẩu lớn là Nga đã dừng ký hợp đồng Còn tại thị trường trong nước, từ tháng 10-
2008, Công ty giấy Bãi Bằng tạm ngừng mua hàng của công ty (trước đây lấy 700tấn/tháng), một số doanh nghiệp nhựa trong nước cũng giảm lượng mua hàng Thếnhưng từ cuối tháng 3 đến nay, lượng hàng tiêu thụ trong nước bắt đầu nhúc nhích,Công ty giấy Bãi Bằng đã mua của công ty 400 tấn, Công ty giấy Việt Trì mua 200tấn, Công ty nhựa Tiền Phong mua 70-80 tấn Thị trường xuất khẩu cũng tăngtrưởng khi công ty ký được nhiều hợp đồng xuất khẩu mới sang các thị trường Ấn Ðộ,Bangladesh Vì vậy, doanh thu quý I năm nay của công ty đạt hơn 26 tỷ đồng, tănggần 20% so với cùng kỳ năm trước, lợi nhuận ước đạt 1 tỷ đồng Không riêng DN tại